Sự phát triển nhanh của công nghiệp, thương mại – dịch vụ và những hạn chế của nền kinh tế thị trường đã tạo ra những vấn đề về môi trường, chất lượng cuộc sống của người dân, vấn đề nhà
Trang 1******************
NGUYỄN THỊ THU HƯỜNG
ĐỀ TÀI ĐẢNG BỘ HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH LÃNH ĐẠO CHUYỂN DỊCH
CƠ CẤU KINH TẾ ( 1991-2010)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH LỊCH SỬ ĐẢNG CSVN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH-NĂM 2014
Trang 2******************
NGUYỄN THỊ THU HƯỜNG
ĐỀ TÀI ĐẢNG BỘ HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH LÃNH ĐẠO CHUYỂN DỊCH
CƠ CẤU KINH TẾ ( 1991-2010)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH LỊCH SỬ ĐẢNG CSVN MÃ
SỐ:602256
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN THÙY DƯƠNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH-NĂM 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Nguyễn Thị Thu Hường
Trang 41.Tính cấp thiết của để tài 1
2.Tình hình nghiên cứu đề tài 3
3.Mục đích và nhiện vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5.Phương pháp nghiên cứu 7
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 8
7 Kết cấu của luận văn 8
Chương 1:Tầm quan trọng của chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thực trạng cơ cấu kinh tế của huyện Hóc Môn trước năm 1991 10
1.1 Cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế 10
1.1.1 Khái niệm về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 10
1.1.2 Một số lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu kinh tế 13
1.1.3 Quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về chuyển dịch cơ cấu kinh tế 16
1.1.4 Quan điểm chung của Đảng cộng sản Việt Nam 20
1.2.Tổng quan về huyện Hóc Môn và thực trạng cơ cấu kinh tế của huyện trước năm 1991 29
1.2.1 Lịch sử hình thành huyện Hóc Môn 29
1.2.2 Một số đặc điểm tự nhiên- xã hội của huyện Hóc Môn 33
1.2.2.1 Vị trị địa lý và điều kiện tự nhiên 33
1.2.2.2 Tài nguyên thiên nhiên 36
1.2.2.3 Đặc điểm văn hóa, xã hội của huyện 37
Trang 5dịch cơ cấu kinh tế ( 1991- 2010) 55
2.1 Quan điểm, chủ trương của Đảng bộ huyện Hóc Môn trong quá trình lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế 55
2.1.1 Thời kỳ 1991-1995 55
2.1.2 Thời kỳ 1996-2000 62
2.1.3 Thời kỳ 2001-2005 70
2.1.4 Thời kỳ 2006-2010 74
2.2 Đảng bộ huyện Hóc Môn lãnh đạo thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế (1991-2010) 78
2.2.1 Về cơ cấu ngành kinh tế 79
2.2.2 Về cơ cấu vùng kinh tế 95
2.2.3 Về cơ cấu thành phần kinh tế 102
Chương 3: Đánh giá chung và những kinh nghiệm rút ra từ sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ 1991- 2010 105
3.1 Đánh giá chung 105
3.1.1 Thành tựu 106
3.1.2 Khó khăn, hạn chế 109
3.2 Những bài học kinh nghiệm 112
3.3 Phương hướng, mục tiêu và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế… 114
3.3.1 Mục tiêu, phương hướng 114
3.3.2 Đề xuất một số giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế 116
Trang 6Phụ lục 138
Trang 7BẢNG DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CCKT : Cơ cấu kinh tế CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CNXH : Chủ nghĩa xã hội
NXB : Nhà xuất bản
Tp HCM : Thành phố Hồ Chí Minh XDCB : Xây dựng cơ bản
XHCN : Xã hội chủ nghĩa VAC : Vườn- Ao- Chuồng CN- TTCN : Công nghiệp- Tiểu thủ công nghiệp UBND : Ủy ban nhân dân
HTX : Hợp tác xã
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng tháng 12 năm 1986 đã quyết định chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản
lý của nhà nước Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, nhân dân ta đang thực hiện bước quá độ lên Chủ nghĩa xã hội, công cuộc đổi mới đất nước đã thu được nhiều thành tựu trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… đưa nước ta từng bước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Từ đó đến nay, đời sống của nhân dân cả nước ngày càng được nâng cao, thể hiện sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam ngày càng tin tưởng vào sự nghiệp đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996) của Đảng nhấn mạnh: Một trong những nhiệm vụ quan trọng của công nghiệp hóa, hiện đại hóa từ nay đến năm 2020 là ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Do vậy, cần phải tập trung thúc đẩy phát triển công nghiệp, nông nghiệp và nông thôn tiến nhanh hơn trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trong đó, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã được Đảng và Nhà nước ta xác định là con đường tất yếu để Việt Nam nhanh thoát khỏi tình trạng lạc hậu, chậm phát triển trở thành một quốc gia văn minh, hiện đại
Trang 9Cơ cấu kinh tế nước ta là cơ cấu thống nhất, trong đó mỗi tỉnh, thành phố là một bộ phận cấu thành, mỗi huyện là một đơn vị kinh tế dựa trên tiềm năng của địa phương và sự giúp đỡ của Trung ương nhằm vừa bảo đảm nhu cầu phát triển của kinh tế địa phương vừa góp phần phát triển kinh tế cả nước
Hóc Môn là huyện ngoại thành ở phía Tây Bắc của thành phố Hồ Chí Minh Nằm ở cửa ngõ của thành phố, Hóc Môn có hệ thống đường quốc lộ, đường vành đai, tỉnh lộ, hương lộ khá hoàn chỉnh Sông, kênh rạch cũng là thế mạnh về giao thông đường thủy, tất cả tạo cho huyện một vị trí thuận lợi để phát triển công nghiệp và đô thị hóa, hỗ trợ cho nội thành giảm áp lực dân cư đồng thời là vành đai cung cấp thực phẩm cho thành phố
Qua những năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Đảng bộ huyện Hóc Môn đã lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện từ công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp, thương mại - dịch vụ trước năm 2000 sang cơ cấu Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, thương mại – dịch vụ, nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tỷ trọng công nghiệp không ngừng tăng nhanh: năm 2000 là 41,8%, năm 2005 là 59,7%, năm 2010 là 60,2 % Trên bước đường đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện, Hóc Môn đang từng ngày phát triển với nhiều ngành nghề đa dạng, tốc độ tăng trưởng kinh tế ngày càng cao, đạt được nhiều thành tựu đáng kể trên các lĩnh vực kinh
tế, văn hóa, xã hội Nằm trong địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong những năm vừa qua, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Hóc Môn đã có những chuyển biến tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 10Tuy nhiên, quá trình lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện Hóc Môn đang đứng trước nhiều vấn đề đặt ra cần được xem xét giải quyết như: chưa khai thác hợp lý các tiềm năng của các thành phần kinh tế trong huyện, thiếu lao động qua đào tạo, có trình độ tay nghề cao, đời sống của nhân dân có lúc chưa ổn định Sự phát triển nhanh của công nghiệp, thương mại – dịch vụ và những hạn chế của nền kinh
