1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Yếu tố giới trong phát ngôn hỏi và hồi đáp hỏi qua một số tác phẩm của vũ trọng phụng

145 588 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 145
Dung lượng 811,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở Việt Nam từ những năm 80 trở lại đây,vấn đề hành vi ngôn ngữ nói chung và hành động hỏi nói riêng đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà ngôn ngữ học như: Nguyễn Đức Dân, Đỗ Hữu Châ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC _

HOÀNG VIỆT ANH

YẾU TỐ GIỚI TRONG PHÁT NGÔN HỎI

VÀ HỒI ĐÁP HỎI QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ: KHOA HỌC NGỮ VĂN

SƠN LA, NĂM 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC _

HOÀNG VIỆT ANH

YẾU TỐ GIỚI TRONG PHÁT NGÔN HỎI

VÀ HỒI ĐÁP HỎI QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG

Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam

Mã số: 60220102

LUẬN VĂN THẠC SĨ: KHOA HỌC NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: GS TS NGUYỄN VĂN KHANG

SƠN LA, NĂM 2015

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU……… 6

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Lịch sử vấn đề……… 7

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9

4 Phương pháp nghiên cứu 10

5 Đối tượng, phạm vi và tư liệu nghiên cứu 10

6 Ý nghĩa của luận văn 10

7 Bố cục của luận văn 11

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 12 1.1 Vấn đề giới trong ngôn ngữ 12

1.1.1 Khái niệm giới 12

1.1.2 Yếu tố giới trong ngôn ngữ 13

1.2 Hành động ngôn ngữ hỏi 25

1.2.1 Một số vấn đề về hành động ngôn ngữ 25

1.2.1.1 Khái niệm hành động ngôn ngữ 25

1.2.1.2 Phân loại hành động ngôn ngữ 25

1.2.2 Hành động ngôn ngữ hỏi 27

1.2.2.1 Hành vi hỏi trong tiếng Việt 27

1.2.2.2 Đặc điểm của hành vi hỏi trong tiếng Việt 30

1.2.2.3 Hành vi hỏi trực tiếp và hành vi hỏi gián tiếp trong tiếng Việt 31

1.2.2.4 Các nghiên cứu, khảo sát về hành vi hỏi trong tiếng Việt 33

1.3 Đôi nét về nhà văn Vũ Trọng Phụng 35

1.4 Tiểu kết 37

CHƯƠNG 2: YẾU TỐ GIỚITRONG PHÁT NGÔN HỎI TRỰC TIẾP VÀ HỒI ĐÁP HỎI QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG 38 2.1 Phát ngôn hỏi trực tiếp của nam và hồi đáp 38

2.1.1 Phát ngôn hỏi trực tiếp của nam với nam và hồi đáp 38

Trang 4

2.1.1.1 Phát ngôn hỏi trực tiếp của nam với nam và hồi đáp hỏi trực tiếp 38 2.1.1.2 Phát ngôn hỏi trực tiếp của nam với nam và hồi đáp hỏi gián tiếp 44 2.1.2 Phát ngôn hỏi trực tiếp của nam với nữ và hồi đáp 50 2.1.2.1 Phát ngôn hỏi trực tiếp của nam với nữ và hồi đáp hỏi trực tiếp 50 2.1.2.2 Phát ngôn hỏi trực tiếp của nam với nữ và hồi đáp hỏi gián tiếp 53 2.2 Phát ngôn hỏi trực tiếp của nữ và hồi đáp 56 2.2.1 Phát ngôn hỏi trực tiếp của nữ với nữ và hồi đáp 56 2.2.1.1 Phát ngôn hỏi trực tiếp của nữ với nữ và hồi đáp hỏi trực tiếp 56 2.2.1.2 Phát ngôn hỏi trực tiếp của nữ với nữ và hồi đáp hỏi gián tiếp 58 2.2.2 Phát ngôn hỏi trực tiếp của nữ với nam và hồi đáp 60 2.2.2.1 Phát ngôn hỏi trực tiếp của nữ với nam và hồi đáp hỏi trực tiếp 60 2.2.2.2 Phát ngôn hỏi trực tiếp của nữ với nam và hồi đáp hỏi gián tiếp 62 2.3 Đối chiếu phát ngôn hỏi trực tiếp và hồi đáp của nam và nữ 64 2.4 Tiểu kết chương 2 65 CHƯƠNG 3: YẾU TỐ GIỚITRONG PHÁT NGÔN HỎI GIÁN TIẾP VÀ HỒI ĐÁP HỎI QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG

67

3.1 Phát ngôn hỏi gián tiếp của nam và hồi đáp 67 3.1.1 Phát ngôn hỏi gián tiếp của nam với nam và hồi đáp 67 3.1.1.1 Phát ngôn hỏi gián tiếp của nam với nam và hồi đáp hỏi trực tiếp 67 3.1.1.2 Phát ngôn hỏi gián tiếp của nam với nam và hồi đáp hỏi gián tiếp 70 3.1.2 Phát ngôn hỏi gián tiếp của nam với nữ và hồi đáp 76 3.1.2.1 Phát ngôn hỏi gián tiếp của nam với nữ và hồi đáp hỏi trực tiếp 76 3.1.2.2 Phát ngôn hỏi gián tiếp của nam với nữ và hồi đáp hỏi gián tiếp 78 3.2 Phát ngôn hỏi gián tiếp của nữ và hồi đáp 82 3.2.1 Phát ngôn hỏi gián tiếp của nữ với nữ và hồi đáp 82 3.2.1.1 Phát ngôn hỏi gián tiếp của nữ với nữ và hồi đáp hỏi trực tiếp 82 3.2.1.2 Phát ngôn hỏi gián tiếp của nữ với nữ và hồi đáp hỏi gián tiếp 84 3.2.2 Phát ngôn hỏi gián tiếp của nữ với nam và hồi đáp 86

Trang 5

3.2.2.1 Phát ngôn hỏi gián tiếp của nữ với nam và hồi đáp hỏi trực tiếp 86 3.2.2.2 Phát ngôn hỏi gián tiếp của nữ với nam và hồi đáp hỏi gián tiếp 89 3.3 Đối chiếu phát ngôn hỏi gián tiếp và hồi đáp của nam và nữ 94 3.4 Tiểu kết chương 3 95

Trang 6

1.1 Hỏi - đáp là nhân tố không thể thiếu trong giao tiếp dù đó là các cuộc trò chuyện trực tiếp hàng ngày hay là các kết quả được thể hiện trên văn bản Trong những năm gần đây vấn đề này được quan tâm chú ý và được nghiên cứu trên nhiều bình diện, trong đó có đóng góp không nhỏ của các nhà ngôn ngữ học xã hội

Phát ngôn hỏi (PNH) và hồi đáp hỏi (HĐH) có vai trò đáng kể trong hoạt động giao tiếp Đây là một trong những hành vi ngôn ngữ phổ biến tham gia thường xuyên vào cấu trúc hội thoại Hành động hồi đáp hỏi ngoài việc làm rõ “điều chưa

biết”, “cái không rõ” còn bộc lộ tính mức độ lịch sự của phát ngôn, quan hệ liên

nhân giữa các nhân vật tham gia giao tiếp

1.2 Vấn đề giới là một trong những nội dung quan trọng và không thể thiếu của Ngôn ngữ học xã hội Giới hay giới tính là một nhân tố xã hội có tác động mạnh mẽ đến việc sử dụng ngôn ngữ Với tư cách là các nhóm xã hội, trong sử dụng ngôn ngữ, giữa nam giới và nữ giới bên cạnh những điểm giống nhau còn có những điểm khác nhau để hình thành nên phong cách ngôn ngữ của mỗi giới Vì thế luận văn nghiên cứu yếu tố giới trong phát ngôn hỏi và hồi đáp hỏi qua một số tác phẩm của Vũ Trọng Phụng cũng là mong muốn góp một phần nhỏ vào nghiên cứu đặc điểm của loại phong cách ngôn ngữ này

1.3 Trong lịch sử văn học Việt Nam có không ít những hiện tượng phức tạp, song ít có nhà văn nào lại trở thành một “vấn đề” ngay khi mới xuất hiện như Vũ Trọng Phụng Các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng thành công không chỉ ở bình diện nội dung mà còn rất đặc sắc ở bình diện nghệ thuật, trong đó ngôn ngữ là một biểu hiện rất nổi bật Tính đến thời điểm này đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về tác phẩm của Vũ Trọng Phụng trên các phương diện nội dung, nghệ thuật, song theo những tài liệu mà chúng tôi có dịp tìm hiểu thì chưa có công trình nào chuyên sâu nghiên cứu về PNH và HĐH trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng

Xuất phát từ tính cấp thiết của việc nghiên cứu các phát ngôn hỏi – hồi đáp hỏi nhìn từ góc độ giới nói chung và mong muốn được nghiên cứu vấn đề này từ

các tác phẩm văn học nói riêng, chúng tôi đã lựa chọn và tìm hiểu đề tài là: Yếu tố

Trang 7

giới trong phát ngôn hỏi và hồi đáp hỏi qua một số tác phẩm của Vũ Trọng

Phụng

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Trên thế giới, ngữ dụng học xuất hiện từ nửa đầu thế kỷ XX với nhiều nhà nghiên cứu có tên tuổi như: J.R Searle, JJ Katz, J.L.Austin, Ballmer…Ở Việt Nam những người có công mở đường cho ngành ngữ dụng học như Đỗ Hữu Châu (1993, 2001), Nguyễn Đức Dân(1998), Nguyễn Thiện Giáp (2000) Sau đó cũng có nhiều bài viết trên cơ sở lí thuyết của ngữ dụng học đã nghiên cứu các hành vi ngôn ngữ cụ thể của tiếng Việt như Nguyễn Thị Hoàng Yến, Vũ Thị Nga … với đề tài về hành vi cam kết; Nguyễn Thị Hoài Linh, Nguyễn Thu Hạnh … với đề tài khảo sát hành vi ngôn ngữ

Trong ngôn ngữ học Việt Nam nghiên cứu về câu hỏi cần phải kể đến các tác giả như: Cao Xuân Hạo, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân, Hoàng Trọng Phê, Trần Thị Thìn, Lê Đông, Nguyễn Thị Quy, Nguyễn Đăng Sửu…Tác giả Lê Đông trong công trình nghiên cứu “Ngữ nghĩa, ngữ dụng của câu hỏi chính danh” [1996] đã chỉ

rõ mối quan hệ giữa ngữ cảnh và câu hỏi, tiền đề và câu hỏi Tác giả đã phân tích cụ thể một số kiểu loại câu hỏi đặt trong ngữ cảnh thực Năm 1991 trong công trình

“Sơ thảo ngữ pháp chức năng” Giáo sư Cao Xuân Hạo đã phân tích hiệu lực ngôn trung của câu nghi vấn, từ đó thấy câu nghi vấn không chỉ được dùng để thể hiện hành vi hỏi…

Đối tượng mà ngữ nghĩa – ngữ dụng quan tâm đến không chỉ là nội dung mệnh đề, cái lõi miêu tả của câu gắn với một phân đoạn thực tế bên ngoài, mà còn

là trình bày ngữ nghĩa – ngữ dụng của nó trong thành phần của hành động ngôn ngữ

Phát ngôn hỏi - đáp được khai thác từ nhiều góc độ với những qua điểm, khuynh hướng nghiên cứu khác nhau Các nhà ngữ pháp học truyền thống chủ yếu quan tâm đến ngôn ngữ và các bình diện của nó như: cấu trúc câu, thành phần chính, thành phần phụ của câu, câu phân loại theo mục đích nói như: câu trần thuật, câu cảm thán, câu hỏi…

Trang 8

Câu nghi vấn (câu hỏi) là một trong bốn kiểu câu phân loại theo mục đích nói Kiểu câu này được sử dụng khá phổ biến trong tiếng Việt Ở Việt Nam từ những năm 80 trở lại đây,vấn đề hành vi ngôn ngữ nói chung và hành động hỏi nói riêng đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà ngôn ngữ học như: Nguyễn Đức Dân, Đỗ Hữu Châu, Diệp Quang Ban, Nguyễn Thiện Giáp… Luận văn đã kế thừa các thành tựu nghiên cứu trên vào tìm hiểu, phân tích ngữ liệu, từ đó rút ra các giá trị sử dụng trên thực tế và giá trị nghệ thuật trong văn chương của phát ngôn hỏi và hồi đáp hỏi qua tác phẩm của Vũ Trọng Phụng

