1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghệ thuật trào phúng của vũ trọng phụng trong “số đỏ” và “giông tố” từ góc nhìn ngôn ngữ học

69 35 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 878,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong phạm vi nghiên cứu của để tài, chúng tôi xin trình bày một số công trình nghiên cứu tiêu biểu: + Những công trình nghiên cứu về vị trí và bình diện nội dung xã hội của “Số đỏ” và “

Trang 1

Đà Nẵng, tháng 5 năm 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên là Trần Nguyễn Yến Vi, tôi xin cam đoan rằng công trình nghiên cứu này do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của thầy Bùi Trọng Ngoãn Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực, chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào khác

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về những nội dung khoa học trong công trình này

Đà Nẵng, tháng 04 năm 2016 Tác giả khóa luận

TRẦN NGUYỄN YẾN VI

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng đã truyền đạt những bài học quý giá trong suốt bốn năm vừa qua để tôi

có nền tảng kiến thức vững chắc thực hiện công trình nghiên cứu này

Đặc biệt, xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy Bùi Trọng Ngoãn, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Xin chân thành cảm ơn!

Đà Nẵng, tháng 04 năm 2016

Tác giả khóa luận

TRẦN NGUYỄN YẾN VI

Trang 5

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I CỞ SỞ LÍ LUẬN 7

1.1 Nghệ thuật trào phúng 7

1.2 Giới thiệu chung về Vũ Trọng Phụng và hai tác phẩm Số đỏ và Giông tố 13

1.2.1 Vũ Trọng Phụng - Cây bút trào lộng xuất sắc 13

1.2.2 “Số đỏ”, “Giông tố” - Những thiên tiểu thuyết hàng đầu của Vũ Trọng Phụng 14

CHƯƠNG II KHẢO SÁT VỀ CÁC CÁCH THỨC TRÀO PHÚNG CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG TRONG HAI TÁC PHẨM SỐ ĐỎ VÀ GIÔNG TỐ 16

2.1 Trào phúng bằng yếu tố bất ngờ trong diễn ngôn 16

2.1.1 Khảo sát cách thức trào phúng bằng yếu tố bất ngờ trong diễn ngôn “Số đỏ” 16

2.1.2 Khảo sát cách thức trào phúng bằng yếu tố bất ngờ trong diễn ngôn “Giông tố” 20

2.2 Trào phúng bằng sự vi phạm logic khi miêu tả, tái hiện sự việc 23

2.2.1 Khảo sát cách thức trào phúng bằng sự vi phạm logic khi miêu tả, tái hiện sự việc trong “Số đỏ” 23

2.2.2 Khảo sát cách thức trào phúng bằng sự vi phạm logic khi miêu tả, tái hiện sự việc trong “Giông tố” 26

2.3 Trào phúng bằng biện pháp nghịch ngữ 30

2.4 Trào phúng bằng hình thức nói mỉa 32

2.4.1 Dùng phương thức ẩn dụ 33

2.4.2 Dùng phương thức so sánh 33

Trang 6

CHƯƠNG III TẦM TÁC ĐỘNG CỦA BÚT PHÁP TRÀO PHÚNG ĐỐI

VỚI SỐ ĐỎ VÀ ĐỐI VỚI GIÔNG TỐ CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG 40

3.1 Tầm tác động của bút pháp trào phúng đối với thế giới nghệ thuật truyện Số đỏ 40

3.1.1 Tầm tác động của bút pháp trào phúng đối với nội dung thể hiện trong tác phẩm 40

3.1.2 Tầm tác động của bút pháp trào phúng đối với cách xây dựng hình tượng nhân vật 42

3.1.3 Tầm tác động của bút pháp trào phúng đối với hiệu ứng gây cười và khoái cảm thẫm mỹ 46

3.2 Tầm tác động của bút pháp trào phúng đối với thế giới nghệ thuật truyện Giông tố 48

3.2.1 Tầm tác động của bút pháp trào phúng đối với nội dung thể hiện trong tác phẩm 48

3.2.2 Tầm tác động của bút pháp trào phúng đối với cách xây dựng hình tượng nhân vật 50

3.2.3 Tầm tác động của bút pháp trào phúng đối với hiệu ứng gây cười và khoái cảm thẫm mỹ 53

3.3 Vai trò của bút pháp trào phúng đối với phong cách ngôn ngữ Vũ Trọng Phụng 54

3.3.1 Một hệ thống ngôn ngữ sắc nhọn 55

3.3.2 Một thứ ngôn ngữ giàu sắc thái biểu cảm 56

3.3.3 Một hệ thống ngôn từ giàu trữ lượng 57

KẾT LUẬN 60 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Ngôn từ là chất liệu để tạo lập nên một văn bản nghệ thuật Người nghệ

sĩ trong quá trình sáng tạo nghệ thuật của mình sử dụng ngôn từ như một công

cụ đắc lực để thể hiện tư duy, tình cảm, những chiêm nghiệm của bản thân trên trang giấy Bởi vậy, nghiên cứu, tìm hiểu một tác phẩm văn học từ góc nhìn ngôn ngữ học sẽ mang lại những kết quả mới, là căn cứ tin cậy để có thể hiểu sâu hơn về tác phẩm cũng như phong cách nghệ thuật của tác giả Đó là

lý do đầu tiên để chúng tôi lựa chọn đề tài này

Hơn nữa, với một nhà văn bậc thầy về sử dụng ngôn từ như Vũ Trọng Phụng, việc tìm hiểu những tác phẩm của ông từ góc nhìn ngôn ngữ học càng thêm phần quan trọng Nhà văn Vũ Trọng Phụng được xem là một trong những cây bút hàng đầu của trào lưu văn học hiện thực Việt Nam trước cách mạng tháng Tám Ông thành công ở nhiều thể loại mà đặc biệt là tiểu thuyết

Số đỏ và Giông tố là hai cuốn tiểu thuyết tiêu biểu của nhà văn, thuộc vào loại

“vô tiền khoáng hậu” trên văn đàn Ở hai cuốn tiểu thuyết này, Vũ Trọng Phụng đã sử dụng ngôn từ một cách tinh tế và khéo léo để làm nên bút pháp nghệ thuật trào phúng đầy điêu luyện

Chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Nghệ thuật trào phúng của Vũ

Trọng Phụng trong “Số đỏ” và “Giông tố” từ góc nhìn ngôn ngữ học” vì

nhận thấy đây là điểm nhìn khác trong việc nghiên cứu về tác phẩm và tác giả

Vũ Trọng Phụng Mong rằng đề tài sẽ đem đến một cái nhìn mới về nghệ thuật trào phúng ở phương diện ngôn ngữ nói chung và trong hai cuốn tiểu

thuyết Số đỏ và Giông tố nói riêng của nhà văn

Trang 8

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vũ Trọng Phụng là một nhà văn lớn và có vị trí quan trọng nền văn học Việt Nam Với những sáng tác của mình, ông đã đóng góp cho nền văn học dân tộc một khối lượng tác phẩm không lớn nhưng mang ý nghĩa sâu sắc trên hành trình hiện đại hóa của văn xuôi Việt Nam Chính vì lẽ đó đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, những bài viết nhận xét, đánh giá của các nhà phê bình văn học dành cho Vũ Trọng Phụng cùng các tác phẩm của ông Theo thống kê

của Nguyễn Quang Trung trong cuốn “Tiếng cười Vũ Trọng Phụng” (2002),

có khoảng 200 công trình nghiên cứu về Vũ Trọng Phụng Trong phạm vi nghiên cứu của để tài, chúng tôi xin trình bày một số công trình nghiên cứu tiêu biểu:

+ Những công trình nghiên cứu về vị trí và bình diện nội dung xã hội của “Số đỏ” và “Giông tố” của Vũ Trọng Phụng:

Trong bài Đánh giá lại Số, Phan Cự Đệ nhận định: “Tiểu thuyết Số đỏ

là một tác phẩm xuất sắc của Vũ Trọng Phụng, của dòng văn học hiện thực phê phán Việt Nam trước cách mạng tháng Tám” [24, tr.434]

