1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các huyện uỷ ở thành phố hồ chí minh lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay

132 50 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã đề ra đường lối đổi mới đúng đắn, mở ra bước ngoặt quan trọng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Từ đó đến nay Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn bổ sung, phát triển, từng bước hoàn thiện đường lối đổi mới và đang lãnh đạo đất nước thực hiện mục tiêu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm xây dựng cơ sở kinh tế của chủ nghĩa xã hội, trong đó chuyển địch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là nội dung quan trọng trong đường lối phát triển kinh tế của đất nước trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế. Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế thời gian qua tương đối hợp lý và đúng hướng, nền kinh tế nước ta nhiều năm liên tục có tốc độ tăng trưởng khá cao. Đánh giá 20 năm thực hiện đường lối (19862006) Đảng ta khẳng định: hơn 20 năm qua thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn về kinh tế xã hội và có ý nghĩa lịch sử. Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, có sự thay đổi cơ bản và toàn diện. Kinh tế tăng trưởng khá nhanh, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được đẩy mạnh 15, tr.67. Những thành tựu đó chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo, phù hợp thực tiễn Việt Nam. Tuy nhiên, trong khẳng định những thành tựu, cần thấy rõ cho đến nay đất nước vẫn ở trong tình trạng kém phát triển. Kinh tế còn lạc hậu so với nhiều nước trong khu vực và thế giới. Các lĩnh vực văn hoá, xã hội, xây dựng hệ thống chính trị còn nhiều yếu kém. Lý luận chưa giải đáp được một số vấn đề của thực tiễn đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, đặc biệt là trong việc giải quyết các mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng và chất lượng phát triển; giữa tăng trưởng kinh tế với việc thực hiện công bằng xã hội; giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị; giữa đổi mới với ổn định chính trị và phát triển; giữa độc lập tự chủ và chủ động tích cực hội nhập kinh tế quốc tế. Trong khu vực kinh tế nông nghiệp và đời sống người dân ở khu vực nông thôn còn nhiều vấn đề cấp bách phải giải quyết: khoảng cách giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn; chênh lệch thu nhập giữa những người làm việc ở các lĩnh vực kinh tế; bức xúc giải quyết việc làm… Những vấn đề đó nếu không được giải quyết tốt sẽ gây phức tạp về chính trị và ảnh hưởng không nhỏ đến bản chất chế độ xã hội chủ nghĩa. Để từng bước giải quyết những vấn đề đó, đưa sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa tiến lên các cấp ủy Đảng cần lãnh đạo tốt chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý và đúng hướng ở mỗi địa phương, đơn vị, góp phần làm cho nền kinh tế nước ta tăng trưởng với tốc độ cao, bền vững, đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, các Huyện ủy ở Thành phố Hồ Chí Minh luôn coi trọng và có nhiều tiến bộ trong lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhất là cơ cấu kinh tế nông nghiệp, phát triển kinh tế trên địa bàn huyện và đạt được những thành tựu quan trọng, mở ra triển vọng mới về phát triển kinh tế xã hội của huyện. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, sự lãnh đạo của các Huyện uỷ đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn còn những thiếu sót, khuyết điểm: sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp còn chậm, thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp còn hạn hẹp và gặp nhiều khó khăn, thu nhập của nhân dân trong huyện còn thấp; chưa coi trọng tổng kết sự lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của các Huyện uỷ, rút ra những bài học kinh nghiệm để định hướng, lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong thời gian tới, đảm bảo cho kinh tế của các huyện phát triển với tốc độ cao, bền vững. Trong những năm tới, sự lãnh đạo của các Huyện ủy ở thành phố Hồ Chí Minh về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp phải được tăng cường hơn nữa, nhằm thực hiện thắng lợi những mục tiêu kinh tế xã hội giai đoạn 20102020 do Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các huyện đề ra, tạo tiền đề quan trọng để phát triển kinh tế thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đây là vấn đề rất quan trọng và cấp bách, là trọng tâm lãnh đạo của các Huyện ủy và các cấp ủy Đảng ở thành phố Hồ Chí Minh. Là cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng bộ huyện, được học tập cơ bản hệ thống về lý luận Xây dựng Đảng, có thời gian khá dài trực tiếp công tác ở huyện, giữ cương vị chủ chốt nhiều năm, tôi luôn trăn trở và xác định trách nhiệm của mình đối với việc phát triển kinh tế xã hội của huyện, trọng tâm là chuyển dịch chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp đảm bảo cho kinh tế của huyện phát triển nhanh, mạnh, đúng hướng và bền vững. Vì vậy, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Các Huyện uỷ ở thành phố Hồ Chính Minh lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay” làm luận văn thạc sỹ khoa học chính trị, chuyên ngành Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trang 1

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CÁC HUYỆN ỦY Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LÃNH ĐẠO

CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY- NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ

Chương 2 : CÁC HUYỆN ỦY Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LÃNH ĐẠO

CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP- THỰC

2.1 Thực trạng kinh tế nông nghiệp của các huyện 342.2 Thực trạng sự lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của cácHuyện ủy ở thành phố Hồ Chí Minh- nguyên nhân và kinh nghiệm 46

Chương 3: MỤC TIÊU, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ

YẾU TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA CÁC HUYỆN ỦY Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐỐI VỚI VIỆC CHUYỂN DỊCH

3.1 Mục tiêu, phương hướng tăng cường sự lãnh đạo của các Huyện ủy

ở thành phố Hồ Chí Minh đối với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế

3.2 Những giải pháp chủ yếu tăng cường sự lãnh đạo của các

Huyện ủy ở thành phố Hồ Chí Minh đối với việc chuyển dịch

cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay 78

Trang 2

CCKT : Cơ cấu kinh tế CNXH : Chủ nghĩa xã hội KT- XH : Kinh tế - xã hội LLSX : Lực lượng sản xuất QHSX : Quan hệ sản xuất VAC : Vườn ao chuồng

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã đề ra đường lối đổimới đúng đắn, mở ra bước ngoặt quan trọng trong công cuộc xây dựng chủnghĩa xã hội ở nước ta Từ đó đến nay Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn bổsung, phát triển, từng bước hoàn thiện đường lối đổi mới và đang lãnh đạo đấtnước thực hiện mục tiêu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoánhằm xây dựng cơ sở kinh tế của chủ nghĩa xã hội, trong đó chuyển địch cơcấu kinh tế nông nghiệp là nội dung quan trọng trong đường lối phát triểnkinh tế của đất nước trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế Việc chuyển dịch

cơ cấu kinh tế thời gian qua tương đối hợp lý và đúng hướng, nền kinh tếnước ta nhiều năm liên tục có tốc độ tăng trưởng khá cao Đánh giá 20 nămthực hiện đường lối (1986-2006) Đảng ta khẳng định: hơn 20 năm qua thựchiện đường lối đổi mới của Đảng, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn

về kinh tế - xã hội và có ý nghĩa lịch sử Đất nước đã ra khỏi khủng hoảngkinh tế - xã hội, có sự thay đổi cơ bản và toàn diện Kinh tế tăng trưởng khánhanh, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa được đẩy mạnh [15, tr.67] Những thành tựu đóchứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo, phù hợp thực tiễnViệt Nam