2.2 Nghiên cứu yếu tố giới trong ngôn ngữ là một trong những nội dung

quan trọng của ngôn ngữ học xã hội Từ hai hướng tiếp cận: ngôn ngữ của mỗi giới

và ngôn ngữ nói về mỗi giới, các công trình nghiên cứu đã xác định rõ mối quan hệ

giữa ngôn ngữ và giới, đồng thời chỉ ra sự khác biệt về ngôn ngữ giữa nam giới và

nữ giới Người mở đường cho nghiên cứu này là R Lakoff trong tác phẩm “Ngôn ngữ và vị trí của người phụ nữ trong xã hội” (1973) Ông cho rằng: Nữ giới thích

dùng thêm thành phần phụ cho câu hỏi, nữ giới thích dùng các từ tự do, nữ giới thích dùng ngữ điệu để nói các câu trần thuật, nữ giới thích dùng nhiều cách nói mang tính lịch sự… Ở Việt Nam người đề cập đến nội dung này đầu tiên là tác giả

Nguyễn Văn Khang năm 1996 “Sự bộc lộ giới tính trong giao tiếp ngôn ngữ” và

các công trình tiếp theo của tác giả năm 1999,2003,

2004, 2012…Tiếp đó đã có nhiều công trình nghiên cứu về tiếng Việt, ngôn ngữ các

dân tộc thiểu số ở Việt Nam cũng như các công trình đối chiếu…đều coi giới là một

nhân tố xã hội quan trọng khi nghiên cứu ngôn ngữ Một số công trình tiêu biểu

như: Nguyễn Văn Khang (2004) Xã hội học ngôn ngữ về giới: Kỳ thị và kế hoạch hóa ngôn ngữ chống kỳ thị đối với nữ giới trong việc sử dụng ngôn ngữ Phạm Thị

Hà (2010), Một số vấn đề về hành vi khen và giới, Ngôn ngữ và Đời sống 1.2011 Nguyễn Thị Mai Hoa (2010), Đặc điểm ngôn ngữ giới tính trong hát phường vải Nghệ Tĩnh, ĐH Vinh Vũ Thị Thanh Hương (1999), Giới tính và lịch sự, Ngôn ngữ,

số 8, tr.1-12 Lương Văn Hy (chủ biên) (2000), “Ngôn từ, giới và nhóm xã hội từ thực tiễn tiếng Việt”, Nxb Khoa học xã hội HN Đỗ Thu Lan (2006) Tác động của

Trang 9

nhân tố giới tính đối với việc sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp, Luận văn Thạc sĩ,

Hà Nội Nguyễn Lê Lương (Luận văn thạc sĩ 2006) Đặc điểm ngôn ngữ của nữ giới qua hành vi hỏi trên cứ liệu lời thoại nhân vật trong truyên ngắn Nam Cao trước

1945 Hoàng Thị Sâm (2009), Đặc điểm lời thoại nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Thi, ĐH Vinh Nguyễn Đức Thắng (2000), Về giới và ngôi ở những từ xưng

hô trong giao tiếp tiếng Việt, Ngôn ngữ, số 2 (149), tr.59-70 Nguyễn Trà My (2011), Tác động của nhân tố giới tính đến sự sử dụng ngôn ngữ và tư duy của người Việt Trần Thị Quế (2001), Những khái niệm cơ bản về giới và vấn đề giới ở Việt Nam

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là thông qua nghiên cứu, khảo sát, phân tích, so sánh các phát ngôn hỏi và hồi đáp hỏi từ góc độ giới qua một số tư liệu là phóng sự, tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng, từ đó luận văn muốn đóng góp một phần nhỏ vào nghiên cứu yếu tố giới tác động đến giao tiếp ngôn ngữ của người Việt

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn này là thông qua khảo sát yếu tố giới trong phát ngôn hỏi và hồi đáp hỏi qua một số tác phẩm của Vũ Trọng Phụng góp phần vào nghiên cứu giao tiếp tiếng Việt dưới tác động của các nhân tố xã hội mà

cụ thể là yếu tố giới Để đạt được mục đích trên, đề tài cần phải giải quyết được ba nhiệm vụ sau:

- Hệ thống hoá một số vấn đề lí thuyết liên quan đến đề tài

- Khảo sát yếu tố ngôn ngữ của mỗi giới trong phát ngôn hỏi và hồi đáp hỏi qua một số tác phẩm của Vũ Trọng Phụng

- Chỉ ra những đặc điểm đặc sắc trong phát ngôn hỏi và hồi đáp hỏi của mỗi giới qua một số tác phẩm của Vũ Trọng Phụng

4 Phương pháp nghiên cứu

Trang 10

Phương pháp chủ đạo của luận văn này là phương pháp phân tích diễn ngôn

và các phương pháp, thủ pháp khác như: khảo sát, thu thập, thống kê và xử lí tư liệu

5 Đối tượng, phạm vi và tư liệu nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Yếu tố ngôn ngữ của mỗi giới trong phát ngôn hỏi và hồi đáp hỏi qua một số tác phẩm của Vũ Trọng Phụng

5.3 Tư liệu nghiên cứu

- Phóng sự, gồm: 1/ Cạm bẫy người; 2/ Kỹ nghệ lấy Tây; 3/ Cơm thầy cơm cô; 4/ Một huyện ăn Tết

- Tiểu thuyết, gồm: 1/ Giông tố; 2/ Vỡ đê; 3/ Số đỏ; 4/ Trúng số độc đắc

6 Ý nghĩa của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng rõ thêm yếu tố giới tác động đến giao tiếp ngôn ngữ trong tác phẩm văn học thông qua một hành động ngôn ngữ cụ thể

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Qua luận văn chúng tôi mong muốn góp một cái nhìn mới trong việc khẳng định vị trí vai trò của nhà văn Vũ Trọng Phụng đối với nền văn học Việt Nam Bên cạnh đó, đây có thể là tài liệu tham khảo cần thiết phục vụ cho việc giảng dạy chuyên đề ngôn ngữ văn học Việt Nam trong các trường trung học, cao đẳng và đại học

7 Bố cục của luận văn

Trang 11

Ngoài các phần: Mục lục, mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục Cấu trúc của luận văn gồm ba chương

Chương 1: Cơ sở lí thuyết của đề tài

Chương 2: Yếu tố giới trong phát ngôn hỏi trực tiếp và hồi đáp qua một số tác phẩm của Vũ Trọng Phụng

Chương 3: Yếu tố giới trong phát ngôn hỏi gián tiếp và hồi đáp qua một số tác phẩm của Vũ Trọng Phụng

Chương 1

Trang 12

CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Vấn đề giới trong ngôn ngữ

1.1.1 Khái niệm giới

Vấn đề giới tính (sex) và giới (gender) là một chủ đề lớn liên quan đến nhiều

mặt của đời sống con người như: nhận thức, thói quen, hành vi ứng xử, xã hội, văn hóa Đây là vấn đề được nhiều nhà khoa học quan tâm Các nhà nghiên cứu về ngôn ngữ và giới đã định nghĩa về giới tính/giới như sau:

Giới tính “là những đặc điểm chung phân biệt nam với nữ, giống đực với giống cái ”, Hoàng Phê (2000) Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng [48] Giới tính

(giống) chỉ sự khác biệt về mặt thể chất giữa nam và nữ Sự khác biệt này chủ yếu liên quan đến chức năng tái sản xuất giống nòi và do yếu tố di truyền tự nhiên quy định Nói đến giống là nhấn mạnh đến tính ổn định, bất biến của một số đặc điểm về

chức năng sinh lý của nam và nữ Nhìn rộng ra thì giới tính còn được hiểu:“Giới tính có hàm ý không chỉ trong quan hệ về chủng tộc, trong tầng bậc xã hội, luật pháp và thói quen, thể chế giáo dục mà còn tác động đến tôn giáo, giao tiếp xã hội, phát triển xã hội và nhận thức, vai trò trong gia đình và công sở, phong cách xử sự, quan niệm về cái tôi, phân bố nguồn lực, các giá trị thẩm mĩ và đạo đức và nhiều lĩnh vực khác nữa” [Sally Me Connell Ginet]

Giới là vấn đề được xem xét trên hai phương diện Về mặt lí luận, “Giới là sự tập hợp các hành vi học được từ xã hội và những kì vọng về các đặc điểm và năng lực cần được cân nhắc nhằm xác định thế nào là một nam giới hay một phụ nữ (hoặc một cậu bé hay một cô bé) trong một xã hội hay một nền văn hóa nhất định”,

Lê Hồng Linh (2010), Mối liên hệ giữa giới tính và ngôn ngữ trong tiếng Việt và tiếng Anh, tạp chí Ngôn ngữ, số 1-2 [43] Về mặt thực tiễn, “Vấn đề giới liên quan mật thiết đến sự thay đổi về quan niệm và đời sống, vị thế ở cả gia đình cũng như ở ngoài xã hội giữa nam và nữ”, Nguyễn Văn Khang (2012), Ngôn ngữ học xã hội,

Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội [31] Giới là khái niệm chỉ mối quan hệ xã hội, mối tương quan về địa vị xã hội của nam và nữ trong một hoàn cảnh xã hội cụ thể Nói đến giới là nói đến những điều kiện xã hội và yếu tố xã hội quy định vị trí, vai

trò, hành vi xã hội của mỗi giới trong một hoàn cảnh xã hội cụ thể

Như vậy, nếu giới tính được hiểu là sự phân định giữa nam và nữ về mặt sinh học thì giới lại là sự phân định giữa nam và nữ về mặt xã hội Nếu giới tính có tính bẩm

Trang 13

sinh (sinh ra đã có), đồng nhất (nam giới hay phụ nữ trên khắp thế giới đều có cấu tạo sinh học cơ bản giống nhau), không biến đổi (cấu tạo và chức năng sinh học của nam

và nữ trong suốt quá trình lịch sử là bất biến) thì giới có tính tập nhiễm (do giáo dục mà

có), tính đa dạng (khác nhau tùy phạm vi địa lí hay văn hóa) và năng động (luôn vận

động và thay đổi), Phạm Thị Hà (2013) Đặc điểm ngôn ngữ giới trong giao tiếp tiếng Việt qua hành vi khen và tiếp nhận lời khen [15] Tuy nhiên, đi vào từng lĩnh vực nghiên cứu cụ thể hai khái niệm này lại được nhìn nhận khác nhau

Theo quan điểm của các nhà tâm lí xã hội học thì: Giới tính và giới là hai khái

niệm liên quan nhưng có nội hàm khác nhau Nam giới và nữ giới khác nhau ở hai

khía cạnh: thể chất (sinh lý học) và xã hội Khác với giới tính, giới không phải là cái

bẩm sinh đã có mà là cái được hình thành trong quá trình con người hành động, xử

sự trong các hoạt động xã hội và chịu ảnh hưởng rất lớn từ quá trình giáo dục cũng như tự giáo dục Có thể nói, những hành vi giới là kết quả của sự luyện tập của con người dựa vào những chuẩn tắc trong cộng đồng mà họ sinh sống, nhằm đáp ứng sự trông đợi hay kì vọng của cộng đồng đó

Theo các nhà ngôn ngữ học, hai thuật ngữ “giới tính” và “giới” đều được sử

dụng trong nghiên cứu Ngôn ngữ học xã hội Trong một số trường hợp chúng được

dùng thay thế cho nhau Chẳng hạn: P.Trudgill (1983), D.Baron (1986) sử dụng sex; D.Bolinger (1980) sử dụng sexism; R.Shuy (1975), J.Holmes (1989, 1991, 1993) sử dụng gender; C.West (1979), S.Romaine (1989) sử dụng gender and sex; D.H Zimmerrman (1977), R Lakoff (1979) sử dụng sex, gender Trong tiếng Việt, Vũ Thị Thanh Hương (1999) sử dụng giới tính Lương Văn Hy, Nguyễn Thị Thanh Bình (2000) sử dụng giới Nguyễn Văn Khang sử dụng giới tính (1989, 2005), sử dụng giới

(2012) Mặc dù việc sử dụng thuật ngữ có khác nhau nhưng nội hàm nghiên cứu thì

không khác nhau, đều nhìn nhận giới với tư cách là một biến xã hội tác động đến ngôn ngữ Phạm Thị Hà (2013) Đặc điểm ngôn ngữ giới trong giao tiếp tiếng Việt qua hành

vi khen và tiếp nhận lời khen [15]