Khi viết về Số đỏ Trương Chính cũng đã nhận xét: “Riêng năm 1936,

Vũ Trọng Phụng viết sáu tác phẩm, bấy giờ đăng trên các báo, những năm sau

mới xuất bản thành sách: Giông tố (tức Thị Mịch), tiểu thuyết dài (đăng Hà

Nội báo từ tháng 1-1936), Cơm thầy cơm cô, phóng sự dài (đăng Hà Nội báo

từ tháng 3-1936) Số đỏ, tiểu thuyết dài (đăng báo Tương lai, từ tháng 1936), Làm đĩ, tiểu thuyết dài (viết tháng 10-1936, in năm 1939), Giết mẹ

9-(kịch, dịch Lucrèce Borgia của Victor Hugô, in năm 1936) Trong sáu tác phẩm ấy, thì có ba cuốn tiểu thuyết cho đến ngày nay vẫn được đánh giá cao:

Giông tố, Vỡ Đê, Số đỏ, và cũng là những tác phẩm tiêu biểu của Vũ Trọng

Phụng” [24, tr.393]

Trang 9

Đọc lại Giông tố của Vũ trọng Phụng, Nguyễn Đăng Mạnh đánh giá:

“Trong chuỗi tác phẩm xuất sắc của Vũ Trọng Phụng ra đời liên tiếp năm

1936: Giông tố, Số đỏ, Vỡ đê, Cơm thầy cơm cô, người ta thường đặt Số đỏ

lên trên hết như một kiệt tác hoàn chỉnh nhất Chúng ta không chối cãi giá trị

nghệ thuật cao của Số đỏ, nhưng cần thấy Giông tố cũng là một tác phẩm lớn,

một kiệt tác hiếm hoi trong nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại” Tác giả bài viết phân tích về nhan đề của tác phẩm, về những hình tượng, chân dung nhân vật và về cái xã hội lố lăng đương thời [20,tr.350]

Trong giáo trình Văn học Việt Nam (1930 -1945), Nguyễn Hoành Khung phân tích: “Vừa ra mắt, Giông tố đã có tiếng vang lớn đến nỗi, có

người nói đó là quả bom nổ giữa làng văn khi đó Đây là một trong hai tác phẩm tiêu biểu nhất cho sự nghiệp văn học của Vũ Trọng Phụng, có giá trị hiện thực và sức mạnh tố cáo độc đáo, [ ] Ít có tác phẩm đương thời nào so

được với Giông tố về dung lượng hiện thực đậm đặc và quy mô phản ánh

rộng lớn như vậy” (Trích mục IV, Chương XIV, Vũ Trọng Phụng 1912-1939)

Với bài Vũ Trọng Phụng qua Giông tố, Vỡ đê, Số đỏ, Văn Tân đã

khẳng định những tác phẩm của Vũ Trọng Phụng là “những cái mốc đã đánh dấu được phần nào những đặc điểm của một thời đại áp bức tối tăm, dâm ô, trụy lạc, bẩn thỉu là cái thời đại Pháp thuộc từ năm 1932 đến năm 1938” [20,tr.210]

+ Những công trình nghiên cứu về nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng Phụng

Nguyễn Đăng Mạnh trong bài viết Tiểu thuyết Số đỏ và tài nghệ của Vũ

Trọng Phụng cho rằng: “Số đỏ là một cuốn tiểu thuyết trào phúng được viết

theo khuynh hướng hiện thực chủ nghĩa Về mặt một cuốn tiểu thuyết trào phúng, thành công của nó là đã gây được một tiếng cười, đúng hơn, một chuỗi cười ròn rã từ đầu đến cuối, thông qua một loạt tình tiết, tình huống hài hước

Trang 10

và một loạt chân dung ký họa, biếm họa hết sức độc đáo và sinh động” [24,tr.440]

Phan Cự Đệ đã viết trong bài Đánh giá lại Số đỏ như sau: “Mặc dầu

còn những hạn chế trong thế giới quan, trong lập trường phê phán xã hội, với

Số đỏ, Vũ Trọng Phụng đã cắm một cái cột mốc quan trọng trong nghệ thuật

điển hình hóa hiện thực chủ nghĩa, trong nghệ thuật trào phúng của văn xuôi Việt Nam” [24,tr.425]

Hoàng Ngọc Hiến khi viết Trào phúng của Vũ Trọng Phụng trong Số

đỏ, đã có những phát hiện mới so với các nhà nghiên cứu phê bình khác Ông

nhắc đến “những hình thức ngữ pháp” - một biểu hiện của ngôn ngữ nghệ thuật được Vũ Trọng Phụng sử dụng để gây hiệu quả khôi hài [19,tr.386]

Văn Tâm khi nghiên cứu về Vài nét đặc tính nghệ thuật trong những

sáng tác của Vũ Trọng Phụng đã nhận định: “Phương pháp trào phúng của Vũ Trọng Phụng bắt rễ rất sâu trong thực tế xã hội và đã trải qua quá trình sáng tạo đặc sắc của tác giả” [20,tr.220]

Nguyễn Quang Trung khi nghiên cứu về Tiếng cười Vũ Trọng Phụng

đã chỉ ra một số yếu tố hàng đầu làm nên hiệu quả nghệ thuật trào phúng của

Vũ Trọng Phụng là một chuỗi những tình huống, mâu thuẫn trào phúng nối tiếp nhau cùng với đó là nghệ thuật trần thuật mang tính hài [21,tr.17]

Thông qua việc tìm hiểu, tổng hợp, tham khảo những bài viết, công trình nghiên cứu của các nhà phê bình văn học đã cho chúng tôi những định

hướng gợi mở để thực hiện đề tài “Nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng

Phụng trong “Số đỏ” và “Giông tố” từ góc nhìn ngôn ngữ học” Chúng tôi

hy vọng sẽ góp một phần nhỏ bé trong việc khám phá, giải mã nghệ thuật ngôn từ làm nên tính trào phúng trong những sáng tác của Vũ Trọng Phụng

Trang 11

3 Đối tượng và phạm vi nghiêm cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Với tính chất của đề tài, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu về nghệ

thuật trào phúng trong Số đỏ và Giông tố của Vũ Trọng Phụng trên bình diện

ngôn ngữ học

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của chúng tôi là văn bản nghệ thuật của Số đỏ và

Giông tố của Vũ Trọng Phụng

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong đề tài này chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp thường thấy trong nghiên cứu văn học như:

Phương pháp thông kê, miêu tả, phân tích: trước hết là thống khê để

khảo sát về các cách thức trào phúng của Vũ Trọng Phụng trong hai tác phẩm

Số đỏ và Giông tố, sau đó dùng phương pháp miêu tả để thuyết minh và nhận

diện đối tượng, cuối cùng phân tích để chỉ ra tác dụng của các cách thức đó đối với nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng Phụng

Phương pháp so sánh, đối chiếu: phương pháp này sử dụng không

nhiều nhưng luôn luôn được dùng trong quá trình phân tích, người viết phải luôn đặt đối tượng trong mối quan hệ tương quan với tổng thể để phân tích về đối tượng

Phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát: thực chất là phương pháp

quy nạp trong logic học, chúng tôi dùng phương pháp quy nạp này đề khái quát và nâng cao vấn đề

Trang 12

5 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, đề tài của chúng tôi gồm có 3 chương:

Chương I: Cơ sở lí luận

Chương II: Khảo sát về các cách thức trào phúng của Vũ Trọng Phụng

trong hai tác phẩm Số đỏ và Giông tố

Chương III: Tầm tác động của bút pháp trào phúng đối với Số đỏ và đối với Giông tố của Vũ Trọng Phụng

Trang 13

CHƯƠNG I

CỞ SỞ LÍ LUẬN

1.1 Nghệ thuật trào phúng

Theo Từ điển Hán - Việt của Đào Duy Anh, “trào” nghĩa là cười nhạo,

“phúng” là nói ví để cảm người ta, “trào phúng” là nói ví để cười nhạo [1,tr.852]

Còn “trào phúng” theo Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê: “Có tác

dụng gây cười để châm biếm, phê phán” [19,tr.1056]