tế thị trường đã tạo ra những vấn đề về môi trường, chất lượng cuộc sống của người dân, vấn đề nhà ở, chất lượng dịch vụ…
Xuất phát từ những lí do trên việc nghiên cứu đề tài: “Đảng bộ huyện Hóc Môn thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế (1991_2010)” là có ý nghĩa cần thiết về mặt lý luận
và thực tiễn Đó cũng là lý do tôi chọn đề tài “Đảng bộ huyện Hóc Môn thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế (1991_2010)” để làm luận văn tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Xung quanh vấn đề về chuyển đổi cơ cấu kinh tế đã có nhiều công trình nghiên cứu ở phạm vi cả nước đến các công trình nghiên cứu ở các địa phương, nhiều bài viết của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, các nhà khoa học đã được công bố dưới nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu khoa học tiêu biểu sau:
- Trước thời kỳ đổi mới đã có một số tác phẩm về cơ cấu kinh tế: + Về cơ cấu kinh tế công nông nghiệp của Viện CNXH khoa học (tháng 04/1986)
+ Cơ cấu công nông nghiệp hợp lý của Viện CNXH khoa học
+ Xây dựng cơ cấu hợp lý trong thời kỳ quá độ ở nước ta - Ủy ban khoa học xã hội
Trang 11Những tác phẩm trên đã đi vào phân tích hệ thống lý luận và thực tiễn của cơ cấu kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp nên chỉ đề cập đến hai ngành sản xuất vật chất công nghiệp và nông nghiệp
- Đến thời kỳ đổi mới đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu khoa học của nhiều cấp độ khác nhau về cơ cấu kinh tế:
+ Chuyển dịch CCKT theo hướng CNH- HĐH nền kinh tế quốc dân
2 tập của Ngô Đình Giao, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, 1994 Tác phẩm đã phân tích các căn cứ lý luận và thực tiễn trong quá trình chuyển dịch CCKT và phân tích các quan điểm, phương hướng xây dựng cơ cấu kinh tế có hiệu quả ở Việt Nam Tác giả đã kế thừa một
số quan điểm và phương hướng chung của chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH
+ Chuyển dịch CCKT nông nghiệp vùng nông thôn ngoại thành Tp.HCM của Trung tâm kinh tế học và phát triển, do TS.Trương Thị Minh Sâm chủ biên Tác giả kế thừa một phần mối quan hệ giữa CCKT với CNH, HĐH và những nhân tố tác động đến CCKT
+ Chuyển dịch CCKT Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI,
do TS Nguyễn Đình Quế chủ biên, Viện Khoa học xã hội (2004) Tác giả kế thừa một phần định hướng chung về chuyển dịch cơ cấu ngành và cơ cấu vùng kinh tế
+ Sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa ở Đông Á và Việt Nam của Bùi Tất Thắng - NXB Khoa học
xã hội (1994) và (2006) Tác giả kế thừa kinh nghiệm chuyển dịch CCKT ngành trong quá trình CNH của các nền kinh tế mới
+ Các nhân tố ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong thời kỳ CNH ở Việt Nam Chủ biên Bùi Tất Thắng (1997) Tác
Trang 12giả kế thừa một số vấn đề cơ bản về nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu ngành trong quá trình CNH-HĐH
+ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong điều kiện hội nhập với khu vực
và thế giới của phó Giáo sư tiến sĩ Lê Du Phong và phó Giáo sư tiến sĩ Nguyễn Thành Độ
+ Luận cứ khoa học và kiến nghị những giải pháp đồng bộ thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế (ngành, vùng, thành phần) trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của giáo sư tiến sĩ Ngô Đình Giao (Công trình khoa học cấp nhà nước, 1999)
Qua lịch sử nghiên cứu, đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu liên quan đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của cả nước nói chung, của thành phố Hồ Chí Minh nói riêng dưới nhiều góc độ và khía cạnh khác
kinh tế như chỉ rõ tổng thể các nhóm ngành, các yếu tố cấu thành hệ thống kinh tế; số lượng và tỉ trọng của các nhóm ngành trong tổng thể nền kinh tế đất nước, hay địa phương… Tuy nhiên cho đến nay, chưa có công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn huyện Hóc Môn thành phố Hồ Chí Minh, trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những kết quả của các công trình khoa học đã công bố, tôi mạnh dạn chọn đề tài “ Đảng bộ huyện Hóc Môn thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế (1991_2010)”, nhằm tìm hiểu quá trình lãnh đạo của Đảng bộ huyện Hóc Môn để tạo nên sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 1991-2010, góp phần đáp ứng những đòi hỏi của công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế- xã hội của huyện Hóc Môn trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trang 133 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu:
Làm rõ sự lãnh đạo của đảng bộ huyện Hóc Môn thể hiện ở sự vận dụng đường lối chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước của Trung ương vào thực tiễn địa phương để lãnh đạo phát triển kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn huyện giai đoạn 1991-2010 Từ những kết quả đạt được, chỉ rõ những thành tựu, hạn chế, rút ra một số kinh nghiệm, đề xuất những kiến nghị
để huyện Hóc Môn tiếp tục lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa của địa phương và góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa chung của đất nước
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Khái quát những vấn đề lí luận và quan điểm của đảng cộng sản Việt Nam, Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh, Đảng bộ huyện Hóc Môn trong quá trình lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 1991-
2010
+ Phân tích thực trạng của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chỉ ra những nguyên nhân, rút ra một số kinh nghiệm của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở huyện Hóc Môn giai đoạn 1991-2010
+ Nhận xét, đánh giá và đề xuất một số kiến nghị để thực hiện tốt quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn huyện Hóc Môn trong giai đoạn mới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Về đối tượng nghiên cứu:
- Sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Hóc Môn (qua chủ trương và quá trình tổ chức thực hiện) đối với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 1991-2010
Trang 14- Tập trung làm rõ quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên phạm vi địa bàn huyện Hóc Môn thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1991-
rõ quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện Hóc Môn dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện, từ đó đưa ra một số nhận xét đánh giá khách quan và đề xuất một số kiến nghị để thực hiện tốt quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn huyện trong giai đoạn mới
