1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ngôn từ nhân vật trong số đỏ của vũ trọng phụng

92 1,1K 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 749,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Số đỏ là một hiện thực vật thể, một hiện thực ngôn ngữ học, một hiện thực sống động, với những ý hướng xung đột nhau, đối thoại với nhau, một liên kết văn bản mang nhiều lớp nghĩa.” Đồng

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

NGÔN TỪ NHÂN VẬT TRONG SỐ ĐỎ CỦA

A Về lý thuyết hội thoại

I Quan điểm của Nguyễn Đức Dân

1 Về khái niệm hội thoại

2 Về cấu trúc hội thoại

3 Về nguyên lý hội thoại

II Quan điểm của Đỗ Hữu Châu

1 Về khái niệm hội thoại

2 Về vận động hội thoại

2.1 Sự trao lời

2.2 Sự trao đáp

2.3 Sự tương tác

3 Về quy tắc hội thoại

III Quan điểm của Chim Văn Bé

1 Về hội thoại

1.1 Về khái niệm hội thoại

1.2 Về cấu trúc của hội thoại

Trang 3

1.3 Về nguyên tắc cộng tác hội thoại

2 Về độc thoại nội tâm

3 Hệ quy chiếu trong việc đánh giá ngôn từ nhân vật

2 Điều kiện sử dụng hành vi ở lời

3 Hành vi ở lời gián tiếp

II Quan điểm của Chim Văn Bé

1 Hành động tạo lời

2 Hành động trong lời

3 Hành động qua lời

C Một số nhận xét ban đầu về quan niệm của các tác giả

1 Về lý thuyết hội thoại

2 Về lý thuyết hành động ngôn từ

3 Về độc thoại nội tâm

CHƯƠNG II NGÔN TỪ NHÂN VẬT TRONG SỐ ĐỎ CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG

I Sơ lượt về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Vũ Trọng Phụng

1 Cuộc đời

2 Sự nghiệp sáng tác

II Tiểu thuyết Số đỏ

III Phân tích ngôn từ nhân vật trong tiểu thuyết Số đỏ

1 Ngôn từ đối thoại

1.1 Ngôn từ đối thoại của nhân vật Xuân Tóc Đỏ

Trang 4

1.2 Ngôn từ đối thoại của một số nhân vật khác

2 Độc thoại nội tâm

2.1 Ngôn từ độc thoại của nhân vật Xuân Tóc Đỏ

2.2 Ngôn từ độc thoại của một số nhân vật khác

3 Nhận xét chung

PHẦN KẾT LUẬN

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Văn học giai đoạn năm 1930 - 1945 là một trong những giai đoạn phát triển mạnh mẽ, có nhiều thành tựu đáng chú ý Để đạt được thành tựu này đã có sự đóng góp không nhỏ của các nhà văn, trong đó có Vũ Trọng Phụng Nhằm hiểu rõ hơn về phong cách, đặc điểm sáng tác của nhà văn cũng như đề tài, chủ đề mà tác giả muốn hướng đến Bên cạnh đó, chúng ta có thể biết được đặc điểm khái quát của văn học

ở giai đoạn này Đồng thời, ta có thể phát hiện ra bản chất của con người và cuộc sống của giai đoạn trước qua cách sử dụng ngôn từ của nhân vật và một số khía cạnh khác

Khi đọc hay nghiên cứu bất kỳ một tác phẩm văn học nào cũng vậy, để hiểu được nội dung và ý nghĩa mà tác phẩm muốn gởi đến, một trong những điều quan tâm trước tiên của người đọc là tìm hiểu về nhân vật xoay quanh đề tài và chủ đề được nói đến Thông qua ngôn ngữ của nhân vật, chúng ta có thể nắm bắt được tính cách, cũng như đặc điểm của mỗi nhân vật trong tác phẩm Từ đó thấy được nội dung, ý nghĩa của tác phẩm và cả tư tưởng trong tác phẩm của tác giả

Đồng thời, với đề tài này có thể giúp tôi rèn luyện được khả năng nắm bắt, phân tích nhân vật và tác phẩm Chính những lý do trên đã khiến tôi say mê, tìm tòi nghiên cứu đề tài Vì thế, tôi nghĩ đây cũng là một đề tài đáng được quan tâm khai khác, tìm hiểu ở nhiều khía cạnh, để thấy được những cái hay, và những cống hiến tích cực của tác giả Cũng như không để bó xót những đóng góp mà nhà văn đã đem đến cho cuộc đời, cho con người và xã hội

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Về lý thuyết hội thoại và lý thuyết hành động ngôn từ

Ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm văn học là một vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu ở nước ngoài cũng như trong nước quan tâm đến Tuy có nhiều nghiên cứu về vấn đề này, nhưng hầu hết các bài nghiên cứu chỉ chạm tới một hay một số khía cạnh nào đó, chứ chưa thật sự hoàn chỉnh

Một số tác giả nước ngoài trong lĩnh vực ngôn ngữ có nghiên cứu hoặc vô tình nhắc đến trong một số đề tài nghiên cứu khác như, về lý thuyết hội thoại có Sacks

Trang 6

và Schegloff, J.Austin, H.P.Grice… hay ở lý thuyết hành động ngôn từ có J.Austin, Searle…

Ở Việt Nam cũng có nhiều tác giả tiếp thu các công trình nghiên cứu ở nước ngoài và có nghiên cứu thêm, như Nguyễn Đức Dân, Đỗ Hữu Châu, Chim Văn Bé…

Trong Ngữ dụng học của Nguyễn Đức Dân, ông đã chạm đến hai vấn đề là hội

thoại và hành vi ngôn ngữ

Đỗ Hữu Châu cũng vậy, trong Đại cương ngôn ngữ học cũng bàn đến lý thuyết

hội thoại và hành vi ngôn ngữ

Ở nghiên cứu của hai tác giả này đã giải quyết được một số vấn đề của hội thoại

và hành vi ngôn ngữ Mặc dù, cũng có rất nhiều chỗ bị trùng lập và thiếu sót Tuy nhiên, với hai công trình này, đã giúp chúng ta có thể hiều được một cách khái quát

về hội thoại cũng như về hành vi ngôn ngữ Bên cạnh đó, chúng có thể làm cơ sở cho các nghiên cứu sau được đầy đủ và hoàn thiện hơn

Trong Ngôn ngữ văn chương Việt Nam của Chim Văn Bé, ông đã thật sự chạm

đến những vấn đề lớn của ngôn ngữ truyện, trong đó có ngôn từ kể chuyện và ngôn

từ nhân vật Với phạm vi nghiên cứu của đề tài này tôi chỉ tìm hiểu về ngôn từ nhân vật Trong nghiên cứu của ông, ngôn từ nhân vật bao gồm ngôn từ hội thoại và ngôn

từ độc thoại Trên cở sở của lý thuyết hội thoại và lý thuyết hành động ngôn từ ông

đã chỉ ra đặc điểm của hai loại ngôn từ này Đồng thời chỉ ra những chức năng của chúng

Qua những công trình nghiên cứu trên phần nào cho chúng ta thấy được tầm quan trọng của ngôn từ nhân vật trong một tác phẩm Dựa trên lý thuyết và cơ sở của những công trình nghiên cứu này giúp chúng ta có thể khảo sát nội dung của mỗi tác phẩm tốt hơn

2.2 Về ngôn ngữ nghệ thuật của Số đỏ

Vũ Trọng Phụng là một trong những nhà văn tiêu biểu của văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 Ông đã có nhiều đóng góp tích cực cho văn xuôi theo khuynh hướng hiện thực phê phán Chính vì vậy mà tác phẩm của ông luôn được nhiều người chú ý đến và tìm hiểu Số đỏ là một trong những tác phẩm xuất sắc của

Trang 7

ông, vì thế nó cũng không nằm ngoài sự quan tâm và nghiên cứu của các tác giả Tuy nhiên hầu hết những bài nghiên cứu này đa phần nghiên về xem xét mặt nội dung của tác phẩm, ít khi quan tâm đến vấn đề ngôn từ được sử dụng trong tác phẩm Một vài bài nghiên cứu đã bàn về vấn ngôn từ nghệ thuật trong tiểu thuyết Số

đỏ như Những lớp sóng ngôn từ trong Số đỏ của Đỗ Đức Hiểu in trong Số đỏ tác

phẩm và dư luận đã chỉ ra đặc điểm ngôn từ sử dụng trong tác phẩm, đó là ngôn từ

thành thị Theo ông: “Số đỏ theo tôi hiểu, là một hiện tượng ngôn từ hết sức độc

đáo, đánh dấu thời đại.” Ông cho rằng: “Tóm lại, là một hiện tượng ngôn từ Số đỏ

là một hiện thực vật liệu, một hiện tượng ngôn từ Số đỏ là một hiện thực vật thể, một hiện thực ngôn ngữ học, một hiện thực sống động, với những ý hướng xung đột nhau, đối thoại với nhau, một liên kết văn bản mang nhiều lớp nghĩa.” Đồng thời ,

ông đã chỉ ra những từ ngữ sử dụng quen thuộc của một số nhân vật để thấy được đặc điểm xã hội trong bối cảnh lúc bấy giờ

Tuy có nhiều nghiên cứu và nhận xét về Số đỏ, nhưng phần lớn các tác giả đều

chú ý mặt nội dung của tác phẩm, như: Tiểu thuyết Số đỏ và tài nghệ của Vũ Trọng

Phụng của Nguyễn Đăng Mạnh, Đánh giá lại Số đỏ của Phan Cự Đệ, hay một số

nghiên cứu về văn học giai đoạn 1900 – 1945 cũng nhắc bàn đến Số đỏ của Vũ Trọng Phụng… Chính vì vậy mà, việc tìm hiểu ngôn từ nghệ thuật trong tác phẩm

Số đỏ nên được nghiên cứu và tìm hiểu nhiều hơn

3 Mục đích, yêu cầu

Ngôn từ nhân vật trong truyện của Vũ Trọng Phụng là một đề tài hay, bổ ích Nó

không chỉ góp phần cung cấp thêm những kiến thức về tác giả cũng như tác phẩm,

mà còn làm tăng thêm khả năng phân tích tác phẩm Để nắm vững tính cách nhân vật, phân tích được những trạng thái tâm lý phát hiện ra được những cái độc đáo của nhân vật, cái hay của tác phẩm và giải quyết được những vấn đề đặt ra trong tác phẩm nói riêng, hiểu chính xác và cảm nhận sâu sắc, tinh tế hơn về tác phẩm nói chung Nhờ đó chúng ta có thể hiểu được cá tính, đặc điểm của con người ở thời đại này Đồng thời thấy được những công lao, cống hiến của tác giả đối với con người, với xã hội và cả với nền văn học của nước nhà

4 Phạm vi nghiên cứu

Trang 8

Nội dung nghiên cứu ở đề tài này chủ yếu xoay quanh ngôn ngữ của nhân vật

trong tác phẩm Số đỏ Tập trung vào hai vấn đề chính là ngôn ngữ hội thoại và độc

thoại nội tâm của nhân vật Từ đó hiểu được tính cách của nhân vật trong tác phẩm Thông qua đó, chúng ta sẽ có cảm nhận sâu sắc hơn vể con người ở thời đại này Đồng thời, tìm ra được nội dung và ý nghĩa của tác phẩm mà tác giả muốn phản ánh, gởi đến

5 Phương pháp nghiên cứu

Để biết được tính cách, hiểu được nhân vật cũng như nắm bắt được nội dung của tác phẩm nhanh chóng và dễ dàng khi tiếp xúc với bất kỳ một tác phẩm nào, đầu tiên chúng tôi lần lượt tìm hiểu, khảo sát tác phẩm, sau đó triển khai làm sáng tỏ vấn

đề với những phương pháp sau:

Phương pháp so sánh: Đối chiếu các sự kiện ngôn ngữ hay ngôn từ để phát hiện

ra những điểm tương đồng và dị biệt, qua đó nhận thức sâu sắc hơn về đặc trưng, bản chất của sự kiện ngôn ngữ trong tác phẩm

