1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tính từ chỉ màu sắc trong một số tác phẩm của anh đức

146 671 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 146
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Hoàn thành xong đề tài nghiên cứu về “Tính từ chỉ màu sắc trong một số tác phẩm của nhà văn Anh Đức”, người viết đã nhận được sự ủng hộ về nhiều mặt của cá nhân và tập thể.. H

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Hoàn thành xong đề tài nghiên cứu về “Tính từ chỉ màu sắc trong một số tác phẩm của nhà văn Anh Đức”, người viết đã nhận được sự ủng hộ về nhiều mặt của cá nhân và tập thể Đặc biệt là thầy Nguyễn Văn Tư – cán bộ trực tiếp hướng dẫn người viết trong suốt quá trình thực hiện đề tài Ngoài ra người viết còn có những sự trợ giúp của các thầy cô trong và ngoài bộ môn Sư phạm Ngữ Văn của khoa Sư Phạm, bộ môn Ngữ Văn - Khoa học xã hội và Nhân văn cùng với bạn bè và nhiều người khác Đó là những động lực và điều kiện thuận lợi để người viết có thể thực hiện và hoàn thành khóa luận này Chính vì lẽ đó, người viết xin gửi đến những người đã giúp đỡ người viết lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất

Tuy nhiên do sự hạn chế của bản thân nên khi thực hiện đề tài này sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế, mong quý thầy cô và các bạn thông cảm và người viết rất vui khi nhận được sự góp ý từ quý thầy cô và các bạn để khóa luận hoàn thiện hơn! Xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT TÍNH TỪ CHỈ MÀU SẮC TRONG TÁC PHẨM CỦA NHÀ VĂN

ANH ĐỨC PHẦN MỞ ĐẦU

I Lí do chọn đề tài

II Lịch sử vấn đề

III Mục đích nghiên cứu

IV Phạm vi nghiên cứu

V Phương pháp nghiên cứu

PHẦN NỘI DUNG

Chương I KHÁI QUÁT VỀ TỪ LOẠI TÍNH TỪ

I Khái quát về từ loại tính từ

1 Các quan niệm khác nhau về từ loại tính từ

2.2 Tính từ miêu tả mức độ tuyệt đối

III Tính từ miêu tả màu sắc

Trang 4

Chương II TÍNH TỪ CHỈ MÀU SẮC TRONG TÁC PHẨM CỦA

NHÀ VĂN ANH ĐỨC

I Tác giả - Tác phẩm

1 Cuộc đời

2 Sự nghiệp

II Tính từ chỉ màu sắc trong tác phẩm của nhà văn Anh Đức

1 Thống kê và phân loại

2 Tổng quan về màu sắc

3 Miêu tả tính từ chỉ màu sắc trong tác phẩm của nhà văn Anh Đức

3.1 Màu sắc không xác định thang độ

3.2 Màu sắc xác định thang độ

3.3 Lớp tính từ chỉ màu có ý nghĩa biểu trưng, hình tượng

III Nhận xét về tính từ chỉ màu sắc trong tác phẩm của nhà văn Anh Đức PHẦN KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

Trang 6

lẽ một trong những nguyên nhân của điều đó là do sự phức tạp của ngữ pháp – “Phong

ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam” Thế nên bước vào lĩnh vực này ít ai không có một phút chùn chân

Bản thân người viết cũng đã từng ngại ngần vì nhiều vấn đề về ngữ pháp nhưng càng tìm hiểu, người viết lại càng cảm thấy thú vị bởi sự muôn màu muôn vẻ của nó Chỉ riêng về vấn đề phân loại đã có nhiều ý kiến khác nhau và ở trong mỗi từ loại lại

có nhiều điều đáng đề cập Một trong những từ loại quan trọng mà xung quanh có nhiều ý kiến đó chính là tính từ Nhận thấy đuợc tầm quan trọng cũng như sức thu hút của từ loại này, người viết đã tìm hiểu một số bài nghiên cứu có liên quan và thấy rằng một loại từ tưởng chừng như không có gì bàn cãi bởi vị trí của nó cũng có lắm điều đáng lưu tâm

Trong sự đa dạng của từ loại tính từ, ta thấy nổi bật lên một lớp từ - lớp tính từ chỉ màu sắc Từ trước đến nay người ta vẫn có thói quen chấp nhận lớp từ này như một sự tất nhiên Chúng được sinh ra để diễn tả lại những sắc màu của cuộc sống bằng ngôn ngữ Nhưng nếu một phút dừng lại ở lớp từ này ta sẽ thấy nó lung linh biết bao ý nghĩa thú vị Người viết có cảm giác tính từ chỉ màu sắc như một bà mẹ hiền từ lặng lẽ bày trí căn nhà mà không cần một lời khen tặng cũng như bà tái hiện lại cái thế giới muôn màu muôn vẻ bên ngoài cho con trẻ bằng những lời thì thầm kể chuyện Hẳn rằng dù vô tình hay hữu ý thì trong mỗi con người chúng ta lớp tính từ chỉ màu sắc đã chiếm một vị trí nhất định và đối với người viết lại trở thành một sự say mê

Trang 7

Bên cạnh sự chú ý đặc biệt của mình đối với lớp tính từ chỉ màu sắc, người viết còn yêu thích giọng văn, ngôn ngữ của nhà văn miền Nam – Nhà văn Anh Đức Đặc biệt, người viết nhận ra trong lối viết khá gần gũi, tinh tế của nhà văn lại còn có điểm đặc biệt đáng chú ý đó là việc vận dụng linh hoạt những tính từ chỉ màu sắc trong các truyện ngắn, tiểu thuyết của mình Hai mối đồng cảm gặp nhau ở một điểm chung đã trở thành động lực mạnh mẽ thôi thúc người viết quyết tâm chọn đề tài “ Tính từ chỉ màu sắc trong tác phẩm của nhà văn Anh Đức” với hy vọng có thêm được sự tìm hiểu, học hỏi, đi sâu hơn vào lĩnh vực ngôn ngữ và đồng thời góp chút sức vào việc tìm hiểu những vấn đề ngữ pháp Việt Nam để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt

II Lịch sử vấn đề

Tính từ là một từ loại hấp dẫn mà từ trước đến nay luôn thu hút sự chú ý của các nhà ngôn ngữ học và những ai lưu tâm đến lĩnh vực ngôn ngữ

Đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu về từ loại này, mỗi công trình lại

nghiên cứu theo những hướng khác nhau Ngữ pháp Việt Nam giản dị và thực dụng

của Bùi Đức Tịnh là một công trình khá thú vị khi nghiên cứu thể thức cấu tạo ở việc kết hợp các từ ghép Hán Việt, tiếng Nôm, thành ngữ Hán Việt, thành ngữ Nôm bên cạnh những từ khác Đặc biệt tác giả này đã phân đẳng cấp của ý nghĩa tiếng tính từ

“thể theo thói quen tạo nên bởi ảnh hưởng văn phạm Pháp và quyển “Việt Nam văn

phạm” thông dụng ngày trước” [22; 89]

Cũng cùng một tác giả, trong Văn phạm Việt Nam, Bùi Đức Tịnh lại sử dụng

thuật ngữ “Tĩnh từ” để gọi tên từ loại này và có sự nhấn mạnh hơn về cách sử dụng kèm theo những quy tắc nhận biết “Tĩnh từ” ( thêm từ “có tính cách” vào trước những danh từ để xét) [23; 246]

Ngoài ra, Bùi Tất Tươm cũng góp sức vào phương diện từ loại với quyển Giáo

trình tiếng Việt nghiên cứu tính từ ở dạng khái quát hơn và phân loại tính từ chủ yếu

dựa vào ý nghĩa [25; 139]

Về từ loại tính từ còn có nhiều công trình nghiên cứu của Lê Biên ( Từ loại tiếng

Việt hiện đại ) nghiên cứu ở nét nghĩa đặc trưng về tính chất và phẩm chất của tính từ,

Đinh Văn Đức ( Ngữ pháp tiếng Việt từ loại) lại đề cập khá chi tiết về các khía cạnh

của từ loại này và so sánh với các ngôn ngữ Châu Âu để chỉ ra nhiều điểm tương đồng

và dị biệt [6; 173], hoặc của Nguyễn Hữu Quỳnh trong Ngữ pháp tiếng Việt phân loại

Trang 8

tính từ dựa vào ý nghĩa khái quát và khả năng kết hợp [15; 145]… nghiên cứu về tổng quan từ loại tính từ

Bên cạnh đó còn có các bài viết trên các tạp chí ngôn ngữ về việc phân biệt tính

từ và động từ của Đinh Thị Oanh ( Vấn đề phân định động từ - tính từ trong tiếng Việt) [14; 116], Nguyễn Tuấn Đăng ( Phân định “Tính từ” và “Động từ” trong tiếng Việt)

[5; 4]… nghiên cứu sự phân biệt giữa hai từ loại vốn được xem là có quá nhiều nét tương đồng này

Tính từ chỉ màu sắc là một tiểu loại ít được khai thác kĩ trong những công trình nghiên cứu về tính từ nói chung ở trên, nó chỉ được nghiên cứu kĩ hơn ở một số bài

viết trên tạp chí ngôn ngữ như bài “Từ ngữ phái sinh chỉ màu trong tiếng Việt” của

Nguyễn Khánh Hà (Tạp chí ngôn ngữ) đã giới thiệu một số đặc điểm về hình thức và cấu trúc biểu niệm của màu sắc trong lớp từ ngữ chỉ màu phái sinh [9; 1] Hoặc ở bài

“Một vài nhận xét về cấu trúc biểu niệm của màu sắc trong ngôn ngữ” của Nguyễn Thị

Ngọc Quỳnh đã xét sơ nét về tính chất chủ quan của con người khi sử dụng từ chỉ màu sắc [16; 372]

Về phương diện vận dụng tính từ chỉ màu sắc trong những tác phẩm cụ thể, người viết cũng đã khảo sát và nhận ra có rất ít công trình nghiên cứu Dường như đó chỉ là những bài viết ngắn đăng trên tạp chí, đa phần là tìm hiểu về tính từ chỉ màu sắc

được sử dụng trong thơ chẳng hạn như bài “Màu xanh trong thơ Nguyễn Bính” khai

thác ý nghĩa của từng màu xanh khi xuất hiện trong những bài thơ Nguyễn Bính sáng tác của Nguyễn Thị Thành Thắng ở Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống số 11 – 2001 [19;

11] hoặc bàn về “Màu xanh trong thơ Tố Hữu”, Nguyễn Thị Bích Thủy đăng trên Tạp

chí Ngữ học trẻ 2002 đưa ra một biểu đồ tỉ lệ những màu xanh khác nhau mà Tố Hữu thể hiện [21; 576] Tính từ chỉ màu sắc trong ca dao cũng được Trần Văn Sáng tìm

hiểu qua bài “ Thế giới màu sắc trong ca dao” in trên Tạp chí Ngữ học trẻ 2007 [17;

383], qua bài viết tác giả đã đưa ra những số liệu thống kê cụ thể về số lượng màu sắc

mà ca dao thường hay sử dụng và tỉ lệ phần trăm từng màu trong hệ thống màu sắc của

ca dao…Nhìn chung tất cả các công trình nghiên cứu đều còn rất sơ sài và dường như chưa có một công trình nghiên cứu quy mô về tính từ chỉ màu sắc trong tác phẩm văn xuôi

