1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Từ ngữ xưng hô trong một số tác phẩm của nhà văn phan tứ

102 136 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua xưng hô trong lời thoại của nhânvật, người đọc có thể thấy được một phần tính cách nhân vật cũng như tìnhcảm - thái độ của nhân vật dành cho đối phương hoặc người được nhắc tớitrong

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

HÀ THỊ KIM OANH

TỪ NGỮ XƯNG HÔ TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM

CỦA NHÀ VĂN PHAN TỨ

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

HÀ THỊ KIM OANH

TỪ NGỮ XƯNG HÔ TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM

CỦA NHÀ VĂN PHAN TỨ

Ngành: Ngôn ngữ Việt Nam

Mã số: 8.22.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ,

VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS TS PHẠM VĂN HẢO

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Kết quảnghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trongbất kỳ công trình nào khác Các thông tin trích dẫn đều được chỉ rõ nguồn gốc.Nếu phát hiện có sự gian lận, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dungluận văn của mình

Tác giả luận văn

Hà Thị Kim Oanh

Trang 4

Xin chân thành cảm ơn gia đình, các anh chị em, bạn bè lớp Ngôn ngữViệt Nam K25 đã nhiệt tình giúp đỡ và động viên tác giả trong suốt thời gianhọc tập và thực hiện luận văn.

Tác giả luận văn

Hà Thị Kim Oanh

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC .iii

DANH MỤC CÁC BẢNG iv

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Đóng góp của luận văn 4

7 Cấu trúc của luận văn 4

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5

1.1 Một số vấn đề chung về từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt 5

1.1.1 Khái niệm 5

1.1.2 Phân loại 6

1.1.3 Chức năng 9

1.2 Những vấn đề ngữ dụng chủ yếu khi xem xét từ xưng hô 10

1.2.1 Giao tiếp và các nhân tố giao tiếp 10

1.2.2 Các nhân tố chi phối việc xưng hô 16

1.3 Vài nét về Phan Tứ và tác phẩm của ông 17

1.4 Tiểu kết 19

Chương 2 NHỮNG NHÓM TỪ NGỮ DÙNG ĐỂ XƯNG HÔ TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA PHAN TỨ 20

2.1 Các phương tiện ngôn ngữ dùng để xưng hô trong một số tác phẩm của Phan Tứ 20

2.1.1 Xưng hô bằng các đại từ nhân xưng 20

2.1.2 Xưng hô bằng các từ chỉ quan hệ thân tộc 32

Trang 6

2.1.4 Xưng hô bằng các từ chỉ chức danh, nghề nghiệp 42

2.1.5 Xưng hô bằng các kết hợp khác 43

2.2 Các từ ngữ xưng hô trong một số tác phẩm của Phan Tứ xét về phương diện cấu tạo 44

2.2.1 Từ xưng hô là từ đơn 44

2.2.2 Từ xưng hô là từ phức 45

2.3 Tiểu kết 46

Chương 3 CÁCH DÙNG TỪ NGỮ XƯNG HÔ TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA PHAN TỨ 48

3.1 Sử dụng từ ngữ xưng hô thể hiện cảm xúc, thái độ của nhân vật 48

3.1.1 Dùng từ ngữ xưng hô thể hiện cảm xúc 48

3.1.2 Dùng từ ngữ xưng hô thể hiện thái độ 55

3.1.3 Dùng từ ngữ xưng hô thể hiện sự thay đổi tình cảm, thái độ 60

3.2 Nét riêng của Phan Tứ trong cách sử dụng từ ngữ xưng hô 63

3.2.1 Từ ngữ xưng hô mang dấu ấn Nam Trung Bộ 63

3.2.2 Nghệ thuật sử dụng từ ngữ xưng hô 64

3.3 Tiểu kết 71

KẾT LUẬN 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 75

Trang 7

tác phẩm của Phan Tứ 24Bảng 2.4 Các đại từ nhân xưng ngôi thứ hai (số ít) trong một số tác

phẩm của Phan Tứ 26Bảng 2.5 Các đại từ nhân xưng ngôi thứ hai (số nhiều) trong một số

tác phẩm của Phan Tứ 28Bảng 2.6 Các đại từ nhân xưng ngôi thứ ba (số ít) trong một số tác

phẩm của Phan Tứ 29Bảng 2.7 Các đại từ nhân xưng ngôi thứ ba (số nhiều) trong một số

tác phẩm của Phan Tứ 30Bảng 2.8 Các từ thân tộc dùng xưng hô ngôi thứ nhất (số ít) của các

nhân vật trong một số tác phẩm của Phan Tứ 32Bảng 2.9 Các từ ngữ thân tộc dùng xưng hô ngôi thứ nhất (số nhiều)

của các nhân vật trong một số tác phẩm của Phan Tứ 35Bảng 2.10 Các từ thân tộc dùng xưng hô ngôi thứ hai (số ít) của các

nhân vật trong một số tác phẩm của Phan Tứ 36Bảng 2.11 Các từ thân tộc dùng xưng hô ngôi thứ hai (số nhiều) của

các nhân vật trong một số tác phẩm của Phan Tứ 38Bảng 2.12 Các từ thân tộc dùng xưng hô ngôi thứ ba (số ít) của các

Trang 9

nhân vật trong một số tác phẩm của Phan Tứ 40Bảng 2.14 Các từ xưng hô bằng tên riêng của các nhân vật trong một

số tác phẩm của Phan Tứ 41Bảng 2.15 Các từ ngữ xưng hô trong một số tác phẩm của Phan Tứ xét

về phương diện cấu tạo 46Bảng 3.1 Từ ngữ xưng hô trong phương ngữ Nam Trung Bộ 63được

sử dụng trong một số tác phẩm của Phan Tứ 63

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Xưng hô là yếu tố không thể thiếu trong giao tiếp Nói cách khác,

có giao tiếp là có xưng hô Giao tiếp là nhu cầu tất yếu của con người, việcvận dụng từ ngữ xưng hô trực tiếp ảnh hưởng đến kết quả giao tiếp Các đốitượng giao tiếp nếu biết xưng hô linh hoạt, khéo léo có thể sẽ mang lại hiệuquả giao tiếp cao, và ngược lại Nhóm từ ngữ xưng hô, bởi vậy mà giữ vai tròquan trọng trong hệ thống từ vựng nói riêng và trong hệ thống ngôn ngữ (củabất kì quốc gia nào) nói chung

Kế thừa thành quả nghiên cứu của những người đi trước kết hợp vớiquan sát thực tế có thể thấy rằng: Từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt phong phú,

ấn tượng hơn so với từ ngữ xưng hô ở nhiều ngôn ngữ khác (như ngôn ngữAnh, ngôn ngữ Trung ) Thông qua hoạt động của nhóm từ này, một vài đặctrưng về ngôn ngữ và văn hóa giao tiếp của Việt Nam được thể hiện Tìm hiểunhững vấn đề liên quan đến từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt là một cách đểbiểu hiện văn hóa dân tộc

Trong các tác phẩm văn chương, từ ngữ xưng hô ngoài việc cho thấydấu ấn văn hóa vùng miền và phong cách sáng tác của người viết thì còn làphương tiện để người đọc tiếp cận các nhân vật về các mặt tính cách, tìnhcảm, thái độ Những vai trò này cho thấy từ ngữ xưng hô là yếu tố đáng đểkhai thác khi nghiên cứu một tác phẩm văn chương

Phan Tứ là tác giả tiêu biểu của mảnh đất Nam Trung Bộ (QuảngNam) Ngay từ những ngày văn học cách mạng khu vực Nam Trung Bộ cònnon nớt, Phan Tứ đã ghi dấu ấn trên văn đàn bằng bút pháp hiện thực sắc sảo

qua những tác phẩm như: Về Làng, Gia đình má Bảy Bằng những trải nghiệm

xương máu của người cầm súng cùng vốn sống thu nhận được từ mảnh đấtQuảng Nam, Phan Tứ đã cho ra đời những trang viết mang đầy hơi thở thờiđại nhưng vẫn đậm chất hiện thực Ở mỗi tác phẩm, Phan Tứ đều kì công xây

Trang 11

dựng bức tranh đa dạng về thế giới nhân vật nói chung và sự phong phú trongtính cách của từng nhân vật nói riêng Qua xưng hô trong lời thoại của nhânvật, người đọc có thể thấy được một phần tính cách nhân vật cũng như tìnhcảm - thái độ của nhân vật dành cho đối phương hoặc người được nhắc tớitrong diễn ngôn.

