Trong quyển Đại cương ngôn ngữ học, Đỗ Hữu Châu nhận xét “Bằng cách tự lựa chọn từ để tự xưng và hô người giao tiếp, người nói định một khung quan hệ liên cá nhân cho mình và cho người
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Cần Thơ, 05 – 2011
Trang 2Chương 1 MỘT SỐ VẤN CHUNG VỀ TỪ VÀ TỪ XƯNG HÔ
TRONG TIẾNG VIỆT
1 Từ trong tiếng Việt
1.1 Khái niệm về từ trong tiếng Việt
1.1.1 Các quan niệm khác nhau về từ trong tiếng Việt
1.1.2 Đặc điểm của từ tiếng Việt
1.1.3 Các loại từ tiếng Việt
1.1.3.1 Theo Diệp Quang Ban trong Ngữ Pháp tiếng Việt – tập một
2.1 Khái niệm về từ xưng hô
2.1.1Các cách phân loại từ xưng hô trong tiếng Việt
2.1.2 Phân loại theo từ loại
2.1.2.1 Quan điểm Ngữ pháp học
2.1.2.2 Quan điểm Ngữ dụng học
2.1.2.3 Quan điểm phong cách học
2.2.3 Phân loại theo phạm vi sử dụng
Trang 32.2.3.1 Những từ xưng hô dùng trong gia tộc, thân tộc
2.2.3.2 Những từ xưng hô ngoài xã hội
2.2.3.3 Đặc điểm từ xưng hô trong tiếng Việt
Chương 2 TỪ XƯNG HÔ TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM
CỦA NGÔ TẤT TỐ
1 Vài nét về Ngô Tất Tố và tác phẩm của ông
1.1 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác
1.1.1 Đặc điểm truyện ngắn Ngô Tất Tố
2 Từ xưng hô trong một số tác phẩm Ngô Tất Tố
2.1 Từ xưng hô qua ngôn ngữ đối thoại nhân vật
2.1.1 Một số mô hình xưng hô mang tính ổn định
2.1.1.1 Trong quan hệ gia tộc, thân tộc
2.1.1.2 Quan hệ ngoài xã hội
Chương 3 GIÁ TRỊ CỦA VIỆC SỬ DỤNG TỪ XƯNG HÔ
TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA NGÔ TẤT TỐ
1 SỬ DỤNG TỪ XƯNG HÔ ĐỂ THỂ HIỆN ĐẶC TRƯNG XƯNG HÔ
VÙNG MIỀN
2.SỬ DỤNG TỪ XƯNG HÔ ĐỂ BỘC LỘ BẢN CHẤT, THÁI ĐỘ CỦA MỖI NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM
2.1 Sử dụng từ xưng hô để bộc lộ bản chất nhân vật
2.1.2 Sử dụng từ xưng hô để bộc lộ thái độ nhân vật
3 SỬ DỤNG TỪ XƯNG HÔ ĐỂ THỂ HIỆN TÌNH CẢM, TÂM TRẠNG CỦA MỖI NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM
3.1 Sử dụng từ xưng hô để thể hiện tình cảm nhân vật
3.1.2 Sử dụng từ xưng hô để thể hiện tâm trạng nhân vật
Trang 4DANH MỤC TÁC PHẨM
văn
thưởng Hồ Chí Minh, NXB Văn học
Trang 5NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Cần Thơ, ngày tháng năm 2011
Trang 6NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ PHẢN BIỆN I
Cần Thơ, ngày tháng năm 2011
Trang 7NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ PHẢN BIỆN II
Cần Thơ, ngày tháng năm 2011
Trang 8MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 7
4 Phạm vi nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 8
Chương 1 MỘT SỐ VẤN CHUNG VỀ TỪ VÀ TỪ XƯNG HÔ TRONG TIẾNG VIỆT 9
1 Từ trong tiếng Việt 9
1.1 Khái niệm về từ trong tiếng Việt 9
1.1.1 Các quan niệm khác nhau về từ trong tiếng Việt 10
1.1.2 Đặc điểm của từ tiếng Việt 10
1.1.3 Các loại từ tiếng Việt 10
1.1.3.1 Theo Diệp Quang Ban trong Ngữ Pháp tiếng Việt – tập một 11
1.1.3.1 Nhóm 1 11
1.1.3.2 Nhóm 2 14
1.1.3.2 Theo Nguyễn Hữu Quỳnh trong Ngữ Pháp tiếng Việt 15
1.1.3.2.1 Thực từ 15
1.1.3.2.2 Hư từ 16
1.1.3.2.3 Tình thái từ 17
2 Từ xưng hô 17
2.1 Khái niệm về từ xưng hô 18
2.1.1Các cách phân loại từ xưng hô trong tiếng Việt 18
2.1.2 Phân loại theo từ loại 18
2.1.2.1 Quan điểm Ngữ pháp học 18
2.1.2.2 Quan điểm Ngữ dụng học 21
2.1.2.3 Quan điểm phong cách học 29
2.2.3 Phân loại theo phạm vi sử dụng 30
2.2.3.1 Những từ xưng hô dùng trong gia tộc, thân tộc 30
2.2.3.2 Những từ xưng hô ngoài xã hội 31
Trang 9Chương 2 TỪ XƯNG HÔ TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA
NGÔ TẤT TỐ 35
1 Vài nét về Ngô Tất Tố và tác phẩm của ông 36
1.1 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác 35
1.1.1 Đặc điểm truyện ngắn Ngô Tất Tố 36
2 Từ xưng hô trong một số tác phẩm Ngô Tất Tố 37
2.1 Từ xưng hô qua ngôn ngữ đối thoại nhân vật 38
2.1.1 Một số mô hình xưng hô mang tính ổn định 39
2.1.1.1 Trong quan hệ gia tộc, thân tộc 39
2.1.1.2 Quan hệ ngoài xã hội 54
Chương 3 GIÁ TRỊ CỦA VIỆC SỬ DỤNG TỪ XƯNG HÔ TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA NGÔ TẤT TỐ .75
1 SỬ DỤNG TỪ XƯNG HÔ ĐỂ THỂ HIỆN ĐẶC TRƯNG XƯNG HÔ VÙNG MIỀN 75
2.SỬ DỤNG TỪ XƯNG HÔ ĐỂ BỘC LỘ BẢN CHẤT, THÁI ĐỘ CỦA MỖI NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM 77
2.1 Sử dụng từ xưng hô để bộc lộ bản chất nhân vật 77
2.1.2 Sử dụng từ xưng hô để bộc lộ thái độ nhân vật 79
3 SỬ DỤNG TỪ XƯNG HÔ ĐỂ THỂ HIỆN TÌNH CẢM, TÂM TRẠNG CỦA MỖI NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM 80
3.1 Sử dụng từ xưng hô để thể hiện tình cảm nhân vật 80
3.1.2 Sử dụng từ xưng hô để thể hiện tâm trạng nhân vật 81
KẾT LUẬN 84
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong đời sống xã hội ngày nay, ngôn ngữ được xem là phương tiện giao tiếp giữa người với người thông dụng nhất, hiệu quả nhất của tất cả các dân tộc trên toàn thế giới Khi nói đến vấn đề ngôn ngữ của một quốc gia nào đó, điều đầu tiên chúng ta cần chú ý đến đó là mối quan hệ giữa văn hoá và ngôn ngữ của dân tộc họ, đất nước
họ Bởi lẽ nếu chúng ta muốn tìm hiểu, khám phá về nét đẹp văn hoá của một dân tộc, quốc gia bất kì điều đầu tiên chúng ta cần tìm hiểu đó chính là ngôn ngữ của đất nước
đó, vì ngôn ngữ cũng là một nét văn hoá đặc sắc của dân tộc họ
Nói đến đất nước Việt Nam thì dân tộc ta cũng có một thứ ngôn ngữ riêng của dân tộc ta, đất nước ta Nó không trùng lắp, không giống với bất kì thứ ngôn ngữ của một dân tộc nào, quốc gia nào trên toàn thế giới Đó là ngôn ngữ tiếng Việt, tiếng mẹ
đẻ phải trải qua hàng ngàn năm lịch sử đúc kết nên và chúng mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam
Trong đời sống giao tiếp hàng ngày, để đạt được hiệu quả cao trong giao thì các đối tượng giao tiếp không thể không chú ý đến vai trò của từ xưng hô Các đối tượng giao tiếp phải lựa chọn cách xưng hô, xưng sao cho đúng, hô sao cho phải Để phù hợp với sắc thái, tình cảm và ngữ cảnh giao tiếp
Điều đặc biệt hơn trong biểu hiện của tiếng Việt, hệ thống từ xưng hô quả là một hệ thống ngôn từ phong phú đáng được chúng ta quan tâm và thực hiện đề tài nghiên cứu Vì thông qua từ xưng hô bộc lộ đuợc bản sắc văn hoá con nguời Việt Nam, mà tiêu biểu cho biểu hiện văn hoá đó là tính cộng đồng, tính linh hoạt, tính dân tộc…
Như chúng ta đã biết từ xưng hô trong tiếng Việt vốn dĩ rất phong phú và đa dạng, chúng đa dạng cả về số lượng và chất lượng Chính vì lẽ đó chúng ta không thể
hiểu đơn thuần từ xưng hô là chỉ để dùng “xưng và hô” mà chúng còn thể hiện mối
quan hệ giữa các đối tượng giao tiếp với nhau mà phương tiện để chúng biểu đạt là tình cảm Nhờ đó mà đôi bờ tâm hồn và nhịp cầu tình cảm giữa người với người được nối liền một cách mạch lạc Mặt khác, việc sử dụng từ xưng hô trong giao tiếp còn là
cơ sở, thước đo để đánh giá sự chuẩn mực trong lời nói, cũng như phép lịch sự trong văn hoá giao tiếp của con người Việt Nam
Trang 11Chính vì sự phong phú và không kém phần phức tạp thì từ xưng hô trong t iếng Việt đã trở thành một đề tài thú vị, là mảnh đất mới giàu tìm năng để chúng tôi tiếp cận và khai thác mảnh đất phì nhiêu ấy Riêng bản thân tôi là một sinh viên Ngữ Văn khi có điều kiện tiếp xúc với lớp từ này, ngay lần đầu tiên làm quen với công việc nghiên cứu tôi đã bị cuốn hút, đam mê và muốn tìm hiểu ngay về chúng Vì vậy tôi đã