Các tác phẩm của nhà văn Anh Đức cũng có nhiều bài phê bình đề cập đến với

nhiều khía cạnh khác nhau như: nghiên cứu về “Tính cách dân tộc trong sáng tác của

Trang 9

Anh Đức” (Nguyễn Trung Thu), “Hình tượng người phụ nữ miền Nam trong tiểu

thuyết (Phan Cự Đệ) … [22; 226], nhưng cũng không có công trình nào chuyên nghiên cứu về việc sử dụng tính từ chỉ màu sắc của ông

Nói tóm lại về vấn đề tính từ chỉ màu sắc trong tác phẩm văn chương vẫn còn là

một vùng đất đầy tiềm năng chưa có nhiều người khai thác Và “Tính từ chỉ màu sắc

trong tác phẩm của nhà văn Anh Đức” lại là một đề tài gần như chưa có công trình nào

nghiên cứu Điều đó là một thử thách cũng là động lực thúc đẩy người viết thực hiện tìm hiểu, hoàn thành đề tài này

III Mục đích, yêu cầu

Đề tài đã chỉ ra mục đích một cách sáng rõ là việc nghiên cứu, tìm hiểu về lớp tính từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt nói chung và đặc biệt trong cách vận dụng vào tác phẩm của nhà văn Anh Đức từ cách chọn lựa, sắp xếp, kết hợp đến biến tấu để tạo nên nét đặc sắc của lớp từ và hoàn chỉnh câu văn Qua việc tìm hiểu, phân tích như vậy sẽ giúp ta hiểu hơn về ý nghĩa, giá trị của lớp từ này cũng như phát hiện thêm những cách vận dụng mới làm nên sự thành công của nhà văn khi dùng chúng Từ đó giúp người đọc thấy được sự tầm quan trọng của lớp tính từ chỉ màu sắc nói riêng và tính từ nói chung trong sự bao la của ngôn ngữ Việt Nam

IV Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng của đề tài này khá rộng, đó là cả một lớp tính từ và đặc biệt là lớp tính

từ chỉ màu sắc trong kho tàng ngôn ngữ được nhà văn Anh Đức sử dụng trong tác phẩm của mình Tuy nhiên do sự hạn chế về trình độ, năng lực nên người viết chỉ xin giới hạn tìm hiểu một số công trình nghiên cứu về từ loại tính từ, tính từ chỉ màu sắc

và những bài viết xung quanh các tác phẩm trong hai quyển Tuyển tập Anh Đức tập 1,

tập 2 cùng với nội dung của các tác phẩm đó Ngoài ra người viết cũng tìm hiểu thêm các công trình nghiên cứu và tác phẩm của một số tác giả khác để làm cơ sở đối chiếu,

so sánh nhằm tìm hiểu sâu hơn về tính từ chỉ màu sắc được nhà văn Anh Đức vận dụng

V Phương pháp nghiên cứu

Người viết đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu để hoàn thành khóa luận này Trước tiên đó là phương pháp đọc, phân tích tác phẩm và đặc biệt là phương pháp thống kê những tính từ chỉ màu sắc được Anh Đức sử dụng trong tác

Trang 10

phẩm qua đó tổng hợp, phân tích đưa ra những kết luận chung cho lớp từ chỉ màu trong tác phẩm của nhà văn

Trang 11

PHẦN NỘI DUNG

Trang 12

Chương một KHÁI QUÁT VỀ TỪ LOẠI TÍNH TỪ

I Định nghĩa

1 Các quan niệm khác nhau về từ loại tính từ

Vấn đề phân định từ loại trong tiếng Việt khá phức tạp và có nhiều ý kiến khác nhau, từ loại tính từ cũng không ngoại lệ, chỉ riêng phần định nghĩa đã có những ý kiến không hoàn toàn giống nhau giữa các tác giả

Trong Giáo trình tiếng Việt của Bùi Tất Tươm có nêu lên: “ Tính từ là từ loại chỉ tính chất của sự vật, của hành động trạng thái” [ 25;139]

Diệp Quang Ban và Hoàng Văn Thung lại có ý kiến “ lớp từ chỉ ý nghĩa đặc trưng ( đặc trưng của thực thể hoặc đặc trưng của quá trình) là tính từ [1; 115]

Trong khi đó khái niệm của Lê Biên về từ loại tính từ cụ thể như sau “ Tính từ là những thực từ gọi tên tính chất, đặc trưng của sự vật, thực thể hoặc vận động, quá trình, hoạt động.” [2; 103]

Còn Nguyễn Hữu Quỳnh cho rằng: “ Tính từ là những từ chỉ tính chất, đặc trưng của sự vật như hình thể, mầu sắc, dung lượng, kích thước, đặc trưng…” [15; 145] Nhìn chung mỗi một nhà ngôn ngữ học sẽ có một cách phát biểu về từ loại này theo hướng nghiên cứu nhất định của mình Tuy nhiên tất cả đều gặp nhau ở một cách hiểu chung là: Tính từ dùng để bổ sung, hạn định, giúp làm rõ hơn sự vật, hiện tượng, thực thể

Và rõ ràng, khi càng có nhiều ý kiến thì càng chứng minh từ loại tính từ là một từ loại hấp dẫn, quan trọng trong hệ thống từ loại tiếng Việt

Ví dụ: Nhà đẹp, cây cao, chạy nhanh…

Đây là một từ loại quan trọng chiếm số lượng lớn trong hệ thống từ loại tiếng Việt Xét về mặt ý nghĩa của nó, tính từ được coi là một từ loại tích cực về mặt tạo từ

II Đặc điểm ngữ pháp và phân loại

Trang 13

Ví dụ: Tôi đã giàu, Nam đang vui, Con sẽ giỏi…

+ Vẫn, còn, cứ…để nói về sự diễn tiến của trạng thái sự vật, hiện tượng

Ví dụ: Anh vẫn nghèo, trái còn xanh, nó cứ buồn…

+ Hãy, đừng, chớ…là những phó từ kết hợp với tính từ biểu đạt ý nghĩa mệnh lệnh, khuyên bảo… tuy nhiên sự kết hợp này khá hạn chế

Ví dụ: Đừng xanh như lá, bạc như vôi

+ Ngoài ra, tính từ còn kết hợp với các từ: ra, lên, đi…Tuy nhiên ở trường hợp này

ra, đi, lên không phải chỉ hướng như khi kết hợp với động từ mà chỉ kết quả diễn tiến

của đặc trưng, sự biến đổi của trạng thái

Ví dụ: đẹp ra, giàu lên, già đi…

+ Đặc biệt, tính từ còn kết hợp phổ biến với các phó từ chỉ mức độ như: hơi, rất, lắm, quá, cực kỳ… Đây chính là đặc điểm phân biệt với động từ rõ ràng nhất làm nên giá trị của tính từ

Ví dụ: hơi mềm, đẹp cực kỳ…

+ Kết hợp với phó từ rồi có ý nghĩa kết thúc giai đoạn chuyển vào trạng thái mới,

nói chung là có ý nghĩa chỉ thời gian Để tránh lẫn lộn với danh từ thường kèm theo phó từ chỉ thang độ

Ví dụ: con dao cùn lắm rồi,…

Trang 14

Vị trí tự nhiên của tính từ tiếng Việt là đứng sau danh từ ( khác với ngôn ngữ tiếng Anh, tiếng Hoa có tính từ đứng trước danh từ) để làm phụ tố hạn định bổ sung, giúp làm rõ nghĩa danh từ Ngoài ra tính từ cũng được đặt sau động từ và cũng giữ chức năng định ngữ

Ví dụ: áo xanh, chạy nhanh…

- Làm vị ngữ trực tiếp

Đây là một vị trí đặc biệt của tính từ tiếng Việt khác với tính từ của các ngôn ngữ khác Tính từ tiếng Việt có thể tự thân hoặc kết hợp với các từ khác làm vị ngữ trực tiếp trong câu

Ví dụ: Nhân dân ta rất anh hùng

Trong khi đảm nhận vị trí vị ngữ trực tiếp, tính từ có quan hệ với thời gian và tiếp

nhận các tiêu chí ngữ pháp của động từ ( có các phó từ đã, sẽ, từng, còn, chưa…)

Cũng có những trường hợp trùng với tính từ ở vị trí định ngữ vì có chung một hình thức kết hợp ( nhà mới, kẹo mềm…)nên cần nhờ các thao tác chêm, lược, thế… để nhận biết dễ dàng hơn

- Có những trường hợp tính từ giữ vị trí của chủ ngữ như trường hợp câu thành ngữ: Tốt gỗ hơn tốt nước sơn

2 Phân loại

Dựa vào ý nghĩa khái quát và khả năng kết hợp của tính từ và các lớp từ, chúng ta

có thể chia tính từ thành các lớp nhỏ như sau:

2.1 Tính từ miêu tả tính chất

Đây là lớp từ dùng để quy định tính chất cho danh từ hoặc động từ mà nó xác định Tính chất được nó xác định cho sự vật một cách đắc lực nhất là tính chất đặc trưng

Và như vậy có thể nói đây là đơn vị “đặc trưng nhất” trong các đơn vị đặc trưng Nó

có ý nghĩa phạm trù đặc trưng đầy đủ, đảm nhiệm được chức vụ cú pháp và có khả năng kết hợp với các lớp từ khác trong cụm từ Cụ thể nó lớp từ này có thể làm chủ ngữ, vị ngữ, thành tố phụ trong cụm từ, có thể kết hợp được với đơn vị chỉ ý nghĩa mức độ như: hơi, rất, cực kỳ…

Trong tính từ, lớp tính từ miêu tả tính chất chiếm số lượng rất lớn nên ta có thể chia chúng thành các lớp con

- Lớp tính từ miêu tả phẩm chất của sự vật nêu ở chủ thể

Trang 15

Lớp này thường tồn tại thành cặp mang ý nghĩa đối lập: tốt/xấu, vui/buồn, hiền/dữ…

- Lớp tính từ miêu tả kích thước số lượng của sự vật nêu ở chủ thể

Lớp từ này cũng tồn tại thành từng cặp đối lập: nặng/nhẹ, nhiều/ít, đủ/thiếu…

- Lớp tính từ miêu tả màu sắc

Là những từ phản ánh màu sắc của sự vật, hiện tượng như: xanh, đỏ, tím, vàng…

2.2 Tính từ miêu tả giá trị tuyệt đối

Đây là lớp từ chỉ ý nghĩa tuyệt đối về tính chất của sự vật nêu ở chủ thể Ở đây, tự thân tính chất sự vật đã có ý nghĩa tuyệt đối nên mọi sự so sánh, xác định mức độ đều không cần thiết Số lượng của lớp tính từ này ít, chỉ gồm trên dưới mười đơn vị: riêng, chung, công, tư, chính, phụ, độc nhất, công cộng, cơ bản…thường chúng không kết hợp với những đơn vị chỉ mức độ như: hơi, rất, cực kỳ…

 Nói chung, việc phân chia tính từ thành các lớp nhỏ để tiện bề khảo sát và hiểu biết chúng sâu sắc hơn Tuy nhiên ranh giới giữa các lớp ấy không phải lúc nào cũng

rõ ràng, dứt khoát Trong thực tế sinh động của ngôn ngữ, có khi một số tính từ chỉ ý nghĩa tuyệt đối lại có thể được dùng như một tính từ miêu tả tính chất bình thường và ngược lại

2.3 Từ mô phỏng

Từ mô phỏng hay còn gọi là từ tượng thanh, tượng hình là một lớp từ có tính chất đặc biệt cả về mặt cấu tạo, mặt ý nghĩa ngữ pháp, giá trị, phong cách sử dụng ngôn ngữ…

Có hai lối mô phỏng là trực tiếp ( tượng thanh) và gián tiếp ( tượng hình)

Từ mô phỏng có chức năng của tính từ nhưng không đi kèm với: Hãy, đừng, chớ…

Ví dụ: Lòng tử tế của chị đã được mọi người tuyên dương

- Tính từ còn có thể biến dị thành phó từ khi được dùng để chỉ định ý nghĩa của một động từ hay một tính từ khác

Ví dụ: Đó là một biện pháp hoàn toàn vô hiệu quả

Trang 16

- Ngoài ra ta còn bắt gặp trường hợp biến dị của tính từ thành động từ để chỉ một việc xảy ra

duy trì được đối với một cô gái miền biển

+ Tính từ miêu tả màu sắc còn kết hợp với các từ: ra, lên, đi…Tuy nhiên ở trường

hợp này ra, đi, lên không phải chỉ hướng như khi kết hợp với động từ mà chỉ kết quả

diễn tiến của đặc trưng, sự biến đổi của trạng thái

Ví dụ: Mặt cô đỏ lên

Đỏ trong trường hợp này là thể hiện cho sự biến đổi tâm lí (thẹn thùng) của cô gái

+ Sự kết hợp thường xuyên nhất của tính từ miêu tả màu sắc là kết hợp với các phó

từ chỉ mức độ như: hơi, rất, lắm, quá…

Ví dụ: Con chiên cá quá vàng rồi đấy!

