Tài liệu Bác Hồ - những câu chuyện cảm động của Kim Nhật gồm 26 bài viết về chủ tịch Hồ Chí Minh, về cuộc đời, tư tưởng của người, mối quan tâm của người tới nhân dân, chiến sĩ, tới các em nhi đồng, tới báo chí... Tài liệu gồm 2 phần, mời bạn đọc cùng tham khảo phần 1 sau đây.
Trang 1KIM NHẬT
Trang 3KIM NHẬT
BÁC HỔ NHŨNG CÂU CHUYỆN
CẢM ĐỘNG
(In lần thứ ba)
NIIÀ XUẤT lỉẢN NGHỆ AN - 2007
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
Danh nhân kim cổ trên thế giới thường để lại phần tinh hoa tư tưởng của họ thông qua những lời nói, những trước tác, những chuyện
kể giản dị, hàm súc chứa đựng nhiều chân lý và
có sức thuyết phục nhiều thời đại Bác Hồ của chúng ta là một trong những người như vậy.
Phần do kính yêu Bác, phần do yêu cầu cõng việc, nhà báo Kim Nhật (tên thật là Nguyễn Văn Hùng, hiện cõng tác tại Báo Nghệ An) đã bỏ tâm lực trong nhiều năm để tìm hiểu,
sưu tập, nghiền ngẫm và viết nên 26 bài viết
nhỏ trong tập sách còn khiêm tốn mang tên
Bác HỒ, những câu chuyện cảm động.
Trước đây, chuyện kể về Bác đã được nhiều Nhà xuất bản trong và ngoài nước tổ chức tập hợp, biên soạn, xuất bản và được bạn đọc hoan nghênh Tiếp thu một số kết quả của người đi trước, cuốn sách nhỏ này có những điểm đảng chú ỷ về tư liệu, nghệ thuật kể chuyện, cách phân tích, tiếp cận bản chất sự
Trang 6việc, lời nói, từ đó tim ra bài học ứng xử đối với cuộc sống hiện nay.
Nhiều năm gần đây, toàn Đảng, toàn quằn, toàn dân ta đang kiên trì học tập, sống và làm việc theo Tư tưởng Hồ C hí Minh Bởi vậy, cuốn sách bạn có trên tay là một tài liệu tham khảo
bổ ích, qua câu chuyện nhỏ mà đến được với những tư tưởng lớn Tuy vậy, cuộc đời và tư tưởng của Người rất sâu rộng, nhiều giá trị cần phải có thời gian và trí tuệ của nhiều người mới khám phá, thấm nhuần hết được, nên chắc chắn cuốn sách chưa đáp ứng được nhiều, thậm chí đây đó còn có hạn chế
Nhà xuất bản mong bạn đọc thông cảm và
hy vọng sẽ nhận được ý kiến góp ý, để lần tái bản sau, cuốn sách hoàn thiện hơn!
NHÀ X U Ấ T BẢN N G H Ệ A N
Trang 7NGƯỜI MỞ TRANG ĐẦU CHO NỂN
H ẳn nhiều bạn đọc trong c h ú n g ta còn nhớ 3ài báo "Hành hình kiểu Lin-xơ, m ộ t ph ươn g diện ít ìì^ười biết của nên văn minh M ỹ ” (đăng trong T ạp chí Thư tín Q u ốc tế, số 59, n ăm 1924) Với bài báo nổi tiếng này, nhà yêu nước - nhà Dáo N m iyễn Ái Q uốc đã tố cáo m ột kiểu giết người cực kỳ m an rợ thời kỳ c h ế độ nô lệ tại niróc M ỹ: Neười da đen bị trói vào cây, bị tưới dầu hoủ, rồi bị đốt cháy! Trước khi chết, họ còn :)Ị bò dần tùng chiếc răim, bị m ó c m ắl, bị rút
Trang 8từng nhúm tóc kéo theo từng m ả n g thịt da, đ ể lộ cái sọ người đ ẫm máu Chỉ trong vòng 30 năm ,
từ 1889 đến 1919, tại nhiều b an g của nước M ỹ
đã có 2.600 người da đen, 708 người da trắng bị hàn h hình theo kiểu Lin-xơ! Đ ể m ức tố cáo ở các bài báo được tăng thêm sức thuyết phục, thời gian làm báo, phụ trách các tờ báo trong đó có Báo Người cùnq k h ổ tại T hủ đô P a -n (số 1 ra ngày 1-4-1922 và ra kh o ản g 38 số thì bị đình bản), N g u y ễn Á i Quốc còn vẽ n hiều tranh b iế m họạ, đả kích tội ác đầy thú tính củ a chủ n g h ĩa thực dân và đ ế quốc Tiêu biểu như các bức:
Người P háp đánh đ ậ p tàn nhẫn dân hản xứ, Phu kéo xe cho quan lại Pháp N gu y ễn Ái Q u ố c còn vẽ nhiều tranh khơi gợi n iềm tự hào dân tộc Việt N am , n h ư các bức: H a i B à Trưng, ô n g L ý Thường K iệt, ô n g Trần Hưiĩg Đ ạ o , ô n g Đ ề Thám, Bà Bùi Thị Xuân T rang bìa của tập thơ
N h ậ t ký trong tù, viết trong k h o ả n g thời gian từ tháng 8 năm 1941 đến tháng 9 n ă m 1943, Bác có bức vẽ tả hai n ắ m tay bị xích x iền g đang vung