quyết định chọn đề tài “Từ xưng hô trong một số tác phẩm của Ngô Tất Tố” để làm
luận văn tốt nghiệp cho mình
Bên cạnh đó, việc thực hiện đề “Từ xưng hô trong một số tác phẩm của Ngô
Tất Tố” là điều kiện thuận lợi để người viết có dịp tìm hiểu kĩ hơn, sâu hơn về nhà văn
Ngô Tất Tố và tác phẩm của ông Đồng thời, đây cũng là cơ hội tốt để chúng tôi ôn lại kiến thức đã đựơc học, nhờ đó mà chúng tôi tích lũy được khá nhiều kinh nghiệm về phương pháp nghiên cứu tác phẩm văn chương và thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học
2 Lịch sử vấn đề
Nghiên cứu đề tài “Từ xưng hô trong một số tác phẩm của Ngô Tất Tố” là một
công việc khá mới mẻ, hầu như chưa ai thực hiện một cách hoàn hảo và toàn diện Tuy nhiên, việc nghiên cứu từ xưng hô trong tiếng Việt và tác phẩm của Ngô Tất Tố thì có rất nhiều tác giả đã thưc hiện
Một số nhận xét và quan điểm của một số nhà nghiên cứu về ngôn ngữ học ở Việt Nam về hệ thống từ xưng hô trong tiếng Việt
_ Từ góc độ Ngữ pháp tiếng Việt: Hầu như chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu riêng về từ xưng hô trong tiếng Việt, vì vậy các nhà Ngữ pháp học chỉ nghiên cứu
từ xưng hô chủ yếu về mặt từ loại mà chủ yếu là đại từ (đại từ xưng hô)
Trong quyển Ngữ pháp tiếng Việt của Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia có nhận xét về đại từ xưng hô như sau: “Cách xưng hô có chú ý đến những quan hệ xã hội, tình cảm rất tế nhị, chứ không phải chỉ phân biệt các “ngôi” thứ nhất, thứ nhì, thứ ba, và các “số” nhiều, ít ” [30; 110] Ở đây, các tác giả đã đặt đại từ xưng hô trong nhóm “đại từ sự vật”
Cùng chung quan điểm với các quyển trên là quyển Ngữ pháp tiếng Việt của tác
giả Nguyễn Hữu Quỳnh Nhưng ở đây tác giả đã đặt danh từ thân tộc vào nhóm các
đại từ xưng hô lâm thời, theo ông:“ Đại từ xưng hô trong tiếng Việt bao gồm các các
Trang 12đại từ chuyên dùng để xưng hô và các đại từ xưng hô lâm thời” [22; 151] Các đại từ
xưng hô lâm thời ở đây được hiểu là các danh từ thân tộc
Trong Ngữ pháp tiếng Việt, Diệp Quang Ban có viết:“Đại từ xưng hô dùng thay thế và biểu thị các đối tượng tham gia giao tiếp” [1; 111] Ông chia đại từ xưng
hô ra thành đai từ xưng hô dùng ở ngôi xác định và đại từ xưng hô dùng ở nhiều ngôi linh hoạt
Nhìn chung, điểm tương đồng giữa các tác giả trên là đã xem xét và nghiên cứu
từ xưng hô dưới góc độ là đại từ xưng hô, với chức năng thể hiện vai giao tiếp
_ Từ góc nhìn Ngữ dụng học: Nổi bật nhất là tài liệu nghiên cứu của Đỗ Hữu Châu
Trong quyển Đại cương ngôn ngữ học, Đỗ Hữu Châu nhận xét “Bằng cách
tự lựa chọn từ để tự xưng và hô người giao tiếp, người nói định một khung quan hệ liên cá nhân cho mình và cho người đối thoại với mình” [5; 75].Ông đã nghiên cứu từ
xưng hô trên các bình diện: Hệ thống từ xưng hô, những nhân tố chi phối việc dùng từ xưng hô trong giao tiếp và một phần trong sự khác nhau giữa xưng hô trong tiếng Việt và tiếng Anh
Trong Cơ sở ngữ dụng học ông nhận xét: “Xưng hô là hành vi chiếu vật, ở đây là quy chiếc các đối ngôn trong ngữ cảnh, nó sẽ gắn diễn ngôn người nói, ngừơi tiếp thoại Xưng hô thể hiện vai giao tiếp” [4; 264] Đỗ Hữu Châu đã đi vào phân tích
một cách sâu sắc hệ thống từ xưng hô, nêu lên được những đặc điểm cũng như phạm
vi và cách thức sử dụng của từ xưng hô trong tiếng Việt
_ Từ góc độ Phong cách học: Đinh Trọng Lạc có thể xem là một nhà Phong cách học tiêu biểu cho việc nghiên cứu từ xưng hô trên phương diện phong cách học:
Ông nhận xét:“Phong cách học quan tâm chủ yếu đến cái giá trị biểu đạt biểu cảm - cảm xúc cái giá trị phong cách của các phương tiện ngôn ngữ trong hoàn cảnh giao tiếp tiêu biểu, với những điều kiện giao tiếp nhất định trong quá trình giao tiếp” [15; 10] Qua nhận xét trên thì từ xưng hô và các phưong tiện ngôn ngữ khác
đều đựoc phong cách học nhìn nhận và xem xét trên phương diện là đặc điểm tu từ và phong cách chức năng ngôn ngữ
Trong Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt Cù Đình Tú nhận xét:
“Trong tiếng việt từ xưng hô, cách xưng hô, mô hình xưng hô là phưong tiện biểu cảm,
là phương tiện phong cách” [23; 168 ] Ông cho rằng ngoài các đại từ nhân xưng và
từ chỉ quan hệ họ hang thân thuộc thì còn lấy cả những tiếng đệm giữa họ và tên của
Trang 13nữ giới (thị) để dùng làm từ xưng hô,thậm chí còn dùng cả cách nói trống không (từ
xưng hô zero) để xưng hô [23; 166]
Cũng giống như các nhà Ngữ dụng học, Ngữ pháp học các nhà Phong cách học cũng đã đưa ra khá nhiều ý kiến và quan điểm khác nhau, không ý kiến nào đồng nhất với ý kiến nào Nhưng họ đã cho thấy được sự phong phú và phức tạp của từ xưng hô
và đại từ xưng hô trong tiếng Việt
Với vai trò, vị trí xứng đáng trong nền văn học hiện thực phê phán 1930 – 1945,
Ngô Tất Tố và tác phẩm của ông trong đó có Tắt đèn, Việc làng, Lều chõng được đông đảo các nhà nghiên cứu, phê bình và đọc giả chú ý Trong quyển Ngô Tất Tố - tác giả và tác phẩm có phần thư mục nghiên cứu về Ngô Tất Tố Mai Hương và Tôn
Phương Lan đã giới thiệu đến độc giả hơn 90 tư liệu nghiên cứu Với các bài viết, ý kiến nhận xét hết sức cụ thể và tiêu biểu sau:
Ngày 31/10/1939, báo “Thời vụ” có bài viết “Tắt đèn của Ngô Tất Tố” do Vũ
Trọng Phụng viết: Vũ Trọng Phụng cho rằng trên văn đàn báo lúc bấy giờ, tiểu thuyết
về nổi khốn khó của người nông dân rất thiếu thốn bởi “Số nguời lưu tâm đến mọi điều khổ cực của dân quê rất nhiều, song số người đủ tư cách viết nổi và cho ra đời một tiểu thuyết về dân quê lại rất hiếm” [13; 19 ] Nguyên nhân của việc này là do làng
văn ít có người sống ở thôn quê và ít người biết đến chữ nho – hai yếu tố cơ bản giúp
nhà văn “có đủ thẩm quyền” viết về dân quê
Tiếp đó Vũ Trọng Phụng khẳng định giá trị nội dung của tiểu thuyết Tắt đèn theo ông: “Tắt đèn là một áng văn chương thiên hạ đang đợi Tắt đèn là một tiểu thuyết có luận đề xã hội – điều ấy, cố nhiên, hoàn toàn phụng sự dân quê, một áng văn gọi là kiệt tác tồng lai chưa từng thấy mà nó lại là của một tác giả đã được cái mai nhiều hơn các nhà văn khác là đã được sinh sống ở thôn quê, cho nên có đủ thẩm quyền” [18; 200 ]
Vũ Trọng Phụng còn nhấn mạnh giá trị nghệ thuật của tác phẩm Tắt đèn: “Thiệt thế đọc quyển Tắt đèn này những tác giả khó tính cũng chịu rằng óc quan sát của Ngô Tất Tố về những cảnh làm ruộng, thu thuế, chê chán sôi thịt, hạ lạm, ức hiếp, bán vợ
đợ con của đám dân quê quả là một thứ óc quan sát rất tinh tường, chu đáo, cho đến cách hành văn nữa cũng là mới mẻ, sáng sủa, tưởng rằng chỉ có nhà văn thuộc phái Pháp học thì mới có thể lanh lợi, phô diễn một cách linh hoạt đến thế” [18; 201] Cuối cùng tác giả kết luận Tắt đèn là phần thưởng xứng đáng cho Ngô tất Tố
Trang 14Ngày 15/6/1939, trên “Báo mới” số 04 Trần Minh Tước có bài viết: “Một nhà văn của dân quê – Ngô Tất Tố trong Tắt đèn” Trong bài viết này, Trần Minh Tứớc chủ yếu viết về nội dung phản ánh của Tắt đèn mà chưa đề cập đến tài năng của Ngô
Tất Tố
Năm 1963, trên tạp chí văn học số 03, GS Phong Lê có bài viết:“Những đóng góp của Ngô Tất Tố trong Tắt đèn” Ở đây tác giả chủ yếu nói về nội dung của tác
phẩm GS Phong Lê khẳng định đây là một tác phẩm văn học có đóng góp lớn cho nền