Quá vàng diễn tả việc chiên cá vàng hơn màu của một con cá chiên bình thường (ở

mức độ sắp khê)

Trang 17

Vị trí định ngữ của tính từ chỉ màu sắc tiếng Việt là một ví trí khá quan trọng, nhờ

đó ta có thể dễ dàng phân biệt những sự vật hiện tượng qua màu sắc và có thể kèm theo những ý nghĩa khác mà người nói, người viết muốn biểu hiện

Ví dụ: Trắng, xanh, vàng, đỏ…

3.2 Tính từ chỉ màu sắc xác định thang độ (mang ý nghĩa tuyệt đối)

Là những tính từ biểu thị cho màu sắc mà khi tiếp xúc với tính từ đó ta nhận ra một

sự đánh giá về mặt mức độ của người sử dụng ( Bản thân nó đã có cấp độ, không cần

có sự thêm thắt, hay từ chỉ mức độ) Ta có thể phân loại thành hai tiểu loại cấp độ như sau:

- Tính từ chỉ màu sắc có thang độ cao: là những tính từ chỉ màu không đứng độc lập mà thường kết hợp với các phụ từ khiến ta có cảm giác mạnh về màu sắc đó

Trang 18

 Cũng có những trường hợp tính từ chỉ màu sắc không xác định thang độ nhưng khi kết hợp với các từ chỉ mức độ như: rất, lắm, quá…sẽ biến thành từ chỉ màu sắc mang cấp độ cao: trắng quá, đỏ lắm…

Trường hợp kết hợp với: hơi, phớt…lại trở thành tính từ chỉ màu sắc mang cấp độ thấp: phớt tím, hơi xanh…

Trang 19

Chương II: TÍNH TỪ CHỈ MÀU SẮC TRONG TÁC PHẨM

CỦA NHÀ VĂN ANH ĐỨC

I Tác giả - Tác phẩm

1 Cuộc đời

Tên thật là Bùi Đức Ái , sinh ngày 5 tháng 5 năm 1935 tại xã Bình Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang Là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam

Xuất thân trong một gia đình có công giúp đỡ cách mạng Năm 1945, Cách mạng

tháng Tám thành công, Anh Đức mới mười tuổi, nhưng đã có “ý thức về một chế độ

mới, một chính quyền mới” Đặc biệt, sự hy sinh anh dũng của người anh cả trong

những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã có tác động mạnh đến

ý thức của Anh Đức Cuối năm 1947 ông bỏ học, vào công tác tại Văn phòng Ty thông tin kháng chiến của tỉnh Rạch Giá Ít lâu sau được cơ quan bố trí cho đi học tiếp tại trường Trung học kháng chiến Nguyễn Văn Tố Kết thúc hai năm học tập ông trở lại công tác tại cơ quan cũ Năm 1950, về công tác tại Chi hội Văn nghệ Nam Bộ

Năm 1953, là phóng viên của báo “Cứu quốc Nam Bộ” cho tới 1954 tập kết ra Bắc

Sau một năm tham gia công tác ở nông thôn, năm 1956 Anh Đức về công tác tại phòng Văn nghệ Đài tiếng nói Việt Nam Năm 1957 ông được kết nạp vào Hội nhà

văn Việt Nam, là biên tập viên văn xuôi tuần báo Văn học Giữa năm 1962 Anh Đức

được điều về Nam Đầu năm 1963 ông đi thực tế sáng tác tại các tỉnh Cần Thơ, Rạch Giá, Cà Mau Đây là thời kỳ sau Đồng khởi, nông thôn Nam Bộ đã có một vùng giải phóng rộng lớn, chính quyền và lực lượng vũ trang cách mạng đã thành lập nhưng thế

và lực còn mỏng, non yếu Để dập tắt phong trào cách mạng miền Nam thời kỳ đầu còn non trẻ, Mỹ chủ trương chiến lược chiến tranh đặc biệt sử dụng trực thăng vận và thiết xa vận, dồn dập lập ấp chiến lược đã gây cho cách mạng miền Nam không ít khó

khăn Nhiều truyện ngắn và tiểu thuyết “Hòn Đất” của ông đã ra đời trong bối cảnh

đó

Trong 13 năm ở chiến trường, Anh Đức vừa sáng tác vừa đảm đương nhiệm vụ phụ

trách ngành văn và trong nhiều năm là Tổng biên tập tạp chí “Văn nghệ giải phóng”

của Hội Văn nghệ Giải phóng miền Nam Ông từng là Ủy viên thường vụ và Ủy viên Đảng đoàn Hội Nhà văn Việt Nam các khóa 2,3 Đại biểu quốc hội khóa VII Hiện là

Ủy viên Ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam khóa V Phó chủ tịch kiêm Phó bí thư

Trang 20

Đảng đoàn Hội liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam Tổng biên tập tạp chí Văn và

Kiến thức ngày nay

2 Sự nghiệp

Nhờ từ nhỏ đọc nhiều sách văn học của tủ sách gia đình, đặc biệt trong thời gian tham gia kháng chiến được sống trong môi trường văn nghệ Đó là những điều kiện giúp Anh Đức đi sâu vào lĩnh vực văn học

Năm 1952, Anh Đức bắt đầu sáng tác với tập truyện đầu tay nhan đề “Biển Động”

gồm 18 truyện ngắn viết về đề tài chiến tranh du kích Tập truyện được tặng giải ba giải Cửu Long - một giải thưởng văn nghệ có uy tín lúc bấy giờ do Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ cùng Chi hội Văn nghệ Nam Bộ phối hợp tổ chức

Năm 1957, viết cuốn tiểu thuyết “Một truyện chép ở bệnh viện”, năm 1961 ông

chuyển thể thành kịch bản phim “Chị Tư Hậu” do Phạm Kỳ Nam làm đạo diễn

Năm 1960, in xong tập truyện ngắn “Bức thư Cà Mau”

Vào giữa năm 1962, ông hoàn thành tập truyện ngắn “Biển hợp” do NXB Văn học

ấn hành

Từ 1963 – 1964 sáng tác nhiều truyện ngắn trong đó có các truyện tiêu biểu quan

trọng như: “Khói”, “Đất”, “Đứa con”, “Con chị Lộc”, “Giấc mơ ông lão vườn

chim”

Năm 1966, tiểu thuyết “Hòn Đất” ra đời Tiểu thuyết “Hòn Đất” và tập truyện

“Bức thư Cà Mau” được tặng giải thưởng Nguyễn Đình Chiểu – giải thưởng của Hội

đồng giải thưởng Văn học Nghệ thuật miền Nam

Năm 1972 bắt đầu viết tiểu thuyết “Đứa con của đất” và xuất bản vào năm 1976

Năm 1983 xuất bản tập truyện ngắn “Miền sóng vỗ”

Tập “Hai mươi truyện ngắn” và “Tuyển tập Anh Đức” tập I và II ra mắt bạn đọc

năm 1997

Năm 2002 xuất bản tập “Anh Đức – truyện ngắn và bút ký”

Các tác phẩm chính: Tập truyện ngắn “Biển động” (1952), tập truyện ngắn “Lão anh hùng dưới hầm bí mật” (1956), tiểu thuyết “Một chuyện chép ở bệnh viện” (1958), tập truyện ngắn “Con cá song” (NXB Văn học 1958), truyện thiếu nhi

“Thuyền sắp đắm” ( NXB Kim Đồng), tập truyện ngắn “Biển xa” (NXB Văn học, 1960), tập truyện ngắn “Bức thư Cà Mau” ( NXB Văn học, 1960), tiểu thuyết “Hòn Đất” (NXB Văn học, 1966), tập truyện ngắn “Giấc mơ ông lão vườn chim” (Giải

Trang 21

phóng, 1968), tiểu thuyết “Đứa con của đất” (Giải phóng, 1976), tập truyện ngắn

“Miền sóng vỗ” (NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 1983), tập truyện ngắn “Hai mươi truyện ngắn” (NXB Văn học), tập truyện thiếu nhi “Ông già về hưu và những đứa trẻ” (NXB Măng non), tập “truyện Anh Đức” tập I và II (NXB Văn học, 1997), tập “Anh Đức – truyện ngắn và bút ký” (NXB Hội nhà văn,2002)

Một số tác phẩm của ông đã được dịch sang tiếng Anh, Pháp, Nga, Đức, Trung Quốc, Nhật Bản…

Điểm nổi bật trong toàn bộ các tác phẩm của Anh Đức từ truyện ngắn đến tiểu thuyết là tính chiến đấu cao, thể hiện rõ tinh thần xả thân vì nước của nhân dân ta Nhà văn Anh Đức được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm

2000 và Huân chương độc lập hạn Nhì

II Tính từ chỉ màu sắc trong tác phẩm của nhà văn Anh Đức

Màu sắc là một yếu tố khá quan trọng trong cuộc sống Nhắc tới màu sắc con người vẫn thường hay liên tưởng đến nghệ thuật hội họa Từ xưa đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về màu, để tìm hiểu bản chất và hệ thống của nó nhằm cung cấp cho họa sĩ một công cụ làm việc tốt “Sự huyền diệu của màu sắc là niềm vui vô tận của con người, là vẻ đẹp thị giác thật sự của thế giới vật chất và thế giới tâm hồn con người” [16; 372] Tuy nhiên không chỉ có hội họa, màu sắc cũng chiếm giữ một vai trò khá quan trọng trong ngôn ngữ, chính những từ diễn tả màu sắc đã diễn tả thêm một khía cạnh, một mặt lấp lánh của cái đa giác ngôn ngữ đang chuyển động cùng với những tinh cầu khác Khi đi vào ngôn ngữ, màu sắc được cụ thể hóa với nét nghĩa bản thể và nét nghĩa dụng học Tên gọi của chúng mang tính võ đoán và nó được quy định theo nhận thức khách quan mà con người gán ghép vì thế nó bị chi phối bởi ý thức và quan niệm chủ quan của con người