Tuy nhiên, trong khẳng định những thành tựu, cần thấy rõ cho đến nayđất nước vẫn ở trong tình trạng kém phát triển Kinh tế còn lạc hậu so vớinhiều nước trong khu vực và thế giới Các lĩnh vực văn hoá, xã hội, xây dựng

hệ thống chính trị còn nhiều yếu kém Lý luận chưa giải đáp được một số vấn

đề của thực tiễn đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, đặc biệt làtrong việc giải quyết các mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng và chất lượngphát triển; giữa tăng trưởng kinh tế với việc thực hiện công bằng xã hội; giữađổi mới kinh tế với đổi mới chính trị; giữa đổi mới với ổn định chính trị và

Trang 4

phát triển; giữa độc lập tự chủ và chủ động tích cực hội nhập kinh tế quốc tế.Trong khu vực kinh tế nông nghiệp và đời sống người dân ở khu vực nôngthôn còn nhiều vấn đề cấp bách phải giải quyết: khoảng cách giàu nghèo giữathành thị và nông thôn; chênh lệch thu nhập giữa những người làm việc ở cáclĩnh vực kinh tế; bức xúc giải quyết việc làm… Những vấn đề đó nếu khôngđược giải quyết tốt sẽ gây phức tạp về chính trị và ảnh hưởng không nhỏ đếnbản chất chế độ xã hội chủ nghĩa.

Để từng bước giải quyết những vấn đề đó, đưa sự nghiệp công nghiệphóa, hiện đại hóa tiến lên các cấp ủy Đảng cần lãnh đạo tốt chuyển dịch cơcấu kinh tế nông nghiệp hợp lý và đúng hướng ở mỗi địa phương, đơn vị, gópphần làm cho nền kinh tế nước ta tăng trưởng với tốc độ cao, bền vững, đẩymạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cácHuyện ủy ở Thành phố Hồ Chí Minh luôn coi trọng và có nhiều tiến bộ tronglãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhất là cơ cấu kinh tế nông nghiệp, pháttriển kinh tế trên địa bàn huyện và đạt được những thành tựu quan trọng, mở

ra triển vọng mới về phát triển kinh tế - xã hội của huyện Tuy nhiên, bêncạnh những thành tựu đạt được, sự lãnh đạo của các Huyện uỷ đối với chuyểndịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn còn những thiếu sót, khuyếtđiểm: sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp còn chậm, thị trường tiêuthụ sản phẩm nông nghiệp còn hạn hẹp và gặp nhiều khó khăn, thu nhập củanhân dân trong huyện còn thấp; chưa coi trọng tổng kết sự lãnh đạo chuyển dịch

cơ cấu kinh tế nông nghiệp của các Huyện uỷ, rút ra những bài học kinh nghiệm

để định hướng, lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong thời giantới, đảm bảo cho kinh tế của các huyện phát triển với tốc độ cao, bền vững

Trong những năm tới, sự lãnh đạo của các Huyện ủy ở thành phố HồChí Minh về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp phải được tăng cườnghơn nữa, nhằm thực hiện thắng lợi những mục tiêu kinh tế- xã hội giai đoạn

Trang 5

2010-2020 do Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các huyện đề ra, tạo tiền đề quantrọng để phát triển kinh tế thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đây là vấn

đề rất quan trọng và cấp bách, là trọng tâm lãnh đạo của các Huyện ủy và cáccấp ủy Đảng ở thành phố Hồ Chí Minh

Là cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng bộ huyện, được học tập cơ bản

hệ thống về lý luận Xây dựng Đảng, có thời gian khá dài trực tiếp công tác ởhuyện, giữ cương vị chủ chốt nhiều năm, tôi luôn trăn trở và xác định tráchnhiệm của mình đối với việc phát triển kinh tế- xã hội của huyện, trọng tâm làchuyển dịch chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp đảm bảo cho kinh tế củahuyện phát triển nhanh, mạnh, đúng hướng và bền vững Vì vậy, tôi chọn đề tài

nghiên cứu: “Các Huyện uỷ ở thành phố Hồ Chính Minh lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay” làm luận văn thạc

sỹ khoa học chính trị, chuyên ngành Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài:

Trong những năm gần đây, ở nước ta việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nóichung và cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng ở các địa phương đã có nhiều côngtrình khoa học nghiên cứu Kết quả nghiên cứu của các công trình đó đã đượcnghiệm thu, công bố và đăng tải trên các sách, báo, tạp chí, tiêu biểu như:

quốc gia, Hà Nội 1997

- “Sự lãnh đạo của Đảng trong một số lĩnh vực trọng yếu của đời sống

xã hội nước ta” do PGS Lê Văn Lý chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

1999, trong đó có một chương về Đảng lãnh đạo kinh tế

Trang 6

- “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp ở đồng bằng sông Hồng, thực trạng và triển vọng” do PGS, TS Lê Du Phong và PGS, PTS

Nguyễn Thành Đô đồng chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1999

- “Tác động của Nhà nước đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa” đề tài

cấp Bộ năm 1997 do PGS, TS Nguyễn Văn Cúc làm chủ nhiệm

- Viện Khoa học chính trị, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

(1999) “Sự lãnh đạo kinh tế của Tỉnh uỷ trong điều kiện hiện nay”, đề tài

khoa học cấp Bộ do GS, TS Lưu Văn Sùng làm chủ nhiệm

- “Thực tiễn lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá (1991 - 2001)” do TS Nguyễn Dũng Sinh chủ biên, Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội 2002

- Ban tư tưởng văn hoá Trung ương và Bộ Nông nghiệp và phát triển

nông thôn: “Con đường công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn Việt Nam”

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2003

- Trường Đại học Kinh tế Quốc dân năm 2003 “Cơ sở khoa học của việc đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Thanh Hoá thời kỳ 2001-2010”

đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ trọng điểm năm 2001-2002, do PGS, TSMai Ngọc Cường làm chủ nhiệm

* Một số công trình luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ như:

- Chu Phạm Ngọc Hiển: “Một số giải pháp nhằm đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thanh Hoá", Luận văn thạc sỹ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí

Minh, Hà Nội, 2000

- Nguyễn Sáng Vang “Phương hướng và giải pháp về quản lý nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Tuyên Quang theo hướng sản xuất hàng hoá”, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ

Chí Minh, Hà Nội, 2000

Trang 7

- Phạm Phong Duệ “Đổi mới chính sách kinh tế nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp qua thực tế ở Quảng Bình”, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học

viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2000

- Mai Văn Ninh “Tỉnh uỷ Thanh Hoá lãnh đạo kinh tế trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sỹ Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ

Chí Minh, Hà Nội, 2006

- Đặng Thị Kim Oanh “Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo chuyển dịch

cơ cấu kinh tế từ năm 1997-2003”, Luận văn Thạc sỹ Lịch sử Đảng, Học viện

Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2005

- Nguyễn Ngọc Thanh “Đảng bộ huyện Gia Lâm (Hà Nội) lãnh đạo thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế”, Luận văn Thạc sỹ Lịch sử Đảng, Học

viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004

- Đào Thị Vân “Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa- hiện đại hóa giai đoạn 1997-2003”,

Luận văn Thạc sỹ Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,

trị- Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội 2008

- Vũ Hồng Phương “Các Huyện ủy ở tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn huyện giai đoạn hiện nay” Luận văn Thạc sỹ

Khoa học Chính trị, Học viện Chính trị- Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh,

Hà Nội 2009

Trang 8

* Các bài đăng trên báo, tạp chí:

- Phạm Quang Diệu “Chiến lược công nghiệp hóa lan toả - chuyển đổi nền kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp”, Viện Kinh tế Nông nghiệp -

Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn

- Vũ Ngọc Hùng “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Quảng Nam”, Tạp chí

Đến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu có hệ thống, cụ

thể và toàn diện về: “Các Huyện ủy ở thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay”.

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

* Mục đích nghiên cứu của luận văn:

Trên cơ sở làm rõ những khái niệm, quan niệm và những vấn đề lý luậnchủ yếu về các Huyện ủy ở thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo chuyển dịch cơcấu kinh tế nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay; khảo sát, nghiên cứu thựctrạng việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp các huyện ở thành phố HồChí Minh và thực trạng sự lãnh đạo của các Huyện ủy đối với việc chuyểndịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong thời gian qua, luận văn đề xuất nhữnggiải pháp chủ yếu tăng cường sự lãnh đạo của các Huyện ủy đối với việcchuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong giai đoạn từ nay đến năm 2020

Trang 9

* Nhiệm vụ của luận văn:

Để đạt được mục đích trên, đề tài sẽ tập trung:

- Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan trực tiếp đến đề tàiluận văn như đặc điểm, quan niệm, nội dung, phương thức, quy trình lãnh đạocủa các Huyện ủy trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

- Khảo sát, nghiên cứu thực trạng việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nôngnghiệp của các Huyện ủy và thực trạng sự lãnh đạo của các Huyện ủy đối vớiviệc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ năm 2000 đến nay, chỉ ra ưu,khuyết điểm, nguyên nhân và rút ra các kinh nghiệm thực tiễn

- Nêu mục tiêu, phương hướng và đề xuất những giải pháp chủ yếu tăngcường sự lãnh đạo của các Huyện ủy ở thành phố Hồ Chí Minh đối với việcchuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp đến năm 2020

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu:

Sự lãnh đạo của các Huyện ủy ở thành phố Hồ Chí Minh đối với việcchuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn các huyện

* Phạm vi nghiên cứu:

- Luận văn nghiên cứu thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nôngnghiệp của các huyện ở thành phố Hồ Chí Minh và sự lãnh đạo của cácHuyện ủy ở thành phố Hồ Chí Minh đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nôngnghiệp từ 2000 đến nay

- Nêu phương hướng và đề xuất những giải pháp chủ yếu tăng cường sựlãnh đạo của các Huyện ủy ở thành phố Hồ Chí Minh đối với việc chuyểndịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp đến năm 2020

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

* Cơ sở lý luận:

Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng HồChí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế;

Trang 10

chuyển dịch cơ cấu kinh tế; về đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nôngnghiệp, nông thôn; về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

* Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin; đồngthời sử dụng các phương pháp chuyên ngành như: phương pháp chuyên gia,phân tích và thống kê; phương pháp tổng kết thực tiễn; phương pháp điều tra;phương pháp lịch sử, logíc

6 Đóng góp về khoa học của đề tài

- Luận văn bước đầu làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn lãnh đạo của cácHuyện ủy ở thành phố Hồ Chí Minh đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nôngnghiệp; đề xuất những giải pháp chủ yếu tăng cường sự lãnh đạo của cácHuyện ủy ở thành phố Hồ Chí Minh đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nôngnghiệp trong giai đoạn hiện nay

- Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo trong quá trìnhlãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các Huyện ủy ở thành phố Hồ ChíMinh trong những năm tới và dùng làm tài liệu phục vụ cho nghiên cứu,giảng dạy, học tập tại trường Cán bộ thành phố Hồ Chí Minh và các Trungtâm Bồi dưỡng Chính trị của thành phố Hồ Chí Minh

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,luận văn gồm 3 chương 6 tiết

Trang 11

Chương 1 CÁC HUYỆN ỦY Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LÃNH ĐẠO CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY- NHỮNG VẤN ĐỀ

đó, 3 huyện ven đô: Hóc Môn, Bình Chánh, Nhà Bè có diện tích 462,3 km2

Thành phố Hồ Chí Minh với địa bàn đa dạng, nằm trong vùng chuyểntiếp giữa miền Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Long Địa hình tổngquát có dạng thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây và chia thành

3 tiểu vùng với quỹ đất nông nghiệp hạn chế độ phì nhiêu kém trong đó cótrên 50% là đất nhiễm phèn, mặn và 20% là đất xám, đồi gò, bạc màu; là đầumối giao thông lớn, nối liền với các tỉnh trong vùng Nam Bộ, Nam Trung bộ

và Tây nguyên; là cửa ngõ của cả nước với quốc tế, có bờ biển ở phía Namhuyện Cần Giờ dài 20 km [12]

Trên cơ sở các yếu tố tự nhiên, thổ nhưỡng, địa hình và chế độ thủyvăn, có thể phân thành các vùng sinh thái nông nghiệp, cụ thể:

Trang 12

- Vùng đất xám gò đồi: diện tích khoảng 5.600 ha (chiếm 4,6% diện tích

đất nông nghiệp của thành phố), phân bố ở Tây Bắc Củ Chi bắc Thủ Đức Đặcđiểm đất vùng này là đất xám gò đồi, hạn chế nguồn nước tưới tự nhiên Hệ sinhthái ở vùng này là ruộng rẫy với hoa màu, đậu đỗ và khoai mì một vụ về mùamưa, năng suất và hiệu quả kinh tế thấp; một số khu vực rừng trồng phủ xanhđất trống, chống xói mòn và cải tạo đất Các mô hình đề xuất chuyển dịch cơ cấukinh tế nông nghiệp ở vùng này là: trồng hoa- cây kiểng, trồng rau, chăn nuôi bòsữa, cây lâu năm, rừng, trồng nấm kết hợp với phát triển các ngành nghề nôngthôn như làng nghề bánh tráng, sinh vật cảnh, nông nghiệp công nghệ cao