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn của chúng tôi được thực hiện bằng cách tiếp cận các khung lý thuyết và mô hình về chuyển dịch cơ cấu kinh tế; Phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Hóc Môn Bên cạnh việc vận dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, Luận văn cũng kết hợp sử dụng các phương pháp cụ thể để thực hiện đề tài như: phương pháp lịch sử, phương pháp logic, phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, đối chiếu, phương pháp thống kê
Trang 15Nguồn dữ liệu chủ yếu thu thập bao gồm các tư liệu thống kê, điều tra kinh tế - xã hội của phòng thống kê huyện Hóc Môn, Niên giám thống kê Thành phố Hồ Chí Minh, tư liệu của các ngành, các cấp trong huyện Luận văn có kế thừa và phát triển kết quả của các công trình nghiên cứu trước đây
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Thông qua việc trình bày một cách có hệ thống, có chọn lọc các quan điểm lý luận về quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế cùng những nhân tố tác động đến sự hình thành, xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, luận văn làm nổi bật bức tranh về quá trình lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Đảng bộ huyện Hóc Môn Thành Phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1991 – 2010 Trên cơ sở những thành tựu, hạn chế và những bài học kinh nghiệm được rút ra, tác giả đề xuất những kiến nghị cần được xem xét giải quyết để thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở huyện Hóc Môn trong giai đoạn mới, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của huyện nói riêng đồng thời góp phần vào sự phát triển chung của vùng kinh tế trọng điểm phía nam
và kinh tế của cả nước
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục được cấu trúc thành 3 chương:
Chương 1: Tầm quan trọng của chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thực trạng
cơ cấu kinh tế của huyện Hóc Môn trước năm 1991
Chương 2: Quá trình Đảng bộ huyện Hóc Môn lãnh đạo chuyển dịch cơ
cấu kinh tế (1991-2010)
Trang 16Chương 3: Đánh giá chung và những kinh nghiệm rút ra từ sự lãnh đạo
của Đảng bộ Huyện trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ
1991-2010
Trang 17Chương 1 TẦM QUAN TRỌNG CỦA CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
VÀ THỰC TRẠNG CƠ CẤU KINH TẾ CỦA HUYỆN HÓC MÔN TRƯỚC NĂM 1991
1.1.Cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế
1.1.1 Khái niệm về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trong các tài liệu kinh tế có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm cơ cấu kinh tế Các cách tiếp cận này thường bắt đầu từ khái niệm “ cơ cấu” Cơ cấu là một phạm trù triết học dùng để biểu thị cấu trúc bên trong, tỷ lệ và mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành hệ thống Cơ cấu được biểu hiện như là tập hợp những mối quan hệ liên kết hữu cơ, các yếu tố khác nhau của một hệ thống nhất định Nó biểu hiện ra như là một thuộc tính của sự vật hiện tượng, nó biến đổi cùng với sự biến đổi sự vật, hiện tượng” Vì thế khi nghiên cứu cơ cấu phải đứng trên quan điểm hệ thống
Ở trên là khái niệm về cơ cấu, cũng như vậy đối với nền kinh tế quốc dân, khi xem nó là một hệ thống phức tạp thì có thể thấy rất nhiều các bộ phận và các kiểu cơ cấu hợp thành của chúng, tuỳ theo cách mà chúng ta tiếp cận khi nghiên cứu
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam: “cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành”[55, 610]
Đứng trên quan điểm duy vật biện chứng và lý thuyết hệ thống
có thể hiểu:
Cơ cấu kinh tế: là một tổng thể hợp thành bởi nhiều yếu tố kinh
tế của nền kinh tế quốc dân, bao gồm cơ cấu ngành, cơ cấu vùng và cơ
Trang 18cấu thành phần kinh tế, giữa chúng có mối liên hệ hữu cơ, những tương tác qua lại cả về số lượng và chất lượng, trong những không gian và điều kiện kinh tế -xã hội cụ thể, chúng vận động hướng vào những mục tiêu nhất định
Cơ cấu kinh tế còn là một phạm trù trừu tượng, muốn nắm vững bản chất của cơ cấu kinh tế và thực thi các giải pháp nhằm chuyển dịch
cơ cấu kinh tế một cách có hiệu quả cần xem xét từng loại cơ cấu cụ thể của nền kinh tế quốc dân Mỗi một loại cơ cấu phản ánh những nét đặc trưng của các bộ phận và các cách mà chúng quan hệ với nhau trong quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân Dưới các góc độ khác nhau,
cơ cấu kinh tế được phân thành nhiều loại:
Xét dưới góc độ phân công lao động sản xuất- Cơ cấu ngành
Xét dưới góc độ hoạt động kinh tế – xã hội theo lãnh thổ-
Cơ cấu vùng
Xét hoạt động kinh tế theo quan hệ sở hữu- Cơ cấu thành phần kinh tế
Cơ cấu ngành kinh tế: Liên hợp quốc đã ban hành “Hướng dẫn
phân loại ngành theo tiêu chuẩn quốc tế đối với toàn bộ các hoạt động kinh tế” Theo đó có thể gộp các ngành phân loại thành 3 khu vực: + Khu vực I là nông nghiệp: bao gồm nông, lâm, ngư nghiệp + Khu vực II là công nghiệp: bao gồm các ngành công nghiệp và xây dựng
+ Khu vực III là dịch vụ: bao gồm thương mại, dịch vụ, du lịch… Trong quá trình sản xuất, các ngành có mối liên hệ tác động qua lại thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển Mối liên hệ giữa các ngành không chỉ biểu hiện về mặt định tính mà còn được tính toán thông qua tỷ lệ
Trang 19giữa các ngành, thường được gọi là cơ cấu ngành Như vậy cơ cấu ngành là mối quan hệ tỷ lệ giữa các ngành trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân, mối quan hệ này bao hàm cả về số lượng và chất lượng Chúng thường xuyên biến động và hướng vào những mục tiêu nhất định Cơ cấu ngành là bộ phận rất quan trọng trong cơ cấu kinh tế Sự biến động của nó có ý nghĩa quyết định đến sự biến động của nền kinh
tế
Cơ cấu lãnh thổ: Nếu cơ cấu ngành được hình thành từ chuyên
môn hóa sản xuất thì cơ cấu lãnh thổ hình thành từ việc bố trí sản xuất theo không gian địa lý Mỗi vùng lãnh thổ là một bộ phận tổ hợp của nền kinh tế quốc dân, do đó, sự khác nhau về điều kiện tự nhiên, kinh
tế, nguồn lao động, kết cấu hạ tầng và các điều kiện xã hội khác tạo cho mỗi vùng có những đặc thù những thế mạnh riêng Chuyển dịch cơ cấu kinh tế lãnh thổ trên cơ sở khai thác triệt để các lợi thế , tiềm năng của từng vùng, liên kết hỗ trợ nhau cùng phát triển Việc chuyển dịch cơ cấu lãnh thổ đảm bảo hình thành và phát triển có hiệu quả các ngành, các thành phần kinh tế phù hợp với đặc điểm của từng vùng nhằm khai thác có hiệu quả thế mạnh của từng vùng
Cơ cấu thành phần kinh tế: Các thành phần kinh tế được hình
thành trên cơ sở chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất Cùng với quá trình phát triển của lịch sử, chế độ sở hữu cũng xuất hiện những hình thức mới Sự chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế phải dựa trên nguyên tắc huy động tối đa nguồn lực và đạt hiệu quả cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh
Cơ cấu ngành, cơ cấu lãnh thổ và cơ cấu thành phần kinh tế là ba
bộ phận hợp thành cơ cấu của tổng thể kinh tế Trong đó, cơ cấu ngành