Phương pháp phân tích: Từ những lượt lời, cuộc thoại và những câu, những

đoạn độc thoại nội tâm đã khảo sát, tiến hành chia tách sự kiện ngôn ngữ hay ngôn

từ mang tính chất toàn thể này ra các thành tố thuộc nhiều cấp độ, đồng thời xem xét mối quan hệ nhiều mặt giữa các thành tố Qua đó phát hiện ra chức năng, giá trị của các thành tố trong sự kiện ngôn ngữ hay ngôn từ để tiến hành lý giải, làm sáng

tỏ nội dung của tác phẩm

Phương pháp tổng hợp: Sau khi phân tích các đặc điểm, ý nghĩa của các câu, các

đoạn hội thoại, độc thoại chúng tôi tiến hành gắn kết, hợp nhất nội dung của các đoạn thoại để tìm ra đặc trưng, bản chất hay đó chính là ý nghĩa của tác phẩm, nội dung mà tác giả muốn gởi đến

Trang 9

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG I QUAN ĐIỂM CỦA MỘT SỐ TÁC GIẢ VỀ LÝ THUYẾT

HỘI THOẠI VÀ LÝ THUYẾT HÀNH ĐỘNG NGÔN TỪ

A VỀ LÝ THUYẾT HỘI THOẠI

Khi xem xét ngôn từ nhân vật, ngoài việc phân tích những đoạn độc thoại, không thể nào không chú ý đến những cuộc thoại giữa các nhân vật Vì thế, việc tìm hiểu về lý thuyết hội thoại là điều cần thiết trước khi tiếp xúc với bất kì một tác phẩm nào Một số tác giả như Nguyễn Đức Dân, Đỗ Hữu Châu, Chim Văn Bé… đã

có những đóng góp quan trọng ở phương diện này Chính vì vậy, trong luận văn này chúng tôi sẽ lần lượt điểm qua các công trình nghiên cứu của các tác giả trên

I Quan điểm của Nguyễn Đức Dân

1 Về khái niệm hội thoại

Trong Ngữ dụng học, khi đề cập đến hội thoại Nguyễn Đức Dân đã cho rằng:

“Trong giao tiếp hai chiều, bên này nói bên kia nghe và phản hồi trở lại Lúc đó vai

trò của hai bên thay đổi: Bên nghe trở thành bên nói và bên nói trở thành bên nghe

Đó là hội thoại” [4, tr 76] Ông còn cho rằng mục đích cuối cùng của hội thoại là

tạo ra được tiếng nói chung giữa hai người đối thoại hội

Theo Nguyễn Đức Dân, đặc điểm khái của một cuộc thoại bao gồm đặc điểm nội tại và đặc điểm bên ngoài Đặc điểm nội tại bao gồm: sự tương tác qua lại, sự liên kết, tính mục đích Đặc điểm bên ngoài: số lượng người tham dự, quan hệ giữa những người tham dự, chu cảnh

2 Về cấu trúc hội thoại

Cấu trúc hội thoại được Nguyễn Đức Dân trình bày trong phần Lý thuyết hội thoại

in trong Ngữ dụng học, bao gồm: Lượt lời, mở thoại, cặp thoại, lượt lời ưa dùng, lời

chêm xen, sự liên kết các phát ngôn, hành vi ngữ dụng và những nghi thức

Trong đó, lượt lời được ông định nghĩa và giải thích rất rõ: “Đơn vị cơ bản của

hội thoại là lượt lời Đó là một lần nói xong của một người trong khi những người khác không nói, để rồi đến lượt một người tiếp theo nói Sẽ không thành lượt lời nếu

Trang 10

nhiều người cùng nói một lúc.” [4, tr 92] Ông chỉ ra trường hợp ngoại lệ là khi một

đám đông đứng trước một cá nhân trong một hội thoại xung tụng, thề nguyền trong các lễ nghi tôn giáo, đồng thanh hô, hò

Theo ông, mỗi lượt lời được xây dựng trên cơ sở những lượt lời trước đó Vậy là

có sự luân phiên lời, luân phiên nói năng trong hội thoại Đó là một nguyên lí hội thoại

Nguyễn Đức Dân cũng đưa ra khái niệm mở thoại, theo ông: “Có những lời nói

được dùng trong một lúc nào đó để người khác cảm nhận được sẽ có một hoặc một chuỗi những lời nói tiếp theo Lời nói đó là mở thoại” [4, tr 92]

Ông cho rằng, mở thoại chưa bước vào cuộc thoại, bởi nó chưa thực sự có nội dung mệnh đề Nói đúng hơn, những ý nghĩa câu chữ của lời mở thoại không vì mục đích chủ yếu mà người nói muốn biểu hiện, mà nó chỉ là lời thăm dò, tạo không khí thuận lợi khi bước vào cuộc thoại Đó chỉ là một thủ tục hình thức nên nó không ngang tầm quan trọng như những lượt lời tiếp theo Vì lời mở thoại đóng vai trò thứ yếu trong giao tiếp có khi người ta có thể bỏ qua, không đáp lại lời mở thoại

mà đi ngay vào chủ đề - vấn đề chính của cuộc thoại

Nguyễn Đức Dân giải thích: Trong hội thoại, mỗi phát ngôn đều có quan hệ trực tiếp đến những phát ngôn đi trước hoặc nó định hướng cho những phát ngôn tiếp

theo sau Vậy đã gây ra hành vi ngôn ngữ “Các hành vi ngôn ngữ không đứng biệt

lặp, hành vi này kéo theo hành vi kia, lượt lời này kéo theo lượt lời kia Vì thế hình thành khái niệm “cặp thoại” [4, tr 96] Đồng thời, các cặp thoại không phải được

nói ra một cách ngẫu nhiên, tùy tiện Chúng được tổ chức, thực hiện theo một quy cách chặt chẽ, tuân theo những quy tắc chi phối hội thoại, lượt lời thứ nhất có chức năng định hướng cho lượt lời thứ hai, hai mệnh đề có quan hệ mật thiết với nhau Bên cạnh đó, ông còn nhắc đến sự im lặng, cho rằng nó cũng có những ý nghĩa nhất định Với lượt đầu là câu mệnh lệnh, sự im lặng sẽ biểu hiện thái độ không đồng ý thực hiện

3 Về nguyên lý hội thoại

Trang 11

Ở nguyên lý cộng tác hội thoại, Nguyễn Đức Dân đã theo quan niệm của H.P.Grice cho rằng: Nguyên lý cộng tác gồm một nguyên lý khái quát bao trùm và bốn tiểu nguyên lý hay bốn phương châm

Nguyên lý cộng tác: Hãy làm cho phần đóng góp của mình ở giai đoạn mà cuộc

thoại được xem xét đúng như mục đích hay phương hướng mà cuộc thoại đòi hỏi và mình đã chấp nhận tham gia

Phương châm lượng:

Hãy làm cho phần đóng góp của mình có lượng tin đúng như nó được đòi hỏi cho mục đích của cuộc thoại

Đừng đóng góp lượng tin của mình nhiều hơn điều mà nó được đòi hỏi

Phương châm chất:

Đừng nói điều mà mình tin là sai

Đừng nói điều mà mình không có bằng chứng chính xác

Phương châm quan hệ:

Hãy đóng góp những điều có liên quan

II Quan điểm của Đỗ Hữu Châu

1 Về khái niệm hội thoại

Trong Đại cương ngôn ngữ học, khi đề cập đến “Lý thuyết hội thoại” Đỗ Hữu Châu đã đưa ra khái niệm: “Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến

của ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác”

[3, tr 201]

Trang 12

Ông chỉ ra sự khác nhau của các cuộc thoại về: Đặc điểm thoại trường, số lượng người tham gia, cương vị và tư cách của những người tham gia hội thoại và tính có hình thức hay không có hình thức của các cuộc thoại

2 Về vận động của hội thoại

Đỗ Hữu Châu cho rằng, trong bất cứ cuộc hội thoại nào cũng có ba vận động chủ yếu:

2.1 Sự trao lời

Theo Đỗ Hữu Châu, chuỗi đơn vị ngôn ngữ được một nhân vật hội thoại nói ra,

kể từ lúc bắt đầu đến lúc chấm dứt để cho nhân vật hội thoại kia nói chuỗi của mình

là một lượt lời Ký hiệu Sp để chỉ người tham gia vào hội thoại, Sp1 là vai nói, Sp2

là vai nghe Sp1, Sp2, Spn là các đối tác hội thoại

Ông cho rằng, trao lời là vận động mà Sp1 nói lượt lời của mình ra và hướng lượt lời của mình về phía Sp2 nhằm làm cho Sp2 nhận biết được rằng lượt lời được nói ra đó dành cho Sp2 Trong một song thoại, vấn đề xác định Sp2 không đặt ra bởi vì chỉ có một người nói và một người nghe Nhưng đối với những cuộc đa thoại thì vận động trao lời có khi hướng vào toàn thể người nghe trong cuộc hội thoại, nhưng cũng có khi chỉ nhằm vào một (hoặc một số) người trong toàn bộ người nghe Trong trường hợp này, lượt lời của Sp1 phải có những dấu hiệu để báo cho những người nghe đương trường biết ai là người đích thực của lượt lời đó

2.2 Sự trao đáp

Theo Đỗ Hữu Châu, cũng như sự trao lời, sự hồi đáp có thể thực hiện bằng các yếu tố phi lời và bằng lời, thường thường thì hai yếu tố này đồng hành với nhau Ông cho rằng, tất cả các hành vi ngôn ngữ đều đòi hỏi sự hồi đáp Sự hồi đáp có thể bằng các hành vi ngôn ngữ tương thích với hành vi dẫn nhập lập thành cặp như hỏi/ trả lời, chào/ chào, cầu khiến/ nhận lời hoặc từ chối, cám ơn/ đáp lời, xin lỗi/ đáp lời mà sau này sẽ được gọi là cặp kế cận, mà cũng có thể được thực hiện bằng những hành vi bất kì, nhưng không tương thích với hành vi dẫn nhập Ngay cả những hành vi tự thân không đòi hỏi sự hồi đáp như hành vi cảm thán hay khảo nghiệm vẫn cần được hồi đáp [3, tr 208]

Trang 13

Tất nhiên có những diễn ngôn mà người nghe không thể hồi đáp được như những diễn ngôn viết, những diễn ngôn trong những cuộc hội thoại mà người nghe không đương diện hoặc những cuộc hội thoại miệng trong đó người nghe không có quyền hồi đáp nếu không được phép như lời tuyên án của quan tòa Tuy nhiên đây

là nói sự hồi đáp trực tiếp, đương trường Trong chiều sâu, những diễn ngôn trên vẫn phải tính đến khả năng cũng như cách thức hồi đáp có thể của người tiếp nhận Nói khác đi khi nói ra những diễn ngôn này, người nói vẫn phải dự tính đến sự hồi đáp của người tiếp nhận để nói ra sao cho không thể phản bác được nếu người tiếp nhận muốn phản bác [3, tr 209]

2.3 Sự tương tác

Đỗ Hữu Châu cho rằng, trong hội thoại, các nhân vật hội thoại ảnh hưởng lẫn nhau, tác động qua lại với nhau làm biến đổi lẫn nhau Trước cuộc hội thoại giữa các nhân vật có sự khác biệt, đối lặp, thậm chí trái ngược về các mặt (hiểu biết, tâm

lý, tình cảm, ý muốn) Không có sự khác biệt này thì giao tiếp bằng thừa Trong hội thoại và qua hội thoại những khác biệt này giảm đi hoặc mở rộng ra, căng lên có khi thành xung đột [3, tr 209]

