Trên tạp chí Văn nghệ số 8 năm 1958, Bùi Huy Phồn trong bài viết Đọc lại Việc làng của Ngô Tất Tố đã khẳng định đóng góp lớn nhất của tập phóng sự này là đã phản ánh được một cách chân
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
ĐẶNG THỊ THU LAN
PHÓNG SỰ NGÔ TẤT TỐ VÀ VŨ TRỌNG PHỤNG
(QUA CÁI NHÌN ĐỐI SÁNH)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Trang 2NGHỆ AN - 2014
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
ĐẶNG THỊ THU LAN
PHÓNG SỰ NGÔ TẤT TỐ VÀ VŨ TRỌNG PHỤNG
(QUA CÁI NHÌN ĐỐI SÁNH)
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 60.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS ĐINH TRÍ DŨNG
Trang 4NGHỆ AN - 2014
Trang 5MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát 7
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Đóng góp của luận văn 8
7 Cấu trúc luận văn 8
Chương 1 PHÓNG SỰ NGÔ TẤT TỐ VÀ VŨ TRỌNG PHỤNG TRONG BỨC TRANH CHUNG CỦA PHÓNG SỰ VIỆT NAM 1930-1945 9
1.1 Một số vấn đề về thể loại phóng sự 9
1.1.1 Về khái niệm phóng sự 9
1.1.2 Đặc trưng của thể loại phóng sự 12
1.2 Tổng quan về phóng sự Việt Nam giai đoạn 1930-1945 17
1.2.1 Sự hình thành và phát triển của thể loại phóng sự 17
1.2.2 Bức tranh chung về phóng sự Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 21
1.3 Vai trò của phóng sự Ngô Tất Tố và Vũ Trọng Phụng đối với phóng sự Việt Nam giai đoạn 1930-1945 26
1.3.1 Ngô Tất Tố - Cây bút phóng sự bậc thầy 26
1.3.2 Vũ Trọng Phụng - “ông vua phóng sự đất Bắc” 31
Chương 2 PHÓNG SỰ NGÔ TẤT TỐ VÀ VŨ TRỌNG PHỤNG -NHỮNG NÉT TƯƠNG ĐỒNG 36
2.1 Tương đồng ở phương diện nội dung 36
2.1.1 Quan tâm đến những vấn đề xã hội nóng bỏng 36
2.1.2 Tiếp cận hiện thực từ mặt trái của xã hội 48
2.1.3 Cảm hứng phê phán, tố cáo mãnh liệt 55
2.2 Tương đồng ở phương diện hình thức nghệ thuật 62
Trang 62.2.1 Xu hướng tiểu thuyết hóa 63
2.2.2 Sử dụng chi tiết điển hình 70
Chương 3 PHÓNG SỰ NGÔ TẤT TỐ VÀ VŨ TRỌNG PHỤNG -NHỮNG NÉT KHÁC BIỆT 75
3.1 Những khác biệt về nội dung 75
3.1.1 Về đề tài 75
3.1.2 Về nhân vật 90
3.2 Những khác biệt về hình thức nghệ thuật 105
3.2.1 Về kết cấu 105
3.2.2 Về giọng điệu 112
3.2.3 Về ngôn ngữ 118
KẾT LUẬN 126
TÀI LIỆU THAM KHẢO 130
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945 chứng kiến sự xuất hiện
nở rộ của rất nhiều thể loại văn học, góp phần “hoàn tất quá trình hiện đại hóa” và có nhiều đóng góp cho sự phát triển của nền văn học dân tộc Trong
đó thể loại phóng sự mặc dù xuất hiện sau nhưng đã gặt hái được nhiều thành công trên cả phương diện nội dung, hình thức nghệ thuật và đã xác định được một vị trí vững vàng trong các thể loại văn học Tiêu biểu hơn cả trong bức tranh chung của phóng sự Việt Nam 1930-1945 là hai nhà văn Ngô Tất Tố và
Vũ Trọng Phụng Đây là hai tác giả có nhiều thiên phóng sự nổi tiếng, chứa đựng một hiện thực mang tầm khái quát cao và có giá trị nghệ thuật sâu sắc
Vì vậy, nghiên cứu phóng sự Ngô Tất Tố và Vũ Trọng Phụng qua cái nhìn đối sánh là cần thiết để có được cái nhìn đầy đủ hơn, sâu sắc hơn về thể loại phóng sự nói riêng và về một giai đoạn văn học sôi động của nước nhà nói chung
1.2 Ngô Tất Tố (1893-1954) là một tài năng lớn, đa dạng Tài năng của ông bộc lộ trên nhiều phương diện: sáng tác, khảo cứu, dịch thuật Suốt
ba thập kỷ cầm bút ông đã để lại một sự nghiệp văn học với nhiều thể loại: tiểu thuyết, phóng sự, truyện ký, truyện lịch sử, tiểu phẩm báo chí, dịch thuật, khảo cứu Ở thể loại phóng sự, Ngô Tất Tố được xem là một cây bút bậc thầy với nhiều thiên phóng sự thể hiện những trải nghiệm sâu sắc về nông thôn và người nông dân Việt Nam
Khi những tác phẩm đầu tiên của Vũ Trọng Phụng đăng tải trên văn đàn, nhà văn này đã trở thành tâm điểm của dư luận Tuy tuổi đời và tuổi nghề ngắn ngủi, song Vũ Trọng Phụng đã khẳng định được tài năng và bản lĩnh nghệ thuật của mình qua nhiều tác phẩm tiêu biểu ở các thể loại khác nhau: truyện ngắn, phóng sự, kịch Riêng ở thể loại phóng sự, Vũ Trọng Phụng đã nhanh chóng khẳng định được vị trí hàng đầu và được suy tôn là “ông vua phóng sự đất Bắc”
Ngô Tất Tố và Vũ Trọng Phụng là hai nhà văn lớn, hai cây bút phóng
sự xuất sắc, có những đóng góp thực sự có giá trị cho sự phát triển của thể
Trang 8loại này Tác phẩm của họ đã được nghiên cứu trên các bình diện khác nhau
và đã được đánh giá thoả đáng Tuy nhiên, khi tìm hiểu phóng sự của Ngô Tất
Tố và Vũ Trọng Phụng trong sự đối sánh (cả phương diện nội dung lẫn hình thức nghệ thuật), chúng tôi nhận thấy có những sự tương đồng khá thú vị cũng như nhận thấy sự khác biệt với những nét độc đáo riêng Đây là lí do thúc đẩy chúng tôi nghiên cứu đề tài này để hiểu sâu hơn nét riêng độc đáo trong phong cách phóng sự của hai ông, đồng thời có cái nhìn toàn diện hơn
về tài năng nghệ thuật của hai nhà văn
1.3 Ngô Tất Tố và Vũ Trọng Phụng là những tác giả không chỉ được nghiên cứu ở chương trình bậc đại học mà còn có mặt trong chương trình Ngữ văn phổ thông, kể cả trung học cơ sở và trung học phổ thông Do vậy, việc nghiên cứu sâu hơn về Ngô Tất Tố và Vũ Trọng Phụng là điều hết sức cần thiết, phục vụ thiết thực cho công tác giảng dạy
2 Lịch sử vấn đề
Ngô Tất Tố và Vũ Trọng Phụng là những nhà văn lớn Sự nghiệp văn học của hai cây bút này là đề tài cho rất nhiều công trình nghiên cứu đa dạng, phong phú, xuất phát từ nhiều điểm nhìn, nhiều phương pháp, chú ý đến nhiều phương diện khác nhau Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, dưới đây chúng tôi chỉ giới hạn trong việc điểm lại những bài viết đề cập đến thể loại phóng sự của hai tác giả
2.1 Lịch sử nghiên cứu về phóng sự của Ngô Tất Tố
Cao Đắc Điểm, trong Góp phân hoàn thiện chân dung Ngô Tất Tố đăng trên Tạp chí Văn học số 6 năm 2003 đã thống kê từ trước cho tới nay có trên 150
công trình, nhiều cuốn sách, luận án, luận văn nghiên cứu về thân thế và sự nghiệp của Ngô Tât Tố Điều đó khẳng định chỗ đứng của Ngô Tất Tố cũng như
sự quan tâm của giới nghiên cứu dành cho ông
Nghiên cứu về thể loại phóng sự của Ngô Tất Tố tuy chưa nhiều nhưng cũng đã có một số thành tựu đáng kể Các nhà nghiên cứu đã từng bước đi đến khẳng định các giá trị nội dung và nghệ thuật của các tác phẩm
Khi hai tập phóng sự Tập án cái đình và Việc làng đăng đàn, Vũ Ngọc Phan trong cuốn Nhà văn hiện đại (1938-1940) đã dành cho Ngô Tất Tố một
Trang 9vị trí vẻ vang Ông gọi Ngô Tất Tố là “một tay kỳ cựu trong làng văn, làng báo Việt Nam” và nhấn mạnh: “Ngô Tất Tố là một nhà nho mà viết được những thiên phóng sự và những thiên tiểu thuyết theo nghệ thuật Tây phương
và ông đã viết bằng một ngòi bút đanh thép, làm cho phái tân học phải khen
ngợi” Đồng thời Vũ Ngọc Phan cũng đã đánh giá Ngô Tất Tố là nhà văn
chuyên sâu về đề tài nông thôn, am hiểu sâu sắc cuộc sống và phong tục làng
quê Ông phân tích và khẳng định tác phẩm Việc làng: “Tập phóng sự về dân
quê này là một tập phóng sự rất đầy đủ về việc làng” [20,324]
Trên tạp chí Văn nghệ số 8 năm 1958, Bùi Huy Phồn trong bài viết
Đọc lại Việc làng của Ngô Tất Tố đã khẳng định đóng góp lớn nhất của tập
phóng sự này là đã phản ánh được một cách chân thực đời sống của người dân quê, những nỗi thống khổ về tinh thần mà không phải ai cũng có thể nhìn thấy được Từ xưa đến nay người ta chỉ thấy người nông dân bị bóc lột về kinh tế,
áp bức về chính trị, ít ai thấy được người nông dân còn khốn khổ bởi “hàng trăm thứ hủ tục trói buộc, đè nén họ hàng vạn năm” [20,334] Cũng trong bài viết này, Bùi Huy Phồn cũng có những đánh giá khách quan về Ngô Tất Tố qua
phóng sự Việc làng Ông cho rằng lập trường giai cấp của Ngô Tất Tố còn mơ
hồ cho nên còn một số hạn chế nhỏ trong Việc làng và những thiếu sót này
cũng không lấy gì làm lạ vì Ngô Tất Tố vốn xuất thân là một nhà nho Song giá
trị của Việc làng vẫn là căn bản, đặc biệt là giá trị hiện thực của tác phẩm.
Năm 1962, trên tạp chí Văn nghệ số 61, Nguyễn Đức Bính khi bàn về con người và văn chương của Ngô Tất Tố có đề cập đến phóng sự Việc Làng Nguyễn Đức Bính tiết lộ: “Quyển Việc làng ra đời năm 1940 Nhưng có thể
tác giả đã nhẩm từ lâu, trong những buổi nhàn đàm với anh em ở tòa soạn tờ báo Hàng Da” Ông còn cho rằng: “Nếu có ai cho rằng đó là một tập văn kí sự ghi lại những tệ tục ở nông thôn thì thật chưa hiểu được dụng ý của người viết Mặc dù lời văn có khi nặng tính chất khách quan của kẻ quan sát hiện thực, nhưng nên tìm ở trong đó một tấm lòng thay cho nhiểu tấm lòng” Ở
đây, Nguyễn Đức Bính đã đánh giá giá trị nội dung của Việc làng trên cả hai
phương diện: giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo
Viết về phóng sự Việc làng, Nguyễn Đức Đàn và Phan Cư Đệ cho rằng: “Việc làng nghiêm khắc lên án các hủ tục ở hương thôn, lên án tình trạng
Trang 10bọn địa chủ, cường hào lợi dụng hủ tục để áp bức bóc lột nông dân, phơi bày cuộc sống khổ cực, đen tối của quần chúng sau lũy tre làng” Các tác giả đi đến khẳng định: “Ngô Tất Tố vốn xuất thân nho học Nhưng đối với một thể loại mới mẻ như thể loại phóng sự, Ngô Tất Tố đã không tỏ vẻ bỡ ngỡ chút nào Trái lại ngòi bút của ông khi nào cũng vững vàng, chắc chắn, lời văn bao giờ
cũng bình dị, sáng sủa và cô đúc Việc làng đã góp phần làm cho tên tuổi của
Ngô Tất Tố càng có thêm uy tín trong làng văn Việt Nam” [20, 347]
Trong Lịch sử văn học Việt Nam tập 5 (1930-1945), xuất bản tại Hà Nội năm 1973, Nguyễn Đăng Mạnh khi phê bình Việc làng đã phân tích một
số đặc điểm nội dung cũng như nghệ thuật của thiên phóng sự này và nhận ra ở Ngô Tất Tố có một lòng thương cảm sâu sắc đối với người nông dân “Càng cảm thông với người nông dân bao nhiêu, Ngô Tất Tố lạ càng căm ghét bọn cường hào địa chủ bấy nhiêu” Về nghệ thuật, Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng: Cả tập
phóng sự Việc làng của Ngô Tất Tố tuy quanh đi, quẩn lại chủ yếu là nạn xôi
thịt, nhưng với lối kể chuyện linh hoạt, người đọc không thấy đơn điệu” và nhấn
mạnh: “Việc làng có khuynh hướng đi gần với lối viết truyện ngắn”.