Trong văn học, tính từ chỉ màu sắc đã cụ thể hóa những tín hiệu thẫm mĩ trong ngôn ngữ nghệ thuật, hình thành “tư duy về màu sắc” của từng tác giả Trần Đình Sử từng có nhận định về màu sắc trong quyển Thi pháp Truyện Kiều của ông rằng: màu sắc trong văn học “chẳng những là phương tiện miêu tả thế giới, mà còn là phương tiện thể hiện cái nhìn nghệ thuật đối với cuộc đời, mang đậm màu sắc thời đại và cá tính…” Có lẽ chính vì những điều đó mà việc nghiên cứu tính từ chỉ màu sắc trở nên lôi cuốn nhiều người có tâm huyết, có sự nhiệt tình về tìm hiểu cái thế giới lung linh của sắc màu trong cuộc sống, trong ngôn ngữ và trong văn học

Trang 22

Như trên đã nói, việc sử dụng tính từ chỉ màu sắc bị chi phối bởi ý thức và quan niệm chủ quan của con người nên đôi khi trong cuộc sống, cùng một sự vật ta lại có thể nghe những lối diễn tả khác nhau Ví dụ như một làn da trắng của cô gái, những người thích cô gái này có thể sẽ trầm trồ rằng “Cô ấy có một làn da trắng nõn” nhưng một kẻ không thích có thể nói: “làn da trắng nhách”, hoặc một người xa lạ sẽ nói chung chung là: “làn da trắng”…Thế nên tìm ra sự đồng nhất trong lối diễn tả màu sắc

là một điều phức tạp và hết sức khó khăn Nhưng cái phức tạp ấy lại chính là điểm hấp dẫn cuốn hút nhiều sự chú ý

Trong những ngôn ngữ khác nhau đã có sự khác biệt trong quan niệm về màu sắc

và chính trong cùng một ngôn ngữ lại cũng có nhiều điều không giống nhau, mỗi con người lại có điểm riêng của mình Nhà văn Anh Đức cũng vậy, đọc tác phẩm của ông

ta sẽ nhận rõ được phong cách riêng của một nhà văn Nam Bộ, yêu quê hương, yêu con người và lòng nhiệt huyết với ngôn ngữ dân tộc Giọng văn của ông viết trong thời

kỳ chống ngoại xâm là giọng chiến đấu rõ nét Những yếu tố đó được độc giả nhận ra khi tiếp xúc với tác phẩm, ngôn ngữ, hình ảnh mà Anh Đức sử dụng Trong đó các tính

từ màu sắc mà ông đặt trong tác phẩm cũng là viên gạch hình thành nên công trình văn học nguy nga Để hiểu thêm một quan niệm nữa về việc sử dụng màu sắc, người viết xin làm một người đồng hành đi tìm hiểu về tính từ chỉ màu sắc trong tác phẩm của nhà văn Anh Đức bằng cách đi sâu vào từng văn cảnh chứa màu sắc để phân tích, cảm nhận và đưa ra nhận xét

1 Thống kê và phân loại

1.1 Thống kê (Xem phần phụ lục)

1.2 Phân loại

Bảng phân loại tính từ chỉ màu sắc trong tác phẩm

của nhà văn Anh Đức

Trang 23

Ta có thể biểu diển qua biểu đồ hình tròn sau về tỉ lệ màu sắc trong tác phẩm của nhà văn Anh Đức:

Tỉ lệ % tổng màu

Trang 24

Bảng đồ tỉ lệ màu sắc được sử dụng trong tác phẩm của nhà văn Anh Đức

độ được ông đặc biệt chú ý hơn màu đỏ không xác định thang độ Đây cũng là đặc điểm chung của những màu còn lại bởi theo quy luật tự nhiên, khi nghe diễn tả về một màu sắc nào đó thì màu sắc có kèm theo thang độ luôn tạo ấn tượng sâu sắc hơn Anh Đức đã dùng hơn 50% tổng số lần sử dụng màu sắc là những tính từ chỉ màu tuyệt đối tạo cho trang văn ông lung linh màu sắc và ở lại lâu hơn trong lòng độc giả

Nếu màu đỏ là màu được sử dụng nhiều nhất thì màu nâu – với bản tính khiêm nhường vốn có cũng trở thành màu có vị trí nhỏ nhất trong tổng thể các màu sắc

Trang 25

Đáng chú ý là những màu mang ý nghĩa đặc trưng được Anh Đức sử dụng 28 lần, chiếm 5,4% trong tổng số lần sử dụng là một con số biểu thị một phần cho sự sáng tạo của nhà văn

Nhìn chung về tính từ chỉ màu sắc Anh Đức đã sử dụng trong các tác phẩm của mình, ta thấy rằng ông là người hiểu sâu sắc về giá trị của màu sắc trong ngôn từ Chính vì thế nhà văn đã dùng những tính từ chỉ màu sắc ở nhiều phương diện để tạo cho trang văn của mình thêm sâu sắc, lung linh và đọng mãi trong lòng người đọc

2 Tổng quan về màu sắc

Màu sắc là một vấn đề khá phức tạp, chỉ riêng về câu hỏi “có bao nhiêu màu cơ bản trong tiếng Việt?” cũng đã là một điều chưa có đáp án thỏa đáng Nếu có quan niệm cho rằng màu cơ bản là là bảy màu của bảy sắc cầu vồng: đỏ, cam, vàng, lục,

lam, chàm, tím thì cũng có ý kiến khác như Đào Thản trong bài Hệ thống từ ngữ chỉ

màu sắc của tiếng Việt trong sự liên hệ với mấy điều phổ quá nói rằng: “ Để xác định

các từ chỉ màu cơ bản và các nhóm từ ngữ chỉ màu phụ trong tiếng Việt, phải chăng cần lưu ý đến một quan điểm có tính chất truyền thống của phương Đông, đó là thuyết ngũ hành … và như vậy ngũ sắc có thể chính là năm màu cơ bản nhất mà ông cha chúng ta từng quan niệm và ghi nhận trong ngôn ngữ: xanh, đỏ, trắng, tím và vàng…Tuy nhiên đó chỉ mới là năm màu cơ bản nhất theo quan niệm cổ truyền Thực

tế, nhận thức và sự phát triển của tiếng Việt chứng tỏ số màu được coi là cơ bản còn có thể hơn nhiều”

2.1 Màu đỏ

Màu đỏ là một màu xuất hiện phổ biến trong cuộc sống, tuy nhiên trong mỗi ngôn ngữ khác nhau lại có nhiều cách thể hiện, diễn tả khác nhau Trong tiếng Anh, màu đỏ được thể hiện chủ yếu bởi từ Red trong khi đó tiếng Việt lại được gọi bằng đỏ, đào, thắm, son…vì vậy tỉ lệ chênh lệch về số lượng và mức đa dạng là rất rõ ràng

Về ý nghĩa, màu đỏ có rất nhiều cách hiểu, quan niệm và cảm nhận khác nhau Ở phương Đông, đây là màu tượng trưng cho hạnh phúc, đầy đủ Trong các cung điện hay nhiều loại đồ đạt của người phương Đông hay có sự hiện diện của màu này Trong

từ điển tiếng Việt của Nhà xuất bản Khoa học Xã hội in năm 1997 trang 393 thì màu

đỏ có các nghĩa cơ bản sau:

- Có màu ít nhiều giống với một số vật trong tự nhiên hay do người chế tạo, như máu còn tươi, cánh hoa hồng, màu cờ Việt Nam

Trang 26

- Đang cháy, đang phát ra ánh sáng

- May mắn

Xuất phát từ các nghĩa cơ bản này, các nghĩa mới của màu đỏ cũng được hình thành trong ngôn ngữ Màu đỏ vốn là màu của máu nên khi nghĩ đến màu đỏ ta thường liên tưởng đến chiến tranh khốc liệt, sống chết và được khái quát lên là màu tượng trưng cho nguy hiểm Ta có thể gặp khá nhiều trong đời sống hàng ngày những vật như: đèn giao thông đỏ, thẻ đỏ, tín hiệu báo động đỏ… Ngoài ra màu đỏ cũng dùng để nói về sức khỏe, sự khỏe mạnh của con người vẫn được ví bằng những thành ngữ như:

“Đỏ da thắm thịt”, “trơn lông đỏ da”…Bên cạnh đó, sự tức giận cũng được biểu thị bằng màu đỏ bởi thường khi con người tức giận mắt hay nổi vằn những tia máu hoặc mặt trở nên đỏ hơn bình thường Về hướng tích cực, màu đỏ diễn tả cho sự trang trọng, khác thường Ví dụ như khi ta nói “trải thảm đỏ đón khách quý” hoặc khi nhìn lên tờ lịch, những ngày được tạo bằng mực đỏ hoặc đánh dấu đỏ là những ngày đặc biệt: chủ nhật, lễ hội…nói chung là những ngày đáng nhớ

Tóm lại, màu đỏ là một màu nhiều ý nghĩa với nhiều quan niệm của các quốc gia, vùng miền và cá nhân từng người Sự đa dạng ấy đã được Anh Đức nắm bắt và thể hiện một cách xuất sắc mà cụ thể là hai loại màu sắc có cấp độ và không có cấp độ

2.2 Màu trắng

Đây là màu thường gặp nhất trong đời sống hàng ngày, có lẽ điều đó phần nào tác động đến suy nghĩ của nhà văn Anh Đức Sau màu đỏ, màu trắng được Anh Đức sử dụng khá nhiều Giải thích về ý nghĩa của màu trắng ta bắt gặp khá nhiều ý kiến không giống nhau, nhưng chung quy lại có thể giải thích như sau:

Màu trắng là màu có độ sáng cao nhưng giá trị màu sắc bằng không, chính xác hơn thì nó chứa toàn bộ các màu của quang phổ và đôi khi được miêu tả như màu tiêu sắc Mọi vật đều bắt đầu từ màu trắng nên ta có thể coi đó là sự khởi đầu

Nhắc tới màu trắng, nhiều ý kiến thống nhất đó là màu của hồn nhiên, trong sáng, tinh khiết Ở phương Tây người ta chuộng màu trắng làm áo cô dâu Và đây cũng có thể giải thích vì sao áo của học sinh là màu trắng Trong cái nắng oi bức của

xứ nhiệt đới, bắt gặp một tà áo trắng sẽ là cho ta cảm giác dễ chịu hơn

Tuy nhiên cuộc sống cũng có nhiều sự can dự của màu trắng cho mất mát, đau thương và thất bại với một cuộc chiến cờ trắng được giơ lên thay cho câu nói đầu hàng cũng giống như sự bất lực, quy phục Ngoài ra người ta vẫn hay dùng “kẻ trắng

Trang 27

tay” để chỉ những con người không có tiền bạc của cải hay quyền lực Thậm chí đối với người Việt Nam màu trắng còn là màu chủ đạo trong tang lễ - màu trắng khăn tang

Nói chung đối với màu trắng, sự xuất hiện ở nhiều hoàn cảnh khác nhau sẽ mang nhiều ý nghĩa khác Nhưng chung quy lại màu trắng luôn là máu của nhẹ nhàng trong sáng những lặng lẽ đến buồn bã

