1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

từ xưng hô trong một số tác phẩm của anh đức

84 769 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 714,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo tác giả thì đại từ xưng hô có thể chia thành hai lớp: đại từ xưng hô gốc đích thực và các yếu tố được đại từ hóa dùng để xưng hô như: những danh từ lâm thời đảm nhận chức năng đại t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỪ VÀ TỪ XƯNG

HÔ TRONG TIẾNG VIỆT

1.1 Khái niệm về từ tiếng Việt

1.1.1 Các quan niệm khác nhau về từ tiếng việt

1.1.2 Đặc điểm của từ tiếng việt

1.1.3 Các loại từ tiếng việt

1.1.3.1 Theo Diệp Quang Ban trong “Ngữ pháp tiếng Việt- tập một”

1.1.3.2 Theo Đinh Văn Đức trong “Ngữ pháp tiếng Việt từ loại”

1.2 Từ xưng hô

1.2.1 khái niệm về từ xưng hô

1.2.2 Các loại từ xưng hô trong tiếng việt

1.2.2.1 Các đại từ nhân xưng

1.2.2.2 Từ xưng hô dùng trong quan hệ gia đình

1.2.2.3 Từ xưng hô dùng trong quan hệ xã hội

1.2.2.4 Từ xưng hô dùng trong tình yêu

1.2.3.Một số đặc điểm của từ xưng hô trong tiếng Việt

Chương 2 KHẢO SÁT TỪ XƯNG HÔ TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA ANH ĐỨC

2.1 Vài nét về tác giả và sự nghiệp sáng tác

2.1.1 Tác giả

2.1.2 Sự nghiệp sáng tác

2.2 Từ xưng hô được sử dụng trong một số tác phẩm của Anh Đức

2.2.1 Từ xưng hô trong mối quan hệ gia đình

Trang 3

2.2.1.1 Từ xưng hô dùng trong mối quan hệ cha mẹ - con cái

2.2.1.2 Từ xưng hô dùng trong mối quan hệ vợ - chồng

2.2.1.3 Từ xưng hô dùng trong mối quan hệ anh, chị - em

2.2.1.4 Từ xưng hô dùng trong mối quan hệ ông bà – con cháu

2.2.2 Từ xưng hô trong mối quan hệ xã hội

2.2.3 Từ xưng hô dùng trong mối quan hệ tình yêu

Chương 3 GIÁ TRỊ SỬ DỤNG TỪ XƯNG HÔ TRONG MỘT

SỐ TÁC PHẨM CỦA ANH ĐỨC

3.1 Sử dụng từ xưng hô bộc lộ tình cảm của nhân vật trong tác phẩm

3.2 Sử dụng từ xưng hô bộc lộ tính cách của nhân vật trong tác phẩm

3.3 Sử dụng từ xưng hô bộc lộ khí phách của nhân vật trong tác phẩm

3.4 Sử dụng từ xưng hô thể hiện văn hóa của người dân Nam Bộ

PHẦN KẾT LUẬN

Trang 4

Bộ

Tác phẩm của Anh Đức là một trong những cuốn sử biên sinh động về giai đoạn lịch sử ác liệt nhất, hào hùng nhất của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc; về con người Nam Bộ đặc biệt nhân hậu, tình nghĩa thủy chung, bất khuất, kiên cường Các nhân vật trong tác phẩm của Anh Đức là những người dân bình thường, mỗi người có một hoàn cảnh sống và địa vị khác nhau nhưng ở họ có một điểm chung là căm thù giặc sâu sắc Vì sự yên bình của quê hương, đất nước mà họ có thể hy sinh tất cả, kể cả

mạng sống của mình chứ không chịu khuất phục trước kẻ thù Các nhân vật như chị Tư

Hậu, chị Sứ, chị Lộc, ông Tám Xẻo Đước, ông lão vườn chim,… đã trở thành những

hình tượng gây xúc động sâu sắc trong tâm trí người đọc Chính vì viết về những người nông dân như thế nên ngôn ngữ được Anh Đức sử dụng rất mộc mạc - giản dị, gần gũi với lời ăn, tiếng nói hằng ngày của nhân dân miền Nam Mỗi nhân vật trong tác phẩm của Anh Đức đều có cách xưng hô khác nhau Tùy theo từng hoàn cảnh giao tiếp mà cách xưng hô có thể làm nổi bật lên những cung bậc tình cảm, khí tiết của người dân Nam Bộ

Từ xưng hô trong tiếng Việt rất phong phú và đa dạng, cả về số lượng lẫn chất

lượng Từ xưng hô không chỉ dùng để “xưng” và “hô” nhằm thể hiện mối quan hệ giữa

các đối tượng trong giao tiếp mà còn là phương tiện để biểu đạt tình cảm Chính vì sự phong phú và đa dạng đó mà từ xưng hô đã cuốn hút người viết ngay từ những lần tiếp xúc với nó trong quá trình học tập Là một sinh viên ngành Ngữ Văn, người viết có điều kiện tiếp xúc nhiều hơn và hiểu được tầm quan trọng của từ xưng hô trong tiếng

Trang 5

Việt cũng như trong cuộc sống hằng ngày Do vậy, người viết chọn đề tài “Từ xưng hô

trong một số tác phẩm của Anh Đức” để làm luận văn tốt nghiệp

Qua việc tác giả thể hiện các lớp từ xưng hô vào tác phẩm văn chương, phần nào

đã khẳng định được vị trí của Anh Đức trong việc làm phong phú thêm cho lớp từ xưng hô của tiếng Việt nói chung và ngôn ngữ Nam Bộ nói riêng

Người viết chọn tác phẩm của Anh Đức để nghiên cứu Bởi vì Anh Đức là nhà văn Nam Bộ, sử dụng từ ngữ mang đậm chất Nam Bộ làm cho người đọc dễ hiểu, dễ tiếp nhận Ngoài việc yêu mến và muốn hiểu rộng hơn về việc sử dụng từ xưng hô trong tác phẩm Anh Đức, người viết cũng muốn khẳng định tầm quan trọng của từ xưng hô trong cuộc sống thông qua việc nghiên cứu đề tài này

2 Lịch sử vấn đề

Nghiên cứu đề tài ‘‘Từ xưng hô trong một số tác phẩm của Anh Đức” là một công

việc còn khá mới mẻ, hầu như chưa có ai thực hiện một cách toàn diện Tuy nhiên, việc nghiên cứu về từ xưng hô trong tiếng Việt và nghiên cứu về tác phẩm của Anh Đức thì đã có rất nhiều tác giả nói đến Họ nghiên cứu ở nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau Sau đây là một số công trình nghiên cứu về từ xưng hô trong tiếng Việt và

về tác gia - tác phẩm Anh Đức:

Trong hệ thống ngôn ngữ, từ xưng hô được xem là một bộ phận khá phong phú

và phức tạp Ngoài việc là đối tượng chính của Ngữ pháp tiếng Việt, từ xưng hô còn được nghiên cứu từ góc độ của hai phân môn: Ngữ dụng học và Phong cách học tiếng Việt

Từ góc độ Ngữ pháp tiếng Việt: hầu như không có một công trình nào nghiên

cứu riêng về từ xưng hô Các nhà ngữ pháp học chỉ nhìn nhận và xem xét từ xưng hô

về mặt từ loại, chủ yếu là từ loại đại từ

Trong Ngữ pháp tiếng Việt, Diệp Quang Ban đã nhận xét: “Đại từ xưng hô dùng

thay thế và biểu thị các đối tượng tham gia quá trình giao tiếp”[1;tr.111] Ông đã chia

đại từ xưng hô ra thành đại từ xưng hô dùng ở ngôi xác định và đại từ xưng hô dùng ở nhiều ngôi linh hoạt

Đỗ Thị Thúy Liên trong Ngữ pháp tiếng Việt, cũng đã nhận định đại từ xưng hô dùng để thay thế và “chỉ trỏ người khi giao tiếp.”[11;tr.58] Tác giả có điểm khác biệt

với Diệp Quang Ban là đã chỉ ra bên cạnh đại từ xưng hô thì các danh từ thân tộc như: ông, bà, cha, mẹ, anh, chị, em, cô, bác cũng còn được dùng để xưng hô điển hình là

Trang 6

những cặp từ: “anh/em, cha/mẹ, ông/bà, cô/bác, chú/thím, ông/cháu, bà/cháu…”[11;tr.58] Ngoài việc sử dụng từ xưng hô trong phạm vi thân tộc thì từ

xưng hô còn được sử dụng ngoài xã hội

Cùng chung quan điểm với hai tác giả trên là Nguyễn Hữu Quỳnh trong Ngữ

pháp tiếng Việt Nhưng tác giả lại đặt các danh từ thân tộc vào nhóm các đại từ xưng

hô lâm thời, và theo ông thì: “Đại từ xưng hô trong tiếng Việt gồm các đại từ chuyên

dùng để xưng hô và các đại từ xưng hô lâm thời”[16;tr.151] Theo cách nói trên thì

chúng ta có thể hiểu các đại từ xưng hô lâm thời ở đây là các danh từ thân tộc

“Xưng hô trong giao tiếp là một vấn đề lớn, liên quan đến nhiều nhân tố”[2;tr.123] là những nhận định của tác giả Lê Biên trong quyển Từ loại tiếng Việt hiện đại Trong quyển này, tác giả đã có những nghiên cứu khá sâu về đại từ xưng hô

Theo tác giả thì đại từ xưng hô có thể chia thành hai lớp: đại từ xưng hô gốc đích thực

và các yếu tố được đại từ hóa dùng để xưng hô như: những danh từ lâm thời đảm nhận chức năng đại từ, các từ chỉ chức danh, nghề nghiệp, các tên riêng của người… Ngoài

ra, ông còn chia từ xưng hô trong tiếng Việt thành hai lớp có phạm vi sử dụng khác nhau, gồm: những từ xưng hô dùng trong gia tộc và những từ xưng hô dùng ngoài xã hội

Nhìn chung, các nhà nghiên cứu Ngữ pháp tiếng Việt đều xem xét từ xưng hô dưới góc độ là đại từ xưng hô, với chức năng là thể hiện vai giao tiếp

Từ góc độ Ngữ dụng học: nổi bật là các tài liệu nghiên cứu của tác giả Đỗ Hữu

Bằng một lời đánh giá trong Cơ sở ngữ dụng học: “Xưng hô là hành vi chiếu vật,

ở đây là quy chiếu các đối ngôn trong ngữ cảnh, nó sẽ gắn diễn ngôn với người nói, người tiếp thoại Xưng hô thể hiện vai giao tiếp”[3;tr.268] Đỗ Hữu Châu đã đi vào

phân tích khá tỉ mỉ và sâu sắc hệ thống từ xưng hô, nêu lên được những đặc điểm cũng như phạm vi, cách thức sử dụng của các từ xưng hô trong tiếng Việt

Trang 7

Từ góc độ Phong cách học: các nhà nghiên cứu đã đưa ra những nhận xét riêng

của mình trong việc nghiên cứu từ xưng hô

Đinh Trọng Lạc trong Phong cách học tiếng Việt đã nhận xét: “Phong cách học

quan tâm chủ yếu đến cái giá trị biểu đạt, biểu cảm - cảm xúc, các giá trị phong cách của các phương tiện ngôn ngữ trong những hoàn cảnh giao tiếp tiêu biểu, với những điều kiện giao tiếp nhất định trong quá trình giao tiếp”[9;tr.10] Theo quan điểm đó

thì từ xưng hô cũng như những phương tiện ngôn ngữ khác đều được phong cách học nhìn nhận và xem xét dưới những phương diện: đặc điểm tu từ (bao gồm màu sắc phong cách, sắc thái biểu cảm) và phong cách chức năng ngôn ngữ

Cù Đình Tú trong Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt cho rằng ngoài các đại từ nhân xưng và các từ chỉ quan hệ họ hàng thân thuộc thì còn“lấy cả tiếng

đệm giữa họ và tên của nữ giới (thị) để dùng làm từ xưng hô, thậm chí còn dùng cả cách nói trống không (từ xưng hô zero) để xưng hô” [21;tr.166] Cuối cùng ông đưa ra

nhận xét:“Trong tiếng việt, từ xưng hô, cách xưng hô, mô hình xưng hô là phương tiện

biểu cảm, là phương tiện phong cách” [21;tr.168]