Trong bài viết Ngô Tất Tố, nhà báo, tác giả Nguyễn Đăng Mạnh
khẳng định: “Ngòi bút châm biếm, đả kích của Ngô Tất Tố rất sắc sảo, lời buộc tội của ông đanh thép, triệt để, dứt khoát” [20,412]
Trần Thị Phương Lan khi đi vào nghiên cứu Ngôn ngữ trong tác phẩm Ngô
Tất Tố, đã cho rằng: “Đó là ngôn ngữ chính xác, giàu chất luận lý và hình tượng
sinh động” tất cả tạo nên nét riêng, sức hấp dẫn và giá trị cho các tác phẩm [ 22] Khi khẳng định những đóng góp của Ngô Tất Tố về phương diện nghệ
thuật ở thể loại phóng sự, Luận văn thạc sĩ Đóng góp của phóng sự và tiểu
phẩm Ngô Tất Tố đối với văn học Việt Nam 1930-1945 của Phan Thị Mỹ
Hạnh đã nhấn mạnh: “Trong phóng sự của Ngô Tất Tố, người đọc được thưởng thức một lối trần thuật sắc bén và hấp dẫn, một nghệ thuật kết cấu giản dị, chặt chẽ, ngôn ngữ giàu hình ảnh, gợi cảm, giàu chất văn” [18,98]
Qua những gì mà chúng tôi đã điểm lại trên đây, có thể thấy phóng sự
của Ngô Tất Tố đã có một bề dày nghiên cứu nhất định Tuy nhiên, các bài
viết chỉ xoay quanh phóng sự Việc làng còn Tập án cái đình chỉ được nói
Trang 11chung chung Hơn nữa, chưa có một công trình nào đi vào nghiên cứu về
phóng sự Ngô Tất Tố trên cơ sở đối sánh thể loại để làm nổi bật được giá trị đặc sắc riêng của nó Có thể xem đây là lối ngỏ để chúng tôi tiếp tục tìm hiểu sâu về vấn đề này
2.2 Lịch sử nghiên cứu về phóng sự của Vũ Trọng Phụng
Có lẽ ít có nhà văn hiện đại nào mà sự nghiệp văn học lại thu hút được sự quan tâm của độc giả nhiều thế hệ như Vũ Trọng Phụng Và cũng ít có nhà văn nào mà sự đánh giá của giới nghiên cứu, phê bình và của người đọc lại phong phú
và khác biệt như nhà văn họ Vũ Nguyễn Quang Trung, trong sách Tiếng cười Vũ
Trọng Phụng, xuất bản năm 2002 đã thống kê có hơn hai trăm bài tiểu luận văn
học cùng nhiều cuốn sách chuyên đề, luận văn, luận án… nghiên cứu về Vũ Trọng Phụng Thể loại phóng sự trong sáng tác của nhà văn cũng trở thành đối tượng tìm hiểu của không ít công trình, bài viết
Nguyễn Đăng Mạnh trong bài viết Vũ Trọng Phụng, ông vua phóng
sự đã có những dánh giá tổng quát về tài năng của Vũ Trọng Phụng ở thể loại
sở trường - phóng sự: “Vũ Trọng Phụng dường như sinh ra là để viết phóng
sự (…) Nhiều chương ông viết thật tài năng như chiếu lên trước mắt người đọc những đoạn phim vừa có giá trị tư liệu, vừa có giá trị nghệ thuật, đặc biệt
là những đoạn đối thoại trực tiếp đầy kịch tính bằng ngôn ngữ và giọng điệu
“nghề nghiệp” [38, 20],
Trong lời giới thiệu Tuyển tập Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Đăng Mạnh
cũng đã có những đánh giá chân xác về phong cách, giá trị văn chương và quá trình chuyển biến trong tư tưởng của Vũ Trọng Phụng ở ba giai đoạn sáng tác, đồng thời bày tỏ sự “nâng niu” đối với những thiên phóng sự của Thiên Hư bởi chúng có “giá trị phê phán xã hội mạnh mẽ”, “góc cạnh, sắc sảo rất Vũ Trọng Phụng” [29] Đồng thời nhà nghiên cứu tỏ ra rất tâm đắc với chất bi hài
của Kỹ nghệ lấy Tây, Cơm thầy cơm cô, Lục xì, Cạm bẫy người…Theo ông,
Vũ Trọng Phụng “có lối kể chuyện thật là hóm hỉnh và có duyên như tiếng cười vừa dứt, dư vị để lại sao mà cay đắng chua chát”
Khi bàn về nghệ thuật trong phóng sự của Vũ Trọng Phụng, chúng ta không thể không nhắc đến ý kiến tâm huyết của Nguyễn Hoài Thanh và Lê Dục Tú
Trang 12Trong số những người tìm hiểu về phóng sự của Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Hoài Thanh có lẽ là người có nhiều bài nghiên cứu nhất, đề cập đến vấn đề ở nhiều phương diện khác nhau Ông đi sâu vào nghiên cứu nghệ thuật tiếp cận hiện thực trong phóng sự của Vũ Trọng Phụng và đã phân tích nó ở góc độ cơ cấu tổ chức, góc độ nghề nghiệp, kỹ thuật, và một vài điểm nhìn khác Từ đó, ông đi đến kết luận: chính sự sáng tạo trong phương thức tiếp cận
hiện thực của Vũ Trọng Phụng đã làm cho “vấn đề nổi bật và sâu sắc hơn”
Nguyễn Hoài Thanh đã tìm hiểu khá kĩ chất khẩu ngữ trong lời văn phóng sự của Vũ Trọng Phụng Theo ông, sở dĩ các thiên phóng sự của Vũ Trọng Phụng luôn mới mẻ bởi ngoài việc hướng ống kính vào những đối tượng có tính thời sự lâu dài, còn do ông “đã viết phóng sự bằng một thứ ngôn ngữ của đời sống, trong đó chất khẩu ngữ nổi lên như một yếu tố cơ bản của lời văn nghệ thuật” Quan sát thế giới nhân vật trong phóng sự Vũ Trọng
Phụng, Nguyễn Hoài Thanh xác định thêm nhân tố quyết định cách dùng
ngôn ngữ của nhà văn trong việc tái hiện thực tại đời sống phức tạp, xô bồ
Lê Dục Tú trong bài viết Ký Việt Nam 1900 - 1945, có điểm gặp gỡ
với Hoài Thanh khi chỉ ra cách tiếp cận hiện thực rất đa dạng trong phóng sự
Vũ Trọng Phụng: “Lúc thì nhìn từ phía bên trong (Lục xì, Kỹ nghệ lấy Tây), lúc lại nhìn từ phía sau - từ phía “cổng hậu” (Cơm thầy cơm cô), lúc thì nhìn trên diện rộng (Một huyện ăn Tết) [11,391].
Trong cuốn Bản sắc hiện đại trong các tác phẩm Vũ Trọng Phụng, Hồ
Thế Hà có bài viết tìm hiểu đặc điểm không gian nghệ thuật trong phóng sự của Vũ Trọng Phụng Dưới góc nhìn thi pháp học, tác giả bài viết đề cập đến một số vấn đề có liên quan trong đó có vấn đề nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ của nhà phóng sự tài năng này [71]
Đề cập đến ngôn ngữ trong phóng sự của Thiên Hư, bài bình luận của Tôn Thảo Miên hay luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Phượng, Trần Đăng Thao
có thể xem là những nhận định rất đáng tham khảo Bài viết của tác giả Tôn
Thảo Miên trong Vũ Trọng Phụng toàn tập (tập 1) đã khái quát về văn nghiệp
của Vũ Trọng Phụng, trong đó nhấn mạnh đóng góp của nhà văn trên bình diện ngôn ngữ: “Ông là một trong những nhà văn góp phần đáng kể vào việc hiện đại hóa văn xuôi quốc ngữ” [47,36]
Trang 13Trong luận án tiến sĩ Ngôn từ nghệ thuật của Vũ Trọng Phụng trong
phóng sự và tiểu thuyết, Nguyễn Văn Phượng đã đi sâu khảo sát và gọi tên
được những lớp ngôn từ đặc biệt trong phóng sự của Thiên Hư: ngôn từ giễu nhại; phản lãng mạn; ngôn từ dục tính và đặc tả thân xác; ngôn từ cường điệu, phóng đại để hủy diệt, triệt hạ; ngôn từ đối thoại cá thể hóa, độc thoại nội tâm
và phức điệu [52]
Trên đây, chúng tôi đã điểm lại những công trình nghiên cứu, những bài viết về phóng sự của hai nhà văn Ngô Tất Tố và Vũ Trọng Phụng Có thể chưa bao quát được đầy đủ nhưng qua đó cũng thấy được các công trình về thể loại này của hai nhà văn là khá phong phú, đa dạng, với những ý kiến đóng góp xác đáng Song hầu hết các bài chỉ viết riêng về từng tác giả và thường chỉ phân tích một số khía cạnh cơ bản Theo chúng tôi, để làm nổi bật được phong cách nghệ thuật của hai nhà văn ở thể loại phóng sự thì việc nghiên cứu phóng sự của Ngô Tất Tố và Vũ Trọng Phụng trong quan hệ đối sánh một cách toàn diện, trực tiếp sẽ là một công việc cần thiết và thú vị
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn chúng tôi là Phóng sự của Ngô Tất
Tố và Vũ Trọng Phụng (qua cái nhìn đối sánh)
3.2 Phạm vi tư liệu khảo sát
Để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài này, chúng tôi tập trung khảo sát những phóng sự tiêu biểu của hai tác giả Ngô Tất Tố và Vũ Trọng Phụng, cụ thể là:
Trang 144 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Nhận diện những nét tương đồng về nội dung và hình thức nghệ thuật trong phóng sự của Ngô Tất Tố và Vũ Trọng Phụng
4.2 Nhận diện, đối sánh những nét khác biệt trong thể loại phóng sự của hai nhà văn, từ đó khẳng định những đóng góp quan trọng của Ngô Tất
Tố và Vũ Trọng Phụng cho sự phát triển của thể loại phóng sự nói riêng và văn học Việt Nam nói chung
4.1 Chỉ ra vị trí của Ngô Tất Tố và Vũ Trọng Phụng trong bức tranh chung của phóng sự văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945
5 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này, chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp cấu trúc, hệ thống
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
6 Đóng góp của luận văn
Đây là công trình thể hiện cái nhìn tương đối toàn diện, hệ thống về phóng sự của Ngô Tất Tố và Vũ Trọng Phụng, làm sáng rõ những điểm tương đồng và khác biệt, những đóng góp riêng độc đáo của mỗi nhà văn đối với sự phát triển của thể loại phóng nói riêng và văn học Việt Nam giai đoạn 1930 –
1945 nói chung Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần cho việc dạy học phóng sự trong nhà trường
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận
văn được triển khai trong 3 chương:
Chương 1 Phóng sự của Ngô Tất Tố và Vũ Trọng Phụng trong bức
tranh chung của phóng sự Việt Nam 1930-1945Chương 2 Phóng sự của Ngô Tất Tố và Vũ Trọng Phụng - Những nét
tương đồngChương 3 Phóng sự của Ngô Tất Tố và Vũ Trọng Phụng - Những nét
khác biệt
Trang 15Chương 1 PHÓNG SỰ NGÔ TẤT TỐ VÀ VŨ TRỌNG PHỤNG
TRONG BỨC TRANH CHUNG CỦA PHÓNG SỰ VIỆT NAM 1930-1945
1.1 Một số vấn đề về thể loại phóng sự
1.1.1 Về khái niệm phóng sự
Phóng sự là một thể loại đặc biệt của văn học và báo chí Nó là một thể loại nằm trong loại hình văn xuôi tự sự song lại là tên gọi chung cho một nhóm thể tài có tính giao thoa giữa báo chí và văn học, có khả năng thông tin
về người thực, việc thực những sự kiện nóng hổi được chuyển tải trong những trang viết đầy lí lẽ và cảm xúc thẫm mỹ
Theo nhiều nhà nghiên cứu, phóng sự ra đời từ rất sớm, khoảng thế kỷ XVI và xuất hiện lần đầu tiên trên báo chí phương Tây Khi mới ra đời, chức năng đầu tiên của phóng sự là phương tiện truyền thông, mang tính chất thông tin rất đơn giản về các sự kiện, hiện tượng, nhiều khi nó chỉ là “sự mô tả, tường thuật một cuộc họp quốc hội” như quan niệm của người Mỹ
Tuy nhiên, từ sau đại chiến thế giới lần thứ nhất (1914-1918) với những biến động mạnh mẽ và sâu sắc của hoàn cảnh xã hội, phóng sự mới thực sự phát triển mạnh mẽ trên thế giới, đặc biệt là ở các nước Âu - Mỹ Nó đã có một bước tiến dài khi bỏ qua thời kỳ đơn giản, ấu trĩ, chỉ phản ánh các thông tin thời sự để vươn tới những trang viết không chỉ bao quát một hiện thực xã rộng lớn mà còn được thể hiện bằng những hình thức biểu đạt phong phú Nó đã trở thành một kênh tư liệu giàu thông tin đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của công chúng báo chí và của cả xã hội Sự ra đời của phóng sự được đánh dấu bằng
một loạt các tác phẩm ưu tú như: Mười ngày rung chuyển thế giới của Giôn Rít, Vượt qua núi Anpơ của Hali Bớctơn; Viết dưới giá treo cổ của Giuliut
Phuxích…
Mặc dù đến nay, trải qua gần một thế kỷ phát triển, thể loại phóng sự
đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ Song dầu sao, phóng sự vẫn còn là thể loại hết sức trẻ trung đang tiếp tục được phát triển từng bước Lí luận về thể loại này cũng đang được từng bước bổ sung, hoàn thiện Do vậy, đến nay khái
Trang 16niệm về thể loại phóng sự vẫn chưa được thống nhất, vẫn chưa có một định nghĩa chuẩn mực mà còn song song tồn tại nhiều quan điểm khác nhau.