- Vùng đất xám vàng đỏ và đất xám bạc màu: diện tích khoảng 18.230

ha (15%), phân bố ở Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh Đặc điểm địa hình làdạng lượn sóng đến bằng Vùng này có thể chia 2 tiểu vùng như sau:

Vùng có địa hình cao khoảng 10m, địa hình lượn sóng, có tầng đất dày,

độ màu mở khá, mực nước ngầm không sâu quá 10m Hệ sinh thái là rừngtrồng cây công nghiệp lâu năm (cao su)

Vùng thấp 3-4m đến 10m, địa hình lượn sóng nhẹ đến bằng Trên caohoặc triền, là hệ sinh thái ruộng màu hai vụ đậu phộng luân canh một vụ lúa;dưới thấp, là ruộng hai vụ lúa luân canh một vụ đậu phộng với năng suất cao

và khá ổn định

- Vùng đất phù sa ngọt: diện tích khoảng 10.100 ha (8,3%), phân bố tập

trung chủ yếu ở vùng giữa của phần phía Nam huyện Bình Chánh, vùng giaolưu của quá trình thành tạo đất giữa thành phố Hồ Chí Minh với Đồng bằngsông Cửu Long Là vùng chủ yếu có hệ sinh thái lúa nước hai vụ năng suấtcao; cây lâu năm- vườn cây ăn trái Tuy nhiên một số khu vực của vùng nàyvào múa khô cũng bị thiếu nước ngọt Các mô hình chuyển dịch cơ cấu kinh

tế nông nghiệp: phát triển giống cây trồng, giống tôm cá nước ngọt, trồnghoa- cây kiểng, VAC (vườn- ao- chuồng) kết hợp với du lịch sinh thái, vuichơi giải trí…

Trang 13

- Vùng đất phèn nặng: diện tích khoảng 8.930 ha (7,4%), thuộc khu vực

thấp trũng ở phía Tây Nam thành phố, phân bố kéo dài từ Tân An Hội- Thái

Mỹ (Củ Chi), qua Nhị Xuân (Hóc Môn), xuống khu vực Tân Tạo, Lê MinhXuân, Phạm Văn Hai (Tây Nam huyện Bình Chánh) Vùng này, có các hệsinh thái là ruộng nhiễm phèn chỉ trồng lúa một vụ năng suất thấp; đất ngậpphèn lên líp trồng mía, mãng cầu ghép bình bát Các mô hình chuyển dịch cơcấu kinh tế nông nghiệp như: lâm, ngư kết hợp các cây lâm nghiệp như tràm

ta, tràm úc, keo các loại…cây ăn trái và mô hình VAC

- Vùng đất phèn nhẹ: diện tích khoảng 17.420 ha (14,4%); thuộc khu

vực thấp trũng có lớp phù sa trên bề mặt; ở rẻo ven sông Sài gòn Hệ sinh tháivườn tập trung cây hoa, trái nổi tiếng Các mô hình chuyển dịch cơ cấu kinh

tế nông nghiệp: nuôi tôm càng xanh và mô hình VAC kết hợp với du lịch sinhthái, vui chơi giải trí…

- Vùng đất phèn mặn theo mùa 6 đến 7 tháng/năm: diện tích khoảng

18.193 ha (15%); tập trung ở huyện Nhà Bè và phía Bắc huyện Cần Giờ.Vùng này, có hệ sinh thái ruộng lúa chịu mặn- phèn một vụ năng suất thấp vàbấp bênh; cây dừa nước và ao đầm nuôi thủy sản mặn- lợ (tôm sú, cua)…

- Vùng đất phèn mặn và đất mặn dưới rừng ngập mặn: diện tích khoảng

42.840 ha (35,3%), tập trung ở huyện Cần Giờ Hệ sinh thái rừng ngập mặnchiếm diện tích chủ yếu với 34.000 ha; trong đó hệ thực vật chủ yếu là: đước,keo lá tràm…; đất làm muối khoảng 1.000 ha Ngoài ra trên địa bàn khu vựchuyện Cần Giờ còn có diện tích đất giồng cát ven biển, thích hợp trồng cây ăntrái: nhãn, xoài, ổi…, rau màu: hành, hẹ, ớt…; diện tích đất mặt nước nuôitôm sú, cua và bãi bồi nuôi thủy sản nhuyễn thể

1.1.1.2 Đặc điểm kinh tế- chính trị, văn hóa- xã hội

- Về kinh tế- chính trị:

Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Sài gòn- Gia Định có truyền thốngđấu tranh giữ nước kiên cường Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Thành

Trang 14

phố Hồ Chí Minh và Nam Bộ được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng danh hiệu caoquý: Thành đồng của Tổ quốc

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, nhân dân từ Nam chí Bắc đã ghisâu vào tâm trí: lực lượng của chúng ta, đó là thế hệ Hồ Chí Minh; con đườngcủa chúng ta, đó là con đường Hồ Chí Minh Cái đích cuối cùng mà chúng taphải đến, đó là thành phố Hồ Chí Minh Thành phố Hồ Chí Minh là điểmquyết chiến, chiến lược cuối cùng quét sạch quân xâm lược; phải giải phóngSài Gòn thì mới hoàn thành được sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổquốc, mở đường xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cả nước Chiến thắng30/4/1975, ngày Sài Gòn giải phóng đã trở thành biểu tượng rực rỡ của sựnghiệp kháng chiến thần thánh suốt 30 năm

Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, Thành phố HồChí Minh là một trung tâm kinh tế, tài chính, thương mại, trung tâm khoa họccông nghệ, văn hóa, y tế, thể dục thể thao, trung tâm đào tạo nguồn nhân lực,đào tạo nhân tài của khu vực các tỉnh phía Nam và của cả nước; là một đầumối giao lưu quốc tế, giao lưu khu vực, có mối liên hệ về nhiều mặt với đồngbằng Nam bộ, miền Đông Nam bộ, Tây nguyên và miền Nam Trung bộ Đồngthời thành phố Hồ Chí Minh có vị trí chính trị rất quan trọng ở phía Nam vàcũng là của cả nước ta

35 năm qua, Đảng bộ và nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, với tráchnhiệm “cùng cả nước, vì cả nước” đã luôn vững vàng, bền bỉ phấn đấu, nêucao tinh thần cách mạng, đoàn kết, năng động, sáng tạo, bằng ý chí tự lực, tựcường, đã vượt qua những khó khăn chồng chất trong 10 năm đầu; thành phố

đã giữ vững ổn định chính trị, khôi phục và phát triển kinh tế, hàn gắn vếtthương chiến tranh; với tư duy đổi mới, cách làm mới đã có bước đột phá,tháo gỡ vướng mắc, trở lực của cơ chế quản lý cũ, thúc đẩy kinh tế - xã hộiliên tục phát triển, cải thiện đời sống nhân dân