2.3 Màu đen

Tần số xuất hiện khá dày đặc trong tác phẩm ( 89 lần), màu đen được Anh Đức đặt một dấu ấn rõ nét trong lòng độc giả Đối với đời thường, đây là màu vốn gây cảm giác mạnh cho người tiếp xúc, nó có sức hấp dẫn, lôi cuốn và vô cùng bí ẩn Nếu màu trắng là sự tổng hợp của tất cả các màu thì màu đen lại là sự che lắp tất cả các màu Nhiều quan niệm cho rằng màu đen biểu trưng cho sự sâu thẳm Người ta vẫn liên tưởng tới tội lỗi và địa ngục hoặc cái chết bất hạnh, lo âu, sầu muộn Chính vì vậy màu đen trở thành màu tang lễ Tuy nhiên màu đen còn là màu mang lại sự huyền bí nhưng sang trọng trong quan niệm hiện đại

Đối với người Á Đông, màu đen được miêu tả ở màu tóc, màu mắt Đó là màu đặc trưng chủng tộc Từ trước đến nay đã có không biết bao nhiêu câu văn, câu thơ hay bài hát ca ngợi màu đen của mắt và tóc người phụ nữ Tuy nhiên đối với vật dụng và tín ngưỡng, màu đen không được người Á Đông ưa chuộng

Trong ngôn ngữ, ngày nay ta gặp rất nhiều từ “đen” do sự xuất phát từ nghĩa

gốc: chiếc hộp đen, quỹ đen, vận đen,…

Từ điển giải thích nghĩa đen như sau: có màu như than, tối, sẫm; không được may mắn, kín, đông kín người,…Xuất phát từ nghĩa gốc và các quan niệm trong cuộc sống, Anh Đức cũng có những ứng dụng màu đen vào trong văn chương của mình

2.4 Màu xanh

Màu xanh xuất hiện ở khắp nơi, đó là màu của lá cây, của nước biển, của bầu trời…nói chung là những gì thuộc về thiên nhiên thường có màu xanh Đây còn là màu tượng trưng cho sức sống và niềm hy vọng Người ta vẫn thường lấy màu xanh để làm biểu tượng cho hoà bình, đó là lý do các nước phương Tây chọn màu xanh trên lá cờ của quốc gia để thể hiện lòng yêu chuộng hoà bình ( theo thống kê có khoảng hơn 20%

lá cờ các nước trên thế giới có sự xuất hiện của màu xanh) Trong thực tế ta gặp màu xanh của màu áo thanh niên xung phong – màu của sức trẻ, màu của quyền lực và sự

Trang 28

trật tự trong đồng phục cảnh sát và một số đồng phục của các công ty Xanh lá cây đem lại cho ta cảm giác an toàn nên người ta dùng màu này cho đèn giao thông với ý nghĩa: “đi nào” Màu xanh dương lại đi liền với sự vững vàng, yên bình, trong sáng và tinh khiết giải thích lý do các hãng nước khoáng ưa chuộng màu này làm nhãn hiệu Tuy vậy cũng có một số quan niệm trái ngược cho màu xanh Ví dụ như ở Iran màu xanh lại là màu của tang tóc Hoặc vì màu xanh cho cảm giác quá yên bình sẽ trở nên buồn chán Hay khi nói về sức khoẻ thì “xanh xao” lại là sự yếu đuối, bệnh tật Màu sắc cũng như vạn vật sinh ra đều chịu sự chi phối của nhiều yếu tố: quan niệm, tín ngưỡng, thói quen… của con người vì vậy cần có sự nhìn nhận đúng đắn trong từng hoàn cảnh khác nhau

2.5 Màu vàng

Màu vàng là màu sắc của ánh sáng tác động đều lên hai loại tế bào cảm thụ màu

đỏ và tế bào cảm thụ màu lục của mắt người Đây là màu của sự thành công và giàu sang, quý phái Theo quan niệm của người phương Tây màu vàng là màu mang lại sự may mắn và hạnh phúc vì vậy kiến trúc cổ phương Tây lấy màu vàng làm màu chủ đạo Còn những vị vua vẫn hay sống trong những màu vàng : cung điện sơn son thiếp vàng, long bào vàng hay “ngai vàng” v.v

Trong thế giới tự nhiên màu vàng ấm áp của nắng hay sự dịu dàng của ánh trăng cũng được ca ngợi rất nhiều Ở Việt Nam, hoa mai vàng là một loại hoa được ưa chuộng trong những dịp tết do đồng quan niệm ở sự may mắn và giàu sang Đó cũng

là một trong hai màu của quốc kỳ Việt Nam – màu vàng của ngôi sao năm cánh giữa lá

cờ Vàng trong ngũ hành là của mạng Thổ - tượng trưng cho đất đai, chủ quyền…Vì vậy nó hay xuất hiện trên lá cờ của các quốc gia

Trong văn học, nhất là trong ca dao, màu vàng xuất hiện khá dày đặc (chiếm 33% – một tỉ lệ cao nhất trong thế giới màu sắc của ca dao) [17; 385] với mong ước lý tưởng hóa trong cuộc sống của tác giả dân gian :

Trên trời có đám mây vàng Bên sông nước chảy có nàng quay tơ Tuy nhiên, cũng có những quan niệm cho rằng màu vàng tượng trưng cho sự phản bội Cô dâu chú rể khi chụp ảnh thường tránh dùng những bó hoa màu vàng Hay những người yêu nhau cũng tránh tặng hoa màu vàng cho nhau

2.6 Màu xám

Trang 29

Màu trắng và màu đen khi có sự hòa trộn lẫn nhau sẽ mang lại một màu trung lâp – màu xám Sinh ra bởi hai cực của sắc màu, màu xám không được liệt vào nhóm màu

cơ bản Tuy vậy, đấy lại là sự biểu hiện của an toàn, cẩn thận và tin cậy

Nhắc đến màu xám, có nhiều quan niệm cho rằng đây là màu biểu thị cho nỗi u buồn, phiền muộn và ảm đạm, là hiện thân của tính cách bảo thủ và hình thức

Trong ngôn ngữ thường hay khai thác ý nghĩa tiêu cực của màu xám, khi nói đến

“những lý thuyết màu xám” là đề cập đến sự vô dụng, không khả thi của nó

Nhìn chung nghĩa tiêu cực của màu xám thường được đề cập nhiều hơn nhất là nói đến cái chết Đấy là một sự trái ngược với màu hồng

Bên cạnh đó, màu tím còn được xem là biểu tượng của sức mạnh, sang trọng của quý tộc nên áo của các quan quân ngày xưa vẫn được may bằng vải lụa tím

Trong thế giới tự nhiên, màu này phần lớn được tìm thấy ở các loài hoa gần gũi như: lục bình, bằng lăng, sim…hoặc màu tím của buổi hoàng hôn

Khung cảnh lãng mạn trong văn chương ít khi vắng mặt màu tím, cũng có những

sự diễn tả màu tím là màu của vời vợi, xa xăm như bài Màu thời gian:

Màu thời gian không xanh Màu thời gian tím ngắt Hương thời gian không nồng Hương thời gian thanh thanh…

(Đoàn Phú Tứ)

2.8 Màu hồng

Là sự pha trộn giữa màu đỏ và màu trắng, màu hồng được xem là màu tượng trưng cho tình yêu và sự lãng mạn Quan niệm truyền thống cho rằng màu hồng là màu tượng trưng cho phái nữ bởi cái sắc nhẹ nhàng mềm yếu của nó Có những từ ngữ chỉ người thiếu nữ đã được đưa vào từ điển như: má hồng, quần hồng, gót hồng…

Trang 30

Nhắc đến màu hồng, người ta nghĩ ngay đến tinh thần lạc quan, yêu đời ví như câu: “Nhìn đời qua lăng kính màu hồng”

Đối với sức khỏe con người thì màu hồng được tượng trưng cho một cơ thể khỏe mạnh, vui vẻ - “da dẻ hồng hào”

2.9 Màu nâu

Màu nâu là sự hòa trộn giữa màu đỏ và màu đen Đây là màu biểu thị cho sức khỏe, sự ổn định và lòng tin cậy Màu này còn mang ý nghĩa về sự giản dị có lẻ xuất phát điểm từ màu áo của người dân Việt Nam thời xưa và màu áo các tiểu, tăng trong phật giáo Tuy nhiên cũng có ý kiến cho màu nâu là tượng trưng cho sự ngu si đần độn

Trong thực tế đời sống ta bắt gặp màu nâu trong đất, gỗ nhất là lượng đất phù sa

do cacbon hữu cơ tồn động khá nhiều hoặc phổ biến nhất là củ nâu – loại củ thường được người dân Việt Nam ngày xưa ép lấy nước nhuộm vải Ngày nay màu nâu lại trở thành màu được nhiều người ưa chuộng trong nội thất và trang phục Họ cho rằng màu nâu mới là màu sang trọng

3 Phân loại tính từ chỉ màu sắc trong tác phẩm của nhà văn Anh Đức

3.1 Màu sắc không xác định thang độ

3.1.1 Màu đỏ

Xét trong hai quyển Tuyển tập Anh Đức tập 1 và tập 2 ta nhận ra rằng lớp tính từ chỉ màu đỏ được ông sử dụng nhiều nhất Riêng màu đỏ thuần túy, không xác định cấp

độ được ông sử dụng hơn 60 lần trong nhiều văn cảnh khác nhau

Như chúng ta đã biết, các tác phẩm mà nhà văn sáng tác phần lớn nằm trong hoàn cảnh chiến tranh, cho nên cái màu đỏ được ông gọi tên trong những sự vật đôi khi là những vật gắn liền với cuộc chiến Đó có thể là cái tên của loại vũ khí mà quân

ta sử dụng chống lại quân thù: súng bá đỏ Ta gặp “súng bá đỏ” trên vai các cô du

kích cùng Ông Tư Vườn Chim vừa chiến đấu, vừa bảo vệ rừng khỏi sự oanh tạc của kẻ

thù, “cây bá đỏ” ấy cũng đã từng theo người chiến sĩ cách mạng anh dũng hi sinh “hồi

tháng nắng”trong lời kể của anh giao liên “Bữa đó ảnh bắn cây bá đỏ, tả xông hữu đột với mấy con trực thăng cá nhái, giải thoát cho đoàn khách.” Cây súng ấy đã được

anh Ba phát huy hết công lực cộng thêm bầu nhiệt huyết và tinh thần yêu nước xã thân vì cách mạng mà chiến đấu với trực thăng địch giải thoát đoàn cán bộ Và hình ảnh anh Ba khoát súng trường bá đỏ đã không còn đơn thuần là một cá nhân nữa mà đã

là đại diện cho toàn đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam, quân đội Việt Nam thời ấy

Trang 31

Trong bức thư gửi Nguyễn Tuân trong bút ký Dưới một vầng ánh sáng đục đã nói lên điều đó: chỉ cần bước đến cái “vùng phụ cận” của Sài Gòn “sẽ luôn ngó thấy những

du kích mình mặc áo vải dù xanh lá cây, tay thủ súng trường bá đỏ xăm xăm chạy ngược về hướng bộ binh địch sắp tràn tới”