văn học nước nhà Cuối bài viết, tác giả có đề cập đến nghệ thuật của Tắt đèn nhưng
rất ít Về mặt nghệ thuật tác giả chỉ dừng lại ở sự khái quát tài khéo léo trong nghệ
thuật dẫn dắt truyện, trong sự miêu tả cảnh ngộ bi kịch “Nhưng cái khéo léo trong nghệ thuật dẫn dắt truyện, trong sự miêu tả cảnh ngộ bi kịch của Ngô Tất Tố đã có sức nâng những nổi đau thương vốn thường sảy ra trong cuộc đời lên một mức độ cao gần như vượt quá sức chịu đựng của con người” [18; 253 ]
Trong Lịch sử văn học Việt Nam (1930 – 1945, tập 5), GS Nguyễn Đăng Mạnh
có bài viết Tắt đèn của Ngô Tất Tố” trong bài viết này, tác giả khẳng định: “Tắt đèn là một trong những thành tựu nghệ thuật xuất sắc nhất trong dòng văn học hiện thực phê phán Việt Nam trước cách mạng tháng tám” [18; 271]
Tác giả đã phân tích sâu sắc những thành công về mặt xây dựng nghệ thuật của Ngô Tất Tố như nghệ thuật xây dựng kết cấu tác phẩm, xây dựng tính cách điển hình, nghệ thuật kể chuyện, nghệ thuật miêu tả và việc sử dụng ngôn ngữ nông thôn Bên cạnh đó, Nguyễn Đăng Mạnh còn chỉ ra một số hạn chế về nghệ thuật của Ngô Tất Tố
trong Tắt đèn cuối bài viết tác giả kết luận: “Trên đường học hỏi, trau dồi nghệ thuật
để tiến nhanh từ một nhà nho học tới một nhà tiểu thuyết hiện đại, Ngô Tất Tố khó lòng tránh khỏi những chổ chưa “nhuần nhuyễn” Nhưng nhìn chung với quá trình lao động nghệ thuật bền bỉ, chân thành, với khả năng sáng tạo dồi dào, với tư tưởng tiến
bộ, Ngô Tất Tố đã đạt tới những thành tựu vẽ vang” [18; 274]
Cũng trong Lịch sử văn học Việt Nam (1930 – 1945; tập 5), GS Nguyễn Đăng Mạnh có bài viết “Lều chõng và Việc làng của Ngô Tất Tố” Đối với tác phẩm Việc Làng GS Nguyễn Đăng Mạnh xem đây là một tập phóng sự về những thủ tục nặng nề
về nông thôn việt nam trước cách mạng tháng Tám Qua Việc Làng tác giả cho rằng
Ngô Tất Tố đã nêu ra được nguyên nhân của những tục lệ quái gở và tình cảm của Ngô Tất Tố đối với những con người nhỏ bé ở nông thôn Cuối cùng, Nguyễn Đăng Mạnh
Trang 15chỉ ra nghệ thuật của tập phóng sự này:“Nghệ thuật phóng sự của Ngô Tất Tố là khuynh hướng đi gần với lời viết truyện ngắn Mười bảy chương sách là mười bảy câu truyện về hủ tục mà quanh đi quẩn lại là chủ yếu nạn xôi thịt nhưng người đọc không cảm thấy đơn điệu Kể chuyện tác giả nói chung là linh hoạt” [18; 386 ]
Năm 1997 trong quyển Văn học Việt Nam 1930- 1945 có bài viết “Tắt đèn của Ngô Tất Tố” Trong bài viết này, Phan Đệ Cư khẳng định giá trị hiện thực và giá
trị nhân đạo của tác phẩm Kết thúc tác phẩm tác giả có vài dòng nhận xét về nghệ
thuật của Tắt Đèn Đó là “Một thứ nghệ thuật đi vào chiều sâu, vào cái tinh túy, bản chất Tắt đèn học ở văn học dân gian, đặc biệt ở tục ngữ, phương ngôn các nghệ thuật tập trung cô đúc, càng nén lại thì càng gây nên những vụ nổ lớn, càng có sức vọng xa rộng trong không gian ” [18; 309 ]
Tác giả Trương Chính cũng có bài viết: Phóng sự và truyện kí của Ngô Tất Tố
qua đó khẳng định giá trị và tài năng Ngô Tất Tố về việc sử dụng nghệ thuật trong tác phẩm của mình:
“Ngô Tất Tố đã sử dụng mọi phương thức từ nói bóng gió, cười mỉa mai, cười ha hả, cho đến cách bề ngoài tán dương, bề trong công kích…khiến đối thủ không biết nói năng gì được” [28; 432]
Tác giả Vũ Quần Phương có bài viết: “Ngô Tất Tố - Nhà báo” chủ yếu là nhấn mạnh về cái tâm của người làm báo Và Ngô Tất Tố là người có ý thức và trách nhiệm trước đời sống xã hội nên ông luôn có các ý kiến kịp thời về các vấn đề xã hội đương thời Rốt cuộc chỉ điểm sơ về Ngô Tất Tố … “Sử dụng giọng văn hài hướt rất sắc đôi lúc ông khen để mà lên áng, ủng hộ mà đá phá, mát mẻ, trào lộng để mà ẩn dấu một phẩn nộ, câm giận” [28; 458 ]
Trong quyển Phê bình - Bình luận văn học, Nguyễn Huy Tưởng, Ngô Tất Tố,
Tô Hoài, Vũ Trọng Phụng có nhận xét về nghề làm báo và tên tuổi của Ngô Tất Tố trong làng báo: “Ngô Tất Tố là một nhà báo phái Nho hoc và là một tay ngôn luận xuất sắc trong đám nhà Nho Làng báo Bắc Kỳ, TrungKỳ, Nam Kỳ, cũng như độc giả, hẳn không ai mà không biết danh tiếng của người và đời từ hồi thi sĩ Nguyễn Khắc Hiếu chủ trương Annam tạp chí đã viết nhiều bài đại luận khảo cứu ,bút chiến, phê bình, nhiều chuyện lịch sử rất có giá trị, trong nhiều tuần báo và tạp chí, cả Nam lẫn Bắc Với cái sự đời hoan nghênh ấy, Ngô Tất Tố chẳng cần ai giới thiệu nữa, nếu ta chỉ kể trong phạm vi ngôn luận…” [26 143]
Trang 16Nhìn chung có khá nhiều công trình nghiên cứu về tác phẩm Tắt đèn, Lều chõng, Việc làng của Ngô Tất Tố Điều đó chứng tỏ tác phẩm của Ngô Tất Tố có sức
hút rất riêng đối với các nhà phê bình và độc giả Do xuất phát từ những yêu cầu của
đề tài và hạn chế của kiến thức, thời gian thực hiện nên người viết chỉ khảo sát ở khía
cạnh “từ xưng hô” trong Tắt đèn, Lều chõng, Việc làng, cụ thể cấu trúc gồm hai
chương không đổi
3 Mục đích
Thực hiện đề tài “Từ xưng hô trong một số tác phẩm của Ngô Tất Tố” người
viết có dịp đi sâu vào nghiên cứu, tìm hiểu, những nét mới lạ, độc đáo được thể hiện ở việc sử dụng từ xưng hô trong tác phẩm của Ngô Tất Tố
Ngoài ra, việc thực hiện đề tài này còn khẳng định giá trị và tầm quan trọng của việc sử dụng từ xưng hô trong tác phẩm của Ngô Tất Tố Từ đó giúp chúng ta có cái nhìn bao quát hơn, toàn diện hơn về sự đóng góp của nhà văn đối với dòng văn học hiện thực phê phán Việt Nam nói riêng và nền văn học Việt Nam nói chung
Bên cạnh đó, việc nghiên cứu đề tài “Từ xưng hô trong một số tác phẩm của
Ngô Tất Tố” đã phần nào giúp cho người viết có dịp cũng cố lại kiến thức đã được học
và am hiểu sâu hơn, rộng hơn về nghệ thuật và cách dùng từ xưng hô trong tác phẩm của nhà văn Ngô Tất Tố Đồng thời, việc nghiên cứu đề tài này còn giúp cho chúng tôi biết được nét văn hoá độc đáo về nghệ thuật xưng hô trong giao tiếp của người Việt Nam nói chung và của người dân vùng đất xứ Bắc nói riêng
Đi sâu vào nghiên cứu đề tài này, ngoài những vấn đề được nêu trên Thì việc
nghiên cứu và thực hiện đề tài “Từ xung hô trong một số tác phẩm của Ngô Tất Tố”
còn phần nào giúp người viết tiếp cận được với phương pháp nghiên cứu và thực hiện
đề tài khoa học Nó trang bị cho người viết kĩ năng, kiến thức cơ bản góp phần làm nền tảng cho những công trình nghiên cứu sau này
4 Phạm vi nghiên cứu
Để thực hiện đề tài “Từ xưng hô trong một số tác phẩm của Ngô Tất Tố” trứơc
tiên chúng tôi đi vào tìm hiểu về lí thuyết và khảo sát những công trình nghiên cứu về
từ xung hô trong tiếng Việt từ góc nhìn Ngữ dụng học, Ngữ pháp học và Phong cách học tiếng Việt …
Với yêu cầu đề tài đặt ra, điều đầu tiên mà người viết quan tâm là tiến hành khảo sát những tài liều, bài viết liên quan đến các công trình nghiên cứu về từ xung hô
Trang 17trong tiếng việt Đặc biệt là những công trình nghiên cứu, tài liệu, bài viết liên quan đến tác phẩm, tiểu sử và sự nghiệp sáng tác văn chương của nhà văn Ngô Tất Tố
Như chúng ta đã biết Ngô Tất Tố cũng là một trong những cây bút tiêu biểu của văn học Việt Nam trung đại nói riêng và trong làng văn học Việt Nam nói chung Chính vì vậy tác phẩm của ông đóng góp cho kho tàng văn học Việt Nam không phải
là ít Để đáp ứng yêu cầu đề tài luận văn đặt ra, để đảm bảo tính chính sát và đạt hiệu quả cao trong quá thực hiện, người viết chỉ khảo sát trong phạm vi một số tác phẩm