m ạ n h lên n h ằ m biểu thị q u y ết tâm , bản lĩnh, niềm tin vào chiến thắng cuối cùng! N hững năm
Trang 91941, 1942 ( t r i n t khi bị bắt giam ở Trung
Q uốc), Bác trực iếp phụ trách và viết bài cho báo Viẻt N a m Đ ộ ' lập. Kể từ số đầu tiên ra ngày
1 tháng 8 năm 19 u đến các số cuối tháng 8 năm
1942, trên m ặt báo, Bác hay có những vần thơ lẻ
Có lần, cạn h 2 câu thơ lục bát: “L àm (ỊÌỎi thì được m ề đ a y (tiếng Pháp, chỉ huy chương)/
ChúiĩíỊ ta đểu p h ả i xắn tay m à làm ”, nhà báo Hồ
Q i í M inh vẽ m ột tấm huy chương hình ngôi sao
n ăm cánh, ở giữa có hai chữ V.M, để thưởng cho hội viên n ào có thành tích
Có thể k hẳng định tính nhạy cảm , năng động, quyết liệt, kịp thời, óc thẩm m ĩ với lối vẽ vừa trực diện dễ hiểu vừa thâm thuý sâu cay qua nhiều bức tranh củ a Bác đã trở thành những hồi
ch u ôn g góp phần to lớn cảnh tỉnh lòng yêu nước thương dân, rnối căm thù không đội trời chung với thực d ân đ ế q u ố c và truyền bá chủ nghĩa M ác
- Lê N in ch o người Việt N am giữa đêm trường
nô lệ
Trên cơ sở sưu tầm, nghiên cứu các tác phẩm hội hoạ, điêu khắc đầu th ế kỷ X X ở Việt Mam, nhiều học giả đêu thống nhất cho rằng:
Trang 10N guyễn Ái Q uốc, ngòi bút tiên phong d ù n g m ỹ thuật làm vũ khí đấu tranh giải p h ón g d â n tộc và oài người bị áp bức; chính N gười đã đ ặt nhiíng viên gạch đầu tiên cho nền M ỹ th uật C ách m ạng nước ta phát triển sôi đ ộng và đ ạt n hiều thành tựu suốt m ột th ế kỷ vừa qua!
Trang 11HỌC TTỐ^G NÓI CỦA ư ; NIN
N gôn ngữ là thứ sản p h ẩm đặc biệt của mỗi nền văn hoá, là m ột tiêu ch u ẩn quan trọng để phân định, đánh giá sự ra đời và trưởng thành của m ộ t dân tộc gắn với vị thế, phạm vi ảnh nưởng củ a dân tộc đó Tiếng Nga, ai cũng biết, 'à m ộ t ngôn ngữ chính xác, bay bổng nhưng lại rất khó học, càng khó sử dụng Ây vậy mà, ngay từ khi đặt chân lên đất nước Liên Xô - ngày
30 th án g 5 n ăm 1923 - để có thêm phươns tiện nhạn thức, tư duy, và hoạt độrm cách mạng,
N g u y ễn Ái Q uốc đã tranh thủ học tiến s Nga Chỉ trong m ột ihời íia n ncắn , Người đã níĩhe và nói được m ột số tiens: thườno; dùng trong đời sốnỉĩ ui ao tiếp hàng ncày Đ iểu đó, làm cho mộl
số bạn thân củ a N cười lúc bấy giờ, hết sức n sạc nhiên! Với tinh ihần ham học hổi đó, khoáng 5 năm Irên đất bạn, nhà cách m ạng N guyễn Ái
Q uốc đ ã nám khá thành ihạo tiếno: Nqa
Trang 12G s N g u y ễn K h án h Toàn sau này có cho biết: T hời gian Bác vào lớp N g h iê n cứu sinh Ban
Sử họ c c ủ a V iện nghiên cứu các vấn đề dân tộc
và thuộc địa, Bác đổng thời nhận phiên d ịc h
n h iều tài liệu từ tiếng N g a sang tiếng Việt Với tiếng N g a học được, Bác viết rất nhiều bài b áo giàu tính ch iến đấu và quốc tế, gửi đăng c ác b áo
c h í ở L iên X ô hồi đó, n h ư Sự Thật, T iê h ẹ C ờ i,
T ạ p c h í Đ ỏ , Thời Mới Khi đ ã ở vào cư ơ n g vị
C hủ tịch nước, Bác H ồ từng sang thăm L iê n X ô
n h iều lần Bác đi nhiều nơi, trò chuyện với n h iều người b ằ n g tiếng Nga, riêng với Trường N g o ạ i
n gữ m a n g tên H ồ Chí M in h ở I-ếch-kút, B ác đ ến
m ấ y lần Đ ây là m ộ t H ọ c viện dạy tiếng nước
n g o ài ở L iên X ô, vinh d ự được gắn tên H ồ C hí
M in h từ cuối n ă m 1969 (Bác q u a đời), là trường
k ết n ghĩa với Trưòng Đ ại học N go ại ngữ H à N ội
C ác nh à giáo d ục công tác tại trường n à y còn
m ãi nhắc n h ở và trân trọng nhiều kỷ n iệ m đẹp,
x úc đ ộ n g về những buổi gặp, đón Bác n à m xưa
N h ờ vào uy tín của m ình, và nhờ có trình độ tiếng N g a nữa, Bác đ ã làm tăng thêm b ầ u k h ô n g
k hí ấm áp, tình hữu nghị chân thành và th ắm
Trang 13thiết giữ a hai nước V iệt N am - L iên X ô c ả m ộ t thời gian dài.