Từ điển thuật ngữ văn học cho ta khái niệm: “Trào phúng là một loại

đặc biệt của sáng tác văn học và đồng thời cũng là một nguyên tắc phản ánh nghệ thuật trong đó các yếu tố của tiếng cười mỉa mai, châm biếm, phóng đại, khoa trương, hài hước … được vận dụng để chế nhạo, chỉ trích, tố cáo, phản

kháng … những cái tiêu cực, xấu xa, lỗi thời, độc ác trong xã hội Trào phúng

theo nghĩa từ nguyên là dùng lời lẽ bóng bẩy, kín đáo để cười nhạo, mỉa mai

kẻ khác, song trong lĩnh vực văn học, trào phúng gắn liền với phạm trù mĩ học và cái hài với các cung bậc hài hước umua, châm biếm” [4,tr.363]

Như vậy, trào phúng là khái niệm dùng để chỉ những sáng tác văn học lấy tiếng cười làm phương tiện để bộc lộ những cảm xúc đến một đối tượng hoặc một hiện tượng nào đó Nghệ thuật trào phúng chính là nghệ thuật dùng những sắc thái của tiếng cười để châm biếm, chế nhạo, chỉ trích, lên án, phê phán những điều tiêu cực trong xã hội Theo đó, để có được tiếng cười trào phúng trong sáng tác của mình, tác giả phải xây dựng nên những tình huống trào phúng, đặt nhân vật của mình vào những mâu thuẫn trào phúng và tạo nên những tình huống bất ngờ để gây cười

Vấn đề đặt ra ở đây là Vũ Trọng Phụng đã dùng những phương thức

nào để trào phúng Theo Hoàng Ngọc Hiến tiểu thuyết Số đỏ là một kho

Trang 14

phong phú các thủ thuật trào phúng hài hước và Vũ Trọng Phụng đã gây hiệu quả khôi hài từ việc xây dựng hình tượng nhân vật đến việc sử dụng những hình thức ngữ pháp nghệ thuật [20,tr.386]

Văn Tâm khi nghiên cứu về nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng Phụng đưa ra nhận định rằng Vũ Trọng Phụng trào phúng bằng cách phát hiện mâu thuẫn nội tại, vạch ra những nét thiếu cân xứng ngay trong hình thức của đối tượng và hý họa nên những chân dung trào phúng [20,tr.213]

Nguyễn Đăng Mạnh thì cho rằng nghệ thuật trào phúng trong Số đỏ

chính là việc xây dựng những tình huống hài hước và các chân dung ký họa,

biếm họa Ông khẳng định Số đỏ là một cuốn tiểu thuyết trào phúng thành

công khi đã gây được tiếng cười “thông qua một loạt tình tiết, tình huống hài hước và một loạt chân dung ký họa, biếm họa hết sức độc đáo và sinh động”

và theo tác giả bài viết, “phẩm chất nghệ thuật của một cuốn tiểu thuyết trào phúng chủ yếu phụ thuộc vào chỗ nó đã dàn dựng được những tình huống trào phúng và xây dựng được những nhân vật trào phúng thành công đến mức nào” [24,tr.440]

Đặc biệt, khi đi sâu vào phân tích nghệ thuật trào phúng trong đoạn

trích “Hạnh phúc một tang gia” trong Số đỏ, các nhà phê bình văn học chủ

yếu đều chỉ phân tích về mâu thuẫn trào phúng Nhà nghiên cứu phê bình

Nguyễn Hoành Khung có bài “Nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng Phụng

qua chương “Hạnh phúc của một tang gia” trong Số đỏ” Tác giả đã phân

tích theo các luận điểm: mâu thuẫn trào phúng (nhan đề); nghệ thuật sử dụng ống kính điện ảnh (từ bao quát đến cận cảnh) và nghệ thuật trào phúng đặc sắc qua cảnh hạ huyệt, điển hình là hai nhân vật cậu tú Tân và ông Phán mọc

sừng Trong bài “Đám tang một người hay một cuộc hành trình tới mộ của

toàn xã hội?” in trong cuốn Vũ Trọng Phụng về tác giả và tác phẩm, Vũ

Dương Quỹ phân tích nghệ thuật trào phúng ở những yếu tố gây cười như:

Trang 15

nhan đề, cảnh tang gia bối rối, các chi tiết, chân dung hý họa, tình huống trào lộng,… Nguyễn Đăng Mạnh khi phân tích nghệ thuật trào phúng của Vũ

Trọng Phụng trong đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia” cũng đi vào

phân tích mâu thuẫn trào phúng ở cách đặt nhan đề, ở các bước diễn biến trong tang gia với ba cảnh tiêu biểu: cảnh chuẩn bị đám tang, cảnh đám tang

đi, cảnh hạ huyệt

Như vậy, các nhà nghiên cứu phê bình đều quan niệm trào phúng là

một nghệ thuật và để tiến hành nghệ thuật trào phúng phải có những thủ pháp nghệ thuật, nhưng những thủ pháp mà các tác giả phân tích đều chưa có nhiều, chỉ có thể kể ra về phương thức hình tượng là việc xây dựng những hình tượng biếm họa, con người méo mó, chân dung kệch cỡm; về hình thức nghệ thuật là ở việc xây dựng những tình huống hài hước, phi lí có khả năng gây cười và rất ít khi nhắc đến các thủ pháp ngôn ngữ Trong khi đó, nguyên lí lí luận văn học giúp cho ta một tiên đề

quan trọng: văn học là một loại hình nghệ thuật, phản ánh cuộc sống thông qua phương thức hình tượng và phương tiện ngôn ngữ; vậy thì, phương tiện ngôn ngữ của nghệ thuật trào phúng là gì? Câu trả lời hầu như còn bỏ ngỏ

Vì vậy, từ những ý kiến đã có, chúng tôi rút ra một số thủ pháp trào phúng như sau: trào phúng bằng các chân dung biếm họa; trào phúng bằng các tình huống hài hước; trào phúng bằng các nghịch lí, các tình huống mâu thuẫn vô lí; trào phúng bằng các tình huống bất ngờ Và như vậy, ta thấy trào phúng bằng tình huống hài hước, bằng các nghịch lí, các tình huống mâu thuẫn và bằng các tình huống bất ngờ đều thuộc về quan hệ logic trong diễn biến của sự kiện Câu hỏi được đặt ra là các thủ pháp trào phúng ấy được cụ thể hóa bằng phương tiện ngôn ngữ nào?

Trên cơ sở đó, chúng tôi xác định về phương tiện ngôn ngữ để tiến hành mục đích trào phúng có thể sử dụng những cách thức sau: trào phúng

Trang 16

bằng các yếu tố bất ngờ trong diễn ngôn; trào phúng bằng sự vi phạm logic

khi miêu tả, tái hiện sự việc (Văn Tâm gọi là “phát hiện mâu thuẫn nội tại,

vạch ra những nét thiếu cân xứng ngay trong hình thức của đối tượng”); trào

phúng bằng biện pháp nghịch ngữ; trào phúng bằng hình thức nói mỉa Hai phương thức đầu thuộc về diễn biến của sự kiện, tức là trên chuỗi tuyến tính của diễn ngôn, hai phương thức sau là các hình thức tu từ được miêu tả trong các công trình phong cách học

Trong đó, dùng yếu tố bất ngờ là cách dẫn dắt sao đó để dẫn đến một kết quả khác so với tình tiết đang được thuyết giải Phong cách học (tu từ học)

đã miêu tả biện pháp tu từ dẫn đến những kết quả bất thường nhằm nêu rõ cái nghịch lí của điều muốn nói là biện pháp đột giáng Nếu đột giáng chỉ dùng một vài yếu tố từ ngữ thì thủ pháp dùng yếu tố bất ngờ phải dùng hình thức phá vỡ chuỗi tuyến tính trong cấu trúc ngôn ngữ của người kể chuyện theo cơ

chế liên tưởng Chẳng hạn trong Vi hành của Nguyễn Ái Quốc, tác giả gây cười bằng yếu tố bất ngờ khi nhắc đến vua Khải Định: “Nhưng hắn đến đây

làm gì nhỉ trong đường xe điện ngầm này, và tụi các ông quan bà kiếc đi theo thì đâu cả? – Có khi đã gửi tuốt ở kho hành lý nhà ga để đi chơi vi hành đấy”