Ông cho rằng, trong hội thoại, nhân vật hội thoại cũng là nhân vật tương tác Họ tác động lẫn nhau về mọi phương diện, đối với ngữ dụng học quan trọng nhất là tác động đến lời nói của nhau Liên tương tác trong hội thoại trước hết là liên tương tác giữa các lượt lời của Sp1 và Sp2… Như thế, lượt lời vừa là cái chịu tác động vừa là phương diện mà Sp1, Sp2 sử dụng để gây ra tác động đối với lời nói và qua lời nói

mà tác động đến tâm lý, sinh lý, vật lý của nhau [3, tr 209]

3 Về quy tắc hội thoại

Đỗ Hữu Châu đã tán thành và dẫn lại các quy tắc hội thoại của C.K Orecchioni Theo ông, một cuộc thoại được điều hành bởi các quy tắc sau: Quy tắc điều hành luân phiên lượt lời, quy tắc điều hành nội dung của hội thoại, quy tắc chi phối quan

hệ liên cá nhân – phép lịch sự

III Quan điểm của Chim Văn Bé

Trong Ngôn ngữ văn chương Việt Nam khi bàn đến ngôn từ nhân vật, Chim Văn

Bé đã cho rằng: Trong truyện, ngôn từ nhân vật được xem là ngôn ngữ trực tiếp

Trang 14

Theo ông, ngôn từ nhân vật được thể hiện qua hình thức hội thoại và độc thoại nội tâm

1 Về hội thoại

1.1 Về khái niệm hội thoại

Theo Chim Văn Bé, “hội thoại là một quá trình tương tác trực tiếp bằng lời

giữa những người đang tham gia vào hoạt động giao tiếp, diễn ra trong một hội trường (không gian, thời gian) cụ thể, xoay quanh đề tài và chủ đề nào đó” [1, tr 26] Đồng thời ông còn cho rằng, sản phẩm hoàn chỉnh của một quá trình hội

thoại là ngôn bản hội thoại, còn đơn vị cơ sở của ngôn bản hội thoại là đoạn ngôn hay đoạn thoại

1.2 Về cấu trúc của hội thoại

Cấu trúc hội thoại được Chim Văn Bé xem xét ở hai phương diện tĩnh và động

Ông cho rằng ở phương diện động, hội thoại diễn ra như một quá trình vận động Ở phương diện tĩnh, hội thoại được xem xét như là sản phẩm ngôn từ đã được tạo tác

Trong Ngôn ngữ văn chương Việt Nam, ông đã xem xét cả hai phương diện của cấu trúc hội thoại thể hiện qua đoạn thoại

1.2.1 Mở thoại

Mở thoại của một cuộc hội thoại theo quan niệm của Chim Văn Bé là “hành

động nói ra lượt lời nhằm mục đích đưa đẩy, dẫn dắt vào cuộc thoại” [1, tr 27]

Ngoài ra ông còn dẫn ra ví dụ cho cách mở thoại gián tiếp như là chào, hỏi thăm sức khỏe và mở thoại trực tiếp bằng cách đề nghị đối tác trao đổi ý kiến về đề tài nào

đó Ông chỉ ra lượt lời thực hiện chức năng mở thoại gọi là lời mở thoại Lời mở thoại có thể là toàn bộ hay một bộ phận nào đó trong lượt lời được nói ra

1.2.2 Trao lời

Chim Văn Bé cho rằng, trao lời là “hành động nói ra và hướng lượt lời của mình

đến đối tác”[1, tr 27] Ông chỉ ra mỗi lượt lời là một phát ngôn, có thể tương

đương với một từ, một câu hay một chuỗi câu dài, và xác định sản phẩm của hành động trao lời là lời trao

1.2.3 Đáp lời

Trang 15

Đáp lời theo quan niệm của Chim Văn Bé là “hành động nói ra lượt lời của

mình nhằm hồi đáp lại hành động trao lời của đối tác Sản phẩm của hành động đáp lời là lời đáp” [1, tr 127]

1.2.4 Xen lời

Xen lời là hành động ngắt lời, nói chen vào khi đối tác chưa kết thúc lượt lời Kết quả của hành động xen lời là lời xen [1, tr 129]

1.2.5 Kết thoại

Khi xem xét về cấu trúc của cuộc thoại, Chim Văn Bé cho rằng kết thoại là hành

“động kết thúc cuộc thoại”[1, tr 129] Theo ông chúng ta có thể kết thúc cuộc thoại

bằng cách thông báo trực tiếp, hay bằng lời chào, lời hẹn Lời kết thoại có thể xuất hiện thành một cặp hô - ứng với nhau Đó là trường hợp cả hai đối tác đều bất đồng

ý kết thúc cuộc trò chuyện Tuy nhiên, trong truyện, do ý đồ nghệ thuật của nhà văn chi phối, những đoạn thoại có lời mở thoại và lời kết thoại xuất hiện không nhiều, thường gặp là các cặp trao – đáp Những lời trao đó xuất hiện không ngẫu nhiên, mà gắn liền với ý đồ nghệ thuật nào đó của nhà văn Ông còn chỉ ra sản phẩm của hành động kết thoại là lời kết thoại

1.3 Về nguyên tắc cộng tác hội thoại

Theo ông, trong quá trình tham gia giao tiếp, để đạt mục đích, người nói phải tuân thủ một số nguyên tắc Đó là nguyên tắc điều hành sự luân phiên lượt lời, nguyên tắc điều hành nội dung giao tiếp, nguyên tắc về phép lịch sự

Chim Văn Bé đã dẫn ra nguyên tắc cộng tác hội thoại của Grice, để đảm bảo nguyên tắc này, người nói phải tuân thủ một số tiểu nguyên tắc, được chia thành bốn phạm trù, mỗi phạm trù có “siêu phương châm” phương châm và các tiểu phương châm:

Phương châm về lượng:

Hãy làm cho phần đóng góp của bạn có lượng thông tin như được đòi hỏi đối với mục đích của phần thoại đang diễn ra trong cuộc trao đáp

Không làm cho phần đóng góp của bạn có lượng thông tin nhiều hơn lượng thông tin được đòi hỏi

Phương châm về chất:

Trang 16

Siêu phương châm: Cố gắng làm cho sự đóng góp của bạn là chân thực

Phương châm quan hệ: Quan yếu

2 Về độc thoại nội tâm

Trong Ngôn ngữ văn chương Việt Nam, Chim Văn Bé cho rằng: “Độc thoại nội

tâm là lời nói thầm hay suy nghĩ thầm kín của nhân vật, gắn liền với tình huống cụ thể” [1;tr.137] Theo ông, độc thoại nội tâm trực tiếp phản ánh quá trình tâm lý diễn

ra bên trong nhân vật trước những tác động bên ngoài nào đó

Ông giải thích: “Thật ra, độc thoại nội tâm cũng là một hình thức đối thoại: đối

thoại nội tâm Đó là khi nhân vật phân thân, đối thoại với chính mình, để tìm ra lời giải đáp cho một sự kiện nào đó có liên quan đến nhân vật” [1, tr 138]

3 Hệ quy chiếu trong việc đánh giá ngôn từ nhân vật

Khác với những tác giả khác, Chim Văn Bé đã chỉ ra được tính chất và tầm quan trọng của ngôn từ nhân vật trong truyện Ông cho rằng: Trong truyện, nhân vật là phương tiện khái quát nghệ thuật của nhà văn Thông qua cuộc đời, số phận của nhân vật, nhà văn nêu lên những vấn đề nào đó về con người, xã hội, lịch sử Là lời của nhân vật, ngôn ngữ đối thoại và độc thoại nội tâm có tầm quan trọng đặc biệt trong việc khái quát nghệ thuật của nhà văn Chính vì thế, cần phải xác lập một hệ quy chiếu thích hợp đối với việc tiếp cận, xem xét, đánh giá ngôn từ nhân vật

Theo quan điểm của Chim Văn Bé, hệ quy chiếu đó là ba chức năng nghệ thuật chủ yếu của ngôn từ nhân vật:

Chức năng thể hiện đời sống tâm lý và quá trình vận động, chuyển biến tính cách của nhân vật

Chức năng thể hiện chủ đề tác phẩm

Chức năng tạo kịch tính cho xung đột trong truyện

Trang 17

B VỀ LÝ THUYẾT HÀNH ĐỘNG NGÔN TỪ

Như Chim Văn Bé đã nói: “Ngôn ngữ hội thoại của nhân vật bao giờ cũng phản

ánh hành động ngôn từ mà nhân vật thực hiện trong quá trình nói năng [1, tr 133]

Thât vậy, khi chúng ta nói ra một điều gì đó là đã vô tình thực hiện hành động tạo lời, kèm theo đó người nói có thể thực hiện hành động trong lời, cũng có thể là hành động qua lời, muốn tác động đến người nghe Hành động ngôn từ đã được nghiên

cứu và đúc kết thành lý thuyết hành động ngôn từ, và đã được một số nhà nghiên

cứu ở nước ta tiếp thu và trình bày như sau:

I Quan điểm của Đỗ Hữu Châu

1 Các hành vi ngôn ngữ

Trong Đại cương ngôn ngữ học, Đỗ Hữu Châu đồng tình với quan niệm của

Austin, ông cũng cho rằng có ba loại hành động ngôn ngữ lớn khi chúng ta nói năng

là hành vi tạo lời, hành vi mượn lời và hành vi ờ lời

1.1 Hành vi tạo lời

Theo Đỗ Hữu Châu, hành vi tạo lời là “hành vi sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ

như ngữ âm, từ, các yếu tố kết hợp từ thành câu… để tạo ra một phát ngôn về hình thức và nội dung” [3, tr 88]

1.2 Hành vi mượn lời

Ông cho rằng, hành vi mượn lời là “những hành vi “mượn” phương tiện ngôn

ngữ, nói cho đúng hơn là mượn các phát ngôn để gây ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ nào đó ở người nghe, người nhận hoặc ở chính người nói” [3, tr 88]

1.3 Hành vi ở lời

Đỗ Hữu Châu giải thích, hành vi ở lời là “những hành vi người nói thực hiện

ngay khi nói năng Hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, có nghĩa là chúng gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận”

[3, tr 89]

2 Điều kiện sử dụng các hành vi ở lời

Theo Đỗ Hữu Châu, điều kiện sử dụng hành vi ở lời là những điều kiện mà một hành vi ở lời phải đáp ứng để nó có thể diễn ra thích hợp với ngữ cảnh của sự phát

Trang 18

ngôn ra nó Ông đã đồng tình và dẫn ra các điều kiện sử hành vi ở lời theo Austin và Searle như sau:

Austin xem điều kiện sử dụng hành vi ở lời là những điều kiện may mắn Nhưng đối với John R Searle thì ông cho rằng, mỗi hành vi ở lời đòi hỏi phải có một hệ những điều kiện còn gọi là quy tắc để cho việc thực hiện nó đạt hiệu quả đúng với đích của nó Mỗi điều kiện là một điều kiện cần còn toàn bộ hệ điều kiện là điều kiện đủ Có tất cả bốn điều kiện, đó là điều kiện nội dung mệnh đề, điều kiện chuẩn

bị, điều kiện chân thành và điều kiện căn bản

3 Hành vi ở lời gián tiếp

Theo Đỗ Hữu Châu, những điều trên đây là viết về các hành vi ngôn ngữ (hành

vi ở lời) chân thực, nghĩa là các hành vi ngôn ngữ được thực hiện đúng với mục đích ở lời, đúng với điều kiện sử dụng của chúng [3, tr 145]

Có thể nói hiệu lực ở lời gián tiếp là cái thêm vào cho hiệu lực ở lời trực tiếp Muốn nhận biết được hiệu lực ở lời gián tiếp thì người nghe trước hết phải nhận biết hiệu lực ở lời của hành vi trực tiếp Và bởi vì tất cả các hành vi ở lời hành vi nào cũng được dùng gián tiếp cho nên muốn sử dụng và nhận biết được các hành vi ở lời gián tiếp thì phải biết tất cả biểu thức ngữ vi và hiệu lực ở lời của tất cả các hành

vi ở lời Nhận biết được hành vi ở lời gián tiếp là kết quả của hoạt động suy ý từ hành vi trực tiếp nghe được [3, tr 149]