M ộ t n h à báo lớn củ a V iệt N am được đi công tác cùng Bác sang L iên X ô, là n h à b áo T hép
M ới, có kể lại câu ch u y ện sau: Đ ã có m ộ t đ ồng
ch í ở T hủ đô M át-x cơ -v a Ihốt lên, rằn g từ trước đến nay, n h ữ n g người nổi tiếng trên th ế giới đ ến
L iên X ô m à nói sõi được tiếng N g a thì ch ỉ có 3 người: Đ ồ n g ch í T ổ n g Bí thư Đ ản g C ộng sản Pháp M ô -rít Tô-rê; n h à nghệ sĩ d a đ en ngưòd M ỹ Pôn R ố p -x ơ n ; và C hủ tịch H ồ C h í M inh!
N hư vậy, học và sử dụng tiến g N g a tuy kh ó nhưng ngư ời V iệt N am ta không phải k h ô n g làm được N g o ài Bác H ồ, cò n có nhiều tấm gương tự học rồi sử d ụng th àn h thạo tiếng N ga tro n g ngoại giao và c ác ch u y ên ngành k h o a học, văn hóa, văn h ọ c - nghệ thuật Đ áng tiếc, n h ữ n g người như vậy n g ày càn g h iếm đi, k h iến ch o tìn h hình rất k h ác trước M ộ t ông bạn dạy tiếng N g a vào oại kỳ cự u củ a tôi, hôm nợ than phiền: "Từ ngày tiếng A n h lên ngôi, thì tiếng N g a trở n ên lép v ế dần, có lúc đến th ảm hại! Đ ã có thời g ian dài ở
Trang 14bậc đại học và ph ổ thông, tiếng N g a k h ô n g được dạy, hoặc có dạy cũng rất hình thức, đối p h ó ”
Buồn lắm! T iếng N ga không chỉ gắn liền với tên tuổi Lê N in, với chủ n g h ĩa x ã hội; tiếng N ga còn là hiện thân m áu thịt củ a tính cá c h N ga, với văn h o á và văn học N ga nữa C h ú n g ta từng
“say” tiếng H án, tiếng Pháp, tiếng N ga Bây giò' người ta đổ xô đi học tiếng A nh, tiếng N hạt, tiếng Đ ức T rong khi đó, theo k in h nghiệm củ a nhiều người giỏi ngoại ngữ, m u ố n hiểu, nắm chắc và sử dụng thành thạo m ộ t th ứ tiếng, cần phải bỏ ra cả m ộ t đời người!
V ăn hào L T ôn-xtôi từng nói: “N ẹ ô n ngữ là linh hồn của dân t ộ c ”. V âng, như ng tôi nghĩ, với tiếng N g a thì đó đâu chỉ là “ linh h ồ n ” củ a riêng người N ga?! C ộng hoà L iên bang N ga, vói diện tích 17.075.400km 2, dân số 146.601.176 người,
có quan hệ ngoại giao với nước ta từ n gày
3-1-1950 N gôn n g ữ củ a m ột đất nước rộ n g lófn, giàu truyền thống và tiềm lực như thế, từng m ộ t thòfi làm say đắm n h ân loại tới m ức m ê hoặc như thế,
ẽ nào ngày nay, tiến g N ga k h ô n g còn đủ sức h ấp dẫn loài người tiến bộ nữa?!
Trang 15THÊM BẢN DỊCH«
MỘT BÀI THƠ CHỮ HÁN CỬA BÁC %
Them th ể tại Iiẹục trung, Tinh thcìn tại nụỊC ngoại.
D ụ c thành đ ạ i sự nghiệp, Tinh thần cánh yế n đại.