Qua gần 25 năm thực hiện đường lối đổi mới, thành phố không ngừngphát triển toàn diện Kinh tế trên địa bàn thành phố đạt tốc độ tăng trưởng cao

Trang 15

năm sau cao hơn năm trước, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, cácnguồn lực xã hội được phát huy, các ngành, lĩnh vực đều phát triển, góp phầncùng vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước duy trì tốc độ tăng trưởngkinh tế hợp lý Từ mức tăng tổng sản phẩm nội địa (GDP) bình quân2,7%/năm trong giai đoạn 1976 - 1985, đã vươn lên mức 10,5%/năm của giaiđoạn 1986 - 2009; đến nay chiếm hơn 20% tổng sản phẩm nội địa (GDP) và30% ngân sách của cả nước; trở thành một trong số ít đô thị của các nước cótốc độ tăng trưởng kinh tế hai con số liên tục trong khoảng thời gian dài Kếtcấu hạ tầng đô thị được cải thiện đáng kể; diện tích đô thị tăng lên hơn 2 lần.Với vài chục ngàn căn nhà lụp xụp trên kênh rạch được di dời, bố trí nơi ởmới khang trang, cùng với việc cải tạo hệ thống kênh rạch, cải thiện môitrường; hệ thống giao thông, các khu đô thị mới, các khu công nghiệp, khuchế xuất, khu công nghệ cao cùng các loại hình dịch vụ đô thị đã và đang xâydựng, tạo nên diện mạo mới của thành phố khang trang, hiện đại ngày càngkhẳng định vai trò là trung tâm lớn về nhiều mặt và là một trong các động lựcphát triển kinh tế của cả nước.

Chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế bước đầu đạt kết quả tích cực,từng bước tạo chuyển biến về chất trong cơ cấu kinh tế theo hướng tăng dần tỉtrọng các ngành có giá trị gia tăng và hàm lượng khoa học - công nghệ cao.Các ngành dịch vụ có tốc độ tăng trưởng 12%/năm, cao hơn tốc độ tăngtrưởng kinh tế chung; trong đó, các ngành dịch vụ có lợi thế cạnh tranh, chấtlượng cao, giá trị gia tăng cao như : tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, du lịch,bưu chính - viễn thông, vận tải - cảng - kho bãi, khoa học - công nghệ, giáodục và y tế chất lượng cao tiếp tục phát triển mạnh; giá trị sản xuất côngnghiệp giai đoạn 2006 - 2010 bằng 1,85 lần giai đoạn 2001 - 2005; 4 ngànhcông nghiệp trọng yếu : cơ khí chế tạo, điện tử - công nghệ thông tin, hoáchất, chế biến tinh lương thực, thực phẩm chiếm tỉ trọng ngày càng cao tronggiá trị sản xuất công nghiệp

Trang 16

Nông nghiệp chuyển dịch tích cực theo hướng nông nghiệp đô thị, sảnxuất giống cây, giống con và các sản phẩm có chất lượng, hiệu quả kinh tếcao, đáp ứng yêu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu Doanh thu bìnhquân 1 ha đất nông nghiệp năm 2009 đạt 138,5 triệu đồng/năm, bằng 2,2 lầnnăm 2005 [17]

Những thành tựu đạt được luôn gắn liền với vai trò lãnh đạo của Đảng

bộ thành phố trong đó có Đảng bộ các Huyện, đã luôn chú trọng thực hiệncông tác xây dựng Đảng, thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn đạt đượcnhiều chuyển biến tích cực Thực hiện Cuộc vận động “ Học tập và làm theotấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã đạt được những kết quả quan trọngbước đầu Công tác cải cách hành chính, kiện toàn bộ máy chính quyền, xâydựng đội ngũ cán bộ, công chức, chống nhũng nhiễu, tiêu cực đạt nhiều tiến

bộ Công tác vận động nhân dân, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoànthể nhân dân được tăng cường

Vấn đề có ý nghĩa quan trọng làm tiền đề cho sự phát triển của thànhphố nói chung và các Huyện nói riêng trong suốt 35 năm qua là Đảng bộ,chính quyền và nhân dân luôn vững vàng về chính trị, đã chủ động, tích cựcđấu tranh có hiệu quả, làm thất bại các âm mưu phá hoại của các thế lực thùđịch, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, phát triểnkinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, đoàn kết xâydựng nông thôn mới vững mạnh toàn diện hoàn thành thắng lợi sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn trên địa bàn các huyện

ở thành phố Hồ Chí Minh

- Văn hóa- xã hội:

Về dân số thành phố Hồ Chí Minh năm 2008 là 6.810.461 người, trong

đó, dân số 5 huyện ngoại thành là 1.144.743 người, chiếm 16,81%; dân sốnông nghiệp chiếm tỷ lệ thấp 3,7% (251.980 người) Hiện nay thành phố cótrên 7 triệu người (tổng điều tra dân số và nhà ở tháng 4 năm 2009) Mật độ

Trang 17

dân số bình quân thành phố là 3.250 người/km2 (các quận 11.474 người/km2

và các huyện ngoại thành 715 người/km2, chênh lệch nhau 16 lần) Cơ cấudân tộc, người Kinh chiếm 92,91% dân số thành phố, tiếp theo tới người Hoavới 6,69%, còn lại là các dân tộc Chăm, Khmer Những người Hoa ở Thànhphố Hồ Chí Minh cư trú ở khắp các quận, huyện, nhưng tập trung nhiều nhất tạiQuận 5, 6, 8, 10, 11 và có những đóng góp đáng kể cho nền kinh tế thành phố

Lao động và việc làm: hàng năm đã tạo ra trên 120.000 chỗ làm mới,giảm tỉ lệ thất nghiệp; lao động qua đào tạo nghề đạt mức 55% Cơ cấu laođộng nông thôn ngoại thành có sự chuyển dịch khá nhanh sang các ngànhcông nghiệp và dịch vụ, lao động nông nghiệp Năm 2008 có 143.620 ngườichiếm 57% nhân khẩu nông nghiệp và chỉ chiếm 5% tổng số lao động trên địabàn thành phố Trong 10 năm qua có khoảng 32% dân số ở nông thôn (tươngứng 230 ngàn người) trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp đã chuyểnđổi nghề nghiệp từ nông nghiệp sang các ngành nghề phi nông nghiệp