tiêu biểu của Ngô Tất Tố cụ thể là các tác phẩm sau: Tắt đèn, Lều chõng, Việc làng
5 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành tốt luận văn này, trong quá trình làm việc chúng tôi đã lựa chọn một số phương pháp nghiên cứu tiêu biểu sau:
sát, phân loại và thống kê việc sử dụng “Từ xưng hô trong một số tác phẩm của Ngô Tất Tố”
hành phân tích, chứng minh để làm nổi bật lên giá trị của việc sử dụng “Từ xưng hô trong một số tác phẩm của Ngô Tât Tố”
viết còn tiến hành so sánh việc sử dụng “Từ xưng hô trong một số tác phẩm của Ngô
Tất Tố” với một số nhà văn khác: Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Ngọc Tư, Anh Đức, Nam
Cao … để thấy được nét riêng, nét độc đáo trong tác phẩm của Ngô Tất Tố Qua đó cũng cho ta thấy được tài năng của việc sử dụng từ xưng hô trong tác phẩm của nhà văn
Ngoài những phương pháp trên, trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi còn
sử dụng một số phương pháp khác như: tập hợp, phân loại tư liệu, lập biểu mẩu để phục vụ cho quá trình trình bày luận văn
Các phương pháp trên được chúng tôi thực hiện một cách đồng bộ, hợp lí, lôgíc
và mang tính khoa học cao
Trang 18Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỪ VÀ TỪ XƯNG
HÔ TRONG TIẾNG VIỆT 1.Từ trong tiếng Việt
1.1 Khái niệm về từ trong tiếng việt
Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với những kiểu nhất định, lớn nhất trong tiêng Việt và nhỏ nhất để tạo câu
Từ là những đơn vị mà với chúng, ngôn ngữ thực hiện chức năng giao tiếp tư
duy thông qua thao tác kết hợp với chúng với nhau Những đơn vị như vậy là “ từ”
1.1.1 Các quan niệm k hác nhau về từ trong tiếng Việt
Theo quan niệm của tác giả Đỗ Hữu Châu:“Từ của tiếng Việt là một hoặc một
số âm tiết cố định bất biến, có ý nghĩa nhất định, năm trong một phương thức (kiểu cấu tạo) cấu tạo nhất định, tuân theo những kiểu ngữ pháp nhất định lớn nhất trong từ vựng và nhỏ nhất để cấu tạo câu” [6; 14]
Theo quan niệm của tác giả Nguyễn Thiện Giáp:“Từ của tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có ý nghĩa để tạo ra câu nói; nó có hình thức, có một âm tiết, một khối viết liền” [11; 168]
Theo tác giả Đái Xuân Ninh: “Từ là đơn vị cơ bản của cấu trúc ngôn ngữ ở giữa hình vị và cụm từ Nó được cấu tạo từ một hay nhiều đơn vị ở hàng ngay sau nó tức là hình vị và lập thành một khối hoàn chỉnh” [21; 24 ]
Theo tác giả Nguyễn Hữu Chỉnh – Nguyễn Thị Thu Thủy: “Từ là đơn vị cơ bản và quan trọng nhất của ngôn ngữ, là đơn vị có sẵn, có tính hiện thực cao nhất của ngôn ngữ” [7; 192 ]
Theo tác giả Nguyễn Thị Thu Thủy: “Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ có nghĩa, mang tính có sẵn, cố định, bắt buộc, nhỏ nhất trực tiếp tạo câu” [27; 6]
Theo tac giả Hồ Lê: “Từ là đơn vị ngôn ngữ có chức năng định danh phi liên kết hiện thực, hoặc có chức năng mô phỏng tiếng động, có khả năng kết hợp tự do, có tính vững chắc về cấu tạo và tính nhất thể về ý nghĩa” [14; 104 ]
Theo quan niệm của tác giả Lưu Văn Lăng: “Những đơn vị dùng tách biệt nhỏ nhất mới là từ Có thể nói từ là đơn vị tách biệt nhỏ nhất nói cách khác từ là ngữ đoạn (tĩnh) nhỏ nhất [16; 213] Và “Từ có thể gồm nhiều tiếng không tự do hoặc chỉ một
Trang 19tiếng tự do hay nhiều tiếng tự do kết hợp lại không theo quan hệ thuần cú pháp tiếng Việt”
[16; 214]
1.1.2 Đặc điểm của từ trong tiếng Việt
Qua rất nhiều quan niệm khác nhau về từ nhưng xét cho cùng từ trong tiếng Việt có đặc đểm chung nổi bật là: Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ có nghĩa, mang tính có sẵn, cố định, bắt buộc, nhỏ nhất trực tiếp tạo câu, được thể hiện cụ thể như sau:
- Từ tiếng Việt có thể đơn âm tiết hoặc đa âm tiết
Ví dụ: Sách vở, bà, ghế
Còn những từ như: Quốc gia, sơn hà, dễ dàng là những từ được vay mượn từ
tiếng Hán Trong nguyên ngữ chúng được sử dụng như từ, khi xác nhập vào Việt Nam trong quá trình sử dụng người Việt đã có sự sáng tạo, với đơn vị cấu tạo từ Có nghĩa là chúng phải kết hợp với một yếu tố khác mơi hoạt động được tự do trong câu
như quốc gia, sơn tinh Như vậy bên cạnh những từ đơn âm tiết như sách, tập, nhà , tiếng Việt cũng có những từ đa âm tiết như: quốc gia, tổ quốc, dễ dãi
- Từ tiếng Việt có thể có biến thể ngữ âm hoặc ngữ nghĩa nhưng không có biến thể hình thái học
Ví dụ: Khác với tiếng Việt trong tiếng Anh có sự biến thể thái hình học như: to
go co thể biến thành went, gone tùy theo các quan hê, cấu trúc câu Còn trong tiếng Việt thì không có sự biến thể hình thái học như: Khi người Miền Bắc nói trăng, trời uống lưỡi, trong khi người Miền Nam nói Là giăng, giời, đó không phải là biến thể
hình thái học mà do thói quên phát âm của địa phương
1.1.3 Các loại từ trong tiếng Việt
- Các tiêu chuẩn để phân định từ loại trong tiếng Việt:
+ Tiêu chuẩn về ý nghĩa khái quát
+ Tiêu chuẩn về khả năng kết hợp
+ Tiêu chuẩn về chức năng cú pháp
Ba tiêu chuẩn này sẽ được vận dụng theo những cách và những mức độ thích hợp trong quá trình định loại các lớp từ tiếng Việt
Trang 20BẢNG TÓM TẮT CÁC LỚP TỪ KHÁI QUÁT TIẾNG VIỆT
-
-
+ + + +
Theo tác giả Diệp Quang Ban trong Ngữ Pháp Tiếng Việt – tập một Hệ
thống từ loại trong tiếng Việt có thể sắp xếp thành hai nhóm, mỗi nhóm gồm các
- Danh từ chung và danh từ riêng
Ví dụ: Lan, Quần áo
Trang 21- Danh từ tổng hợp và danh từ không tổng hợp
Ví dụ: Thợ thuyền, Binh lính
- Danh từ vật thể, danh từ chất thể, danh từ trừu tƣợng, danh từ chỉ hiện tƣợng thời tiết
Ví dụ: Chợ, nhà, bầy gia súc, làn gió…
- Danh từ đơn vị
Ví dụ: Cái, thùng, lít
- Danh từ đếm đƣợc và danh từ không đếm đƣợc
Ví dụ: Hai cây tre, một cái bát
Ngoài ra, danh từ còn có một số khả năng, chức năng khác:
Danh từ có khả năng kết hợp với đại từ chỉ định: này, ấy, nọ… danh từ còn có khả năng kết hợp trực tiếp hay gián tiếp với số từ
Danh từ có đầy đủ chức năng cú pháp của thực từ, và danh từ trong mối quan
hệ với động từ, tính từ, nét riêng của danh từ là ít đƣợc dùng làm vị ngữ đặc trực tiếp sau chủ ngữ
Ví dụ: ( Kiểu câu có cấu tạo vị ngữ là + danh từ)
Chú ý: Danh từ tiếng Việt cũng có thể làm vị tố trong câu không cần trợ động từ
Ngoài ra, động từ còn kết hợp với thực từ (danh từ) nhằm phản ánh trong mối
quan hệ nội dung vận động quá trình Khả năng kết hợp với “hãy”, “đừng”, “chớ” có
tác dụng qui loại động từ (danh từ và tính từ chẳng hạn, không có khả năng kết hợp
với “hãy”, “đừng” “chớ”)
Ví dụ: Chị hãy “bình tĩnh” lại (TL I,II, 300)
Cũng nhƣ danh từ, động từ có nhiều khả năng cua pháp khác nhau Nhƣng chức năng phổ biến và quan trọng nhất là làm vị ngữ trong câu , tạo câu và có vị trí đứng sau chủ ngữ
Ví dụ: Chạy, nhảy
Trang 22+ Tính từ chỉ thang độ và tính từ không chỉ thang độ
Về khả năng kết hợp, tính từ có khả năng kết hợp với phụ từ, nhưng không kết
hợp với “hãy”, “đừng”, “chớ” Tính từ cũng có thể kết hợp với thực từ đi kèm
Làm vị ngữ trong câu có thể xem là chức năng chính của tính từ, nhưng tính từ cũng được dùng kèm với danh từ và động từ để bổ ngữ cho danh từ và động từ
Khả năng kết hợp phổ biến nhất của số từ là được dùng kèm với danh từ để biểu thị số lượng của sự vật được nêu ở danh từ (trong một số trường hợp hạn chế, số
từ cũng có từ đi kèm như: khoảng chừng, hơn…)