Vi phạm logic trong nghệ thuật trào phúng cũng gây ra sự bất ngờ so với quá trình nhận thức về bản chất của sự vật, hiện tượng nhưng vi phạm logic tức là không tuân thủ trạng thái tồn tại tự nhiên như nó vốn có của sự vật, hiện tượng Người nói, người kể cố tình nêu lệch đi so với cái vốn có ấy nhằm đưa đến một hiệu ứng nghệ thuật nào đó Có thể thấy vi phạm logic

xuất hiện nhiều trong các tác phẩm trào phúng, như trong truyện ngắn Đồng

hào có ma của Nguyễn Công Hoan, tác giả đã mở đầu bằng: “Tôi cực lực công kích sách vệ sinh đã dạy ta ăn uống phải sạch sẽ, nếu ta muốn được khỏe mạnh, béo tốt Thuyết ấy sai Trăm lần sai! Nghìn lần sai! Vì tôi thấy sự

Trang 17

thực, ở đời này, bao nhiêu những anh béo, khỏe, đều là những anh thích ăn bẩn cả”

Nghịch ngữ đã được Đinh Trọng Lạc miêu tả trong cuốn 99 phương

tiện và biện pháp tu từ Tiếng Việt, theo ông: “Nghịch ngữ (còn được gọi là

nghịch dụ) là một biện pháp tu từ ngữ nghĩa cốt ở việc kết hợp liền nhau hoặc gần nhau trong những đơn vị cú pháp đối lập nhau về nghĩa trong mối quan

hệ ngữ pháp chính phụ, để tạo nên sự khẳng định đôi khi bất ngờ, nhưng lại rất tự nhiên, thuận lí, biện chứng” [10,tr.168] Theo Đinh Trọng Lạc, nghịch ngữ có sức hấp dẫn mạnh “nhờ ở hình thức phán đoán độc đáo và có sức thuyết phục lớn, nhờ ở thực chất biện chứng của tư tưởng”

Nghịch ngữ vốn rất thông dụng trong lời ăn tiếng nói hằng ngày: đẹp

kinh khủng, xinh dã man, hiền dễ sợ, ngon ghê gớm,… hoặc được sử dụng

trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao: “Đàn ông nông nổi giếng thơi/ Đàn bà sâu

sắc như cơi đựng trầu” hay “Bao la hạt cải, rộng rãi trôn kim” Nhờ vào

hiệu quả diễn đạt mà nghịch ngữ được các nhà văn sử dụng để làm tiêu đề cho

tác phẩm: Bi kịch lạc quan (Tuôcghênhep), Âm thanh im lặng (Vũ Quần Phương), Sống mòn (Nam Cao), Người ngựa và ngựa người (Nguyễn Công Hoan), Kẻ sát nhân lương thiện (Lại Văn Long),… Và hơn ai hết, các nhà văn

là những người sáng tạo ra những tổ hợp nghịch ngữ đặc sắc: "Thì lúc ấy, trên

bờ đầm, quan huyện tư pháp là một, cụ lục sự là hai, cậu lính lệ là ba, cùng trịnh trọng làm việc và cùng trịnh trọng khạc nhổ" (Thịt người chết - Nguyễn

Công Hoan), “Các ngài chỉ cần biết rằng một hàng cơm như nghìn vạn hàng

cơm khác, nghĩa là khi ta mới bước chân vào thì bổn phận ta là lập tức thấy buồn nôn buồn ọe” (Cơm thầy, cơm cô - Vũ Trọng Phụng)

Nói mỉa theo “Từ điển tu từ - phong cách thi pháp học” của Nguyễn

Thái Hòa là “một biện pháp tu từ bộc lộ thái độ mỉa mai, châm biếm trước một hiện hay một sự vật, một ý kiến,… mà mình không tán thành, phủ nhận,

Trang 18

nhằm đánh giá thấp hay hạ nhục người khác” [6,tr.166] Còn Đinh Trọng Lạc

thì quan niệm: “Nói mỉa là một phương thức chuyển đổi tên gọi từ một biểu

vật này sang một biểu vật khác, dựa vào sự đối lập giữa cách đánh giá được diễn đạt một các hiển minh với cách đánh giá ngụ ý xấu theo nghĩa hàm ẩn đối với biểu vật” [10,tr.80]

Sau Đinh Trọng Lạc, Bùi Trọng Ngoãn đã có bài nghiên cứu “Các

dạng nói mỉa” Trong có bài viết, Bùi Trọng Ngoãn xác định biện pháp tu từ

nói mỉa bao gồm các đặc điểm hay các tiêu chí:

- chuyển đổi tên gọi từ một biểu vật này sang một biểu vật khác

- giễu cợt bằng cách nói cạnh, khóe hoặc nói lại điều ai cũng thấy

rõ nhưng buộc người nghe phải hiểu khác đi

Tác giả bài viết còn chỉ ra các biểu hiện, kiểu dạng của nói mỉa trong tiếng Việt là: dùng các phương tiện tình thái; dùng các biện pháp tu từ ngữ nghĩa; dùng thành ngữ, tục ngữ, ca dao; dùng hình thức rút tỉa ngụ ngôn

Ví dụ:

- “Tôi tiếc là tôi quá tử tế với anh”

- “Nó chỉ giỏi buôn nước bọt”

- “May sao chút nữa em lầm

Khoai lang xắt lát em cứ tưởng Cao ly sâm bên Tàu”

Ngoài ra, Bùi Trọng Ngoãn còn phân biệt nói mỉa với châm biếm, với

đả kích Châm biếm là tìm cái xấu của người khác để nêu ra nhằm mục đích phê phán, chẳng hạn như lời của cậu Phước con bà Phó Đoan trong Số đỏ:

“Em chã!” hay ngu muội đến không thể ngu hơn được nữa nhưng cụ cố Hồng

luôn luôn mở miêng: “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi!” Còn đả kích là dùng lời

nói để tấn công đối tượng, chỉ ra cái sai, cái kém của đối tượng Ví dụ như

trong Số đỏ, việc kể về hai vị cảnh sát Minđơ và Mintoa hay việc chỉ ra sự

ngu dốt của các vị thầy thuốc lang Tỳ và lang phế đều là thủ pháp đả kích

Trang 19

Trái lại, khi kể chuyện hội Khai trí Tiến đức mời Xuân Tóc Đỏ làm hội viên thì đó chính là mỉa mai

1.2 Giới thiệu chung về Vũ Trọng Phụng và hai tác phẩm Số đỏ và

Giông tố

1.2.1 Vũ Trọng Phụng - Cây bút trào lộng xuất sắc

Vũ Trọng Phụng là một trong những nhà văn hàng đầu của trào lưu văn học hiện thực Việt Nam trước cách mạng tháng Tám Với cá tính sáng tạo độc đáo của mình, ông đã để lại cho kho tàng văn học dân tộc những tác phẩm thuộc vào loại “vô tiền khoáng hậu”, xứng đáng được tôn vinh trong dòng chảy văn học Việt Nam thế kỉ XX Xoay quanh Vũ Trọng Phụng và những sáng tác của ông còn là những cuộc bút chiến nảy lửa, những tranh luận sôi nổi diễn ra trong nhiều năm khiến ông thành “một ca văn học gây ra những tranh luận gay gắt và hiếm có trong lịch sử văn học Việt Nam” giai đoạn trước cách mạng tháng Tám

Vũ Trọng Phụng không chỉ là “ông vua phóng sự đất Bắc” mà còn là

cây bút trào lộng xuất sắc Những sáng tác như Số đỏ, Giông tố, Vỡ đê đã cho

thấy ông là bậc thầy của văn xuôi trào phúng Bằng ngòi bút sắc sảo dùng tiếng cười làm vũ khí phản ánh xã hội, Vũ Trọng Phụng đã giáng những đòn đau vào hiện thực xã hội đương thời, một xã hội nhâng nháo những điều xấu

xa, đồi trụy Tiếng cười trong văn chương Vũ Trọng Phụng là tiếng cười của nhiều cung bậc cảm xúc, chính sự đa dạng và giàu sắc thái về cung bậc tiếng cười mà Vũ Trọng Phụng đã tạo riêng cho mình một phong cách trào phúng không giống ai