Bên cạnh đó, còn có các nhà nghiên cứu khác như: Trần Thị Ngọc Lang trong

Phương ngữ Nam Bộ đã đưa ra nhận xét về từ xưng hô trong tiếng Việt “Các từ xưng

hô tiếng Việt rất phong phú và đa dạng Tuy nhiên, trong cái đa dạng của cách xưng

hô hằng ngày, chúng ta vẫn thấy mức độ thống nhất giữa các phương ngữ tiếng Việt khá cao Những khác biệt nhỏ trong cách xưng hô làm nên sắc thái riêng của các phương ngữ” [10;tr.87] Trong bài viết của mình thì Trần Thị Ngọc Lang đã đưa ra

vấn đề từ xưng hô trong giao tiếp hằng ngày được thể hiện ở các cấp độ và địa vị của mỗi người khi giao tiếp với nhau Từ đó, tác giả đưa ra nhận xét chung về cách xưng

hô trong phương ngữ Nam Bộ và phương ngữ Bắc Bộ

Trong Cảm nhận bản sắc Nam bộ, Huỳnh Công Tín cũng khẳng định tầm quan

trọng của ngôn ngữ Nam Bộ vào kho tàng ngôn ngữ tiếng Việt với nhiều từ ngữ phong

phú và đa dạng với cách xưng hô “Trong gia đình người Nam Bộ có thói quen dùng

thứ để xưng gọi: “Hai, ba, bốn, năm, sáu, út,…”, từ xưng hô “họ hàng” như:“cậu mợ;

dì dượng; chú thiếm;…” được dùng trong gia đình và cả trong hàng xóm; cách gọi ngôi thứ có tính chất lược âm: “ổng, bả, ảnh, chỉ,…”[20;tr.263]

Trịnh Sâm trong Đi tìm bản sắc tiếng Việt, cũng có bài bàn về sự phong phú của

tiếng Việt, nó thống nhất trong thế đa dạng và có sự tồn tại của tiếng Việt địa phương

Trang 8

thì được xác định theo một chuẩn mực của tiếng Việt Tác giả có sự phân định về ranh

giới của tiếng Việt từ Thuận Hải trở vào và ông đã khái quát “Nhìn chung, tiếng Nam

Bộ tương đối đơn giản Đơn giản như một cá tính, không chỉ đúng với ngôn ngữ mà chi phối cả nhiều loại hình nghệ thuật khác, cả những nét ứng xử thực tế của con người.” [17;tr.100]

Đặc biệt, nhiều năm trở lại đây trên diễn đàn của Ngữ học trẻ và Tạp chí ngôn

ngữ cũng đã xuất hiện khá nhiều bài viết nghiên cứu xung quanh về từ xưng hô Nhìn

chung, từ xưng hô là vấn đề không chỉ có ý nghĩa ngôn ngữ đơn thuần mà nó còn là vấn đề văn hóa ứng xử của con người trong quá trình giao tiếp Với nhiều chiều hướng tiếp cận khác nhau, các nhà ngôn ngữ học đã tạo nên sự sôi động trên văn đàn nghiên cứu về từ xưng hô, phần nào đã làm rõ sự phong phú và đa dạng của từ xưng hô trong tiếng Việt Và dù là các công trình nghiên cứu trên nghiên cứu chưa sâu hay còn sơ lược thì nó cũng trở thành nguồn tư liệu quý báo giúp cho người viết có cái nhìn rộng

và toàn diện hơn về từ xưng hô

Anh Đức là một nhà văn tài năng đã tồn tại trong lòng người đọc cùng với nhiều tác phẩm có giá trị Do đó, các nhà nghiên cứu cũng có rất nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu về tác gia - tác phẩm Anh Đức

Phùng Quý Nhâm trong Văn học và văn hóa từ một góc nhìn có bài “Những tìm

tòi sáng tạo của Anh Đức” [13;tr.175] Ông nhận định Anh Đức là một nhà văn có tài

năng sáng tạo nghệ thuật Trong các tác phẩm của Anh Đức thì hình ảnh con người Nam Bộ hiện lên với những đức tính bộc trực mà tinh tế, thẳng thắn mà chí tình, chín chắn, sâu sắc nhưng rất cởi mở, khoáng đạt Họ yêu tha thiết nhưng căm thù giặc cũng cháy bỏng Để xây dựng được những nhân vật như thế thì nhà văn cần phải có cái nhìn

tinh tế về hiện thực cuộc sống và khả năng vận dụng linh hoạt.“Trong sáng tác của

Anh Đức bút pháp hiện thực và bút pháp trữ tình xuyên thấm rất nhuần nhuyễn Hiện thực được lí tưởng chấp cánh vươn cao bay bổng Xuất phát từ một thực tế đau thương cháy bỏng căm thù, từ cuộc sống của những con người ở mỏm đất tận cùng của Tổ quốc, phải đổi máu và mồ hôi để giành lại từng ngọn cỏ, gốc cây, từng mảnh vườn, thửa ruộng, nhà văn dựng lên giấc mơ rất lãng mạn mà lại rất chân thực của người nông dân Nam Bộ” [13;tr.197] Chính những tìm tòi sáng tạo đó đã tạo nên một nhà

văn mang đậm phong cách Nam Bộ, mang dáng vẻ riêng của Anh Đức

Trang 9

Trong bài viết Hòn Đất với vài nét phong cách của Anh Đức, Phương Lựu cũng

có những nhận xét tương tự như Phùng Quý Nhâm về bút pháp của Anh Đức “Bằng

bút pháp khá nhuần nhuyễn, tự nhiên và chân thật, nhà văn đã làm sống lại trong lòng người đọc cuộc chiến đấu của Việt Nam cùng những con người Việt Nam trong chiến đấu” [12;tr.879]

Khi bàn luận về tác phẩm Hòn Đất của Anh Đức, Hoài Thanh cũng đề cặp đến

ngòi bút của Anh Đức Tuy ngòi bút của Anh Đức còn vụng về, không được điêu luyện như các tác giả khác cùng thời nhưng lại rất hồn nhiên, bình dị gần gũi với khẩu ngữ người dân Nam Bộ Chính vì thế làm cho người đọc dễ tiếp nhận, dễ đi vào lòng

người.“Anh Đức không có cái tài điêu luyện của Nguyên Ngọc trong Đất nước đứng

lên, của Nguyễn Trung Thành trong Rừng Xà Nu Chẳng những thế, ngòi bút của Anh Đức còn có những lúc vụng về, còn có những chỗ rề rà, còn khá nhiều hạt sạn nhưng ngòi bút của Anh Đức có cái hay lớn là rất hồn nhiên Nhiều khi người đọc có cảm tưởng như cuộc sống tự nó lên vậy thôi, không có bàn tay nào sửa sang, đẻo gọt”

[19;tr.132] Cũng trong Hòn Đất, hòn ngọc, Hoài Thanh cho rằng dù Hòn đất còn có những tỳ tích này nọ, chưa được hoàn chỉnh nhưng “Hòn Đất vẫn đúng là hòn ngọc, là

câu chuyện về những tâm hồn trong sáng như ngọc, giữa sóng to gió lớn vẫn sáng ngời như ngọc” [19;tr.133]

Ở Anh Đức ta còn bắt gặp một khía cạnh khác trong sáng tác, đó là tác phẩm của Anh Đức mang đậm màu sắc trữ tình Qua từng tác phẩm của anh cho dù đó là truyện

ngắn hay bút kí thì chúng ta đều thấy “một cách đầy đủ nỗi lòng của người cầm bút,

anh không bỏ qua dịp nào mà không biểu hiện nỗi lòng của mình Ở Anh Đức màu sắc trữ tình đậm nét đến mức đã trở thành phong cách” [19;tr.200] Chu Nga trong Phong cách trữ tình trong sáng tác của Anh Đức, cũng cho rằng “ngòi bút Anh Đức trong Hòn Đất, đôi khi ta cảm thấy cái gì hơi lạ, hình như trong ngòi bút ấy có xen lẫn hai yếu tố vừa quá tỉnh táo lại vừa quá say mê Hay nói một cách khác, ở đây Anh Đức đã

tự đặt mình vào vị trí hơi khó xử, vị trí của nhân vật trữ tình” [19;tr.207] Khi đặt

mình vào địa vị của nhân vật thì tác giả mới hiểu và nói lên được những tâm tư tình cảm của nhân vật

Phan Cự Đệ cũng nhận định phong cách của Anh Đức thuộc về phong cách lãng

mạn.“Trong tiểu thuyết Hòn Đất, hình tượng chị Sứ ít nhiều được lí tưởng hóa Đó là

Trang 10

đặt trưng của điển hình trong các tác phẩm thuộc dòng phong cách lãng mạn.”

[19;tr.223]

Khi chúng ta bàn về nghệ thuật nói chung trong tác phẩm của Anh Đức, có rất nhiều ý kiến khác nhau Nói về thành công nghệ thuật của nhà văn này, các nhà nghiên cứu không chỉ đề cặp đến yếu tố trữ tình và bút pháp lãng mạn mà còn đề cặp đến việc

sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật trong tác phẩm của nhà văn

Tác giả Phan Văn Sỹ trong bài viết về Anh Đức có nhận định rằng: “Ngôn ngữ

của Anh Đức phản ánh tiếng nói và cách điệu của người Nam Bộ” [19;tr.274] Tác giả

Phan Văn Sỹ như cảm nhận được từng câu nói, từng từ ngữ, từng hình ảnh trong tác

phẩm của Anh Đức đang “ động cựa” dưới con mắt của người đọc Nhà văn Anh Đức

đã ghi lại được, diễn tả được chính xác cốt cách của người Nam Bộ khi nói năng

“Cách nói của người Nam Bộ hoặc chậm rãi, điềm đạm, hoặc nồng nhiệt dồn dập, khi nhanh khi chậm, lúc trầm lúc cao, lúc nào cũng như gắn chặt với nội dung câu chuyện Ít thấy sự trau chuốt bóng nhoáng và cũng ít sự tinh vi khúc mắc, vậy mà cái cách cái điệu nói chuyện, viết văn ấy thường dẫn người nghe tới những xúc động bất ngờ, ấy là nội dung câu chuyện mang cái thật của kinh nghiệm sống, mang cái thật của những suy nghỉ về thế thái nhân tình” [19;tr.274] Chính ngôn ngữ ấy, đã đem lại

cho người đọc nhiều cảm xúc bất ngờ khi đọc tác phẩm của Anh Đức Mặc dù lối viết văn của Anh Đức có phần phóng khoáng, không gò bó nhưng tác giả đã có những tìm tòi, chọn lọc về từ ngữ Để chứng minh cho điều này, Phan Văn Sỹ đã dẫn ra trường

hợp sử dụng từ “bình tỉnh” trong truyện ngắn Con chị Lộc, đây là một từ mà tác giả Xuân Trường trong bài viết Đọc Bức Thư Cà Mau của Anh Đức nhận định là một từ

“đẹp” và “có sức nặng lớn” Về mặt từ ngữ, ta còn thấy Anh Đức có thói quen sử

dụng nhiều “Từ ngữ hay mang dáng vẻ riêng của cách nói Nam Bộ” [19;tr.274]

Cùng với sự đánh giá về sự thành công trong cách sử dụng ngôn ngữ của Anh

Đức, Diệp Minh Tuyền trong bài viết Anh Đức và những truyện ngắn, bút ký xuất sắc

của anh, đã đưa ra nhận định: “Ngôn ngữ của Anh Đức trong sáng, chính xác, chứng

tỏ rằng nó đã được trau chuốt cẩn thận” [19;tr.251] Bên cạnh đó, tác giả cũng quan

tâm đến vấn đề dùng từ ngữ của Anh Đức.“Anh Đức đã khéo léo sử dụng ngôn ngữ

địa phương Nam Bộ: những từ ngữ trong ngôn ngữ địa phương Nam Bộ trong tác phẩm của anh được dùng ở mức độ cần thiết và những từ ấy thường là những từ mà

Trang 11

không thể có từ nào khác diễn đạt một cách thành công cái điều mà anh muốn nói.”