Số từ đảm nhiệm một số chức năng cú pháp (làm chủ ngữ và vị ngữ) Nhưng bị hạn chế trong những điều kiện nhất định của kiểu kết cấu câu trong văn bản
- Số từ có thể chia thành hai lớp con:
Do chức năng thay thế, nên đại từ hoạt đông mạnh trên trục đối đoạn (hệ hình)
mà rất hạn chế hoạt động trên trục cú đoạn (kết hợp) Đại từ không chỉ thay thế cho
Trang 23một thực từ (danh từ, động từ, tính từ) mà còn thay thế cho kết hợp từ (cụm từ, câu ,đoạn)
Đại từ có khả năng đảm nhiệm cú pháp của thực từ được thay thế Ngoài ra, thực từ còn dùng thay thế và chỉ trỏ cho người và sự vật tham gia quá trình giao tiếp
- Đại từ có thể chia thành hai lớp nhỏ:
Về khả năng kết hợp, vị từ có khả năng kết hợp phổ biến với phụ từ: đã, đang,
sẽ, vẫn… và không kết hợp được với từ chỉ định: này, nọ, đấy…
Về chức năng cú pháp: Vị từ có quan hệ thông báo với chủ thể trong chức năng
ít có khả năng làm thành phần chính trong câu Mà chỉ có thể dùng phó từ để làm
Trang 24chứng cho việc phân loại động từ và tính từ Phó từ đƣợc chia thành các nhóm nhỏ sau:
Nhóm phó từ thời gian: đã, từng, mới, sẽ, sắp,…
Nhóm phó từ so sánh và nhóm phó từ chỉ tiếp diễn: cũng, đều, vẫn, chứ, còn, nữa, cùng …
Nhóm phó từ phủ định, khẳng định: không, chẳng, chƣa có,…
Nhóm phó từ trình độ: rất, lắm, quá, cựu, kì, hơi, khí, khá,…
Nhóm phó từ sai khiến: háy, đừng, chớ,…
Về khả năng kết hợp và khả năng cú pháp, kết từ đƣợc dùng để nối các từ, các kết hợp từ, các câu và đoạn văn có quan hệ cú pháp Có hai loai lớp kết từ đó là kết từ chính phụ và két từ đẳng lâp
Ví dụ: Quần áo của tôi để đấy, tôi từ giặt lấy
Ví dụ: Rồi lại cả vợ tôi nữa, ông ạ
Theo Nguyễn Hữu Quỳnh trong Ngữ Pháp Tiếng Việt đã chia hệ thống từ loại tiếng Việt ra thành ba loại: Thực từ, hƣ từ và tình thái từ
Thực từ: Bao gồm danh từ, động từ, tính từ,số từ, đại từ
Trang 25Ví dụ: To, nhỏ, tốt, xấu
+ Số từ
Số từ là những từ chỉ số lượng, và chỉ thứ tự của sự vật Chức năng chủ yếu của
số từ là làm thành tố phụ trong cụm danh từ.Số từ có thể chia ra: Số từ chỉ số lượng chính xác, số từ chỉ số lượng phỏng chừng, số từ chỉ thứ tự
Ví dụ: Hai mươi, đôi ba, nhất, nhì
Trang 26Ví dụ: Ôi, ạ, than ôi
2 Từ xƣng hô trong tiếng Việt
2.1 Khái niệm về từ xƣng hô trong tiếng Việt
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu trong Cơ sở ngữ dụng học có viết: “Xưng hô là hành
vi chiếu vật, ở đây là qui chiếu các đối ngôn trong ngữ cảnh, nó gắn diễn ngôn người nói, người tiếp thoại Xưng hô thể hiện vai giao tiếp” [4; 264 ]
Còn trong quyển Đại từ điển tiếng Việt định nghĩa về từ xƣng hô là “Tự xưng mình và gọi người khác trong giao tiếp hoặc trong hư từ” [29; 1880 ] Nhƣng trong
“Từ điển tiếng Việt 1999 – 2000” cho rằng xƣng hô là: “Biểu thị bằng lời bậc của mình (xưng) và bậc của người khác (hô) trong trật từ xã hội, gia đình, họ hàng” [9;
1827 ] Còn trong Từ điển tiếng Việt thì định nghĩa xƣng hô: “Tự xưng và gọi người khác là ai đó với nhau nhằm làm rõ mối quan hệ giữa hai bên” [11; 954 ]
Trong giáo trình Phong cách học tiếng Việt của tác giả Nguyễn Văn Nở đã có định nghĩa về từ xƣng hô: “Từ xưng hô là lớp từ dùng để xưng và gọi đối tượng khi giao tiếp” [20; 53] Còn trong tài liệu Ngữ dụng học – Tài liệu đào tạo giáo viên tiểu học trình độ đại học hai tác giả Nguyễn Thị Thu Thuỷ và Nguyễn Thị Ngọc Điệp cho rằng: “Từ xưng hô là những từ dùng để xưng gọi, với tư cách ngôi, một yếu tố có liên quan đến nhân tố giao tiếp Từ xưng hô dùng để chiếu vật và giao ti ếp” [25; 30 ].Trong luận văn “Từ xưng hô trong tác phẩm Nam Cao, 05 – 2009” quan niệm: “Từ xưng hô là những từ dùng để tự xưng và gọi đối tượng khi giao tiếp” [19; 8]
Từ những ý kiến của các tác giả, trong luận văn này chúng tôi quan niệm: Từ xƣng hô là những từ dùng để xƣng gọi, với tƣ cách ngôi, một yếu tố có liên quan đến nhân tố giao tiếp Từ xƣng hô dùng để chiếu vật và giao tiếp
Trang 272.2 Các cách phân loại từ xưng hô trong tiếng Việt
2.2.1 Phân loại theo từ loại
Xét trong tổng thể khách quan, từ xưng hô là một bộ phận khá quan trọng của
hệ thống từ loại tiếng Việt Chúng được phân chia dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng cách phân chia theo từ loại là cách phân chia thông dụng và phổ biến nhất Do
sự phức tạp, đa dạng và tính chất đăc thù phân môn nên các tác giả đã nghiên cứu từ xưng hô dưới nhiều góc độ khác nhau cụ thể là:
2.2.2 Quan điểm Ngữ pháp học
Ngữ pháp học truyền thống đồng nhất từ xưng hô và đại từ xưng hô Theo các tác giả thì thừơng chia từ xưng hô ra thành hai nhóm riêng biệt: đại từ xưng hô chuyên dùng và đại từ xưng hô lâm thời
Theo quan điểm Ngữ pháp học nhóm đại từ xưng hô chuyên dùng có những đặc điểm đáng chú ý sau:
- Những từ tôi, tao, tớ, chúng tôi, chúng tớ là những từ chuyên dùng làm lời “xưng”
của người nói
- Những từ mày, bay, cậu, ( tớ - cậu), (tao – mày) là những từ chuyên dùng cho
người nghe (gọi hô)
- Có những từ dùng gộp cả người nói (xưng) và người nghe như: ta, chúng ta,
chúng mình…
- Đại từ “mình” có thể chỉ người nói, là đại từ tự xưng Có thể chỉ người nghe khi dùng trong sự đối xứng với đại từ “ta” Có thể chỉ người đã được nói đến trước đó
ở trong câu, tức là tự xưng của ngôi 1, ngôi 2, ngôi 3
- Đại từ “tôi” dùng để “xưng” trong giao tiếp xã hội có khác quan hệ thân
thuộc
- Đại từ “nó” chưa được dùng rộng rãi và phổ biến, còn là một trở ngại cho
giao tiếp xã hội
Theo tác giả Lê Biên trong Ngữ pháp tiếng Việt, tập một gọi nhóm đại từ xưng
hô chuyên dùng này là các đại từ xưng hô gốc, đích thực và nó có số lượng khá ít Các
đại từ tao, ta, mày, nó, hắn chỉ xuất hiện ở các sắc thái biểu cảm không lịch sự (thân
mật, suồng sã – thô tục, thông thường)
Trang 28Đối với nhóm đại từ xưng hô lâm thời thì ở các tác giả có sự phân chia không
giống nhau Theo tác giả Lê Biên trong Từ loại tiếng Việt hiện đại, tác giả gọi nhóm đại từ xưng hô lâm thời là những “yếu tố được dại từ hóa dùng để xưng hô” [3; 123]
- Những danh từ đã trở thành đại từ thực sự: tôi, tớ, mình hoặc còn dấu ấn danh từ như: Chàng, nàng, thiếp, người, ngài, người ta…
Những danh từ lâm thời đảm nhiệm chức năng đại từ ,đó là những từ chỉ người quan
hệ thân tộc, thân thuộc như: Cụ, ông, bà, cha, mẹ, chú, bác, cậu, cô, dì, thím, mợ,
chị, em, con, cháu… Những từ như: trai, gái, ruột, họ… không được xưng hô trong
gia đình và ngoài xã hội Hai yếu tố “nội, ngoại” chỉ được sử dụng trong phương ngữ
Nam Bộ như:
Tôi hỏi nội tôi: “Dừa có tự bao gi ? ”
Nội nói: Lúc nội còn con gái,
Đã thấy bóng dừ mát rượi trước sân…”
( Lê Anh Xuân)
Còn theo hai tác giả Nguyễn Hữu Quỳnh và Đỗ Thị Kim Liên thì đại từ xưng hô lâm
thời thì bao gồm các danh từ thân tộc như: ông, bà, anh, chị, em, cô, bác… Cùng
quan điểm với hai tác giả trên, Nhưng tác giả Đinh Văn Đức thì cho rằng đại từ xưng
hô lâm thời cả các đại từ chỉ định như: đây, đấy, kia, kìa…
Những từ: dâu, rể, vợ, chồng cũng không được dùng làm từ xưng hô
- Các danh từ bạn, đồng chí; tính từ danh hóa lão
- Các từ chỉ học hàm, học vị, tước hiệu: giáo sư, tiến sĩ, đại tướng…
- Các từ chỉ chức danh nghề nghiệp: bác sĩ, tổ trưởng…
- Các tên riêng của người: Hồng, Thúy, Nga…
- Các từ chỉ nơi chốn: ấy, đây, đấy, đằng ấy… chẳng hạn: “này, đây nói cho
mà biết đấy mà không trả không xong đâu !”