1.1.2 Yếu tố giới trong ngôn ngữ

Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp của con người, bản thân nó không bao hàm sự phân biệt về giới tính, nhưng do có sự khác biệt về phân công xã hội, về đặc trưng tính cách, về sinh lý giữa hai giới nam và nữ nên mỗi một ngôn ngữ đều mang trong

nó những đặc trưng giới tính rõ nét Chính vì thế một trong những mối quan tâm của ngôn ngữ học xã hội là vấn đề giới trong giao tiếp ngôn ngữ Giới là một nhân

Trang 14

tố quan trọng, ảnh hưởng lớn đến tư duy cũng như việc sử dụng ngôn ngữ trong mọi lĩnh vực giao tiếp Từ hai hướng tiếp cận ngôn ngữ của mỗi giới và ngôn ngữ nói về

mỗi giới, nhiều công trình nghiên cứu đã xác định rõ mối quan hệ giữa ngôn ngữ và

giới tính, đồng thời chỉ ra sự khác biệt về ngôn ngữ giữa nam giới và nữ giới Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Khang, sự khác nhau về ngôn ngữ giữa hai giới thể hiện chủ yếu trên ba phương diện:

Thứ nhất, đó là sự khác nhau về cấu tạo cơ thể, "như vị trí của phần "chứa"

ngôn ngữ trong não cũng như những đặc điểm về sinh lí cấu âm"

Thứ hai, thể hiện ở ngôn ngữ được dùng để nói riêng về từng giới

Thứ ba, là sự khác nhau trong cách sử dụng ngôn ngữ ở mỗi giới

Trên thế giới cũng có nhiều công trình nghiên cứu về ngôn ngữ và giới như O.Jersperson, E Sapir đã đề cập đến vấn đề ngôn ngữ và giới nhưng phải đến R Lakoff thì vấn đề về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới mới được nghiên cứu một

cách hệ thống Với cuốn "Language and woman’s place"(Ngôn ngữ và vị trí của người phụ nữ), có thể khẳng định rằng, R Lakoff là người tiên phong trong những

nghiên cứu về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới Nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn và giới, R Lakoff tập trung nghiên cứu trên các phương diện: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và ngữ dụng Dựa vào quá trình xem xét nội quan và khả năng trực giác của mình, R Lakoff đã đề xuất một nhóm những đặc trưng nổi bật về ngữ âm, từ vựng, ngữ nghĩa và phong cách diễn đạt để nhận diện ngôn ngữ của phụ nữ

1/ Về ngữ âm: Theo R Lakoff thì trong phong cách ngôn ngữ của giới nữ có

những đặc điểm sau: Thứ nhất, nữ phát âm chuẩn mực hơn nam giới Ví dụ:

Nữ giới phát âm chính xác các âm như âm (g) trong từ (going) thay vì cách nói thân mật (goin) Thứ hai, phụ nữ sử dụng khá đa dạng cao độ và ngữ điệu trong phát

ngôn, họ cũng sử dụng những cách thể hiện sự cường điệu hóa, dùng trong dấu “ ”

mà Lakoff gọi đó là cách nói nhấn âm Thứ ba, phụ nữ hay lên giọng ở cuối câu

(chẳng hạn ngữ điệu lên giọng tạo thành câu hỏi cho những phát ngôn tường thuật)

Ví dụ:

- Trời ơi! Làm sao lại đến nỗi thế?

- Nhà có mấy sào ruộng mầu thì đem bán hôm mồng bẩy tết rồi, bây giờ còn đâu là của mình mà chả đi ăn trộm?

Trang 15

(Giông tố; tr303; XIV; lời của Long với Mịch)

- Thế thì ai bảo cô mời những hai ông lang? Hở cô ả?

- Đẻ bảo tôi thế thì tôi cứ thế, chứ tôi biết đâu đấy?

(Số đỏ; tr654; lời của Văn Minh với Tuyết)

- Ồ hay! Cái cô nằm giường này đâu mất rồi?

- Ấy, cô ta vừa đây mà! Hay là ra đằng sau chăng?

- Một người khác cũng vu vơ thêm:

- Cô ta đi đâu dễ đến nửa giờ rồi Ra đằng sau lại lâu thế!

(Giông tố; tr234,235; lời của người khán hộ và mấy người đàn bà)

Thứ tư, phụ nữ thích sử dụng ngôn điệu khi nói các câu trần thuật, Nguyễn Văn Khang (2012), Ngôn ngữ học xã hội, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội [31]

2/ Về từ vựng: Trong nghiên cứu của mình, R Lakoff cũng chỉ ra một số đặc điểm về từ vựng trong phong cách ngôn ngữ của nữ giới

Thứ nhất, phụ nữ dùng từ chỉ màu sắc nhiều hơn, linh hoạt và chính xác hơn nam giới (Ví dụ: beige (màu be), mauve (màu tím hồng), ecru (vàng xám), aquamarine (màu ngọc xanh biển) )

Thứ hai, phụ nữ có vốn từ vựng phong phú hơn nam giới trong một số lĩnh

vực sở trường như: nữ công, may vá, thêu thùa, nấu nướng,…

Thứ ba, phụ nữ ưa sử dụng các từ đệm, từ cảm thán ở dạng trung tính, nhẹ nhàng Ví dụ: oh dear (trời/ trời ơi/ eo ơi), ôi, than ôi, hỡi ôi, chao ôi, biết bao, xiết bao

- Em cảm ơn chị thật nhiều! Tình cảm mà chị dành cho em sâu sắc xiết bao!

- Xanh kia thăm thẳm từng trên

Vì ai gây dựng cho nên nỗi này? (Chinh phụ ngâm khúc)

Còn nam giới ưa dùng từ ngữ ở dạng thức ngôn ngữ mạnh mẽ, có phần thô

thiển, dung tục như: shit (mẹ kiếp, chó chết, chết tiệt)…

Ví dụ: - Chúng ta không thể nào dung được cái thằng Xuân ấy ở nhà chúng ta một phút nào nữa! Thật là khốn nạn

(Số đỏ; tr696; lời của ông Văn Minh với vợ)

Trang 16

- Thế còn cô? Thế tại sao lúc nó về hỏi thì cô vui mừng như bắt được của rồi nhận lời ngay tức khắc? Sao thế? Sao thế, hở đồ chó! Đứa nào tham của, thấy vàng phụ ngãi ?

(Giông tố; tr358; XXIII; Long nói với Mịch)

– Ô hay! thế ra nó nói với mày một giọng, nói với tao lại một giọng khác hay sao?

- Con cũng chả biết Con chỉ biết là sau khi anh ấy đã nỡ ăn nói đến như thế, thì chúng con chả còn hy vọng gì sum họp được với nhau

(Giông tố; tr308; XV; lời của ông đồ với Mịch)

Thứ tư, phụ nữ thường sử dụng các từ do dự: I think (tôi nghĩ), I guess (tôi đoán) (Ví dụ: He couldn’t live without her, I guess/ Anh ấy không thể sống thiếu

cô ấy, tôi đoán thế) với hàm ý tránh biểu thị thái độ một cách trực diện như: e rằng, không chắc lắm, có vẻ, theo tôi, hình như…

Ví dụ: – Ô kìa, con bé lạ nhỉ? Thế mày làm sao?

- Mịch run rẩy khẽ nói:

- U ạ, dễ thường tôi dễ thường tôi chửa

(Giông tố; tr281; XI; lời của bà đồ Uẩn với Mịch)

– Mày có mang? Giời cao đất dày ơi! Mày có mang?

- Hình như thế thì phải

- Thế dạo này có tội không?

- Dễ đến hơn tháng nay, không thấy gì cả

(Giông tố; tr281; XI; lời của bà đồ Uẩn với Mịch)

Thứ năm, đối với những từ thiên về bộc lộ cảm xúc hơn là cung cấp thông tin, phụ nữ thường sử dụng một số từ nghe có vẻ “dịu dàng” (ví dụ: adorable (thay vì great), sweet (thay vì coll) )

Ví dụ: - Chị ở phố này là rất phải, chọn chỗ khéo quá! Thế bà đâu? Bà có ở nhà không thì chị cho em vào chào nào

- Thôi, chị ạ, mẹ em mệt, hiện ngủ, chị để cho đến lần sau

(Vỡ đê; tr518; phần thứ ba, chương I; lời của Dung với Yến)

Thứ sáu, phụ nữ thường dùng các từ tăng cường như: so (you are so cute), very (She is very beautiful), really,…để nhấn mạnh nhằm tăng hiệu quả giao tiếp,

Trang 17

đồng thời lại thích sử dụng cách giảm nhẹ kind of (kiểu như, hơi hơi) trong (kind of difficult) để làm dịu căng thẳng

3/ Về ngữ pháp:

Thứ nhất, phụ nữ ưa sử dụng câu hỏi đính kèm, nhằm thuyết phục và làm

“mềm hóa” phát ngôn (Ví dụ: “John is here, isn’t John?” Ở trường hợp này, người nói chỉ cần hỏi “John is here?”, nhưng phụ nữ lại thường thêm “isn’t” với mục đích yêu cầu người khác thừa nhận) Thứ hai, phụ nữ thường đưa ra những yêu cầu ở dạng kết hợp và gián tiếp để thực hiện tính lịch sự (ví dụ: “I wonder if you would mind handing me that book” (Tôi băn khoăn rằng có làm phiền ngài lắm không khi tôi mượn cuốn sách đó) Thứ ba, phụ nữ thường sử dụng một số từ và cấu trúc nghe

có vẻ như một lời phân trần, một hành vi rào đón để làm giảm áp lực của thông tin

(chẳng hạn như: well, I know ( As far as I know, they are married), I’m not sure (I’m not sure if this is right, but I heard it was a secret ceremony) Thứ tư, phụ nữ dùng nhiều cách nói mang tính nghi lễ, lịch sự như: please, thank you…và các hình

thức cầu khiến phức hợp Chẳng hạn để đề nghị ai đó làm một việc mà mình muốn,

có nhiều cách nói khác nhau nhưng phụ nữa ưa dùng cách nói tỏ ra lịch sự như: Will you shut the window for me, please? (thay vì “Shut the window”), Nguyễn Văn Khang (2012), Ngôn ngữ học xã hội, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội [31]

Từ những vấn đề trên cho thấy: Ngôn ngữ của nữ giới có đặc điểm chung là hướng tới tính chuẩn mực và lịch sự Khác với nam giới, nữ giới ưa dùng ngôn ngữ nhẹ nhàng, trung tính, thậm chí là nhún nhường, khép nép…

Ví dụ: - Lạy anh, anh tha cho, tôi xấu hổ quá

- Thưa anh, tôi không dám nhìn mặt anh nữa

- Xin anh cam đoan là sẽ thương hại tôi mãi mãi đi! Anh Long ơi, nêu bao giờ anh mất lòng thương tôi thì tôi sẽ phải chết mất, anh ạ Tôi khổ sở lắm, chán đời lắm, anh ạ

(Giông tố; V; trang 237; Mịch nói với Long)

– Cậu lên chơi đấy à? Thế có ông ở trong xe không? Ồ! Cậu Tú lên chơi! Chúng ta

ra đón đi, các chị ơi! Lạy cậu ạ! Cậu mới lên chơi

- Không dám, chào các cô Ông hiện ở nhà nào bây giờ?