Trang 20có vai trò quan trọng nhất, nó trực tiếp giải quyết mối quan hệ cung – cầu, đảm bảo sự phát triển cân đối của cả nền kinh tế
Ngoài các loại cơ cấu kinh tế kể trên còn có nhiều loại cơ cấu khác nữa nhưng trong phạm vi bài viết xin được chỉ nêu những cơ cấu
cơ bản có sự ảnh hưởng lớn đến cơ cấu ngành mà thôi
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: là quá trình cải biến kinh tế xã hội
từ trạng thái lạc hậu, mang nặng tính chất tự cấp tự túc từng bước chuyên môn hóa hợp lý, trang bị kỹ thuật, công nghệ hiện đại, trên cơ
sở đó tạo ra năng xuất lao động cao, hiệu quả kinh tế cao và nhịp độ tăng tăng trưởng mạnh cho nền kinh tế nói chung Chuyển dịch cơ cấu kinh tế bao gồm việc chuyển biến cơ cấu kinh tế theo ngành, theo vùng lãnh thổ và các thành phần kinh tế.[55, 535]
Những yếu tố ảnh hưởng tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế bao gồm:
- Vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên
- Trình độ phát triển kinh tế thị trường
- Yếu tố kinh tế - chính trị- văn hóa- xã hội
- Yếu tố tiến bộ khoa học - công nghệ
- Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế
1.1.2 Một số lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Walt Rostow - cha đẻ của lý thuyết này cho rằng: quá trình phát triển của bất cứ quốc gia nào trên thế giới cũng đều phải trải qua 5 giai đoạn tuần tự như sau:
1 Xã hội truyền thống: đặc trưng là nông nghiệp giữ vai trò thống trị trong đời sống kinh tế, năng suất lao động kém và xã hội kém linh hoạt
Trang 212 Giai đoạn chuẩn bị cất cánh: Trong xã hội đã xuất hiện một tầng lớp chủ xí nghiệp có khả năng đổi mới, kết cấu hạ tầng xã hội - nhất là giao thông - đã phát triển; đã bắt đầu hình thành những ngành chủ lực có tác động thúc đẩy nền kinh tế phát triển
3 Giai đoạn cất cánh : Xuất hiện những ngành công nghiệp chế biến có tốc độ tăng trưởng cao, có những chuyển biến mạnh mẽ về thể chế xã hội thuận lợi cho sự phát triển của các ngành sản xuất hiện đại
và hoạt động kinh tế đối ngoại
4 Giai đoạn chuyển đến sự chín muồi kinh tế
5 Kỷ nguyên tiêu dùng hàng loạt: là giai đoạn kinh tế phát triển cao, đa dạng hóa sản xuất, thị trường linh hoạt và có hiện tượng tốc độ tăng trưởng suy giảm
Theo lý thuyết này, hầu hết các nước đang phát triển và đang trong quá trình công nghiệp hóa nằm ở trong khoảng giai đoạn 2 và 3
Về mặt cơ cấu kinh tế, phải bắt đầu hình thành được những ngành công nghiệp chế biến có khả năng thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế tăng trưởng Ngoài ra, sự chuyển tiếp từ giai đoạn 2 sang giai đoạn 3 đi kèm với sự thay đổi của những ngành chủ lực, đóng vai trò đầu tàu
Lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu (của Moise Syrquin):
Lịch sử phát triển của kinh tế thế giới đã cho thấy quá trình phát triển kinh tế cũng đồng nghĩa với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu tiến lên một nền kinh tế công nghiệp hóa và dần chuyển sang một nền kinh tế mà trong đó dịch vụ đóng vai trò quan trọng nhất hay còn gọi là một nền kinh tế đã phát triển Có thể tóm tắt lý thuyết chuyển dịch cơ cấu kinh tế của M Syrquin gồm ba giai đoạn: (1) sản xuất nông nghiệp, (2) công nghiệp hóa, và (3) nền kinh tế phát triển
Trang 22Giai đoạn 1: có đặc trưng chính là sự thống trị của các hoạt động của khu vực khai thác, đặc biệt là nông nghiệp, như là nguồn lực chính trong việc gia tăng sản lượng của các hàng hóa khả thương
Giai đoạn 2 hay là giai đoạn công nghiệp hóa: có đặc điểm nổi bật là tầm quan trọng trong nền kinh tế đã được chuyển từ khu vực nông nghiệp sang khu vực chế biến và chỉ tiêu chính để đo lường sự dịch chuyển này là tầm quan trọng của khu vực chế biến trong đóng góp và tăng trưởng kinh tế chung ngày càng tăng lên
Giai đoạn 3: là giai đoạn của một nền kinh tế phát triển Khu vực dịch vụ trở thành khu vực quan trọng nhất và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu GDP cũng như cơ cấu lao động Sự thay đổi này xuất hiện rất rõ ràng ở tất cả các nước công nghiệp phát triển trong suốt 20 năm qua
Có thế nói rằng, lý thuyết chuyển dịch cơ cấu của M Syrquin là một bức tranh tổng thể khá chính xác về sự phát triển và chuyển dịch
cơ cấu kinh tế trên thế giới thời kỳ hiện đại Thực tiễn phát triển kinh tế thế giới thời gian qua đã cho thấy rằng quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới đã và đang chuyển qua bốn giai đoạn
Giai đoạn 1: Nông nghiệp – Công nghiệp – Dịch vụ Giai đoạn 2: Công nghiệp – Nông nghiệp – Dịch vụ Giai đoạn 3: Công nghiệp – Dịch vụ – Nông nghiệp Giai đoạn 4: Dịch vụ – Công nghiệp – Nông nghiệp Như thế, tầm quan trọng của khu vực dịch vụ tại bất cứ quốc gia nào trên thế giới cũng tuỳ thuộc phần lớn vào giai đoạn phát triển đương thời
Mô hình Harry T Oshima
Trang 23Với những đặc điểm cơ bản của sản xuất nông nghiệp và hoạt động kinh tế Châu Á, trong tác phẩm “Tăng trưởng kinh tế ở các nước Châu Á gió mùa”, Oshima đề xuất phát triển công nghiệp ngay trên địa bàn nông thôn, vẫn giữ lao động trong nông nghiệp, nhưng cần tạo thêm nhiều việc làm trong thời kỳ nhàn rỗi Khi thị trường lao động trở nên khắt khe hơn thì tiền công lao động tăng nhanh, các nông trại, xí nghiệp phải chuyển sang cơ khí hóa Việc sử dụng máy móc cơ khí sẽ làm tăng năng suất lao động và tăng tổng thu nhập trong nước Với quan điểm đó, một cơ cấu kinh tế hợp lý sẽ được hình thành
1.1.3 Quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế, một phạm trù kinh tế có tầm quan trọng to lớn trong quá trình xây dựng và thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội của mỗi quốc gia qua các thời kỳ Cơ cấu kinh tế hợp lý cho phép tạo nên sự cân đối, hài hoà của nền kinh tế để sử dụng một cách
có hiệu quả các nguồn lực, tài nguyên, của cải vật chất, của cải tinh thần và sức lao động Điều đó có ý nghĩa to lớn đối với sự tăng trưởng,
và phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội của nền kinh tế quốc dân
Thuật ngữ “cơ cấu” hay “cấu trúc” có nguồn gốc ban đầu từ chữ
La Tinh “Trucke”, có nghĩa là xây dựng, được sử dụng trong kiến trúc, phản ánh cách sắp xếp các bộ phận của một chủng thể sinh vật nào đó trong sinh vật học Sau đó, khái niệm “cơ cấu” được sử dụng rộng hơn cho các ngành khoa học khác, trong đó có các nghành kinh tế của nền kinh tế quốc dân [42, 8]
Theo quan điểm triết học “cơ cấu” hay “kết cấu” là một phạm trù phản ánh cấu trúc bên trong của đối tượng, là tập hợp những mối liên
Trang 24hệ cơ bản, tương đối ổn định giữa các yếu tố cấu thành nên đối tượng, trong một thời gian nhất định
Đứng trên quan điểm duy vật biện chứng và lý thuyết hệ thống C.Mác tiếp cận cơ cấu nền kinh tế như là: Toàn bộ các quan hệ giữa những người làm nhiệm vụ sản xuất với nhau và giữa họ với tự nhiên tức là những điều kiện trong đó họ tiến hành sản xuất Toàn bộ những quan hệ đó hợp thành xã hội, xét về mặt cơ cấu kinh tế của nó