[19;tr.251]

Ngoài những ý kiến đánh giá cao về sự thành công trong việc sử dụng ngôn ngữ của Anh Đức, còn có một vài ý kiến chỉ ra những mặt còn hạn chế trong vấn đề sử

dụng ngôn ngữ của Anh Đức Cụ thể như tác giả Thiếu Mai trong bài viết Về Một

truyện chép ở bệnh viện và Biển xa của Bùi Đức Ái, đã đánh giá “Về ngôn ngữ, còn nhiều chỗ tác giả chưa được thận trọng lắm Lắm lúc anh để cho nhân vật nói nhiều câu quá sáo, quá văn hoa Anh chưa chú ý tách bạch lời của tác giả và lời của nhân vật” [19;tr.54] Mặc khác, việc sử dụng từ địa phương trong tác phẩm của Anh Đức

“Đôi khi để tô đậm thêm màu sắc địa phương, anh có lạm dụng thổ ngữ Nam Bộ (rọ rạy, tởn, khứng, cớn rớn) làm cho người miền khác đọc khó hiểu.” [19;tr.54]

Hoặc trong bài viết Hòn Đất - Một bức tranh chân thật về giai đoạn đầu chống

Mỹ cứu nước ở miền Nam, tác giả Phan Nhân đã chỉ ra một số thiếu sót khác của Anh

Đức trong việc sử dụng ngôn ngữ, đó là việc “Tác giả dùng hơi nhiều ngôn ngữ địa

phương, ngay cả khi tác giả trực tiếp kể chuyện” [19;tr.106]

Tuy còn một vài hạn chế nhất định nhưng Anh Đức về cơ bản đã rất thành công trong việc sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật Đây là phương tiện diễn đạt nội dung, tư tưởng của tác phẩm Đặc biệt là tác giả đã tận dụng sắc thái biểu cảm của từ địa phương Nam Bộ để tạo ra màu sắc địa phương cho tác phẩm

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đều nghiên cứu về tác phẩm của Anh Đức ở hai phương diện nội dung và nghệ thuật Tuy đã có nhiều tác giả nói đến việc sử dụng ngôn ngữ trong tác phẩm của Anh Đức, nhưng riêng vấn đề về từ xưng hô trong tác phẩm của Anh Đức thì hầu như từ trước tới nay chưa có một công trình nghiên cứu, khảo sát nào đề cập đến vấn đề này một cách toàn diện

Như vậy, đề tài “Từ xưng hô trong một số tác phẩm của Anh Đức” là một đề tài

khá mới mẻ Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu nêu trên sẽ là nguồn tư liệu quý báo cho luận văn, nó sẽ giúp cho người viết tìm được hướng đi đúng đắn trong việc khảo sát đề tài của mình

3 Mục đích nghiên cứu

Khảo sát đề tài “Từ xưng hô trong một số tác phẩm của Anh Đức”, người viết

bước đầu thử vận dụng những kiến thức về ngôn ngữ vào khai thác, những nét nổi bật

về phương diện sử dụng từ xưng hô trong tác phẩm của Anh Đức Qua việc nghiên cứu

Trang 12

đề tài này, giúp cho chúng ta có cái nhìn mới mẻ hơn về con người và vùng đất Nam

Bộ, thêm yêu con người nơi đây với những người chân lấm tay bùn nhưng giàu nghĩa tình

Qua đề tài này, một mặt người viết có thêm sự hiểu biết, nâng cao thêm kiến thức về từ xưng hô trong tiếng Việt Mặc khác, cũng hiểu rõ hơn về cách dùng từ ngữ mang đậm phong vị Nam Bộ của Anh Đức Đồng thời cũng có thể hiểu được một phần nào những tâm tư, tình cảm mà nhà văn muốn gởi gắm qua các nhân vật của mình Ngoài mục đích giúp cho người viết hoàn thành luận văn tốt nghiệp trong bốn

năm trên giảng đường Đại học Thì việc nghiên cứu đề tài “Từ xưng hô trong một số

tác phẩm của Anh Đức” còn giúp cho người viết thống kê, phân loại và chỉ ra được giá

trị sử dụng của từ xưng hô trong tác phẩm của Anh Đức; làm quen và thích ứng được với phương pháp làm việc khoa học, độc lập và sáng tạo

4 Phạm vi nghiên cứu

Để thực hiện đề tài “Từ xưng hô trong một số tác phẩm của Anh Đức”, trước tiên

người viết đã đi vào tìm hiểu phần lý thuyết về từ xưng hô từ các công trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học về Ngữ pháp, Ngữ dụng và Phong cách học tiếng Việt Trên cơ sở đó, đưa ra một số mô hình xưng hô tiêu biểu và phân tích giá trị sử dụng từ xưng hô thông qua ngôn ngữ đối thoại giữa các nhân vật trong tác phẩm của Anh Đức Với yêu cầu như thế, tài liệu tham khảo của người viết trước hết là các công trình nghiên cứu, các bài viết liên quan đến từ và từ xưng hô trong tiếng Việt, kế đến là các tác phẩm của nhà văn Do số lượng tác phẩm của Anh Đức tương đối nhiều nên người viết không thể nào khảo sát được hết mà chỉ chọn ra một số tác phẩm tiêu biểu Tài liệu cơ bản mà người viết sử dụng xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu đề tài này là

2 quyển: Tuyển tập Anh Đức – tập 1 và Tuyển tập Anh Đức – tập 2, NXB văn học Hà

Nội- 1997 Bởi vì những tác phẩm trong 2 quyển này không chỉ là những tác phẩm tiêu

biểu của Anh Đức mà nó còn là những tác phẩm phản ánh được cuộc sống chân thật của người dân Nam Bộ trong thời kì chiến tranh Qua đó, người viết cũng so sánh những tác phẩm đó với nhau để thấy được những nét nổi bật trong việc sử dụng từ xưng hô trong sáng tác của nhà văn Anh Đức

5 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành tốt luận văn này, người viết luôn tìm hiểu và lựa chọn những phương pháp nghiên cứu cơ bản, thuận tiện nhằm làm nổi bật lên nét đặc sắc trong

Trang 13

việc sử dụng từ xưng hô của Anh Đức Nghiên cứu trước hết là phải có định hướng, tìm sự hấp dẫn của đề tài, tìm hiểu những vấn đề liên quan trong quá trình nghiên cứu Bằng phương pháp hệ thống, tổng hợp các tài liệu, người viết đã hệ thống hóa một số

vấn đề về từ xưng hô trong tiếng Việt để làm nền tảng cho việc khảo sát “Từ xưng hô

trong một số tác phẩm của Anh Đức”.

Khảo sát bằng cách thống kê, phân loại từ xưng hô theo từng mối quan hệ, ngôi thứ để có được số liệu chính xác và khoa học Trên cơ sở đó, có thể phân tích và đánh giá hiệu quả sử dụng cũng như hiểu được cái hay của Anh Đức khi vận dụng lớp từ xưng hô vào trong tác phẩm của mình

Phương pháp so sánh, đối chiếu giữa các tác phẩm để thấy được cái hay, cái độc đáo của việc sử dụng lớp từ xưng hô mà tác giả gửi gắm qua tác phẩm của mình Do thời gian có hạn và số lượng tác phẩm của Anh Đức khá nhiều nên người viết không thể so sánh đối chiếu hết các tác phẩm mà chỉ so sánh đối chiếu trong các tác phẩm chọn để khảo sát

Trang 14

PHẦN NỘI DUNG Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỪ VÀ TỪ XƯNG HÔ

TRONG TIẾNG VIỆT

1.1 Khái niệm về từ tiếng việt

Từ là đơn vị tồn tại hiển nhiên, sẵn có của ngôn ngữ Trong quá trình vận dụng ngôn ngữ, các từ luôn được tái hiện với tư cách là những đơn vị có sẵn và mỗi một từ luôn được gặp trong những trường hợp sử dụng riêng biệt khác nhau, trong mỗi trường hợp tái hiện khác nhau Chính vì thế, hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về từ

tiếng Việt Nhưng chúng ta có thể hiểu “Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, độc lập

về ý nghĩa và hình thức”

Sau đây ,là một số quan điểm khác nhau về từ tiếng Việt mà các nhà nghiên cứu

đã đưa ra

1.1.1 Các quan điểm khác nhau về từ tiếng Việt

Theo quan điểm của Nguyễn Thiện Giáp: “Từ của tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ

nhất có ý nghĩa để tạo ra câu nói; nó có hình thức, có một âm tiết, một khối viết liền”

[8;tr.168]

Đái Xuân Ninh trong Hoạt động của tiếng Việt, cho rằng: “Từ là đơn vị cơ bản

của cấu trúc ngôn ngữ giữa hình vị và cụm từ Nó được cấu tạo bằng một hay nhiều đơn vị ở hàng ngay sau nó tức là hình vị và lập thành một khối hoàn chỉnh.” [14;tr.24]

Đỗ Hữu Châu thì cho rằng:“Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định,

bất biến về hình thức ngữ âm theo các quan hệ hình thái học (như quan hệ về số, về giống….) và cú pháp trong câu, nằm trong một số kiểu cấu tạo nhất định, ứng với ý nghĩa nhất định, sẵn có đối với mọi thành viên của xã hội Việt Nam, lớn nhất trong hệ thống tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu.” [5;tr.29]

Quan niệm của tác giả Đỗ Thị Kim Liên trong Ngữ pháp tiếng Việt cho rằng: “Từ

là đơn vị cơ bản, là đơn vị cốt lõi để tạo nên các đơn vị lớn hơn như cụm từ, câu, văn bản Từ là đơn vị hết sức quan trọng, giống như viên gạch để xây dựng nên tòa lâu đài ngôn ngữ.” [5;tr.17]

Trang 15

Dựa vào các quan niệm khác nhau của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ về từ tiếng Việt, đã khái quát lên được phần nào sự phức tạp và đa dạng của việc nghiên cứu từ trong hệ thống tiếng Việt Do mỗi tác giả có cách hiểu khác nhau về khái niệm hình vị trong ngôn ngữ học đại cương, mỗi tác giả đứng ở một góc độ nghiên cứu khác nhau nên dẫn đến cách lựa chọn các đơn vị cấu tạo từ tiếng Việt của các nhà nghiên cứu cũng khác nhau

1.1.2 Đặc điểm của từ tiếng Việt

Qua các quan niệm về từ của các tác giả trên cho thấy đặc điểm chung của từ: Từ

là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ có nghĩa, mang tính cố định, có sẵn; Từ là đơn vị nhỏ nhất để tạo nên câu Từ đó, chúng ta có thể khái quát các đặc điểm cơ bản của từ tiếng Việt:

- Từ tiếng Việt có thể đơn âm tiết hoặc đa âm tiết

- Từ tiếng Việt có thể có biến thể ngữ âm hoặc ngữ nghĩa nhưng không có biến thể hình thái học

- Ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp gắn bó chặt chẽ với nhau, do đó từ tiếng Việt thường có tính trừu tượng và khái quát cao

1.1.3 Các loại từ tiếng Việt

Có các ý kiến khác nhau về sự phân chia từ loại trong tiếng Việt Tuy có sự phân chia theo nhiều cách khác nhau nhưng nhìn chung thì các loại từ tiếng Việt đều giống nhau Ở đây, người viết chỉ đưa ra 2 ý kiến khác nhau cơ bản nhất về sự phân chia các loại từ tiếng Việt:

1.1.3.1 Theo Diệp Quang Ban trong “Ngữ pháp tiếng Việt- tập một”

Hệ thống từ loại tiếng Việt có thể sắp xếp thành hai nhóm bao gồm các loại từ như sau:

Danh từ có khả năng kết hợp với đại từ chỉ định: “này, kia, ấy, nọ,…” Ngoài ra,

danh từ còn khả năng kết hợp trực tiếp hay gián tiếp với số từ

Trang 16

Danh từ có đầy đủ chức năng cú pháp học của thực từ Danh từ được chia thành hai lớp: danh từ riêng và danh từ chung

Ví dụ: Trường, lớp, văn chương,…

Động từ có khả năng đảm nhận nhiều chức năng cú pháp khác nhau Động từ cũng được chia thành hai lớp: động từ độc lập và động từ không độc lập

Ví dụ: Đi, đứng, chạy, nhảy,…

Tính từ

Tính từ là từ chỉ ý nghĩa đặc trưng Ý nghĩa đặc trưng được biểu hiện trong tính

từ thường có tính chất đối lập phân cực (thành cặp trái nghĩa) hoặc có tính chất mức độ (so sánh và miêu tả theo thang độ)

Tính từ có khả năng kết hợp với phụ từ nhưng không kết hợp được với “hãy”,

“đừng”, “chớ”, có thể kết hợp với thực từ đi kèm (bổ nghĩa cho tính từ)

Chức năng chính của tính từ là làm vị ngữ trong câu Tính từ chia thành hai lớp: lớp từ chỉ đặc trưng không xác định thang độ và lớp từ chỉ đặc trưng xác định thang