T rong nguyên tác, tập thơ chữ H án N^ục
trung nh ậ t kv của Bác H ồ có 133 bài Bốn câu
thơ này k hông có đầu đề, tác giả chép ở ngoài bìa tập thơ cùng hình vẽ hai cánh tay bị xiềng
Bài thơ có ý nghĩa như m ột lời “đề từ” cho toàn bộ cuốn N hật ký Bản dịch nghĩa: ‘T h ân
t h ể ở troìiịỊ ngục/ Tinh thần ở ngoài ngục/ M uốn thánh sự ìiẹhiệp Ìớìíỉ Tinh thần càng p h ả i lớn"
N ăm 1960, lần đầu tiên V iện Văn học nước ta hoàn thành bản dịch và cho xuất bản tập N h ậ t ký tro n ẹ tù vào đ ú n g dịp Chủ tịch nổ C hí M inh tròn
Trang 1670 tuổi Bài th ơ được n h à thơ - d ịch g iả N am Trân d ịch th àn h th ơ như sau:
T hân t h ể ở trong lao, Tinh thần ở n^oài lao.
M u ố n nên sự nghiệp lớn, Tinh thần càng p h ả i cao.
C ho đ ến nay, bản dịch thơ củ a N a m Trân vẫn được n h iề u th ế hệ b ạn đọc trong đ ó có học sinh, sinh viên yêu thơ Bác b iết đ ến , chẳng những thế, họ cò n thuộc lòng M ặc dù vậy, theo
m u ố n nói lên n h ữ n g gian nan thử th á c h đ ã và sẽ
đ ến với m ìn h , đ ổ n g thời n hấn m ạn h q u y ế t tâm cao để vượt q u a tất cả T ừ quan n iệ m này, ông Trần Đ ắc T họ đ ề xu ất m ột bản dịch th ơ khác:
Thân t h ể trong ngục, Tinh thần ở ngoài ngục.
Sự n ghiệp lớn muốn thành, Tinh thẩn cao tộ t hậc.
Trang 17Bản dịch thơ này, q u ả thật k h ô n g “ th o á t” như bản dịch của N am Trân, nhưng có p hần chắc
là bám sát tinh thần, âm điệu củ a n g u y ê n bản hơn, đặc biệt là ở vần trắc cuối các câu thơ, chứa đựng nhiều dụng ý củ a m ột N gười - T ù - V ĩ -
Đ ại
Trang 18“MỘT NHÀNH MAI”
HAY “MỘT CẢY C H MAT?
Trong phần thơ chữ H án của C hủ tịch H ồ
C hí M inh, ngoài 133 bài th ơ của tập N h ậ t kỷ tron g tù (viết từ tháng 8-1942 đến tháng 9-1943),
N gười còn có nhiều tác phẩm vào loại th ật hay nữa, m à bài thơ chữ H án cuối cùng của Bác là bài
“M ậ u Thân xuân t ỉ ế í ” (viết ngày 14-4-1968).Bài thơ ‘‘Thướníị sơn ” sau đây, Bác viết tại
L ũ n g Dẻ, năm 1942;
P hiên âm:
THƯỚNG SƠN
L ục n gu yệt nhị thập tứ, Thướng đ á o thử sơìĩ lai.
C ử đầu lĩồ n ẹ nhật cận,
Đ ố i ngạn nhất chi mai.
L ũ n g Dẻ, 1942
Trang 19L ũng Dẻ là tên m ột cái h an g ở sườn dãy núi
đá Lam Sơn, thuộc xã M inh T ân, huyện N g u y ên Bình, tỉnh Cao Bằng T ại h an g này, có đặt cơ
q u an ấn loát Báo V iệì N a m Đ ộ c lập (trước k ia ở
K huổi N ậm - Pắc Bó, nay m ớ i chuyển về L ũng
D ẻ), do Bác H ổ sáng lập và trực tiếp phụ trách Bài Ihơ tứ tuyệt viết ở L ũng D ẻ này, rất kiệm lòd, tính biểu trưng cao, thể hiện tầm nhìn và con m ắt thơ của m ột thi sĩ phương Đ ông Đ iều khiến tôi còn có sự phân vân nằm ở câu kết: "Đối ngạn nhất chi m ai Các bản dịch trước đây, đều được dịch: Bên bờ suối đối diện có m ột nhành m ai Bản dịch khá quen thuộc củ a nhà thơ T ố H ữu cũng hiểu vậy: “H ai mươi tư tííánq sáu! L ên ngọn núi này chơi! N gẩn g đầu : m ặt trời đỏ! Bên
su ố i m ộ t nỉìcinh m a i N hưiig, cũng ở câu thơ thứ
Trang 204 này, lại có m ột cách hiểu khác c ầ n được ch ú ý
N h à H án học T rần Đ ắc T họ trong c u ố n sách T h ơ