Theo tác phẩm Phóng sự báo chí (Nxb Lí luận chính trị) thuật ngữ
phóng sự theo tiếng La tinh là Reportage, có nghĩa là thông báo một tin mới,
một chuyến đi, một sự việc gì đó Người Nga dùng từ “penota” là tường trình
tỉ mỉ, sâu sắc về sự việc Người Trung Quốc quan niệm về phóng sự hết sức rộng rãi với các từ: ký sự thông tấn, phỏng vấn ký, trát ký và báo cáo văn học Như vậy với việc sử dụng rộng rãi thuật ngữ Reprtage để chỉ một loại hình báo chí mới ra đời - thể loại phóng sự và bản thân thể loại phóng sự đã bộc lộ tính chất nổi bật là người thư ký của thời đại
Tuy có nhiều quan niệm khác nhau về thể loại phóng sự song nhìn chung có hai xu hướng cơ bản:
Xu hướng thứ nhất quan niệm: phóng sự là kể lại một câu chuyện có thật một cách ngắn gọn, chính xác Các chi tiết tập trung trả lời các câu hỏi: Cái gì? Xảy ra ở đâu? Xảy ra như thế nào? Có liên quan hoặc ảnh hưởng đến ai? Tại sao lại xảy ra? Xu hướng này chủ yếu quan tâm đến lượng thông tin trong bài phóng sự Việc bộc lộ cái “tôi” trong bài với tư cách là một nhân chứng lịch
sử để bình luận, lí giải thêm là không cần thiết Theo xu hướng này, nhà văn, nhà báo Mark Twain nhấn mạnh “Phóng sự chỉ là một sự ghi chép máy móc đơn thuần các sự việc chứ không phải là một công việc sáng tạo”
Xu hướng thứ hai cho rằng: Phóng sự là một loại báo chí tổng hợp, kế thừa phong cách sáng tạo của tất cả các thể loại báo chí khác (tin, phỏng vấn, điều tra) và cả văn học Chính vì vậy những bài phóng sự theo xu hướng này vừa có khả năng phản ánh những sự kiện và hiện tượng nổi bật của thời cuộc vừa có khả năng đem đến cho công chúng những cảm xúc thẩm mỹ từ cái hay, cái đẹp của cuộc sống và con người cụ thể qua cái “tôi” trần thuật của tác giả
Ở Việt Nam, phóng sự chỉ mới thực sự phát triển từ thập niên 30 của thế kỷ XX cùng với sự phát triển của báo chí và công nghệ in ấn, song nó đã nhanh chóng đạt được nhiều thành tựu rực rỡ Từ thực tiễn sáng tác và nghiên cứu, các nhà văn, nhà báo, nhà nghiên cứu ở nước ta đã đưa ra nhiều quan niệm, nhiều định nghĩa khác nhau về thể loại này
Trang 17Ngay từ những năm 30 của thế kỷ XX, Vũ Trọng Phụng, người trực tiếp viết phóng sự lúc đó đã có quan niệm: “Phóng sự là một thiên chuyện kể với cơ sở là những điều mà nhà báo từng mắt thấy tai nghe, trừ khi là một thiên “phóng sự trong buồng”, nhà báo nghe người ta kể lại cái mà mình chưa
biết bằng tai, bằng mắt Tôi hết sức tránh cái phóng sự như vậy” [39] Điều đó
cho thấy Vũ Trọng Phụng rất coi trọng tính chân thực của phóng sự Hiện thực được phản ánh trong phóng sự theo ông, phải do chính nhà văn thể nghiệm tìm tòi, hóa thân vào nó và mô tả lại một cách chân thực sinh động khiến cho người đọc cảm thấy như mình đang được chứng kiến sự việc từ đầu đến cuối Quan niệm này đã được nhà văn Ngô Tất Tố vận dụng một cách triệt để, khi ông viết phóng sự bằng những cuộc điều tra công phu, tỉ
mỉ về những người thật, việc thật, những điều mà ông mắt thấy tai nghe để cho ra đời những trang phóng sự giàu giá trị nhất
Hà Minh Đức khi so sánh sự tương đồng và khác biệt giữa phóng sự và
ký sự, đã khẳng định: “Phóng sự đòi hỏi tính thời sự trực tiếp Phóng sự được viết ra nhằm giải đáp những vấn đề nào đó mà xã hội đang quan tâm” [17,229] Phương Lựu nhấn mạnh tính chất chính luận của phóng sự Ông cho rằng: “Phóng sự nổi bật bằng những sự thật xác thực dồi dào, nóng hổi”(…) nội dung phóng sự thiên về vấn đề người ta muốn đề xuất và giải quyết Phóng sự do đó vẫn là người thật việc thật, nhưng có màu sắc chính luận”
[54,298] Trong cuốn Kí báo chí, Nguyễn Đức Dũng nêu ra một định nghĩa về
báo chí: “Phóng sự là thể loại đứng giữa văn học và báo chí có khả năng trình bày, diễn tả những sự kiện, con người, tình huống điển hình trong một quá trình phát sinh, phát triển, đồng thời thẩm định hiện thực đó thông qua cái tôi trần thuật vừa tỉnh táo, vừa lí trí, vừa cảm xúc với một bút pháp giàu chất văn học” [8,60]
Như vậy, mặc dù các nhà nghiên cứu đã có nỗ lực trong việc xác định một khái niệm phóng sự song thực tế cho đến nay chúng ta vẫn chưa đạt đến sự thống nhất một cách hiểu Tạm thời, chúng tôi đồng tình với sự
Trang 18lí giải của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong cuốn Từ điển
thuật ngữ văn học Theo các tác giả này, phóng sự được hiểu là một thể
thuộc loại hình ký”, “nhằm làm sáng tỏ trước công luận một sự kiện, một vấn đề có liên quan đến hoạt động và số phận của một hoặc nhiều người và
có ý nghĩa thời sự đối với một địa phương hay toàn xã hội”[18,171]
1.1.2 Đặc trưng của thể loại phóng sự
Trong sáng tác cũng như tiếp nhận, việc tìm hiểu và nắm bắt được đặc trưng của thể loại là một yêu cầu cần thiết có tính chất tiền đề quan trọng Với thể loại phóng sự, sở dĩ nó tồn tại thành một thể loại độc lập bên cạnh các thể loại văn học khác là bởi nó mang những đặc trưng có tính đặc thù Việc tìm hiểu những đặc trưng của thể loại phóng sự sẽ giúp người sáng tác chủ động phát huy những sức mạnh, ưu thế của nó để tạo ra những trang viết giàu giá trị, phản ánh một cách chính xác, kịp thời hiện thực xã hội phức tạp, đa dạng Tùy vào quan niệm, góc nhìn, ta có thể nói đến nhiều đặc trưng của phóng sự Trong phạm vi luận văn này chúng tôi chỉ xin lứu ý đến mấy nét đặc trưng sau
1.1.2.1 Tính chân thực
Theo các tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong
cuốn Từ điển thuật ngữ văn học, tính chân thực là khái niệm để chỉ “phẩm
chất tạo nên sức hấp dẫn, thuyết phục của văn học, thể hiện ở sự phù hợp sinh động giữa sự phản ánh của văn học với đối tượng của nó, ở sự thống nhất giữa chân lí nghệ thuật và chân lí đời sống, giữa sự sáng tạo nghệ thuật với tất
yếu lịch sử” [18,232] Như vậy có thể hiểu “thước đo” tính chân thật- một
phẩm chất của tác phẩm văn học là sự khám phá được những nét bản chất cũng như quy luật phát triển của thực tại đời sống
Là một thể loại của ký văn học, tính chất thật của vấn đề được phản ánh
là yêu cầu có tính bắt buộc, là “sứ mệnh” của phóng sự Nhấn mạnh điều này,
tác giả Hoàng Ngọc Hiến trong cuốn Năm bài giảng về thể loại khẳng định:
“Về mặt truyền đạt sự kiện, kí đòi hỏi sự trung thực, sự chính xác” Tính xác thực hể hiện ở chỗ đối tượng phản ánh của phóng sự bao giờ cũng là người thật, việc thật, có địa chỉ cụ thể Ở phương Tây, nội dung phản ánh trong
Trang 19phóng sự đã dược đúc kết thành công thức 6W: What - cái gì đã xảy ra?; Where - xảy ra ở đâu?; When - xảy ra bao giờ?; Who - xảy ra với ai?; Which - xảy ra thế nào?; Why - tại sao lại xảy ra? Sức thuyết phục của một tác phẩm chính là những sự kiện chứa đựng “cái lõi thực” (chữ dùng của nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến).
Đến với phóng sự người ta có thể nhận thức rõ cốt lõi của vấn đề, bản chất của sự việc, hiện tượng mà tác giả đang trình bày trước công luận Mục đích của phóng sự không chỉ là cung cấp cho người đọc những thông tin phong phú, đầy đủ, chính xác nhờ tái hiện đời sống một cách có bề dày, chiều sâu với những “sự thật xác thực, dồi dào, nóng hổi” (Phương Lựu) mà cao hơn là làm thay đổi nhận thức của người đọc về đối tượng phản ánh và kêu gọi cách giải quyết cụ thể
Chính vì đặc trưng này của phóng sự, nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan đã viết: “Ở các nước, người ta thường căn cứ vào những thiên phóng sự có giá trị
để định lại pháp luật, sửa đổi hình phạt, cải tạo xã hội Những thiên phóng sự xứng đáng với cái tên của nó đều có cái chức vụ giúp cho người đời sự đào thải và cải cách Người viết phóng sự chân chính bao giờ cũng là người bênh
vực lẽ phải, bênh vực sự công bình” [45, 505].