Từ những lí do trên, luận văn lựa chọn “Từ xưng hô trong một số tác

phẩm của nhà văn Phan Tứ” làm đề tài nghiên cứu.

2 Lịch sử nghiên cứu

Từ xưng hô trong tiếng Việt là vấn đề đã được đầu tư nghiên cứu Cóthể kể tên một vài tác giả với những công trình nghiên cứu về từ xưng hô nhưsau:

Nghiên cứu về từ xưng hô từ góc độ ngữ pháp, có thể quan tâm đếnnhững công trình nghiên cứu của các tác giả Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, PhạmDuy Khiêm (1940), Phan Khôi (1955), Nguyễn Kim Thản (1963),

Nghiên cứu về từ xưng hô từ phương diện cấu trúc luận như: NguyễnTài Cẩn (1962), Đái Xuân Ninh (1978)

Nghiên cứu theo quan điểm ngữ dụng học, ngôn ngữ học xã hội về từxưng hô với các tác giả tên tuổi như: Đỗ Hữu Châu (1993), Nguyễn Đức Dân(1989), Hoàng Thị Châu (1995), Nguyễn Văn Tu (1996),

Các luận văn Tiến sĩ, Thạc sĩ cũng đã đem đến một cái nhìn toàn diệnhơn về xưng hô với đặc điểm, cấu trúc, chức năng và cả những yếu tố văn hóa

dân tộc như: Cách xưng hô trong tiếng Tày Nùng (Phạm Ngọc Thưởng 1998); Từ xưng hô và cách xưng hô trong các phương ngữ tiếng Việt dưới góc

-nhìn của lý thuyết ngôn ngữ học xã hội (Lê Thanh Kim - 2000); Từ xưng hô trong gia đình đến ngoài xã hội của người Việt (Bùi Thị Minh Yến 2001)

Bên cạnh đó, cũng có một số công trình nghiên cứu về từ xưng hô trong

các tác phẩm văn học như: Từ xưng hô trong một số tác phẩm của Nguyễn

Quang Sáng (Nguyễn Thị Thảo Ly - 2011); Từ xưng hô trong một số tác

Trang 12

phẩm của Nam Cao (Trần Ngọc Mi - 2009),

Trang 13

Về phía nhà văn Phan Tứ, bởi là cây bút có nhiều đóng góp cho nềnvăn học cách mạng nước nhà nên giới phê bình khá quan tâm đến những sángtác của ông, đặc biệt là ba tác phẩm được coi là đỉnh cao trong sự nghiệp sángtác của Phan Tứ bao gồm: Bên kia biên giới, Gia đình má Bảy, Mẫn và tôi.

Có thể kể đến một vài công trình như: Mấy vấn đề trong văn học hiện đại Việt

Nam của tác giả Nguyễn Thị Đức Hạnh; Lối kể chuyện của nhà văn Phan Tứ

(Đặng Tiến - báo Văn Hóa Nghệ An); Tiểu thuyết Mẫn và tôi nhìn từ góc độ

thể loại (Võ Trường Giang - 2012) Tuy nhiên, chưa có công trình nào

nghiên cứu về từ xưng hô trong tác phẩm của Phan Tứ

Những công trình nghiên cứu kể trên là nguồn tài liệu quý cho luận

văn Đồng thời, cũng xin khẳng định rằng: Từ xưng hô trong một số tác phẩm

của Phan Tứ là đề tài mới, chưa từng được nghiên cứu.

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu từ ngữ xưng hô trong hai tiểu thuyết Bên kia biên giới vàGia đình má Bảy của tác giả Phan Tứ

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu

Khảo sát hệ thống từ ngữ dùng để xưng hô trong hai tiểu thuyết Bên kiabiên giới và Gia đình má Bảy, đồng thời so sánh, đối chiếu đối tượng kháctrong những chừng mực thích hợp để có thể làm rõ hơn đối tượng đang nghiêncứu

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu: Làm rõ đặc điểm cấu tạo và vai trò của từ ngữ

xưng hô trong một số tác phẩm của Phan Tứ

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống cơ sở lí luận về từ ngữ xưng hô.

- Khảo sát, thống kê, phân loại các từ ngữ dùng để xưng hô trong một

số tác phẩm của Phan Tứ

- Mô tả và phân tích cách dùng các từ ngữ xưng hô trong một số tác

phẩm của Phan Tứ

Trang 14

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện được những nội dung trên, luận văn sử dụng các phươngpháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp miêu tả: dùng để miêu tả các dạng, các mô hình của cáckiểu xưng hô, từ đó phân tích các phương diện của xưng hô từ góc độ ngữpháp và ngữ dụng

- Phương pháp phân tích diễn ngôn: Được sử dụng trong quá trình phântích các ngữ liệu (cuộc thoại, đoạn thoại ) có chứa các từ ngữ xưng hô trongmối tương quan với bối cảnh giao tiếp

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Trên cơ sở lí thuyết về xưng hô, líthuyết giao tiếp, lí thuyết hội thoại luận văn sẽ phân tích và lí giải xưng hôvới các ngôi giao tiếp Từ sự miêu tả và phân tích, luận văn cũng sẽ đi đếnnhững kiến giải cụ thể trong từng phương diện nghiên cứu về xưng hô cũngnhư đưa ra những nhận định, đánh giá một cách toàn diện các vấn đề nghiêncứu

- Các thủ pháp nghiên cứu: Khảo sát, thống kê, phân loại, so sánh

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Lý giải sắc thái văn hóa trong xưng hô

6 Đóng góp của luận văn

Từ những khảo sát, phân tích, phân loại từ xưng hô, đồng thời tìm hiểuvai trò, chức năng, giá trị của từ xưng hô trong một số tác phẩm của Phan Tứ,luận văn hy vọng sẽ mang lại những đóng góp tích cực cho việc nghiên cứu từngữ xưng hô của người Việt và có thể trở thành tài liệu tham khảo cho đốitượng học của các ngành như: ngữ văn, tâm lí học, văn hóa học

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung luận văngồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương 2: Những nhóm từ ngữ dùng để xưng hô trong một số tác

phẩm của Phan Tứ

Chương 3: Chức năng của từ ngữ xưng hô trong một số tác phẩm của

Trang 15

Phan Tứ

Trang 16

Theo cách hiểu của những người thực hiện luận văn, “xưng” là việc sửdụng một biểu thức ngôn ngữ để tự quy chiếu mình, “hô” là việc sử dụng mộtbiểu thức ngôn ngữ để quy chiếu đối tượng trực tiếp tham gia giao tiếp và cảđối tượng mà hành vi giao tiếp hướng tới.

Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về “từ xưng hô” trong tiếngViệt Những quan niệm khác nhau này đã được cụ thể qua việc đưa ra nhữngkhái niệm và các cách lý giải không giống nhau về từ xưng hô, đồng thời gọitên từ xưng hô bằng những thuật ngữ khác nhau như: đại từ nhân xưng, đại từxưng hô, đại danh từ nhân xưng, từ xưng gọi [4]

Tác giả Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Xưng hô là một hành vi chiếu vật, ở

đây là quy chiếu các đối ngôn trong ngữ cảnh, nó sẽ gắn diễn ngôn với người nói, người tiếp thoại Xưng hô thể hiện quan niệm vai giao tiếp.”[4].

Tác giả Nguyễn Minh Chiến đã quan niệm: “Đó là những từ được rút ratrong hệ thống ngôn ngữ dùng để xưng hô (biểu thị các phạm trù xưng hônhất định) giao tiếp xã hội”

Các tác giả Lên Biên, Nguyễn Minh Thuyết cho rằng, đại từ nhân xưng(xưng hô) được chia làm hai nhóm:

a Đại từ nhân xưng (xưng hô) đích thực: tôi, tao, tớ, hắn, họ

b Đại từ nhân xưng lâm thời: nguyên là những danh từ chỉ người trong

quan hệ thân thuộc được lâm thời dùng làm đại từ nhân xưng (xưng hô): ông,

bà, bố, mẹ, anh, em, con, cháu, cô, dì, chú, bác, cậu

Trang 17

Từ cách quan niệm trên, các tác giả đưa ra khái niệm rằng: “Đại từnhân xưng (xưng hô) là những từ ngữ dùng để trỏ hay thay thế cho một chủthể giao tiếp với mục đích xưng hô [33].

Tác giả Trương Thị Diễm [7] trong công trình nghiên cứu của mình đãđưa ra quan điểm rằng: “một khi chúng ta xem đại từ là những từ không cónghĩa biểu vật thì cũng khó chấp nhận đưa tất cả các từ dùng để trỏ hay thaythế cho một chủ thể trong giao tiếp với mục đích xưng hô vào loại đại từ Bởi

vì, ngoài những từ mà các tác giả gọi là đại từ nhân xưng đích thực vốn không

có nghĩa biểu vật thì còn rất nhiều từ mang chức năng xưng hô nhưng nghĩa

biểu vật của nó vẫn nhận ra rất rõ Thí dụ, các từ như anh, chị, cô, bác, kỹ sư,

bác sĩ, vv ”.

Xoay quanh khái niệm về từ nhân xưng, tác giả Lê Thanh Kim [17]cũng đã đưa ra quan điểm rằng: “Từ xưng hô bao gồm những từ dùng để xưng(tự xưng) hoặc để hô (gọi) một người nào đó khi người đó ở một ngôi giaotiếp nhất định Luận văn cho rằng quan điểm này đã làm rõ được hai vấn đề

mà những quan niệm đi trước thường nhầm lẫn hoặc mập mờ trong cách hiểu,

đó là: 1 Từ xưng hô bao gồm đại từ nhân xưng/đại từ xưng hô, 2 “Xưng hô”

và “xưng gọi” không hoàn toàn giống nhau.

(đây, đấy, ấy, đằng này ), thậm chí trống vắng từ xưng hô ; cụ thể là:

- Trước hết, phải kể đến “biểu thức ngôn ngữ ngữ pháp hóa các ngôi để

xưng hô trong các ngôn ngữ là các đại từ nhân xưng”.Các đại từ nhân xưng

Trang 18

ta, chúng tôi, chúng mình, chúng tớ, bầy (bi), chúng mày; bay, hắn, nó, y, thị,

Trang 19

- Thứ hai là các từ chỉ quan hệ thân tộc Từ chỉ quan hệ thân tộc trong

tiếng Việt là những từ chỉ người trong gia đình, họ tộc có quan hệ huyếtthống, nội ngoại gần xa với nhau Các từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng Việt

có thể chia thành hai nhóm: các từ thân tộc đơn (kị, cụ, ông, bà, bác, chú, cậu,

cô, dì, mợ, thím, cha, mẹ, bố, tía, ba, má, u, bầm, anh, chị, em, con, cháu, chồng, vợ, dâu, rể ) và các từ thân tộc phức (kị ông, kị bà, kị nội, kị ngoại,

cụ ông, cụ bà, cụ nội, cụ ngoại, ông nội, ông ngoại, bà nội, bà ngoại, bác trai, bác giá, anh trai, chị gái, cháu trai, cháu gái ).

- Thứ ba là dùng tên riêng Tên riêng - tên chính (không kể tên gọi

theo tên của chồng - với phụ nữ có chồng và tên gọi theo tên con - với phụ nữ

đã có con) có thể dùng một mình để tự xưng, đối xưng và tha xưng Khi đượcdùng để tự xưng và đối xưng, các tên chính thường được dùng ở dạng một âmtiết Việc dùng tên chính hai âm tiết cũng có thể, nhưng không phổ biến

- Thứ 4 là dùng từ chức danh, nghề nghiệp “Nghề nghiệp là tính

chuyên nghiệp trong sản xuất, điều hành, quản lí xã hội, trong tôn giáo màmột người được đảm nhiệm Chức danh bao gồm chức và hàm Chức haychức vụ là trách nhiệm và quyền lực được giao trong việc điều hành một tổchức kinh tế, hành chính, xã hội, quân đội, tôn giáo Hàm là danh nghĩa đượcphong tặng hay công nhận theo tài năng, đức độ, sự cống hiến”

- Cuối cùng là các bán đại từ, đây là các từ xưng hô không phải từ thân

tộc, cũng không phải là các đại từ thực sự Có ba nhóm bán đại từ: 1 Các từ

như ngài, ngươi, trẫm, khanh, thiếp, chàng, nàng ; 2 Những tổ hợp từ Hán Việt như ngu đệ, hiền huynh ; 3 Các từ chỉ xuất không gian hoặc những tổ hợp từ có chỉ xuất không gian ở sau để tự xưng như đây, thằng này (con này),

đấy, đằng ấy

Trong cuốn Ngôn ngữ học xã hội - Những vấn đề cơ bản [16], tác giả

Nguyễn Văn Khang đã hệ thống xưng hô thành 6 cách, tương đương với 12kiểu như sau:

Trang 20

A Xưng hô bằng họ và tên, gồm:

(1) Xưng hô bằng tên

(2) Xưng hô bằng họ

(3) Xưng hô bằng tên đệm + tên

(4) Xưng hô bằng họ + tên

(5) Xưng hô bằng họ + tên đệm + tên

B Xưng hô bằng tất cả các từ dùng để xưng hô, gồm:

(6) Các đại từ nhân xưng

(7) Các từ thân tộc dùng làm từ xưng hô

(8) Các từ khác được dùng làm từ xưng hô

C Xưng hô bằng chức danh, gồm:

(9) Gọi bằng một trong các chức danh

(10) Gọi bằng nhiều hoặc tất cả các chức danh

D Xưng gọi bằng tên của người thân thuộc (chồng, vợ, con)