Trang 29Tớ Mình
Ta
Ta Minh Chúng ta
Chúng mình
Chúng tao Chúng tôi Chúng tớ Chúng mình Chúng ta
Tao (tao) Tui (tôi) (1) (Tôi) = Choa Min,Qua (2) Ngôi
Thứ
Hai
(người nghe)
Mày Bay (mi)
Chúng mày Chúng bay
Mi (mày) Bay (bay) (1) (mày):Bậu (2)
Y Thị
Chúng nó
Họ Chúng
(Nó) = Va (Nghi) (2)
Trang 30
2.2.3 Quan điểm ngữ dụng học
Theo tài liệu nghiên cứu có rất nhiều tác giả nghiên cứu việc phân loại từ xưng
hô dưới gốc nhìn Ngữ dụng học nhưng tiêu biểu cho quan điểm này là tác giả Đỗ Hữu Châu Ông viết: “Để xưng hô, ngoài các đại từ, các ngôn ngữ còn có thể dùng các từ thuộc từ loại khác như tên riêng, tên chức danh, tên nghề nghiệp, ác từ chỉ quan hệ
thân tộc, các từ không chỉ không gian như đây, đấy, ấy, đàng này, thậm chí cả sự
trống vắng từ xưng hô…[ 4; 266 ] Cụ thể như sau:
_ Đại từ nhân xưng: “Các đai từ nhân xưng tiếng Việt không có sự phân chia rạch rồi
về ngôi như trong tiếng Anh, gồm các đại từ: Tôi, tớ, ta, tao, tui, qua, may, mi,
mình; choa, chúng, tao, chúng tôi, chúng ta, chúng mình, chúng tớ, bay, hắn, nó,
y, thị, va, chúng nó; nhau”[4; 266]
Nhóm đại từ này theo tác giả Đỗ Hữu Châu chúng có điểm đáng chú ý sau:
+ Đai từ nhân xưng phân chia theo ngôi mà chúng biểu đạt, nhưng biểu thị ngôi không nhất thiết bao giờ cũng dùng từ
+ Nghĩa chiếu vật của các đại từ ( và các từ khác) chỉ ngôi thứ ba phải có mặt trong tiền ngôn cảnh
Các đại từ xưng hô thực sự tiếng Việt, kể cả những đại từ ngôi thứ ba khác với
các từ xưng hô lấy từ các từ thân tộc như: cha ,me, ông, bà, con, cháu… ở chổ chúng
không mang nét nghĩa gia đình, họ tộc Chúng lập thành từng cặp tự xưng và đối xứng:
Tớ (Cậu)
Tao (Tui) mày (mi)
Ta Mình
Ta Người
Chúng tao Chúng mày, chúng bay, bay, bọn bay
Choa (bầy choa) Bay, chúng bay, bọn bay…
Và một vài cặp khác nữa Tất cả các cặp này đều mang nét nghĩa hoặc khinh thị, hoặc thân tình Đáng chú ý ở tiếng Việt các cặp đại từ khinh thị đều có thể dùng cho xưng hô thân tình, thân tình đến mức suồng sã không cần lễ nghi Những cặp xưng
hô thân tình: ta – mình, tớ - cậu (Cậu không phải là đại từ thực sự) thì không được
dùng bày tỏ sự khinh thị
Trang 31Chính những nét nghĩa kèm theo này đã khiếm cho tiếng Việt không có những
cặp từ xưng hô thực sự trung tính và chỉ vai như I và You của tiếng Anh Đại từ “tôi”
vốn được xem là đại từ trung tính nhưng không lặp thành cặp với bất kì đại từ ở ngôi
thứ hai nào khác ( tôi không đi với cậu, với mày, với mình, với người…) Ngược lại tôi lập thành cặp với tất cả các từ thân tộc để xưng hô ( tôi đi với anh, đi với chị, với
ông, bà….) Nó luôn luôn là một đai từ đối thoại, trong khi mình, ta có thể dùng độc
thoại Trong một cặp đại từ, đại từ ngôi thứ nhất không thể chế đại từ ngôi thứ hai và ngược lại
Các đại từ xưng hô trong tiếng việt không phân định về tuổi tác, giới tính Ngoài hai nét nghĩa thân tình và khinh thị đi kèm với nghĩa vai, đại từ xưng hô còn có
sự đối lập về số: choa, bay và các đai từ có hình vị : chúng, bọn, bầy (bi) đều có
nghĩa số nhiều, còn lại là số ít
Đại từ xưng hô chính thức tiếng Việt chỉ được dùng ngoài xã hội trong ngữ vực
cực thân tình hoặc “xung đột”, một ngữ vực chưa được đưa vào bảng xếp loại ngữ
vực
Trong tiếng Việt có hiện tượng kiêm ngôi tức hiện tượng một đại từ có thể dùng hai hay ba ngôi ( hai hoặc ba vai)
Ví dụ:
Mình có thể dung ở thú nhất (vai nói)
Mình mới nói thế mà cậu đã xị mặt xuống rồi (1)
Lúc này Mình phải mượn từ thân tộc hoặc từ chỉ xuất không gian lập thành cặp tương ứng: Mình – Cậu, Mình – đằng ấy
Mình có thể dùng ở ngôi thứ hai ( vai tiếp thoại) đi với ta chỉ ngôi thứ nhất:
Mình về mình có nhớ ta (2)
Người, vốn là đại từ ngôi thứ ba phiếm chỉ ( phi chỉ xuất) có thể dùng ở ngôi thứ nhất
Hẹn người ta 8h mà bắt người ta đợi tới 10h ( 3 )
Có thể dùng ở ngôi thứ hai:
Đã định về nhưng sợ người ta dỗi ( 4)
Trong những câu hờn dỗi, trách móc và có thể đi với mình thành cặp ví dụ (3) có thể chuyển thành:
Hẹn 8 giờ, bắt người ta đợi đến 10 giờ mình mới đến
Có thể mở rộng ví dụ ( 4) thành:
Trang 32Mình đã định về nhưng người ta dỗi lại thôi (5)
Đại từ Mình còn có cách dùng tự quy chiếu, hoặc ngôi thứ nhất tự quy chiếu:
Biết duyên mình, biết phận mình thế thôi (6)
( Kiều)
Hoặc ngôi thứ ba tự quy chiếu:
Biêt sức mình học còn kém, anh quyết định bỏ thi (7)
- Các từ chỉ quan hệ thân tộc( gọi tắt từ thân tộc): “ Các từ chỉ quan hệ than tộc trong
tiếng Việt là những từ chỉ người trong gia đình, họ tộc có quan hệ huyết thống, nội,
ngoại xa gần vơi nhau” [4; 274] Có thể chia từ thân tộc trong tiếng Việt ra hai nhóm:
nhóm các từ thân tộc đơn và nhóm các từ thân tộc phức
- Nhóm từ thân tộc đơn: Kị, cụ, ông, bà, bác, chú, cậu, cô, dì, mợ, bố, tía,
má, mẹ, u, bủ, bầm, anh, chị, em, con, cháu, chắt, chút, chit, chồng, vợ, dâu, rể
- Nhóm từ thân tộc phức: Anh con bác, anh con dì, cháu con chú, cháu con
bác…
Theo Đỗ Hữu Châu trong Đại cương ngôn ngữ học tác giả đã chia từ thân tộc
trong tiếng Việt ra làm ba nhóm khác nhau: nhóm thứ nhất gồm: u, bầm, bủ, ba,
má… , nhóm thứ hai gồm: anh, chị, em, cha ,chú , bác ,con, cháu…., nhóm thứ ba
gồm: anh họ, ông nôi, chị họ, dâu, rể….[5; 76]
Đỗ Hữu Châu cho rằng nhóm từ này có những đặc điểm sau:
+ Chỉ có những từ thuộc nhóm thứ nhất và thứ hai mới dùng để xƣng hô, nhóm thƣ ba không dùng để xƣng hô
+ Nhóm thứ nhất dùng để xƣng hô không dùng để miêu tả quan hệ, còn nhóm thứ ba dùng để miêu tả quan hệ không dùng để xƣng hô Đặc biệt, tác giả đã đƣa ra hai cách sử dụng từ thân tộc để xƣng hô, đó là xƣng hô trong gia đình, họ tộc và xƣng hô ngoài xã hội
Theo Đỗ Hữu Châu có hai cách xƣng hô phổ biến của từ xƣng hô thân tộc trong tiếng Việt đó là: xƣng hô theo chỉ xuất chủ quan và xƣng hô theo chỉ xuất khách quan
- Xƣng hô theo chỉ xuất chủ quan, ngôi thứ nhất đồng minh với Ego:( Đỗ Hữu
Châu gọi “ Ego là một khái niệm dân tộc học chỉ bản thân cái người được xem
là trung tâm xác định tư cách của người khác xét theo quan hệ họ tộc” [4; 276,
277] ) Và gọi ngôi thứ hai bằng từ thân tộc nghịch đảo với từ mà Ego dùng để
Trang 33chỉ mình.Ví dụ: khi ngôi thứ nhất tự gọi mình là con thì gọi ngôi thứ hai là cha (mẹ), nếu tự xưng mình là cha (mẹ) thì gọi ngôi thứ hai là con
- Những cách xưng hô:
Ông
Bà Bác
Cháu
Dì
Cậu Dượng
- Xưng hô theo chỉ xuất khách quan hay còn gọi là xưng hô thay ngôi
(8) Ví dụ: Cả chăn, màn, mủ, áo của bố và Tùy em xếp ở giường gian ngoài cho nó đông vui Em nằm ở cái giường một ấy mà phía nào cũng thấy thừa, thấy
lạnh quá
(Lê Lựu)