1.1.2.2 Tính thời sự
Nói đến tính thời sự là nói đến sự cập nhật và tính chất nóng hổi của thông tin Đây là một trong những đặc trưng quan trọng, không thể thiếu làm nên tính khu biệt của thể loại phóng sự để phân biệt nó với các thể loại văn học nói chung và các loại ký văn học nói riêng như; bút ký, tùy bút, hồi ký, ký sự Chính vì vậy, hiện thực được phản ánh trong phóng sự là những vấn đề đang xảy ra, của bây giờ, của ngày hôm nay, nóng hổi, tươi mới đang thu hút
sự chú ý, quan tâm của dư luận và xã hội Với tính chất cơ động, linh hoạt phóng sự có khả năng tiếp cận nhanh, nắm bắt và phản ánh đối tượng rất kịp thời có thể theo cùng một nhịp vận động và phát triển của câu chuyện
Tính thời sự của phóng sự thường đi liền với tính bức xúc của vấn đề Đối tượng được phản ánh trong phóng sự không phải là những hiện thực đơn thuần, “nhàn nhạt” đã xảy ra truớc đó hoặc đơn lẻ mà là những hiện thực nổi
Trang 20cộm, có vấn đề, hiện thực chứa đựng những mâu thuẫn nổi bật trong xã hội
Do đó phóng sự không chỉ đưa tin, phản ánh những gì đang xảy ra mà trong một phạm vi nhất định đưa ra được những kiến giải, những phương án trả lời trước các vấn đề hiện thực
Những thiên phóng sự nổi tiếng của như: Lục xì, Kỹ nghệ lấy Tây, Cơm
thầy, cơm cô của Vũ Trọng Phụng, Việc làng, Tập án cái đình của Ngô Tất Tố
là những minh chứng sống động cho tính chất thời sự của thể loại phóng sự khi
nó làm sống dậy các vấn đề nhức nhối, nóng hổi của xã hội thực dân nửa phong kiến đương thời Đó là nạn mại dâm, hình thức đĩ điếm nấp dưới vỏ bọc lấy chồng Tây, là cuộc sống bi thảm của những kiếp tôi đòi nơi thành thị, là những
hủ tục tệ hại ở thôn quê Ở các tác phẩm này ta thấy các tác giả không chỉ
“xoáy” sâu và những vấn đề nổi bật, những “ung nhọt” của xã hội với cách đánh giá chính xác có chiều sâu mà còn tổng hợp và khái quát, đụng chạm đến những vấn đề có tính quy luật, tính thời đại, tạo nên sức sống trường tồn cho tác phẩm
1.1.2.3 Tính nghệ thuật
Là một thể loại nằm giữa “lằn ranh” của báo chí và văn học, thể loại phóng sự, bên cạnh việc mang những đặc trưng cơ bản của báo chí còn là những tác phẩm mang tính nghệ thuật Phóng sự không chỉ hấp dẫn người đọc bởi nội dung phản ánh là những vấn đề xã hội nóng bỏng đang thu hút sự quan tâm của dư luận mà còn ở hình thức nghệ thuật biểu đạt của nó, thể hiện
ở kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu, việc sử dụng các biện pháp tu từ và bút pháp
đa dạng, sinh động
Kết cấu trong phóng sự thường được tác giả nhào nặn rất linh hoạt tùy vào nội dung phản ánh và ý đồ sáng tạo của tác giả Có thể là kết cấu cốt truyện, kết cấu chương hồi, kết cấu đan xen, kết cấu đẳng lập, kết cấu theo trật tự thời gian tuyến tính… Nhìn chung, kết cấu của phóng sự thường chặt chẽ, logic, thống nhất hoàn chỉnh, rõ ràng, không cố làm ra li kỳ, ngoắt ngoéo
Ngôn ngữ trong phóng sự là ngôn ngữ chính xác, hàm súc và biểu cảm
Nó không chỉ biểu đạt đúng bản chất của sự việc, hiện tượng trong thời khắc nhất định, bối cảnh cụ thể mà còn có giá trị biểu đạt cao, thực hiện chức năng giao tiếp lí trí có hiệu quả, đồng thời còn biểu đạt chân thực những trạng thái
Trang 21tâm lí của đối tượng được miêu tả và của chính tác giả nhằm tác động đến nhận thức và tình cảm của người đọc Cùng với mục đích đó, trong phóng sự các biện pháp tu từ như: so sánh, tương phản, ẩn dụ, liên tưởng, châm biếm… cũng được sử dụng rộng rãi.
Một trong những thế mạnh của thể loại phóng sự so với các thể loại báo chí khác là việc cho phép sử dụng đa dạng các bút pháp thể hiện: miêu tả, tường thuật kết hợp với nghị luận Nếu như bút pháp miêu tả giúp người đọc cảm nhận, hình dung được sự kiện, con người như đang hiển hiện trước mặt qua những hình ảnh được mô tả thì cách dẫn dắt, tường thuật của tác giả lại giúp cho người đọc tiếp cận với sự kiện theo một tiến trình có hình thành và phát triển Ở những thiên phóng sự sắc sảo, người viết còn kết hợp với nghị luận ở mức độ nhất định theo lối tả - thuật - bình, nhằm bày tỏ chứng kiến, thái độ trước hiện thực khách quan hoặc lí giải, khẳng định vấn đề
Giọng điệu được dùng trong các tác phẩm phóng sự cũng vô cùng phong phú: nghiêm túc, sôi nổi, lắng đọng, giễu cợt, châm biếm, xót xa thương cảm, đầy trách nhiệm… Tất cả những yếu tố về mặt nghệ thuật đã góp phần làm nên sức hấp dẫn của thể loại phóng sự
1.1.2.4 Phương thức phản ánh đời sống qua hư cấu nghệ thuật
Văn hào Nga Macxim Gorki khi trình bày những quan niệm về hoạt động hư cấu trong sáng tạo nghệ thuật đã khẳng định: “Không có hư cấu thì không có và không thể tồn tại được tính nghệ thuật” Nhóm các tác giả Lê Bá
Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học
cũng nhấn mạnh: “Hư cấu là một hoạt động cơ bản của tư duy nghệ thuật, là một trong những khâu có ý nghĩa quyết định của quá trình sáng tạo nghệ thuật” [18,128] Tuy nhiên, ở những phương thức sáng tác và thể loại nghệ thuật không giống nhau thì hư cấu cũng diễn ra với cách thức và mức độ khác nhau
Đối với thể loại phóng sự, mặc dù tính xác thực của đối tượng phản ánh
là điều kiện cốt yếu, nguyên tắc bắt buộc, song ở mức độ nào đó, nghệ thuật
hư cấu vẫn có thể được sử dụng trong quá trình sáng tạo Tuy nhiên mức độ
hư cấu trong phóng sự không phải là hư cấu theo kiểu bay bổng, ngồi một chỗ
Trang 22để tưởng tượng ra mà là hư cấu mang mức độ kỹ thuật, làm mờ nhạt bớt hay
tô đậm thêm sự kiện theo ý đồ tác giả Người viết phóng sự có thể trang điểm,
tô đắp một chút cho nhân vật, cho tình huống hoặc hư cấu những phần mà người đọc không thể nhìn thấy như thế giới nội tâm nhân vật, nhân chứng nhằm làm tăng thêm ý nghĩa xã hội và giá trị nghệ thuật cho tác phẩm
Như vậy, không có sự đối lập mâu thuẫn giữa nội dung phản ánh và phần
hư cấu trong tác phẩm phóng sự Bởi hư cấu trong phóng sự không phải là bịa đặt, thêm thắt vô cớ mà chỉ là để “bồi đắp thêm da thịt” cho hình dạng, nguyên mẫu, cho những sự kiện tiêu điểm khi cần đạt đến trình độ điển hình hóa Đó không phải là tưởng tượng chủ quan của tác giả mà trên cơ sở các tài liệu, chi tiết, sự kiện có thật đã thu thập được, tác giả lựa chọn, sắp xếp,
tổ chức, tái tạo hoặc có thể sáng tạo thêm những chi tiết, hình ảnh nhằm xây dựng những hình tượng nghệ thuật có ý nghĩa khái quát rộng rãi Chính vì vậy, sức tưởng tượng, hư cấu ở chừng mực cho phép đã nâng tầm giá trị của tác phẩm phóng sự
1.1.2.5 Sự xuất hiện của cái tôi trần thuật
Trong phóng sự, “cái tôi trần thuật” đóng vai trò quan trọng Ở các thể
kí báo chí, mặc dù cái tôi trần thuật được xem là một đặc điểm nổi bật nhưng chỉ với thể loại phóng sự cái tôi trần thuật mới được thể hiện một cách có bề dày và có bản sắc nhất Đó là một cái tôi sinh động, có cá tính, đầy logic lí trí; một cái tôi xông xáo vào hiện thực, thâu tóm mọi vấn đề nổi cộm trong hiện thực Cái tôi ấy xuất hiện với tư cách vừa là nhân chứng khách quan, sắc sảo khám phá ra sự kiện, đồng thời cũng là người thẩm định, trình bày, lí giải, kết nối các sự kiện được tác phẩm đề cập tới theo cách nhìn của người trần thuật
Nếu như trong truyện ngắn hay tiểu thuyết, cái tôi chỉ được xem như một thủ pháp nghệ thuật thì trong phóng sự cái tôi lại thường là tác giả Cái tôi - tác giả này xuất hiện với hai vai trò cơ bản Thứ nhất, vai trò người dẫn truyện, có thể xuất hiện trực tiếp với đại từ nhân xưng “tôi” ở ngôi thứ nhất, cũng có thể ẩn mình trong sự kiện để dẫn dắt câu chuyện mà chính mình đã mắt thấy tai nghe Thứ hai là vai trò người định hướng nhận thức cho bạn đọc
Trang 23qua sự lựa chọn sắp xếp các chi tiết, chọn lời nói nhân chứng phù hợp với ý
đồ sáng tạo của mình
Khác với cái tôi trần thuật trong các phóng sự báo chí, cái tôi trần thuật trong phóng sự nghệ thuật, ở một chừng mực nào đó còn sử dụng sức mạnh của cảm xúc thẩm mĩ, thể hiện những suy nghĩ, rung động của mình trong quá trình tiếp cận hiện thực
Dù xuất hiện trực tiếp hay gián tiếp thì sự có mặt của cái tôi trần thuật
- người chứng kiến trong tác phẩm phóng sự không chỉ tăng cường tính xác thực cho đối tượng được miêu tả, khiến cho công chúng luôn tin tưởng rằng
họ đang được tiếp xúc với sự thật mà còn bồi đắp cho hình tượng nghệ thuật thêm phong phú, sinh động Và điều quan trọng nhất mà cái tôi trần thuật trong phóng sự luôn hướng tới là bộc lộ chứng kiến của cá nhân trước những vấn đề của hiện thực, đưa ra những kiến giải, những gợi ý giải pháp nhằm vun đắp cho cuộc sống ngày càng tốt đẹp và tiến bộ hơn Đó chính là giá trị đích thực mà mỗi thiên phóng sự đều cố gắng đạt tới
1.2 Tổng quan về phóng sự Việt Nam giai đoạn 1930-1945
1.2.1 Sự hình thành và phát triển của thể loại phóng sự
Theo nhiều tài liệu nghiên cứu về báo chí truyền thông, thể loại phóng
sự ra đời đầu tiên ở châu Âu vào cuối thế kỷ XIX gắn liền với sự thắng lợi của cuộc đấu tranh vì tự do báo chí kéo dài suốt ba thập kỷ và sự phát triển vượt bậc của tư tưởng dân chủ, tiến bộ của các nước phương Tây
Ở Việt Nam, thể loại phóng sự ra đời muộn hơn Nhận định về thời
điểm xuất hiện của thể loại phóng sự, Giáo trình nghiệp vụ báo chí (tập 2,
Trường tuyên huấn Trung ương I, Hà Nội) khẳng định: “Phóng sự bắt đầu
manh nha từ những tác phẩm có tính chất người thực, việc thực như Hoàng
Lê nhất thống chí” Trong cuốn Đặc sắc văn chương Vũ Trọng Phụng tiến sĩ
Trần Đăng Thao cũng có điểm tương đồng khi cho rằng: “Xét trên phương
diện thể ký thì ngay từ thế kỷ XVIII đã xuất hiện Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ; Thượng Kinh ký sự của Lê Hữu Trác (Thế Kỷ XVIII); Hoàng Lê
nhất thống chí của nhóm Ngô Gia văn phái (Thế kỷ XVIII-XIX)” [62,54] Tạ
Trang 24Ngọc Tấn trong Tác phẩm báo chí lại đưa ra nhận định: “phóng sự xuất hiện
cùng với sự xuất hiện của báo chí” [59,25]
Căn cứ vào các tài liệu nghiên cứu, có thể thấy sự xuất hiện của thể loại phóng sự vào đầu những năm 30 của thế kỷ XX là một hiện tượng đáng chú ý Ngay từ khi mới ra đời, nó đã tồn tại bằng một sức sống tiềm tàng, mãnh liệt và ngày càng phát triển mạnh mẽ với một tốc độ khác thường Hành trình “nảy mầm” và “kết trái” của thể loại tân kỳ, non trẻ này là kết quả của
sự chi phối của rất nhiều yếu tố thúc đẩy, trong đó có những yếu tố chủ quan