(11) Gọi bằng tên của người thân thuộc như tên của chồng, vợ, con

a Đại từ nhân xưng chuyên dùng: tôi, tao, tớ, mày, bay, mi, ngài, mình,

nó, hắn, vị, gã, thị, nàng, chàng, thiếp

b Từ xưng hô lâm thời bao gồm:

- Các danh từ chỉ quan hệ thân tộc: ông, bà, cha, mẹ, anh, chị, cô, dì,

chú, bác, cậu, mợ, con, cháu

Trang 21

- Các danh từ chỉ chức danh, nghề nghiệp: giáo sư, bác sĩ, chủ tịch,

giám đốc, kĩ sư

Trang 22

- Các danh từ chỉ quan hệ xã hội: bạn, đồng chí, đồng hương

- Các từ chỉ nơi chốn: đằng ấy, đây, đấy, đó,ấy

- Họ tên riêng của người: Lâm, Vân, Thành, Hải, Nguyễn Văn A, Hoàng

1.1.3 Chức năng

Mặc dù tên gọi, khái niệm và cách phân loại từ xưng hô chưa hoàn toànthống nhất; nhưng từ sự hành chức có thể thấy sự thống nhất về chức năng của

từ xưng hô trong giao tiếp ngôn ngữ Có thể kể đến hai chức năng cơ bản của

từ xưng hô là chức năng chiếu vật và chức năng thể hiện quan hệ liên nhân

1.1.3.1 Chức năng chiếu vật

Đỗ Hữu Châu cho rằng, xưng hô là một hành động chiếu vật Vì vậy,xưng hô trước hết để qui chiếu một người nào đó trong một vai giao tiếp cụthể bằng một từ xưng hô nào đấy Sự chiếu vật chính là sự định vị, sự quychiếu của người nói và người nghe về vai giao tiếp của mình với các đối

tượng trong một hoàn cảnh giao tiếp cụ thể “Định vị được hiểu là sự xác định

và sự đồng nhất người, quá trình, sự kiện mà người ta nói đến và quy chúng với một ngữ cảnh không gian nào đó được tạo nên và được duy trì bởi hành động phát ngôn và bởi sự tham gia của một người nói duy nhất và ít ra là đối với một người nghe” [35].

Từ sự cắt nghĩa về chức năng định vị (chức năng chiếu vật) của từ xưng

hô như trên, có thể hiểu là từ xưng hô chỉ bộc lộ chức năng định vị (chiếu vật)trong sự hành chức của từ xưng hô Nhưng trong quá trình hành chức, mộtphát ngôn nói chung và sự hành chức của từ xưng hô nói riêng bị chi phối bởi

Trang 23

nhiều yếu tố khác nhau như ngữ cảnh giao tiếp (quy thức hay phi quy thức), vịthế của

Trang 24

đối tượng giao tiếp (cao hơn hay thấp hơn người phát ngôn) vv Bởi vậy,nhân vật tham thoại phải hiểu được tính chất của ngữ cảnh giao tiếp và xácđịnh được vị thế của bản thân mình để lựa chọn từ xưng hô sao cho phù hợp.

1.1.3.2 Chức năng liên nhân

“Sự tương tác là một hoạt động làm tổn hại hay duy trì những mối quan

hệ giữa mình với người trong sự giao tiếp mặt đối mặt Quan hệ giữa các nhân vật hội thoại là quan hệ liên cá nhân” [50].

Theo C K Orecchioni, nói tới quan hệ liên cá nhân trước hết là nói tớiquan hệ ngang và dọc giữa các nhân vật Trục quan hệ ngang biểu thị quan hệgần gũi hay xa cách giữa những nhân vật giao tiếp với nhau Ở trục này, quan

hệ giữa các nhân vật giao tiếp về bản chất là đối xứng Tuy nhiên cũng khônghiếm những trường hợp bất đối xứng như: người này muốn gần, người kiamuốn giữ nguyên hoặc cách xa Trái ngược với quan hệ ngang, nguyên tắccủa quan hệ dọc về bản chất là bất đối xứng

Thực tế giao tiếp cho thấy, ngoài những đại từ nhân xưng đích thực,người Việt còn sử dụng vô số từ khác trong xưng hô nhằm đạt được những

mục đích giao tiếp khác nhau Có thể nói rằng, xưng và hô trong tiếng Việt là

một nghệ thuật giao tiếp chứ không chỉ là xưng hô thuần túy như một số ngônngữ khác

1.2 Những vấn đề ngữ dụng chủ yếu khi xem xét từ xưng hô

1.2.1 Giao tiếp và các nhân tố giao tiếp

1.2.1.1 Giao tiếp

Về khái niệm giao tiếp, các tác giả của cuốn Từ điển tiếng Việt chorằng: giao tiếp là trao đổi, tiếp xúc với nhau Sự tiếp xúc và trao đổi có thể ởnhiều phương diện, nhiều lĩnh vực trong đời sống con người Con ngườitrong quá trình giao tiếp ấy có thể thực hiện bằng nhiều cách thức khácnhau, nhưng phương tiện phổ biến và quan trọng nhất của con người là giao

Trang 25

tiếp bằng ngôn ngữ Ngôn ngữ chính là phương tiện giao tiếp phổ biến vàquan trọng nhất của con người [35].

Trang 26

Cũng cho rằng ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng nhất, tác giảNguyễn Văn Khang nêu quan điểm: “Giao tiếp là một hoạt động xã hội củacon người Hình thức giao tiếp cơ bản nhất của con người là giao tiếp bằngngôn ngữ Giao tiếp bằng ngôn ngữ là hình thức giao tiếp sử dụng ngônngữ làm công cụ chủ yếu để truyền cho nhau những thông tin về tự nhiên

và xã hội nhằm những mục đích khác nhau.” Ngoài ra, tác giả đã cho thấy sựcần thiết của hành động xưng hô trong giao tiếp, rằng trong bất kì một cuộcgiao tiếp nào cũng không thể thiếu được xưng và hô “Ngay cả khi trongtrường hợp vắng mặt (zero) cũng có thể coi là một sự có mặt không hiện hữumang tải một ý nghĩa nhất định” [16] Theo cách biện giải của tác giả, giaotiếp và xưng hô là hai yếu tố không thể tách rời Vì vậy, sẽ là không triệt đểnếu nghiên cứu từ xưng hô mà không dựa trên cơ sở lý luận của lý thuyết giaotiếp

Về chức năng của giao tiếp, Đỗ Hữu Châu và Diệp Quang Ban [4] chorằng giao tiếp có những chức năng sau:

- Chức năng thông tin: Khi giao tiếp, nhân vật giao tiếp thu nhận đượcnhững hiểu biết, những tri thức mới về thế giới khách quan

- Chức năng tạo lập quan hệ: Qua giao tiếp quan hệ liên cá nhân thayđổi Có thể qua giao tiếp những quan hệ thân hữu giữa người với người đượcxây dựng, bồi đắp hoặc mất đi

- Chức năng biểu hiện: Giao tiếp giúp con người bày tỏ được suy nghĩ,tình cảm, cá tính, nhân cách, thái độ, quan điểm vv đối với những vấn đềđược nói tới, đối với mọi người

- Chức năng giải trí: Giao tiếp giúp con người được trao đổi, tròchuyện với nhau, giúp mọi người tiêu khiển, giải tỏa những bức xúc, thưgiãn đầu óc vơi nhẹ tâm hồn Giao tiếp bằng lời là một hình thức giải trí mà

ai cũng có thể sử dụng

Trang 27

- Chức năng hành động: Thông qua giao tiếp chúng ta thực hiện hànhđộng và thúc đẩy nhau hành động.