- Bẩm cậu, quan ông chưa về Nhưng mà cũng sắp về rồi đấy ạ

(Giông tố; tr220; lời của một cô với cậu Tú)

Trang 18

Ngôn ngữ của nữ giới mang phong cách nữ tính rõ nét Sự mềm mỏng trong ngôn ngữ của nữ trong rất nhiều trường hợp đem lại hiệu quả giao tiếp cao Ngôn ngữ của nữ giới và nam giới có những điểm khác nhau cơ bản Lí giải về sự khác nhau ấy R Lakoff cho rằng nó được bắt nguồn từ ba nguyên nhân cơ bản sau:

Thứ nhất: Do tâm lí xã hội ở từng giới khác nhau Quan niệm “nam phải nói

thế này”, “nữ phải nói thế kia” nhiều khi đã ăn sâu vào tư duy trở thành sự tự giác trong ý thức đến mức thành thói quen, một tiêu chuẩn vô hình

Thứ hai: Do tâm lí chung của xã hội và trở thành tiêu chuẩn đối xử với việc sử

dụng ngôn ngữ của nam và nữ

Thứ ba: Do môi trường giáo dục và tâm lí ảnh hưởng tới phong cách ngôn ngữ

giới Từ khi còn nhỏ, nữ đã được dạy cách nói năng thế này còn nam thì phải nói năng như thế kia Cụ thể: nữ ăn nói nhún nhường, khép nép mang tính “nữ tính” và

nam thì ngược lại Nguyễn Văn Khang (2012), Ngôn ngữ học xã hội, Nxb Giáo dục

Việt Nam, Hà Nội [31]

Ví dụ:

- Bẩm quan lớn đó là tiền bán rạ

(Giông tố; tr267; IX; lời của Mịch với Ông huyện )

- Thôi lạy quan, quan cho con xuống kẻo họ đợi

(Giông tố; tr206; lời của chị nhà quê với quan)

- Tao đẹp lắm phải không?

- Đẹp thật

- Thế mà tao xưa kia đã giết một người!

- Đừng nói dối!

- Nói dối à? Mày có muốn biết rõ cái độc ác của tao không?

(Kỹ nghệ lấy Tây; chương III; tr152; Bác lính lê dương nói với vợ)

– Quái nhỉ? Cậu mà cũng còn buồn kia à?Thế thì ở đời này ai sung sướng?

- Chả ai sướng cả Đã giàu lại muốn giàu hơn, đã danh giá, lại muốn danh giá hơn! Chứ như tao đây, lại không sướng hơn vua rồi ấy? Thế mà kỳ chung tao cũng vẫn khổ

(Giông tố; tr392; XXVII; lời của Thị Tín với Nghị Hách)

Trang 19

Với những kết quả nghiên cứu trên, có thể nói R Lakoff là người có đóng góp đáng kể đối với việc nghiên cứu phong cách ngôn ngữ của nữ giới

Ở Việt Nam, có rất nhiều nhà ngôn ngữ học nghiên cứu vấn đề ngôn ngữ và giới như Vũ Thị Thanh Hương, Lương Văn Hy, Nguyễn Thị Thanh Bình, Đỗ Thị Kim Liên, Lê Hồng Linh Tuy nhiên, đặt vấn đề cho việc nghiên cứu ngôn ngữ và giới ở Việt Nam là tác giả Nguyễn Văn Khang Trong những nghiên cứu của mình tác giả Nguyễn Văn Khang đã lí giải sự khác biệt giới tính được thể hiện trong ngôn ngữ trên ba bình diện sau:

1/ Bình diện ngữ âm:

Thứ nhất, sự khác nhau về cơ quan phát âm của mỗi giới Về mặt sinh lý, bộ

máy phát âm của nam và nữ không giống nhau (Ví dụ: dây thanh của nữ ngắn, mỏng, lỏng hơn của nam) Về mặt tâm lý, sự khác nhau thể hiện ở đỉnh công chấn của nguyên âm Với những sự khác nhau tinh tế trong bộ máy phát âm cho nên có nhiều điểm khác nhau trong cách phát âm giữa nam và nữ Thể hiện rõ nhất của sự khác nhau này là sự chênh lệch về âm vực trung bình của hai giới (nam có âm vực

trầm và ngược lại nữ có âm vực bổng) Vì thế, trong Tiếng Việt có câu: “giọng ồm

ồm như đàn ông” hay “giọng the thé như đàn bà”

Thứ hai, trong cách phát âm, giữa nam và nữ cũng có cách phát âm khác nhau

đối với một số âm (Ví dụ: trong tiếng Anh Mĩ, nam giới sử dụng âm mũi hóa nhiều hơn nữ giới

Thứ ba, do ảnh hưởng của đặc trưng xã hội nên ngôn ngữ giữa nam và nữ có

sự khác nhau Bởi: “âm sắc phản ánh các tiêu chí sinh học, tâm lý và những đặc trưng xã hội của người nói” [Lave, 1968] “Sự khác biệt về âm sắc và phong cách ngôn ngữ giữa mỗi giới, một nửa là do sự khác nhau về kết cấu sinh lý, một nửa còn lại là do chịu sự tác động của các nhân tố văn hóa, địa vị kinh tế, xã hội, cá tính và bối cảnh giao tiếp” [Sachs, 1975] Những định kiến, những kinh nghiệm khác nhau

của nam và nữ dẫn đến những cách thức sử dụng và hiểu ngôn ngữ không giống nhau Xuất phát từ quan niệm “nam tôn nữ ti”, nữ giới thường ở vị trí phụ thuộc trong gia đình cũng như ngoài xã hội, nên so với nam giới vốn ngôn ngữ của họ bị hạn chế Cũng như vậy họ chọn cách nói vòng vo, nhẹ nhàng, thể hiện sự tuân thủ

và thích làm hài lòng người khác Theo sự điều tra trên cơ sở giới tính, Peter Trudgill (1972) đã đưa ra nhận xét: “Các nữ nghiệm viên đã sử dụng các dạng thức

có liên quan đến chuẩn uy tín ở mức độ thường xuyên hơn các nam nghiệm viên”,

Trang 20

nhìn chung, “phụ nữ ý thức về vị thế ở mức độ cao hơn nam giới”, phụ nữ ý thức cao hơn nam giới về các biến thể ngôn ngữ Để giải thích điều này, tác giả nêu ra hai lý do: (1) Do vị trí xã hội của nữ “ít đảm bảo hơn nam” và “thường thấp hơn vị trí của nam giới” có thể vì thế mà phụ nữ thấy cần phải ghi nhận vị trí xã hội của mình bằng các phương tiện ngôn ngữ (2) Do ngôn ngữ của tầng lớp lao động, cũng như các khía cạnh văn hóa khác của tầng lớp này, dường như có các hàm ý về “nam tính”, chẳng hạn như, coi “tính thô lỗ và cứng rắn” là “đặc điểm nam tính được ưa thích”, còn “lịch lãm và tế nhị” là những đặc trưng ưa thích ở phụ nữ Trần Thanh

Vân (2012) Đặc trưng giới tính biểu hiện cuộc thoại mua bán ở chợ Đồng Tháp,

[59]

Ví dụ: - Thày bảo gì ạ?

- Không ạ

- Anh ấy không nói gì ạ

- Sao mày lại giấu tao? Nó không nói gì mà mày lại khóc à?

(Giông tố; tr308; XV; lời của Mịch với ông đồ)

– Thằng nào đấy, hở? Hở con voi giày kia?

(Giông tố; XXVIII; trang 404,405; Nghị Hách nói với bà Nghị Hách

- Nhà bác ngu lắm! Vỡ đê, ngập lụt mất cả chin tổng, thì ắt là phải thiệt hại, chớ lại còn phải hỏi gì nữa! Nhà bác mới ở trên giời rơi xuống đây à?

- Thưa cụ, con làm ở đê đã năm hôm nay, nào con có hiểu gì đâu! Chỉ biết là vỡ đê thôi, nay gặp cụ ở làng ra, con mới phải hỏi

(Vỡ đê; chương 8; tr501; Ông lão già nói với Phú)

2/ Bình diện từ (ngôn ngữ nói về mỗi giới)

Mỗi ngôn ngữ, dường như có sự mặc định một số từ ngữ chỉ dùng cho một giới nhất định Có nghĩa là đối với mỗi giới người ta chỉ có thể dùng từ này mà không thể dùng từ kia Điều này được biểu hiện rõ nhất ở hình thức cấu tạo từ trong

từng ngôn ngữ cụ thể Chẳng hạn trong tiếng Anh sử dụng hai đại từ he/his (nam)

và she/her (nữ) Trong tiếng Việt: ông, anh, cậu, chú, bác (nam) và bà, chị, mợ, cô,

dì (nữ) Trong tiếng Anh, chỉ dùng handsome để nói về vẻ đẹp của nam giới, beautiful để nói về vẻ đẹp của nữ giới Còn trong tiếng Việt, các từ thướt tha, yểu điệu, yêu kiều, duyên dáng, mĩ miều chỉ dùng cho nữ giới và mạnh mẽ, phong trần, nam tính dùng cho nam giới

Trang 21

Mặt khác, ở quy tắc phối hợp về giống, số trong một số ngôn ngữ có sự phân biệt giới tính rất rõ (tiếng Nga); ở một số ngôn ngữ khác như tiếng Việt là sự phân định các danh từ, các đại từ cho mỗi giới để tạo thành các cặp từ tương ứng (Ví dụ:

nam – nữ, trai – gái, ông – bà, chú – thím, cậu – mợ , cô – chú, anh – chị, )

Nhưng rõ hơn cả là sự phân định ranh giới ở một số không nhỏ các tính từ, động từ chuyên dùng cho từng giới, nếu sử dụng không đúng theo giới thì sẽ dẫn đến sự

thay đổi nội dung theo hướng “mang đặc điểm của giới đó” Ví dụ: trong tiếng Việt các tính từ: yểu điệu, thướt tha, dịu hiền, chua ngoa, đanh đá, thiên về chỉ nữ giới

Với những đặc điểm khác nhau về ngôn ngữ nói về mỗi giới của nam và nữ nêu trên

đã tạo nên đặc trưng ngôn ngữ nói về mỗi giới

3/ Bình diện giao tiếp (phong cách ngôn ngữ của mỗi giới)

Giới là một biến xã hội khi nghiên cứu ngôn ngữ Với cách nhìn này khảo sát

sự khác biệt về giới trong ngôn ngữ không thể tách rời ngữ cảnh giao tiếp Chẳng hạn, ở Melagacy: nữ giới nói năng thẳng thắn, thoải mái hơn nam giới; ở Amsterdam (Hà Lan): nữ giới và nam giới có địa vị cao trong xã hội khi nói năng

rất ít phát âm hai loại hình thức thông tục (a) của phương ngữ địa phương

[R.Fasold, 1990] Cũng nhấn mạnh vai trò của ngữ cảnh, J Holmes (1986) cho rằng: cùng một lời nói nhưng ngữ điệu khác nhau có thể dẫn tới chức năng khác nhau Và trong cuộc giao tiếp giữa nam và nữ thì lượng nói của nam nhiều hơn nữ, nam nắm quyền chủ động trong giao tiếp

Theo tác giả Nguyễn Văn Khang: phong cách ngôn ngữ của mỗi giới không có

sự phân định ranh giới trong lứa tuổi ấu thơ Nó chỉ bắt đầu được hình thành từ lứa tuổi 5-7 tuổi Lúc này, do môi trường tiếp xúc ngày càng rộng mở, các cá tính nam/nữ dần dần được hình thành thì yếu tố giới tính bắt đầu được thể hiện trong ngôn ngữ của mỗi giới Phong cách ngôn ngữ của mỗi giới được thể hiện ở rất nhiều khía cạnh Tuy nhiên ở đây, chúng tôi chỉ ra một số điểm khác biệt cơ bản trong phong cách nói năng giữa nam và nữ như:

- Xuất phát từ nhiều yếu tố, trong đó chủ yếu là yếu tố đặc trưng giới và tư duy, cho nên trong giao tiếp và hội thoại mang tính nghi thức (hội thảo), chúng ta thấy có một số hiện tượng đáng chú ý về phong cách ngôn ngữ giới như: Nam có lượng nói nhiều hơn nữ Nam thường nắm quyền chủ động trong giao tiếp Nam thỉnh thoảng chèn lời, cắt lời của đối ngôn hoặc thay đổi chủ đề giao tiếp

Trang 22

- Ngoài ra, theo tác giả Nguyễn Văn Khang (2012), Ngôn ngữ học xã hội, Nxb

Giáo dục Việt Nam, Hà Nội [31] Khi khảo sát các cuộc giao tiếp vợ chồng người Việt có rút ra một số kết luận thú vị về phong cách ngôn ngữ giới như: Nam giới có cách diễn đạt mạnh mẽ hơn nữ giới Nam giới ưa dùng cách nói khẳng định hoặc phủ định rứt khoát, ngắn gọn Nam thể hiện tính công khai quyền lực trực tiếp…Trái lại, nữ giới thường diễn đạt dài, uyển chuyển, ít ra lệnh thẳng thắn như nam giới, thường lặp đi, lặp lại vấn đề muốn nói, ưa dùng lối nói gián tiếp, tế nhị, lịch sự, nữ tính…

Ví dụ: - Thằng này! Mày đứng làm gì ở đây?