Trang 20

1.2.2 “Số đỏ”, “Giông tố” - Những thiên tiểu thuyết hàng đầu của Vũ Trọng Phụng

Số đỏ là một trong những tiểu thuyết xuất sắc nhất của Vũ Trọng

Phụng, đăng ở Hà Nội báo từ số 40 ngày 7 tháng 10 năm 1936 và được in thành sách lần đầu vào năm 1938 Nguyễn Hoành Khung trong bài viết về Số

đỏ của mình đã nhận định: “Với trình độ tiểu thuyết già dặn, bút pháp châm

biếm đặc biệt sắc sảo, Số đỏ là một trong những thành tựu nghệ thuật đặc sắc

của văn xuôi Việt Nam hiện đại, nhất là trong thể loại tiểu thuyết trào phúng”

[24,tr.422] Ngay khi ra đời, Số đỏ đã gây tiếng vang lớn và “cho đến nay,

hình như vẫn còn là một hiện tượng vô tiền khoáng hậu” Xuyên suốt trong tác phẩm là một sân khấu hề của mà mỗi nhân vật trong đó là một vai diễn kệch cỡm, lố lăng Đó là những bậc trí thức rởm đời, giới thượng lưu đang trên con đường “Âu hóa” và một Xuân Tóc Đỏ đang “dự một phần vào việc cải cách xã hội” Tất cả làm nên một tấn trò hề tạo nhiều cung bậc tiếng cười

có mỉa mai, đả kích, cũng có châm biếm, chua cay

Bên cạnh Số đỏ, “Giông tố cũng là một tác phẩm lớn, một kiệt tác hiếm

hoi trong nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại” Với ngòi bút tả chân sắc sảo, nghệ thuật điển hình hóa nhân vật tài tình, Vũ Trọng Phụng đã xây dựng một

hệ thống nhân vật đồ sộ trong một xã hội đương thời với nhiều thành phần, nhiều nghề nghiệp, nhiều giai cấp Ở cái xã hội ấy, người ta “giẫm đạp vào nhau, chửi nhau, chơi xỏ nhau, tạo thành những màn đại hài kịch để tô đậm sự thối nát, sự chó đểu của những con người tráo trở, đổi trắng thay đen, …” Bằng tài năng bậc thầy của mình, Vũ Trọng Phụng đã tạo nên những mâu thuẫn trào phúng đẩy nhân vật đến những tình huống phi lí, khó tin để mỉa mai, châm biếm mà đặc biệt trong đó là nhân vật Nghị Hách, một tên bạo

chúa độc ác, bất nhân, một con quỷ dâm ô, đểu giả Viết Giông tố, Vũ Trọng

Phụng đã vạch trần bộ mặt xã hội đương thời đồng thời lên án, tố cáo sức mạnh của đồng tiền làm tha hóa đạo đức con người

Trang 21

Có thể nói, Số đỏ và Giông tố là hai thiên tiểu thuyết hàng đầu, tiêu

biểu cho phong cách sáng tác và nghệ thuật trào phúng mang đậm cá tính sáng tạo của Vũ Trọng Phụng Cả hai tác phẩm đều mang giá trị phản ánh hiện thực sâu sắc và có sức tố cáo cao

Trang 22

CHƯƠNG II KHẢO SÁT VỀ CÁC CÁCH THỨC TRÀO PHÚNG CỦA VŨ TRỌNG

PHỤNG TRONG HAI TÁC PHẨM SỐ ĐỎ VÀ GIÔNG TỐ

Như đã trình bày ở chương I, trào phúng hay hoạt kê là một phương thức nghệ thuật và phương thức nghệ thuật này phải được cụ thể hóa bằng nhiều thủ pháp, biện pháp Trong giới hạn của khóa luận, ở chương này chúng tôi chỉ khảo sát về các cách thức trào phúng như: trào phúng bằng các yếu tố bất ngờ trong diễn ngôn; trào phúng bằng sự vi phạm logic khi miêu tả, tái hiện sự việc; trào phúng bằng biện pháp nghịch ngữ; trào phúng bằng hình thức nói mỉa

2.1 Trào phúng bằng yếu tố bất ngờ trong diễn ngôn

2.1.1 Khảo sát cách thức trào phúng bằng yếu tố bất ngờ trong diễn ngôn “Số đỏ”

Cách thức trào phúng đầu tiên mà chúng tôi khảo sát là việc dùng yếu

tố bất ngờ trong diễn ngôn Cách viết của Vũ Trọng Phụng trong Số đỏ như là

cách dựng các hoạt cảnh tiếp nối nhau và mỗi hoạt cảnh ấy đều được xây

dựng nhờ hạt nhân của nó là yếu tố bất ngờ Đọc tiểu thuyết Số đỏ, ta như đi

từ bất ngờ này đến bất ngờ khác qua từng chương truyện Yếu tố bất ngờ được tác giả đan lồng vào từng bước đi của Xuân Tóc Đỏ khi tham gia vào xã hội thượng lưu Từ một thằng ma cà bông làm đủ nghề “hạ lưu” để kiếm sống rồi trở thành một đứa nhặt banh ở sân quần, nó đã trở thành “đốc tờ Xuân”,

“nhà cải cách xã hội”, “giáo sư quần vợt” Với bản chất ma lanh, bịp bợm của mình, Xuân Tóc Đỏ dễ dàng gia nhập vào cái xã hội thượng lưu Một kẻ như Xuân Tóc Đỏ dễ dàng bước vào xã hội thượng lưu thế thì cái xã hội đó là gì nếu không phải là một xã hội ô hợp, uế tạp, cũng giả dối, thối nát, kệch cỡm

Trang 23

Ngay ở chương đầu tiên của truyện, yếu tố bất ngờ xuất hiện ở cảnh Xuân Tóc Đỏ ve vãn chị hàng mía Như tác giả nhận định, đây không phải là một cuộc thương mại mà là một cuộc tình duyên “là vì Xuân Tóc Đỏ cứ sấn

sổ đưa tay toan cướp giật ái tình” Người đọc bất ngờ trước cách nói chuyện suồng sã, tự nhiên và hành động thô bỉ đó của Xuân Tóc Đỏ, từ đó trong tâm thức của người đọc hắn hiện lên một tên vô học, vô lại Yếu tố bất ngờ tiếp theo ở chi tiết xem số, qua đó chân dung Xuân Tóc Đỏ càng được hiện lên chi

tiết, hoàn thiện hơn, gợi mở cho người đọc về con người Xuân Tóc Đỏ: “Khá

lắm! Hậu vận khá lắm! Chỉ tiếc cái tóc không được đen – Mẹ kiếp! Chứ xưa nay có mũ bao giờ đâu mà tóc chả đỏ!” [15,tr.230] Chỉ bằng một câu nói đã

thể hiện được cái bản tính tục tằn, đầu đường xó chợ của nó Với hai yếu tố bất ngờ này, Vũ Trọng Phụng đã vẽ nên một bức chân dung biếm họa về Xuân Tóc Đỏ

Đặc biệt, yếu tố bất ngờ điển hình nhất là trong chương XV, chương truyện thể hiện rõ nhất bút pháp trào phúng của Vũ Trọng Phụng Lấy tiêu đề

là: “Hạnh phúc của một tang gia, Văn Minh nữa cũng nói vào, một đám ma

gương mẫu”, tác giả đã vẽ nên bức tranh tổng quát về gia đình cụ cố Hồng

đầy mỉa mai, châm biếm Ở đó, Vũ Trọng Phụng vạch rõ chân tướng nhố nhăng, lố bịch của những người mang danh thượng lưu, quý tộc, văn minh nhưng thực chất là cặn bã, quái thai của xã hội Những đứa con cháu “chí hiếu chỉ nóng ruột đem chôn cho chóng cái xác chết của cụ tổ” để có cơ hội mà khoe mẽ, mà hưởng lợi Đó là cụ cố Hồng hớn hở vì sắp được phô ra cái sự già nua của mình, là Văn Minh vợ mừng rỡ vì sẽ được mặc đồ xô gai tân thời

và đội cái mũ mấn trắng viền đen, là Văn Minh chồng sung sướng vì “cái chúc thư kia đã vào thời kì thực hành chứ không còn là lý thuyết viển vông nữa”, là cậu tú Tân phấn khởi vì cậu có dịp trổ tài sử dụng cái máy ảnh mà mãi cậu không được dùng đến và ông Phán mọc sừng sướng rơn trong bụng

Trang 24

vì giá trị đôi sừng hươu vô hình trên đầu ông ta mang lại Cứ ngỡ đám tang sẽ trở thành sàn diễn của đám con cháu “chí hiếu”, nhưng hóa ra họ lại trở thành kép phụ trong màn xuất hiện đầy bất ngờ của Xuân Tóc Đỏ Trên sáu chiếc xe long trọng cùng với hai vòng hoa đồ sộ, Xuân Tóc Đỏ và sư cụ Tăng Phú đã nhập vào đoàn đưa tang như hai vai diễn trong vở đại hài kịch Nhưng có lẽ, danh hiệu diễn xuất nên được trao cho ông Phán mọc sừng ở cảnh hạ huyệt

Một cách đầy bất ngờ, ông cháu rễ quý hóa ấy khóc to “Hứt! Hứt!