Trang 28

Như vậy, giao tiếp có vai trò rất quan trọng đối với con người trong đờisống xã hội Giao tiếp là môi trường hành chức của từ xưng hô, giao tiếp đặt

từ xưng hô vào bối cảnh cụ thể gắn với hành loạt các yếu tố liên quan đến conngười và xã hội như văn hóa, phong tục, tâm lý vv

1.2.1.2 Các nhân tố giao tiếp

Trái với quan niệm của ngữ pháp truyền thống, cho rằng ngữ pháp của

câu độc lập với ngữ cảnh, Đỗ Hữu Châu cho rằng ngữ cảnh, ngôn ngữ và diễn

ngôn là các nhân tố có mặt trong một cuộc giao tiếp, “chi phối cuộc giao tiếp

đó và chi phối diễn ngôn về hình thức cũng như nội dung” Luận văn xinđược tóm tắt lại quan điểm này như sau:

Về ngữ cảnh

Ngữ cảnh là nhân tố có mặt trong một cuộc giao tiếp nhưng nằm ngoài

dĩn ngôn Các hợp phần của ngữ cảnh bao gồm đối ngôn và hiện thực ngoài

diễn ngôn.

a, Đối ngôn

Đối ngôn (là những người tham gia vào cuộc giao tiếp) Giữa những đốingôn trong một cuộc giao tiếp có những quan hệ Những quan hệ này chi phối

cả nội dung và hình thức Đó là quan hệ tương tác và quan hệ liên cá nhân.

Quan hệ tương tác chính là sự tác động lẫn nhau trong quá trình giaotiếp, nên còn gọi là vai tương tác Vai tương tác gồm vai nói và vai nghe, còngọi là vai phát và vai nhận Trong một cuộc giao tiếp nói, mặt đối mặt, hai bainói, nghe thường luân chuyển Nói cách khác, quan hệ tương tác là quan hệgiữa các nhân vật giao tiếp đối với chính sự phát, nhận trong giao tiếp

Quan hệ liên cá nhân là quan hệ so sánh xét trong tương quan xã hội,hiểu biết, tình cảm giữa các nhân vật giao tiếp với nhau Quan hệ này có thểxét theo hai trục, trục tung là trục vị thế xã hội còn gọi là trục quyền uy(power), trục hoành là trục của quan hệ khoảng cách (distance), còn gọi làtrục thân cận (solidarity) Trong xã hội, con người khác nhau về địa vị xã hội

có thể do chức quyền, tuổi tác, nghề nghiệp mà có Vị thế xã hội và mức độthân cận cũng là yếu tố thuộc hình ảnh tinh thần mà những người tham giagiao tiếp xây dựng về nhau

Trang 29

b, Hiện thực ngoài diễn ngôn

Hiện thực ngoài diễn ngôn được hiểu là “ tất cả những yếu tố vật chất,

xã hội, văn hóa có tính cảm tính và những nội dung tinh thần tương ứngkhông được nói đến trong diễn ngôn của một cuộc giao tiếp (trừ nhân vật giaotiếp)

Tuy gồm cả những yếu tố vật chất và tinh thần, nhưng hiện thực ngoàidiễn ngôn phải được nhân vật giao tiếp ý thức Khi đã trở thành hiểu biết củanhững người giao tiếp (và của những người sử dụng ngôn ngữ) thì hiện thực

ngoài diễn ngôn hợp thành tiền giả định bách khoa hay tiền giả định giao

tiếp của diễn ngôn.

Nhân tố hiện thực ngoài diễn ngôn gồm 4 bộ phận: 1 Hiện thực - đề tàicủa diễn ngôn Thế giới khả hữu và hệ quy chiếu; 2 Hoàn cảnh giao tiếp; 3.Thoại trường; 4 Ngữ huống giao tiếp

Hiện thực - đề tài của diễn ngôn Thế giới khả hữu và hệ quy chiếu

được tác giả Đỗ Hữu Châu quan niệm rằng: “Khi giao tiếp, các nhân vật giaotiếp dùng diễn ngôn của mình để “nói” về một cái gì đó Cái được nói tới làhiện thực - đề tài của diễn ngôn.”

Thuộc hiện thực - đề tài của diễn ngôn trước hết là những cái tồn tại,diễn tiến trong hiện thực ngoài ngôn ngữ và ngoài diễn ngôn Cũng được xem

là hiện thực ngoài ngôn ngữ, ngoài diễn ngôn những cái thuộc tâm giới củacon người như một cảm xúc, một tư tưởng, một ý định, một nguyện vọng.v.v.Hiện thực - đề tài của diễn ngôn còn là bản thân ngôn ngữ; hay chính các cuộcgiao tiếp, các diễn ngôn đã có hay đang được thực hiện

Hoàn cảnh giao tiếp (trước đây gọi là hoàn cảnh giao tiếp rộng) được

hiểu là: “Loại trừ thế giới khả hữu - hệ quy chiếu, loại trừ hiện thực - đề tài,tất cả những cái còn lại trong hiện thực ngoài ngôn ngữ làm nên hoàn cảnhgiao tiếp rộng của cuộc giao tiếp, của diễn ngôn.” Hoàn cảnh giao tiếp rộngbao gồm những hiểu biết về thế giới vật lí, sinh lí, tâm lí, xã hội, văn hóa, tôngiáo, lịch sử các ngành khoa học, nghệ thuật ở thời điểm và ở không giantrong đó đang diễn ra cuộc giao tiếp

Trang 30

Thoại trường (settinh, site) trước đây được hiểu là hoàn cảnh giao tiếp

hẹp Một cuộc giao tiếp phải diễn ra trong một không gian cụ thể ở một thờigian cụ thể, Thoại trường được hiểu là cái không - thời gian cụ thể ở đó cuộcgiao tiếp diễn ra Không nên hiểu không - thời gian thoại trường là không gian

và thời gian bất kì, thường xuyên biến đổi Không - thời gian thoại trường làkhông gian có những đặc trưng chung, đòi hỏi người ta phải xử sự, nói năngtheo những cách thức mà ít nhiều cũng chung cho nhiều lần xuất hiện Thoại

trường được phân thành thoại trường hằng thể, điển dạng và thoại trường

biến thể, hiện dạng.

Ngữ huống giao tiếp được hiểu là “ tác động tổng hợp của các yếu tố

tạo nên ngữ cảnh ở từng thời điểm của cuộc giao tiếp” Thông qua ngữ huống

mà ngữ cảnh chi phối diễn ngôn Ngữ cảnh là một khái niệm động, khôngphải tĩnh; bất cứ cái gì muốn trở thành ngữ cảnh của cuộc giao tiếp thì chúngphải được nhân vật giao tiếp ý thức, phait thành hiểu biết của nhân vật giaotiếp Do đó, sự thay đổi của các yếu tố tạo nên ngữ cảnh phải được nhữngngười đang giao tiếp ý thức thì mới được gọi là ngữ huống

Về ngôn ngữ

Tất cả các cuộc giao tiếp đều phải sử dụng một tín hiệu làm công cụ.Trong trường hợp giao tiếp bằng ngôn ngữ thì hệ thống tín hiệu là các ngônngữ tự nhiên

Có ba phương diện của ngôn ngữ tự nhiên sẽ chi phối diễn ngôn; bao

gồm 1 Đường kênh thính giác và đường kênh thị giác của ngôn ngữ, 2 Các

biến thể của ngôn ngữ và 3 Loại thể.