ch ữ H án củ a H ồ Chủ tịch (N X B Đ ại h ọ c Q u ố c gia H à N ội - 2003) cho rằng: “N h ấ t chi m a i” là
m ộ t cây chi m ai, chứ k hông phải m ộ t n h àn h m ai
T heo ông, ch i m ai là m ột loại m ai nhỏ, thường được trồ n g vào chậu, h o a nở vào m ù a xuân,
k h ô n g k ết trái N gưòi ta có thói q u en chcd chi
m ai cả cây, ch ứ k hông cắt cành vì h o a c h ó n g tàn
K hi n h ận x ét về các bản dịch cũ, ô n g T rần Đ ắc
T họ viết: “T h iế t nghĩ, nếu chỉ đơn giản là m ộ t
n h àn h m ai thì nó sẽ lẫn vào cây cỏ khác T ác giả ghi rõ thời đ iểm làm bài thơ là 24 th án g 6 - lúc
đ ó m ai làm g ì còn h o a n ữ a?” “N h ất ch i m a i” ở đây k h ô n g có n g h ĩa như “ nhất chi m ai" tro n g bài
th ơ nổi tiến g củ a M ãn G iác T hiền sư đời Lý;
“N g ạ c vị xu ân tàn, h oa lạ c tận/ Đ ình tiên tạ c dạ,
n h ấ t chi m a i ” (D ịch thơ: C hớ tưởng x u ân tàn
h o a rụ n g h ế t/ Đ êm qua sân trước m ộ t n h àn h
m ai)
Vậy, cụ m từ “n h ất chi m ai” tro n g câu thơ
“Đ ố i ngạn n h ấ t chi m a i ” là m ột n h àn h m ai, hay
là m ộ t cây chi m ai? M ột chi tiết tuy n h ổ nhưng
Trang 21nó lại ở Irona; câu cuối m ột bài thơ tứ tuyệt, có thể xein là m ộ t điểm nhấn, tạo n ên tứ thơ, nên
cũ n g cần được m inh định, ở C ao B àng, nếu có oài chi m ai thật, thì cách hiểu và d ịch củ a T rần
Đ ắc Thọ có cái lý củ a ông (Bên h ờ đ ố i diện có
m ộ t cây chi m ai). N hưng cũ n g k h ô n g loại trừ
k h ả năng, đó chỉ đơn giản là m ộ t n h àn h m ai, như
cá c h hiểu và d ịch của nhà thơ T ố H ữu T rong thơ
ca, m ộ t n h àn h m ai có thể đại d iện cho m ộ t cây
m ai lắm c h ứ ? !
V à, sẽ cảm đ ộng biết bao k h i ch ú n g ta b iết
th ê m đ iề u n ày : N g ày 2 4 -6 -1 9 4 2 , B ác H ồ
“Thướnẹ son ” (Lên núi) thì chỉ m ộ t thời g ian rất
n g ắn sau đó, n gày 27-8-1942, Bác lên đường từ sán g sớm đi B ình M ã, đến Túc V inh (h u y ện Đ ức Bảo, Q u ản g Tây, T rung Q uốc), liền bị b ọ n tu ần cản h bắt giữ Sự kiện oái ăm n ày đã m ở đ ầu cho thời gian hơn m ộ t năm Người bị Q uốc d ân đ ảng
T rung Q uốc g iam hãm , đoạ đày, để từ đó viết
n ên tập th ơ bất hủ N h ậ t ký tron g tù!
Trang 22BÀI THƠ CUỐI MỞ ĐẦU T ự DO
T ập thơ N h ậ t kỷ tron g tù g ồ m 134 bài (k h ô n g kể b ài th ứ 135 “M ớ i ra tù tậ p leo núi ” in
cu ố i tập khi tác g iả được tự do), v iết từ n g ày 29- 8-1 9 4 2 đ ến n gày 10-9-1943, k h o ả n g thời gian
N gười bị c h ín h q u y ền T ưởng G iớ i T h ạch bắt giam ở Q u ản g T ây (T rung Q uốc) N h ậ t ký tro n g
tù được V iện V ăn học tổ chức d ịch và N h à x u ất
b ản V ăn h ó a (H à N ội) cho ra m ắt rộng rãi b ạn đọc vào n ăm 1960 T ừ đấy tới nay, tập th ơ đ ã
n h iều lần tái bản; được nhiều n h à nghiên cứu, phê bìn h và b ạn đọc trong, ngoài nước tìm h iể u
m ộ t cách trân trọng, cô n g phu ch ủ y ếu n h ằm g iải
đ áp m ộ t th ắc m ắc m à G iáo sư Đ ặ n g Thai M ai có
ần nêu ra: “C á i g ì tron g tập th ơ n à y đ ã q u yến
rũ người đ ọ c , đ ã làm cho người đ ọ c ở nước ta cũn^ n hư ở nước n ẹ o à i đán h giá h ế t sức c a o ?