Đây là một trong những đoạn một bức thư bà vợ gửi cho chồng (đại tá) ở ngoài mặt trận cùng với con trai tên là Tùy Bà tự xưng là em, nên theo chỉ xuất chủ quan, sẽ gọi chồng bằng anh hoặc (mình), nhưng vì xưng hô theo chỉ xuất khách quan cho nên
đã gọi chồng là bố Bà đối xứng chồng thay con, thay Tùy, bởi vì chồng bà ông đại tá
bố Tùy
Trong gia đình, họ tộc, xưng hô bằng từ thân tộc luôn luôn thể hiện sự đối lập bậc trên, bậc dưới Tuy nhiên, sự đối lập này chỉ chặt chẽ khi người bậc dưới còn nhỏ tuổi, chưa gia đình, chưa con cái và chưa có danh phận
Lối gọi thay theo ngôi con, cháu thường chỉ được sử dụng trong ngữ vực cực thân tình và hoàn toàn trong không khí gia đình, không có mặt của những người ngoài gia đình, họ hàng
Trang 34Có thể nói, sự xuất hiện của từ “tôi” trong xưng hô gia đình, họ tộc là sự xã hội
hóa xưng hô gia đình, họ tộc
- Xưng hô ngoài xã hôi:
Theo Đỗ Hữu Châu thì có hai cách sử dụng từ thân tộc để xưng hô với người ngoài gia đình, họ tộc (nói tắt là người ngoài) Đó là xưng hô thân tộc hóa và xưng hô phi thân tộc hóa
- Xưng hô thân tộc hóa: Tức người nói mượn quan hệ thân tộc nào đó, tự đặt mình và người tiếp thoại của mình vào rồi dùng các từ thân tộc tương ứng mà tự xưng vào đối xưng
Ví dụ: Cậu ơi, cháu nghe tiếng chim gáy sau chùa cậu ạ (9)
Ở đây, đứa trẻ chăn châu tự đặt mình vào quan hệ cậu cháu với người điền chủ để
tự xưng mình là “cháu” và đối xứng là “cậu”
Cách xưng hô thân tộc hóa thường được sử dụng khi người nói và người tiếp thoại có sự chênh nhau rõ rệch về tuổi tác và về vị thế xã hội
- Xưng hô phi thân tộc hóa: xưng hô phi thân tộc hóa là người nói không đặt mình và người tiếp thoại mình vào quan hệ thân tộc nào cả, tự xưng và đối xứng như những người ngoài xã hội với nhau Đối với ngôi thứ nhất, khi xưng hô phi thân tộc
hóa với nguười ngoài thường xưng “tôi” và đối xứng bằng các từ thân tộc khác như:
cụ, ông, bà, cô, bác, con, anh, chị, em, con…
Ví dụ: Trong truyện ngắn Tôi cũng không hiểu tại làm sau Ông sếp hỏi người
thư kí tên là nghĩa mà ông ta đang bắt được quả tang đang ăn sáng trong giờ làm việc
ở văn phòng:
Ông nói ch tôi biế,t ông làm gì từ sáng giờ ? (10)
Và Sinh đồng nghiệp của Nghĩa nói với Nghĩa sau giờ làm việc:
Đi bộ, tôi muốn hỏi anh cái này (11)
Ông sếp gọi Nghĩa bằng “ông” và tự xưng bằng “tôi” Sinh cũng tự xưng bằng “tôi”
và gọi Nghĩa bằng “anh”
Cách xưng hô phi thân tộc hóa với người ngoài hiện nay tập trung chủ yếu vào
các từ ông, bà, anh, chị đặc biệt là hai từ ông, bà
Từ những cách dùng trên, có thể khái quát: “Bốn danh từ thân tộc: anh, chị, ông, bà là lõi xưng hô của cá từ thân tộc, chúng là các yếu tố tạo ra các biểu thức xưng hô khác, ngoài trừ biểu thức xưng hô dùng đại từ xưng hô” [5; 78]
Trang 35- Tên riêng: Trước đây, ở Việt Nam có nhiều loại tên: Tên hèm (tên cúng cơm), tên
húy, tên thụy, tên tự, tên hiệu, tên tục Những người theo đạo thiên chúa còn có tên thánh, các Phật tổ thường có pháp danh
Hiện nay để xưng hô trong đời thường, thường được dùng các tên chính (tên khai sinh) Trẻ nhỏ, khi còn nhỏ, trong thoại trường gia đình thường được gọi bằng các
tiểu danh( Cu, Cò, Hím, Ti, Cún, Bin…) Tên chính phổ biến là một âm tiết, nhiều
người có tên chính hai âm tiết Đàn bà khi chưa có con được gọi tên bằng chồng Khi
có con bố và mẹ thường được gọi tên theo tên của con đầu lòng Tuy nhiên, cách gọi bằng tên chồng hay tên con hiện nay không phổ biến nữa
Đỗ Hữu Châu cho rằng tên chính có thể dùng một mình tự xưng, đối xưng và tha xưng
Ví dụ:
Hạc ở nhà đi ra cười, hỏi:
Bảo nói xấu gì Hạc với chị đấy ? (12)
(Khải Hưng)
Ở đây, Hạc là tên riêng được người chồng dùng để tự xưng và Bảo, tên riêng
của người vợ được người chồng dùng đối xưng
Tôi nói thế nào, tôi thề thế nào, Bảo cũng không tin, Bảo cứ nhất định cho tôi
bậy bạ… Anh tính thế thì có vô lí không ? (13)
(Khải Hưng)
Ở đây, Bảo được dùng để tha xưng
Khi được dùng để tự xưng và đối xưng, các tên chính thường được dùng ở các dạng một âm tiết Việc dùng tên riêng để tự xưng thừơng diễn ra trong ngữ vực thân tình như ví dụ ( 12 ), ( 13 ) đã ch thấy Nó cũng không kéo dài suốt cuộc hoại thoại chỉ sau một vài lượt lời, các đối ngôn sẽ chuyển sang cách xưng hô khác không phải bằng một mình tên riêng
Đặc biệt, người Việt ta có tục kiêng gọi tên tục Trước đây chỉ khi xung đột dữ dội người ta mới lôi tên tục nhau lên ra chửi cho đến nay, đối xưng và tha xưng những người có vị thế xã hội càng cao trong xã hội hoặc trong gia đình, họ tộc chỉ bằng tên riêng là vô lễ với người đó
Trong tiếng Việt thường gặp là cách xưng hô tên riêng kết hợp với những yếu tố khác:
- Từ thân tộc + tên riêng
Trang 36- Từ thân tộc + từ chức danh, nghề nghiệp + tên riêng
- Từ chỉ chức danh, nghề nghiệp (gọi tắt là từ chức danh, nghề nghiệp):
Trong Cơ sở ngữ dụng Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Từ chức danh, nghề nghiệp lập thành bốn kết cấu sau để xưng hô:
Thứ nhất: Từ chức danh, nghề nghiệp dùng một mình;
Thứ hai: Từ chức danh, nghề nghiệp kết hợp với từ thân tộc hoặc từ “ngài” hoặc từ “quan” ở trước;
Thứ ba: Từ chức danh, nghề nghiệp dùng với tên riêng ở sau;
Thứ tư: từ chức danh, nghề nghiệp kết hợp với từ thân tộc hoặc từ “ngài” hoặc (từ “quan” )ở phía trước và tên riêng ở sau” [4; 300]
Cả bốn kết cấu trên đều có thể được dùng tha xưng với cả sắc thái biểu cảm, trong những thoại trường, trong những ngữ vực và những quan hệ liên cá nhân khác nhau Đáng chú ý nhất là việc dùng các kết cấu từ chức danh, nghề nghiệp để đối xưng
Trước cách mạng tháng Tám, nhiều từ chức danh, nghề nghiệp được rút gọn thành một âm tiết: phán, thông, kí, thừa, đề, xã, hương, hội, lí, nghị, bố, án, thựng, hàn, cửu, bát, quan có thể đưa vào nhóm này hai từ thầy và cô ( cô là từ thân tộc được
dùng để tạo nên các từ ghép cô giáo hoặc ngữ định danh cô thầy bói chỉ theo nghề
nghiệp)
Trước đây, kết cấu thứ nhất hầu như không bao giờ được dùng một mình để đối
xưng ( trừ trường hợp “bá tước”, “nam tước”, nhưng “công tước”, hầu tước, từ
tước lại không được dùng như vậy) Hiện nay, từ chức danh, nghề nghiệp một mình
được dùng để đối xưng
Ví dụ:
(14) Xin Chủ tịch rẽ lối này
(15) Bộ trưỡng đã căn dặn, chúng tôi xin chấp hành
(16) Chào Bác sĩ
Tuy nhiên, kết cấu này vẫn được dùng rất có hạn
Thuộc kết cấu thứ hai là những tổ hợp từ thân tộc + từ chức danh như cụ bá,
ông lí, bác phán, chú tham, thầy thừa, quan đốc và những tổ hợp từ thân tộc +
nghề nghiệp: bác tài, bác lái, thầy kí