- Không phải chuyện mày tao! Tôi là một người viết báo đến lấy tin! Tôi là một người viết báo đến lấy tin

(Kỹ nghệ lấy tây; chương III; bác Lê dương nói với Tôi)

- Thế nào? Quan đùa với mày đấy à?

(Giông tố; tr264,265; lời của Ông huyện với Mịch)

- Đặc biệt, dường như đang có sự dần chuyển đổi phong cách ngôn ngữ giới

Nữ ngày nay sử dụng nhiều cách nói của nam và ngược lại Điều này được lí giải vì ngày nay với sự bình đẳng nam nữ, người phụ nữ được thoát ra khỏi những khuôn mẫu, hướng ngoại và càng ngày càng khẳng định vị thế trong gia đình cũng như ngoài xã hội Mặt khác, nữ dễ thích nghi và hướng tới chuẩn ngôn ngữ rõ và nhanh hơn nam giới

Qua khảo sát, tìm hiểu các nhà nghiên cứu đã rút ra một số kết luận như sau: Cùng một vấn đề nhưng cách diễn đạt của nam giới thường mạnh mẽ hơn cách diễn đạt của nữ giới Khi trả lời, nam giới thường dùng cách nói khẳng định/phủ định một cách dứt khoát, trong khi đó nữ giới lại diễn đạt bằng các cụm từ đồng ngữ hoặc phản ngữ với những từ khẳng định/phủ định

Ví dụ: – Cụ năm nay bao nhiêu tuổi?

- Bẩm, con đúng sáu chục rồi đấy ạ

Trang 23

- Thế con cái cụ đâu?

- Bẩm, chả có mống nào cả

(Giông tố; tr314; XVI; lời của Long với ông phu xe)

– Thế số tiền học phí thu được bao nhiêu?

- Bẩm tổng cộng năm trăm sáu mươi tư đồng

(Giông tố; tr246; VII; Tú Anh nói với Long)

– Làm gì mà lâu thế? Lúi húi mãi thế? Có thấy mẩu bánh không?

- Thưa cô, có bánh, nhưng hộp bơ đặc cả kiến rồi

(Kỹ nghệ lấy tây, chương IV; bà Cẩm nói với một ả me)

– À, nhưng mà con đã có chồng rồi hay là chưa?

- Thôi lạy quan, quan cho con xuống kẻo họ đợi

(Giông tố; tr206; lời của quan với chị nhà quê)

Trong khi nam giới thích dùng các câu khẳng định, yêu cầu, ra lệnh thì nữ giới lại ưa dùng câu phối hợp xin – yêu cầu – ra lệnh Chính vì vậy mà cách diễn đạt của

nữ giới thường gây ấn tượng mạnh và trong nhiều trường hợp đạt hiệu quả giao tiếp cao hơn nam giới

Như vậy, ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người, ngôn ngữ vừa có chức năng phản ánh thực tại xã hội, vừa có chức năng củng cố và duy trì tồn tại xã hội Theo tác giả Nguyễn Văn Khang, ngôn ngữ có chức năng phản ánh thực tại xã hội Vì thế, những đặc điểm về giới được thể hiện trong ngôn ngữ là sự khác nhau về ngôn ngữ của mỗi giới, bao gồm: 1/ Sự khác nhau về ngôn ngữ giữa mỗi giới là do cấu tạo cơ thể người như vị trí của phần ngôn ngữ ở trong não, đặc điểm sinh lí cấu âm như giọng nói, tần số HZ, khác nhau giữa nam và nữ 2/ Sự khác nhau về ngôn ngữ giữa mỗi giới thể hiện ở ngôn ngữ để nói về mỗi giới 3/ Sự khác nhau về ngôn ngữ giữa mỗi giới thể hiện ở ngôn ngữ được mỗi giới sử dụng,

hay còn gọi là phong cách ngôn ngữ giới Nguyễn Văn Khang (2012), Ngôn ngữ học xã hội, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội [31, tr.243]

Trong công trình “Sự bộc lộ giới tính trong giao tiếp ngôn ngữ” (trên cứ liệu giao tiếp gia đình người Việt) tác giả Nguyễn Văn Khang đã chỉ ra mối quan hệ

giữa ngôn ngữ và giới tính trong giao tiếp nói chung và giao tiếp gia đình nói riêng

Ở đây, tác giả đã đưa ra những lí giải để khẳng định rằng: “Yếu tố giới tính là sự tồn

Trang 24

tại có thực trong giao tiếp ngôn ngữ Nó tồn tại từ hai chiều: chiều tác động của giới tính đến việc lựa chọn ngôn ngữ để giao tiếp và chiều thông qua giao tiếp thì giới tính được bộc lộ”, Nguyễn Văn Khang (1996) Sự bộc lộ giới tính trong giao tiếp ngôn ngữ [26, tr 187]

Nhìn từ góc độ coi giới là một nhân tố tác động đến giao tiếp, chỉ ra tác động của giới đối với giao tiếp ngôn ngữ của người Việt, nhiều công trình khoa học, luận

án, luận văn đã đi theo hướng nghiên cứu này Chẳng hạn, các luận án tiến sĩ như:

Nguyễn Thị Mai Hoa “Đặc điểm ngôn ngữ giới tính trong hát phường vải Nghệ Tĩnh” [18]; Trần Thanh Vân “Đặc trưng giới tính biểu hiện cuộc thoại mua bán ở chợ Đồng Tháp” [59]; Phạm Thị Hà, “Đặc điểm ngôn ngữ giới trong giao tiếp tiếng Việt qua hành vi khen và tiếp nhận lời khen” [15]

Nhìn từ góc độ tác động của yếu tố giới tới tư duy ngôn ngữ có Nguyễn Trà

My “Tác động của nhân tố giới tính đến sự sử dụng ngôn ngữ và tư duy của người Việt" (khảo sát trên đối tượng là sinh viên) Nguyễn Trà My (2011), Tác động của nhân tố giới tính đến sự sử dụng ngôn ngữ và tư duy của người Việt [45]

Từ phương diện giới tính và lứa tuổi có Nguyễn Thị Thanh Bình (2000) “Xưng

và gọi: bằng chứng về giới trong ngôn từ của trẻ em trước tuổi đến trường ở Hà Nội

và Hoài Thị” [2], “Một số khuynh hướng nghiên cứu về mối liên hệ giới và sự phát triển ngôn ngữ ở trẻ em” [3].

Nghiên cứu vấn đề lịch sự gắn với yếu tố giới có Vũ Thị Thanh Hương “Giới tính và lịch sự” [21] và Luận án tiến sĩ của Vũ Tiến Dũng “Lịch sự trong tiếng Việt

và giới tính (qua một số hành động nói)” [8].

Nhìn từ góc độ đối chiếu sự tác động của nhân tố giới tới việc sử dụng ngôn

ngữ giữa tiếng Việt với các ngôn ngữ khác có Đỗ Thu Lan (2006), “Tác động của nhân tố giới tính đối với việc sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp (trên cứ liệu ngữ khí

từ tiếng Hán và việc chuyển dịch chúng sang tiếng Việt) [40]; Nguyễn Thị Việt Thanh (1999), “Hiện tượng phân biệt giới tính của người sử dụng ngôn ngữ trong tiếng Nhật” [56]

Từ góc độ độ giới và sự kì thị về giới được thể hiện trong ngôn ngữ có:

Nguyễn Văn Khang “Xã hội học ngôn ngữ về giới: Kì thị và kế hoạch hóa ngôn ngữ chống kì thị đối với nữ giới trong việc sử dụng ngôn ngữ” [30]; Trần Xuân Điệp

“Sự kỳ thị giới tính trong ngôn ngữ qua cứ liệu tiếng Anh và tiếng Việt” [10]; Đỗ

Trang 25

Thị Kim Liên “Trường ngữ nghĩa biểu hiện quan niệm về nữ giới trong tục ngữ Việt”[38];

1.2 Hành động ngôn ngữ hỏi

1.2.1 Một số vấn đề về hành động ngôn ngữ

1.2.1.1 Khái niệm hành động ngôn ngữ

Nhà nghiên cứu đầu tiên đưa ra lý thuyết về hành động ngôn ngữ là J Austin

(1962) trong công trình nghiên cứu How to do things with words đã đưa ra tiêu chí

phân biệt hành động ngôn ngữ Theo J.Austin trong cùng một hành động ngôn ngữ

có hành động ở lời, hành động tạo lời và hành động mượn lời Nhờ đưa ra tiêu chí phân biệt J.Austin đã điều chỉnh một cách sâu sắc mối quan hệ giữa ngôn ngữ và lời nói

Hành động lời nói cũng gắn với lý thuyết hành động ngôn từ do J.Austin đề xướng vào những năm 60 của thế kỷ XX, về sau được nhà ngôn ngữ J.Searle kế thừa và thành công sâu sắc Ông đã chỉ ra hạn chế trong lý thuyết của J.Austin là chưa phân biệt được sự khác nhau giữa hành động ngôn ngữ và động từ biểu hiện ngôn ngữ

Ở Việt Nam, vấn đề lý thuyết hành động ngôn ngữ cũng đang là vấn đề ngày càng được các nhà ngôn ngữ học quan tâm

Theo nhà nghiên cứu Đỗ Hữu Châu: “Một hành động ngôn ngữ được thực hiện khi một người nói (hoặc viết) Sp1 nói ra một phát ngôn U cho người nghe hoặc người đọc Sp2 trong ngữ cảnh C”[5, tr.88]

Theo Đỗ Thị Kim Liên tác giả cuốn: Ngôn ngữ học đại cương cho rằng “Khi miêu tả, kể, nhận xét, khuyên…là chúng ta đang hành động – hành động bằng ngôn ngữ Ta có thể sử dụng thuật ngữ hành động ngôn ngữ (hay hành vi ngôn ngữ) để chỉ những hành động bộ phận bằng ngôn ngữ của con người” [35, tr.69] 1.2.1.2 Phân loại hành động ngôn ngữ

Theo J.Austin hành động lời nói (hay hành động ngôn ngữ) bao gồm 3 loại: Hành động tạo lời, hành động ở lời và hành động mượn lời

1/ Hành động tạo lời:

Trang 26

Hành động tạo lời là hành động sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ như âm, vốn từ, quy tắc kết hợp để tạo thành những phát ngôn hoàn chỉnh về hình thức và nội dung

Ví dụ: - Chú đi, tôi cũng đi

- Sau này có giàu không? Hay chỉ có danh giá hão?

- Giàu thì chả giàu gì nhưng cũng phong lưu

(Số đỏ; I ; tr608; Xuân Tóc Đỏ nói với ông thầy)

Ví dụ trên là phát ngôn được cấu tạo dựa trên trật tự cú pháp bình thường Chủ - Vị Khi nói ta có thể tạo ra vô số các phát ngôn khác nhau để diễn đạt tư tưởng của mình theo quy tắc kết hợp của từng ngôn ngữ nhất định

2/ Hành động ở lời:

Hành động ở lời là hành động người nói thực hiện ngay khi nói năng Hiệu quả của chúng là gây ra những tác động trực tiếp về ngôn ngữ, gây phản ứng với người nghe Đặc trưng của hành động ở lời là vừa thể hiện ý định của người nói, vừa có tính quy ước Nghĩa là người nghe khi nhận được phát ngôn ở lời, dù thực hiện hay không thực hiện, người đó cũng không còn vô can như trước khi chưa nghe câu nói đó

Ví dụ: – Ông lão sau có nói gì không? -> Là hành động ở lời

- Chả nói gì cả Ông ấy gặp cảnh cay như thế là sự bất thường!