Một số điều để sử dụng và nhận biết được các hành vi ở lời gián tiếp:

Hành vi ngôn ngữ gián tiếp lệ thuộc rất mạnh vào ngữ cảnh

Hành vi ngôn ngữ có một hoặc một số biểu thức ngữ vi đặc trưng cho nó

Một phát ngôn trực tiếp có thể thể hiện một số hành vi gián tiếp Cùng “một

phát ngôn có thể tiềm tàng nhiều hành động ngoài lời” không có nghĩa là không có dấu hiệu phân biệt hành vi ở lời trực tiếp và hành vi ở lời gián tiếp, không có nghĩa

là không có giới hạn nào cho các hành vi gián tiếp do một hành vi trực tiếp thực hiện trong cùng một phát ngôn trực tiếp [3, tr 151]

III Quan điểm của Chim Văn Bé

Chim Văn Bé cho rằng, ngôn ngữ nhân vật bao giờ cũng phản ánh hành động

ngôn từ mà nhân vật thực hiện trong quá trình nói năng [1, tr 133]

Trang 19

Ngoài ra ông còn dẫn ra cách phân loại hành động ngôn từ của J L Austin bao gồm ba phương diện:

1 Hành động tạo lời

Hành động tạo lời là hành động sử dụng các phương tiện ngữ âm, từ vựng để tạo

ra câu/ phát ngôn với một nội dung ngữ nghĩa và chiếu vật ít nhiều xác định [1, tr 134]

2 Hành động trong lời

Hành động trao lời là hành động được người nói thực hiện bằng lời nói ra và khi

nói ra điều gì đó Chẳng hạn như chúc mừng, cám ơn, mời, hứa, van xin, ra lệnh,

kết tội, đánh cược, phản bác, đề nghị, gợi ý… Hành động trong lời là hành động có chủ định, mang tính quy ước và tính định chế, mặc dù những quy ước và định chế

về việc sử dụng hành động trong lời là bất thành văn, và được mọi người trong một cộng đồng ngôn ngữ tuân thủ không tự giác [1, tr 134]

Mỗi hành động trong lời có thể tạo ra những động tác nào đó đối với người nghe

và cả chính người nói Khi ra lệnh cho ai thực hiện một công việc nào đó, thì người

ra lệnh có trách nhiệm về mệnh lệnh đã ra, và người nghe tức thì được gán cho nghõa vụ phải thực hiện nội dung mệnh lệnh Hứa điều gì đó với ai, thì người hứa

đã tự nhận trách nhiệm thực hiện lời hứa, và người nghe trở thành người được thừa hưởng điều người nói đã hứa Nói lời cám ơn ai đó, thì người nói đã tự nhận mình là người chịu ơn, còn người nghe trở thành người ban ơn Bị kết tội, người nghe trở thành kẻ có tội, nếu anh ta chấp nhận lời kết tội hay có thể phản bác, bào chữa…

Như vậy, tác động mà hành động trong lời gây ra thể hiện ở chổ nó làm thay đổi tư

cách của người nghe hay người nói so với trước đó Tác động mà hành động trong

lời tạo ra được trong thực tế theo ý định của người nói là hiệu lực trong lời, thuộc

ngôn ngữ [1, tr 134]

3 Hành động qua lời

Hành động qua lời là hành động mà người nói thực hiện thông qua hành động

trong lời, nhằm gây ra những hiệu quả nào đó đối với xúc cảm, suy nghĩ và hành động của người nghe, của chính người nói hay người khác một cách có chủ định,

có mục đích

Trang 20

Hành động qua lời có chủ định, có mục đích như hành động trong lời, nhưng

không có quy ước và định chế của xã hội

Mỗi hành động qua lời có khả năng – chứ không tất yếu – tạo ra hiệu quả nào đó

đối với xúc cảm, suy nghĩ hay hành động của người nghe, người nói hay người

khác Hiệu quả mà hành động qua lời gây ra trong thực tế là hiệu lực qua lời Điều

đó có nghĩa là không phải hành động qua lời nào cũng gây ra hiệu lực qua lời như ý định chủ quan của người nói Những phản ứng không đúng với ý định của người nói

không phải là hiệu lực qua lời, hay nói đúng hơn là phản hiệu lực [1, tr 134]

C MỘT SỐ NHẬN XÉT BAN ĐẦU VỀ QUAN NIỆM CỦA CÁC TÁC GIẢ

1 Về lý thuyết hội thoại

Theo quan niệm của Nguyễn Đức Dân, ông cho rằng: “Hội thoại là hình thức

giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của mọi

hoạt động khác” Như vậy, với quan điểm này của Nguyễn Đức Dân đã cho chúng

ta thấy rằng ông xem hội thoại như là “sản phẩm” của quá trình giao tiếp

Bên cạnh đó, ông còn cho rằng: mục đích cuối cùng của hội thoại là đi đến sự

thống nhất về ý kiến hay nội dung giao tiếp giữa các đối tác “Người ta cốt thông

báo điều gì đó cho người nghe, miễn là tạo được tiếng nói chung giữa hai người đối thoại.” Nhưng hội thoại lại là sự tương tác qua lại giữa các đối tượng giao tiếp, kết

quả cuối cùng có thể đi đến thỏa thuận, thống nhất về nội dung hay vấn đề nào đó, trong một số trường hợp kết quả cuối cùng của cuộc thoại lại không như ý muốn, đó

là tranh cãi, bất hòa, mỗi bên giữ một lập trường, một quan điểm riêng

Ngược lại Đỗ Hữu Châu lại cho rằng: “Trong giao tiếp hai chiều, bên này nói,

bên kia nghe và phản hồi trở lại, lúc đó vai trò của hai bên thay đổi, bên nghe trở thành bên nói và bên nói trở thành bên nghe” Điều đó có nghĩa là ông đang nói

đến tính chất luân phiên của lượt lời Từ đó có thể suy ra ở đây Đỗ Hữu Châu coi

hội thoại như là một “quá trình”

Hoàn toàn khác với cách nhìn của Nguyễn Đức Dân và Đỗ Hữu Châu, Chim

Văn Bé đã xem xét hội thoại từ quá trình đi đến sản phẩm Nhưng ở đây nó là một

quá trình tương tác trực tiếp bằng lời giữa những người tham gia vào hoạt động

Trang 21

giao tiếp , diễn ra trong một thoại trường (không gian, thời gian) cụ thể, xoay quanh đề tài, chủ đề nào đó

Qua các định nghĩa của các tác giả về hội thoại, ta thấy định nghĩa của Chim Văn Bé có phần hoàn chỉnh, đầy đủ và hợp lý hơn Nó đáp ứng những điều kiện cần thiết của hội thoại Đồng thời phát biểu rõ ràng, không mơ hồ

1.1 Về đặc điểm hội thoại

Khi xét về đặc điểm của một cuộc thoại, Nguyễn Đức Dân đặc biệt chú ý đến hai đặc điểm nội tại và bên ngoài như đã trình bày Trái lại, Đỗ Hữu Châu lại thấy

đặc điểm của một cuộc hội thoại lại bao gồm thoại trường (không gian, thời gian),

số lượng người tham gia, cương vị và tư cách của những người tham gia, tính hình thức hay không hình thức của cuộc thoại

Nhưng suy cho cùng, đặc điểm khái quát của một cuộc thoại bao gồm ba yếu tố

cơ bản: số lượng người tham gia, nội dung hay mục đích của cuộc thoại và thoại trường Như sự phân chia của Nguyễn Đức Dân trong đặc điểm nội tại thì cách phân chia này không cần thiết cho lắm Bởi, sự tương tác qua lại giữa các đối tác giao tiếp là một điều tất yếu trong cuộc thoại do sự trao – đáp trong quá trình hội thoại tạo nên, chính sự tương tác này sẽ tạo ra sự liên kết giữa các lượt lời vì nội dung của lời đáp kế tiếp dựa trên nội dung của lời đáp phía trước Về quan hệ giữa những người tham dự, nó chỉ là yếu tố phụ Nếu những đối tác đã có trước quan hệ cá nhân thì cử chỉ hay những yếu tố ngôn ngữ giữa những đối tác có phần gần gũi, tự nhiên hơn so với cuộc thoại mà giữa các đối tác là những người không quen biết Nhìn chung, sự tương tác qua lại giữa các đối tác hay sự liên kết giữa các lượt lời đó không phải là đặc điểm của một cuộc thoại

Cương vị và tư cách của những người tham gia cũng quan trọng Chỉ một người giữ cương vị nói còn người kia nghe, cuộc thoại sẽ trở nên đơn điệu, đôi lúc không duy trì được lâu dài Do đó vai nói và vai nghe phải luân phiên thay đổi thì cuộc thoại mới có sự trao – đáp và diễn ra sự tương tác Chính điều đó sẽ làm nên sự sinh động và thành công của cuộc thoại Tuy nhiên sự vắng mặt hay có mặt của vai nghe trong cuộc thoại là một đặc thù riêng Muốn làm nên một cuộc thoại ít nhất phải có hai đối tượng giao tiếp, nếu chỉ có một người sẽ không tạo nên sự đối – đáp, tương

Trang 22

tác qua lại giữa họ thì đó không phải là hội thoại Những trường hợp vắng mặt vai nghe trong cuộc thoại là dạng đặc biệt của hội thoại Bởi nó chỉ xuất hiện trong những trường hợp phải như thế Chẳng hạn, phát thanh, truyền hình là hình thức hội thoại mà người nghe vắng mặt

Thật ra, khi nhắc đến thoại trường hay chu cảnh của cuộc thoại là chúng ta đã gián tiếp nói đến tính hình thức hay không hình thức của cuộc thoại Chẳng hạn, khi một cuộc thoại được diễn ra trong một không gian trang trọng, rõ ràng cho thấy đó

là một cuộc thoại mang tính hình thức hay ngược lại một cuộc cuộc trao đổi, trò chuyện diễn ra tại nhà hay một gốc phố, con đường nào đó bất chợt lại là một cuộc hội thoại không hình thức, nó không được chuẩn bị chu đáo, trang trọng Tính hình thức hay không có hình thức của một cuộc thoại cũng có thể được thể hiện gián tiếp thông qua thoại trường của cuộc thoại

Tuy không chỉ ra đặc điểm của một cuộc thoại là như thế nào, nhưng qua khái niệm hội thoại của Chim Văn Bé, ta có thể thấy được ba yếu tố chính trong một cuộc thoại là người tham dự, thoại trường và nội dung của cuộc thoại Sự xác định hợp lý này đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng ta khi tiếp xúc với một tác phẩm trước tiên cần phải nắm bắt những điều gì

1.2 Về cấu trúc hội thoại

Trong cấu trúc hội thoại mà Nguyễn Đức Dân trình bày, ta thấy cách phân loại

này có phần chưa hợp lý Theo ông, cấu trúc hội thoại gồm có: Lượt lời, mở thoại,

cặp thoại, cặp thoại – lượt lời ưa dùng, cặp thoại – lời chêm xen, sự liên kết các phát ngôn, hành vi ngữ dụng, những nghi thức Với cách phân loại này rõ ràng ta

thấy chúng không cùng một tiêu chí phân loại Lượt lời, cặp thoại, cặp thoại – lượt

lời ưa dùng, cặp thoại – lời chêm xen là sản phẩm Trong khi đó mở thoại và sự liên kết các phát ngôn lại thuộc về quá trình Còn hành vi ngữ dụng và nghi thức lại

thuộc về một khía cạnh khác Nguyễn Đức Dân cho rằng, cấu trúc khái quát của

một cuộc thoại sẽ là: “Mở thoại – Thân thoại – Kết thoại” [3;tr.85] Nhưng sau quá

trình trình bày các yếu tố này không hỗ trợ cho quan điểm trên Nếu như có mở thoại sẽ có thân thoại và kết thoại, những ở đây chỉ có mở thoại