Á p-đen M a-lếch Kha-lin, trên b áo r//7 tức (A i- cập) ra ngày 10-9-1969, đã hết lời ca ngợi: “Cụ đ ã trở thành như m ột vị Thánh, m ột ngưìn thầy, m ộ t
Trang 23tií>ưă tiêu hiểu cho cuộc kháng chiến, m ộ t nhà văn,
m ột nhà tuyên truyền chính trị, m ộ t nhà nghiên cứu văn học sắc hén và m ột nhà th ơ ^iàu tình cảm
Khía cạnh nhà thơ vói tập N h ật kỷ trong tù, A Kha- lin viết: “Cồn v ề nhà thơ H ồ C h í Minh, thì p h ả i nói rằnĩỊ Cụ vào loại có m ột không hai trong c ả kìm vực Đ ô n ẹ N a m Á, như đ ã th ể hiện trong các hài thơ Cụ sủng tác tl'ong thòti gian bị tù đ à y ỏ Trung Quốc dưới c h ế đ ộ T ư ỏ n ẹ G ió iT h ạ c h , khi Cụ bị họn câm quyền Trung Quốc giam giữ, gông cùm và xiềng xích! Đ ọc những bài ứiơ trong N h ậ t kỷ troníỊ tù, tác giả cảm thấy rõ: ‘‘N guồn thơ của Cụ không hao ^iờdứt Và những bài th ơ đ ó tự nó cũng
m ỗi hình tượng thơ củ a N gười T ác g iả này đi đến m ột kết lu ận đáng chú ý: ‘T r o n g bản thân con nẹười ớ /?ẹ H ồ C h í Minh, nhà cách m ạ n g với ììĩịhệ s ĩ kiểu m ớ i là m ộ t ”. G B u-đa-ren cò n thấy
rõ tư tưỏíng N hân vãn vô cùng qu ý giá tro n g toàn
bộ tập N hật ký; “Troỉỉíỉ tất c ả c á c hài thơ, không
Trang 24hài n ào vắ n g hóng con người C á c h à i thơ ấ y góp p h ầ n tạ o nên tư tưởỉĩg N h â n văn ch o toàn tác p h ẩ m , và g ó p p h ầ n so i s á n ^ m ộ t thực t ế đ a n g
đ e d o ạ , p h á h oại con người!
T ập th ơ N h ậ t kỷ tron g tù q u ả là viên ngọc quý trong k h o tàn g văn h o á - văn học V iệt N am
và n h ân loại Bạn đọc rộng rãi đ ã và sẽ cò n dành nhiều thời gian, nhiều tâm h u y ết và nhiều phương p h áp tiếp cận nữa để tìm h iểu về hiện tượng văn h ọ c vừa sâu sắc vừa độc đ áo này
N gày 10 th á n g 9 n ăm 2003, ch ú n g ta kỷ niệm 60 n ăm Bác H ồ viết bài th ơ cuối cù n g , bài
số 134 "K ết lu ậ n ” tập N h ậ t kỷ tron g tù:
M a y mắn g ặ p được chủ nhiệm họ H ầu sán g suốt,
M à n a y ta lại là người tự do.
N h ậ t kỷ tron g tù ch ấm dứt từ đây,
C ả m tạ khôn x iế t cô n g ơn tái tạ o của ô n g H ầu!
2 9 -8 -1 9 4 2 - 10-9-1943
H ếtBài th ơ cuối tập th ơ N h ật k ý đã m ở đ ầ u m ột
Tự do m ới củ a B ác H ồ, g ó p p hần q uan trọ n g m ở
ra m ộ t thời đại chư a từng có trong lịch sử C ách
m ạn g nưóc ta!
Trang 25“ĐÃ SÁNG LẠI TRỜI THU THÁNG TÁM”
Do thời C ơ giành chính q u y ền đ ã đ ến gần, ngày 8 tháng 8 năm 1945, V iệt M in h liên tỉnh
N ghệ - T ĩnh (thành lập ngày 19-5-1945) tổ chức
Đ ại hội đại biểu b àn k ế hoạch T ổng khở i nghĩa
Đ ại hội khai m ạc tại làng C hâu Sơn, x ã Phúc
M ỹ, nay là x ã H ưng C hâu, huyện H ưng N guyên
Trước tình h ìn h thay đổi m au lẹ, Ban Thường vụ M ặt trận V iệt M inh N g h ệ - T ĩnh đ ã thành lập ngay ú y ban khởi nghĩa và p h át đ ộng khởi nghĩa giành chính quyền trong to àn tỉnh Ngày 15-8-1945, phát xít N hật đầu h àn g Đ ồng
m inh không điều kiện C hóp thời cơ thuận lợi
đó, Uỷ ban khởi nghĩa N ghệ - T ĩnh p h át lệnh;
“C á c địa phươỉig p h ả i b ố trí n gay việ c cưỚỊ? chính q u yền , tùy hoàn cảnh củ a từng đ ịa phưonịỉ, không câu nệ làng trước h a y huyện
Trang 26trước CưỚỊ) chính quyền xong, p h ả i tuyên h ố lìuỷ hỏ cá c p h á p luật, quyền lợi kinh tế, chính trị,
x ã hội d o P h á p , N h ậ t và chính ph ủ hù nhìn lập
) >
ra
N hận được lệnh, ngày 16-8-1945, nhân d ân
x ã T h an h T huỷ, huyện N am Đ àn đã vùng dậy
g iàn h ch ín h quyền; tiếp đó là các làng q u a n h
T hành p h ố V in h như Y ên D ũng, L ộc Đ a (ngày 17-8-1945) Q u ỳ n h Lưu là h u y ện đầu tiên ở