rõ bản chất thâm độc và tàn bạo Trên lĩnh vực chính trị, chúng thi hành chính sách cai trị hà khắc dựa trên sức mạnh của bạo lực Chính quyền bản xứ đã phụ thuộc hoàn toàn vào “mẫu quốc” Sự tồn tại của chính thể Nam triều chỉ còn trên danh nghĩa bởi mọi quyền lực chính trị đều nằm trong tay thực dân Pháp Đặc biệt chúng không ngừng chĩa mũi nhọn vào Đảng Cộng sản và các phong trào cách mạng Nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra đã bị chúng dập tắt một cách dã man Những cuộc khủng bố cách mạng hết sức tàn bạo của bọn đế quốc cùng với sự bóc lột tô thuế nặng nề đã đẩy người dân rơi vào thảm cảnh khốn cùng Về văn hóa, bên cạnh việc thi hành chính sách ngu dân, chính quyền thực dân Pháp còn ra sức áp đặt một trật tự hành chính mới, một lối sống mới, tân thời theo kiểu Tây phương Chúng lôi kéo thế hệ trẻ vào các phong trào Âu hóa: vui vẻ trẻ trung, chơi thể thao, thi sắc đẹp… nhằm ru ngủ, đánh lạc hướng, làm cho họ quên đi cái nhục mất nước Lối sống Âu hóa bắt đầu gõ cửa từng nhà Lớp thanh niên học sinh, cùng với những ông thông, ông phán, anh bồi, bác bếp… cũng từng bước làm quen với lối sống Âu hóa
Ở nông thôn thực dân Pháp thi hành một loạt các cải cách, nhiều chính sách
mị dân: phục cổ, duy trì thuần phong mỹ tục… nhằm làm cho nhân dân chìm
Trang 25trong u tối, lạc hậu để dễ bề cai trị Song đằng sau cái vỏ bề ngoài cũ kỹ, thành trì nông thông cũng bị “chao đảo, lung lay”, trước sự tấn công từ nhiều phía và sự quyến rũ của thành thị và thương mại Cuộc sống trong khuôn khổ luân thường đạo lý bị phá vỡ Nền tảng đạo đức luân lý gia đình phong kiến rạn nứt không chỉ ở thành thị mà còn xuất hiện sau lũy tre làng Bao nhiêu tệ nạn xã hội như một trận cuồng phong dữ dội thổi đến làm băng hoại nhiều giá
rị đạo đức của con người Bao lề thói nề nếp cũ cũng bị cuốn theo Trong xã hội, cùng một lúc xuất hiện nhiều hệ tư tưởng: tư tưởng phong kiến bảo thủ, trì trệ và tư tưởng tư sản với những quan niệm về đề cao cá nhân con người,
tự do và dân chủ dẫn đến những xung đột mâu thuẫn về tâm lý, về quan niệm sống giữa nề nếp truyền thống và văn minh Tây Âu
Có thể nói cả xã hội rơi vào một tình trạng bi đát, đảo điên Trong lòng
nó chất chứa những mâu thuẫn với bao nhiêu bất công ngang trái, bao nhiêu
sự kiện bi hài đầy kịch tính Hiện thực xã hội bức xúc đó trở thành đề tài cho văn học “mổ xẻ” Song không phải thể loại văn học và báo chí nào cũng có thể chuyển tải được một cách nhanh nhất cuộc sống bề bộn đang diễn ra Sự thiếu hụt đó đòi hỏi phải được bù đắp bằng một phương thức chuyển tải thông tin mới Và phóng sự - “một thể loại văn học - báo chí đặc biệt, ra đời trong
hoàn cảnh đặc biệt đó” [38,5] Bằng “một lối văn như là ký sự, trào phúng
như văn châm biếm, tình cảm người ta như văn tiểu thuyết, mà trong đó lại bao gồm tất cả lối bút chiến về việc, nói tóm lại dùng cái lối tạo nên một chỉnh thể linh hoạt: thể phóng sự” [45,519] Chính khả năng phản ánh người thực, việc thực, đặc biệt là khả năng phơi bày, điều trần một cách chính xác
và kịp thời “những vỉa tầng cuộc sống”, những mặt trái, những tệ nạn xã hội… phóng sự đã đáp ứng được nhu cầu khám phá mắt bắt thông tin một cách cập nhật của một tầng lớp đông đảo công chúng độc giả mới, có thị hiếu thẩm mỹ mới, tạo ra được một môi trường dư luận rộng rãi
Như vậy, xã hội Việt Nam những năm 30 của thế kỷ XX thực sự là mảnh đất màu mỡ cho thể loại phóng sự phát triển Và thể loại này đã nhanh chóng trở thành thể văn xung kích trong việc “xoáy sâu” vào những vấn đề xã hội nóng bỏng, nổi cộm đang diễn ra trong đời sống xã hội lúc bấy giờ Sự
Trang 26phát triển đó được đánh dấu bằng việc “trình làng” của một loạt các thiên
phóng sự có giá trị: Cạm bẫy người, Kỹ nghệ lấy Tây, Cơm thầy cơm cô… của Vũ Trọng Phụng; Tập án cái đình, Việc làng của Ngô Tất Tố; Thanh
niên trụy lạc của Nguyễn Đình Lạp; Tàn đèn dầu lạc của Nguyễn Tuân, Hà Nội lầm than của Trọng Lang… Tất cả đã làm nên sự đa dạng, phong phú cho
đời sống văn học đồng thời đáp ứng được yêu cầu của độc giả lúc bấy giờ
1.2.1.2 Sự phát triển mạnh mẽ của báo chí
Sự “đơm hoa”, “kết trái” của phóng sự Việt Nam 1930-1945 không chỉ được nhìn nhận như là kết quả tất yếu của những biến động dữ dội trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa mà còn là kết quả của sự phát triển như vũ bão của báo chí, của những tiến bộ về khoa học kỹ thuật trong ngành in và cả những ảnh hưởng của phóng sự nước ngoài
Theo nhiều tài liệu nghiên cứu, từ cuối thế kỷ XIX ở Việt Nam đã có một hệ thống các nhà in hỗ trợ đắc lực cho các nhà xuất bản thời ấy như Tân Dân, Hàn Thuyên, Minh Đức… Các phương tiện in ấn hiện đại được nhập từ phương Tây thay thế cho lối khắc in bằng mộc bản thô sơ đã góp phần thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của báo chí nước nhà Nếu như “năm 1865 cả
nước ta chỉ có một tờ Gia Định báo thì đến năm 1922 cả nước đã có 96 tờ báo, tạp chí, tập san Năm 1925: 121 tờ; năm 1929: 153 tờ…[60,31] Trần Đăng Thao trong cuốn Đặc sắc văn chương Vũ Trọng Phụng đã có thống kê
về số lượng báo chí xuất hiện trong thời kỳ Mặt trận dân chủ Đông Dương:
“Năm 1937: đã phát hành 110 nhật báo, 159 kỷ yếu và tạp chí Năm 1938: số nhật báo tăng tới 128 tờ với 160 kỷ yếu và tạp chí Năm 1939: 120 nhật báo,
Trang 27về Việt Nam thực hiện nhiều cải cách trong việc áp dụng lối viết báo và cách trình bày báo hiện đại ở châu Âu với cách hành văn gọn gàng, trong sáng Việc tiếp thu được những tư tưởng tiến bộ từ các tâm thư nhập ngoại trong đó đặc biệt là một số tác phẩm phóng sự nổi tiếng của châu Âu và Trung Quốc
như: Mười ngày rung chuyển thế giới của Giôn Rít, Khói lửa của Hăngri Bácbuýt; Viết dưới giá treo cổ của Giuliut Phuxích, Đông Dương Cấp cứu
của Ăngdre Violit… đã “gợi ý” cho đội ngũ ký giả Việt Nam những cách làm báo, viết văn theo lối mới đầy sáng tạo Nhiều thể loại báo chí mới theo phong cách hiện đại châu Âu ra đời như phỏng vấn, bình luận, điều tra… Với lối viết tôn trọng sự kiện và phơi bày sự thật, báo chí đã dần dần thoát khỏi tình trạng thiên lệch về văn chương trước đó Sự xuất hiện trên báo chí một số thể loại có sự dung hòa giữa thông tin và thẩm mỹ trở thành nền tảng cho sự
ra đời của phóng sự Và phần lớn nhà văn, nhà báo thời ấy đã nhận thấy phóng
sự là một thể loại thông tin đắc dụng để tái tạo hiện thực ngổn ngang bề bộn, những sự thật nhức nhối xung quanh một cách nhanh nhất nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của độc giả cũng như giải tỏa được những ẩn ức của chính mình
Có thể nói, nhu cầu sáng tạo và chia sẻ về một hiện thực mới, muôn phần phức tạp những năm 30 của các ký giả đã làm nảy sinh một thể loại văn học đắc dụng: thể phóng sự Chính vì thế, phóng sự đã trở thành một thể loại nòng cốt, chủ công trên các mặt báo, thu hút sự sáng tạo của nhiều nhà văn, nhà báo đương thời
Lịch sử phát triển 15 năm của thể loại phóng sự Việt Nam (1930 - 1945)
đã cho thấy sự ra đời, phát triển và thăng hoa của thể loại này về cả số lượng
và chất lượng là kết quả tất yếu của những biến động lịch sử, sự phát triển mạnh mẽ của báo chí cũng như sự giao lưu văn hóa với các nền văn học và báo chí trên thế giới Và phóng sự đã góp phần thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ của công chúng độc giả đồng thời cũng làm nên tên tuổi của nhiều phóng sự gia với những tác phẩm phóng sự để đời
1.2.2 Bức tranh chung về phóng sự Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945
Với tư cách là “lối văn hoàn toàn mới mẻ ở nước ta” [44] Phóng sự Việt Nam ngay từ khi mới ra đời đã tồn tại và phát triển bằng một sức sống
Trang 28mãnh liệt Kể từ sau sự ra đời của Tôi kéo xe của Tam Lang Vũ Đình Chí -
được xem là sự mở đầu cho thể loại văn học mới này, cả một cao trào phóng sự
nở rộ khắp trong Nam, ngoài Bắc Có thể nói chưa bao giờ phóng sự lại có tốc
độ phát triển mạnh mẽ như giai đoạn này Chỉ trong vòng 15 năm, các nhà văn, nhà báo đã liên tiếp cho ra đời một khối lượng phóng sự đồ sộ Theo tập hợp của các tác giả Phan Trọng Thưởng, Nguyễn Cừ, Nguyễn Hữu Sơn thì: “Chỉ riêng thời kỳ này đã có sự góp mặt của 63 tác giả với hơn 120 tác phẩm phóng sự” [7,14] Với những gì lịch sử còn lưu lại được về thể loại phóng sự ở thời
kỳ này, chúng ta có thể khẳng định thể loại phóng sự đã đạt đến “thời đại hoàng kim” của nó trên cả hai phương diện nội dung phản ánh và hình thức biểu hiện
1.2.2.1 Về nội dung
Ra đời trong hoàn cảnh lịch sử đầy biến động, phóng sự Việt Nam 1930
- 1945 về cơ bản đã tái hiện được bức tranh xã hội đương thời với đầy đủ những gam màu của nó Có thể nói thể loại phóng sự giai đoạn này chứa trong
nó cả một kho tư liệu dồi dào về xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX Mọi khía cạnh đời sống cũng như không khí xã hội được phản ánh một cách chân thực Khảo sát những tác phẩm phóng sự ưu tú của giai đoạn này có thể thấy hiện thực cuộc sống trên cả bề rộng lẫn tầng chìm, lộ hình và khuất lấp đều được các tác giả “săn tìm”, “mổ xẻ” và “phanh phui” trước công luận Đặc biệt, trong thời kỳ Mặt trận dân chủ (1936 - 1939), báo chí tự do phát triển, phóng
sự được mặc sức thả mình vào thế giới hiện thực, tung hoành trước các vấn
đề bức xúc, nóng bỏng của xã hội Hệ thống đề tài được mở rộng, các nhà văn, nhà báo đi sâu vào nhiều mảng hiện thực khác nhau của đời sống: viết
về cuộc sống lầm than, lam lũ của những kiếp người dưới đáy xã hội ( Cơm
thầy, cơm cô - Vũ Trọng Phụng; Tôi kéo xe của Tam Lang); về những tệ nạn
xã hội cùng với lối sống buông thả, sa đọa nơi thành thị (Cạm bẫy người, Kỹ
nghệ lấy Tây, Lục sì - Vũ Trọng Phụng, Thanh niên trụy lạc của Nguyễn
Đình Lạp, Tàn đàn đầu lạc của Nguyễn Tuân…), những cảnh khốn cùng ở chốn làng quê (Việc làng, Tập án cái đình của Ngô Tất Tố; Một huyện ăn tết
- Vũ Trọng Phụng, Trọng Lang với Làm dân, Cường hào của Nguyễn Đình
Trang 29Lạp…) Mảng hiện thực cách mạng với những cảnh lao tù, khổ sai nhưng
đầy ý chí cách mạng cũng được quan tâm phản ánh (Ngục Kon Tum của Lê Văn HIến, Đảo Côn Lôn của Nguyễn Đức Chính, Khám lớn Sài Gòn của
Phạm Văn Hùm)
Trong đó nổi bật hơn cả là những trang viết về cuộc sống nơi đô thị Những tác phẩm viết về đề tài này không những chiếm số lượng tác phẩm nhiều hơn cả (bởi đô thị là nơi diễn ra những thay đổi nhanh chóng và sâu rộng nhất về mọi mặt xã hội) mà quan trọng hơn nó chứa đựng sự chân xác về
tư liệu, nắm bắt được cái “thần” của xã hội thị thành Việt Nam vào buổi Á -
Âu lẫn lộn, thực - giả đảo điên Đó là những tệ nạn xã hội trầm trọng đang tràn lan như một thứ “đại dịch”: mại dâm, cờ bạc, hút xách cũng như lối sống