a Đường kênh thính giác và đường kênh thị giác của ngôn ngữ

Ngôn ngữ tự nhiên là ngôn ngữ có đường kênh cơ bản là đường kênhthính giác Về sau, cùng với sự phát triển của xã hội, ngôn ngữ có đường kênhthị giác Từ đó, diễn ngôn có hai dạng thức: diễn ngôn nói (miệng) và diễnngôn viết Tuy nhiên, vì đã ra đời và sử dụng hai thể chất cảm tính khácnhau cho nên mỗi thứ ngôn nhữ nói và viết vẫn có tính độc lập tương đối Sự

Trang 31

sai biệt giữa chúng ngày một trở nên đáng kể Tuy nhiên không thể tuyệt đốihóa sự sai biệt giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết Những quy tắc chi phốingôn ngữ nói vẫn là cơ sở để lý giải những cái có trong ngôn ngữ viết mặc dùkhông thể giải thích được tất cả.

b Các biến thể của ngôn ngữ: biến thể chuẩn mực hóa, biến thể phương ngữ địa lí và phương ngữ xã hội, ngữ vực và phong cách chức năng

Khác với tất cả các hệ thống tín hiệu giao tiếp thông thường khác màtính đồng chất (có nghĩa là không có các biến thể) là chủ đạo, ngôn ngữ là một

hệ thống tín hiệu tồn tại và hành chức trong những biến thể nhất định.Ngôn ngữ chuẩn mực (tiếng Việt chuẩn mực) là một biến thể của những biếnthể đó Ngôn ngữ chuẩn mực bao gồm những đơn vị từ vựng, kể cả các ngữ

cố định, các kết cấu cú pháp, các cách phát âm được toàn thể một cộng đồngngôn ngữ chấp nhận, cho là đúng, được xem là cơ sở để đánh giá ngôn ngữcủa từng cá nhân, của các cộng đồng - các tiểu xã hội - trong lòng xã hội vĩmô

Phương ngữ địa lý bao gồm cách phát âm, các đơn vị từ vựng và một

số những kết cấu cú pháp được sử dụng ở những địa phương nhất địnhtrong một quốc gia

Phương ngữ xã hội là những biến thể chủ yếu bao gồm các đơn vị từvựng và một số quán ngữ, một số kiểu kết cấu được sử dụng trong một cộngđồng xã hội theo nghề nghiệp, theo hoạt động khoa học, nghệ thuật, tôn giáo,tín ngưỡng v.v thậm chí trong cộng đồng của những người sinh sống ngoàivòng pháp luật

Ngữ vực

Đỗ Hữu Châu đã bày tỏ sự đồng tình với quan niệm về ngữ vực của

Halliday Theo đó, “Ngữ vực (register - phong cách học, xã hội ngôn ngữ học)

là một biến thể của ngôn ngữ theo các hoàn cảnh xã hội (social situation - tức

“thoại trường” theo thuật ngữ của chúng tôi - Đỗ Hữu Châu) như tư pháp, báo

Trang 32

grammar), ngữ vực đối lập với phương ngữ địa lý và phương ngữ xã hội - Đỗ

Trang 33

Hữu Châu) Phương ngữ là biến thể quan hệ với người dùng còn ngữ vực làbiến thể liên quan tới cách dùng.

c Loại thể

Loại thể là những biến thể sử dụng của các diễn ngôn Điều quantrọng là các loại thể tạo nên các câu thúc - constraint đối với việc tạo ra vàthuyết giải diễn ngôn Những dấu hiệu trong diễn ngôn sẽ đóng vai trònhững cái kích thích tác động vào các nhân vật giao tiếp, khiến cho nhữngngười này khởi động các mã ngôn ngữ, tức khởi động biến thể ngôn ngữ, ngữvực, phong cách và thể loại tương ứng với kích thích tiếp nhận được

Về diễn ngôn

Diễn ngôn là lời của từng người nói ra trong một cuộc giao tiếp Cũng

có những diễn ngôn do hai hay hơn hai nhân vật giao tiếp xây dựng nên (nhưtrong trường hợp một cuộc hội thoại tay ba, hai người liên kết với nhau đểchống lại người thứ ba)

Diễn ngôn có hình thức và nội dung, cả hai đều bị chi phối của tác độngcủa ngữ cảnh Hình thức diễn ngôn được tạo thành bởi các yếu tố của ngônngữ, các đơn vị từ vựng, các quy tắc kết học các hành vi ngôn ngữ tạo nêndiễn ngôn Các yếu tố kèm lời và phi lời cũng được xem là các yếu tố thuộchình thức của diễn ngôn Về nội dung, diễn ngôn có hai thành tố là nội dungthông tin và nội dung liên cá nhân

Ý định hay mục đích giao tiếp sẽ cụ thể hóa thành đích của diễn ngônqua các thành tố nội dung của diễn ngôn Nói một cách tổng quát, diễn ngôn

có đích tác động

1.2.2 Các nhân tố chi phối việc xưng hô

Như đã nói: có giao tiếp là có xưng hô, nghĩa là: xưng hô là phần khôngthể thiếu của giao tiếp và bị chi phối bởi những yếu tố cấu thành giao tiếp

Nói về mối quan hệ giữa vai giao tiếp với vấn đề xưng hô, Lê ThanhKim [17] cho rằng: Trong một diễn biến giao tiếp, hình thức ngôn ngữ biểu

Trang 34

hiện trực tiếp vai giao tiếp của từng cá nhân là các từ xưng hô Từ xưng biểuhiện vai chủ thể giao tiếp, từ hô biểu hiện khách thể hay đối tượng giao tiếp.Trong quá trình giao tiếp sẽ có sự luân phiên thay đổi vai trò của các vai giaotiếp Tư cách vai của một cá nhân (từ xưng - hô) được minh định qua vị thế xãhội của từng cá nhân và được xác lập thông qua các quan hệ cá nhân Hay nóicách khác, các quan hệ cá nhân là cơ sở để xác lập tư cách vai và để ngườitham gia giao tiếp lựa chọn từ xưng hô thích hợp Từ đây có thể thấy, vị thế

xã hội và của những người tham gia giao tiếp ảnh hưởng trực tiếp đến việc lựachọn và sử dụng từ xưng hô Đồng thời, tác giả cũng cho rằng có ba quan hệảnh hưởng đến xưng hô là: 1 Quan hệ tôn ti trong gia tộc, 2 Quan hệ quyềnthế hay vị thế trong xã hội, 3 Quan hệ liên kết trong xã hội

Theo Đỗ Hữu Châu [4], việc sử dụng các từ xưng hô khi giao tiếp bịchi phối bởi 5 yếu tố: 1 Vai giao tiếp (vai nói, vai tiếp thoại), 2 Quan hệ liên

cá nhân (quyền uy và thân cận, trong nhóm và ngoài nhóm), 3 Ngữ vực, 4.Thoại trường, 5 Tình cảm, thái độ đánh giá của các vai với nhau và vai tròcủa các vai với sự vật được thưa xưng

Trong thực tế, yếu tố “vai giao tiếp” được cho rằng có ảnh hưởng nhiềunhất tới cách xưng hô Việc xưng hô sẽ trở nên khó khăn nếu không xác địnhđược vai giao tiếp