N s h ệ A n giành chính q uyền cấp h uyện th ắn g lợi vào ngày 18-8
P hong trào khởi ng h ĩa trên đà phát triển, được tin bọn tàn quân Pháp kéo vào vùng N a-p ê (L ào) đ ể từ đó nhảy vào N ghệ A n và H à T ĩn h ,
ng ày 18-8-1945, ư ỷ ban khởi n g h ĩa N ghệ - T ĩn h liền ra th ô n g tư khẩn cấp cho các địa phương:
“L ậ p tức cướp chính quyền và t ổ chức n gay cứu quân đ ể sẵn sà n g đ ố i p h ó với âm miỉii khỏi p h ụ c thuộc đ ịa củ a P h á p T ổ chức ĩo à án nhân d â n
cá ch m ạn g trừng trị họn V iệt gian và trộm cướp, tổng đ ộ n q viền sức người, sức của cho cách
m ạ n g ”. N h ận được thông tư này, n h iều đ ịa phương phải thay đổi k ế ho ạch khởi n g h ĩa củ a
Trang 27m ình Uỷ ban khởi nghĩa huyện H ưng N g u y ên liền phát động quần chúng biểu tình k éo lên phủ
ỵ giành chính quyền thắng lợi vào n gày 19-8- 1945
Tại T hành p h ố V inh (ngày 10-12-1927, chính quyền thực dân Pháp cho ra đời T h àn h p h ố
V inh - Bến T huỷ), vì đang có q uân N h ật với đầy
đủ vũ k h í trang bị, để tránh đổ m áu, ngày 19-8,
ta lổ chức lực lượng diễu hành thăm dò thái độ của quân N hật, nhưng quân N hật vẫn im lặng Vgày 21-8-1945, ta tiến hành giành c h ín h q u y ền tại thành phố Đ ồ n g ch í N guyễn T ài, đại diện
V iệt M inh vào gặp chỉ huy quân N hật Trước k h í Ihế áp đảo của cách m ạng, b ọ n N hật phải chấp nhận m ọi yêu cầu của ta
Đ ú n g 12 g iờ trưa ngày 2 1 -8 -1 9 4 5 , các lực ượng cách m ạng kéo đến, b ao vây D inh tỉnh trưởng N ghệ A n T ỉnh trưởng Đ ặn g V ăn H ướng tuyên bố đầu h àng cách m ạng Đ ồng c h í L ê V iết Lượng, Ihay m ặt u ỷ ban cách m ạng lâm thời
N ghệ An tuyên b ố xoá bỏ chính quyền cũ, thiết lập ch ín h quyền m ới, kêu gọi quần ch ú n g giúp
Trang 28đỡ, giữ gìn trật tự an ninh trong thành phố, bảo
vệ ch ín h q u yền cách m ạng
N hư vậy là với thắng lợi ở T hành p h ố V inh, cuộc K hởi nghĩa tháng T ám g iàn h chính q uyền trên toàn tỉnh ta đã thành công! N hân dân các dân tộc N g h ệ A n, bao năm lầm than, dưới ách thố n g trị c ủ a thực dân Pháp, phát xít N hật và vua
q u an p h o n g kiến thống trị, nay đứng dậy cùng cả nước g iàn h chính quyền, độc lập, tự chủ
C òn nhớ, trong Thư Chủ tịch H ồ C hí M in h gửi đ ổ n g bào N ghệ A n tỉnh nhà (H à N ội, ngày 17-9-1945), lấy danh nghĩa là m ộ t N gười - Đ ồ n g
C hí - G ià m à viết, san sẻ ít nhiều kinh n g h iệm với các đ ồ n g ch í của m ình, N gười phân tích và
k h ẳn g định: "Cuộc dân tộc cách m ạn g thành
cô n g n ày c ó những ý nghĩa, đ ó là: Trong m ộ t
thời gian ngắn, chúng ta đ ã phá tan chê độ quân
chủ chuyên c h ế m ấ y nghìn năm nay Chúng ta đ ã đánh đ ổ c á i nền thốn ẹ trị của hai đ ế q u ố c chủ nghĩa: P h á p và N hật Chúng ta đ ã lập nên m ộ t chính t h ể D â n chủ cộ n ẹ hoà Đ ó ỉà m ộ t thắng lợi xưa n ay chưa từng thấy trong lịch sử nước t a ! ”
T rong thư, N gưòi - Đ ồ n g - C hí - G ià còn đ ộ n g
Trang 29viên cán bộ và nhân dân N g h ệ A n trên cơ sở nhận thức rõ cái tất yếu sẽ đến: "''Công v iệ c p h á
h oại xon^ rồi N a y hước đầu công việ c d ọ n d ẹ p
sắ p đặt, íỊÌữ gìn kiến thiết À! V iệc n ày m ớ i khó
c h ứ ”. N gười viết tiếp; “K h ó thì khó thật, nhưng chún^ ta q u y ế t tâm, chúng ta vừa làm vừa học, nhất là chúng ta c ố m à theo cho đúng chính sách của Chính phủ, thì nhất định chúng ta vượt qua
h ết thảy nhũìiíỊ s ự khó khăn đ ó ”
G ần sáu thập kỷ trôi qua, những b iến đ ộng ịch sử trên quê hương cách m ạng, cù n g những lời chỉ b ảo ân cần, m inh triết của Ngưòd vẫn còn Liôn tươi mới!