Khi phân tích mối quan hệ phân công lao động xã hội, với cơ cấu kinh tế xã hội C.Mác đã nhấn mạnh: “Cơ cấu kinh tế của xã hội là toàn
bộ những quan hệ sản xuất phù hợp với một quá trình phát triển nhất định của lực lượng sản xuất vật chất” [43, 7]
C.Mác còn phân tích cơ cấu kinh tế cả hai mặt: số lượng (quy
mô, tỷ trọng, tốc độ) và chất lượng (vị trí, sự tương tác, trình độ công nghệ ) Đó là biểu hiện của mối quan hệ tỷ lệ giữa các ngành, lĩnh vực kinh tế Và theo C.Mác, cơ cấu là “một sự phân chia về chất lượng và một tỷ lệ về số lượng của những quá trình tái sản xuất xã hội” [44, 102]
Như vậy, theo C.Mác, cơ cấu kinh tế có cấu trúc bao gồm: Những yếu tố gắn với lực lượng sản xuất (các quan hệ giữa họ với tự nhiên, kỹ thuật) và các nội dung của quan hệ sản xuất (các quan hệ kinh
tế giữa người với người trong quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội) hợp thành Nếu cơ cấu nền kinh tế bao gồm hai mặt lực lượng sản xuất
và quan hệ sản xuất thì khi phân tích cơ cấu kinh tế không thể không xem xét mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Một cơ cấu kinh tế được coi là hợp lý là một cơ cấu được hình thành và phát triển trong đó các yếu tố của quan hệ sản xuất luôn phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất Cơ cấu kinh tế không ngừng vận
Trang 25động, biến đổi do sự vận động, biến đổi của lực lượng sản xuất Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế được coi là hợp lý, tiến bộ khi tỷ trọng khu vực công nghiệp, đặc biệt là tỷ trọng khu vực dịch vụ ngày càng tăng, tỷ trọng khu vực nông- lâm- ngư nghiệp và khai khoáng ngày càng giảm trong tổng giá trị sản phẩm xã hội [18, 297]
Một cơ cấu kinh tế hợp lý trong một nền kinh tế thị trường hiện đại đòi hỏi công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ phát triển mạng mẽ và đồng bộ Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý là yêu cầu khách quan trong thời kỳ công nghiệp hóa ở tất cả các nước trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội [18, 298]
Theo Hồ Chí Minh, nền kinh tế mà chúng ta xây dựng là nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với công- nông nghiệp hiện đại, khoa học và
kỹ thuật tiến tiến, cách bóc lột theo chủ nghĩa tư bản được xóa bỏ dần, đời sống vật chất của nhân dân ngày càng được cải thiện
Nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ở nước ta xây dựng cần phát triển toàn diện các ngành mà những ngành chủ yếu là công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, trong đó “công nghiệp và nông nghiệp là hai chân của nền kinh tế nước nhà”.[56, 544]
Bên cạnh đó, kết hợp các loại lợi ích kinh tế là vấn đề rất được
Hồ chí Minh quan tâm Người đặc biệt nhấn mạnh chế độ khoán là một trong những hình thức của sự kết hợp lợi ích kinh tế [19, 65]
Đối với cơ cấu kinh tế, Hồ Chí Minh đề cập đến cơ cấu ngành và
cơ cấu thành phần kinh tế Người quan niệm hết sức độc đáo về cơ cấu kinh tế nông- công nghiệp, lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu, củng cố hệ thống thương nghiệp làm cầu nối tốt nhất giữa các ngành sản xuất xã hội, thỏa mãn nhu cầu thiết yếu của nhân dân
Trang 26Đối với kinh tế vùng, lãnh thổ, Hồ Chí Minh lưu ý phải phát triển đồng đều giữa kinh tế đô thị và kinh tế nông thôn Người đặc biệt chú trọng chỉ đạo phát triển kinh tế vùng núi, hải đảo vừa tạo điều kiện không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống của đồng bào, vừa đảm bảo an ninh quốc phòng cho đất nước [19, 73]
Ở nước ta, Hồ Chí Minh là người đầu tiên chủ trương phát triển
cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong suốt thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội.[19,74]
Tóm lại, cơ cấu của nền kinh tế quốc dân được hiểu là tổng thể những mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành nền kinh tế: Các lĩnh vực sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng; các ngành kinh tế: công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ ;các thành phần kinh tế - xã hội: Nhà nước, tập thể, tư nhân ;các vùng kinh tế
Ở mỗi vùng, mỗi ngành, mỗi địa phương lại có cơ cấu kinh tế riêng, tuỳ theo điều kiện tự nhiên, địa lý, kinh tế, xã hội cụ thể
Cơ cấu kinh tế là hệ thống động, biến đổi không ngừng theo đà
phát triển của lực lượng sản xuất và những nhân tố quy định nó Để đánh giá một cách thực tế việc xác định đúng đắn cơ cấu kinh tế và ứng
dụng đúng đắn cơ cấu kinh tế vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia,
từng địa phương, trong từng giai đoạn phát triển, cần lưu ý những đặc trưng sau của cơ cấu kinh tế
Thứ nhất: Cơ cấu kinh tế mang tính khách quan
Thứ hai: Cơ cấu kinh tế mang tính lịch sử Thứ ba: Cơ cấu kinh tế có tính mục tiêu hiệu quả kinh tế - xã hội Thứ tư: Cơ cấu kinh tế mang tính thị trường và mở cửa
Việt Nam chưa sẵn có một cơ cấu kinh tế hợp lý của một nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, vì thế phải xây dựng mới từ đầu Trong quá
Trang 27trình phát triển đi lên, đã có thời kỳ Đảng ta có sự bố trí chưa đúng trong việc xây dựng cơ cấu kinh tế Do đó, vấn đề đặt ra hiện nay là phải có những đường lối, chính sách phù hợp để chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng, đưa Việt Nam bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
1.1.4 Quan điểm chung của Đảng cộng sản Việt Nam
Ở nước ta, cơ cấu kinh tế đã được Đảng cộng sản Việt Nam đề cập đến từ rất sớm, nhưng chỉ từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VI ( 12/1986), qua Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991), đặc biệt là Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996), dưới ánh sáng của đường lối đổi mới, quá trình thực hiện sự chuyển dịch cơ cấu kinh
tế mới thực sự rõ nét và đạt được nhiều thành tựu quan trọng
Xuất phát từ nhiệm vụ bao trùm và mục tiêu tổng quát, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng xác định những mục tiêu cụ thể
về kinh tế- xã hội cho những năm còn lại của chặng đường đầu tiên:
Một là: Sản xuất đủ tiêu dùng và có tích lũy [21, 43]
Hai là: Bước đầu tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý nhằm phát triển sản xuất…, phải xây dựng được một cơ cấu kinh tế hợp lý, trước hết là cơ cấu các ngành kinh tế, phù hợp với tính quy luật về sự phát triển các ngành sản xuất vật chất, phù hợp với khả năng của đất nước và phù hợp với sự phân công lao động và hợp tác quốc tế Cơ cấu kinh tế
đó bảo đảm cho nền kinh tế phát triển cân đối với nhịp độ tăng trưởng
ổn định Phải thông qua việc sắp xếp lại sản xuất đi đôi với việc xây dựng thêm một số cơ sở vật chất- kỹ thuật cần thiết, tạo ra cho được một cơ cấu kinh tế hợp lý, hướng vào việc đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, chủ yếu là lương thực, thực phẩm, đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu
Trang 28Ba là: Xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
Bốn là: Tạo ra chuyển biến tốt về mặt xã hội
Năm là: Bảo đảm nhu cầu củng cố quốc phòng an ninh [21, 44- 45]
Tư tưởng chỉ đạo của kế hoạch và các chính sách kinh tế là giải phóng mọi năng lực sản xuất hiện có, khai thác mọi khả năng tiềm tàng của đất nước và sử dụng có hiệu quả sự giúp đỡ của quốc tế để phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất đi đôi với xây dựng và củng cố quan
hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa Tư tưởng chỉ đạo đó thể hiện trong các chính sách và biện pháp lớn, trong đó: Muốn đưa nền kinh tế sớm thoát khỏi tình trạng rối ren, mất cân đối, phải dứt khoát sắp xếp lại nền kinh
tế quốc dân theo cơ cấu hợp lý, trong đó các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế, các loại hình sản xuất có quy mô và trình độ kỹ thuật khác nhau phải được bố trí cân đối, liên kết với nhau, phù hợp với điều kiện thực tế, bảo đảm cho nền kinh tế phát triển ổn định [21, 47]
Yêu cầu cấp bách về lương thực, thực phẩm, nguyên liệu sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu quyết định vị trí hàng đầu của nông nghiệp Phải đưa nông nghiệp tiến một bước theo hướng sản xuất lớn nhằm yêu cầu chủ yếu là tăng nhanh khối lượng và tỷ suất hàng hóa nông sản
Phương châm phát triển nông nghiệp là kết hợp chuyên môn hóa với phát triển toàn diện, cân đối giữa trồng trọt và chăn nuôi, lúa và hoa màu, cây lương thực và cây công nghiệp… phát triển nông nghiệp phải lấy thâm canh, tăng vụ là chính đồng thời mở rộng diện tích một cách vững chắc và có hiệu quả
Trang 29Phát triển lâm ngiệp theo hướng bảo vệ và sử dụng có hiệu quả tài nguyên rừng
Hải sản và thủy sản nước ngọt, nước lợ là một nguồn lợi lớn coi trọng cả đánh bắt và nuôi trồng, đi đôi với việc giải quyết tốt việc chế biến, vận chuyển để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và tăng nhanh hàng xuất khẩu
Công nghiệp nhẹ và tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp đáp ứng cho được nhu cầu của nhân dân về những loại hàng thông thường, bảo đảm nhu cầu chế biến nông, lâm, thủy sản, tăng nhanh việc làm hàng gia công xuất khẩu và các mặt hàng xuất khẩu khác [21,48- 50]
Việc phát triển công nghiệp nặng và xây dựng kết cấu hạ tầng phải nhằm phục vụ các mục tiêu kinh tế, quốc phòng trong chặng đường đầu tiên, và theo khả năng thực tế, chuẩn bị tiền đề cho sự phát triển kinh tế trong chặng đường tiếp theo… không bố trí xây dựng công nghiệp nặng vượt quá điều kiện và khả năng thực tế, ngay cả để phục
vụ nông nghiệp và công nghiệp nhẹ [21, 50]
Lê -Nin coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ Ở nước ta các thành phần đó là:
- Kinh tế xã hội chủ nghĩa bao gồm khu vực quốc doanh và khu vực tập thể, cùng với bộ phận kinh tế gia đình gắn liền với thành phần đó
- Các thành phần kinh tế khác gồm : kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa ( thợ thủ công, nông dân cá thể, những người buôn bán và kinh doanh dịch
vụ cá thể) ; kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức, mà hình thức cao là công tư hợp doanh; kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc trong một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên
và các vùng núi cao khác [21, 56-57]
Trang 30Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII(6/1991) có ý nghĩa lịch sử trọng đại Với việc thông qua cương lĩnh chính trị, chiến lược kinh tế
và những chính sách cụ thể, Đại hội VII đã hình thành rõ nét con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với những đặc điểm của nước ta Tổng kết những kinh nghiệm bước đầu của công cuộc đổi mới và bổ sung những giải pháp tiếp tục khắc phục cuộc khủng hoảng kinh tế- xã hội, Đại hội VII có vai trò tạo ra tiền đề làm cho đất nước ta trụ vững trước những ảnh hưởng vô cùng bất lợi của sự tan rã hệ thống XHCN, đồng thời cũng là sự mở đầu quá trình đưa nền kinh tế đất nước ta ra khỏi cuộc khủng hoảng
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng từng bước công nghiệp hóa, thoát khỏi tình trọng nông nghiệp lạc hậu Nhiều ý kiến đề nghị tiếp tục coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu trong chiến lược kinh tế -
xã hội đến năm 2000 Trong hoàn cảnh nước ta, nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan trọng của nông nghiệp là đúng Tuy nhiên để phát triển nông nghiệp, phải tăng cường tiềm năng công nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu của nông nghiệp cả ở “đầu vào” và “ đầu ra” Và chỉ có như thế, nền kinh tế mới có tấc độ tăng trưởng cao, tạo nguồn tích lũy lớn, từng bước công nghiệp hóa đất nước Các văn kiện diễn đạt quan điểm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thập kỷ 90 như sau: phát triển nông – lâm - ngư nghiệp gắn cới công nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình kinh tế - xã hội; đồng thời tăng tốc độ và tỷ trọng của công nghiệp, mở rộng kinh tế dịch vụ theo hướng huy động triệt để các khả năng xản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu [22, 119- 120]
Xuất phát từ tình hình nói trên và căn cứ vào mục tiêu của chặng đầu thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, mục tiêu tổng quát của 5 năm
Trang 31tới là vượt qua khó khăn thử thách, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường ổn định chính trị, đẩy lùi tiêu cực và bất công xã hội, đưa nước ta cơ bản ra khỏi tình trạng khủng hoảng hiện nay [22,60] Tập trung mọi nỗ lực giải quyết các vấn đề cấp bách nhất về kinh
tế, xã hội, trên cơ sở đó thực hiện thắng lợi mục tiêu kinh tế của kế hoạch 5 năm 1991 – 1995: đẩy lùi và kiểm soát được lạm phát, ổn định phát chiển và nâng cao hiệu quả nền sản xuất xã hội, ổn định và từng bước cải thiện đời sống nhân dân và bắt đầu có tích lũy từ nội bộ nền kinh tế
Để thực hiện nhiệm vụ trên, phải phát huy sức mạnh của các thành phần kinh tế với những nội dung cao hơn trước và từng bước xây dựng cơ cấu kinh tế mới theo yêu cầu công nghiệp hóa; đẩy nhanh nhịp
độ ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật; hình thành về cơ bản và vận hành tương đối thông suốt cơ chế quản lý mới
Về cơ cấu ngành và vùng: Tập trung đầu tư cả chiều rộng và chiều sâu, tạo chuyển biến rõ nét về cơ cấu kinh tế, trước hết đối với những ngành và vùng trọng điểm có hiệu quả nhanh Các phương hướng lớn là:
phát triển toàn diện kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình kinh tế - xã hội…
lương thực – thực phẩm nhằm bảo đảm vững chắc nhu cầu trong nước
và có khối lượng xuất khẩu lớn, nhất là gạo và sản phẩm chăn nuôi…
thủy sản…
Trang 32- Phát triển kinh tế rừng, trồng rừng, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, nâng cao hiệu quả khai thác và sử dụng tài nguyên rừng…
sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu…
đáp ứng yêu cầu sản xuất, đời sống và hợp tác quốc tế
Tiếp tục xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế vùng phù hợp với chiến lược chung của cả nước Phát huy thế mạnh của từng vùng, từng địa phương, khai thác các nguồn lực tại chỗ, đồng thời chủ động mở rộng quan hệ phân công, hợp tác, liên kết với các vùng khác trong nước và với nước ngoài…
Tiếp tục xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần và đổi mới quản lý kinh tế Phát huy thế mạnh của các thành phần kinh tế, vừa cạnh tranh vừa hợp tác, bổ sung cho nhau trong nền kinh tế quốc dân thống nhất
Trên cơ sở đường lối cách mạng được thông qua tại Đại hội VII Đảng cộng sản Việt Nam, với quan điểm tiếp tục đổi mới và phát triển nông nghiệp nông thôn, NQ 05/HNTW khóa VII(6/1993) đã đánh giá thực trạng nông nghiệp, nông thôn nước qua qua những năm đổi mới:
“sức sản xuất ở nông thôn được giải phóng một bước quan trọng, tiềm năng của nông dân được phát huy, cơ sở vật chất kỹ thuật trong nông nghiệp và phục vụ nông nghiệp được tăng cường làm cho sản xuất đạt mức tăng trưởng khá và tương đối ổn định…”, “chính sách kinh tế nhiều thành phần đã đi vào cuộc sống, khơi dậy nhiều nguồn lực, làm cho sản xuất kinh doanh ở nông thôn phát triển năng động
Trang 33hơn…”…song nhìn chung nông nghiệp nước ta vẫn chưa thoát ra khỏi tình trạng sản xuất nhỏ.[52, 1-2]
Vào những năm cuối của thế ký XX, sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ tổ quốc của Đảng và nhân dân ta tiếp tục phát triển trong tình hình thế giới diễn biến nhanh chóng, phức tạp Công cuộc đổi mới sau 10 năm đã đạt được nhiều thành tựu to lớn Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng cộng sản Việt Nam (6/1996) có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đánh dấu bước ngoặt mới trong tiến trình phát triển của cách mạng nước ta
Đại hội xác định: Mục tiêu của CNH, HĐH là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất- kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tính thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh
Từ nay đến năm 2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp.[23,80]
Giai đoạn từ nay đến năm 2000 là bước rất quan trọng của thời
kỳ phát triển mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Nhiệm vụ của nhân dân ta là tập trung mọi lực lượng, tranh thủ thời cơ, vượt qua thử thách, đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách toàn diện và đồng bộ, tiếp tục phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN, phấn đấu đạt và vượt mục tiêu được đề ra trọng chiến lược ổn định và phát triển kinh tế- xã hội đến năm 2000: tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu quả cao
và bền vững đi đôi với việc giải quyết những vấn đề bức xúc về xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng, cải thiện đời sống nhân dân, nâng cao
Trang 34tích lũy từ nội bộ ngành kinh tế, tạo tiền đề vững chắc cho bước phát triển cao hơn vào đầu thế kỷ sau.[23, 82]
Phát triển và phát huy tối đa tiềm lực khoa học công nghệ Đổi mới căn bản tổ chức, quản lý và nâng cao hiệu quả khu vực doanh nghiệp nhà nước Đổi mới và phát triển đa dạng các hình thức kinh tế hợp tác từ thấp đến cao mà nòng cốt là HTX Phát triển các hình thức liên doanh, liên kết trực tiếp giữa các doanh nghiệp nhà nước với nhau, giữa kinh tế nhà nước với kinh tế hợp tác…
Tạo việc làm nhiều hơn số lao động tăng thêm hằng năm, giảm đáng kể thất nghiệp, xóa đói, tiếp tục giảm nghèo…
Giữ vững ổn định chính trị và định hướng CNXH trong quá trình phát triển…[23,83]
Nội dung cơ bản của CNH,HĐH trong những năm còn lại của thập kỷ 90:
Đặc biệt coi trọng CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn Phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp, hình thành các vùng tập trung chuyên canh, có cơ cấu hợp lý về cây trồng, vật nuôi…
Thực hiện tốt về thủy lợi hóa, điện khí hóa, cơ giới hóa, sinh học hóa…
Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản với công nghệ ngày càng cao, gắn với nguồn nguyên liệu và liên kết công nghiệp
ở đô thị
Phát triển các ngành nghề, làng nghề truyền thống và các ngành nghề mới bao gồm tiểu, thủ công nghiệp, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, công nghiệp khai thác và chế biến các nguồn nguyên liệu phi nông nghiệp…
Trang 35Ưu tiên các ngành chế biến lương thực, thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, công nghiệp điện tử và công nghệ thông tin…
Khắc phục tình trạng xuống cấp của hệ thống giao thông hiện có, khôi phục, nâng cấp và mở rộng thêm một số tuyến giao thông trọng yếu…
Phát triển nhanh du lịch, các dịch vụ hàng không, hàng hải, bưu chính viễn thông, thương mại, vận tải, tài chính ngân hàng…từng bước đưa nước ta trở thành một trung tân du lịch, thương mại, dịch vụ có tầm
Hóc Môn là một huyện ngoại thành của một Thành phố Hồ Chí Minh, một thành phố lớn bậc nhất nước ta, lại nằm trong vùng trọng điểm kinh tế phía Nam của Tổ quốc, là một trong những huyện có nhiều tiềm năng và thế mạnh về vị trí địa lý, đất đai, truyền thống lịch
sử, di tích cách mạng, con người…đang từng bước được đầu tư khai thác, Hóc Môn đang góp phần cùng với các quận huyện khác của thành phố Hồ Chí Minh chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng với sự lãnh
Trang 36đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, góp phần vào thực hiện thắng lợi chung trong sự nghiệp đổi mới của đất nước
1.2.Tổng quan về huyện Hóc Môn và thực trạng cơ cấu kinh tế của huyện trước năm 1991
1.2.1 Lịch sử hình thành huyện Hóc Môn
Theo sách “Gia Định thành thông chí” của Trịnh Hoài Đức, tháng 2 năm Mậu Dần (1698), chúa Nguyễn ra lệnh cho Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lý phía Nam và quyết định thành lập Phủ Gia Định gồm huyện Phước Long và huyện Tân Bình Thời điểm năm
1698, vùng đất phía Nam dân cư thưa thớt, đất đai còn hoang vu, địa danh “Hóc Môn” lúc đó chưa có tên gọi, là một vùng đất nằm trong huyện Tân Bình, thuộc Phủ Gia Định Từ năm 1698 đến năm 1731, một
số lưu dân từ miền Bắc, miền Trung do không cam chịu sự thống trị hà khắc của phong kiến triều Trịnh-Nguyễn phân tranh loạn lạc nên đã đến vùng đất này để sinh cơ, lập nghiệp, lập ra những thôn ấp và nông trại, lúc đầu hình thành 06 thôn: Tân Thới Nhứt, Thuận Kiều, Tân Thới Nhì, Tân Thới Trung, Xuân Thới Tây, Tân Phú Rồi từ 6 thôn trên đã phát triển thành 18 thôn khác bao gồm: Thuận Kiều, Thuận An, Trung Hòa,
Tư Chánh Giáo Đức, Tân Thới Bình, Tân Thới Đông, Tân Thới Tây, Tân Thới Trung, Tân Thới Nhất, Tân Thới Nhì, Tân Thới Tam, Tân Thới Tứ, Toàn Mỹ, Tân Thới Nhứt Tây, Tân Thới Nhì Tây, Xuân Thới, Xuân Thới Tây, Tân Phú.[32, 14] Vùng đất này thích nghi với sự phát triển của dây trầu và cây cau nên 18 thôn này đã trở thành vùng chuyên canh về trồng trầu, trồng cau cung cấp cho vùng đất phương Nam, từ