Hứt! ” rồi ngã oặt người bên cạnh Xuân Tóc Đỏ để dúi cho nó tờ giấy bạc

năm đồng, số tiền còn lại trong thương vụ giữa ông Phán và Xuân Tóc Đỏ Cái cảnh bất ngờ đó làm người đọc phải bật cười trước sự giả dối, lố lăng của các nhân vật và cũng làm nên nghệ thuật trào phúng đặc sắc của tác phẩm

Sự đổi đời của Xuân Tóc Đỏ chính là yếu tố bất ngờ lớn nhất của cả câu chuyện, để rồi ở chương cuối, ta thấy thái độ của những người xung quanh thay đổi hẳn, kể cả những người đã từng thù ghét nó, những người biết

rõ về lý lịch Xuân Tóc Đỏ cũng xum xoe, nịnh bợ nó: “Ông Typn ngồi ngay

xuống để thay giày cho Xuân Tóc Đỏ một cách nịnh thần và nô lệ”

[15,tr.421]; “Cụ phán bà ngồi dưới chân cụ ông, tuy vậy cũng cứ cắm mặt

xuống, hối hận về cái tội tầy đình đã trót mắng mỏ con trai, chê trách con gái,

và khinh bỉ ông Xuân bội tình” [15,tr.424] Kết thúc cuốn tiểu thuyết là những

bất ngờ nối tiếp nhau: dâm đãng như bà Phó Đoan lại được phong “Tiết hạnh Khả phong Xiêm La”; cụ cố Hồng rầu rĩ vì không có ai đấm vào mặt mình để mình có thể vênh mặt lên cho hợp thời; Xuân Tóc Đỏ thì trở thành vĩ nhân, anh hùng cứu quốc

Khảo sát yếu tố bất ngờ trong diễn ngôn qua 20 chương truyện của tiểu

thuyết Số đỏ, chúng tôi thấy được Vũ Trọng Phụng đã sử dụng yếu tố bất ngờ

trong hầu hết các chương truyện, cụ thể:

Trang 25

Bảng 2.1: Yếu tố bất ngờ trong diễn ngôn truyện “Số đỏ”

0 3.8 5.6 1.9 5.6 3.8 3.8 3.8 1.9 3.8 3.8 5.6 7.5 3.8 3.8 1.9 11.3

Trang 26

2.1.2 Khảo sát cách thức trào phúng bằng yếu tố bất ngờ trong diễn ngôn “Giông tố”

Trong tiểu thuyết Giông tố, yếu tố bất ngờ cũng xuất hiện xuyên suốt từ

đầu đến cuối câu chuyện Truyện mở ra bằng một vụ cưỡng dâm của tên tư bản địa chủ khét tiếng Nghị Hách và cô gái quê mùa thị Mịch Giữa một đêm sáng trăng, vì hư xe mà Nghị Hách phải dừng lại giữa đường ở làng Quỳnh Thôn, đương lúc bực tức thì hắn gặp đoàn người dân làng gánh rạ về, và rồi hắn trông thấy Mịch Nghị Hách đã dùng lời lẽ ngon ngọt dụ dỗ Mịch lên xe

để làm việc cầm thú Cũng như nhân vật Mịch, không ai lại nghĩ rằng một tên

“quan” sang cả, bệ vệ có kẻ đứng người hầu, một kẻ đáng tuổi cha Mịch lại có thể làm ra việc đồi bại như vậy Hành vi dâm đãng một cách đột ngột giữa đường giữa xá, nghĩ là làm của Nghị Hách như vậy tạo cho người đọc cảm giác về một kẻ độc đoán, coi thường luân lí, luật pháp Và càng để chứng minh cho điều đó, khi xe Nghị Hách bị bọn trương tuần cản lại, hắn chỉ lạnh

lùng buông ra một câu: “Cứ mở hết máy, tội vạ đâu tao chịu!” Chính câu nói

bất ngờ đó làm chúng ta phải rợn tóc gáy, bởi tên “quan lớn” ấy không chỉ dâm ô mà còn độc ác, coi rẻ mạng sống con người

Chưa hết bất ngờ về con người Nghị Hách, người đọc lại càng thêm bất ngờ về cơ ngơi của hắn Ở chương III, Vũ Trọng Phụng miêu tả về cái ấp của Nghị Hách không khác gì cung điện của vua chúa, đến nỗi “dinh quan Công

sứ cũng không to tát bằng” Điều đặc biệt là ở chỗ, hắn nuôi trong đó 11 cô

“vợ” mà chẳng khác gì nuôi một đàn gái điếm! Điều đó chứng tỏ, bản tính dâm đãng của hắn đêm đó không phải bột phát mà nó vẫn luôn tồn tại và trong tâm thức của một kẻ nắm giữ sức mạnh đồng tiền như thế thì sá gì tính mạng của vài ba người nhà quê!

Yếu tố bất ngờ còn được Vũ Trọng Phụng sử dụng trong chương IX Ở chương này là cảnh xử án của ông quan huyện mới, cái ông quan mà vừa mới

Trang 27

về có mấy tháng đã tậu ngay xe ô tô Chúng ta không khỏi bất ngờ trước cái cách tên quan ấy nói chuyện thô tục xưng mày gọi tao với dân, xử án thì như

uy hiếp dân chúng và công khai bênh vực Nghị Hách Hắn là minh chứng hùng hồn cho người đọc thấy được, quyền lực, lẽ phải chỉ nằm trong tay bọn

có tiền: “Bên bị người ta đã có đơn lên quan sứ rồi Người ta kêu không hiếp

… ai cả, chỉ ngủ với con Mịch, thì chính nó, nó đã bằng lòng, vì nó đã lấy 5 đồng bạc của người ta Quan sứ đã có xét việc này rồi Ngài đã tự về đây, bảo tao khuyên chúng mày thôi đi là hơn Nếu chúng mày cứ kiện thì quan sứ sẽ hòa giải Nếu chúng mày chống án lên Hà Nội thì càng khó lòng mà được kiện, vì người ta là người giàu có lắm chúng mày không bán nghiệp đi theo

mà kiện được mà rồi còn lôi thôi nữa …” [14,tr.246]

Cả làng Quỳnh Thôn vẫn chưa hết bàng hoàng sau sự việc cưỡng dâm đêm đó đến chương XIX họ lại được mời đi ăn cưới của Mịch với kẻ đã cưỡng bức cô - Nghị Hách Đám cưới diễn ra linh đình với “ba chiếc xe hơi, mấy nghìn cau, mấy trăm bánh” nhưng điều bất ngờ là không có chú rể Và còn bất ngờ hơn khi những người đã chửi xỏ bà đồ Uẩn một cách hèn mạt nhất thì lại là những người làm giúp hăng hái nhất Điều đó lại một lần nữa khẳng định sức mạnh của tiền, có tiền là có thể chi phối được mọi thứ, từ lễ nghĩa cho đến lòng người

Ở chương XXVIII gần kết thúc truyện là một yếu tố bất ngờ khác khi Long lại chính là con ruột Nghị Hách, còn Tú Anh lại là con trai của ông già Hải Vân Chính điều này đã làm đảo lộn mọi giá trị luân lí, đạo đức và giúp