Trang 23

Ngược lại, đối với Đỗ Hữu Châu thì lại cho rằng, sự trao lời, sự đáp lời, sự tương tác đó chính là vận động của hội thoại Nếu nhìn từ gốc độ này, ta thấy Đỗ Hữu Châu xem hội thoại như là một quá trình, có sự trao lời, sẽ có sự đáp lời và quá trình này sẽ tạo ra sự tương tác Vì thế, hai yếu tố này thuộc về quá trình của sự vận động hội thoại Tuy nhiên, sự tương tác lại là kết quả của sự trao lời và đáp lời Do

đó nó không thuộc phương diện này Như vậy, cách phân loại này của Đỗ Hữu Châu có phần không tương thích Mặc dù vậy, thông qua cách phân chia này có thể giúp chúng ta hiểu thêm về hội thoại và đặc điểm của nó

Theo Chim Văn Bé cấu trúc của hội thoại bao gồm: Mở thoại, Trao lời, Đáp lời Xen lời, kết thoại Trong đó, sản phẩm của mở thoại là lời mở thoại, trao lời là lời trao, đáp lời là lời đáp, xen lời là lời xen, kết thoại là lời kết thoại Ông đã đi từ quá trình đến sản phẩm Nó tạo thành quá trình quá trình vận động Vì thế những yếu tố

đó phù hợp, triển khai đúng với lý thuyết mà ông đưa ra Nếu nhìn vào bề ngoài của cấu trúc này có vẽ không được hợp lý, bởi chỉ có mở thoại, kết thoại, mà không có thân thoại Nhưng xét ba thành phần trao lời, đáp lời, xen lời rõ ràng ta thấy rằng chúng thuộc bộ phận nội dung của thân thoại mà tác giả muốn triển khai

Phân loại là một điều không dễ dàng nó chỉ hợp lý trên một phương diện nào đó Khi ta xét chúng, hoặc nhìn ở tiêu chí khác thì có thể chúng không hợp lý Vì thế, chúng ta không thể đòi hỏi tất cả phải đúng Nhìn chung mỗi cách phân loại đều tương đối chứ không thể tuyệt đối được

1.3 Về quy tắc hội thoại

Có thể nói hai yếu tố chính trong quy tắc hội thoại mà Nguyễn Đức Dân đưa ra

là nguyên lý hội thoại của H.P Grice và nguyên lý lịch sự Nguyên lý cộng tác hội thoại đã đề cập đến bốn phương châm: Phương châm lượng, phương châm chất, phương châm quan hệ, phương châm cách thức Với những phương châm trên dường như ta thấy chúng có phần chồng lấn lên nhau Chẳng hạn, khi ta thực hiện

phương châm về lượng (“Hãy làm cho phần đóng góp của bạn có lượng thông tin

như được đòi hỏi đối với mục đích của phần thoại đang diễn ra trong cuộc trao đáp.” “Không làm cho phần đóng góp của bạn có lượng thông tin nhiều hơn lượng thông tin được đòi hỏi”) Trong khi đó, phương châm quan hệ đòi hỏi nội dung của

Trang 24

cuộc thoại phải có trọng tâm, phải liên hệ mật thiết với đề tài, chủ đề của cuộc thoại Chính vì vậy, khi người nói vi phạm một trong những phương châm trên thì cũng có thể vi phạm cả phương châm khác Nhưng dù sau những phương châm này cũng đã đóng góp tích cực cho việc xem xét ý nghĩa ngôn từ của nhân vật giao tiếp, cũng như ảnh hưởng sâu sắc đến người nói trước khi quyết định nói ra một điều gì đó Trong nguyên lý lịch sự mà Nguyễn Đức Dân đề cập đến, ông chú trọng đến sự khéo léo, tế nhị trong giao tiếp Điều đó được ông thể hiện qua ý nghĩa của câu

châm ngôn: “Lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”

Ngoài ra Nguyễn Đức Dân còn đặc biệt nhấn mạnh đến vấn đề thể diện trong giao tiếp Tránh xúc phạm đến thể diện của người khác, nếu có thể tránh được thì biết làm giảm nhẹ mức độ của hành vi phương hại đến thể diện đó Không tự đề cao mình, biết khiêm tốn, biết tự kiềm chế Dùng hệ thống đại từ, các từ xưng hô Tránh nói trống không Dùng các từ tình thái để giảm mức độ Dùng hành vi ngôn ngữ

gián tiếp thay cho hành vi tại lời Dùng hành vi ngữ dụng thể hiện luật tâm lý “phủ

lớp ngọt lên viên thuốc đắng” Dùng phương thức mở thoại bằng phương thức

nghịch nhân quả Dùng phương thức nói bóng gió xa xôi… Lịch sự trong giao tiếp cũng là một yếu tố quan trọng để dẫn đến sự thành công của một cuộc thoại Thái

độ tôn trọng hay không tôn trọng đối tác, đối tượng giao tiếp cũng như chính bản thân người nói sẽ được bộc lộ thông qua biểu hiện của lịch sự Đồng thời nó còn biểu hiện sự quan tâm của người nói đến người nghe Người nói chú ý, xem trọng cảm nhận, suy nghĩ của người nghe thì từ ngữ họ dùng sẽ được lựa chọn, chú trọng hơn, tránh sự xúc phạm đến danh dự, thể diện của người khác, chọn những từ ngữ giảm nhẹ mức phương hại đến thể diện…Đôi khi một lời khen cũng thể hiện sự quan tâm Bởi vì người nói có tìm hiểu, lắng nghe, quan tâm đến đối tác mới dẫn đến sự đồng tình, khen ngợi, tán thưởng Dù lời khen đó không thật, chỉ xua nịn thì

nõ cũng phải trãi qua quá trình tìm hiểu mới có được lời khen ngợi

Đỗ Hữu Châu tán thành ba quy tắc hội thoại mà C.K Orecchioni đã chia: Quy tắc điều hành sự luân phiên lượt lời Những quy tắc chi phối cấu trúc của hội thoại Những quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân trong hội thoại

Trang 25

Sáu nguyên tắc mà Đỗ Hữu Châu dẫn ra của Sacks trong quy tắc điều hành sự

luân phiên lượt lời có phần mâu thuẫn nhau Chẳng hạn ở nguyên tắc thứ hai “mỗi

lần chỉ có một người nói”, nhưng ở nguyên tắc thứ tư lại phát biểu “vị trí ở đó nhiều người cùng nói một lúc là thường gặp” Điều này cho thấy hai nguyên tắc này

dường như có vẽ mâu thuẫn nhau Trường hợp nhiều người cùng nói một lúc thuộc

về trường hợp ngoại lệ, nó là một dạng khác, không phải là một cuộc thoại theo một logic thông thường Chẳng hạn, khi cãi nhau người này sẽ bất chấp người kia có nghe hay không vẫn cứ nói, mạnh ai nấy nói Hoặc ở nguyên tắc thứ ba và thứ năm

cũng vậy Nguyên tắc thứ có nội dung là “lượt lời mỗi người thường thay đổi về độ

dài do đó cần có những biện pháp để nhận biết khi nào thì một lượt lời chấm dứt.”

Ngược lại, nguyên tắc thứ năm lại là “thông thường lượt lời của đối tác này chuyển

tiếp cho đối tác kia diễn ra không bị ngắt quảng quá dài, cũng không bị dẫm đạp lên nhau.” Giữa hai nguyên tắc hơi mơ hồ và không có ranh giới rõ ràng Nếu như

lượt lời của đối tác này chuyển cho đối tác kia không bị ngắt quảng, cũng không bị dẫm đạp lên nhau, cho thấy sự chuyển giao giữa các lượt lời của các đối tác đã có dấu hiệu nhận biết, chuyển tiếp cho người kia Thông thường người giữ vai nói trước khi kết thúc lượt lời của mình, chuyển lại lượt lời cho người kia thì nội dung của lượt lời đó thường mở ra yêu cầu, đề nghị về nội dung gì đó để người nghe có thể đáp lại Hoặc dù khi lượt lời này có nội dung kết thúc vấn đề đó đi chăng nữa thì dựa vào nội dung của nó người nghe cũng có thể biết được mà mở ra một vấn đề mới cho cuộc thoại Có lẽ hai nguyên tắc này không cần thiết cho lắm Ngoài ra ở

nguyên tắc thứ sáu đã nói đến “trật tự (nói trước, nói sau), quy tắc này dường như

đã bị chồng lấn lên quy tắc cộng tác hội thoại ở phương châm cách thức (hãy bói có trật tự)

Theo Đỗ Hữu Châu, quy tắc điều hành nội dung hội thoại không chỉ bao gồm nguyên tắc cộng tác hội thoại mà còn có cả nguyên tắc quan yếu Ngay tên gọi của

nguyên tắc cũng phản ánh được tính chất đó “Quan yếu” trong trường hợp này yêu

cầu người nói nói những nội dung phải đáp ứng, phải xứng đáng với sự chú ý của người nghe Thật ra, khi người nói thực hiện phương châm quan hệ là đã thực hiện

quy tắc quan yếu Như đã biết nội dung của phương châm quan hệ là “đóng góp

Trang 26

những điều có liên quan” Điều đó đồng nghĩa với việc người nói nói những điều có

liên quan đến những vấn đề chính, quan trọng của cuộc thoại Do đó, nguyên tắc quan yếu mà Đỗ Hữu Châu đưa vào quy tắc điều hành nội dung hội thoại có vẽ hơi

bị trùng lập và thừa đi

Quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân trong hội thoại hay chính là phép lịch sự

mà Đỗ Hữu Châu trình bày và trích dẫn cũng tiếp thu từ quan điểm của R Lakoff, của G.N Leech và của P Brown và S.Levinsion Ông cũng cho rằng, lịch sự là một nguyên tắc quan trọng, ảnh hưởng không nhỏ đến thành công của cuộc thoại

2 Về lý thuyết hành động ngôn từ

Nhìn chung, hầu hết các tác giả đều tiếp thu lý thuyết hành động ngôn từ từ J.L.Austin Vì thế ở nội dung này có sự tương đồng về nội dung trình bày giữa các tác giả

Theo Austin, có ba loại hành động xảy ra khi thực hiện một phát ngôn: hành động tạo lời, hành động tại lời và hành động qua lời Việc nghiên cứu ra ba loại hành động ngôn từ này đã góp phần tích cực vào việc xem xét ý nghĩa ngôn từ Chẳng hạn, qua hành động tạo lời ta có thể biết được tính cách của người nói, bởi vì

“hành động tạo lời là hành động sử dụng các phương tiện ngữ âm, từ vựng để tạo

ra câu, phát ngôn có nội dung ngữ nghĩa và chiếu vật ít nhiều xác định” [1, tr 134]

Do đó, thông qua cách lựa chọn, sử dụng từ ngũ của người nói ta có thể biết được nghề nghiệp, trình độ, tính cách và một số vấn đề khác của họ Hoặc giả, qua hành động qua lời ta có thể biết được mục đích, ý định của người nói đối với người nghe Điều này đóng góp đáng kể vào vệc xem xét ngôn từ của nhân vật Từ đó có thể biết được thái độ tình cảm của các nhân vật qua hiệu qur tác động của lời nói của nhân vật này đối với nhân vật kia Đồng thời chính điều này giúp cho người đọc có thể nắm bắt được tính cách từng nhân vật, hơn thế nữa là nội dung, ý nghĩa của tác phẩm, cũng như những vấn đề mà tác giả đã đặt ra và gởi đến

Đồng thời với những điều kiện sử dụng hành động tại lời của Searle: Điều kiện

nôi dung mệnh đề, Điều kiện chuẩn bị, Điều kiện chân thành, Điều kiện căn bản

cũng là một phương diện quan trọng góp phần làm cho việc nghiên cứu lời nói hay ngôn từ nhân vật thêm dễ dàng hơn Thông qua những đáp ứng hay những vi phạm