Màu đỏ còn là một màu - với nghĩa cơ bản mà nó có – màu của máu Màu đỏ máu ấy được Anh Đức miêu tả trong nhiều trường hợp thương tâm của bao nhiêu số phận Trước tiên nó được thay cho tên gọi của một địa danh mà khi đọc lên có thể hiểu được trọn vẹn những đau thương mất mát mà nơi đó từng nếm trải Bài chính tả các

em viết về lịch sử của trường có câu: “trên cái nền đất này là trường học thân yêu của

em, mấy năm trước là một nơi đầm đìa máu đỏ…” thật vậy, đó không phải là một câu

nói ngoa cho cái vùng đất đã phải chịu nhìu cảnh tàn khốc, tang thương Chính nền đất này đã vọng lại tiếng thét, vết máu của những con người vì nước, vì cách mạng Đó là nơi bọn giặc giết hại dã man Ba và Chú Sáu của bé Hà vì họ đã che giấu cán bộ cách mạng Chúng không giết bằng súng mà mổ bụng lấy hai trái tim treo lên sống lá dừa

nước kèm thêm một tờ giấy hăm dọa Hai trái tim đỏ ấy vẫn còn “nhễu từng giọt

máu”, đôi môi của người chết “có dấu răng nghiến vào đến ứa máu” vì quyết tâm

không khai báo và rên la Màu đỏ ấy là một màu tàn khốc của sự ghê gớm Và nó còn

là màu máu của ngư phủ đắm thuyền bị bọn cá mập đớp trong cơn bão biển ở truyện

ngắn Cứu thuyền hay còn là màu máu của chiếc khăn thấm máu buột cái chân gãy rập

của thằng Vọi – người làm công – trong sự hờ hững đến tàn nhẫn của lão Tư Hưng – người chủ Màu đỏ ấy đã để lại ấn tượng khó phai trong lòng người đọc mỗi lần tiếp xúc Có lẽ chỉ có màu đỏ thuần túy với giọng kể dửng dưng, khách quan như một tấn ảnh chụp lại viễn cảnh mới sinh ra sức lay động mạnh mẽ đến tâm thức người đọc Anh Đức có nói gì đâu, ông không cho người đọc thấy trái tim đau đớn của mình nhưng sao ta thấy như có màu đỏ máu chảy ở đầu ngọn bút, như trái tim mình bổng quặn thắt niềm đau khi chứng kiến bao cảnh thương tâm

Có phải chăng nguyên nhân của màu đỏ đau thương chính là màu đỏ của nguy hiểm, sự chết chóc Nếu từ điển chỉ nói đơn giản là sự nguy hiểm thì Anh Đức đã cụ thể hóa từng màu đỏ ấy Đó chính là màu đèn của những chiếc trực thăng Mỹ đi gây

tội ác trong đêm tối: “Dưới ven đồng xa, những chiếc trực thăng về muộn và những

chiếc trực thăng đi gây tội ác ban đêm nhấp nha nhấp nháy đèn đỏ, khi ẩn khi hiện, chấp chới như những tàn đóm”, Chiếc “HU.1A, HU 1B cứ bì bà bì bạch nhấp nháy

Trang 32

đèn đỏ mãi một chổ trên thinh không, bắn đại liên rất chi là dai” Chẳng phải mỗi lần

thấy cái màu đỏ ấy là kéo theo chết chóc, đổ vỡ, tan nát của người, của nhà cửa, cây cối, đất đai…đó sao? Màu đỏ hiểm nguy sẽ vẫn là nguy hiểm dù to hay nhỏ, rộng hay hẹp Đôi khi nó là cái đèn to tướng gắn trên chiếc trực thăng nhưng cũng có lúc nó bé

bằng dấu mực đánh chéo trên giấy của tên Việt gian: “Đây, cái nhà nào tôi có đánh

dấu chéo đỏ là nhà tụi Việt cộng ráo” Chỉ cần chú ý vào cái dấu đỏ kia là bao nhiêu

người bị bắt, bị giết, bao cơ sở cách mạng bị phá vỡ Vậy màu đỏ đã trở thành màu tai họa!?

Anh Đức đã không đồng nhất đổ tội cho màu đỏ Quả thật, màu đỏ của máu ghê gớm đấy, cây súng trường bá đỏ là sự hi sinh đấy nhưng ta còn bắt gặp một màu đỏ dễ

thương – màu đỏ thẹn thùng, e ấp Mở đầu tiểu thuyết Hòn Đất là cái “thẹn đỏ mặt” của Sứ khi anh San hỏi khẽ “Sao lóng rày cô Ba Sứ không gội bông bưởi nữa?” Câu

hỏi ngỡ như bâng quơ nhưng làm trái tim của người con gái như ngừng đập Thật ra đó đâu phải là câu nói vô tình mà anh San buột miệng thốt ra Đó là câu hỏi đầy ngụ ý mà người chiến sĩ muốn nói với cô gái anh thầm thương trộm nhớ Có yêu người ta mới có

quan tâm biết rằng mái tóc “dài mượt lạ thường” của Sứ gội bằng bông bưởi Và cũng

chính cái đỏ mặt thẹn thùng kia đã báo hiệu cho một mối tình đằm thắm để sau này chị

Sứ thủy chung chờ đợi, một mình nuôi dạy bé Thúy – kết quả tình yêu của hai người –

và yêu thương ngắm cái màu đỏ trên má cô con gái nhỏ vì lúng túng khi bị mẹ phát hiện ra cái việc nhận dạng bằng cách lấy tấm ảnh của ba nó rồi nhìn vào gương xem mình giống ba ở những điểm gì Vẫn cái màu đỏ ấy trên má nhưng em gái Sứ - cô Quyên không chỉ thẹn mà còn là biểu hiện cho sự sung sướng khi nghe anh Tám Chấn báo tin mừng về Ngạn – người yêu Quyên Ngạn bị bắt và có tin đồn phản bội, đó là một cú giáng mạnh xuống Quyên Cô không chỉ yêu Ngạn bằng tình yêu nam nữ mà còn là cảm phục tinh thần kiên cường, còn là tình đồng chí thiêng liêng Chính vì vậy, làm sao Quyên có thể chịu đựng nỗi cú sốc khi nghĩ rằng người yêu mình là một tên phản bội Rất may là anh Tám đã minh oan cho Ngạn Quyên sung sướng loạn nhịp

tim, mặt “đỏ lên” niềm hạnh phúc Màu đỏ trên má Quyên là kết tinh của sự vui mừng

vì niềm tin vẫn giữ vững nhưng còn là chút thẹn vì cô đã có những giây phút mất lòng tin vào Ngạn Đẹp làm sao màu đỏ trên khuôn mặt người thiếu nữ Sứ, Quyên ( trong

Hòn Đất) và của Quế (trong Mùa khói) thẹn thùng đỏ mặt vậy còn cánh mày râu thì

sao? Xin thưa rằng các anh chàng khi thẹn cũng không thể che giấu màu đỏ trên mặt

Trang 33

của mình Khi anh Năm Thới ngỏ lời làm mai Diệu cho Lân là lúc Lân “ngượng đỏ

mặt, không nói sao cả”, giống như các anh chàng giải phóng quân đóng trong xóm bị

du kích trêu cứ “đỏ mặt lên hết” …trong khi giáp mặt với quân thù, những người

chiến sĩ này lại ngoan cường anh dũng Vậy mới biết rằng, đối với chuyện tình cảm, dù

là nam hay nữ cũng khó mà cứng rắn Đó là màu đỏ thẹn trước tình cảm tế nhị, riêng

tư, màu đỏ thẹn thùng ấy khác hoàn toàn với màu đỏ trên mặt anh Thà – người phụ trách đóng cây đàn Côngtơrơ bat – cây đại hồ cầm mà anh Hoài ao ước Ngày cây đàn hoàn tất cũng là một ngày đặc biệt với cả đội, trong niềm hứng khởi tột cùng, Hoài đã

nói: “Thà, leo lên lưng tao cõng mày đi Thà, leo lên!” Anh chàng thợ đóng đàn “đỏ”

cả mặt vì cảm giác của sự thành công và còn là niềm vui làm cho người khác được vui

Đó chính là lòng vị tha vốn tồn tại trong con người Việt Nam

Màu đỏ của máu, của tình yêu còn kết tinh nên một màu đỏ khó quên cho những người con đất Việt, màu đỏ thiêng liêng của nền cờ Việt quốc Nhìn thấy lá cờ của tin yêu bay giữa nền trời là một niềm mơ ước đánh đổi bằng mọi thứ của mỗi một người

Việt “Đây là bóng cờ Tây Sơn bay đỏ rợp cả ngọn núi Bân vào một sáng cuối năm

cách đây gần hai thế kỷ, hôm nay vẫn còn đỏ rợp cả hồn tôi” Cả ngàn xưa cho đến

tận hôm nay, màu đỏ ấy vẫn là một màu bất tận Đất nước này đã đang và sẽ luôn dung dưỡng hàng triệu trái tim hòa với màu cờ

Màu đỏ dưới ngòi bút của Anh Đức không chỉ là một màu thuần túy như từ điển miêu tả nữa, nó được bàn tay tài hoa của văn sĩ khéo léo đặt vào từng văn cảnh để chúng trở nên lung linh đầy ý nghĩa Với màu đỏ không có cấp độ này ta nhận ra sự gặp gỡ của Anh Đức và Nguyễn Quang Sáng Đọc truyện của Nguyễn Quang Sáng,

người đọc sẽ thấy màu đỏ của “máu ướt đỏ cả băng” trong Bông cẩm thạch, hay màu

cờ của cách mạng Tựu chung lại, màu đỏ đã đi vào văn học bằng chính cái sắc biểu trưng của nó

3.1.2 Màu trắng

Màu trắng thuần túy trong tác phẩm của Anh Đức được sử dụng phần lớn cho việc miêu tả thiên nhiên Đây là nét tả chân của nhà văn – miêu tả sự vật với đúng trạng thái của nó

Anh Đức là nhà văn Nam Bộ, phần lớn tác phẩm của ông là nói về những vật, những việc của vùng đất phù sa màu mỡ này cho nên đối với đọc giả là người miền

Trang 34

Nam dẽ rất dễ bắt gặp những khung cảnh quen thuộc Mà một trong những hình ảnh ấy

là cánh cò Đã từ rất lâu rồi, cánh cò đã đi vào văn học:

Con cò bay lả bay la

bay từ cửa phủ bay ra cánh đồng

Khi nói về sự trù phú, no đủ người ta vẫn thường nói “ruộng đất cò bay thẳng

cánh”…cánh cò bay thường là biểu tượng của cuộc sống thanh bình nơi vùng quê, yên

tĩnh, điều đó đã ăn sâu vào trong tâm trí của người Việt Nam Thật vậy khi hai vợ

chồng lạc lối trên con đường “kiếm đất khai khẩn”, người chồng “leo lên cây cao để

nhắm hướng”, xa xa hiện lên màu trắng của những cánh cò Ông đã mừng rỡ kêu lên

“mình ơi, khỏe rồi, vợ chồng mình sống đặng rồi” chính cái khoảng rừng tràm đang

dập dìu cánh trắng ấy đã nuôi sống hai vợ chồng, rồi họ sinh con đẻ cái, nuôi con, nuôi cháu cũng nhờ vào đó Người ta cũng quên mất cái tên thật của ông mà chỉ còn gọi