(Cạm bẫy người, III, Bác An nói với Tôi)

Hiệu quả của hành động ở lời là người nghe thực hiện hành động đáp được thể hiện qua từ “chả nói gì cả”

3/ Hành động mượn lời:

Hành động mượn lời là hành động mượn phương tiện ngôn ngữ, hay nói cách khác là mượn phát ngôn để gây ra sự tác động hay hiệu quả ngoài ngôn ngữ đối với người nghe Hiệu quả này không đồng nhất ở những người nghe khác nhau

Ví dụ: Khi nghe thông báo của thầy hiệu trưởng: Ngày mai Sở sẽ có buổi gặp mặt với học sinh toàn trường để trao giải thưởng cho những học sinh đoạt giải trong kỳ thi “Học sinh giỏi cấp tỉnh” năm 2014

Trang 27

Tin này gây tác động khác nhau đối với mỗi người nghe Người thì vui mừng, cảm phục, người thì thờ ơ, ghen tị, người thì xấu hổ vì chưa học tốt…

Qua đó ta thấy hiệu quả của hành động mượn lời tác động đến người nghe rất khác nhau, phân tán, không có tính quy ước

1.2.2 Hành động ngôn ngữ hỏi

1.2.2.1 Hành vi hỏi trong tiếng Việt

Thứ nhất, trong tiếng Việt, hỏi trước hết là động từ được giải thích là: “nói ra điều mình muốn người ta cho mình biết với yêu cầu được trả lời” Hoàng Phê (chủ biên) (2000) Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng [48, tr.454] Tương ứng với nội dung hỏi có câu hỏi (câu nghi vấn) Câu nghi vấn, theo tác giả Diệp Quang Ban là: “câu

có chức năng hỏi, tức là người nói muốn người nghe thông báo cho mình tin mà mình chưa biết hoặc còn hoài nghi” [4, tr.120], theo tác giả Cao Xuân Hạo là: “câu

có hành động ngôn trung yêu cầu trả lời, thông báo về một sự tình hoặc một phần của sự tình được tiền giả định là hiện thực” [16, tr 390]

Ví dụ: – Bẩm quan lớn, ngài muốn trị tôi thẳng tay đó hay sao?

- Trị ngài à?Tại sao lại thế nhỉ? Tôi tưởng tôi với ngài, chúng ta không có điều gì thù hằn thì phải

(Giông tố; tr240; VI; lời của Nghị Hách với Quan huyện)

Thứ hai, đứng trên quan điểm của Ngữ dụng học, hỏi là một động từ ngữ vi

với hành động ngôn trung là hành động hỏi Trong tiếng Việt, hành vi hỏi có thể được thể hiện bằng các biểu thức ngôn ngữ có chứa động từ ngữ vi “hỏi” và biểu thức không chứa động từ ngữ vi “hỏi”

Ví dụ: - Thưa cụ đây, có u này đây Nhưng mà con đã trót hẹn với cụ lý con ở dưới kia không biết có nên để cho nó về ngay với cụ không hay là để nó chờ

(Cơm thầy cơm cô; chương IV; tr173; lời của mụ già)

Câu trên không sử dụng động từ ngữ vi hỏi song người đọc vẫn nhận ra được

đó là hành vi hỏi giả thiết nhờ động từ chỉ dẫn hành vi hỏi “không biết” và hành vi hỏi lựa chọn nhờ động từ chỉ dẫn “hay là”

Thứ ba, hỏi có khách thể (tức đối tượng tiếp nhận) rất rộng Người ta có thể

hỏi bất cứ ai, bất cứ sự vật, hiện tượng nào hoặc hỏi về bất cứ điều gì Chẳng hạn như: hỏi tên, tuổi, nghề nghiệp, trình độ, thực trạng gia đình, sở thích, tâm trạng, vật

Trang 28

sở hữu (đối với người), hỏi đặc điểm, thuộc tính (đối với vật), hỏi nơi chốn, hỏi nguyên nhân, hỏi mục đích, tóm lại có thể hỏi tất cả những gì người ta chưa biết

và muốn biết

Ví dụ: - Nếu anh về sớm mà đi ô tô có hơn không? Hay lại có việc gì thế?

- Không anh về là anh về Tối rồi cũng về, vì anh nóng ruột

- Chỉ vì thế thôi à, anh?

- Phải, thế Mịch làm cái gì một mình ở đây?

- Anh nói khẽ chứ Đêm khuya, lại giữa cánh đồng mà nói thế là nó vang xa lắm đấy

(Giông tố; tr302; XIV; lời của Mịch với Long)

– Thế nào? Đã cho cháu ăn gì chưa? Trông chừng mẹ nó đã sắp về chưa?

- Lúc nãy đã cho cháu ăn khoai rồi Chẳng biết bao giờ chị ấy mới về! Người làng cũng chưa thấy ai về cả

(Vỡ đê; tr557; phần thứ ba, chương VI; lời của cụ Cử với Phú)

– Thế thì bao giờ cháu được tha hở ông?

- Thưa cụ, cái đích xác thì cháu không biết, nhưng thế nào rồi cũng được tha về với

cụ, cụ cứ yên tâm

(Vỡ đê; tr535; phần thứ ba, chương III; lời của cụ già với Minh)

Thứ tư, đồng nghĩa với hỏi, tiếng Việt có các từ như: tra khảo, chất vấn, Các

từ này đều giống nhau ở nét nghĩa chung “người nói muốn người nghe thông báo cho mình tin mà mình chưa biết hoặc còn hoài nghi” Bên cạnh điểm giống nhau trên, giữa chúng có những điểm khác nhau, đó là, nếu như hỏi là sự khai thác thông

tin mang tính khái quát thì các từ còn lại này “cụ thể hóa” sự khai thác thông tin ở

một phạm vi cụ thể Chẳng hạn, tra khảo là “hỏi một cách gắt gao, thậm chí kèm theo hành động” Hoàng Phê [48] , chất vấn “hỏi và yêu cầu phải giải thích rõ ràng” [48]

Thứ năm, trong câu hỏi của người Việt, có thể thấy, hỏi không chỉ mang sắc

thái tích cực (hỏi để biết thông tin, hỏi để tán dương, để khen);

Ví dụ: – Sắp lụt ạ, hở cậu? Thế thì thích lắm đấy nhỉ? Từ bé đến giờ, con chưa được trông thấy vỡ đê bao giờ đấy!

(Vỡ đê; tr453; phần thứ hai; lời của Dung hỏi ông huyện)

Trang 29

– Thật không? Khuya khoắt thế này mà họ còn về à?

- Vâng cả cậu Long cũng về Chính cậu Long bảo con ra đây nói nhỏ với cụ như thế Sáng mai phải lên hầu quan rồi, thì bây giờ cụ phải về ngay cho

(Giông tố; tr262; VIII; Lời của một thằng bé với ông đồ)

Mà còn có thể có cả hỏi với sắc thái tiêu cực (hỏi không phải để khai thác thông tin mà chủ yếu hướng tới đích bác bỏ, dọa nạt, mỉa mai, chê bai);

Ví dụ:

– Anh Long ơi, tại sao anh lại còn đến đây? Cơ sự đã đến thế này, thì anh còn đến làm gì thế nhỉ?

- Long căm tức đáp:

- Tôi muốn đến để hỏi rằng trong đời này, ai là người gây ra cái khổ của tôi!

(Giông tố; tr356; XXII; lời của Mịch với Long)

– Nhà bác ngu lắm! Vỡ đê, ngập lụt mất cả chin tổng, thì ắt là phải thiệt hại, chớ lại còn phải hỏi gì nữa! Nhà bác mới ở trên giời rơi xuống đây à?

- Thưa cụ, con làm ở đê đã năm hôm nay, nào con có hiểu gì đâu! Chỉ biết là vỡ đê thôi, nay gặp cụ ở làng ra, con mới phải hỏi

(Vỡ đê; chương 8; tr501; Ông lão già nói với Phú)

– Bẩm quan lớn, ngài muốn trị tôi thẳng tay đó hay sao?

- Trị ngài à?Tại sao lại thế nhỉ? Tôi tưởng tôi với ngài, chúng ta không có điều gì thù hằn thì phải

(Giông tố; tr240; VI; lời của Nghị Hách với Quan huyện)

Từ những ngữ liệu trên thì ta thấy hỏi còn có mối quan hệ với khen/chê

Như vậy, xét ở mặt “chính diện”, hỏi là để khai thác thông tin, đánh giá tốt với các mục đích khác nhau như hỏi thực lòng, hỏi nhằm khen, nịnh (hỏi khéo) Xét ở

mặt “phản diện”, tức là, ẩn đằng sau bề mặt ngôn từ hỏi là hàm ý giễu cợt, mỉa mai,

châm chọc (hỏi đểu)

Ví dụ: – Sao ông làm cái sự càn rỡ ấy? Ông có biết thế là khốn nạn lắm không? Ông làm hại một đời người con gái tử tế như thế à?

- Ấy là tôi làm lợi cho một đời người con gái tử tế!

- Làm lợi?

Trang 30

- Phải! Tuyết bây giờ đã là vợ chưa cưới của tôi! Hôm qua, ông Văn Minh đã bắt ép tôi phải lấy Tuyết! Chính là bà làm hại danh giá chúng tôi, bà có biết không?

(Số đỏ; tr733; lời của bà Phó Đoan với Xuân)

Vấn đề là ở chỗ người nghe cần xác định được người nói có hàm ý gì khi đặt

câu hỏi? Thật khó xác định được hàm ý nếu tách hành vi hỏi ra khỏi ngữ cảnh, khỏi mối quan hệ giữa người nói và người nghe

1.2.2.2 Đặc điểm của hành vi hỏi trong tiếng Việt

Đặc trưng về cấu trúc hình thức: Với tư cách là hành vi ở lời, hành vi hỏi có

cấu trúc cơ bản gồm hai phần: Nội dung mệnh đề (kí hiệu là p), là thành phần nội dung biểu thị cấu trúc nghĩa miêu tả Hiệu lực ở lời (kí hiệu là F), là thành phần biểu thị đích của hành vi hỏi hay nói cụ thể chính là hiệu lực hỏi Ngoài ra, đối với hành

vi hỏi còn có động từ ngữ vi – động từ chỉ dẫn hành động được biểu thị trong hành

vi hỏi, đó là động từ “hỏi” (có thể có hoặc không)

Ví dụ: - À thế nào? cậu thử hỏi hộ xem bác Phú đã đòi tiền nhà bên chưa?

- Tôi đã định sang thu từ sáng sớm nhưng hình như lão huyện đi chưa về

(Vỡ đê; tr576; phần thứ ba, chương IX; lời của vợ Quang với Phú)

Bên cạnh cấu trúc cơ bản, hành vi hỏi còn có thành phần mở rộng và một số yếu tố tình thái như: hô ngữ, thán ngữ, phụ chú ngữ, tình thái ngữ và những phương tiện ngôn ngữ chuyên dùng để thể hiện nghĩa nghi vấn (cặp phụ từ nghi vấn

“có…không”, “đã…chưa”, đại từ nghi vấn “ai”, quan hệ từ thể hiện sự lựa chọn

“hay”, “hoặc” Những thành phần mở rộng này tuy không mang tính bắt buộc phải

có trong hành vi hỏi, song để hiểu được bản chất của hành vi hỏi thì buộc người phân tích phải thấy được vai trò, vị trí của nó trong hành vi hỏi

Ví dụ: – Mày có nhận của người ta năm cái giấy bạc một đồng, có phải không?

(Giông tố; tr264; IX; lời của Ông huyện với Mịch)

– À, nhưng mà con đã có chồng rồi hay là chưa?

(Giông tố; tr206; lời của quan với chị nhà quê)

- Thế người làng có còn ai gọi là ông lý nữa không?

- Ấy may người làng không ai biết mà lên đây kéo xe, nên mỗi khi thầy tôi về làng, bọn người làng vẫn gọi là ông lý cựu kia đấy!

(Cơm thầy cơm cô; tr175; lời của anh nhà báo với cái Đũi)

Trang 31

- Thế mày bỏ nó hay nó bỏ mày?

- Nó chẳng bỏ con thì con cũng đến bỏ nó

(Kỹ nghệ lấy Tây; tr162; Lời của bà Đội với Tích)

Đặc trưng về cấu trúc nghĩa: Ngoài thành phần nghĩa hiển ngôn, trong hành

vi hỏi còn có một số kiểu thông tin ngữ dụng bổ trợ như: Thông tin về quan hệ vai (quan hệ tình cảm giữa các nhân vật giao tiếp: thân – sơ, kính – khinh, ngang vai – không ngang vai…) Thông tin này chi phối việc lựa chọn từ xưng hô hay tiểu từ nghi vấn

Ví dụ: Thưa cụ, cụ là người vùng nào ạ?

(Vỡ đê; tr501; chương VIII; lời của Phú với cụ già)

– Bẩm cụ lớn, thế cụ lớn bà độ này vẫn mạnh khỏe chứ ạ?