Trang 27

những điều kiện này, ta có thể biết được nhiều vấn đề quan trọng Chẳng hạn, đối với điều kiện nội dung mệnh đề ta có thể biết được nội dung của cuộc thoại đó, qua

đó biết được chủ ý hay muc đích của đối tượng Hoặc là thông qua điều kiện chuẩn

bị ta có thể biết được năng lực, ý định, lợi ích hay vị trí của người nói và người nghe Từ đó xác định được mối quan hệ giữa chúng và nắm bắt chính xác tác phẩm hơn Điều kiện chân thành thể hiện trạng thái tâm lý mong muốn người nghe thực hiện nội dung hành động đó Vì thế, nếu như khi ta bắt gặp lời nói của nhân vật vi phạm điều kiện này, ta cũng có thể biết được tính cách giả dối của nhân vật hay một

ý định gì đó khác của nhân vật muốn nhấn mạnh hoặc là điều tác giả đang mỉa mai Đối với điều kiện căn bản thì đó lại liên quan đến trách nhiệm và sự ràng buộc giữa người nói và người nghe Từ đó ta có thể xác định được vai trò và vị trí của những bên đối thoại

3 Về độc thoại nội tâm

Độc thoại nội tâm là một yếu tố quan trọng khi phân tích ngôn từ nhân vật Qua lời độc thoại chúng ta có thể biết rõ hơn về tâm trạng, suy nghĩ của nhân vật Từ đó

có thể đoán biết được diễn biến tâm lý và tính cách của mỗi nhân vật Như Chim

Văn Bé đã nói: “Độc thoại nội tâm trực tiếp phản ánh quá trình tâm lý diễn ra bên

trong nhân vật trước những tác động bên ngoài nào đó”

Tuy ngắn gọn, nhưng dễ hiểu, ông đã đưa ra một số tình huống để nhận diện rất thường gặp của độc thoại Ông cho rằng, lời độc thoại nội tâm cũng có thể được xen vào lời kể chuyện, cũng có thể được người kể báo trước bằng câu trần thuật…

Với quan điểm “độc thoại nội tâm là một hình thức đối thoại: đối thoại nội tâm”

cho thấy sự tiến bộ của ông trong việc xem xét ngôn từ ở nhiều gốc độ Chính điều này đã giúp ích cho việc tìm hiểu ngôn từ độc thoại của nhân vật được nhìn ở nhiều khía cạnh và sâu sắc hơn

 Nhìn chung ở các tác giả điều có hướng tiếp cận riêng Ở các tác giả khác như

Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân… đã tiếp thu và nghiên cứu những công trình nghiên cứu về hội thoại và hành động ngôn từ của những nhà nghiên cứu ở nước ngoài theo hướng vận dụng trực tiếp vào tiếng Việt, và đưa ra những ngữ liệu có sẵn

Trang 28

của nước ngoài hoặc do tự tác giả đó đưa ra ví dụ Vì thế, một số vấn đề sẽ không được phù hợp với ngôn ngữ tiếng Việt Ở tác giả Chim Văn Bé, ta thấy hướng tiếp cận của ông cũng là tiếp thu những công trình nghiên cứu trước đó, nhưng hướng nghiên cứu có phần khác với các tác giả khác, đó là vận dụng ngữ liệu từ trong văn bản, tác phẩm văn học Chính vì vậy mà những bài nghiên cứu của ông có phần khác hơn những tác giả khác Đồng thời nó cũng thiết thực và chính xác hơn

Trang 29

CHƯƠNG II NGÔN TỪ NHÂN VẬT TRONG SỐ ĐỎ CỦA

là ở phố Hàng Bạc

Vũ Trọng Phụng từ nhỏ đã tỏ ra có năng khiếu nghệ thuật: giỏi vẽ, biết đánh đàn nguyệt, soạn bài hát cải lương, cũng thích làm thơ Học hết bậc tiểu học ở Hàng Vôi, ông thi vào trường Sư phạm (sơ cấp) nhưng không trúng tuyển, đành phải đi kiếm việc làm ở các sở tư – lúc đó ông mới mười lăm, mười sáu tuổi Thoạt đầu ông làm thư ký cho nhà hàng Gôđa, về sau xin được chân đánh máy chữ cho nhà in Viễn Đông (IDEO), tất cả được hơn hai năm Người ta nói ông hai lần bị mất việc vì

“tội” ham viết truyện, đánh máy chữ bản thảo trong giờ làm việc Nhưng lý do chính có lẽ vì cuộc khủng hoảng kinh tế lớn 1929 – 1933 đã dẫn đến việc sa thải công nhân viên chức (đặc biệt là các sở tư) của bọn thực dân, tư bản Từ đó Vũ Trọng Phụng chỉ chuyên tâm viết văn, làm báo cho đến lúc mất

Vũ Trọng Phụng viết cho rất nhiều tờ báo xuất bản từ khoảng 1930 đến 1939:

Hà Thành Ngọ Báo, Nhật Tân, Hải Phòng tần báo, Tân thiếu niên, Công dân, Tiểu thuyết thứ bảy, Hà Nội báo, Tương lai, Tiểu thyết thứ năm, Sông Hương, Đông Dương tạp chí, Thời vụ, Tao đàn tạp chí… Và viết đủ thể loại: tiểu thuyết, truyện

ngắn, phóng sự, kịch nói, xã luận chính trị, thời đàm, bút chiến, phỏng vấn, phê bình văn học… Ngoài ra ông còn dịch một vài tác phẩm của Vichtor Huygo

Trang 30

Ông thường dùng hai bút danh Vũ Trọng Phụng và Thiên Hư

Trong đời sống vật chất, Vũ Trọng Phụng gặp nhiều chuyện không may, luôn luôn ở trong tình trạng túng quẫn Đã thế ông lại bị lao nặng Trong nghề văn, ông

nổi danh rất nhanh chóng Khi Cạm bẫy người (1933), Kỹ nghệ lấy Tây (1934) ra đời, người ta gọi ông là “ông vua phóng sự đất Bắc” Khi Giông tố, Số đỏ xuất hiện,

dư luận càng xôn xao hơn Ngòi bút của ông sắc sảo một cách gai góc, và phức tạp nên khi ông còn sống cũng như sau khi ông qua đời, người ta luôn luôn bàn tán, tranh luận về ông Ông thuộc loại nhà văn được nhiều người chú ý, nhưng ít được hiểu rõ, hiểu đúng

Đầu năm 1938, Vũ Trọng Phụng lấy vợ là Vữ Mỵ Lương thuộc một gia đình buôn bán nghèo xã Nhân Mục, thôn Giáp Nhất nay thuộc xã Nhân Chính, thuộc huyện Từ Liêm, Hà Nội

Do đời sống nghèo khổ, do bệnh lao càng phát triển, lại phải lao động quá sức, ông mất này 13-10-1939 tại căn nhà số 73 phố Cầu Mới, Ngã Tư Sở, nơi ông về ở những tháng cuối đời Năm ấy Vũ Trọng Phụng mới 27 tuổi

Ông để lại bà, mẹ, vợ - ba người đàn bà góa và một con gái vừa đầy năm

2 Sự nghiệp sáng tác

Cuộc đời và hoạt động văn học của Vũ Trọng Phụng tuy ngắn ngủi, song đã để lại dấu ấn khó phai trong đời sống văn học Việt Nam trước cách mạng Vũ Trọng Phụng đã có những đóng góp to lớn cho và quan trọng cho văn xuôi Việt Nam hiện đại, và là một cây bút sắc sảo, tài năng, thành công trong nhiều thể loại như:

Phóng sự

Cạm bẫy người (1933), Kỹ nghệ lấy Tây (1934), Dân biểu và dân biếu (1935), Cơm thấy cơm cô (1936), Vẽ nhọ bôi hề (1936), Lục xì (1937), Một huyện ăn tết (1938)

Tiểu thuyết

Dứt tình (1934), giông tố (1936), Số đỏ (1936), Vỡ đê (1936), Làm đĩ (1936), Lấy nhau vì tình (1937), Qúy phái (đăng dở dang trên Đông Dương tạp chí, 1937), Trúng số độc đắc (1938), Người tù được tha (Truyện vừa – di cảo)

Truyện ngắn

Trang 31

Chống nạn lên đường (1931), Một cái chết, Bà lão lòa (1931), Con người điêu trá (1932), Quyền làm bố, Cuộc vui ít có, Hai hộp xì gà, Sư cụ triết lý (1935), Mơ ngày tết, Lỡ lời, Bộ răng vàng, Hồ sê líu hồ tíu sê sàng (1936), Cái ghen đàn ông, Lòng tự ái, Đi săn khỉ, Người có quyền, Máu mê, Tự do, Lấy vợ xấu, Một con chó hay chim chuột (1937), Từ lý thuyết đến thực hành, Một đồng bạc Đời là một cuộc chiến đấu (1939), Đoạn tuyệt, Ăn mừng, Bắt vích, Gương tống tiền (di cảo – không

Giết mẹ (dịch vỡ kịch Lurèce Borgia của Victor Huygo) xuất bản 1936

II Tiểu thuyết Số đỏ

Tiểu thuyết Số đỏ được đăng ở Hà Nội báo từ số 40 ngày 7-10 – 1936 và in

thành sách lần đầu năm 1938

Truyện dài 20 chương, nhân vật chính của Số đỏ là Xuân, thường gọi là Xuân Tóc Đỏ Là một đứa trẻ mồ côi, sống bằng đủ loại nghề trèo me, trèo sấu, thổi kèn, quảng cáo thuốc lậu, nhặt bóng ở sân quần vợt Mọi sự việc được bắt đầu khi bà Phó Đoan đến chơi tại sân quần, nơi Xuân Tóc Đỏ làm việc Khi Xuân Tóc Đỏ xem trộm cô đầm thay đồ bị cảnh sát bắt và được bà Phó Đoan bảo lãnh ra, gởi vào tiệm

Âu hóa làm việc thì cuộc đời của hắn thay đổi từ đây Xuân bắt đầu gia nhập vào xã hội thượng lưu, ngày càng có vị trí quan trọng trong gia đình cụ cố Hồng vì đã có công cứu sống và gây nên cái chết cụ cố Tổ Được Văn Minh xóa bỏ đi lý lịch trước kia, rồi đăng ký đi tranh giải quần vợt nhân dịp vua Xiêm đến Bắc Kì và từ đó hắn trở thành một người có công với đất nước, vì Tổ Quốc mà chịu thua Cuối cùng hắn nhận được huân chương Bắc đẩu bội tinh và trở thành con rể cụ cố Hồng

III Phân tích ngôn từ nhân vật trong tác phẩm Số đỏ

Để hiểu rõ hơn về nhân vật cũng như chuyển biến tâm lý, tính cách của nhân vật nói riêng, nắm bắt dễ dàng chính xác nội dung tác phẩm nói chung, khi hướng nghiên cứu nghiên về khía cạnh ngôn ngữ thì chúng ta không thể nào quên xem xét,

Trang 32

phân tích ngôn từ nhân vật ở hai phương diện đối thoại và độc thoại nội tâm Chính

vì vậy mà ở bài nghiên cứu này, chúng tôi lần lượt điểm qua một số cuộc thoại cũng như một số đoạn độc thoại nội tâm của một vài nhân vật trong tác phẩm

1 Ngôn từ đối thoại

1.1 Ngôn từ đối thoại của nhân vật Xuân Tóc Đỏ

(e) - Thật đấy Chính chuyên cũng chẳng sơn son để thờ? Nhưng này! Duyên kia

ai đợi mà chờ? Tình kia ai tưởng mà tơ tưởng tình? Hàng ế bỏ mẹ ra thế này, mua chẳng mua giúp lại chỉ được cái bộ ếm…”

Xuân Tóc Đỏ lại cười hí hí như ngựa rồi ngồi xuống…

(f) - Nói đùa đấy, chứ đây mà chả cần đấy thì đấy cần đếch gì đây? Thôi đi làm

bộ vừa vừa chứ… Bán một xu nào

(g) - Ứ! Ứ! Đưa tiền ngay ra đây xem!