đó nó có tên gọi “ Thập Bát Phù Viên” (Mười Tám Thôn Vườn Trầu) Còn về địa danh Hóc Môn có rất nhiều giai thoại về xuất xứ của
nó Cho đến nay cũng có rất nhiều cách giải thích khác nhau về địa
Trang 37danh này Về cơ bản, đến đầu thế kỷ XIX, một số thôn của Hóc Môn vẫn còn những nét hoang dã, có cọp dữ nổi tiếng như “cọp vườn trầu”
và có nhiều đầm môn nước mọc um tùm, nên trong dân gian địa danh
“Hóc Môn” có tên gọi từ đây (hóc hẻm có nhiều cây môn)
Năm 1802, sau khi lên ngôi, vua Gia Long đã cho cải cách lại các đơn vị hành chánh, đổi phủ Gia Định thành trấn Gia Định Đến năm
1808, vua Gia Long lại đổi trấn Gia Định thành Gia Định Thành và nâng huyện Tân Bình lên thành Phủ Tân Bình Phủ Tân Bình có 04 huyện, trong đó có huyện Bình Dương Lúc đó, vùng đất Hóc Môn ngày nay có tên gọi là huyện Bình Dương thuộc phủ Tân Bình của Gia Định Thành, huyện lỵ Bình Dương đóng tại làng Tân Thới Nhì (nay là vùng Trung tâm Thị trấn Hóc Môn)
Năm 1832, vua Minh Mạng đổi tên Gia Định Thành thành tỉnh Phiên An Đến năm 1836, lại tiếp tục đổi tên tỉnh Phiên An thành tỉnh Gia Định Năm 1841, phủ Tân Bình lại tăng thêm một huyện là huyện Bình Long (do một phần huyện Bình Dương tách ra) Lúc đó, vùng đất Hóc Môn ngày nay có tên gọi là huyện Bình Long thuộc phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định
Năm 1862, thực dân Pháp đã chia lại địa giới hành chính tỉnh Gia Định bao gồm 03 phủ, 41 tổng; huyện Bình Long thuộc phủ Tây Ninh, tỉnh Gia Định Huyện lỵ Bình Long đóng tại làng Tân Thới Nhì (nay là vùng trung tâm thị trấn Hóc Môn)
Sau cuộc khởi nghĩa 18 thôn vườn trầu (1885), thực dân Pháp chính thức đổi tên huyện Bình Long thành quận Hóc Môn Quận Hóc Môn giai đoạn 1885-1945 thuộc tỉnh Gia Định là một vùng đất rộng lớn bao gồm 4 tổng: Tổng Long Tuy Thượng, Tổng Long Tuy Hạ, Tổng
Trang 38Long Tuy Trung và Tổng Bình Thạnh Trung nằm trên địa bàn của 3 quận huyện: Hóc Môn, Củ Chi và quận 12 ngày nay
Trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1945-1954), Hóc Môn
là một trong 04 quận của tỉnh Gia Định (Hóc Môn, Thủ Đức, Gò Vấp, Nhà Bè) Đến thời Việt Nam Cộng Hòa ở miền Nam (1954-1975), quận Hóc Môn tiếp tục thuộc tỉnh Gia Định Đối với cách mạng tùy theo yêu cầu phát triển của phong trào cách mạng trong từng thời điểm, Hóc Môn có nhiều lần tách nhập, thay đổi ranh giới: từ năm 1954 đến cuối năm 1959, quận Hóc Môn bao gồm 3 quận – huyện là: Hóc Môn, Củ Chi và quận 12 ngày nay; từ năm 1960 đến năm 1961 tách ra thành 2 quận: Hóc Môn và Củ Chi; từ năm 1961 đến năm 1969, Hóc Môn và
Gò Vấp sáp nhập lại thành quận Gò Môn; sau đó nhập thêm một số xã của Củ Chi thành lập phân khu Gò Môn, từ năm 1969 đến năm 1972 phân khu Gò Môn tách ra thành 4 quận nhỏ, trong đó Hóc Môn tách thành 2 quận: Đông Môn và Tây Môn; từ năm 1972 đến năm 1975: Đông Môn và Tây Môn nhập lại thành quận Hóc Môn
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (30/4/1975) Hóc Môn
là một quận của Sài Gòn- Gia Định
Tháng 7/1976, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đổi tên Sài Gòn- Gia Định thành Thành phố Hồ Chí Minh Từ đó đến nay Hóc Môn là một huyện ngoại thành của Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng địa giới của huyện trong gần 40 năm qua cũng có những thay đổi lớn
Năm 1975, huyện Hóc Môn có 10 xã là: Tân Thới Nhì, Tân Hiệp, tân Xuân, Thới Tam Thôn, Trung Mỹ Tây, Đông Hưng Thuận, Tân Thới Nhứt, Động Thạnh, Xuân Thới Thượng và Xuân Thới Sơn
Trang 39Năm 1976 nhận thêm 4 xã của quận Gò Vấp chuyển về là: An Phú Đông, Thạnh Lộc, Tân Thới Hiệp, Nhị Bình Đưa tổng số xã của huyện lên 14 xã
Tháng 3/1977, thị trấn Hóc Môn được thành lập trên cơ sở lấy một phần đất của các xã Tân Thới Nhì, Tân Hiệp và Thới Tam Thôn Tháng 6/1989, xã Tân Thới Nhứt được tách ra để thành lập hai
xã mới là Tân Thới Nhứt và Bà Điểm Xã Tân Chánh Hiệp được thành lập trên cơ sở tách một phần đất của hai xã Trung Mỹ Tây và Đông Hưng Thuận Đến Thời gian này huyện có 16 xã và 1 thị trấn
Ngày 6/1/1997, Chính phủ ra Nghị định số 03- NĐ thành lập 5 quận mới ở Thành phố Hồ Chí Minh Toàn bộ diện tích tự nhiên và dân
số của 7 xã là: Thạnh lộc, An Phú Đông, Tân Thới Hiệp, Đông Hưng Thuận, Tân Thới Nhứt, 711 ha của xã Tân Chánh Hiệp, 237 ha của xã Trung Mỹ Tây thuộc huyện Hóc Môn được tách ra để thành lập quận
12 Huyện Hóc Môn còn lại 9 xã và 1 thị trấn là: Tân Thới Nhì, Tân Hiệp, Tân Xuân, Xuân Thới Thượng, Xuân Thới Sơn, Bà Điểm, Đông Thạnh, Thới Tam Thôn, Nhị Bình và thị trấn Hóc Môn
Ngày 22/12/2003, thực hiện Nghị định số 130/NĐ-CP, xã Tân Xuân được tách ra thành lập 3 xã mới là Tân Xuân, Trung Chánh và Xuân Thới Đông Như vậy, hiện nay Hóc Môn có 11 xã và 1 thị trấn Hóc Môn có lịch sử phát triển trải qua hàng trăm năm, có truyền thống quật cường trong đấu tranh giải phóng dân tộc và phát triển kinh
tế xã hội, đó là niềm tự hào của các tầng lớp nhân dân địa phương, là sức mạnh tinh thần to lớn để các thế hệ nối tiếp phát huy trong quá trình xây dựng và bảo vệ quê hương đất nước
Trang 401.2.2 Một số đặc điểm tự nhiên- xã hội của huyện Hóc Môn
1.2.2.1 Vị trị địa lý và điều kiện tự nhiên
Địa lý, địa hình và giao thông
Huyện Hóc Môn nằm ở phía Tây Bắc Thành Phố Hồ Chí Minh, cách trung tân Thành phố 20km Phía Bắc giáp huyện Củ Chi, phía Đông giáp Tỉnh Bình Dương, phía Nam giáp Quận 12 và huyện Bình Chánh, phía Tây giáp huyện Đức Hòa tỉnh Long An
Với diện tích tự nhiên 10.943ha (2008), huyện Hóc Môn có địa hình tương đối bằng phẳng, không bị chia cắt
Nằm ở cửa ngõ Tây Bắc thành phố, Hóc Môn có hệ thống đường quốc lộ, đường vành đai, tỉnh lộ, hương lộ khá hoàn chỉnh Sông, kênh rạch cũng là thế mạnh về giao thông đường thủy, tất cả tạo cho huyện một vị trí thuận lợi để phát triển công nghiệp và đô thị hóa, hỗ trợ cho nội thành giảm áp lực dân cư đồng thời là vành đai cung cấp thực phẩm cho thành phố
Về đường thủy: Suốt dọc chiều dài phía đông của huyện là sông Sài Gòn dài 17km, làm ranh giới tự nhiên với huyện Thuận An (tỉnh Bình Dương) Ngoài ra còn có nhiều sông rạch nhỏ với các hệ thống kênh mương chằng chịt khắp huyện như: rạch Bến Cát, rạch Bà Hồng, rạch Tra, kênh Cầu Xáng từ rạch Tra chảy qua Cầu Xáng đến Cầu An
Hạ (giáp huyện Đức Hòa tỉnh Long An)
Về đường bộ: Hóc Môn có các tuyến đường bộ quan trọng như Quốc lộ 22 (đường Xuyên Á) đoạn chạy qua huyện dài 5km, Quốc lộ 1A dài 3km Tỉnh lộ có Tỉnh lộ 9, Tỉnh lộ 14, Tỉnh lộ 15, Tỉnh lộ 16 và các Hương lộ 12, 60, 70, 80 Đường liên xã cũng khá phát triển
Đất đai ở Hóc Môn được cấu tạo thành 3 vùng: Vùng đất gò, Vùng đất triền và Vùng đất trũng.( xem bảng 1.1)