sa ngã của một bộ phận thanh niên; là sự tha hóa của những người theo con đường di dân kiếm sống từ nông thôn ra thành thị; là cuộc sống vất vả, cơ cực, cay đắng của một tầng lớp người sống dưới đáy xã hội mưu sinh bằng đủ
những nghề vất vả chốn Ngoại ô… Tất cả như là lời cảnh báo về một xã hội
đang băng hoại về lối sống và đạo đức Chính việc tập trung mô tả, phơi bày những ung nhọt của xã hội thị thành lúc bấy giờ đã làm nên giá trị hiện thực sâu sắc cho các thiên phóng sự thời kỳ này
Trong khi tái hiện nguyên hình những “vỉa quặng sự thật” của cuộc
sống bị chìm lấp hay bóc trần, phanh phui những căn bệnh trầm kha trong xã hội, một điều dễ nhận thấy trong phóng sự Việt Nam giai đoạn này là các tác giả không ngần ngại bộc lộ rõ thái độ, chính kiến của mình Chính vì thế, người đọc nhận ra đằng sau những trang viết về những hủ tục đè nặng lên vai những người dân nghèo khổ ở thôn quê, hay những tệ nạn nhức nhối của xã hội thị thành là tấm lòng nhân ái của nhà văn Ấy là nỗi xót thương chia sẻ, là nỗi cảm thương cho những kiếp người đã và đang bị cuốn theo những vòng xoáy của một trật tự điên đảo Đồng thời đó còn là tiếng nói tố cáo mạnh mẽ bộ mặt tàn bạo, dã man của thực dân Pháp khi đẩy người dân đến thảm cảnh khốn cùng
Lấy hơi thở của hiện thực làm nhựa sống cho những sáng tạo của mình, bản thân bức tranh xã hội được phóng sự phản ánh đã là một sự tố cáo Nhưng các tác phẩm phóng sự không dừng lại ở việc mô tả, phản ánh một
Trang 30cách khách quan mà các tác giả phóng sự còn đi sâu truy tìm nguyên nhân của thực trạng, đào xới căn nguyên của những vấn đề nổi cộm trong xã hội để từ
đó gợi ý những giải pháp thiết thực Khi lý giải nguyên nhân khiến cho nhiều
thiếu nữ trở thành gái mại dâm, Vũ Trọng Phụng trong phóng sự Lục sì đã chỉ
ra: “Sự khao khát về học hành, sức cám dỗ của những nghề nghiệp mới đã đưa dắt số đông thiếu niên đến nơi phồn hoa đô hội để thoát khỏi những luân
lí gia đình, sự say sưa cách làm giàu dễ dàng, dễ hưởng thụ mọi cách ăn chơi của thành phố Tây, sự vô cai quản của bố mẹ” Đó cũng chính là lí do dẫn đến lối sống buông thả, sa đọa của tầng lớp thanh niên trong xã hội lúc bấy giờ Ngô Tất
Tố thấy được nỗi thống khổ cả những người nông dân ở chốn làng quê là do những hủ tục quái gở chồng chất lên đôi vai của họ Cũng như nhiều nhà văn hiện thực phê phán cùng thời, các tác giả phóng sự chưa chỉ ra được con đường đấu tranh tự giải phóng mình cho người lao động để thoát khỏi những vũng bùn của xã hội Song bằng việc dựng lên được bức tranh xã hội chân thực, đen tối đương thời các nhà văn, nhà báo đã gióng lên một hồi chuông cảnh tỉnh lương tri con người, cảnh tỉnh xã hội Ý nghĩa xã hội nhân sinh to lớn đó đã làm nên sức sống trường tồn cho các tác phẩm phóng sự 1930-1945
1.2.2.2 Về nghệ thuật
Như đã trình bày ở trên, sự phát triển rực rỡ của thể loại phóng sự Việt Nam 1930-1945 không chỉ ở giá trị về nội dung phản ánh hiện thực mà còn ở nghệ thuật biểu hiện độc đáo, đa dạng
Theo tác giả Lê Dục Tú, cái làm nên “sức hấp dẫn mãnh liệt” của các tác phẩm phóng sự 1930-1945 là ở “nghệ thuật viết phóng sự” thể hiện trên các phương diện: nghệ thuật phát hiện và khám phá hiện thực; sự kết hợp giữa chất báo chí và chất tiểu thuyết; nghệ thuật châm biếm và sử dụng ngôn ngữ
Sự khái quát này của tác giả là khá xác đáng và tin cậy, cơ bản nhận được sự thống nhất đồng tình của nhiều nhà nghiên cứu khi tìm hiểu thành tựu nghệ thuật của phóng sự thời kỳ này
Trước hết phải nói tới khả năng khám phá và khai thác hiện thực Các cây bút phóng sự thời kỳ này đã xông xáo, sáng tạo tiếp cận hiện thực từ nhiều góc độ và khoảng cách khác nhau Để thâu tóm được một cách sâu sắc
Trang 31và toàn diện hiện thực, mỗi tác giả lại có một cách tiếp cận riêng: tiếp cận hiện thực từ mặt trái xã hội, từ đặc trưng nghề nghiệp, công việc, từ những mối quan hệ đa chiều, đan xen với những góc nhìn hiện thực khi cận cảnh, chi tiết khi tiếp cận bằng bức tranh toàn cảnh, bao quát vấn đề Tiêu biểu cho nghệ thuật tiếp cận hiện thực đa dạng là cây bút phóng sự Vũ Trọng Phụng Trong các tác phẩm của mình “ông vua phóng sự đất Bắc” đã cho thấy khả năng tác nghiệp ở trình độ cao khi tiếp cận hiện thực dưới góc độ kỹ năng, kỹ nghệ để khám phá bao điều bí ẩn trong ngón nghề bịp của một làng bạc
chuyên nghiệp, cao tay (Cạm bẫy người) hay khám phá rằng “lấy Tây” không
những là một nghề đáp ứng nhu cầu xã hội mà còn là một nghề “danh tiếng”
có các thế hệ nối tiếp nhau (Kỹ nghệ lấy Tây).
Lối tiếp cận hiện thực từ mặt trái xã hội hay hay theo kiểu đi sâu khai thác bản chất vấn đề của một nghề, một “kỹ năng hành nghề” là lối tiếp cận mang lại giá trị nghệ thuật sâu sắc cho các tác phẩm phóng sự của Vũ Trọng Phụng cũng như nhiều tác phẩm phóng sự đương thời
Bên cạnh đó, sự tham gia của nhiều yếu tố nghệ thuật của tiểu thuyết đan xen trong phóng sự - một thể loại báo chí, từ phương diện xây dựng nhân vật, cốt truyện, tổ chức tình huống, dẫn dắt tình tiết, vấn đề… cũng làm nên nét đặc sắc, sức hấp dẫn của các tác phẩm phóng sự thời kỳ này Những thiên phóng sự của Nguyễn Đình Lạp, Tam Lang, Trọng Lang, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố… tạo được sự lôi cuốn mạnh mẽ đối với người đọc bởi nó không chỉ xây dựng được một hệ thống nhân vật đông đảo (có những nhân vật mang màu sắc điển hình) các sự kiện có tính thời sự mà còn xây dựng được nhiều tình huống bất ngờ, hấp dẫn Những tình huống ngẫu nhiên, tình huống ngược đời, tình huống cãi lộn… xuất hiện đa dạng, phong phú trong phóng sự của
Vũ Trọng Phụng không chỉ giúp người đọc nhận ra những nhố nhăng, đen tối, đồi bại của xã hội đương thời mà còn hướng người đọc tìm đến một cuộc sống khác đúng nghĩa, tốt đẹp hơn
Ngoài ra, nghệ thuật trào phúng và sự tài hoa trong việc sắp xếp câu chữ, sử dụng ngôn từ, giọng điệu cũng góp phần không nhỏ làm nên sự thành công về nghệ thuật của phóng sự Việt Nam thời kỳ này
Trang 32Nhìn lại chặng đường phát triển 15 năm của thể loại phóng sự Việt Nam (1930-1945), ta có thể khẳng định tuy là một thể loại còn non trẻ nhưng phóng sự đã nhanh chóng tạo được một vị trí xứng đáng trong đời sống văn học và báo chí đương thời Với thế mạnh của mình, các tác phẩm phóng sự đã len lỏi vào mọi ngóc ngách của cuộc sống, phản ánh một cách kịp thời và đầy
đủ mọi khía cạnh của đời sống xã hội trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động Đồng thời phóng sự Việt Nam 1930-1945 cũng đã ghi dấu tên tuổi của nhiều nhà phóng sự nổi tiếng Ngô Tất Tố và Vũ Trọng Phụng là hai đại diện tiêu biểu Các tác phẩm phóng sự của các ông không chỉ có những đóng góp
to lớn trong việc hoàn thiện hình thức thể loại mà còn đưa thể loại phóng sự phát triển bắt nhịp cùng thời đại góp phần quan trọng vào quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam nửa đầu thể kỷ XX
1.3 Vai trò của phóng sự Ngô Tất Tố và Vũ Trọng Phụng đối với phóng sự Việt Nam giai đoạn 1930-1945
Trong bức tranh chung của phóng sự Việt Nam 1930 - 1945, Ngô Tất
Tố và Vũ Trọng Phụng là hai cây bút nổi bật Tuy không phải là những người
“mở đường” cho thể loại phóng sự song cả hai nhà văn bằng sự tìm tòi và sáng tạo, tài năng và tâm huyết đã sớm khẳng định được phong cách độc đáo,
vị trí xứng đáng của mình ở một thể loại văn học non trẻ Thành công ở thể loại phóng sự không chỉ tạo nên sự phong phú đa dạng cho văn nghiệp của tác giả mà còn góp phần khẳng định sự phát triển của thể tài này trong nền văn học Việt Nam đương đại
Nhìn lại quá trình hình thành và phát triển của thể loại phóng sự Việt Nam từ những năm 30 của thế kỷ XX đến nay, đặc biệt là giai đoạn 1930-
1945, với những đóng góp của mình, Ngô Tất Tố và Vũ Trọng Phụng đã có được những chỗ đứng riêng, đặc biệt được đánh giá ở những vị trí nổi bật và danh dự nhất
1.3.1 Ngô Tất Tố - Cây bút phóng sự bậc thầy
Ngô Tất Tố sinh năm 1893 tại làng Lộc Hà, huyện Từ Sơn, nay là xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội Ông xuất thân trong một gia đình nhà Nho nghèo, ông nội nhà văn từng lận đận đến bảy khóa thi Hương mới đậu
Trang 33đến tú tài, ông thân sinh sáu lần “lều chõng” cùng chẳng đỗ đạt gì đành cam phận làm thầy đồ trong làng tổng Bản thân Ngô Tất Tố, 22 tuổi đã đỗ đầu xứ trong một
kỳ khảo hạch ở địa phương song vẫn trắng tay sau hai lần “lôi thôi sĩ tử”
Thuộc thế hệ nhà Nho cuối mùa, trực tiếp sống “trong rừng Nho”, chứng kiến cảnh suy tàn của nền Hán học, và từ thực tế “lều chõng” của mình, Ngô Tất Tố hiểu rõ sự mục ruỗng của chế độ khoa cử phong kiến, sự lỗi thời, bất lực của bọn hủ nho Vì sự thức thời ấy mà trong khi những nhà Nho cùng thế hệ với mình đang ngơ ngác tụt lại phía sau thì Ngô Tất Tố đã nhanh chóng bứt vươn lên, vứt bỏ bút lông cầm lấy bút sắt bước vào nghề viết báo, viết văn như những cây bút “Tây học” đương thời, thậm chí “theo kịp cả những nhà văn thuộc phái tân học xuất sắc nhất” như nhà văn Vũ Ngọc Phan từng đánh giá
Xuất thân cựu học nhưng không hề bảo thủ, lại được tắm mình trong một hoàn cảnh lịch sử đầy biến động, nên khi Cách mạng tháng Tám thành công, Ngô Tất Tố đã chân thành chào đón rồi hồ hởi tham gia hội văn hóa cứu quốc, gia nhập Đảng Cộng sản, lên chiến khu Việt Bắc tích cực sáng tác phục
vụ cách mạng, phục vụ kháng chiến Ông đã tìm thấy sức mạnh cho ngòi bút của mình khi hòa vào con đường đấu tranh chung của dân tộc, và đã đem hết tài năng và tâm lực để phụng sự nhân dân cho đến hơi thở cuối cùng Ngô Tất
Tố mất vào ngày 20-4-1951 tại Yên Thế, Bắc Giang
Gần ba mươi năm miệt mài cầm bút bằng đam mê và tâm huyết, Ngô tất
Tố đã để lại một sự nghiệp văn chương đồ sộ và phong phú Mở đầu sự nghiệp
bằng tác phẩm dịch Cẩm hương đình (1923) và khép lại với vở chèo mười cảnh
Nữ chiến sỹ Bùi Thị Phác (1951), Ngô Tất Tố đã thể hiện một tài năng đa dạng
trên nhiều phương diện: khảo cứu, dịch thuật, viết văn, viết báo… ở nhiều thể loại
sáng tác: từ những công trình dịch thuật (Đường thi, Hoàng Lê nhất thống chí,
Ngô Việt xuân thu, Trời hửng…), khảo luận nghiên cứu (Phê bình “Nho giáo” của Trần Trọng Kim, Mặc tử, Lão tử, Văn học thời Lý, Văn học thời Trần), đến
truyện ký lịch sử (Gia đình Tổng trấn tả quân Lê Văn Duyệt, Vua Hàm Nghi với
kinh thành thất thủ ), đặc biệt là thành công ở thể loại tiểu thuyết và phóng sự
(Tắt đèn, Việc làng, Tập án cái đình, Lều chõng, Trong rừng Nho).