Số từ được chia thành hai lớp: số từ xác định và số từ không xác định

Ví dụ: Một, hai, ba,…

Đại từ

Đại từ là lớp từ dùng để thay thế và chỉ trỏ

Trang 17

Về khả năng kết hợp, đại từ không chỉ thay thế cho một thực từ (danh từ, động từ, tính từ) mà còn có thể thay thế cho kết hợp từ (cụm từ), câu, đoạn văn

Đại từ có thể đảm nhận các chức năng cú pháp của thực từ được thay thế Đại từ cũng chia ra thành hai lớp: đại từ xưng hô và đại từ chỉ định

Ví dụ: Mày, tao, chúng mày,…

Vị từ

Vị từ biểu thị quá trình và biểu thị đặc trưng và có quan hệ thông báo với chủ thể của quá trình hay đặc trưng đó

Vị từ có khả năng kết hợp phổ biến với phụ từ, đại từ chỉ định

Vị từ có quan hệ thông báo với chủ thể trong chức năng vị ngữ, thường đứng trực tiếp sau vị ngữ

Ví dụ: Đang làm, đang đứng,…

 Nhóm 2: bao gồm các loại từ

Phụ từ: có 2 loại

- Định từ

Định từ là từ biểu thị quan hệ về số lượng với sự vật được nêu ở danh từ

Số lượng định từ không nhiều nhưng có tác dụng dạng thức hóa một số ý nghĩa ngữ pháp quan trọng của từ loại danh từ Định từ được chia thành các nhóm:

Phó từ không có khả năng làm trung tâm ngữ nghĩa - ngữ pháp trong kết hợp thực

từ và rất ít có khả năng làm thành phần chính trong câu Phó từ cũng được chia thành các nhóm nhỏ sau:

Nhóm phó từ chỉ thời gian: đã, từng, mới, sẽ,…

Nhóm phó từ so sánh và phó từ chỉ tiếp diễn: cũng, vẫn, đều, chứ,…

Nhóm phó từ phủ định, khẳng định: không, chẳng, chưa, có,…

Trang 18

1.1.3.2 Theo Đinh Văn Đức trong “Ngữ pháp tiếng Việt từ loại”

Hệ thống từ loại tiếng Việt chia ra thành ba loại từ: Thực từ, hư từ và tình thái từ

Trang 19

Hư từ là một tập hợp không lớn về số lượng của các từ, bản chất của ý nghĩa hư

từ là tính chất ngữ pháp, là phương tiện biểu đạt mối quan hệ giữa các khái niệm trong

tư duy theo cách thức phản ánh bằng ngôn ngữ của bản ngữ Hư từ có 2 loại là: từ phụ

và từ nối

Tình thái từ

Tình thái từ là một tập hợp rất nhỏ về mặt số lượng từ, nhưng tập hợp ấy có mặt đặc trưng riêng về bản chất ngữ pháp Tình thái từ tuy ít về số lượng, nhưng căn cứ vào bản chất ngữ pháp có thể vạch được đối lập giữa một bên là các tiểu từ tình thái và một bên là các trợ từ

1.2 Từ xưng hô

1.2.1 Khái niệm về từ xưng hô

Tiếng Việt là tiếng có từ xưng hô rất phong phú và đa dạng, có thể dùng nhiều cách khác nhau để xưng gọi Do đó, cũng có rất nhiều khái niệm khác nhau về từ xưng

hô trong tiếng Việt

Tác giả Đỗ Hữu Châu trong Cơ sở ngữ dụng học, đã đưa ra khái niệm “Xưng hô

là hành vi chiếu vật, ở đây là quy chiếu các đối ngôn trong ngữ cảnh, nó sẽ gắn diễn ngôn với người nói, người tiếp thoại Xưng hô thể hiện vai giao tiếp” [3;tr.264]

Trong Đại từ điển tiếng Việt thì lại đưa ra một định nghĩa khác về từ xưng hô là

“Tự xưng mình và gọi người khác trong giao tiếp hoặc trong thực từ” [22;tr.1880] Còn ở Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Tự xưng và gọi người khác là ai đó với nhau

nhằm làm rõ mối quan hệ giữa hai bên” [18;tr.1872]

Trang 20

Từ những định nghĩa trên, cho ta thấy có rất nhiều cách nói khác nhau cũng như khái niệm khác nhau về từ xưng hô Tùy thuộc vào sự tiếp nhận của mỗi người mà có cách hiểu khác nhau về từ xưng hô

Còn trong giáo trình Phong cách học tiếng Việt, tác giả Nguyễn Văn Nở định nghĩa từ xưng hô như sau: “Từ xưng hô là lớp từ dùng để tự xưng và gọi đối tượng khi

giao tiếp.” [13;tr.49]

Để thực hiện hành động xưng hô thì người nói cần có một phương tiện biểu đạt

mà phương tiện đó chính là từ xưng hô Thế nhưng khác với định nghĩa về xưng hô, định nghĩa về từ xưng hô ít được đề cặp đến Nhìn chung, từ xưng hô là những từ dùng

để tự xưng và gọi đối tượng khi giao tiếp

1.2.2 Các loại từ xưng hô trong tiếng Việt

Từ xưng hô là một bộ phận trong hệ thống từ loại tiếng Việt nên chúng ta có thể phân chia từ xưng hô theo từ loại Do tính chất đặc thù của từng loại phân môn khác nhau nên các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đã có những nghiên cứu về các loại từ xưng hô trong tiếng Việt ở nhiều góc độ, nhiều khía cạnh khác nhau

1.2.2.1 Các đại từ xưng hô

Đại từ xưng hô dùng để thay thế và biểu thị các đối tượng tham gia quá trình giao tiếp Đối tượng tham gia quá trình giao tiếp (người, vật) được chỉ ra một cách chung nhất ở cương vị ngôi trong ý nghĩa của đại từ Vì vậy, đại từ xưng hô có thể dùng ở một ngôi xác định hay ở nhiều ngôi khác nhau đều được

Theo quan điểm Ngữ pháp học truyền thống thì thường đồng nhất từ xưng hô với đại từ xưng hô Các tác giả nghiên cứu về Ngữ pháp học cho rằng có thể chia từ xưng

hô thành lớp: Lớp đại từ xưng hô chuyên dụng và lớp đại từ xưng hô lâm thời

 Lớp 1

Lớp đại từ xưng hô chuyên dụng là các đại từ xưng hô gốc đích thực và nó có số

lượng khá ít Các đại từ như: Tao, ta, mày, nó, hắn chỉ xuất hiện ở những sắc thái biểu

cảm không lịch sự (thân mật, suồng sã, thô tục, khinh thường)

Lớp đại từ chuyên dụng có các đặc điểm sau:

Những từ tôi, tao, tớ, chúng tôi, chúng tớ là những từ chuyên dùng làm lời

“xưng” cho người nói

Những từ mày, bay, cậu,…(tớ - cậu), (tao - mày) là những từ dùng cho người

nghe

Trang 21

Ngoài ra, còn có những từ dùng gộp cho cả người nói và người nghe như: ta,

chúng ta, chúng mình,…

Đại từ “mình” có thể chỉ người nói, là đại từ tự xưng Có thể chỉ người nghe khi dùng trong sự đối xứng với đại từ “ta” Chỉ có thể chỉ người được nói đến trước đó ở

trong câu, tức là tự xưng của ngôi 1, ngôi 2, ngôi 3

Đại từ “nó” chưa được dùng rộng rãi và phổ biến, còn là một trở ngại cho giao

Tớ Mình

Ta

Ta Mình Chúng ta Chúng mình

Chúng tao Chúng tôi Chúng tớ Chúng mình Chúng ta

Tau (tao) Tui (tôi) (1)

……… Tôi (choa) Min, Qua (2)

Ngôi thứ

hai (người

nghe)

Mày Bay (mi)

Chúng mày Chúng bay

Mi (mày) Bây (bay) (1) Mày (bậu) (2) Ngôi thứ

ba (người,

vật được

nói đến)

Nó Hắn

Y Thị

Chúng nó

Họ Chúng

Nó (va) Nghỉ (2)

BẢNG ĐẠI TỪ XƯNG HÔ

(1) Biến thể ngữ âm

(2) Biến thể từ vựng (phương ngữ)

Trang 22

Bên cạnh các đại tư nhân xưng: tôi, tao, ta, chúng tôi, chúng ta, chúng tao, chúng

ông, chúng anh, chúng chị (ngôi 1); mày, bay, chúng mày, chúng bay (ngôi 2); nó, hắn, y, va, nghỉ, chúng nó (ngôi 3) Tiếng Việt còn lấy tất cả các từ chỉ quan hệ họ

hàng thân thuộc dùng để làm từ xưng hô như: Cụ, ông, bà, cha, mẹ, chú, bác, cô, dì,

anh, chị, em,… Những từ này gọi chung là từ xưng hô trong gia đình

1.2.2.2 Từ xưng hô dùng trong gia đình.

Theo quan điểm của các nhà Ngữ dụng học từ xưng hô dùng trong gia đình là các

từ xưng hô chỉ quan hệ thân tộc (gọi tắt là từ thân tộc) Điển hình là Đỗ Hữu Châu cho

rằng: “Từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng Việt là những từ chỉ người trong gia đình,

họ tộc có quan hệ huyết thống nội ngoại xa gần với nhau” [3;tr.274] Còn trong Đại cương ngôn ngữ học, ông lại chia từ thân tộc trong tiếng Việt thành ba nhóm: nhóm

thứ nhất bao gồm những từ như: U, bầm, tía, ba, má,…; nhóm thứ hai bao gồm các từ như: anh, chị, em, chú, bác, cha, mẹ, cháu, con,…; nhóm thứ ba bao gồm các từ như:

anh họ, ông nội, chị họ, dâu, rể,… Mỗi một nhóm điều có đặc điểm riêng

Những từ thuộc nhóm thứ nhất và nhóm thứ hai mới được dùng để xưng hô với nhau được, còn nhóm thứ ba không thể dùng để xưng hô với nhau được

Nhóm thứ nhất chỉ dùng để xưng hô không dùng để miêu tả quan hệ, còn nhóm thứ ba dùng để miêu tả quan hệ chứ không dùng để xưng hô Đặc biệt hơn hết là nhóm thứ hai vừa dùng để miêu tả vừa dùng để xưng hô đều được

Theo Lê Biên, trong quan hệ gia tộc, thân tộc “Chủ yếu dùng các danh từ thân

thuộc, rất ít dùng đại từ xưng hô gốc, theo một tôn ti chặt chẽ, tương đối ổn định”

[2;tr.127] Như những khuôn hình có sẵn, ràng buộc mọi người phải chấp nhận, tuân theo, các từ xưng hô phản ánh các quan hệ: thứ bậc (trên/dưới), tuổi tác, giới tính, địa

Trang 23

vị xã hội,… Trong đó, quan hệ thứ bậc dùng trong gia tộc quyết định và chi phối các quan hệ khác

Trong gia đình, họ tộc xưng hô bằng từ thân tộc luôn luôn thể hiện sự đối lập trên, bậc dưới Tuy nhiên, sự đối lập theo bậc này chỉ chặt chẽ khi người bậc dưới còn nhỏ tuổi, chưa gia đình, chưa con cái và chưa có định danh phận Ngoài ra, trong gia đình còn sử dụng lối thay ngôi theo ngôi con, cháu để xưng hô với nhau Cách gọi thay ngôi này chỉ dùng trong ngữ vực cực thân tình và hoàn toàn trong không khí gia đình, không có sự có mặt của những người ngoài gia đình, họ hàng

Trong gia đình có thể có nhiều thế hệ giao tiếp với nhau, vì vậy họ bị bắt buộc trong khuôn khổ của thế hệ mình Tuy nhiên, các thành viên giao tiếp ở đây lại phải lệ thuộc vào những thế hệ cách quãng, giữa họ là cả một thế hệ khác Chính vì thế mà cách xưng hô của mỗi người phải tuân thủ theo những chuẩn mực nhất định để có cơ hội xích lại gần nhau, tạo được tình cảm tốt đẹp trong gia đình Cách dùng từ xưng hô trong gia đình cần phải có cái tôn ti trật tự: trên ra trên, dưới ra dưới, phải biết cách