1.3 Vài nét về Phan Tứ và tác phẩm của ông

Phan Tứ (1930 - 1995) tên thật là Lê Khâm, ông là một trong nhữngcây bút xuất sắc của thế hệ nhà văn trưởng thành trong kháng chiến chốngPháp và chống Mỹ Phan Tứ được sinh ra ở Bình Định nhưng suốt thời niênthiếu ông sống ở quê cha là Quế Phong - Quế Sơn - Quảng Nam Vốn là cháungoại nhà chí sĩ yêu nước Phan Châu Trinh, được sinh trưởng trong một giađình giàu truyền thống Cách mạng, Phan Tứ sớm được giác ngộ và có ý thứcđấu tranh cho nền độc lập dân tộc

Trang 35

Năm 1958, ông theo học khoa Ngữ văn, Đ ại h ọ c Tổ n g h ợ p H à N ộ i Cũng năm này, ông đã viết cuốn "Bên kia biên giới" với bút danh Lê Khâm.Tác phẩm viết về cuộc chiến đấu của quân tình nguyện Việt Nam tại Hạ Lào.Năm 1960, ông ra mắt cuốn "Trước giờ nổ súng" với cùng đề tài trên Cả haitác phẩm được đánh giá cao, và ông trở thành một nhà văn tên tuổi thời bấygiờ khi mới vừa tròn 30 tuổi [51].

Sau khi tốt nghiệp năm 1961, ông được phân công trở lại công tác tạichiến trường Miền Nam, làm phái viên tuyên truyền khu ủy Liên khu V, ủyviên đảng đoàn Văn nghệ khu 5, và viết văn dưới bút danh Phan Tứ Bút danhnày gắn liền với các tác phẩm nổi tiếng của ông sau này Do sức khỏe yếu vàchịu ảnh hưởng bởi tác động của chất độc hóa học, năm 1966 ông được rút raBắc để chữa bệnh, công tác tại Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam,sau đó giữ chức quyền Tổng biên tập Nhà xuất bản Giải phóng [51]

Nói về những tác phẩm của Phan Tứ, có thể nhận định rằng ông là nhàvăn đã đi đến cùng với đề tài chiến tranh cách mạng bằng chính những trảinghiệm xương máu của mình Xin được tóm tắt sự nghiệp sáng tác của Phan

Tứ bằng hệ thống những tác phẩm đã gây dấu ấn trên văn đàn theo trình tự:

Bên kia biên giới (tiểu thuyết, 1958, tái bản 1978), Trước giờ nổ súng (tiểu

thuyết, 1960), Trở về Hà Nội (truyện ngắn, 1960), Trên đất Lào (bút ký, 1961),

Về làng (1964), Gia đình má Bảy (tiểu thuyết, 1968, tái bản 1971, 1972,

1975), Mẫn và tôi (tiểu thuyết,

1972, 1975, 1978, 1987, 1995), Trại ST 18 (tiểu thuyết, 1974), Người cùng

quê

(tiểu thuyết 3 tập, 1985, 1995, 1997, chưa hoàn thành)

Bên kia biên giới mặc dù không phải tác phẩm đầu tay nhưng là tiểu

thuyết đầu tiên khiến bạn đọc biết đến tên Lê Khâm Ở Bên kia biên giới, bạnđọc thấy được bản chất Cách mạng của quân đội hai nước Việt Nam - Lào vàtinh thần đoàn kết máu thịt của quân dân hai nước trong cuộc kháng chiếnchống Pháp

Gia đình má Bảy ra đời sau bốn năm khi Lê Khâm đổi bút danh thành

Phan Tứ Tác phẩm đã phản ánh cuộc chiến kiên cường của đồng bào xã Kỳ

Trang 36

tình cảm , nói ít làm nhiều, dẫu phải đối mặt với những tra tấn, kìm kẹp dã

Trang 37

man của kẻ thù vẫn kiên trung theo con đường Cách mạng Cuộc đời và sựthay đổi trong nhận thức của má Bảy mang tính chất điển hình cho quầnchúng cách mạng trước và sau đồng khởi.

Còn nhiều những tác phẩm khác của Phan Tứ đáng được đầu tư nghiêncứu một cách bài bản như: Mẫn và tôi, Trước giờ nổ súng Trong phạm vinghiên cứu, luận văn xin được khảo sát hai tác phẩm Bên kia biên giới và Giađình má Bảy

1.4 Tiểu kết

1 Xưng hô trước hết là một hành vi giao tiếp xã hội thể hiện lối ứng xửvăn hóa của con người trong những cộng đồng nói năng nhất định Hành vigiao tiếp này được hiện thực hóa qua dạng thức ngôn ngữ xưng hô

2 “Từ xưng hô bao gồm những từ dùng để xưng (tự xưng) hoặc để hô(gọi) một người nào đó khi người đó ở một ngôi giao tiếp nhất định Từ xưng

hô được tập hợp bởi nhiều lớp từ loại khác nhau Luận văn đồng tình với cáchphân loại từ xưng hô thành 6 nhóm, tương đương với 12 kiểu của tác giả

Nguyễn Văn Khang trong cuốn Ngôn ngữ học xã hội - Những vấn đề cơ bản

[22]

3 Mặc dù tên gọi, khái niệm và cách phân loại từ xưng hô chưa hoàntoàn thống nhất; nhưng từ sự hành chức có thể thấy sự thống nhất về chứcnăng của từ xưng hô trong giao tiếp ngôn ngữ Có thể kể đến hai chức năng cơ

bản của từ xưng hô là chức năng chiếu vật và chức năng thể hiện quan hệ liên

nhân.

4 Giao tiếp là môi trường hành chức của từ xưng hô, giao tiếp đặt từxưng hô vào bối cảnh cụ thể gắn với hành loạt các yếu tố liên quan đến conngười và xã hội như văn hóa, phong tục, tâm lý vv Có ba nhân tố có mặttrong một cuộc giao tiếp, chi phối cuộc giao tiếp đó và chi phối hình thức -

nội dung của diễn ngôn là ngữ cảnh, ngôn ngữ và diễn ngôn.

5 Tiếp nhận những tác phẩm của Phan Tứ, có thể thấy rằng ông là nhà

văn đã đi đến cùng với đề tài chiến tranh cách mạng Bên kia biên giới mặc dù

không phải tác phẩm đầu tay nhưng là tiểu thuyết đầu tiên khiến bạn đọc biết

Trang 38

danh thành Phan Tứ Đây là hai tác phẩm được khảo sát trong luận văn.

Trang 39

Chương 2 NHỮNG NHÓM TỪ NGỮ DÙNG ĐỂ XƯNG HÔ TRONG

MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA PHAN TỨ 2.1 Các phương tiện ngôn ngữ dùng để xưng hô trong một số tác phẩm của Phan Tứ

Luận văn đã khảo sát, thống kê và phân loại nhóm từ ngữ xưng hôtrong hai tiểu thuyết Bên kia biên giới và Gia đình Má Bảy Qua khảo sát, cóthể hình dung hệ thống từ ngữ xưng hô trong những tác phẩm này như sau:

Bảng 2.1 Hệ thống từ ngữ xưng hô trong một số tác phẩm của Phan Tứ

khảo sát của luận văn, đại từ ta ngôi thứ nhất số ít không xuất hiện.

Bảng 2.2: Các đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất (số ít) trong một số

Trang 40

Kết quả khảo sát các đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất (số ít) trong một sốtác phẩm của Phan Tứ được thể hiện ở bảng 2.2.