Rút ở túi quần sau cái mùi soa, cởi một nút buộc như một cái tai lợn, Xuân Tóc

Đỏ đập đồng hào xuống thềm gạch xi măng đánh keng một cái rất oanh liệt Trong khi chị hàng mía cầm một tấm để dóc vỏ thì Xuân lải nhải tự cổ động cho mình:

(h) - Năm hào còn hai đấy! Tối hôm qua mất ba hào Thết bạn cẩn thận… Hai

hào vé đi tuần trong Hý viện rồi lại bát phở tái nạm Chơi thế mới chanh chứ? Công tử bột thì cũng chúa đến thế là cùng Ấy ăn tiêu rộng như thế mới chết! Đây bảo đấy về cho đây phải lo thì khỏi ăn chơi, thì đấy mãi chả nghe!

(i) - Bỏ hộ vào túi quần… Thọc tay vào!”

Trong lượt lời (a), khi Xuân Tóc Đỏ muốn mở lời trò chuyện với cô hàng mía thì

hắn cứ “ỡm ờ” mãi cho thấy sự bất thường cho điều sắp nói ra phía sau của hắn ta

Trang 33

Thật ra, khi mở đầu một cuộc thoại hay một câu chuyện gì đó, đặc biệt là những điều tế nhị, khó nói thì rất khó để mở lời Đồng thời qua thái độ, cử chỉ này cho thấy rằng Xuân Tóc Đỏ cũng còn giữ được sự ngại ngùng Ngoài ra sự ỡm ờ còn thể hiện được sự chuẩn bị của hắn trước những điều mình muốn nói, bởi Xuân Tóc Đỏ biết

rõ cô này rất khó tính Vì thế hắn phải lựa lời mà nói để có thể chinh phục được cô Trong lượt lời (b), với cách nói mơ hồ như thế cho thấy hành động trong lời của Xuân Tóc Đỏ là yêu cầu Với cách nói mơ hồ, rõ ràng là có yêu cầu nhưng lại không có nội dung yêu cầu, bề ngoài tuy có vẽ khó hiểu, nhưng bên trong lại vô

cùng rõ ý định của hắn ta Đó chính là một cách tỏ tình có vẽ kín đáo nhưng rất

thẳng thường Lời trêu ghẹo đồng thời lại là lời tỏ tình thể hiện cái hay cái độc đáo

trong lời nói của Xuân Từ đó cho thấy tài lém lỉnh, gian manh của hắn Không dùng một từ nào khác mà là “xin” cũng là một ý đồ hết sức lợi hại trong chinh phục phụ nữ của Xuân, bởi “xin” có hành động trong lời là van nài, nó vừa thể hiện lòng thành, vừa thể hiện sự mong muốn Đồng thời “xin” còn thể hiện sự ủy thác, nhờ

cậy của người nói đối với người nghe thực hiện một điều gì đó trong tương lai một cách tự giác Vì thế, người nghe rất khó từ chối, họ bị ép vào hoàn cảnh phải nhận lời nhiều hơn là từ chối Điều này thể hiện sự tinh quái của hắn ta Đáp lời Xuân

Tóc Đỏ, cô hàng mía trả lời một cách chìu mến: “Khỉ lắm nữa!” từ đó cho thấy hành động trong lời của cô ta là mắng Xuân Tóc và hành động qua lời ở đây là cố

tình thông báo rằng cô đã hiểu được ý định của Xuân, biết được Xuân đang trêu

đùa, tán tỉnh cô Trong lượt lời (d), có hành động trong lời là phê phán, mỉa mai cô hàng mía “Lẳng lơ” là một thói xấu của người phụ nữ “Mòn” là sự hao hụt một

điều gì đó, nhưng với cách nói mỉa mai của Xuân thì sự tổn thất dường như không còn nữa Điều này không chỉ thể hiện sự khinh khi của Xuân Tóc Đỏ trước những giá trị truyền thống của dân tộc mà lộ rõ ý định châm chọc, trêu ghẹo cho thấy hắn

ta, từ đó cho thấy hắn là một người không đúng đắn

Lượt lời (e) của Xuân Tóc Đỏ có hành động qua lời là khuyên cô hàng mía nên

chấp nhận lời đề nghị của hắn Bởi, dù có tốt đến mấy, đức hạnh đến mấy cũng

không có kết quả gì “Chính chuyên cũng chẳng sơn son để thờ”, từ đó có thể thấy hành động trong lời của Xuân Tóc Đỏ là khẳng định, hắn muốn nhấn mạnh đến việc

Trang 34

làm của cô hàng mía là vô ích Đồng thời, biểu lộ thái độ mỉa mai, tỏ ra hiểu rõ cái nỗi lòng của cô, Xuân Tóc Đỏ vừa nâng lòng thành ý chân trọng cô ta vừa hạ thấp, làm giảm sự mong đợi của cô Do đó, hắn cố mỉa mai, châm chọc làm tăng sự thất vọng của cô hàng mía, cho rằng không ai để ý, ngóng trông, đừng nên chờ đợi, mơ tưởng mà phí công

Câu nói của Xuân Tóc Đỏ có hành động trong lời là khẳng định tình yêu của hắn

luôn luôn hướng về cô hàng mía Trong lượt lời (f), Xuân Tóc Đỏ đã nói với cô

hàng mía: “Làm bộ vừa vừa chứ”, lượt lời trên có hành động trong lời là mỉa mai,

qua đó tỏ ra hiểu được lòng của cô hàng mía, cho rằng cô ta đã thích hắn nhưng giấu giếm, làm ra vẽ không quan tâm, không cần

Và rồi khi cô hàng mía bảo Xuân Tóc Đỏ trả tiền hắn rút ra hai hào (g), hắn đã nói với cô ta rằng:

Ở lượt lời (h), ta thấy Xuân Tóc Đỏ đã nói nhiều hơn nội dung của cuộc trò chuyện cho thấy sự bất thường Tuy nhiên, theo dõi diễn biến của câu chuyện, thì đó lại là điều vô cùng hợp lý Không phải tự nhiên mà Xuân Tóc Đỏ lại cố tình giải thích cho cô hàng mía hiểu lý do chỉ còn có hai hào Điều này cho thấy sự lo lắng của hắn trước cảm nhận của cô ta, sợ bị hiểu lầm, sợ cô chê nghèo, không tiền, vì thế phải giải thích không phải chỉ có bấy nhiêu đó

Trong lượt lời (h), Xuân Tóc Đỏ đã nói với cô hàng mía: “Đây bảo đấy về cho

đây phải lo thì khỏi ăn chơi, thì đấy mãi chả nghe!”, hành động trong lời của lượt

lời mà Xuân Tóc Đỏ muốn thực hiện là lời mời, hành động qua lời là muốn cô hàng

mía về làm vợ hắn Do đó, hắn cố ý nói với cô rằng nếu như có vợ, hắn sẽ chăm lo cho vợ, không ăn chơi, tiêu sài như thế nữa thì sẽ có dư, không phun phí nữa Một trong những điều quan trọng để chiếm lấy tình cảm của người khác là lòng thành, Xuân Tóc Đỏ đã làm được điều đó Có thể nói Xuân Tóc Đỏ là một kẻ rất giỏi trong việc chim phụ nữ và vô cùng ma lanh

Có thể nói, Xuân Tóc Đỏ là một kẻ rất “dê xòm” Có lẽ là không còn một từ nào

khác để nói đúng bản tính này của hắn Trong cuộc đối thoại của hắn với cô hàng

mía, khi nhờ cô cất tiền vào túi dùm Xuân Tóc Đỏ đã nói: “Bỏ hộ vào túi quần…

Thọc tay vào!” Câu nói của Xuân Tóc Đỏ trong lượt lời (i) có hành động trong lời

Trang 35

là yêu cầu cô hàng mía bỏ hộ tiền vào túi quần dùm Xuân Tóc Đỏ Từ đó cho thấy, đối với một người lịch sự nếu có nhờ người khác cất tiền vào túi hộ thì cũng chỉ nói

bỏ hộ vào túi, nhưng ở đây Xuân Tóc Đỏ lại rất nhấn mạnh là bỏ vào “túi quần” Đồng thời bảo cô phải “thọc tay vào”, điều này cho thấy ý định xấu của Xuân Tóc

Đỏ, đó chính là để cô hàng mía va chạm, đụng vào người của hắn

Cuộc thoại số 2:

Trong đoạn đối thoại giữa Xuân Tóc Đỏ và lão thầy bói, sự đồng tình của hắn khi lão thầy bói nói cho hắn ta biết đầu năm đến giờ phát sao đào hoa:

(a) – “Phải biết!

Rồi khẽ nói với ông thầy:

(b) - Ngay như con bé bán mía này thì cũng “nước nôi” đến nơi chứ có không đâu! Cụ đoán đáng đồng tiền lắm

Tuy nói một cách ngắn gọn, nhưng trong lượt lời (a) có hành động trong lời đó

là “khẳng định” Khẳng định tính chân thật cho những điều mà hắn nói Tiếp theo

lượt lời thứ nhất, Xuân Tóc Đỏ đã bổ sung hoàn chỉnh cho nội dung mà hắn muốn

nói, cũng như bộc lộ rõ ý định của mình, hắn nói tiếp: “…nước nôi đến nơi chứ

không có không đâu” trong lời đáp của Xuân Tóc Đỏ còn cho thấy được hắn là một

người rất khoe khoang, hắn muốn nhấn mạnh với lão thầy bói mối quan hệ thân mật, không bình thường của hắn và cô hàng mía, qua đó để khẳng định hắn là một người rất đào hoa, phong lưu

(a) - Thưa bà, bà cho phép cho, nếu bà không trinh tuyết với hai ông chồng như

thế thì… bẩm… tôi cũng mạn phép mà… phải lòng bà rồi!

Bà Phó Đoan tủm tỉm cười mắng:

(b) – Ê! Ê! Rõ đồ ê trệ chửa!

Rồi bà lên xe, bảo tài xế phóng nước đại

Trang 36

Bà đi trốn ái tình

Xuân Tóc Đỏ phải từ giã cảnh Bồng Lai, cuốc bộ về hiệu Âu hóa.”

Câu nói của Xuân Tóc Đỏ trong lượt lời (a) có hành động trong lời là bày tỏ thái

độ tình cảm của hắn đối với bà Phó Đoan, và có hành động qua lời là tán tỉnh, chêu ghẹo bà Phó Ta thấy, trong lời nói của Xuân Tóc Đỏ rất bạo dạn, không che giấu hay nói vòng vo mà nói trực tiếp cho bà Phó Đoan biết hắn đã phải lòng bà mà không chút ngại ngùng Có thể nói Xuân Tóc Đỏ không chỉ là một kẻ đào hoa bình thường mà rất là ghê gớm Đối với hắn, không phải chỉ có những cô gái trẻ đẹp như

cô hàng mía hoặc Tuyết thì mới gạ gẫm Mà cái tính đó của hắn có thể bộc phát bất

cứ lúc nào Ngay cả người đàn bà đáng tuổi mẹ hắn, đã qua hai đời chồng Xuân Tóc

Đỏ cũng có tình ý với bà ta

Cuộc thoại số 4:

Khi nghe lời đề nghị của Tuyết, Xuân Tóc Đỏ vẫn còn nghi ngờ, không biết là đùa hay thật, vẫn chưa chắc chắn Vì thế hắn nói những lời khích tướng làm cho Tuyết phải tự ái mà khẳng định lại lời đề nghị, hắn sẽ có lý do chính đáng để mà khám xét Tuyết Thật là một tuyệt chiêu Cuộc thoại dưới đây diễn ra khi Tuyết đề nghị lần thứ hai cho Xuân Tóc Đỏ kiểm tra lời nói của cô là sự thật, không dùng vú cao su:

(a) - “Tôi cho phép ông khám mà xem!