ông là “Ông Tư vườn chim” – một con người lấy màu trắng cánh cò làm sự sống, làm

niềm vui suốt cả cuộc đời Ngoài ông Tư vườn chim – một ông lão trãi nghiệm cuộc đời qua bao nhiêu năm tháng, còn có những người trẻ tuổi như Ngạn – anh chiến sĩ cách mạng – cũng mang một niềm yêu thương đối với cánh cò, đối với cuộc sống nông

thôn: “cứ mỗi một năm, mỗi một tháng, Ngạn lại thấy thương thêm những ngôi nhà

sàn , những bà con Khơ-Me thật thà, “những đàn cò trắng chiều nào cũng trở về lượn cánh trên đầu các cô gái đi đội nước suối Lươn, vẫy vẫy đôi bàn tay dịu nhĩu, cười nói râm ran” Hình ảnh những đàn cò trắng… lượn cánh trên đầu các cô gái đi đội nước

thật là một cảnh tượng tuyệt vời của một vùng quê Nam Bộ Từng gốc lúa bờ tre đã gắn với hình ảnh người con gái xứ Hòn mà anh yêu tha thiết Tình yêu của hai người

không còn là “mối thương yêu riêng tây nữa” mà nó gắn với “cái chung quý giá là

cách mạng”, là làng quê thôn xóm

Sứ cũng vậy, nhưng khác với Ngạn, chị sinh ra , lớn lên, gắn bó với cái nơi “quả

ngọt trái sai”này Từ một đứa bé đến khi trở thành một người mẹ, chị chưa hề rời khỏi

mảnh đất mà chị đã “oa oa cất tiếng khóc đầu tiên, nơi quả ngọt trái sai đã thắm hồng

da thịt chị” Tình yêu với anh San cũng nảy nở trên mảnh đất đó Bởi thế, Sứ “yêu Hòn Đất bằng một tình yêu hầu như là máu thịt” Ở nơi ấy có sóng biển hiền hòa, có

ruộng đồng tươi tốt và núi Ba Thê “mỗi buổi hoàng hôn lại hiện trắng những cánh

cò” Chỉ cần nhìn thấy cái “chấm trằng hình dấu ớ ấy” Sứ lại thấy lòng yêu thương

hơn, gắn bó hơn với nơi chôn nhau cắt rốn

Trang 35

Mỗi một người đều có một cách nhìn khác nhau về cánh cò, nhưng tựu chung lại

đó vẫn là màu trắng thanh bình, yên ấm Giặc ngoại xâm tràn đến giao tang tóc khắp

nơi, cánh cò cũng phải cùng chung số phận “rặng Thất Sơn” chiều nào cũng “chớp

trắng những cánh cò” “sau một ngày đi kiếm ăn nơi chốn xa” “nhưng chiều hôm nay đàn cò đầu tiên về tới vừa xuống vườn xoài Hòn Đất thì chúng xao xát vụt bay lên hết cả” Bởi nơi đó không còn là chốn yên bình của những chiếc “tổ rơm vắt vẻo trên đọt xoài - nơi chúng sống từ đời này sang đời khác” nữa, “cây cối ở hang Hòn bị đạn chém sả, như có bàn tay vô hình đang phát cho các nhánh mãng cầu, nhánh xoài rụng xuống một cách không thương tiếc” Còn khi đàn cò sà xuống lại bị súng từ bên dưới

bắn lên Những sinh linh bé nhỏ hiền lành phải chịu đau đớn, chết chóc “Trong buổi

chiều tà, có mấy con cò bị trúng đạn, xoặc đôi cánh trắng, từ không trung rơi thẳng xuống” Màu trắng ấy rơi xuống rơi xuống như sự an lành dần mất hút trên mảnh đất

đang dậy lên tiếng súng Nhìn cái màu trắng lả tả bay đi bên “rặng Thất Sơn” khiến lòng người dân xứ Hòn bàng hoàng chua xót Ở đó có một đôi mắt già nua lòng “đau

như cắt” khi chứng kiến cảnh ấy – đó là má Sáu, má nhìn đàn cò chấp chới không tìm

ra nơi đậu mà thấy trái tim mình cũng chới với không có nơi dựa dẫm để đập nhịp đập bình thường Anh Đức đã nói lên tiếng nói chung cho tâm thức của dân tộc Việt Nam yêu thương, quý trọng màu trắng của cánh cò

Cánh cò trắng gắn với người Việt Nam, còn một màu trắng nữa nối liền cánh

cò với quê hương Nam Bộ Đó chính là màu trắng của bông tràm U Minh Giữa bạt ngàn rừng tràm, bông tràm xuất hiện như những chiếc đèn lồng trắng nhỏ treo lơ lửng tỏa hương thơm ngát Thơm cuộc sống của người dân và trắng của giấc mơ của ông lão vườn chim

Màu trắng của thiên nhiên là màu trắng vô tận, khó mà miêu tả được hết trên trang viết : trắng cánh cò, trắng bông tràm, bông trang là những màu trắng của rừng, của đất liền, ngoài ra còn có màu trắng trên đại dương mênh mông – màu trắng của thân những con cá quẫy trong kẽ lưới và màu trắng của bãi cát Long Châu thoai thoải

trãi dài “ Cát trắng đến nỗi những đàn cò như thế, với sắc lông trắng toát của nó, khi

đáp xuống là như hóa biến trong cát không còn phân biệt được nữa” Hoặc màu trắng

cánh buồm chạy veo veo trong gió chướng và những chiếc ghe biển dù “khắp mạn

sườn nó lủng bở”, vậy mà ở trước mũi, nó vẫn còn hai con mắt, sơn trắng, như nhìn

qua được đêm tối” Đối với người dân miền biển, màu trắng ấy trở thành quên thuộc,

Trang 36

quen thuộc nhưng không nhàm chán Con mắt sơn trắng trên nhưngc chiếc thuyền

không phải là điều lạ, mọi chiếc ghe khác cũng thường như vậy nhưng con mắt của

“chiếc ghe lủng bở” ấy trong đêm tối bổng trở nên bừng sáng, nhìn xuyên qua cả sự

đời mà chứng kiến cho mối tình của Hai Chí và Hạnh Điểm trắng của đôi mắt dường như cho ta nhìn được tương lai của họ - Hy vọng rồi họ cũng bình yên sống bên nhau, đằm thắm như tình yêu của chị Tư Hậu và anh Khoa khi hai người dạo chân trên cát Từng có ý kiến cho rằng màu trắng tượng trưng cho sự yếu đuối, mất sức sống Nhưng thực chất cũng tùy vào sự vật mang màu trắng ấy Có những màu trắng lại tượng trưng cho sự sống, cho nguồn sinh lực dạt dào mà một trong những trường hợp

ấy là màu nhựa cao su Hãy nghe Anh Đức miêu tả trong bức thư gửi Nguyên Tuân

“rừng cao su bạt ngàn đêm ngày không ngớt nhễu ròng những giọt sữa nuôi những mầm sống khác” Chỉ cần một hình ảnh gần gũi và sinh động, Anh Đức đã thể hiện

đầy đủ cái không khí rộn ràng, lạc quan của vùng Đông Nam Bộ - “nơi có một thành

phố lớn đặc biệt anh hùng, đặc biệt xáo động, đặc biệt đau thương” - ở đó “trong cái cảnh bom nổ đạn xé, bà con vẫn cạo mủ cao su, đào hầm hố chông, vẫn ăn hủ tiếu và uống cà phê” bởi tất cả đều phải “hòa cho được vào lửa khói” chính dưới rừng cao su

bạt ngàn ấy là nơi náu mình của “những ngôi trường nhộn nhịp trẻ em”, có “những

chiếc xe bò ung dung bước một”… “sự bình thường hóa cao độ cuộc sống chiến đấu ở đây mà ngao ngán cho thằng giặc Mỹ” “Bom Napan”, “chất độc hóa học”, “chó Becgiê”… tất cả “các vũ khí đều được chúng đem ra xài” nhưng sao mủ cao su vẫn là

một dòng sữa trắng không hề vẩn lấy một vết nhơ nào cũng giống như lòng người dân vẫn hướng về cách mạng, về một đất nước thanh bình Chính bởi tấm lòng không dời chuyển, mủ cao su vẫn trắng màu trắng hiền hòa của sữa dù có màu trắng khác ngày đêm ám ảnh – màu trắng bạc của máy bay B.52

B.52 là một thứ vũ khí độc ác mà Mỹ sử dụng “ném làng, ném xóm ta” Sức

công phá và hình thù to lớn, B.52 là một cái máy xúc điên loạn tàn phá bất cứ nơi nào chúng đi qua Vậy, cái màu trắng đã không còn giữ vẻ hiền hòa của nó khi hóa thân

vào đây nữa Đó lại là màu của bọn xâm lăng : màu da của những tên “Tây trắng”

nghễu nghệnh, nghênh ngang đi trên con đường vốn trước kia yên bình hạnh phúc

Chúng là người ngoại quốc, cái nước da trắng kia còn như muốn “ra sức làm cho

trắng đi” những vùng đất của Việt Nam Có đôi khi chỉ một vật trắng rất nhỏ lại có

nhiều điều đáng nói giống như “điếu thuốc Mêlia trắng” cộm ló lên trong túi áo của

Trang 37

lão Tư Hưng – một tên bóc lột máu lạnh Nhìn cái kiểu hút thuốc trưởng giả của hắn

cũng đủ để ta sôi gan vì căm giận: “Lão Tư Hưng móc gói Mêlia, búng cái tách lòi ra

một điếu, lão ta ngoạm lấy ấm ứ nói: - Vọi lấy lửa!” Điếu thuốc lòi ra cũng lòi luôn

cái bản chất bóc lột của hắn, gói thuốc sang trọng kia được mua bằng thành quả lao động và cả máu của những con người lam lũ vùng biển ấy, họ làm ra nhưng không hề được hưởng mà phải cung phụng cho kẻ khác Vậy có phải chăng màu trắng ấy đối với người nông dân là “mất trắng” Như một sự tất nhiên, những màu trắng tàn bạo ấy đã

góp phần làm nên màu trắng đau thương Hẳn ta khó mà quên được “cái lu mái chứa

đầy xương trắng” được đặt trong hang Hòn Đó là “xương của các đồng chí ta bị địch đập bằng cột chèo rồi liệng xác xuống bàu” được Sứ và Quyên tìm thấy khi lũ chó

hoang đang xâu xé Chỉ cần tưởng tượng tới cảnh đó thôi là ai cũng phải thấy lạnh người Tuy nhiên đó không phải là cảm giác ghê sợ mà là cảm thương, xót xa cho số phận của những con người anh dũng và nếu có ghê sợ thì cũng là ghê sợ sự tàn ác không tính người của bọn cướp nước Chúng còn tàn ác hơn lũ chó hoang kia Đó chỉ

là một trong số rất nhiều những trường hợp của chiến sĩ ta lúc bấy giờ Khi đất nước trong cảnh nước sôi lửa bỏng, hàng ngày, hàng giờ có bao nhiêu trường hợp như vậy nên màu tang tóc giăng mắc khắp nơi Màu trắng khăn tang đã phải chít lên đầu biết bao người vợ, bao đứa con mà cho dù thời gian trôi qua họ vẫn không quên được,

“trước mặt em, em chỉ thấy vầng khăn trắng mẹ em đội suốt từ trưa đến tối ngày hôm ấy”

Màu trắng là một màu nhẹ nhàng giản dị nên vẫn thường là màu chủ đạo trong

bệnh viện nhưng vô tình nó lại biến thành màu buồn bã “bệnh viện với những bức

tường vôi trắng, những bộ quần áo trắng…chiếc bàn mổ bằng đá trắng” đã thành hình

sự tẻ nhạt trong lòng chị Tư Hậu Đó là tâm trạng chung của những bệnh nhân Xuân

Quỳnh- nhà thơ đa sầu đa cảm cũng từng có bài thơ Thời gian trắng:

Cửa bệnh viện ngoài kia là quá khứ Những vui buồn khao khát đã từng qua

… Quá khứ em không chỉ ngày xưa

Mà ngay cả hôm nay thành quá khứ Quá khứ của em ngoài cánh cửa Gương mặt anh, gương mặt các con yêu

Trang 38

Em ở đây không sớm không chiều Thời gian trắng, không gian toàn màu trắng Trái tim buồn sau lần áo mỏng

Từng đập vì anh vì những trang thơ Trái tim nay mỗi phút mỗi giờ Chỉ có đập cho mình em đau đớn

… Thời gian trắng vẫn trong bệnh viện Chăn màn trắng, nỗi lo và cái chết Ngày với đêm có phân biệt gì đâu Gương mặt người nhợt nhạt như nhau

Và quần áo một màu xanh ố cũ

… Phía trước, phía sau, dưới đất, trên đầu Dường trong suốt một màu vô tận trắng

… Lúc anh đến lúc anh đi thành quá khứ Anh thuộc về những người ngoài cánh cửa

Khi phải hằng ngày đối mặt với bệnh tật thì đó đúng là một “khoảng thời gian

trắng” nhất Màu sắc bằng không, niềm vui cũng bằng không Chị Tư Hậu đang hàng

ngày đối mặt với ranh giới giữa cái chết và sự sống Nhưng xưa kia, trong chiến đấu, chị còn có đồng đội, có các con còn hiện tại chị gần như cô độc Rất may là kết thúc tác phẩm chị được bình phục trở lại với cuộc đời Màu trắng ấy không phải là màu trắng không có hậu!