Vũ Trọng Phụng đã đẩy câu chuyện lên đến đỉnh điểm bằng yếu tố bất ngờ trong chương XXIX, khi đã biết Long là con ruột mình nhưng Nghị Hách vẫn

để Long và Tuyết - hai anh em ruột lấy nhau: “Cử chỉ của tôi sẽ có giá trị của

một cái biểu tượng! Muốn tỏ lòng căm hờn cái xã hội trưởng giả ích kỷ, cái chế độ cũ, thưa các bà, thưa các cô, tôi đã nhất định gả con gái lớn nhất của

Trang 28

tôi cho thiếu niên này!” [14,tr.436] Chính hành động phi nhân này đã thể

hiện trọn vẹn chân dung nhân vật Nghị Hách, một tên đồi bại, độc ác, bất nhân bất nghĩa

Khảo sát toàn bộ tiểu thuyết Giông tố về yếu tố bất ngờ trong diễn

ngôn, chúng tôi có bản thống kê như sau:

Bảng 2.2: Yếu tố bất ngờ trong diễn ngôn truyện “Giông tố”

0 3.125 3.125

0 3.125 6.25 3.125 3.125

0

0 6.25

0

0 3.125 6.25 3.125

Trang 29

0 6.25 3.125 3.125 6.25 3.125 3.125

0

2.2 Trào phúng bằng sự vi phạm logic khi miêu tả, tái hiện sự việc

2.2.1 Khảo sát cách thức trào phúng bằng sự vi phạm logic khi miêu

tả, tái hiện sự việc trong “Số đỏ”

Nghệ thuật trào phúng còn được thể hiện ở việc vi phạm logic khi miêu tả

tái hiện sự việc Vũ Trọng Phụng đã sử dụng những trường từ vựng đối lập và biện pháp nghịch ngữ để xây dựng các chi tiết vi phạm logic trong sáng tác của

mình Ở Số đỏ là hàng loạt các sự vi phạm logic như trong chương II, thông qua

cuộc nói chuyện của hai cảnh sát Minđơ và Mintoa, ta thấy được những điều rất

nực cười rằng cảnh sát mà lại sợ người ta văn minh, không phạm pháp: “Ngày

nay dân ta văn minh mất rồi, rõ thảm hại! […] Bây giờ mọi sự đã thay đổi cả Cái thời tốt đẹp của các cụ nhà ta không còn nữa! Thật là tai hại! Than ôi!”

[15,tr.238] Rồi thì cảnh sát lại đi phạt lẫn nhau để đủ tiêu chí mà sở cảnh sát trung ương đã giao: “Thành thử nhân viên sở cẩm cứ phạt lẫn nhau văng tê đi

thôi, phạt nhau như có thâm thù với nhau vậy” [15,tr.237]

Trang 30

Trong chương V, vi phạm logic được thể hiện việc ông Typn là người sáng chế ra những kiểu quần áo tân thời, phục vụ cho công cuộc “Âu hóa” thế

mà lại cấm vợ mình không được ăn mặc thời trang, không được chạy theo

mốt: “Rõ đồ khốn! Tưởng bở! Đòi nay mốt này, mai mốt khác để làm túi cơm

giá áo à? Đã ăn hại chồng mà lại bắt chồng nay sắm thứ này, mai sắm thứ khác để làm cho chồng phải khổ sở không kiếm ra tiền để diện thì “đi khách” lấy tiền Đừng có học đòi! Đừng có lãng mạn” [15,tr.271]

Ở chương tiếp theo, Vũ Trọng Phụng giới thiệu về nhân vật cụ cố Hồng đầy châm biếm ở các chi tiết vừa xuất hiện đã ho sụ lên một trận ghê gớm như sặc thuốc lào, mới 50 tuổi mà làm ra vẻ như già cả sắp chết, trời chưa vào

đông mà đã mặc áo ba đờ suy, lúc nào mở miệng ra cũng nói: “Biết rồi, khổ

lắm, nói mãi! …” mặc dù chưa hiểu đầu đuôi câu chuyện Và đặc biệt, sự phi

logic của lão còn ở chỗ lão nhắm mắt tin theo văn minh và xưng “toa”, “moa” với con dù chẳng hiểu văn minh là cái gì

Hay như ta thấy vi phạm logic được thể hiện rõ ở chương XV với tiêu

đề “hạnh phúc của một tang gia”, gia đình có tang sự mà ai ai cũng hạnh

phúc, cũng sung sướng thì quả thật là ngược đời Vì thế, trong chương XV là

hàng loạt các tình tiết vi phạm logic: “Bọn con cháu vô tâm ai cũng sung

sướng thỏa thích… Người ta tưng bừng vui vẻ đi đưa giấy cáo phó, gọi phường kèn, thuê xe đám ma, vân vân…” [15,tr.369]; đám ma kết hợp cả Ta,

Tàu, Tây; khách đi đám thì vui như đi hội: “Thật là đủ giai thanh gái lịch,

nên họ chim nhau, cười tình với nhau, bình phẩm nhau, chê bai nhau, ghen tuông nhau, hẹn hò nhau, bằng những vẻ mặt buồn rầu của những người đi đưa ma” [15,tr.371]

Rồi trong chương cuối, sau khi Xuân Tóc Đỏ khi tham gia đấu quần vợt

và giả vờ thua nhà quán quân của nước Xiêm La, hắn đã làm cho bạn đọc bất ngờ bởi một bài diễn thuyết hào hùng, trong đó hắngọi quần chúng là “mi” và

Trang 31

xem họ là những người thấp kém vì không hiểu được “lòng hi sinh cao thượng” của hắn, điều này đã khiến Xuân Tóc Đỏ được tung hô, trở thành anh hùng cứu quốc và nhận huân chương.Những sự việc trái khuấy, đi ngược với

lẽ thường cứ xảy ra nghiễm nhiên xảy ra trong cái xã hội thượng lưu cũng giả dối, lố bịch không kém

Khảo sát Số đỏ, chúng tôi nhận thấy vi phạm logic được Vũ Trọng

Phụng thực hiện rất nhiều lần nhằm thể hiện mục đích trào phúng của mình,

cụ thể:

Bảng 2.3: Hiện tượng vi phạm logic trong “Số đỏ”

Trang 32

2.2.2 Khảo sát cách thức trào phúng bằng sự vi phạm logic khi miêu

tả, tái hiện sự việc trong “Giông tố”

Trong Giông tố, Vũ Trọng Phụng cũng xây dựng những chi tiết vi

phạm logic để trào phúng, mỉa mai Nhân vật Nghị Hách trong truyện không khác gì một tên bạo chúa độc ác, dâm ô, bỉ ổi, gian manh Vi phạm logic được thể hiện trong chính cái tên “Nghị Hách”, danh xưng “nghị” thường là đại biểu quốc hội, mang tư cách chuẩn mực; luôn vì quyền lợi của nhân dân và bảo vệ chính nghĩa Đằng này, Nghị Hách lại hiện lên với hình ảnh tư cách thấp hèn, gian trá; nịnh trên nạt dưới, luôn tìm mọi cách để bóc lột dân nghèo

và là con người phi nhân phi nghĩa Từ “hách” còn đại biểu cho sự nổi tiếng nhưng ta thấy ở đây Nghị Hách chỉ toàn là tai tiếng

Ngay trong chương I cũng đã xuất hiện nhiều sự việc vi phạm logic Đó

là chi tiết tên Nghị Hách gian ác lừa cô gái nhà quê là Mịch lên xe bằng việc bảo cô gánh rạ lại để mua Hắn đã bịa ra lý do rất phi logic rằng cần mua rạ để nhét vào lốp xe nhưng thực chất là muốn thực hiện hành vi đồi bại với Mịch Trong khi hắn làm việc đó, hai tên tài xế cứ dùng búa gõ thình thình vào động

cơ để át tiếng trong xe Sự việc vi phạm logic như vậy thể hiện những tên chủ

tớ này đã làm việc cầm thú, bất chấp đạo đức đó nhiều lần mới có sự kết hợp

ăn ý như vậy Và quả thực, trong những chương sau của truyện đã chứng thực cho việc đó