Tinh quái, Xuân Tóc Đỏ khoanh tay sau lưng:

(b) - Thời buổi này, biết sao được! giả dối hết thẩy! Yêu cũng giả dối, tân thời cũng tân thời giả dối, hủ lậu cũng hủ lậu giả dối!

(c) - Thì ông cứ thử khám xem tôi có… giả dối không này!”

Lượt lời (b) có hành động trong lời là phủ định những lời Tuyết nói là trái sự thật Nhưng qua câu nói ấy, Xuân Tóc Đỏ muốn thực hiện hành động qua lời ở đây

là khêu khích Tuyết Có thể nói mồm mép của Xuân Tóc Đỏ thật không ai so bì được Để Tuyết xa vào cái bẫy này hắn đã cố tình trình bày, dẫn ra ví dụ đủ thứ cái giả dối của xã hội để Tuyết phải đề nghị một lần nữa Từ đó có thể thấy, những lời bóng gió, xa xôi của Xuân Tóc Đỏ thật độc đáo Không phải hắn không tin điều Tuyết nói là sự thật, mà thực ra với cách nói như vậy thì đằng sau đó lại có một

Trang 37

dụng ý khác Đó chính là sự thách thức Tuyết, bằng cách làm ra vẽ không tin khiến Tuyết phải bực tức mà buộc hắn kiểm tra

Cuộc thoại số 5:

Sau khi đánh bại được tình địch của mình, Xuân Tóc Đỏ càng có dịp ra oai hơn với cô bạn gái của mình, được Tuyết thưởng và khen ngợi, Xuân nói:

(a) - Thế thì đáng hôn anh một nghìn cái để thưởng mới được!

(b) - Anh… bây giờ… chỉ muốn làm hại một đời em một cách thật sự mà thôi!”

Sau lời đề nghị của Tuyết trong lượt lời (a), Xuân Tóc Đỏ đã thực hiện ngay

hành động trong lời (b) là bày tỏ lòng mong muốn làm hại một đời con gái của

Tuyết Qua hành động này ta thấy Xuân Tóc Đỏ càng ngày càng mạnh dạng hơn, liều lĩnh hơn Hắn ta không còn đợi Tuyết đề nghị hay yêu cầu nữa mà trở nên chủ động hơn để chiếm lấy Tuyết Chính nhờ câu hội thoại này mà chúng ta có thể phần nào thấy được tính cách điểu giả của hắn cũng như tính cách của hắn ta Có thể nói, tính cách bay bướm của Xuân càng ngày càng tăng lên, nhất là khi được lão thầy bói đoán hắn đang phát số đào hoa, vì thế hắn càng làm quá đáng hơn nữa, nói những lời càng lúc càng lả lơi, lộ liễu hơn

Cuộc thoại số 6:

Đây là cuộc thoại diễn ra khi Xuân Tóc Đỏ tình cờ xem bói:

(a) - Ngày sinh tháng đẻ, nói ra

(b) - Hai mươi nhăm tuổi đấy, bố ạ! Tháng mười, ngày rằm, giờ gà lên chuồng

Sau khi được lão thầy bói đoán rằng sau này danh phận của hắn cũng to cơ thì Xuân Tóc Đỏ liền hỏi:

(c) - Được! Thế bao giờ!

(d) - Từ năm nay trở đi đã mở vận đấy

(e) - Chưa thấy gì cả

(f) - Cuối năm sẽ thấy

Sau một hồi trò chuyện Xuân Tóc Đỏ lại hỏi tiếp:

(g) - Sau nàu có giàu không? Hay chỉ có danh giá hão?

Nói vòng vo cả một lúc, Xuân Tóc Đỏ cũng không quên hỏi:

(h) - Cụ trông mặt tôi mai sau có phất được không?

Trang 38

Đáp lời của Xuân Tóc Đỏ về việc tương lai của hắn, lão thầy bói nói:

(i) - Khá lắm! Hậu vận khá lắm! Chỉ tiếc cái tóc không được đen

(k) - Mẹ kiếp! Chứ xưa nay có mua mũ bao giờ mà tóc chả đỏ!”

Lời nói của Xuân Tóc Đỏ trong lượt lời (b), đã dự báo phần nào được vận mệnh, cuộc đời của hắn Hai mươi nhăm tuổi là con số tương đối ổn định, chuẩn trạc, thuở thiếu thời, gian nan cực khổ đã qua Trong suy nghĩ của mọi người thì ngày rằm là ngày trăng tròn nhất, sáng nhất, do đó những người sinh vào ngày này thường thông

minh Đặc biệt là sự giải thích rõ “giờ gà lên chuồng”, hé lộ số phận sung sướng,

hưởng thụ của hắn, bởi giờ gà lên chuồng là giờ sắp đi ngủ, hoàn thành xong một ngày lao động vất vả của chúng

Hành động trong lời (c) là chấp nhận kèm theo đó là thắc mắc Thắc mắc không

biết bao giờ vận may sẽ đến Sau lời khẳng định của lão thầy bói (d), Xuân Tóc Đỏ

đã đáp lại ngay lời khẳng định của ông, ta thấy (e) có hành động trong lời là hỏi tại

sao vẫn chưa thấy gì cả, nhưng đằng sau hành động trong lời này là sự thắc mắc kèm theo sự ngóng trông của Xuân Tóc Đỏ muốn biết chính xác là khi nào

Hành động trong lời (g) cũng vẫn là thắc mắc về chuyện tương lai giàu sang của hắn Qua những hành động thắc mắc của Xuân Tóc Đỏ cho thấy hắn ta là một người ham danh vọng, phu quý Chỉ mới nghe lời đoán hậu vận sau này sẽ khá một chút là liền hỏi dồn cái chuyện này Ta thấy nội dung của cuộc trò chuyện giữa lão thầy bói

và Xuân Tóc Đỏ không nằm ngoài việc khác, mà nó luôn luôn xoay quanh vấn đề giàu – nghèo sau này của Xuân Tóc Đỏ, bởi những câu hỏi đảo đi đảo lại của hắn đã làm cho cuộc thoại có nội dung như thế

Trong (k) trước sự tiếc nuối của lão thầy bói, Xuân Tóc Đỏ liền mắng chữi cái

số phận của nó để giải thích cho nguyên nhân này Từ hành động trong lời là mắng chữi của Xuân Tóc Đỏ cho thấy được bản chất của hắn, dù danh phận có tốt hơn, nhưng nguồn gốc, lai lịch của một kẻ bụi đời, ma cà bông cũng không thể tiêu biến Bản chất thì sẽ không bao giờ thay đổi và che giấu được

“Cái răng cái tóc là gốc con người” Nhưng ở đây ông thầy bói chỉ tiếc có một

điều là tóc của Xuân không được đen Qua hành động (k), cho thấy Xuân Tóc Đỏ là một người có nguồn gốc, bản tính không phải ta cũng không phải tây Đồng thời,

Trang 39

những ngôn ngữ được Xuân Tóc Đỏ dùng nghe có vẽ gian hồ như là “mẹ kiếp”,

“nước mẹ gì”, “tình bỏ mẹ” đã bộc lộ được bản tính lưu manh, điểu giả của hắn

(c) - Phải, con Văn Minh có cái thằng chồng ta đặt tên là Cà Kêu ấy mà! Cả con

mẹ Phó Đoan cũng đến xem, lại đòi chơi nữa!

Xuân Tóc Đỏ đứng lên, dặn ông thầy:

(d) - Cứ viết đi, rồi chiều hay mai tôi lấy, cụ nhé! Nhớ hộ là tiền rồi Nào, vào ken cờ ban với mỹ nhân cho nó hoa đào một thể?”

Lượt lời (a) của đứa bé có hành động trong lời là hỏi, nhưng kèm theo đó là yêu cầu Xuân mau đến sân quần Xuân Tóc Đỏ đã hỏi lại câu nói của cậu bé, qua đó để khẳng định lại tính đúng đắn của sự tình (b) Hành động trong lời của lượt lời (d) là

khẳng định và hành động qua lời mà Xuân Tóc Đỏ muốn thực hiện là nhắc nhở lão

thầy bói rằng mình đã trả tiền rồi

Qua đó có thể thấy Xuân Tóc Đỏ là người rất coi trọng tiền bạc, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào tiền cũng trên hết

(d) - Người ta lại đồn rằng cụ Hồng muốn gả Tuyết cho bạn nữa!

(e) - Cái ấy mà thật thì chí nguy! Không biết rồi từ chối thế nào cho lịch sự được đấy!”

Trang 40

Ta thấy hành động trong lời ở lượt lời (a) là phản bác, đáp lại lượt lời này bà TYPN đã nói khêu khích, làm cho Xuân Tóc Đỏ phải tò mò (b) Đúng như vậy, Xuân Tóc Đỏ đã tò mò và hỏi tiếp sự tình của bà TYPN nói (c) Hành động qua lời

ở lượt lời (d) mà bà TYPN muốn thực hiện là thăm dò thái độ của Xuân Tóc Đỏ

trước quan hệ của hắn và Tuyết Đáp lại hành động thông báo này là hành động sợ hãi trước việc phải lấy Tuyết làm vợ Qua cuộc trò chuyện giữa Xuân Tóc Đỏ và bà TYPN cho thấy hắn ta là một người tinh quái, đến nỗi quá giả dối Ta thấy rằng, Xuân Tóc Đỏ luôn muốn chim được Tuyết, muốn được nhiều người biết đến mối quan hệ giữa hắn với Tuyết càng ngày càng thân thiết Nhưng trái lại hắn tỏ ra rất

hoảng sợ “cái ấy mà thật thì chí nguy!”, điều này thể hiện sự giả tạo của hắn ta, rất

khoái chí nhưng lại tỏ ra rất sợ sệt Những lời đáp của Xuân Tóc Đỏ tỏ ra là một người trong sạch, bị người khác hiểu nhầm và đưa vào chỗ bí Nhưng thật ra, lời nói của hắn ta là gián tiếp thừa nhận điều đó Đồng thời còn cố ý nói như thế để đề cao bản thân, muốn nói với mọi người hắn là một người không quan tâm đến sự giàu có của Tuyết, và để khẳng định mình là một người tử tế, không quan tâm đến sắc đẹp Làm ra vẽ là một người rất khổ tâm, không biết từ chối ra làm sao Từ điều này cho thấy Xuân Tóc Đỏ là một kẻ không chỉ giả dối, mà còn quá gian xảo

Những thói xấu của Xuân Tóc Đỏ có thể nói là tổng hợp của mọi cái xấu, là kẻ đào hoa lại hám danh lợi và gian xảo, nay lại thêm hóng hách, ngạo mạn

Trước những lời mách lẽo của bà TYPN Xuân Tóc Đỏ đã chỉ trách lại rằng:

“Ghê nhỉ! Ấy là tôi mà họ dám nói thế, còn những kẻ khác thì không biết bị đến thế nào nữa? Tôi là ai, đã có anh Văn Minh, bà Phó Đoan, ông phán dây thép, anh đốc tờ Trực Ngôn, và bạn nữa, hiểu rõ cái học thức của tôi Mà những lời nói xấu

vu oan ấy chả của cái thằng Victor Ban ấy thì còn của ai nữa!” [6;tr.139] Trong

lượt lời này, ta thấy hành động trong lời của Xuân Tóc Đỏ là sự ngạc nhiên trước sự nhận xét của người khác chính bản tính và nguồn gốc xấu, tệ hại của hắn Điều này

chứng minh hành động qua lời của hắn ta là khoe khoang Vì thế, điều này càng bộc

lộ được cái tính hóng hách của hắn hơn Xuân Tóc Đỏ đã nói sai, nói trái ngược lại với sự thật về vị trí, địa vị của hắn Là một kẻ lang thang, bụi đời, vô học mà lại tỏ

ra là một người đầy quyền lực, được nhiều người tôn kính, không thể bị xúc phạm

Ngày đăng: 04/10/2015, 22:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w