Chung quy lại về màu trắng không xác định cấp độ, Anh Đức đã cho người đọc thấy hai mặt tích cực và tiêu cực của nó Màu trắng xuất hiện với ý nghĩa cơ bản vốn

Trang 39

có kết hợp với hoàn cảnh cụ thể của từng nhân vật, sự việc tạo nên một nét riêng khó lẫn lộn gây ấn tượng trong lòng độc giả

3.1.3 Màu đen

Dùng màu đen trong tác phẩm của mình, Anh Đức đã chú ý đến chi tiết tả thực ở hoàn cảnh đương thời Phần lớn tác phẩm Anh Đức nói về đất nước ta đang trong chiến đấu Người dân còn lam lũ, cho nên màu đen trở thành màu chủ đạo trong trang phục của các nhân vật Nếu màu đen hay đem đến sự phản cảm thì khi đọc văn Anh Đức ta lại cảm thấy yêu cái màu đen giản dị của bộ đồ chị Ba giao liên tuy nghiêm

khắc nhưng hết lòng vì cách mạng, của “bộ bà ba đen đã vá” mà Đạt xếp gọn trong ba

lô…Có thể ban đầu màu đen ấy chỉ là do thời cuộc chiến tranh , cần sự giản đơn và cần kiệm, nhưng ẩn sâu bên trong còn bao nhiêu ý nghĩa Đó là màu của mảnh đất quê hương màu mỡ phù sa đang ngày đêm rên xiết dưới gót giày xâm lược Đất oằn vai thấm mồ hôi, xương máu của bao người con anh dũng Đất trìu mến chở che căn hầm cất giấu chiến sĩ của ta…và chính màu đất thẩm hơn để hòa vào màu áo của đồng bào tránh máy bay địch hung hăng hủy diệt…Tất cả già trẻ, lớn bé gần như chỉ mặc một màu đen, từ thằng Út bé xíu cho tới anh chiến sĩ Ngạn Mọi người một lòng hòa vào đất mẹ để giữ lấy quê hương Và chắc rằng ta khó mà quên được chiếc áo bà ba đen

mà chị Sứ đắp lên người con trong cái đêm cuối cùng của tình mẫu tử Chẳng biết là linh cảm đã mách bảo hay sự ngẫu nhiên mà trong đêm ấy Sứ đã mặc đúng chiếc áo

mẹ Sáu may cho hai chị em Sứ và Quyên Ngày ấy mẹ ướp tình yêu thương vào từng sợi tơ dệt nên hai chiếc áo cho hai chị em Sứ, thì giờ này với tình mẹ con thiêng liêng,

Sứ không cảm thấy “có cái mãnh lực gì ở sau lưng cứ níu kéo chị lại”, đó là tình yêu

bất tận với đứa con gái bé bỏng mà chị rứt ruột sinh ra và cũng là trực giác của người

mẹ trong lần cuối cùng được gần con Lần ra đi ấy là bước chân vĩnh viễn của Sứ

Chiếc áo “đen” còn đó, vươn mùi mồ hôi ấm áp cũng như hình ảnh chị Sứ mãi mãi

không phai mờ trong tim người ở lại Hơi ấm ấy mãi bao bọc lấy bé Thúy, Quyên và

má Sáu

Màu đen còn biểu hiện trên chiếc áo trắng và quần đen của chị Ninh – người tuy không phụ trách những chuyện to tát Chị là một người lo chuyện giấy má, cơm áo,

gạo tiền” “Một con người làm việc thầm lặng, không có tên tuổi giữa một cơ quan mà

ai ai cũng có tên tuổi”, nhưng rõ ràng nếu không có chị, những con người “có tên tuổi”

ấy khó mà tạo nên danh tiếng Chị Ninh là vậy, suốt đời “sống đạm bạc và khắc khổ”

Trang 40

như chính cái bộ đồ chị khoát lên người, nhưng chưa bao giờ chị phàn nàn, kêu than

Chính màu sắc đơn giản ấy đã để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng mọi người “Trong

tâm trí tôi còn lưu lại cho tới nay, bộ quần áo chị Ninh mặc trên người hầu như không đổi khác” dù cuộc đời bao nhiêu thay đổi, thăng trầm

Tất cả những trang phục màu đen trong tác phẩm của Anh Đức dường như không còn giữ nghĩa gốc của màu đen nữa mà là màu của sự giản dị, ấm áp nghĩa tình Trong một vài trường hợp, trang phục màu đen còn biểu thị cho sự trang trọng, thiêng liêng

Thật vậy, khi chứng kiến cảnh ông già Tám “mở tủ thờ lấy cái áo dài bằng xuyến đen

ra” ta biết ngay là ông sắp làm một việc gì đó có tính chất nghiêm trang, linh thiêng

Ông quỳ xuống trước bàn thờ tổ tiên tuyên lời thề bám đất và ông cũng đã lường trước

về cái chết của bản thân trong chiếc áo dài đen đó Cũng là một cái chết nhưng mẹ của

bé Hà trong Ký ức tuổi thơ đã :nấu nước tắm rữa” cho chồng mình và cẩn thận mặc

vào người chồng một “bộ quần áo vải xiêm đen mới” vì đây là lần cuối cùng chị chạm

vào chồng mình Chỉ ít phút sau người ta sưc đưa người nông dân ấy hòa quyện vào với lòng đất mẹ sau khi anh thà chết chứ quyết tâm vẫn giữ che cho cán bộ cách mạng…

Nhìn chung đây là một sự khác biệt của Anh Đức đối với Lê Vĩnh Hòa và Nguyễn Quang Sáng khi hai nhà văn này thường dùng màu đen không xác định thang

độ để miêu tả về nét nghĩa buồn bã và tăm tối Có lẽ vì những truyện ngắn hoặc tiểu thuyết của Anh Đức thường có một kết thúc khá tốt đẹp nên khi đọc văn ông ta không mang quá nặng cảm giác buồn bã Nói như vậy không có nghĩa là Anh Đức đã không

sử dụng màu đen theo nét nghĩa của nó Phần lớn màu đen không xác định thang độ của Anh Đức được dùng diễn tả sự vật, hiện tượng ở chiều hướng tiêu cực

Trong truyện ngắn Cứu thuyền, giữa lúc biển động dữ dội, mọi người đang lo

công việc cứu thuyền mắc cạn ở khơi thì tên cha Xứ và trùm Sở không hề quan tâm đến những người ngư phủ ngoài kia mà chỉ lợi dụng việc này để củng cố thêm lòng tin

mù quáng vào quyền lực tôn giáo Khi “ra ngoài ấy xem sao”, “ ông cha Xứ” còn “trở

vào lấy chiếc mũ nồi bằng da đen chụp lên đầu” Chiếc mũ ấy đã đen màu đen của sự

gian manh, nó đã “chụp” lên đầu cha Xứ những ý nghĩ không trong sáng Bởi xuất

phát điểm ông ta chưa hề nghì tới an nguy của các con chiên Nghe tin “có một chiếc

thuyền lưới hôm qua ra khơi, biển động không kịp về Đã một ngày một đêm rồi mà vẫn không thấy tâm hơi” thì ông chỉ “hỏi một cách vô tâm” lơ đễnh “Thuyền ở Ngư

Ngày đăng: 12/03/2016, 10:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban – Ngữ pháp tiếng Việt – Nxb Giáo dục – 2005 Khác
2. Lê Biên – Từ loại tiếng Việt hiện đại – Nxb Giáo dục – 1999 Khác
3. Nguyễn Hồng Cổn - Tạp chí ngôn ngữ số 2 – 2003 Khác
4. Nguyễn Thị Dự - Tạp chí ngôn ngữ số 9 – 2003 Khác
5. Nguyễn Tuấn Đăng - Tạp chí ngôn ngữ và đời sống số 7 (93) – 2003 Khác
6. Đinh Văn Đức – Ngữ pháp tiếng Việt từ loại – Nxb Đại học quốc gia Hà Nội – 2001 Khác
7. Chu Giang – Tuyển tập Anh Đức tập một – Nxb Văn học – 1997 Khác
8. Chu Giang – Tuyển tập Anh Đức tập hai – Nxb Văn học – 1997 Khác
9. Nguyễn Khánh Hà - Tạp chí ngôn ngữ và đời sống số 9 (179) – 2010 Khác
10. Huỳnh Thị Hồng Hạnh – Tạp chí Ngữ học trẻ - 1996 Khác
11. Đỗ Thị Kim Liên - Ngữ pháp tiếng Việt - Nxb Giáo dục Khác
12. Nguyễn Thị Nhung - Tạp chí ngôn ngữ và đời sống số 4 (174) – 2010 Khác
13. Vũ Phương Oanh - Tạp chí Ngữ học trẻ - 2003 Khác
14. Đinh Thị Oanh – Tạp chí Ngữ học trẻ - 2003 Khác
15. Nguyễn Hữu Quỳnh – Ngữ pháp tiếng Việt – Nxb Từ điển Bách khoa – 2001 Khác
16. Nguyễn Thị Ngọc Quỳnh - Tạp chí Ngữ học trẻ - 2005 Khác
17.Trần Văn Sáng - Tạp chí Ngữ học trẻ - 2007. 18 . Đào Thản – Tạp chí ngôn ngữ số 2 – 1993 Khác
19. Nguyễn Thị Thành Thắng – Tạp chí ngôn ngữ và đời sống số 11 (73) – 2001 Khác
20. Bùi Việt Thắng – Anh Đức về tác gia và tác phẩm – Nxb Giáo dục Khác
21. Nguyễn Thị Bích Thủy – Tạp chí Ngữ học trẻ - 2002 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng đồ tỉ lệ màu sắc được sử dụng  trong tác phẩm của nhà văn Anh Đức - tính từ chỉ màu sắc trong một số tác phẩm của anh đức
ng đồ tỉ lệ màu sắc được sử dụng trong tác phẩm của nhà văn Anh Đức (Trang 24)
Hình con rồng màu đỏ - tính từ chỉ màu sắc trong một số tác phẩm của anh đức
Hình con rồng màu đỏ (Trang 99)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w