Công tác xóa đói giảm nghèo đã đạt được những kết quả tích cực, đếnnăm 2009, tỷ lệ hộ nghèo thành phố giảm còn 0,24% tổng số hộ dân (thu nhậpbình quân dưới 6 triệu đồng/người/năm) Nếu theo tiêu chí mới thu nhập bìnhquân dưới 12 triệu đồng/người/năm tại 5 huyện ngoại thành có 69.480 hộ,chiếm 29,38% số hộ ngoại thành, trong đó hộ có thu nhập bình quân dưới 6triệu đồng/người/năm có 2.012 hộ (chiếm 0,85% số hộ), thu nhập 6 đến 8triệu đồng/người/năm có 47.998 hộ (chiếm 20,29% số hộ) Đã hoàn thành phổcập bậc trung học; hiện có 12 bác sĩ và 42 giường bệnh trên một vạn dân [52]

1.1.2 Các Huyện ủy ở thành phố Hồ Chí Minh - Đặc điểm, chức năng và nhiệm vụ

1.1.2.1 Đặc điểm của các Huyện ủy ở thành phố Hồ Chí Minh

Các Huyện ủy ở Thành phố Hồ Chí Minh có những đặc điểm chủ yếu:

Một là, được thành lập ngay trong thập niên 1930, những đảng viên đầu

tiên là những chiến sĩ cách mạng kiên cường Các huyện ủy được xây dựng,

Trang 18

thử thách, rèn luyện lãnh đạo và trưởng thành trong hai cuộc kháng chiếnchống Pháp và chống Mỹ, Các huyện đều được phong tặng danh hiệu “Anhhùng lực lượng vũ trang” Trong công cuộc đổi mới với một tinh thần đoànkết và trung thành mục tiêu lý tuởng của Đảng, đảng bộ các huyện đã lãnhđạo hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị, góp phần quan trọng vào thắng lợichung của thành phố và cả nước Kinh tế - xã hội ngày càng phát triển; quốcphòng - an ninh đuợc giữ vững; đời sống nhân dân từng bước được nâng cao;

hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở được xây dựng, củng cố và kiện toàn.Huyện ủy các huyện đã làm tròn chức năng, nhiệm vụ của mình, trở thành chỗdựa và niềm tin của nhân dân trong huyện

Hai là, các Huyện ủy ở thành phố Hồ Chí Minh đã được kiện toàn

qua các kỳ đại hội đại biểu đảng bộ huyện, chất lượng của Ban Chấp hànhđảng bộ ở các huyện khóa sau cao hơn khóa trước; số luợng thường được

cơ cấu từ 29 đến 39 (các khóa trước), riêng tại Đại hội Đảng bộ các huyệnlần thứ X (2010-2015) do yêu cầu công các cán bộ trẻ và cán bộ nữ, Thành

ủy đã cho phép tăng 10% số lượng cấp ủy viên, do đó Đại hội đã bầu từ 37đến 47 cấp ủy viên, trong đó tỷ lệ nữ chiếm từ 21% đến 27%, trong đó BanThường vụ có từ 11 đến 14 đồng chí, thường trực huyện ủy có 3 hoặc 4đồng chí gồm; bí thư, phó bí thư thường trực ; Phó Bí thư phụ trách xâydựng Đảng (Nhà Bè) và phó bí thư phụ trách chính quyền; trong Ban Chấphành có 162 đồng chí (78,26%) có trình độ cao cấp, cử nhân chính trị; vềtrình độ chuyên môn: Ban Chấp hành Đảng bộ huyện có 203 đồng chí

(98,06) trình độ đại học và trên đại học (Xem phụ lục 5).

Ba là, đặc điểm và vai trò của Ban chấp hành Đảng bộ các Huyện ở

thành phố Hồ Chí Minh gắn liền với nhiệm vụ của cấp huyện, là cấp trên trựctiếp của cơ sở chịu trách nhiệm quán triệt, triển khai và lãnh đạo tổ chức thựchiện thắng lợi mọi chủ trương của Đảng và Nhà nước, của Tỉnh ủy và Huyện

ủy trên địa bàn huyện

Trang 19

Ban Chấp hành Đảng bộ huyện là hạt nhân lãnh đạo chính trị, đại biểucho trí tuệ, năng lực và phẩm chất đạo đức của Đảng bộ Các đồng chí cấp ủyviên được lựa chọn kỹ từ các tổ chức cơ sở Đảng trong Đảng bộ huyện theođúng qui trình, qui hoạch, đủ tiêu chuẩn và được bầu một cách dân chủ, côngkhai theo đúng Điều lệ Đảng.

Ban Chấp hành Đảng bộ huyện có nhiệm vụ chung là tiếp thu, quántriệt đầy đủ các Chỉ thị, Nghị quyết của cấp trên và cấp mình; đồng thời, chịutrách nhiệm trước Đảng bộ huyện và cấp trên trong việc lãnh đạo tổ chức thựchiện tốt Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng trên địa bàn huyện đạt kết quả; là cơquan lãnh đạo công tác xây dựng Đảng bộ huyện trên tất cả các mặt chính trị,

tư tưởng và tổ chức; Huyện ủy thường xuyên nâng cao năng lực lãnh đạo, sứcchiến đấu của tất cả tổ chức đảng và đảng viên của Đảng bộ huyện, hoànthành tốt nhiệm vụ chính trị được giao

Để phát huy vai trò lãnh đạo toàn diện của Huyện ủy trên mọi lĩnh vựccủa đời sống xã hội, trong chuyển dịch chuyển dịch cơ cấu kinh tế nôngnghiệp trên địa bàn huyện, Huyện ủy quan tâm xây dựng hệ thống chính trịvững mạnh, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, đảm bảo cho Mặt trận Tổ quốc và cácđoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội trên địa bàn hoạt động đúng đường lối,chủ trương của Đảng, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân; tích cực xây dựngĐảng, Chính quyền, phát huy được tinh thần cách mạng, yêu nước của nhândân thực hiện thắng lợi chủ trương của Đảng, Nghị quyết của các Huyện ủy

và cấp uỷ Đảng trong các huyện

1.1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm và quyền hạn của các Huyện ủy ở thành phố Hồ Chí Minh

- Chức năng của các huyện ủy :

Vai trò, chức năng chung nhất của Đảng là đội tiên phong chính trị củagiai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc Chức năng chủyếu của cấp ủy Đảng nói chung và của các huyện ủy nói riêng là lãnh đạo

Trang 20

chính trị đối với toàn bộ hệ thống chính trị và xã hội trên địa bàn các Huyện,đảm bảo cho các hoạt động xây dựng Đảng, Chính quyền, Mặt trận Tổ quốc

và các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội, nghề nghiệp của huyện có chấtlượng và phát triển theo đúng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách,pháp luật của Nhà nước và theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa

Chức năng lãnh đạo của các Huyện ủy thể hiện ở việc cụ thể hoá, thểchế hoá, các chủ trương đường lối, chiến lược kinh tế- xã hội của Đảng và củathành ủy thành phố Hồ Chí Minh; xác định nhiệm vụ chính trị của địa phươngmình đúng đắn, sáng tạo; tạo ra những chuyển biến tiến bộ trong việc tổ chứcthực hiện các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng Làm tốt công tác cán bộ, làmtrong sạch và nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng,đội ngũ đảng viên; thường xuyên chăm lo củng cố và xây dựng hệ thốngchính trị vững mạnh và củng cố mối quan hệ gắn bó máu thịt với nhân dân