(Giông tố; tr225; IV; lời của Nghị Hách với Quan công sứ)

Thông tin về thái độ, tình cảm của người nói với người nghe cùng với những đánh giá (tích cực hay không, tin hay ngờ, trông đợi, giục giã câu trả lời…) Thông tin định vị, quy chiếu cái được nói đến (quy chiếu hướng nội hay hướng ngoại…)

Thông tin quan hệ, sự liên kết giữa các phát ngôn, các tham thoại (hóa ra, thế ra, vả lại…) Thông tin trích dẫn lời nói trước và thông tin về phương tiện thể hiện nghi

vấn…

Với những đặc trưng trên, hành vi hỏi được xem là một trong những loại hành

vi ngôn ngữ dễ nhận diện và có khả năng biểu đạt nhiều phương diện thông tin ngữ nghĩa, góp phần quan trọng trong việc phát triển chiến lược giao tiếp

1.2.2.3 Hành vi hỏi trực tiếp và hành vi hỏi gián tiếp trong tiếng Việt

Với tư cách là một hành vi ngôn ngữ, hành vi hỏi được phân thành hai loại là: hành vi hỏi trực tiếp và hành vi hỏi gián tiếp

Hành vi hỏi trực tiếp: là hành vi được sử dụng đúng với đích ở lời và bốn điều

kiện sử dụng hành vi ngôn ngữ gồm: điều kiện nội dung mệnh đề, điều kiện chuẩn

bị, điều kiện chân thành và điều kiện căn bản

Trang 32

(Vỡ đê; tr536; phần thứ ba, chương III; lời của Minh với Quang)

Điều kiện nội dung mệnh đề là SP1 đưa ra nội dung hỏi sao lại ở đây mới chuyển về tòa án làm việc à, điều kiện chuẩn bị là SP1 biết SP2 có khả năng trả lời được, điều kiện chân thành là SP1 thực lòng muốn biết sao bây giờ Quang lại ở đây và điều kiện căn bản là SP1 ràng buộc SP2 vào trách nhiệm trả lời

Hành vi hỏi trực tiếp cũng chính là câu hỏi chính danh (cách gọi của Cao Xuân Hạo) hay là Câu hỏi đích thực (cách gọi của Nguyễn Đăng Sửu) Câu hỏi đích thực: “là những câu hỏi yêu cầu người nghe trả lời, cung cấp lượng thông tin còn khuyết thiếu hoặc còn chưa rõ theo mục đích của người phát ngôn”

không được sử dụng đúng với đích ở lời và bốn điều kiện sử dụng hành vi ngôn ngữ chân thực (vi phạm điều kiện chân thành) Nói cụ thể, đây là hành vi ngôn ngữ có hình thức của hành vi hỏi nhưng lại hướng tới đích của một hành vi ngôn ngữ khác

Ví dụ: – Quan lớn tiết kiệm qúa nhỉ? Sao ngài lại chưa tậu ô tô?

- Tôi không có nhiều tiền như những ông quan khác

- Bẩm quan lớn, ngài thử trông cái xe của tôi đấy kia xem

- Ông huyện quay nhìn ra chỗ cái xe hòm, hỏi lại:

- Làm sao?

- Nếu chính quan lớn mua giúp cho thì tôi xin để lại bằng một giá rất rẻ

(Giông tố; tr242; IV; lời của Nghị Hách với Ông huyện)

Hành vi hỏi gián tiếp còn được gọi là câu hỏi không chính danh (theo cách gọi của Cao Xuân Hạo, Nguyễn Thị Thìn) hay là câu hỏi không đích thực (theo cách gọi của Nguyễn Đăng Sửu) Câu hỏi không đích thực: “là loại câu hỏi không liên quan đến câu trả lời, nó được dùng như một phương tiện truyền cảm, hỏi để thực hiện những mục đích khác nhau của người phát ngôn”

Đây là loại câu hỏi dùng với mục đích khác nhau trong giao tiếp, và trong tư duy hết sức đa dạng

Trong thực tế tiếng Việt, chúng ta có thể gặp nhiều trường hợp hỏi để mà hỏi, hỏi cho có chuyện, hỏi để chào, để ca thán, cầu khiến, khẳng định, phủ định… Như vậy, việc hỏi và đáp không phải là đặc trưng tất yếu của câu hỏi Tác giả

Trang 33

Nguyễn Đăng Sửu cho rằng:“Bản chất của câu hỏi là sự diễn đạt những điều còn băn khoăn, chưa rõ, những tâm sự, những ước muốn hoặc những nhận xét… của người nói dưới dạng thức nghi vấn trong giao tiếp hàng ngày.”

Đối với câu hỏi không đích thực, chúng ta cần phải chú ý tới các yếu tố như: các nguyên tắc hội thoại, phép lịch sự…Tác giả Nguyễn Đăng Sửu đã chỉ ra: “ điều kiện sử dụng câu hỏi không đích thực” Cụ thể như sau:

Trong giao tiếp ngôn ngữ, ta có thể gặp trường hợp cần phải lựa chọn các câu hỏi “đồng nghĩa”: một câu hỏi không đích thực tương đương với một câu hỏi không đích thực Tính đa dạng ở mặt biểu hiện của ngôn ngữ (cấu trúc ngữ pháp, hình thức), năng lực ngôn ngữ của đối tượng sử dụng (vai giao tiếp – người nói/ người nghe) và sự vận dụng ngôn ngữ (mục đích giao tiếp) là những nhân tố chi phối cách hiểu nội dung hỏi trong các câu hỏi đồng nghĩa

Ví dụ: Có ai ngủ ở đây chưa? (a)

Tôi có thể ngủ ở đây được không? (b)

Khi nói câu (a) người nói dùng khuôn hỏi “ đã…chưa” và tin chắc người nghe trả lời chưa, còn khi nói câu (b) dùng kiểu câu hỏi với hi vọng nhận được lời đáp có thể được, nghĩa là hiệu lực ở lời (đề nghị) sẽ được thực hiện

Như vậy từ những phân tích trên ta thấy tác giả đã đưa ra điều kiện sử dụng đối với câu hỏi không đích thực trong tiếng Việt Một mặt, hành động lời nói phải tuân thủ các quy tắc phổ quát của hành động xã hội và những quy tắc riêng phù hợp với đặc điểm của bản thân ngôn ngữ Nhưng mặt khác, vấn đề đặt ra là: tại sao một câu hỏi lại được dùng với mục đích sai khiến, trần thuật hay cảm thán, mà không dùng để hỏi và làm thế nào để nhận biết được mục đích đó ở câu hỏi?

1.2.2.4 Các nghiên cứu, khảo sát về hành vi hỏi trong tiếng Việt

Hành vi hỏi từ lâu đã thu hút sự quan tâm chú ý của nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ Đây cũng là nguyên nhân tồn tại nhiều quan điểm, nhiều cách đánh giá, nhận diện, phân loại khác nhau xung quanh hành vi này Đã có không ít công trình nghiên cứu về hành vi hỏi tiếng Việt và tập trung vào một số nội dung chủ yếu như sau:

Trang 34

1) Từ góc độ ngữ pháp truyền thống, tác giả Diệp Quang Ban trong công trình

“Ngữ pháp tiếng Việt ” [4] có đề cập đến vấn đề câu hỏi khi phân loại câu theo mục

đích nói Dựa vào hai tiêu chí là mục đích nói và hình thức cấu tạo (các phương tiện dùng để cấu tạo câu), tác giả đã phân loại câu tiếng Việt thành bốn loại, trong đó

câu nghi vấn (câu hỏi) là một trong bốn loại đó Bên cạnh đó, tác giả đã chỉ ra: “Câu hỏi có mục đích trước hết dùng để hỏi những điều chưa biết Vì thế, nghiên cứu câu hỏi cũng có nghĩa là đề cập đến vai trò nhận thức của con người, đây là một quá trình phức tạp” [4, tr.120]

2) Từ góc độ ngữ pháp chức năng, tác giả Cao Xuân Hạo trong công trình

“Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng” [16], đã phân loại câu theo lực ngôn trung

và phân tích hiệu lực ngôn trung của câu nghi vấn Ở đây, tác giả đã chỉ ra ngoài câu hỏi chính danh còn có rất nhiều lực ngôn trung được thực hiện trong câu nghi vấn Đó là: câu nghi vấn có giá trị cầu khiến, câu nghi vấn có giá trị khẳng định, câu nghi vấn có giá trị phủ định, câu nghi vấn có giá trị phỏng đoán hay ngần ngại, câu

nghi vấn có giá trị cảm thán Theo tác giả: “Tiếng Việt có cả một âm giai gồm rất nhiều cung bậc chuyển từ ý hỏi thực sự, thuần túy qua nhiều sắc độ gợi ý ngờ vực, hoài nghi đến chỗ gần như phủ định/ khẳng định hay khẳng định/ phủ định quyết liệt với những sắc thái cảm xúc khác nhau” Từ đó, tác giả đi tới khẳng định: “Câu nghi vấn không chỉ được dùng để thể hiện hành vi hỏi mà còn được dùng để thể hiện nhiều hành vi ngôn ngữ khác” [16, tr 390]

3) Từ góc độ ngữ dụng học, tác giả Nguyễn Thị Thìn lấy câu hỏi làm đối

tượng nghiên cứu chính trong công trình “Câu nghi vấn tiếng Việt: Một số kiểu câu thường không dùng để hỏi” [57] Ở đây, tác giả đã chỉ ra những đặc trưng của câu

hỏi tiếng Việt, bao gồm đặc trưng về cấu trúc hình thức và đặc trưng về cấu trúc nghĩa hiển ngôn Bên cạnh đó, tác giả cũng tập trung phân loại câu hỏi tiếng Việt, đặc biệt đi sâu tìm hiểu câu hỏi chính danh và một số kiểu câu không dùng để hỏi

Tác giả Lê Đông trong công trình “Ngữ nghĩa, ngữ dụng của câu hỏi chính danh” [11] đã chỉ rõ mối quan hệ giữa câu hỏi và câu trả lời, ngữ cảnh và câu hỏi,

tiền đề và câu hỏi, Đồng thời, tác giả đã phân tích cụ thể một số kiểu câu hỏi đặt trong ngữ cảnh thực Qua đó, chỉ ra sự chi phối của ngữ cảnh tới việc hình thành cũng như thuyết giải câu hỏi Bên cạnh đó, tác giả còn đi sâu phân biệt câu trả lời (trực tiếp, gián tiếp), phân biệt câu trả lời – đáp, phân loại các kiểu câu đáp Với góc nhìn tích hợp ngữ nghĩa, ngữ dụng tác giả đã mở ra một cách nhìn mới, phong phú

Trang 35

và linh hoạt về câu hỏi chính danh cũng như các cách trả lời cho câu hỏi chính danh

Tác giả Lê Anh Xuân trong công trình nghiên cứu “Trả lời gián tiếp cho câu hỏi chính danh trong tiếng Việt” [60] đã đi sâu khai thác các biểu hiện của hành vi

trả lời gián tiếp Cụ thể tác giả đã chỉ ra các kiểu câu hỏi chính danh và một số cách trả lời gián tiếp cho câu hỏi chính danh như: trả lời gián tiếp hồi đáp tích cực (bao gồm: trả lời gián tiếp hàm ẩn bằng hành vi khẳng định/ phủ định), trả lời gián tiếp hồi đáp tiêu cực (bao gồm: trả lời gián tiếp hàm ẩn bằng hành vi từ chối, lảng tránh hoặc bằng hành vi trì hoãn trả lời)

4) Từ góc độ ngôn ngữ học xã hội, Nguyễn Lê Lương (2006) trong công trình

“Đặc điểm ngôn ngữ của nữ giới qua hành vi hỏi trên cứ liệu lời thoại nhân vật trong truyện ngắn Nam Cao trước 1945” [42] đã phân tích và nghiên cứu hành vi

hỏi dưới ánh sáng của lí thuyết giới Thông qua việc phân tích hành vi hỏi, tác giả

đã chỉ ra đặc điểm cơ bản của phong cách ngôn ngữ nữ giới được biểu hiện trong hành vi hỏi…

Có thể nói, hành vi hỏi là vấn đề đã được đề cập khá nhiều trong các nghiên cứu về ngôn ngữ Các công trình ấy góp phần làm đầy những hiểu biết của chúng ta

về một loại hành vi ngôn ngữ mang tính phổ quát này Hơn thế, đây còn là những

cơ sở giúp chúng ta có thêm những điểm nhìn khi nghiên cứu về một loại hành vi ngôn ngữ đa diện trong từng lĩnh vực giao tiếp