ứng xử, xưng hô cho phù hợp Cho dù có địa vị cao trong xã hội thì “phép vua cũng

thua lệ làng” phải “nhập gia tùy tục”, theo kiểu “bố con nhà bác, lớn xác con nhà chú” Do đó, những đại từ xưng hô đích thực (tao, mày, nó) chỉ thể hiện quan hệ một

chiều: tao (trên), nó, mày (dưới) chỉ dùng nói về những người ở bề dưới; “tôi” chỉ

những người ở bậc trên được dùng để xưng với những người ở bậc dưới

Từ xưng hô dùng trong gia đình được thể hiện rõ qua cách xưng hô giữa các thành viên trong gia đình với nhau như:

 Xưng hô giữa ông bà với con cháu trong gia đình

Ông, bà và cháu trong gia đình thường có những cặp từ xưng hô có tính chất

thuận nghịch để xưng hô với nhau Người ông ( bà) tự xưng mình là ông hoặc bà và gọi cháu mình là cháu hoặc con Hay nói cách khác mỗi người tự xưng vai của mình

và gọi bằng chính vai của đối tượng được giao tiếp trong gia đình

Trong quá trình giao tiếp với người thứ ba, nhắc đến người ông, người bà của mình thì người cháu xưng hô theo cách khác kèm theo các yếu tố phụ và ngược lại

người ông (người bà) cũng xưng hô như thế Những trường hợp ông ,bà và cháu giao

tiếp với người thứ ba lớn tuổi hơn cháu thì ông bà thường sử dụng cách gọi thay vai

như: cháu nó, cháu nó nhà tôi, cháu + tên, cháu + tên + nhà tôi, em nó, em +

tên,…Dù có lúc gọi là cháu nhưng ở đây không phải là cháu trong mối quan hệ tương

Trang 24

quan với ông bà trong gia đình mà là cháu trong quan hệ với cô, bác ngoài xã hội

Cách xưng hô như thế, thể hiện cách lịch sự trong giao tiếp, mang sắc thái biểu cảm thân thiện, gần gũi giữa ông, bà và cháu

Tóm lại, xưng hô giữa ông, bà và cháu tưởng chừng như khô cứng và đơn giản, nhưng thực tế lại khá phong phú và đa dạng Tùy theo từng hoàn cảnh và mục đích giao tiếp mà có cách xưng hô cho phù hợp

 Xưng hô giữa cha mẹ với con cái trong gia đình

Xưng hô giữa cha, mẹ với con cái là mối quan hệ hình thành thứ bậc về huyết thống và máu mủ Cho nên, khi xưng hô thường dùng một số câu mang tính đặc trưng

của giao tiếp nghi thức Tuy nhiên, có một số trường hợp ở vùng nông thôn cha mẹ thường có thói quen gọi con cái là mày và xưng tao Cách xưng gọi như thế không hề

có ý bực bội hay phật ý mà trái lại nó mang một ý nghĩa thân mật trong giao tiếp đối

với quan hệ cha, mẹ và con cái Ngược lại, ở vùng thành thị hay những vùng lân cân thành phố cha mẹ mà xưng gọi mày, tao với con cái là tỏ thái độ bực bội, không hài

lòng về con cái của mình

Khi con cái xưng hô với cha, mẹ không cần phải theo một quy luật bất biến nào

mà xưng hô theo quy tắc vận động, linh hoạt theo từng hoàn cảnh tương ứng với độ tuổi của cha mẹ và sự thay đổi ngôi thứ trong gia đình Trước người thứ ba bằng hoặc xấp xỉ tuổi của con thì cha mẹ thường gọi con một cách lịch sự nhã nhặn, thân mật và

âu yếm Trong cách cha, mẹ gọi con cái một cách thân mật, nếu kèm thêm ngữ sở hữu

sẽ làm tăng tính biểu cảm, trịnh trọng, pha cười hài hước như gọi: cô/cậu + tên, cô/cậu

+ này/ấy, anh/chị + tên + này/ ấy Khi người thứ ba bằng tuổi mình, con cái thường

gọi cha mẹ kèm theo vai của mình với người thứ ba Còn khi cần giữ ý tứ con cái có thể gọi cha/mẹ + mình/tớ/tao, ông/bà già + mình/tớ/tao để biểu thị sự gần gũi, quen

thuộc

Khi giao tiếp với người thứ ba ít tuổi đối với con của mình cha, mẹ thường gọi con cái bằng vai của con với người đó, để có được sự thân mật hơn, cha mẹ có thể gọi

con cái như tên kèm theo ngữ sở hữu: nhà tôi, nhà ông, nhà cô Nhìn chung chỉ có cha

mẹ thường xưng hô là cha/ mẹ, ba/ má, con … còn người con tùy theo độ tuổi, vùng

sinh hoạt văn hóa và mức giáo dục mà có cách xưng gọi khác nhau trong giao tiếp Trong cách xưng hô giữa cha mẹ và con cái còn có một số cách gọi con rất đặc biệt,

Trang 25

chỉ dùng khi con cái có gia đình, có con cái: cha/ mẹ + tên(con của người con), đây là

cách gọi thay vai cháu

 Xưng hô giữa vợ chồng với nhau trong gia đình

Trong hoàn cảnh bình thường, các cặp vợ chồng trẻ hoặc ở độ tuổi trung niên

thường sử dụng cặp từ anh - em để xưng hô với nhau Người vợ tự xưng mình là em

và gọi người chồng là anh Người chồng cũng xưng mình là anh và gọi vợ là em Quan

hệ giữa từ xưng và từ hô này chỉ mang tính chất thuận nghịch

Khi giao tiếp với người thứ ba, nhắc đến vợ hoặc chồng của mình thì có nhiều cách xưng hô khác nhau Những cách gọi nhau của vợ hoặc chồng khi giao tiếp với

người thứ ba lớn tuổi hơn thường gặp là: chồng em, vợ em ( con, cháu), anh ấy, cô ấy,

nhà em ( con, cháu),…Khi người thứ ba là chổ quen thân với gia đình và trong hoàn

cảnh giao tiếp thân mật, cởi mở thì có thể sử dụng lối gọi: nhà anh, chồng mình, anh

nhà mình,…

Ở những cặp vợ chồng trẻ hoặc trung niên thì họ xưng hô như thế, còn đối với

những cặp vợ chồng lớn tuổi thì họ thường xưng hô với nhau bằng các cặp từ: tôi - ông

(bà), ông - bà Ngoài cách xưng hô trên, trong khi trò chuyện thân mật thể hiện tình

cảm hòa thuận giữa vợ chồng với nhau và giữa họ với con cái, các cặp vợ chồng còn

tạo ra cách xưng hô độc đáo bằng cách nhập vai con để gọi tạo ra tổ hợp: bố - tên

chồng hoặc mẹ - tên người vợ và tự xưng là mình hoặc tôi

Ngoài ra, khi vợ chồng có sự giận dữ, có điều không hài lòng về đối phương hoặc xảy ra xung đột về mặt tình cảm thì có thể xưng hô bằng các cặp từ xưng hô khác như:

mày - tao, tôi - anh (cô),… với một giọng điệu gay gắt; hoặc có khi họ sử dụng một

loạt những từ ngữ thô tục để phát ngôn với nhau như: mẹ mày, bố mày, thằng, con,

đồ…

Rõ ràng lối xưng hô giữa vợ chồng trong gia đình Việt không chỉ bị quy định bởi

sự chuẩn mực ứng xử của xã hội mà nó còn phụ thuộc rất đáng kể vào các cung bậc tình cảm, thái độ của vợ chồng trong những tình huống giao tiếp cụ thể

 Xưng hô giữa anh- chị- em trong gia đình

Cách xưng hô giữa anh- chị- em trong gia đình người Việt thường sử dụng các

cặp từ xưng hô mang tính chất thuận, nghịch Người anh hoặc chị tự xưng là anh hoặc

chị và gọi em mình là em, bất kể trai hay gái và ngược lại Ngoài ra, khi người anh, người chị muốn đảm bảo tính nghiêm khắc trong giao tiếp với người em thì có thể gọi

Trang 26

người em bằng tên và vẫn giữ vai của mình là anh hoặc chị Ở thành thị khá phổ biến

cách xưng hô vai- tên đối với người vai dưới, nông thôn thì cách xưng hô này rất hiếm Trong hoàn cảnh giao tiếp thân mật anh, chị có thể gọi em mình bằng: cưng, bé,

út,…Khi hoàn cảnh giao tiếp giữa anh-chị- em trở nên nặng nề, không chịu đựng được

thì họ có thể dùng cặp mày - tao để xưng hô với nhau

Khi giao tiếp với người thứ ba cần nhắc đến anh-chị- em của mình thì họ thường gọi theo cách gọi của người thứ ba và cũng tự xưng mình theo cách người thứ ba gọi mình nếu đúng quan hệ Khi giao tiếp với người thứ ba lớn tuổi hơn mình thì thường

gọi là: em cháu (con em), anh (chị) cháu (em), anh/ chị (em) ấy,

Tóm lại, cách xưng hô này được dùng một cách rất phổ biến trong quan hệ gia đình Chính vì vậy, các từ xưng hô được sử dụng trong mối quan hệ này rất phong phú

và đa dạng Tùy theo từng hoàn cảnh và mục đích giao tiếp mà chúng ta có cách xưng

hô cho phù hợp

1.2.2.3 Từ xưng hô dùng trong mối quan hệ xã hội

 Dùng từ chỉ quan hệ thân tộc làm từ xưng hô

Nhiều từ xưng hô trong quan hệ thân tộc đã được dùng xưng hô ngoài xã hội Theo Đỗ Hữu Châu thì có hai cách sử dụng từ thân tộc để xưng hô với người ngoài gia đình, họ tộc (gọi tắt là người ngoài): Xưng hô thân tộc hóa và xưng hô phi thân tộc hóa

Xưng hô thân tộc hóa: tức là cách người nói mượn một quan hệ thân tộc nào đó,

tự đặt mình và người tiếp thoại của mình vào rồi dùng các từ thân tộc tương ứng mà tự xưng và đối xưng Cách xưng hô thân tộc hóa thường chỉ được dùng khi giữa người nói và người giao tiếp có sự chênh lệch nhau về tuổi tác và về vị thế xã hội

Xưng hô phi thân tộc hóa: theo cách này, người nói không đặt mình với người

tiếp thoại của mình vào một quan hệ thân tộc nào cả, tự xưng và đối xưng như những người ngoài xã hội với nhau Đối với ngôi thứ nhất, khi xưng hô phi thân tộc hóa với

người ngoài thường tự xưng “tôi” và đối xưng bằng các từ thân tộc khác như: cụ, ông,

bà, bác, cô, anh, chị, em, con,… Cách xưng hô phi thân tộc hóa với người ngoài hiện

nay tập trung chủ yếu vào các từ ông, bà, anh, chị Đặc biệt là hai từ ông, bà, được sử

dụng rất nhiều

Ngoài những cách dùng từ xưng hô ở trên, chúng ta có thể dùng tên riêng để

xưng hô với nhau Trước đây, ở Việt Nam có nhiều loại tên: tên hèm (tên cúng cơm),

Trang 27

tên húy, tên thụy, tên tự, tên hiệu, tên tục Những người theo đạo thiên chúa còn có tên thánh, đạo phật thì có pháp danh Tùy theo từng hoàn cảnh giao tiếp mà có cách sử

dụng từ xưng hô cho phù hợp Đặc biệt, người Việt ta có tục kiêng gọi tên tục Trước đây, chỉ khi nào xung đột dữ dội người ta mới lôi tên tục ra mà chửi Cho đến nay, đối xưng và tha xưng người có vị thế xã hội cao trong xã hội hoặc trong gia đình, họ tộc chỉ bằng tên riêng là vô lễ với người đó

Hiện nay để xưng hô trong đời thường, theo Đỗ Hữu Châu thường được dùng là các tên chính (tên khai sinh) Trẻ nhỏ trong gia đình thường được xưng hô bằng tiểu danh (cu, cò, tí, cún, bin,…) Tên chính phổ biến một âm tiết, nhiều người cũng có tên chính là hai âm tiết Khi người phụ nữ lập gia đình, người Việt chúng ta cũng có nhiều cách gọi khác nhau Thông thường thì được gọi theo tên của người chồng hoặc ở Nam

Bộ thì gọi theo thứ của chồng: cô tám, ông bà hai, bà ba,… Khi họ có con thì bố và

mẹ thường được gọi tên bằng tên của đứa con đầu lòng như: Mẹ Nam, bố Lan, bố mẹ

Lam,… Tuy nhiên, cách gọi tên theo tên chồng hay tên con hiện nay không còn phổ

biến nữa

Chính vì sự đa dạng trong cách dùng từ xưng hô thân tộc để xưng hô ngoài xã hội Để tạo được hiểu quả cao trong giao tiếp, khi xưng hô chúng ta cần kết hợp các quy tắc sau:

Quy tắc về tuổi tác

Quy tắc “xưng khiêm hô tôn”

Quy tắc gọi thay tên

Quy tắc thân mật, xa cách

Quy tắc xưng hô tôn trọng và coi thường

 Cách xưng hô dùng từ chức danh, nghề nghiệp

Trong Cơ sở ngữ dụng, Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Từ chức danh, nghề nghiệp lập

thành bốn kết cấu sau đây để xưng hô:

Thứ nhất: Từ chức danh, nghề nghiệp dùng một mình;

Thứ hai: Từ chức danh, nghề nghiệp kết hợp với từ thân tộc hoặc từ : “ngài”,

từ “quan” ở trước;

Thứ ba: Từ chức danh, nghề nghiệp dùng tên riêng ở sau;

Thứ tư: Từ chức danh, nghề nghiệp kết hợp với từ thân tộc hoặc từ “ngài” (từ

“quan”) ở trước và tên riêng ở sau” [8;tr.300] Cũng theo tác giả thì cả 4 kết cấu trên

Trang 28

đều có thể được dùng để tha xưng với các sắc thái biểu cảm, trong những thoại trường, trong ngữ vực và quan hệ liên cá nhân khác nhau Đáng chú ý, là việc dùng các kết cấu

từ chức danh, nghề nghiệp để đối xưng

Khi những tình huống không cần xác lập vị thế, người nói không dùng đại từ nhân xưng như anh, chị, bác,…để gọi mà dùng từ chỉ ngay công việc của họ đang làm

để gọi Nếu có thêm các đại từ như: chị, ông, bà,…đi kèm nó cũng không có giá trị phản ánh sự phân biệt tuổi tác Có thể gọi là giám đốc, xếp, thủ trưởng, tuy nhiên sự biểu lộ rõ nhất trong cách xưng hô dùng chức danh để gọi trong môi trường giao tiếp mang tính nghi thức, trong hội nghị, chỗ đông người,… ở đó chủ thể giao tiếp hay lấy chức danh của người đối thoại làm từ xưng hô như: bộ trưởng, giáo sư, tiến sĩ

1.2.2.4 Từ xưng hô dùng trong tình yêu

Từ xưng hô dùng trong tình yêu được sử dụng trong sự đối đáp giữa hai người, mang bóng dáng của hai nhân vật Mọi thái độ của hai nhân vật được thể hiện trong cách xưng hô như: kêu gọi, khuyên bảo nhau, hỏi - đố nhau, than thở với nhau, trách móc, mong ước có nhau - gần nhau, giễu cợt hay thố lộ tình cảm với nhau

Từ cuộc trò chuyện của hai nhân vật trữ tình mà cách xưng hô phổ biến thường dùng từ xưng hô ở ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai Có loại nhân vật lững lờ, ẩn kín hay tượng trưng thực ra thì cũng chỉ là ám chỉ cho hai ngôi trên mà thôi Ngôi thứ nhất và

ngôi thứ hai thể hiện rõ ràng như: đối với nữ thì sử dụng từ xưng hô: em, thiếp, tôi-

chàng, anh, mình; đối với nam thì thường sử dụng từ xưng hô: ta, tôi, anh - nàng, em, mình, cô

Ngoài ra, còn có những từ xưng hô dùng cả hai ngôi mà trong giao tiếp bên nào

sử dụng cũng được như: đấy - đó, đấy - đây, ta - mình, người - ai, đôi ta hay là không

sử dụng từ nhân xưng hoặc sử dụng từ nhân xưng mang ẩn ý Nhân vật trữ tình thường

mượn những hình ảnh ví von như: thuyền - bến, dậu - bìm, bướm - hoa,…để chỉ tình

cảm của mình đối với đối phương

1.2.3 Một số đặc điểm của từ xưng hô trong tiếng Việt

Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ trong các công trình nghiên cứu của mình ít nhiều

đã đưa ra những đặc điểm nổi bật của từ xưng hô

Theo quan điểm Ngữ dụng học, Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Vì phải thể hiện quan

hệ liên cá nhân cho nên các ngôn ngữ mới có nhiều từ xưng hô và việc dùng từ xưng

Trang 29

hô trở nên rắc rối” [4;tr.78] Sự phong phú, đa dạng của từ xưng hô ngoài việc thể

hiện ở hệ thống từ, còn được bộc lộ qua tác dụng, ý nghĩa của nó

Ở lĩnh vực Phong cách học, Lê Biên cho rằng: “Các từ xưng hô phản ánh trực

tiếp các mối quan hệ gia đình thân thuộc và tính chất quan hệ xã hội; phản ánh trình

độ nhận thức, thái độ tình cảm của người nói và người nghe, thậm chí còn có thể bộc

lộ nhân cách con người (người có văn hóa hay không; thái độ chân thành hay giả tạo…) [2;tr.126]

Đinh Trọng Lạc trong Phong cách học tiếng Việt cho rằng: “Màu sắc biểu cảm tu

từ cực kì phong phú trong hệ thống đại từ nhân xưng và từ xưng hô phản ánh ý thức cộng đồng, ý thức huyết thống của dân tộc Việt Nam” [9;tr.175]

Từ những ý kiến của các nhà nghiên cứu, có thể rút ra được các đặc điểm của từ xưng hô trong tiếng Việt như sau:

- Trong giao tiếp hàng ngày, các danh từ dùng làm đại từ xưng hô được dùng nhiều hơn, phổ biến hơn là các đại từ xưng hô đích thực

+ Các danh từ thân tộc dùng để xưng hô không chỉ trong giao tiếp ở gia đình mà còn dùng trong giao tiếp xã hội

+ Trong phạm vi gia tộc, các danh từ thân tộc với ý nghĩa chính xác của chúng

để xưng và hô Nhưng trong giao tiếp xã hội, chúng có sự chuyển biến nghĩa rất mạnh

mẽ

- Trong giao tiếp thuộc phạm vi gia đình thân thuộc hay thuộc phạm vi xã hội, người Việt thường bộc lộ trực tiếp quan hệ của người nói với người nghe, người nói với hiện thực khách quan (tính tình thái của từ xưng hô) Chính vì vậy, các từ xưng hô rất đậm sắc thái biểu cảm Nói khác đi, các từ xưng hô tiếng Việt ít trung hòa về sắc thái biểu cảm

- Xưng hô là hành động ngôn ngữ và cũng như các hành động ngôn ngữ khác, có

ý định, niềm tin, mục đích và chiến thuật xưng hô Các từ xưng hô càng trung tính, nghĩa là càng gần với ý nghĩa vai thì càng khó thực hiện được chiến lược giao tiếp bằng xưng hô Các từ xưng hô càng mang nặng các ý nghĩa phụ trợ thì xưng hô càng

dễ thực hiện được chiến thuật xưng hô

- Ở tiếng Việt không như ở các ngôn ngữ có cặp tự xưng - đối xưng trung tính, các từ xưng hô có thể thay đổi linh hoạt trong diễn tiến của một hội thoại Nếu so sánh

giữa hoạt động của “xưng” và “hô” trong xưng hô thì ta thấy nổi lên một điều đáng

Trang 30

quan tâm: từ “hô” kém linh hoạt hơn từ “xưng” Trong thực tế, một từ “xưng” thường cặp đôi với nhiều từ “hô”

- Từ xưng hô phản ánh mối quan hệ gia đình, thân thuộc và các mối quan hệ ngoài xã hội Phản ánh trình độ nhận thức, thái độ tình cảm của người nói đối với người nghe và đồng thời cũng có thể giúp bộc lộ nhân cách con người

- Việc sử dụng từ xưng hô trong tiếng Việt chịu sự chi phối từ nhiều nhân tố như: nhân vật giao tiếp, mục đích giao tiếp, tình huống giao tiếp Bên cạnh đó, những yếu tố như: phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa xã hội… cũng có thể tạo nên dáng vẻ riêng trong việc dùng từ xưng hô

 Đặc điểm xưng hô của người dân Nam Bộ

So với các đặc điểm chung của từ xưng hô trong tiếng Việt thì từ xưng hô của người Nam Bộ có những đặc điểm khác biệt như:

Trong quan hệ gia đình, đối với ông bà, người ta ít hoặc không dùng yếu tố gốc: ông, bà để xưng hô Người Nam Bộ thường xưng hô bằng các yếu tố phụ: nội, ngoại hoặc kết hợp cả hai yếu tố phụ để gọi: ông nội,ông ngoại,…

Đối với cha mẹ trong gia đình, khác với người miền Bắc, người miền Nam không

gọi cha là thầy, gọi mẹ là mợ hay u mà người ta gọi cha, mẹ là ba, má Tuy nhiên, ở một số gia đình Nam Bộ hiện nay thì vẫn gọi cha, mẹ là cha, mẹ

Đối với các vị ngang hàng với cha mẹ, cả phương ngữ Nam Bộ và phương ngữ Bắc Bộ về cơ bản là giống nhau Cả hai vùng vẫn xưng hô bằng các danh từ chỉ mối

quan hệ họ tộc: bác, dì, cô, chú, dượng,…Tuy nhiên, điểm khác nhau trong cách xưng

hô của người Nam Bộ với người Bắc Bộ là người miền Nam thường kết hợp các danh

từ họ tộc với thứ của đối tượng giao tiếp trong gia đình để xưng hô: bác ba, cô chín,

chú năm,…Còn đối với người miền Bắc thì khi xưng hô họ thường kèm theo tên của

đối tượng để xưng hô: bác Hà, chú Bình, cô Hoa,…Ở ngôi thứ ba, các danh từ chỉ

quan hệ họ tộc ở ngôi thứ hai vẫn sử dụng được

Một số đặc trưng trong cách xưng hô của người Nam Bộ, đó là họ không hoặc ít

sử dụng cháu, tôi, mà thường xưng hô con, tui Từ cháu, tôi chỉ xuất hiện trong giao tiếp nghi thức hoặc là trường hợp chưa thân thiết Đồng thời trong cách xưng hô của

người Nam Bộ còn sử dụng hai từ qua, bậu để xưng hô với nhau Cặp xưng hô này là

một đặc điểm riêng chỉ có ở vùng đồng bằng sông nước Nam Bộ

Trang 31

Trong ngôn ngữ giao tiếp, người miền Nam thường có khuynh hướng tăng tình cảm, giảm tính trịnh trọng, nghi thức

Tóm lại, con người Nam Bộ rất giàu tình nghĩa Vì thế cách xưng hô của người Nam Bộ thường chân thành, thiện ý và ít nghi thức

Trang 32

Chương 2 KHẢO SÁT TỪ XƯNG HÔ TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM

CỦA ANH ĐỨC

2.1.Vài nét về tác giả và sự nghiệp sáng tác

2.1.1 Tác giả

Nhà văn tên thật là Bùi Đức Ái, bút danh Anh Đức, sinh ngày 5 tháng 5 năm

1935, người xã Bình Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang

Nhờ từ nhỏ Anh Đức được đọc nhiều sách văn học của tủ sách gia đình, đặc biệt trong thời gian tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp được sống trong môi trường văn nghệ Đó là điều kiện giúp Anh Đức đi sâu vào hoạt động văn học

Nhà văn Anh Đức xuất thân trong gia đình có công giúp đỡ cách mạng Năm

1945, Cách mạng tháng 8 thành công, Anh Đức mới lên 10 nhưng đã “ý thức về một

chế độ mới, một chính quyền mới” Đặc biệt, sự hi sinh anh dũng của người anh cả

trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã tác động mạnh đến ý thức của Anh Đức Cuối năm 1947, ông bỏ học vào công tác tại Văn phòng Thông Tin kháng chiến của tỉnh Rạch Giá Ít lâu sau ông được cơ quan bố trí cho đi học tiếp tại trường Trung học kháng chiến Nguyễn Văn Tố Kết thúc 2 năm học tập, ông trở lại công tác ở cơ quan cũ