Chức năng lãnh đạo của Huyện ủy còn được thể hiện rõ ở việc kiểm tra

và giám sát, lãnh đạo mà không kiểm tra coi như không lãnh đạo Vì vậy, lãnhđạo và kiểm tra, giám sát là 2 mặt cơ bản thống nhất trong hoạt động của mỗicấp uỷ Đảng Nội dung kiểm tra, giám sát của cấp uỷ Đảng chủ yếu là việcthực hiện các Nghị quyết, chủ trương, nguyên tắc, Điều lệ Đảng Thông quakiểm tra, giám sát cấp ủy Đảng nâng cao năng lực lãnh đạo của mình Trên cơ

sở Điều lệ Đảng và thực tiễn tại các Huyện ủy ở thành phố Hồ Chí Minh, cáchuyện ủy xây dựng và ban hành qui chế làm việc của Ủy ban kiểm tra Huyện

ủy khoá X (2010-2015), gồm 4 chương với 10 điều qui định cụ thể nhiệm vụ,quyền hạn, nguyên tắc và chế độ làm việc của Ủy ban kiểm tra Huyện ủy.Nhiệm vụ cụ thể của Chủ nhiệm, Phó Chủ nhiệm và các thành viên Ủy bankiểm tra Huyện ủy

Trong lãnh đạo kinh tế - xã hội, huyện uỷ có chức năng lãnh đạochuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Đây là một lĩnh vực trọng yếu trong

sự lãnh đạo của các huyện ủy, một lĩnh vực nâng cao thu nhập cho người dân

Trang 21

và chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế của của các huyện ở thành phố HồChí Minh

- Nhiệm vụ của các Huyện ủy :

Trên cơ sở quy định của Điều lệ Đảng và từ thực tiễn, các huyện ủy ởthành phố Hồ Chí Minh có các nhiệm vụ cụ thể như sau:

+ Lãnh đạo các mặt công tác của Đảng bộ huyện trong thời gian giữa hai

kỳ Đại hội, trong đó lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, phát triểnkinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt

+ Quán triệt và tổ chức thực hiện các Nghị quyết Đại hội Đảng toànquốc, Nghị quyết của cấp trên và của Đảng bộ huyện; vận dụng đường lối,chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trên địa bàn huyện; đồng thời,quyết định những chủ trương, nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ huyện đúngđắn và sáng tạo

+ Thường xuyên chăm lo xây dựng Đảng bộ huyện vững mạnh vềchính trị, tư tưởng và tổ chức; xây dựng tổ chức cơ sở Đảng, đội ngũ cán bộ,đảng viên trong sạch vững mạnh

+ Tích cực tham gia vào việc xây dựng và cụ thể hoá đường lối, chínhsách của Đảng, chuẩn bị nội dung và kế hoạch tiến hành Đại hội Đảng từ cơ

sở đến huyện theo qui định của Điều lệ Đảng và sự chỉ đạo của cấp trên

+ Xây dựng và thực hiện qui chế làm việc của cấp uỷ, bảo đảm vai tròlãnh đạo của Đảng trong hệ thống chính trị trên địa bàn huyện; sự đoàn kếtthống nhất trong cấp uỷ Đảng, trước hết là trong Ban Thường vụ, thường trựccấp uỷ; lãnh đạo thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ mà Đại hội Đảng

bộ huyện đề ra và nhiệm vụ của cấp trên giao

- Trách nhiệm và quyền hạn của các Huyện ủy :

Căn cứ vào Điều lệ Đảng, hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương, đặcđiểm và phạm vi lãnh đạo trên địa bàn các huyện; trách nhiệm và quyền hạncủa các Huyện ủy, bao gồm những nội dung chủ yếu sau:

Trang 22

+ Quyết định các chủ trương, biện pháp quan trọng để cụ thể hoáđường lối, Nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng và lãnh đạo tổchức thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết của Trung ương, của Tỉnh uỷ.

+ Quyết định các chủ trương, biện pháp lớn về tổ chức và cán bộ, về bốtrí, đề bạt và thi hành kỷ luật đối với cán bộ thuộc diện cấp ủy huyện quản lý

Thường xuyên lãnh đạo công tác xây dựng Đảng, xây dựng chínhquyền; định kỳ nghe báo cáo và lãnh đạo cấp ủy Đảng trực thuộc, các ban củaHuyện uỷ thực hiện chức trách, nhiệm vụ theo quy định của Điều lệ Đảng.Bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện các mặt hoạt động của cấp ủy Đảng

+ Lãnh đạo Đại hội Đảng bộ, chi bộ trực thuộc và chuẩn bị Đại hộiĐảng bộ huyện, thường xuyên báo cáo với cấp trên và thông báo cho cấp dướitình hình chung và hoạt động của cấp ủy, bảo đảm chế độ thông tin cho từngcấp uỷ viên và cấp ủy cơ sở theo đúng quy định của Điều lệ Đảng

+ Trách nhiệm và quyền hạn của các Huyện ủy ở thành phố Hồ ChíMinh được cụ thể hoá thành quy chế làm việc, phù hợp với đặc điểm tình hìnhcủa mỗi Đảng bộ huyện trong giai đoạn hiện nay

Quy chế làm việc của các Huyện ủy ở thành phố Hồ Chí Minh khoá IX(2005-2010) đều thống nhất chung gồm: 3 chương với 18 điều, quy định nộidung cụ thể về trách nhiệm và quyền hạn của Ban Chấp hành, Ban Thường vụHuyện ủy, Bí thư, các Phó Bí thư; xây dựng chương trình công tác toàn khóa,xây dựng và ban hành quy chế làm việc của Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy; xácđịnh phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội, quốc phòng- an ninh,nâng cao chất lượng hệ thống chính trị; chủ trương đầu tư các dự án quantrọng có ảnh hưởng lớn đến kinh tế- xã hội, quốc phòng- an ninh Quy hoạch,quyết định về tổ chức bộ máy và cán bộ của hệ thống chính trị được BanThường vụ Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh phân cấp quản lý Kiểm tra,giám sát việc thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết của Huyện ủy và cấp trên.Quy định chế độ làm việc và phương pháp công tác của tập thể Huyện ủy và

Trang 23

cá nhân cấp ủy viên, chế độ hội nghị, giao ban của Ban Chấp hành, BanThường vụ, Thường trực Huyện ủy và chế độ thông tin báo cáo.