Vũ Trọng Phụng suốt đời nghèo – “nghèo gia truyền” nhưng về Văn học,

ông được xem là một kiệt tướng xuất sắc của dòng văn học hiện thực phê phán Ông viết văn rất sớm, viết nhiều và nhanh chóng nổi tiếng, Vũ Trọng Phụng là một

Trang 36

tài năng đa dạng Tuy cuộc đời ngắn ngủi và thời gian cầm bút chưa đầy mười năm, song bút lực Vũ Trọng Phụng thể hiện mạnh mẽ, sung mãn, trải rộng trên nhiều thể loại Ông viết truyện ngắn, phóng sự, tiểu thuyết, kịch nói, phê bình văn học, bình luận thời sự, chính trị, dịch thuật…Nhưng Vũ Trọng Phụng đặc biệt thành công ở hai thể loại: Phóng sự và tiểu thuyết

Về thể loại Phóng sự: Ông được báo chí đương thời suy tôn là: “Ông vua phóng sự đất Bắc” Đáng chú ý là các tác phẩm: “Kỹ nghệ lấy Tây” (1934) viết về cái “nghề” lấy Tây để nuôi thân “Cơm thầy cơm cô” (1936) viết về cảnh đời

những người đi ở…

Về thể loại Tiểu thuyết có “Trúng số độc đắc”; Năm 1936 Vũ Trọng Phụng

cho ra đời cùng một lúc ba cuốn tiểu thuyết “Vỡ đê”, “Giông tố”, “Số đỏ” Trong

đó tiểu thuyết trào phúng “Số đỏ” là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo và đặc sắc

hơn cả, xứng đáng là một kiệt tác bất hủ của nền văn học nước nhà

Tuy có nhiều mâu thuẫn trong tư tưởng và sáng tác xong có thể nói, toàn bộ sáng tác của Vũ Trọng Phụng là tiếng nói căm hờn, mãnh liệt, ném thẳng vào cái

xã hội thực dân, phong kiến tư sản hết sức bất công, tàn bạo, thối nát, cái xã hội

mà ông gọi là “Chó đểu” và “Khốn nạn” thời bấy giờ

Hạn chế đáng tiếc của cây bút đầy tài năng là tình cảm yêu thương gắn bó của ông với quần chúng lao động chưa có chiều sâu cần thiết để có cái gốc nhân đạo vững chắc Vì vậy, ông thường hoài nghi, bi quan về với con người và có một

số chỗ trong tác phẩm sa vào chủ nghĩa tự nhiên

Ngoài hai thể loại chủ yếu nói trên, Vũ Trọng Phụng còn để lại nhiều truyện

ngắn tập hợp trong “Cái ghen đàn ông” – Xuất bản năm 1938 và vở kịch “Không một tiếng vang” (1931)

Vũ Trọng Phụng sống cuộc đời ngắn ngủi nhưng đã để lại một sự nghiệp văn chương đồ sộ Qua sự sàng lọc của thời gian, ông đã được độc giả khẳng định là một tài năng văn học lớn, có một vị trí rất quan trọng trong lịch sử Văn học nước nhà Đặc biệt phát ngôn hỏi và hồi đáp hỏi trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng khá phong phú đa dạng, ở cả kiểu hỏi trực tiếp, gián tiếp, hồi đáp trực tiếp, gián

Trang 37

tiếp Trong luận văn này, chúng tôi đi theo hướng khảo sát hành vi hỏi trực tiếp và gián tiếp, hành vi hồi đáp trực tiếp và gián tiếp

1.4 Tiểu kết

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là “Yếu tố giới trong phát ngôn hỏi và hồi đáp hỏi qua một số tác phẩm của Vũ Trọng Phụng” để tìm hiểu vấn đề này, chúng tôi đã vận dụng cơ sở lí thuyết liên quan đến đề tài như tìm hiểu một số vấn

đề về giới trong ngôn ngữ và những khía cạnh liên quan đến hành động ngôn ngữ

hỏi Qua tìm hiểu một số vấn đề về giới trong ngôn ngữ thì người viết thấy: Cùng

một vấn đề nhưng cách diễn đạt của nam giới thường mạnh mẽ hơn cách diễn đạt của nữ giới Khi trả lời, nam giới thường dùng cách nói khẳng định/phủ định một cách dứt khoát, trong khi đó nữ giới lại diễn đạt bằng các cụm từ đồng ngữ hoặc phản ngữ với những từ khẳng định/phủ định Trong khi nam giới thích dùng các câu khẳng định, yêu cầu, ra lệnh thì nữ giới lại ưa dùng câu phối hợp xin – yêu cầu – ra lệnh Chính vì vậy mà cách diễn đạt của nữ giới thường gây ấn tượng mạnh đối với

người nghe, người đọc Còn hỏi cũng là một vấn đề có tính chất phổ quát trong đời

sống, giao tiếp ngôn ngữ của con người Đây là một vấn đề có tính chất phức tạp, đa diện Hỏi không chỉ đơn thuần để biểu thị "điều chưa biết, cái không rõ", mà trong giao tiếp có những cách hỏi khác nhau sẽ để lại những dấu ấn văn hóa khác nhau Qua hành vi hỏi, chúng ta có thể lí giải, đánh giá được ngôn ngữ của người tham gia giao tiếp Nghiên cứu câu hỏi cũng có nghĩa là đề cập đến vai trò nhận thức của con người, đây là một quá trình phức tạp Bất cứ một ngôn ngữ nào cũng cần có câu hỏi,

và mục đích chính là dùng để hỏi Nhưng trong giao tiếp ngôn ngữ câu hỏi không chỉ yêu cầu trả lời mà câu hỏi còn để thể hiện một lời chào, sự trách móc, mỉa mai, khẳng định, phủ định hoặc có thể hỏi để khuyên nhủ, hỏi để lảng tránh câu trả lời

Trang 38

Chương 2 YẾU TỐ GIỚITRONG PHÁT NGÔN HỎI TRỰC TIẾP VÀ HỒI ĐÁP HỎI

QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG

2.1 Phát ngôn hỏi trực tiếp của nam và hồi đáp

Khảo sát trong một số tác phẩm của Vũ Trọng Phụng người viết thu được

146 phát ngôn hỏi trực tiếp của nam, nam hỏi nam là 111 lượt (chiếm 76,0 %); nam hỏi nữ là 35 lượt (chiếm 23,97 %);

Căn cứ vào số lượng nói trên ta thấy: nam hỏi nữ chiếm số lượng lớn hơn

2.1.1 Phát ngôn hỏi trực tiếp của nam với nam và hồi đáp

Nam hỏi nam là 111 lượt, trong đó trả lời trực tiếp là 61 lượt, trả lời gián tiếp

là 50 lượt

2.1.1.1 Phát ngôn hỏi trực tiếp của nam với nam và hồi đáp hỏi trực tiếp

Phát ngôn hỏi và trả lời trực tiếp giữa nam và nam được thể hiện qua một số lượt trích dẫn lời sau đây:

– Thằng này! Mày đứng làm gì ở đây?

- Không phải chuyện mày tao! Tôi là một người viết báo đến lấy tin! Tôi là một người viết báo đến lấy tin

(Kỹ nghệ lấy tây; chương III; bác Lê dương nói với Tôi)

– Mày đã đi làm lần nào chưa?

- Đã ngót một tháng ở một nhà phố B…rồi không ở được phải xin ra

(Cơm thầy, cơm cô; chương 1; Nó nói với Tôi)

– Thế có thật ông biết đánh xì không?

- Nếu không thì đời nào nhận lời giúp cụ

(Cạm bẫy người; III, Ông ấm B nói với Tôi)

– Sao bỗng dưng chán đời thế? Tôi tưởng như thầy thì phải vui ve nhất, vì ai cũng bảo là thầy phát tài nhất cơ mà!

- Anh em họ cứ nói thế, chứ…

(Một huyện ăn tết; tr194; Ông lục sự già nói với Tôi)

Trang 39

– Sao phải đến tận mai? Thấy nói thằng con trai đã đi làm cho một hiệu bán ô tô nào mà chính hôm nay lại là ngày lĩnh tiền kia mà? Ông không biết gì cả?

- Việc cháu đi làm được ngót tháng nay thì tôi không rõ

(Không một tiếng vang, hồi thứ nhất; tr 60; Thông Xạ nói với Ông lão)

– Chúng ta đã có bao nhiêu rồi, anh có nhớ đích xác không?

- Hai mươi hai thì phải, mà hai ngày nữa đã phải nộp

(Người tù được tha; phần thứ nhất; I, tr97; Trì nói với Phách)

– Bẩm, quan lớn quan lớn có giấy gọi chúng tôi về việc gì thế ạ?

- À, nguyên vừa rồi có hai lá đơn kiện ông chủ một chiếc xe hơi có làm việc nài hoa

ép liễu Tôi là quan sở tại, tôi có phận sự mở cuộc điều tra Cho nên có giấy gọi ngài

(Giông Tố; tr201; Nghị Hách nói với Quan huyện)

– Nhà bác ngu lắm! Vỡ đê, ngập lụt mất cả chin tổng, thì ắt là phải thiệt hại, chớ lại còn phải hỏi gì nữa! Nhà bác mới ở trên giời rơi xuống đây à?

- Thưa cụ, con làm ở đê đã năm hôm nay, nào con có hiểu gì đâu! Chỉ biết là vỡ đê thôi, nay gặp cụ ở làng ra, con mới phải hỏi

(Vỡ đê; chương 8; tr501; Ông lão già nói với Phú)

– Sau này có giàu không? Hay chỉ có danh giá hão?

- Giàu thì chả giàu gì nhưng cũng phong lưu

(Số đỏ; I ; tr608; Xuân Tóc Đỏ nói với ông thầy)

– Cái gì? Hỏi cái gì thế?

- Tôi muốn được vào gặp ông chủ

(Trúng số độc đắc; IV; tr772; Người Tây đen gác cổng nói với Phúc)

– Lôi thôi gì? Có công việc tử tế, ai bảo còn đổ đốn ra thế? Đến lúc bị bắt lại còn…Lương thiện mà biết leo cửa sổ nhà người ta

- Thưa cụ, nếu cụ rõ đến tình cảnh của chúng tôi, chắc cụ cũng phải rủ lòng thương

(Không một tiếng vang; Hồi thứ hai; Sen II; trang 85; Người quản nói với

ông lão)

Trang 40

– Ông lão sau có nói gì không?

- Chả nói gì cả Ông ấy gặp cảnh cay như thế là sự bất thường!

(Cạm bẫy người, III, Bác An nói với Tôi)

– Dù bác không chơi bời thì tổ tôm, tài bàn cũng phải biết chứ?

- Nụ cười vẫn giữ trên môi, ông "Tham Ngọc" thong thả đáp lại:

- Bẩm vâng? Ngoài sự đọc sách với chơi ảnh ra, con cũng chẳng còn cách gì giải trí nữa

(Cạm bẫy người; tr131; Lời của cụ Phán với ông Tham Ngọc)

– Thế đích xác là nó có độ bao nhiêu?

- Độ chừng sáu công tất cả Cụ phải tính ngay cho chứ mà

(Cạm bẫy người; tr131; Lời của ông Ấm với Cụ)

– Ngọc đi bao giờ mới về?

- Chưa biết đích xác được

- Có phải chính bác sai hắn đến lấy thiếc đằng tôi không?

- Phải

(Cạm bẫy người; tr141; Lời của ông Ấm với ông Cả Ủn)

– Còn mày thì bỡ ngỡ lắm Mày mới ở nhà quê ra phải không?

- Vâng

- Mày đã đi làm lần nào chưa?

- Đã Ngót một tháng ở một nhà phố H.B rồi không ở được, phải xin ra Chủ ác quá

- Làm sao?

- Nó chửi suốt ngày

(Trích Cơm thầy cơm cô; tr167; lời của nhân vật tôi với nó)

– Thế ngài là người ở Hà Nội về hay là người vùng này?

- Tôi là con ông chủ ty rượu ở ngay huyện

(Giông tố; tr214; lời của ông đồ Uẩn với thiếu niên)

– Thằng này, sao mày cũng đi ở?

- Dạ, u tôi bắt thế

Ngày đăng: 14/11/2016, 11:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w