Trang 34Tiểu thuyết Tắ đèn ra đời năm 1939 là một trong những tác phẩm xuất
sắc nhất của Ngô Tất Tố và cũng là tác phẩm xuất sắc viết về nông thôn Việt Nam trước Cách mạng: “một cuốn tiểu thuyết có luận đề xã hội… hoàn toàn phụng sự dân quê, một áng văn có thể gọi là kiệt tác, tòng lai chưa từng thấy” theo đánh giá của Vũ Trọng Phụng Trên lĩnh vực báo chí, với nhiều bút danh như: Phó Chi, Thôn Dân, Thiết Khẩu Nhi, Lộc Hà, Xứ Tố, Lộc Đình, Thục Điểu, Đạm Hiên, Thuyết Hải, Hy Cừ, Xuân Trào… Ngô Tất Tố đã viết hết mình, chiến đấu hết mình và để lại hàng trăm bài tiểu phẩm có giá trị
Vượt lên mọi sự sàng lọc khắc nghiệt của thời gian, khối trước tác khổng lồ và đa dạng của Ngô Tất Tố ngày càng hiện lên lừng lững với nhiều
vẻ đẹp, “sống khỏe mạnh và sắc sảo trong văn học ta” (Nguyễn Tuân) Vẻ đẹp
tự thân của các tác phẩm đó không chỉ khẳng định tài năng, nhân cách Ngô Tất Tố mà còn xác định vị trí xứng đáng của ông trong nền văn học dân tộc
Viết về Ngô Tất Tố, trong Những đoạn hồi ức, Vũ Bằng đã khẳng
định: “Ngô Tất Tố quả là một tài văn, có được một chỗ ngồi trong văn học sử quả là xứng đáng, chớ không phải do sự tình cờ hay may mắn khiến nên Nói thực từ đáy lòng tôi, riêng tôi nghĩ rằng trong tất cả các nhà văn tôi được hân hạnh quen biết, không có một nhà Nho thuần túy nào mà lại viết được đủ các mặt như Ngô Tất Tố… Chẳng thiếu một bộ môn gì Ngô Tất Tố không “sống”
mà bộ môn nào cũng khá nếu không nói là “trội”
Trong đó có thể nói phóng sự là thể loại đạt được nhiều thành công “Là một tay ngôn luận xuất sắc trong đám nhà nho” (Vũ Trọng Phụng), ở thể loại báo chí giàu chất văn học này, Ngô tất Tố đã nhanh chóng khẳng định được lập trường, bản lĩnh và tài năng của mình qua một loạt các tác phẩm có giá trị
Năm 1935, ông viết phóng sự Dao cầu thuyền tán đăng trên báo Công
dân Ngòi bút của ông đã không ngần ngại đã kích bọn lang băm bịp bợm,
vừa làm thuốc vừa làm chủ nhà săm vừa cho thuê đòn đám ma, đồng thời phanh phui tất cả những ung nhọt khác của xã hội
Năm 1939, ông cho in phóng sự Tập án cái đình trên báo Con ong và một năm sau, 1940, đăng phóng sự Việc làng trên Hà Nội tân văn Với hai tập
phóng sự này, Ngô Tất Tố thực sự là nhà báo hiểu biết sâu sắc về đời sống
Trang 35nông dân với biết bao nhiêu nỗi vất vả, cơ cực Thành công lớn nhất của Ngô Tất Tố ở các tác phẩm phóng sự này là đã góp phần hoàn thiện bức tranh hiện thực trong văn học về đời sống người nông dân, đem đến cho bạn đọc một cái nhìn chân xác nhất về thực trạng của nông thôn Việt Nam trước Cách mạng
Nhận định của Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại đã chứng minh điều đó:
“Những tập phóng sự và tiểu thuyết phóng sự của ông về người dân quê, người ta phải công nhận là những tập có giá trị về tài liệu, đầy đủ về sự xác thực Ngô Tất Tố là nhà văn của hạng dân cày nghèo và dốt” [45,530]
Sinh ra và lớn lên ở một vùng quê nghèo khổ, sống giữa những cuộc đời khốn khổ vì sự bủa vây của đói khát, hủ tục, bóc lột, Ngô Tất Tố thấu hiểu sâu sắc về cuộc sống của những người nông dân quanh năm bán mặt cho đất, bán lưng cho trời mà vẫn đói nghèo, tủi nhục Gia đình của ông cũng là một gia đình nông dân thiếu ruộng phải lãnh ruộng làng để canh tác Chính vì thế Ngô Tất Tố đã vượt qua bức tường ngăn cách của ý thức hệ để đến với người nông dân, nhanh chóng khẳng định chỗ đứng của mình là đứng về phía người dân lao động đối lập với giai cấp địa chủ, phong kiến Với lập trường đúng đắn, phương pháp miêu tả thực tế một cách khách quan, những phóng sự ra đời dưới ngòi bút của là những bức tranh chân thực nhất về nông thôn Việt Nam mà mỗi tác phẩm là một nhát cắt tiêu biểu Đó là một nông thôn xa lạ được tô vẽ, đầy
thơ mộng trong các tác phẩm văn học lãng mạn Việc làng và Tập án cái đình
đã vạch ra thực tế thối nát, xấu xa ở nông thôn Thực ra cái thế giới thơ mộng
đó là thế giới đầy những hủ tục trong đó bọn cường hào địa chủ ra sức bóc lột
và áp bức nhân dân còn đời sống người dân thì lầm than, cơ cực
Nét đặc sắc của ngòi bút phóng sự Ngô Tất Tố là đã chỉ ra cùng với sưu cao, thế nặng và cho vay nặng lãi… người dân quê đang phải quằn quại, điêu đứng dưới sự hành hạ của những gánh hủ tục nặng nề, vô lối… Những nghi lễ cổ hủ, những tục thờ thành hoàng làng quái gở, tục vào ngôi để có miếng ăn giữa làng, hay những cách thờ cúng cầu kỳ, tốn kém… đang đẩy người dân đến những thảm cảnh khốn cùng Nhiều người mất cả cơ nghiệp dành dụm, chắt chiu cả đời vì “một đám vào ngôi” hay “hạt gạo xôi mới”, vì
lo “một cỗ oản tuần sóc”, người ta giữa trận mưa giông phải dỡ cả gian nhà
Trang 36đang trú thân ra bán, để lo một bữa lệ làng làm đám tang cho vợ, phải gánh một “món nợ chung thân”, vì “một tiệc ăn vạn”, có người phải thắt cổ tự
vẫn… Ngô Tất Tố đã miêu tả cặn kẽ, thấm thía mọi khía cạnh của Việc làng ở
chốn hương thôn bằng sự hiểu biết, sự cảm thông và chia sẻ Ẩn đằng sau mỗi câu chuyện, mỗi cuộc đời là sự đồng cảm, cả nỗi xót xa đau đớn mà ông dành cho người dân quê
Không dừng lại ở việc phản ánh, ngòi bút giàu tính chiến đấu của ông còn ráo riết đi sâu, phanh phui, lý giải, vạch rõ cho mọi người thấy chính bọn, địa chủ cường hào ở nông thôn là những thủ phạm đã cố ý duy trì và còn đặt
ra nhiều tục lệ phiền phức khác để trói buộc, bóc lột và đục khoét dân lành Điều đáng nói là Ngô Tất Tố đã vạch ra sự thối nát của hủ tục và những thủ đoạn bẩn thỉu của bọn đại diện cho chế độ thực dân phong kiến ở nông thôn vào đúng thời điểm thực dân Pháp đang ra sức hô hào, khuyến khích phong trào phục cổ, “bảo tồn quốc túy” Chính sự quan tâm, phản ánh những vấn đề nóng bỏng mang tính thời sự đó đã làm nên giá trị thiết thực, tính chiến đấu cho những tác phẩm phóng sự của ông Tiếng nói nghệ thuật của Ngô Tất Tố
ở các tác phẩm phóng sự đã đáp ứng thiết thực những vấn đề cấp thiết trong đời sống cách mạng của dân tộc Phóng sự của Ngô Tất Tố không chỉ chứa đựng nội dung hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc mà còn thể hiện nghệ thuật viết phóng sự ở một trình độ già dặn Các thiên phóng sự của ông thường được dẫn dắt bởi nghệ thuật trần thuật hấp dẫn, cách kết cấu giản dị nhưng chặt chẽ với một thứ ngôn ngữ đa dạng, giàu hình ảnh, cảm xúc Ngoài
ra, ta còn nhận thấy ở phóng sự của Ngô Tất Tố có sự đan xen của nhiều yếu tố nghệ thuật của tiểu thuyết trong cách tạo ra sự kết dính các sự kiện, các tư liệu
xung quanh một cốt truyện, một chủ đề Mỗi chương của Tập án cái đình và Việc
làng là một câu chuyện bi thảm, một lời chế giễu của tác giả nhưng lại được kết
dính theo một chủ đề chung trong không gian “làng” rộng lớn và có một hệ thống
nhân vật tương ứng Các nhân vật trong Việc làng hiện lên khá sinh động từ dáng
điệu đến lời nói không ai giống ai nhưng lại là khuôn mặt chung của những người nông dân Việt Nam hiền lành, nhẫn nhục, cơ cực, khốn khổ oằn lưng gánh chụi những hủ tục “mọi rợ” chốn đình trung Với khả năng khám phá và khai thác hiện
Trang 37thực ở trình độ cao cùng nghệ thuật thể hiện già dặn, các tác phẩm phóng sự của Ngô Tất Tố không chỉ lôi cuốn người đọc bao thế hệ mà còn khẳng định vị trí của ông trong nền văn học nước nhà là “một cây bút phóng sự đặc sắc”
Nhìn nhận những đóng góp của Ngô Tất Tố ở thể loại phóng sự, Nguyễn Đức Đàn và Phan Cư Đệ đã khẳng định: “Ngô Tất Tố vốn xuất thân nho học Nhưng đối với một thể loại mới mẻ như thể loại phóng sự, Ngô Tất Tố không tỏ vẻ bỡ ngỡ chút nào Trái lại ngòi bút của ông khi nào cũng vững vàng, chắc chắn, lời văn bao giờ cũng bình dị, sáng sủa và cô
đúc Việc làng đã làm cho tên tuổi của Ngô Tất Tố càng có thêm uy tín
trong làng văn Việt Nam” [21,361]
1.3.2 Vũ Trọng Phụng - “ông vua phóng sự đất Bắc”