Ở chương III, sau khi biết tin làng Quỳnh Thôn muốn kiện mình tội

cưỡng hiếp, Nghị Hách đã đến gặp các quan tai to mặt lớn để chạy tội: “Bẩm,

toàn dân tỉnh này đã bắt đầu nói xấu và vu oan cho con Bẩm cụ lớn, chắc là

họ chỉ nhắm mắt nghe theo bọn phiến loạn chúng mớm nhời mà thôi Họ vu cho con là giết người, là hiếp tróc đàn bà con gái, là bóp hầu, bóp cổ dân nghèo, thôi thì đủ những tội ác” Những lời nói hoàn toàn trái ngược sự thật

vậy mà được bật ra một cách trôi chảy, không hề sống sượng Sử dụng chi tiết

Trang 33

vi phạm logic như vậy, Vũ Trọng Phụng đã cho người đọc thấy được bản chất điêu trá của Nghị Hách, đối với người trên mình thì luồn cúi, siểm nịnh, còn đối với người dưới thì hung hách, dọa nạt

Đến chương VI, khi quan huyện Cúc Lâm cho gọi Nghị Hách lên để điều tra, thì hắn “chẳng cần đợi lệnh, cũng không báo cho lính, Nghị Hách cứ xồng sộc chạy thẳng vào huyện đường” Rõ ràng, hắn không hề xem quan huyện ra gì bởi hắn tin vào thế lực, sức mạnh đồng tiền của hắn Vũ Trọng Phụng đã sử dụng vi phạm logic trong cuộc đối đáp của Nghị Hách với quan

tại huyện đường Hắn vô cùng tráo trở, lật lọng, đổi trắng thay đen: “Bảo hiếp

dâm thì thật là vu oan Thưa ngài, lúc ấy xe hơi của chúng tôi liệt máy, phải chữa trong hai, ba tiếng đồng hồ Giữa lúc tôi buồn, thình lình con bé ấy dẫn xác đến” Một tội ác cưỡng hiếp rành rành lại bị hắn nói thành một cuộc mua

bán dâm Không những vậy lôi quan huyện xuống bằng hạng người như hắn:

“Ngài thừa biết cho là dẫu người tai to mặt lớn đến thế nào đi nữa, thì cũng phải có lúc giăng gió một lúc” và dìm phẩm giá của người con gái xuống

dưới bùn: “Tôi hỏi con bé, nó đã bằng lòng… nó cũng như một đứa giang

hồ” Sở dĩ như vậy vì Nghị Hách tự tin rằng “nén bạc đâm toạc tờ giấy”, chỉ

cần có tiền là sẽ chi phối được tất cả Yếu tố logic còn được tác giả sử dụng

để đẩy câu chuyện lên cao trào khi quan huyện và Nghị Hách đến gặp quan tồng đốc Ở đây, quan huyện Cúc lâm bị mắng té tát vì cái tội đỗ luật khoa tiến sĩ mà “không biết phá án” Theo quan tổng đốc - phe cánh của Nghị Hách thì đáng lý ra quan huyện phải bắt giam những người bị hại là bọn lý dịch, ông đồ Uẩn, Mịch vì cái tội “hùa nhau căm hờn người giàu có” Chính sự phi logic đó đã làm nổi bật lên bản chất của bộ máy thống trị lúc bấy giờ

Để rồi cuối cùng đến chương XIX, kẻ hiếp dâm lại trờ thành chồng của nạn nhân Trong chương này, chi tiết vi phạm logic là việc những người ở làng Quỳnh Thôn trước kia đã kinh bỉ, chửi mắng nhà ông đồ Uẩn vì gả Mịch

Trang 34

cho Nghị Hách thì khi đám cưới lại là những người giúp hăng hái nhất Ngoài

ra, vi phạm logic còn ở chi tiết khi Mịch về nhà Nghị Hách, đã là chồng người

ta vậy mà hắn lại dùng lời lẽ thô tục chê bai vợ mình: “Em ạ, thế là mày làm

vợ lẽ tao rồi! Trò đời cũng hay thật đấy!” rồi lại “Trông mày hôm nay xấu lắm!”

Vi phạm logic được thể hiện đỉnh điểm là ở chương XXIX, khi biết Long là con ruột của mình, Nghị Hách đã “nhận con” bằng cách cho Long và Tuyết - hai anh em ruột lấy nhau Một việc tưởng chừng như quá phi lí lại được Nghị Hách hợp lí bằng một buổi phát chẩn giả nhân giả nghĩa và một bài diễn văn sặc mùi giả dối Bằng hàng loạt các chi tiết vi phạm logic trong các chương truyện, Vũ Trọng Phụng đã lột trần bộ mặt xã hội Việt Nam thuộc địa nửa phong kiến, một xã hội trụy lạc, mục rữa, thối nát và lên án, tố cáo bản chất của tầng lớp tư bản địa chủ trong xã hội Việt Nam đương thời

Bảng 2.4: Hiện tương vi phạm logic trong “Giông tố”

4 5.3

0 10.7

4

4 5.3

4

0 2.7

Ngày đăng: 14/05/2021, 22:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2005), Hán Việt từ điển, NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hán Việt từ điển
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2005
2. Lại Nguyên Ân (1997), Vũ Trọng Phụng - tài năng và sự thật, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Trọng Phụng - tài năng và sự thật
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1997
3. Nguyễn Văn Cừ (2007), Vũ Trọng Phụng - tác giả trong nhà trường, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Trọng Phụng - tác giả trong nhà trường
Tác giả: Nguyễn Văn Cừ
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2007
4. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên) (2009), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2009
5. Đỗ Đức Hiểu (1983), Từ điển Văn học, NXB Khoa học xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Văn học
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội Hà Nội
Năm: 1983
6. Nguyễn Thái Hòa (2005), Từ điển tu từ - phong cách thi pháp học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tu từ - phong cách thi pháp học
Tác giả: Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
7. Mai Hương (2002), Vũ Trọng Phụng - một tài năng độc đáo, NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Trọng Phụng - một tài năng độc đáo
Tác giả: Mai Hương
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2002
8. Nguyễn Hoành Khung, Lại Nguyên Ân (1994), Vũ Trọng Phụng - con người và tác phẩm, NXB Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Trọng Phụng - con người và tác phẩm
Tác giả: Nguyễn Hoành Khung, Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 1994
9. Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa (1993), Phong cách học Tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học Tiếng Việt, "NXB" Giáo dục
Tác giả: Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: NXB" Giáo dục"
Năm: 1993
10. Đinh Trọng Lạc (2005), 99 Phương tiện và Biện pháp tu từ tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: 99 Phương tiện và Biện pháp tu từ tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
11. Phương Lựu (2006), Lý luận văn học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Phương Lựu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
12. Nguyễn Đăng Mạnh (2001), Nhà văn tư tưởng và phong cách, NXB ĐH Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn tư tưởng và phong cách
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh
Nhà XB: NXB ĐH Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
13. Nguyễn Đăng Mạnh (2006), Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
14. Nguyễn Đăng Mạnh (2011), Tuyển tập Vũ Trọng Phụng tập 1, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Vũ Trọng Phụng tập 1
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2011
15. Nguyễn Đăng Mạnh (2011), Tuyển tập Vũ Trọng Phụng tập 2, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Vũ Trọng Phụng tập 2
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2011
16. Tôn Thảo Miên (2007), Số đỏ - tác phẩm và lời bình, NXB Văn học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số đỏ - tác phẩm và lời bình
Tác giả: Tôn Thảo Miên
Nhà XB: NXB Văn học Hà Nội
Năm: 2007
17. Nguyễn Phong Nam (2001), Dấu tích văn nhân, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dấu tích văn nhân
Tác giả: Nguyễn Phong Nam
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2001
18. Bùi Trọng Ngoãn (2011), Các dạng nói mỉa, Kỷ yếu hội thảo ngôn ngữ học toàn quốc, ĐH Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dạng nói mỉa
Tác giả: Bùi Trọng Ngoãn
Năm: 2011
19. Hoàng Phê (chủ biên) (1998), Từ điển Tiếng Việt, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê (chủ biên)
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1998
20. Trần Hữu Tá (1999), Vũ Trọng Phụng với chúng ta, Nxb thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Trọng Phụng với chúng ta
Tác giả: Trần Hữu Tá
Nhà XB: Nxb thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1999

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w