Năm 1950, Anh Đức về công tác tại Chi hội Văn nghệ Nam Bộ Năm 1953, ông

là phóng viên báo cứu quốc Nam Bộ cho tới năm 1954 tập kết ra Bắc Sau một năm tham gia công tác tại phòng văn nghệ Đài tiếng nói Việt Nam Năm 1957, ông được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam đợt đầu tiên và về công tác tại Hội nhà văn Việt Nam, là biên tập viên văn xuôi tuần báo văn học Giữa năm 1962, Anh Đức được điều

về Nam

Đầu năm 1963, ông đi thực tế sáng tác ở các tỉnh Cần Thơ, Rạch Giá, Cà Mau Đây là thời kỳ sau Đồng Khởi, nông dân Nam Bộ đã có một vùng giải phóng rộng lớn, chính quyền và lực lượng vũ trang Cách mạng đã được thành lập nhưng thế và lực còn mỏng, non yếu Để dập tắt phong trào Cách mạng miền Nam thời kỳ đầu còn non trẻ,

Mỹ chủ trương chiến lược chiến tranh đặc biệt sử dụng trực thăng vận và thiết xa vận,

Trang 33

dồn dân lập ấp chiến lược đã gây cho cách mạng miền Nam không ít khó khăn Nhiều

truyện ngắn và tiểu thuyết Hòn Đất của ông đã ra đời trong bối cảnh đó

Trong 13 năm ở chiến trường, Anh Đức vừa sáng tác vừa đảm đương nhiệm vụ phụ trách ngành văn và trong nhiều năm là Tổng Biên Tập tạp chí văn nghệ giải phóng của Hội văn nghệ giải phóng miền Nam Ông từng là ủy viên thường vụ và ủy viên Đảng đoàn Hội nhà văn Việt Nam các khóa II, III; Đại biểu Quốc hội khóa VII; Hiện

là ủy viên Ban Chấp hành Hội nhà văn Việt Nam khóa V; phó chủ tịch kiêm phó Bí thư Đảng đoàn Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam; Tổng biên tập tạp chí văn

và kiến thức ngày nay

Nhà văn Anh Đức được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2000 Huân chương Độc lập hạng nhì

2.1.2 Sự nghiệp sáng tác

Năm 1952, Anh Đức bắt đầu sáng tác với tập truyện ngắn đầu tay nhan đề Biển

Động gồm 18 truyện ngắn viết về đề tài chiến tranh du kích Tập truyện ngắn được

tặng giải 3 giải Cửu Long, giải thưởng văn nghệ có uy tín lúc bấy giờ do Ủy ban kháng chiến Hành chính Nam Bộ cùng chi hội Văn nghệ Nam Bộ phối hợp tổ chức

Năm 1960, tập truyện ngắn Bức thư Cà Mau được in xong

Năm 1962 ông chuyển thể thành kịch bản phim chị Tư Hậu dựa theo tiểu thuyết

Một truyện chép ở bệnh viện, do Phạm Kỳ Nam đạo diễn Vào giữa năm 1963, ông

hoàn thành tập truyện ngắn Biển Xa do Nhà xuất bản văn học ấn hành

Từ 1963- 1964 ông sáng tác nhiều truyện ngắn trong đó có các truyện tiêu biểu:

Khói, Đất, Đứa Con, Con Chị Lộc, Giấc mơ ông lão vườn chim

Năm 1966, tiểu thuyết Hòn Đất ra đời

Tập truyện Bức thư Cà Mau và tiểu thuyết Hòn Đất được tặng giải thưởng

Nguyễn Đình Chiểu, giải thưởng của Hội đồng giải thưởng văn học Nghệ thuật miền Nam

Năm 1972, Anh Đức bắt đầu viết tiểu thuyết Đứa con của đất và xuất bản vào

năm 1976

Năm 1983, xuất bản tập truyện ngắn Miền sóng vỗ Tập Hai mươi truyện ngắn và

tuyển tập Anh Đức I và II, ra mắt bạn độc năm 1997

Năm 2002, xuất bản tập Anh Đức - Truyện ngắn và bút ký

Trang 34

Tác phẩm chính:

Tập truyện ngắn Biển động (1952), tập truyện ngắn Lão anh hùng dưới hầm bí

mật (1956), tiểu thuyết Một chuyện chép ở bệnh viện (1958), tập truyện ngắn Con cá song (văn học 1958), truyện thiếu nhi Thuyền sắp đắm (Kim Đồng), tập truyện ngắn Biển xa (văn học, 1960), tập truyện ngắn Bức thư Cà Mau (văn học, 1960), tiểu thuyết Hòn Đất (văn học, 1966), tập truyện ngắn Giấc mơ ông lão vườn chim (giải

phóng,1968), tiểu thuyết Đứa con của đất (giải phóng, 1976), tập truyện ngắn Miền

sóng vỗ (văn nghệ TP.HCM,1983), tập truyện ngắn Hai mươi truyện ngắn (văn học),

tập truyện thiếu nhi Ông già về hưu và những đứa trẻ (Măng non), tập truyện Anh Đức

I và II (văn học,1997), tập Anh Đức- truyện ngắn và bút ký (NXB Hội nhà văn, 2002)

Một số tác phẩm của ông đã được dịch sang tiếng Anh, Pháp, Nga, Đức, Trung Quốc, Nhật Bản,…

Tóm lại, điểm nổi bật trong toàn bộ các tác phẩm của Anh Đức từ truyện ngắn đến tiểu thuyết là tính chiến đấu cao, thể hiện rõ tinh thần xả thân vì nước của nhân dân ta nói chung và đồng bào Nam Bộ nói riêng

2.2 Từ xưng hô được sử dụng trong một số tác phẩm của Anh Đức

Ở mỗi vùng miền đều có cách xưng hô khác nhau, mang một nét riêng của từng vùng Nhưng có thể nói cách xưng hô của người Nam Bộ là khá phong phú và đa dạng Trong mối quan hệ gia đình thì có từ xưng hô dùng trong mối quan hệ với ông

bà, cha mẹ - con cái, anh - chị - em và những người có cùng quyết thống với nhau Ngoài ra, còn có cách xưng hô trong mối quan hệ xã hội, mối quan hệ tình yêu cũng được Anh Đức thể hiện qua các tác phẩm của mình

2.2.1 Từ xưng hô dùng trong mối quan hệ gia đình

2.2.1.1 Từ xưng hô dùng trong mối quan hệ giữa cha mẹ đối với con cái

Trong mối quan hệ này từ xưng hô được người dân Nam Bộ sử dụng khá đa dạng với nhiều cách xưng hô khác nhau, mỗi cách đều thể hiện trạng thái tình cảm khác nhau trong khi giao tiếp, có lúc thân mật ngọt ngào, có lúc giận dữ, có khi còn bộc lộ thái độ oán trách,…

Trong cách xưng hô với con cái cha mẹ thường xưng mình là cha, ba hoặc mẹ,

má hoặc có khi còn xưng là tao và gọi con mình là con hoặc mày thể hiện sự gần gũi

trong gia đình Điển hình trong tác phẩm Hòn Đất cuộc nói chuyện giữa hai mẹ con

Sứ, họ xưng hô với nhau bằng má, con rất thân mật

Trang 35

“Sao, con? Con với ba giống nhau không?” (Hòn đất;tr.231)

“Má ơi, chú Thẩm mới nói chuyện đời xưa cho con nghe hay ghê lắm!

(Hòn đất;tr.33)

“Má đây nè, con! Con nằm đó ngủ, để má đi nấu nước cho mấy chú uống!

Không, con không ngủ… Con đi nấu nước với má”(Hòn đất;tr.382)

“Con cầm, soi cho má đi lấy nước!”(Hòn đất;tr.384)

“Thúy ơi, con đừng chết, nghen con…”(Hòn đất;tr.431)

Hay lời độc thoại của chị Sứ khi bị bắt cũng cho ta thấy cách xưng hô quen thuộc của người dân Nam Bộ:

“Má, bây giờ má đương làm gì? Má dọn vườn hay cho heo ăn? Ba ngày rồi con không thấy mặt má… E con cũng không còn thấy má được nữa… Nếu con chết, má nuôi con Thúy cho con, nghen má! Má hãy coi con Thúy như con Sứ của má hồi nhỏ Vậy thì con vẫn còn ở với má hoài chớ con không chết…” (Hòn đất;tr.430)

“Má, má… má nuôi con Thúy cho con nghe má! (Hòn đất;tr.455)

Đối với tên ác ôn như thằng Xăm vẫn gọi bà Cà Xợi là má như bao nhiêu người trên sứ Hòn

“Mà má đi theo mấy con mẹ đờn bà Hòn Đất làm chi… Phải không có má ở đó,

tui ra lệnh bắn té hết!” (Hòn đất;tr.519)

Ngoài ra, Anh Đức còn vận dụng tiếng gọi mẹ của dân tộc khơrme vào trong tác phẩm của mình một cách linh hoạt Tiếng gọi của Cà Mị khi gặp lại mẹ mình nghe sao chân chất, mộc mạc, thể hiện một tình cảm thân thương đối với người sinh thành ra mình Tuy số lượng từ xưng hô này không nhiều nhưng nó cũng làm nên sự phong phú trong cách xưng hô của người dân Nam Bộ

“Me, me ơi!” (Hòn đất;tr.594)

“Má uống nữa hả? Thôi, má không được uống nữa! Thôi đi…má ơi.”

(Hòn đất;tr.289)

Trong tác phẩm Một truyện chép ở bệnh viện, lớp từ xưng hô thể hiện mối quan

hệ này xuất hiện tương đối nhiều Chủ yếu là qua lời đối thoại của chị Tư Hậu và cha chồng

“Đưa con nhỏ đây cho ba, chạy đi con!”(Một truyện chép ở bệnh viện;tr.34)

Trang 36

“Thôi, đừng khóc nữa…con của con nó cũng khóc đây Hai mẹ con cùng khóc, giờ ba biết dỗ ai Con nhỏ hồi sáng tới giờ mới bú có một lần Nó khát sữa rồi Con

cho nó bú đi.” (Một truyện chép ở bệnh viện;tr.41)

“Con Tư, bộ con khùng rồi sao Dẫu gì thì cũng đã lỡ rồi Không phải lỗi ở con

Có chăng là lỗi ở ba đây Ba dại quá, ngần tuổi này như ba mà dại quá…”

(Một truyện chép ở bệnh viện;tr.42)

Qua những lời nói của người cha chồng thật cảm động, ông lo lắng cho đứa con dâu bạc phận của mình như là con ruột Tình cảm cha con thật là thiêng liêng, sâu

nặng Cách xưng hô ba, con hay nhiều lúc gọi con dâu mình bằng con Tư của ông Bảy

trong tác phẩm, bộc lộ tình cảm thương yêu gần gũi giữa cha mẹ đối với con cái

Ngoài ra, trong tác phẩm này chúng ta cũng bắt gặp cách xưng hô má, con giữa

hai mẹ con chị Tư Hậu: “Con ơi, từ đây má với con sẽ sống ra sao đây?”

(Một truyện chép ở bệnh viện;tr.68)

“- Má…áo má tâu, má có áo mới không…hả…má?

- Có, má may cho bé Thủy trước rồi bữa kia bữa kìa má may cho má.”