Vũ Trọng Phụng sinh năm 1912 tại Hà Nội nhưng chính quê của nhà văn ở làng Hảo, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên Ông xuất thân trong một gia đình nghèo, một thứ “nghèo gia truyền” (lời của Ngô Tất Tố), có bố làm thợ tiện, mất từ khi Vũ Trọng Phụng mới 7 tháng tuổi, mẹ làm nghề khâu vá thuê, khi chồng mất mới 24 tuổi, đã ở vậy nuôi con cho đến khi qua đời Vũ Trọng Phụng lớn lên trong nghèo túng, 15 tuổi đã phải thôi học để đi làm, kiếm sống bằng nhiều nghề khác nhau và cuối cùng chuyển hẳn sang nghề viết văn, làm báo sống chật vật, bấp bênh cho đến cuối đời Ông mất vào ngày 13 tháng
10 năm 1939, vì bệnh lao trong cảnh sống nghèo khổ khi mới 27 tuổi
Đúng như lời nhận xét của Chế Diễm Trâm: “Vũ Trọng Phụng sống ngắn nhưng sống sâu” Chỉ với 27 tuổi đời và ngót mười năm cầm bút ngắn ngủi nhưng cây bút cần mẫn không bao giờ ráo mực - Vũ Trọng Phụng đã để lại một di sản văn học đồ sộ về số lượng, phong phú về thể loại gồm 6 phóng
sự, 8 tiểu thuyết, 29 truyện ngắn, 1 truyện vừa, 6 vở kịch, 2 tác phẩm dịch và nhiều bài báo Điều đáng quý là tác phẩm của Vũ Trọng Phụng không chỉ lớn
về số lượng, mà nói như nhà văn Ngô Tất Tố, đó thực sự là “những tác phẩm đáng khóc, đáng cười”, trong đó có cuốn được gọi là “ghê gớm, có thể làm vinh dự cho mọi nền văn học” (Nguyễn Khải), đưa tên tuổi ông trở thành một trong những nhà văn xuất sắc nhất của văn học Việt Nam thế kỷ XX Thử bút
ở nhiều thể loại nhưng thành công vang dội nhất của Vũ Trọng Phụng phải kể đến tiểu thuyết và phóng sự Đứng trong hàng ngũ những người viết phóng sự
Trang 38tiên phong, Vũ Trọng Phụng không chỉ để lại cho đời sau những tác phẩm có giá trị mà ông còn thẳng thắn, trực tiếp bày tỏ những quan điểm sáng tác của mình Những quan điểm này được tập trung thể hiện ở những bài báo trả lời
các cuộc tranh luận (Chung quanh thiên phóng sự Lục Xì; Để đáp lời báo
ngày nay), qua những bức thư tác giả gửi cho những người bạn (những bức
thư gửi cho vợ chồng nhà giáo Nguyễn Văn Đạm) hay từ những trang viết hồi
tưởng lại những ấn tượng, kỷ niệm khó phai trong đời văn của mình (Một
hành vi bất lương trong nghề phóng sự) Với Vũ Trọng Phụng một tác phẩm
phóng sự phải đi sâu vào phanh phui, mổ xẻ những căn bệnh trầm kha của xã hội, những bất công, oan khổ, đói rét và bệnh tật của loài người Không chấp nhận lối viết tụng ca xuôi chiều hay tô hồng hiện thực, nhà văn yêu cầu phóng
sự phải phản ánh được “những sự thật ở đời”, “phải mổ nó ra, mặc lòng nó bẩn, nó khó chịu cho khứu quan” [48,133] Hơn thế nữa, mục đích cao cả của các phóng sự không chỉ dừng lại ở việc “phô” ra, điều trần những “ô uế”, xấu
xa của cuộc đời mà quan trọng hơn là phải giúp con người “chạy chữa” được những căn bệnh của mình Phóng sự phải tái hiện nguyên hình “những vỉa quặng sự thật” vốn bị chìm lấp hoặc bị che đậy, phải dũng cảm “nói sự thật cho mọi người biết” đồng thời phải kiến giải được những vấn đề của hiện thực đời sống bằng thái độ, bằng chứng kiến, niềm tin và ý chí của mình nhằm thức tỉnh con người về những căn bệnh trầm kha, những thảm cảnh khiến họ ghê sợ mà tìm cách thoát khỏi nó, vươn tới những điều công bằng, lương thiện chứ không thể ru ngủ độc giả bằng “những danh từ điêu trá của
văn chương” [48,133] Bởi thế, cho nên trong bài Để đáp lại báo ngày nay:
Dâm hay không dâm? Vũ Trọng Phụng đã khẳng định: “Lạc quan được, cho
đời là vui, là không cần cải cách, cho cái xã hội này là hay ho, tốt đẹp rồi ngồi
mà đánh phấn bôi môi hình quả tim để đi đua ngựa, chợ phiên, khiêu vũ, theo
ý tôi thế là giả dối, là bị mình lừa mình và di họa cho đời, nếu không phải là
Trang 39những tác phẩm phóng sự đầu tay như Cạm bẫy người, Kỹ nghệ lấy Tây cho đến những phóng sự sau này: Cơm thầy, cơm cô, Lục xì, Một huyện ăn Tết…,
Vũ Trọng Phụng đã chứng tỏ một ngòi bút hiện thực hết sức già dặn và ngày càng “phản ánh trúng hơn những mâu thuẫn cơ bản của xã hội, những vấn đề
có ý nghĩa thời sự, chính trị nóng hổi” [69,38] Tất cả các mảng đời sống phức tạp, xô bồ, những vấn đề nóng bỏng nhức nhối của của đô thị Việt Nam những năm 30 của thế kỷ XX đều được nhà phóng sự đưa lên trang sách bằng thứ văn xuôi tư liệu hết sức đặc sắc Đó là những tệ nạn xã hội, tràn lan như một thứ dịch bệnh đang hoành hành, tán phá mọi gốc rễ đạo đức xã hội, là những thảm cảnh khốn cùng của lớp người dưới đáy, bị đày đọa trong những kiếp tôi đòi khốn khổ… Trong phóng sự của Vũ Trọng Phụng, hoạt động của
thế giới cờ bạc bịp (Cạm bẫy người), cuộc đời của những người đàn bà lấy chồng Tây (Kỹ nghệ lấy Tây), cảnh sống của những con sen, thằng ở (Cơm
thầy, cơm cô) hay tệ nạn mại dâm (Lục xì)… đều được soi chiếu, giải phẫu
đến tận ngóc ngách Dưới ngòi bút của ông, dường như tất cả những gì là giả trá, là ngụy tạo của tấn tuồng “Âu hóa” nhằm che đậy cho một xã hội mục ruỗng, lung lay đều bị bóc trần, phanh phui Không chỉ phơi bày được bức tranh nhem nhuốc và hỗn tạp của cuộc sống đô thị Việt Nam đương thời, nhà văn còn mổ xẻ, phân tích, tiến hành những thao tác của nhận thức lý tính, xoáy sâu đến tận đáy vấn đề, khiến cho mỗi tác phẩm của ông như những chuyên đề điều tra xã hội học Chính vì thế, phóng sự của ông đã chạm tới những vấn đề có tính chất quy luật, tính đương đại: Quy luật về sự biến chất tha hóa của con người trong xã hội thực dân phong kiến, quy luật thống trị của đồng tiền… Mặc dù, viết văn là để trút lên đầu cái xã hội “chó đểu”, “vô nghĩa lý” nỗi căm uất sục sôi chất chứa bằng những lời lẽ phỉ báng, giễu cợt gay gắt, quyết liệt nhất để lột trần nó, để hạ bệ nó nhưng người đọc cũng dễ nhận ra đằng sau những trang văn là sự trăn trở của Vũ Trọng Phụng dành cho những kiếp người đã và đang bị cuốn theo những vòng xoáy của một trật tự điên đảo
Không chỉ chứa đựng một nội dung hiện thực phong phú, các phóng sự của Vũ Trọng Phụng còn ghi được dấu ấn riêng bởi một “tay nghề” già dặn trong cách thức tiếp cận hiện thực, ở nghệ thuật trần thuật và tài năng sử dụng ngôn ngữ Không chỉ tiếp cận hiện thực từ mặt trái của xã hội, nhà văn còn đi
Trang 40sâu vào bản chất của sự vật hiện tượng từ góc độ cơ cấu, tổ chức để nhìn thấy thế giới cờ bạc bịp trong một chỉnh thể thống nhất “làng bịp”, nhìn những me Tây trong cơ chế một “làng me”…; từ góc độ nghề nghiệp để nhìn thấy các tổ chức ấy có tính chất nghề nghiệp rõ ràng, chặt chẽ: nghề mại dâm, nghề đánh bạc, nghề đi ở Hơn thế, nhà văn còn “đột nhập” xã hội từ phía “cổng hậu” tồi tàn, hôi hám để hiểu được mặt trái cơ cực của nghề đi ở hay thực trạng đau thương của nạn mại dâm Có thể nói, ở mỗi tác phẩm ông đều lựa chọn được cho mình hướng tiếp cận hết sức “lịch duyệt” (Phạm Thế Ngũ) Bên cạnh khả năng xử lý tư liệu linh hoạt, bút pháp trần thuật đầy biến hóa uyển chuyển và việc đưa vào phóng sự thứ ngôn ngữ sắc nhọn gai góc, đời thường suồng sã, Vũ Trọng Phụng đã nghệ thuật hóa thể văn phóng sự bằng xu hướng tiểu thuyết hóa Chính sự đan xen những yếu tố của tiểu thuyết (cốt truyện, nhân vật có tính điển hình…) trong tác phẩm phóng sự đã biến thể văn báo chí này thực sự trở thành một thể loại văn học, thấm đẫm chất văn chương Không chỉ ghi chép, mô tả hiện thực, nhà văn còn dựng lên được những không gian nghệ thuật sinh động Ở đó, các sự kiện hô ứng, bổ sung, xâu chuỗi, va đập với nhau Chân dung, số phận, tính cách mỗi con người hiện lên sắc nét, sinh động như đang sống dậy trước mắt người đọc Nhà văn Phùng Tất Đắc cho rằng: “Ngòi bút phóng sự của Vũ Trọng Phụng đã đạt tới một độ rất cao trong nghệ thuật” bởi vì “không chỉ ngòi bút ấy ghi lại được cái trạng thái biểu hiện trong chớp mắt, cái trạng thái phức tạp hỗn độn và bình dị, linh hoạt của sự thực hàng ngày xô đẩy quanh mình”[50,7], mà còn cho người đọc thấy được bản chất của thực tại, như được sống trong thực tại
ấy hơn thế nữa còn bị thực tại ấy ám ảnh, lay tỉnh, cật vấn một cách mạnh mẽ Tài năng độc đáo đó của Vũ Trọng Phụng đã làm nên những thiên phóng sự bất hủ và tác giả được bạn bè đồng nghiệp trân trọng khẳng định là một
“gương mặt lạ” trong văn học, là “ông vua phóng sự đất Bắc” mà cho đến nay chưa có người “kế vị”