Trang 30TẾT TRUNG THU ĐẦU TÈN
CỦA MỘT NƯỚC ĐỘC LẬP• • •
N ăm 1945, m ù a Thu C ách m ạn g tháng T ám thành công N ước V iệt N am D ân ch ủ C ộng h o à
ra đời C hẳng những người lớn m à trẻ con cũ n g vui sướng được sống trong m ộ t đ ấ t nước đ ã b ắt đầu có tự do và độc lập N h ớ đ êm T rung T h u đầu tiên trong sáng, lộng lẫy và ấm áp diễn ra ở T hủ
đô H à N ội n ăm đó, ông V ũ K ỳ - người th ư ký gắn bó nhiều n ăm với Bác H ồ - đ ã kể lại k h á tỉ
m ỉ trong m ộ t thiên h ồ i ký
V ào buổi chiều ngày 2 1 -9 -1 9 4 5 , tức n g ày 15-8 (âm lịch) n ăm Ất D ậu, Bác H ồ b ảo đ ồng c h í thư ký về n h à trước, còn m ìn h thì ở lại Bắc Bộ
p h ủ đón các ch áu thiếu nhi vào vui T ết T rung Thu Trước đó m ấy hôm , Bác đ ã viết m ộ t lá th ư dài gửi các ch áu nhân ngày tựu trường L iền đó,
N gười viết T h ư gửi tlìiếu nhi V iệt N a m đ ê m
Trang 31Trung Thu. Thư viết trước cả tuần lễ để kịp đến với các cháu m ình khắp m ọi m iền đất nước, đủ thấy Bác của chúng ta bao giờ cũng chu tất
Đ úng 21 giờ, các cháu có m ặt trước Bắc Bộ phủ Bác xuất hiện, tươi cười, thân thiết Tiếng hoan
hô, tiếng trống rộn ràng Sư tử thì nhảy m úa Tất
cả vui sướng, reo hò, kính chúc Bác H ồ sống lâu
m uôn tuổi Bác xúc động bước xuống thềm đón các cháu T iếng hoan hô càng dậy lên M ột bạn nhỏ, đứng trước m áy phóng thanh đọc lời chào mừiig Đ ọc xong, em hô to: “Bác Hồ m uôn n ăm ” thì lập tức, tiếng hô “ M uôn năm ” nối nhau không ngớt Bác giơ cao hai tay, tỏ ý cảm ơn các cháu, rồi lần lượt, Bác bắt tay từng cháu đứng ở dãy đầu Á nh m ắt Bác lúc này vui sưófng
ạ Ihường Bằng giọng N ghệ pha lẫn giọng các
m iền đất nước, Bác “ vào ch u y ện ” với các cháu rất tự nhiên: “C á c cháu! Đ â y là lời B ác H ồ nói
ch u y ệ n ”. C uối bài nói, trước khi phá cỗ, Bác
đề nghị tất cả cùng hô to: ‘T r ẻ em V iệt N am suniỊ sướtìg! ” - "Việt N a m Đ ộ c lập muôn năm!
V à th ế là, tiếng hô của các em rền vang cả m ột vùng Irời
Trang 32'T rẻ em V iệt N a m sunq sư ớ n g !” - "Việt
N a m Đ ộ c lậ p muôn năm! Tôi n g h ĩ, đấy k hông phải là khẩu hiệu, m à đấy là tấm lò n g khao k h át tột cùng củ a Chủ tịch H ồ C hí M in h , của tất cả thiếu nhi V iệt N am V iệt N am có Đ ộ c lập, trẻ em
m ới được sung sướng V à, trẻ em su n g sướng thì
sự Đ ộc lập kia m ới được thể h iện m ộ t cách cụ thể, thực chất Trẻ em V iệt N am vui sưóíig, V iệt
N am Đ ộc lập m uôn n ăm - sau g ần 60 năm trôi qua, đến h ô m nay và m ãi m ai sau, chắc chắn đó vẫn là những m ục tiêu, là động lực cho m ỗi chúng ta, cho các th ế hệ tiếp nối su y tư và h àn h động
GS T ôn T hất T ùng, khi nghe tin Bác H ổ q u a đời ông vừa khóc vừa viết: “Gcìn B á c, không hao
ẹ iờ n g h e B á c nói chính trị h a y lý luận cả, m à c h ỉ nghe những lời nhắc n h ở củ a m ộ t người C h a đ ố i với con N h ớ về T rung T hu đầu tiên của nước
V iệt N am Đ ộc lập - H o à bình, cho dù lúc bấy giờ
m ột nửa nước phía N am còn b ị tạm chiếm , chúng ta k h ô n ngu ô i cảm phục tấm lòng, niềm
k hao khát củ a N gười đối với thiếu nhi, rộng ra là đối với m ọi người, đ ể ai cũng c ó th ể 'T h ẳ n g