(Một truyện chép ở bệnh viện;tr.99,100)

Các từ xưng hô ba, má được Anh Đức sử dụng rất nhiều trong các tác phẩm của

mình Có lẽ một phần vì lớp từ này được sử dụng rộng rãi ở địa phương Nam Bộ mà Anh Đức lại được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Nam Bộ nên ông đã vận dụng vào trong các tác phẩm của mình một cách linh hoạt; một phần vì ông viết về người nông dân Nam Bộ nên sử dụng những từ ngữ gần gũi với người dân là điều đương nhiên Các lớp từ xưng hô trong mối quan hệ giữa cha mẹ với con cái được Anh Đức sử dụng rất linh hoạt, uyển chuyển thể hiện tâm tư, tình cảm của nhân vật thông qua lời nói của mình Cha mẹ là người sinh thành và dưỡng dục chúng ta nên người Cho nên, khi giao tiếp hay xưng hô đối với bậc sinh thành chúng ta cần phải lựa chọn những từ ngữ mang tính chất thân mật, trang trọng để thể hiện tấm lòng của mình đối với cha

mẹ Trong quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy rằng Anh Đức sử dụng khá phổ biến

các từ ba, má để xưng hô trong mối quan hệ giữa cha mẹ đối với con cái Tác giả sử

dụng nhiều các từ này trong tác phẩm của mình, một phần tác giả là người Nam Bộ và tác giả đang viết về người Nam Bộ, cho nên việc sử dụng các từ xưng hô mang một

chút ẩm hưởng Nam Bộ là điều tất nhiên Người dân Nam Bộ thường gọi cha mẹ của mình là ba, má hơn là cha, mẹ

Trang 37

Ngoài ra, chúng ta còn bắt gặp các cách xưng hô khác giữa cha, mẹ với con cái

trong các tác phẩm khác của Anh Đức Trong tác phẩm Con cá song, người con gọi

cha mình là bố và xưng lại là tôi:

“Không phải chuyện bố ăn hay tôi ăn Lúc nãy tôi đã bảo bố đừng bán, thế mà bố

chẳng nghe Bây giờ đã trót vậy, tốt hơn hết là đem số tiền bán con cá song ấy hoàn lại cho tập đoàn…” (Con cá song;tr.79)

“Nỗi khổ của bố ngày xưa, tôi rõ lắm… Bố ạ, khi bố nhớ lại những cảnh ấy thì

bố có nghĩ là tại sao bây giờ bố được dễ thở không? Chẳng nhẽ bố lại không nhớ vì

thế nào, nhờ ai mà thằng Mã Chiếm nó chịu buông cái sợi dây thòng lọng của nó ra

hay sao? Bố cứ nghĩ xem…” (Con cá song;tr.85)

Khi người con xưng hô với bố mình như thế tỏ là người con tỏ thái độ không bằng lòng về việc làm của bố mình Nhưng bên trong thì người con vẫn tỏ ra lo lắng, quan tâm cho người bố của mình Câu chuyện trong tác phẩm này không có gì là ly kỳ,

mà chỉ là thái độ tâm tư của con người trong cuộc vật lộn tư tưởng của hai cha con trước những hiện tượng bình thường trong cuộc sống Ông già đánh cá vì tự tư tự lời

đã đem bán con cá song của tập đoàn để lấy tiền cho vào túi riêng, nhưng ở đây người con nhất quyết không đồng ý việc làm của bố mình Để hòng làm siêu lòng người con lão đã đánh vào tình cảm của người con bằng cách kể lại cuộc đời khổ cực trước kia của lão, vợ lão và bố lão với một giọng nữa than thở nữa đay nghiến Nhưng sau những phút suy nghĩ, người con cương quyết bảo bố phải đem số tiền bán cá hoàn lại cho ban quản trị tập đoàn Tuy anh chưa phá vỡ nổi những ý nghĩ hầu như cố định của người bố, nhưng những lời lẽ có lý của anh đã làm cho ông lão phải suy nghĩ

“Tuổi già như tao không hề quên ơn ai bao giờ… Nhưng có cái tao nghĩ mãi chẳng ra Đảng và Chính phủ bày ra cái tập đoàn làm gì nhỉ? Nói thực, tao có thích vào tập đoàn đâu Tao mà vào tập đoàn là tại mày, là vì tao không chịu nổi cái miệng

thế Có ngày đây rồi không dư dả đâu mà góp nuôi cha xứ được!” (Con cá song;tr.87)

Đồng thời, trong tác phẩm này chúng ta còn thấy những cách gọi khác nữa của

người cha dành cho người con của mình: mày, anh và xưng lại là tao, tôi

“Mày nói gì thế, thằng khốn Không đời nào thằng già này chịu thế Mày còn dại lắm con ạ… không, không…” (Con cá song;tr.80)

“Mày dạy lại tao đấy à? Phải, kinh thánh có răn là không được tham của người Chúa dạy thế Nhưng đó là Chúa dạy chớ lấy của người khác Mà tao, tao chẳng có

Trang 38

lấy của ai sốt Của tao làm ra, tao có quyền bán đi Như vậy là tao không mảy may

phạm tới điều răn của Chúa.” (Con cá song;tr.80,81)

“Thì anh cứ đi đi, có ai buộc chân anh ở thuyền đâu Ông lão xen vào Ngừng

một lúc, lão tiếp lời:

- Mà cái thứ như anh người ta cóc có cần…Anh đi, tôi đây cũng chả thiết Anh ở đây cũng chả thiết Anh ở đây, anh chỉ độc làm khổ tôi…” (Con cá song;tr.89)

Trong tác phẩm này, có lúc người bố lại gọi con mình là anh thể hiện thái độ

không bằng lòng về đứa con của mình, gọi với một thái độ trách móc dõi hờn Cách xưng hô này ít xuất hiện trong tác phẩm của Anh Đức vì cha mẹ gọi con cái như thế sẽ làm mất đi tình cảm thân thiết của cha mẹ đối với con cái

Tuy cách xưng hô giữa cha mẹ và con cái trong tác phẩm của Anh Đức có khá

nhiều cách xưng hô khác nhau nhưng nhìn chung, thì cách xưng hô ba, má là nhiều

nhất Vì nó mang đến sự gần gũi trong cách giao tiếp giữa cha mẹ và con cái Cách

xưng hô mày, tao mới nhìn vào chúng ta thấy không thân thiết cho lắm, nhưng cũng có

thể nói rằng đây là cách xưng hô mang đậm nét Nam Bộ Người dân Nam Bộ bộc trực, thẳng thắn, không quen sử dụng các cách xưng hô cầu kì, hoa mĩ Cho nên, khi giao tiếp với nhau họ lựa chọn những từ ngữ nào thích hợp cho mục đích giao tiếp của họ là được Chính vì thế mà ở một số gia đình Nam Bộ hiện nay cha mẹ vẫn thường gọi con

cái của mình là con, mày và xưng tao Chúng tôi cũng bắt gặp những cách xưng hô

như thế trong phẩm của Anh Đức, thể hiện mối quan hệ giữa cha mẹ với con cái

“Con nhỏ nó giống y như mày hồi đó!” (Hòn đất;tr.231)

“Phật ơi, một chục bữa rồi tao chớ thấy mày gội đầu nghe Sứ!” (Hòn đất;tr.408)

“Đi làm cá đi, con Chiều rồi Nấu cơm cho mấy anh mày nó ăn”

(Hòn đất;tr.260)

Khi chú Ba nói với thằng Trung về việc cho nó đi bộ đội, chú Ba gọi con mình là

mày và xưng là tao:

“Ấy phải sợ nó thấy chớ Mày ngu quá Đi ban đêm dễ hơn Tao đã bàn với lính

Tư rồi, đêm mốt tới phiên chú Tư gác ở chò gác chánh, chú sẽ để cho mày đi thong thả Chừng mày đi rồi chú sẽ bắn súng báo động Tao sẽ la rầm lên là mày đã bỏ nhà

trốn…

Thằng Trung nghe ba nó nói thế thấy cũng có lý Ngẫm nghĩ một chút nó bảo

-Tôi đi rồi thế nào nó cũng làm khó dễ ba má

Trang 39

Chú Ba nói:

-Ôi đừng lo Xin miễn mày đi thoát là được Còn tao, nếu nó đánh thêm vài báng súng nữa cũng chịu nổi Chịu cho nó thúc vài báng súng để mày đi thoát thì tao chịu

được.” (Đứa con;tr.179,180)

Qua lời đối thoại giữa hai cha con, cho thấy tấm lòng thương con của chú Ba đối với đứa con trai độc nhất của mình Chú luôn lo lắng, yêu thương con mình theo một

cách riêng, lựa chọn định hướng cho con mình một hướng đi đúng đắn Đứa con, một

chuyện khác về tình cảm giữa cha mẹ đối với con cái Câu chuyện ngắn ngủi nhưng mang đậm tình cảm về tình cha con Gia đình chú thím Ba lo lắng, yêu thương con, mỗi người có cách yêu thương con khác nhau: thím Ba thì bộc lộ tình yêu thương của mình bằng những lời nói, cử chỉ âu yếm mà mới nhìn vào ta có thể nhận ra ngay được; còn chú Ba thì thương con theo một cách khác không thố lộ ra mà chỉ để trong lòng Chính vì thế mà cách xưng hô của chú Ba đối với con nghe không được thân mật như các cách xưng hô khác Nhưng cách xưng hô này lại rất phù hợp với bản tính bộc trực, thẳng thắn của chú

Ngoài ra, khi giao tiếp với người khác con cái còn gọi mẹ của mình bằng các từ

khác như bả hay bà già Trong tác phẩm Hòn Đất, khi biết má Sáu đã hay chị Sứ nhận

được thư chồng và má đi kiếm cái gì đó để về làm cơm ăn mừng thì Quyên với khuôn mặt rạng lên:

“Cha! Mới được một cái thơ của anh Ba mà bà già làm tiệc rồi Đây tới chừng thống nhất anh Ba về chắc má làm heo….” (Hòn đất;tr.231)

Hay khi nói chuyện với anh Tám Chấn:

“Má tôi bả nhát lắm, anh Tám ơi!” (Hòn đất;tr.256)

Bên cạnh đó, tên trung úy Xăm khi nhắc đến mẹ mình trước mặt người khác hắn cũng gọi như thế

“Nghe nói bà già tao theo Việt cộng Bả thù ông già tao lắm.” (Hòn đất;tr.278)

“Nghe bà già tao theo Việt cộng rồi!” (Hòn đất;tr.283)

Cách người con gọi cha mẹ của mình khi giao tiếp với người khác bằng các từ:

bả, bà già hay ông già,… được sử dụng rất phổ biến trong cách xưng hô của người dân

Nam Bộ Nó mang một dáng vẻ riêng của con người nơi đây, Anh Đức đã vận dụng một cách rất linh hoạt vào trong tác phẩm của mình thể hiện sự phong phú trong việc

sử dụng lớp từ xưng hô này

Trang 40

Cách xưng hô giữa cha mẹ đối với con cái trong các tác phẩm của Anh Đức, đôi

khi tác giả có sử dụng những từ đệm kèm theo như: nè, ơi, ạ, nghe,… Cách dùng từ

đệm như thế giúp cho người đọc có được cái nhìn tổng quát hơn về văn hóa ứng xử của người dân Nam Bộ - mộc mạc, giản dị Việc sử dụng các từ đệm sẽ làm tăng thêm giá trị biểu đạt của lớp từ xưng hô Khi người giao tiếp sử dụng các từ đệm kèm theo trong cách xưng hô sẽ giúp họ bộc lộ được tình cảm của mình một cách rõ ràng hơn

“Thôi, thôi, con ơi, đừng giận má nghe con…”

(Một truyện chép ở bệnh viên;tr.43)

“Phải đi cho họ ba à!” (Một truyện chép ở bệnh viện;tr.78)

Sự quan tâm lo lắng của bé Thủy đối với chị Hậu:

“Má ơi! Má có đau không má!” (Một truyện chép ở bệnh viện;tr.129)

Hay “Con đây nè ba, con ở trước mặt ba đây”

(Một truyện chép ở bệnh viện;tr.134)

Việc tác giả sử dụng các từ đệm kèm theo khi xưng hô là rất hay, nhằm bộc lộ

tâm tư, tình cảm của người nói một cách rõ ràng Những cách gọi như: Má ơi, ba ơi, nè

ba, nghe con! thể hiện một tình yêu thương hay làm nũng nịu một cách dễ thương

của con cái đối với cha mẹ Qua việc sử dụng các từ đệm kèm theo chúng ta có thể nhận biết được thái độ của người giao tiếp với mình là như thế nào Đồng thời trong mối quan hệ này, chúng ta nên sử dụng những từ đệm kèm theo để bộc lộ sự yêu thương của con cái đối với cha mẹ và ngược lại Anh Đức sử dụng cách xưng hô như thế vào trong tác phẩm của mình, nhằm giúp độc giả hiểu được sự phong phú và đa dạng của lớp từ xưng hô này

Nhìn chung, cách xưng hô trong quan hệ giữa cha mẹ với con cái là một cách xưng hô khá đa dạng, do đó có thể vận dụng nhiều lớp từ khác nhau để xưng hô, có thể xưng hô bằng cách xưng hô nào cũng được tùy theo tâm trạng, thái độ và cách nhìn nhận về sự việc giữa cha mẹ với con cái mà có cách xưng hô khác nhau Có lúc xưng

hô rất thân mật thể hiện tình cảm giữa cha mẹ với con cái một cách sâu nặng, có đôi

lúc cha mẹ lại xưng hô với con mình là nó, mày hoặc tao, nhưng con cái vẫn gọi cha

mẹ mình là cha mẹ hoặc ba má Điều đó thể hiện sự tôn trọng đối bậc sinh thành và đó

cũng là đạo lí muôn đời mà người Việt Nam ta cần phải nôi theo chứ không riêng gì vùng đất Nam Bộ

Ngày đăng: 01/03/2016, 09:34

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG ĐẠI TỪ XƯNG HÔ - từ xưng hô trong một số tác phẩm của anh đức
BẢNG ĐẠI TỪ XƯNG HÔ (Trang 21)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w