Tôi là đại từ nhân xưng có sắc thái trung tính Thông thường, đại từ tôi

được vai giao tiếp trên sử dụng trong xưng hô với vai dưới hoặc xưng hô giữanhững người ngang hàng với nhau Đại từ tôi được cũng được sử dụng ở môitrường giao tiếp quy thức như trong các cuộc họp, các diễn đàn, hội nghị hoặc trong những tình huống giao tiếp mà những người tham gia giao tiếp cónhiều mối quan hệ đan chéo Như vậy, mặc dù không tạo được cảm giác thânquen, gần gũi nhưng đại từ tôi vẫn được xem như một giải pháp tình thế choviệc xưng hô trong nhiều bối cảnh giao tiếp Đây có thể được xem như sự lýgiải cho hiện tượng đại từ tôi được sử dụng nhiều nhất trong một số tác phẩmcủa Phan Tứ Có thể dẫn ra một vài tình huống giao tiếp sử dụng đại từ nhânxưng tôi như sau:

<1> Anh đợi tôi với! [52, tr.63]

Đại từ tôi ở ví dụ này được Kham sử dụng trong xưng hô với Đeng.

Kham và Đeng là người cùng làng, Đeng hơn tuổi Kham và có tình cảm đặc

biệt với Kham Nếu xưng hô theo đúng vai vế xã hội, Kham phải gọi anh xưng em Tuy nhiên, Kham không muốn đáp lại tình cảm của Đeng Vì vậy, Kham đã sử dụng từ tôi trong xưng hô với Đeng nhằm tạo khoảng cách.

-<2> Bà con ạ, cho tôi góp đôi câu [52, tr.68]

Đây là phát ngôn của nhân vật Tiến trong khi trao đổi về Cách mạngViệt - Lào với bà con làng Na Bua Cuộc hội thoại này có nhiều nhân vật thuộc

nhiều độ tuổi, nghề nghiệp khác nhau Vì vậy, từ xưng hô tôi được nhân vật sử

dụng

<3> - Thố! Mải nói chuyện quên cả anh hem đồng chí Anh mới về tôi

chưa quen, xin lỗi nhé

- Vâng, tôi mới về huyện ta.

- Anh nói giọng hơi cứng Hình như người ở Bô Lô Ven phải không?

Ở tình huống này, việc các đương sự đều xưng tôi, gọi anh là một giải

pháp xưng hô an toàn nhằm đảm bảo tính lịch sự mà lại không quá cứng nhắc

Ngày đăng: 13/02/2020, 13:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Văn An (1982), Ngôn ngữ học xã hội và việc chuẩn hóa tiếng Việt về mặt từ ngữ, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt về mặt từ ngữ, tập 1, NXB KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học xã hội và việc chuẩn hóa tiếngViệt về mặt từ ngữ, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt về mặt từ ngữ
Tác giả: Hoàng Văn An
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1982
2. Diệp Quang Ban (2005), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
3. Nguyễn Tài Cẩn (1999), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 1999
5. Hoàng Thị Châu (1995), vài đề nghị chuẩn hóa cách xưng hô tiếng Việt, Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: vài đề nghị chuẩn hóa cách xưng hô tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Thị Châu
Năm: 1995
6. Nguyễn Văn Chiến (1992), từ xưng hô trong tiếng Việt, Việt Nam - những vấn đề ngôn ngữ và văn hóa, Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, Trường Đại học Ngoại ngữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: từ xưng hô trong tiếng Việt, Việt Nam -những vấn đề ngôn ngữ và văn hóa, Hội Ngôn ngữ học Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Chiến
Năm: 1992
7. Trương Thị Diễm (2002), từ xưng hô có nguồn gốc danh từ thân tộc trong giao tiếp tiếng Việt, Luận án tiến sĩ ngữ văn, ĐH Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: từ xưng hô có nguồn gốc danh từ thân tộctrong giao tiếp tiếng Việt
Tác giả: Trương Thị Diễm
Năm: 2002
8. Nguyễn Thiện Giáp (2012), Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của ngôn ngữ, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận và phương pháp nghiêncứu của ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2012
9. Cao Xuân Hạo (2001), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
10. Lê Ngọc Hòa (2006), Đặc điểm cách xưng hô của các vai giao tiếp trong truyện ngắn (chọn lọc) của Nguyễn Công Hoan, Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, ĐH Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm cách xưng hô của các vai giao tiếp trongtruyện ngắn (chọn lọc) của Nguyễn Công Hoan
Tác giả: Lê Ngọc Hòa
Năm: 2006
11. Nam Hưng (1963), Tiếng xưng hô, Văn hóa nguyệt san, số 73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng xưng hô
Tác giả: Nam Hưng
Năm: 1963
12. Vũ Thị Thanh Hương (2006) (đồng dịch giả), Ngôn ngữ, văn hóa và xã hội: Một cách tiếp cận liên ngành, NXB Thế Giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ, văn hóa và xãhội: Một cách tiếp cận liên ngành
Nhà XB: NXB Thế Giới
13. Phạm Khiêm Ích (2001), Văn hóa học và văn hóa thế kỉ XX, Viện thông tin khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa học và văn hóa thế kỉ XX
Tác giả: Phạm Khiêm Ích
Năm: 2001
14. Nguyễn Thị Ly Kha (1998), Thử tìm hiểu về danh từ Thân tộc của tiếng việt, tạp chí Ngôn ngữ, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử tìm hiểu về danh từ Thân tộc của tiếngviệt
Tác giả: Nguyễn Thị Ly Kha
Năm: 1998
16. Nguyễn Văn Khang (1999), Ngôn ngữ học xã hội - những vấn đề cơ bản, NXB KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học xã hội - những vấn đề cơ bản
Tác giả: Nguyễn Văn Khang
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1999
17. Lê Thanh Kim (1998), Từ xưng hô và cách xưng hô trong các phương ngữ tiếng việt dưới góc nhìn của lý thuyết xã hội học ngôn ngữ, Luận án Tiến sĩ Ngữ Văn, Viện Ngôn ngữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ xưng hô và cách xưng hô trong các phươngngữ tiếng việt dưới góc nhìn của lý thuyết xã hội học ngôn ngữ
Tác giả: Lê Thanh Kim
Năm: 1998
18. Nguyễn Thế Kỷ, 2011, Nói năng, giao tiếp trên đài truyền hình, NXB ĐHQG HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nói năng, giao tiếp trên đài truyền hình
Nhà XB: NXBĐHQG HN
19. Macionis, J. Jonhn (1987), Xã hội học, NXB thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học
Tác giả: Macionis, J. Jonhn
Nhà XB: NXB thống kê
Năm: 1987
20. Lò Thị Hồng Nhung (2014), Tìm hiểu Cách sử dụng từ xưng hô trong tiếng Thái Đen vùng Tây Bắc, Hội thảo ngôn ngữ và văn học vùng Tây Bắc, NXB ĐHSP HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu Cách sử dụng từ xưng hô trongtiếng Thái Đen vùng Tây Bắc, Hội thảo ngôn ngữ và văn học vùng TâyBắc
Tác giả: Lò Thị Hồng Nhung
Nhà XB: NXB ĐHSP HN
Năm: 2014
21. Hoàng Phê (Chủ biên), 2011, Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
22. Vũ Trọng Phụng (2010), tuyển tập Vũ Trọng Phụng, NXB Văn học Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: tuyển tập Vũ Trọng Phụng
Tác giả: Vũ Trọng Phụng
Nhà XB: NXB Văn họcViệt Nam
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w