Trang 37Trước cách mạng tháng Tám, đây là những kết cấu đối xưng (và tha xưng) phổ biến và bắt buộc Áp lực phải có từ chức danh sau từ thân tộc để xưng hô (cả những người trong gia đình, họ tộc, cả ngoài xã hội) mạnh đến nổi tiếng Việt phải đặt ra một
số danh phận dân dã cho những người đàn ông không vai vế, không nghề nghiệp gì
đặc biệt ngoài nghề nông để đối xưng: cụ, cò, hoe, đĩ, cháu, chắt trong những tổ hợp
từ như: cố hoe Chín, anh chắt Em, anh cu Bưởi ( và cả danh phận những người mới lấy vợ, chưa có con: đó trong tổ hợp: anh đỏ Câu ) Những kết cấu từ chức danh này dùng cho những người đàn ông Phụ nữ được gọi theo chức danh của chồng: bà phán,
bà huyện , chị đỏ Câu, chị chắt Em
Cả hai thành phần: từ chức danh, nghề nghiệp và từ thân tộc ( ngài, thầy,
quan ) trong kết cấu này đều chịu trách nhiệm thể hiện ý nghĩa trọng, khinh nhưng
trọng trách thể hiện ý nghĩa này rơi vào thành phần thứ nhất, thành phần khơi đầu kết cấu Bằng chứng là khi đối xưng, người ta có thể bỏ từ chức danh, nghề nghiệp chứ không thể bỏ từ thân tộc
Ví dụ:
(17) Bẩm ông lớn, tên lí trưỡng này tệ quá
Một số tổ hợp từ thân tộc + từ nghề nghiệp cú như ông tài, bác lái và những tổ hợp từ mới như: anh tắc xi, bác xích lô, anh hải quan, anh kiểm lâm, anh công an
Theo tác giả có ba nhóm bán đại từ:
- Thứ nhất là các từ như: ngài, người, trẫm, khanh, thiếp, chàng, nàng
Trang 38“Ngài” hiện nay đã được dùng trở lại, kết hợp với từ chức danh hoặc tên riêng
để đối xưng hoặc tha xưng trong ngữ vực cực kì nghi thức, chủ yếu với người người nước ngoài
“Người” dùng để tha xưng những bậc gần như thần tượng của Việt Nam và của
Thế giới "Tiên sinh” từ sau năm 1945 không còn dùng đối xưng và tha xưng nữa
“Trẫm, khanh” là từ vua tự xưng và đối xưng với quan lại (“ái khanh” là từ
vừa từ dùng để đối xưng với phi tần của mình)
- Thứ hai là tổ hợp Hán Việt như: ngu đệ, hiền huynh
Trong nhóm này có những từ chuyên dùng để tự xưng theo nguyên tắc tự hạ:
ngu đệ, ngu huynh, quả nhân, cô gia, hạ nhân, hạ quan có những từ chuyên dùng
để đối xưng theo nguyên tắc hô tôn: hiền đệ, hiền huynh hoặc chuyên dùng để tha xưng cũng theo nguyên tắc hô tôn: lệnh đệ, lệnh huynh ( em hoặc anh của người tiếp
thoại) Tất cả các nhóm từ thư hai này không được dùng để giao tiếp miệng đời thường , nay chỉ gặp trong văn viết
- Thứ ba là những từ chỉ xuất không gian hoặc những tổ hợp từ có chỉ xuất không gian
ở sau để tự xưng : đây, thằng này (con này) để tha xưng: đấy, đằng ấy những bán đại
từ này được dùng trong ngữ vực thân tình hoặc xung đột Có thể đưa vào nhóm này
các tổ hợp từ tha xưng trong đó có từ chỉ xuất thời gian “ấy” hoặc với đại từ “ta”:
ông ấy, con ấy ông ta, bà ta Những tổ hợp với ấy là những tổ hợp tha xưng trung
tính nhất
- Các bán đại từ, bị đánh dấu chặt chẽ về ngô i, không có hiện tượng kiêm ngôi Nói
“lệnh huynh, lệnh tỉ” bao giờ cũng là nói tới anh hoặc chị của người tiếp thoại
2.2.4 Quan điểm phong cách học
Xét trong tổng thể khách quan, thì nhìn chung các nhà nghiên cứu Phong cách học có cùng chung quan điểm với các nhà nghiên cứu Ngữ dụng học Nhưng hoàn toàn khác với các nhà Ngữ pháp học cụ thể là: họ không đồng nhất giữa từ xưng hô và đại từ xưng hô
Ta Chúng ta
Chúng tao Chúng mày
Chúng tôi / Ngôi 2
Trang 39Ngôi 3 Nó/Hắn / / Chúng nó Họ
Đinh Trọng Lạc trong Phong cách học tiếng Việt có nhận xét: “Bên cạnh các
đại từ nhân xưng ( tôi, tao, mày, no, hắn…) trong tiếng Việt còn dùng những từ chỉ quan hệ gia đình huyết tộc ( ông, bà, cha, mẹ, con, cháu) để xưng hô [15; 170]
Cù Đình Tú cũng có nhận xét khá giống nhận xét trên: “Bên cạnh các đại từ
nhân xưng: tôi, tao, ta, chúng tôi, chúng tao, chúng ông, chúng anh, chúng chị, (
ngôi 1), ày, bay, chúng bay (ngôi 2), nó, hắn , y, va, nghỉ, chúng nó ( ngôi 3), tiếng
Việt còn lấy tất cả những từ chỉ quan hệ hàng thân thuộc dùng làm từ xưng hô như:
cụ, ông, bà, cha, mẹ, chú, thím, cô, dì, cậu, mợ, anh, em, chị, cháu…” [23; 166]
Ngoài các đại từ xưng hô, các từ chỉ quan hệ họ hàng thân thuộc, hai tác giả Đinh Trọng Lạc và Cù Đình Tú còn cho rằng từ chỉ chức tước cá nhân, tiếng đệm giữa
họ và tên của nữ giới ( thị), tên riêng, những từ trống ( người ta, đây, đấy, đằng
ấy…) và cách nói trống không (zero) còn được dùng để xưng hô
2.3 Phân loại theo phạm vi sử dụng
Bên cạnh việc phân loại từ xưng hô theo từ loại, Lê Biên còn phân chia từ xưng
hô theo phạm vi sử dụng Theo tác giả: “Có thể chia từ xưng hô tiếng Việt thành hai
lớp có phạm vi sử dụng khác nhau: Những từ xưng hô dùng trong gia tộc và những từ
xưng hô dùng ngoài xã hội” [3; 123]
2.3.1 Những từ xưng hô trong gia tộc, thân tộc
Theo Lê Biên, trong quan hệ thân tộc “Chủ yếu dùng các danh từ nhân thuộc, rất ít dùng đại từ xưng hô gốc, theo một tôn ti chặt chẽ, tương đối ổn định” [3; 127]
Như những khuôn hình có sẵn, ràng buộc mọi người phải chấp nhận, tuân theo các từ xưng hô cũng phản ánh quan hệ: thứ bậc (trên/dưới), tuổi tác, giới tính, địa vị xã hội Trong đó, quan hệ thứ bậc (gia tộc) quyết định chi phối cá quan hệ khác
Tác giả Lê Biên cho rằng cái tôn ti trật tự: Trên ra trên, dưới ra dưới chi phối
cách ứng xử, xưng hô Cho dù có địa vị cao trong xã hội thì “phép vua thua lệ làng”
phải “nhập gia tùy tục” theo kiểu “bố con nhà bác, lớn xác con nhà chú” Do đó
những đại từ xưng hô đích thực (tao, mày, nó) chỉ thể quan hệ một chiều: tao (trên),
nó, mày (dưới) chỉ dùng nói về những người ở bề dưới; “tôi” chỉ những người ở bậc trên được dùng để xưng với những người ở bậc dưới
Trang 40Theo tác giả trong phạm vi thân tộc, các từ: ông, bà, bố, mẹ, chú, bác, cô, anh,
em, chị, con, cháu được dùng với ý nghĩa gốc, cơ bản của chúng để xưng và hô (
như cá đại từ xưng hô lâm thời) với những người trong gia tộc
2.3.2 Những từ xưng hô ngoài xã hội
Việc xưng hô ngoài xã hội thể hiện thái độ ứng xử giữa những người không
có quan hệ huyết thống, thân thuộc là rất phức tạp và đa dạng Cho nên tác giả Lê Biên
cho rằng: “Các lớp từ đại từ xưng hô gốc và các từ lâm thời làm đại từ xưng hô đều được sử dụng để bộc lộ một vị thế ứng xử xã hội nhất định”, [3; 128 ]
Trong tiếng Việt, qui tắc chung trong giao tiếp xã hội là “xưng là phải khiêm,
hô là phải tôn” Người ta thường khiêm nhường trước người đối thoại với mình
Nhưng khi hô gọi thương tôn lên, đề cao người được hô gọi
Ngoài ra hiện tượng “gọi thay ngôi” và “xu hướng nâng bậc phân vai” Đây là một biểu hiện văn hóa của người Việt:“Chú trọng đề cao vai xã hội của đối tượng xưng hô theo tuổi tác và chức năng gia đình” Chẳng hạn: Trong gia đình con cái gọi
cha, mẹ là “ông, bà” ( một khi người gọi đó có con trong thực tế); Cha mẹ gọi con hay