1.2 CÁC HUYỆN ỦY Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LÃNH ĐẠO CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP - QUAN NIỆM, NỘI DUNG, PHƯƠNG THỨC VÀ QUY TRÌNH LÃNH ĐẠO

1.2.1 Quan niệm về lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của các Huyện ủy

- Quan niệm về cơ cấu kinh tế và cơ cấu kinh tế nông nghiệp :

+ Quan niệm cơ cấu kinh tế:

Đảng lãnh đạo nhà nước phát triển nền kinh tế có hiệu quả là mục tiêuphấn đấu của mỗi quốc gia Muốn đạt được mục tiêu trên đòi hỏi phải có một

cơ cấu kinh tế (CCKT) hợp lý xét trên góc độ các ngành kinh tế, các vùngkinh tế và các thành phần kinh tế Các yếu tố hợp thành CCKT phải được thểhiện cả về số lượng cũng như về chất lượng và được xác định trong nhữnggiai đoạn nhất định, phù hợp với những đặc điểm tự nhiên, kinh tế- xã hội(KT-XH) cụ thể của mỗi quốc gia (vùng, hoặc địa phương) qua từng thời kỳ

Cơ cấu kinh tế không phải là một hệ thống tĩnh, bất biến, mà luôn vậnđộng chuyển dịch cần thiết, thích hợp với những biến động của điều kiện tựnhiên, KT-XH Do đó sự duy trì quá lâu hoặc thay đổi quá nhanh chóng củaCCKT mà không tính đến sự phù hợp với những biến đổi của tự nhiên, KT-

XH đều có thể ảnh hưởng đến hiệu quả của nền kinh tế Vì vậy việc duy trìhay thay đổi CCKT không phải là mục tiêu, mà chỉ là phương tiện của việctăng trưởng và phát triển kinh tế Cơ cấu kinh tế trong quá trình vận độngchuyển dịch nhanh hay chậm không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan mà phụthuộc vào các điều kiện cần thiết cho sự chuyển đổi

Theo từ điển Bách khoa Việt Nam tập 1 thì cơ cấu kinh tế là “tổng thể cácngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp

thành” [58, tr.610] Vậy có thể hiểu CCKT là tổng thể các bộ phận hợp thành

Trang 24

kết cấu (hay cấu trúc) của nền kinh tế trong quá trình tái sản xuất xã hội Các

bộ phận đó gắn bó với nhau, tác động qua lại lẫn nhau và biểu hiện ở các quan

hệ tỷ lệ về số lượng, tương quan về chất lượng trong những không gian và thời gian nhất định, phù hợp với những điều kiện KT-XH nhất định nhằm đạt hiệu quả KT-XH cao.

Khái niệm CCKT như nêu trên là khoa học tương đối toàn diện, đầy đủcác bộ phận cấu thành, các mối quan hệ khắng khích giữa các bộ phận cấu thành

Như vậy CCKT vừa mang tính khách quan, vừa mang tính lịch sử xãhội, đồng thời luôn vận động và phát triển không ngừng, gắn với sự phâncông lao động, hợp tác kinh tế trong nước và quốc tế

Ta có thể hiểu trực diện hơn, CCKT là: mối quan hệ và tỷ lệ giữa cácngành trong nền kinh tế (hoặc trong GDP), mối quan hệ giữa các vùng kinh

tế, giữa các thành phần kinh tế

Có các loại cơ cấu kinh tế khác nhau: cơ cấu nền kinh tế quốc dân, cơcấu theo ngành kinh tế- kỹ thuật, cơ cấu theo vùng, cơ cấu theo đơn vị hànhchính- lãnh thổ, cơ cấu theo thành phần kinh tế; trong đó cơ cấu theo ngànhkinh tế- kỹ thuật mà trước hết là cơ cấu công- nông nghiệp là quan trọng nhất.Trong thời kỳ quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng ta xác định chiến lượckinh tế- xã hội Việt Nam hiện nay là xây dựng một cơ cấu kinh tế gồm:

Cơ cấu ngành: phát triển các ngành nông- lâm- ngư nghiệp gắn vớicông nghiệp chế biến là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, đồng thời tăng tốc độphát triển các ngành công nghiệp, mở rộng khu vực dịch vụ, từng bước đưanền kinh tế phát triển toàn diện và theo hướng hiện đại

Cơ cấu thành phần: nền kinh tế có nhiều thành phần, trong đó thànhphần kinh tế quốc doanh đóng vai trò chủ đạo

Cơ cấu vùng: phát triển những vùng chuyên canh hóa sản xuất có hiệuquả kinh tế- xã hội cao

Xác định cơ cấu kinh tế hợp lý và thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh

tế là vấn đề có ý nghĩa chiến lược quan trọng phụ thuộc vào sự hiểu biết sâu

Trang 25

sắc các nhân tố kinh tế, xã hội, kỹ thuật cụ thể ở từng vùng trong từng thờigian và khả năng tổ chức sản xuất, quản lý kinh tế, trên cơ sở đó khai thác và

sử dụng có hiệu quả nhất tài nguyên đất đai, sức lao động, tư liệu sản xuất, tạo

ra sự phát triển trên mọi vùng đất nước và tạo điều kiện nâng cao đời sốngnhân dân

Xác định CCKT hợp lý có ý nghĩa chiến lược quan trọng, thúc đẩy sựtăng trưởng kinh tế nhanh với tốc độ cao và bền vững, ổn định chính trị ở mỗiquốc gia, mỗi địa phương Để có CCKT hợp lý, ngoài sự phụ thuộc vào cácyếu tố như: điều kiện tự nhiên, KT - XH, lợi thế so sánh của mỗi vùng, địaphương, quốc gia và khả năng tổ chức sản xuất, quản lý kinh tế; thì vai tròlãnh đạo, chỉ đạo, điều hành một cách năng động, sáng tạo của Trung ươngĐảng và các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương là rất quan trọng

CCKT hợp lý phải thoả mãn được 5 tiêu chí cơ bản sau đây:

Một là, CCKT phải phù hợp với qui luật khách quan, trước hết là quy

luật kinh tế cơ bản

Hai là, khai thác hợp lý và phát huy được nguồn lực, tiềm năng của đất

nước, từng vùng, từng địa phương, vận dụng được tiến bộ khoa học - kỹ thuật

và công nghệ hiện đại

Ba là, tạo nên sự phát triển cân đối, phát huy lợi thế của các vùng, các

ngành kinh tế

Bốn là, sự gắn kết giữa các loại thị trường trong và ngoài nước, mở

rộng quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế và phù hợp với xu thế kinh tế, chính trịcủa khu vực và thế giới

Năm là, tạo được tích luỹ ngày càng tăng cho nền kinh tế quốc dân, xã

hội phát triển lành mạnh, giữ vững quốc phòng-an ninh

+ Quan niệm cơ cấu kinh tế nông nghiệp:

Nền kinh tế quốc dân là một tổ hợp đa ngành, đa lĩnh vực Trên góc độkhông gian lãnh thổ của mỗi nước, người ta phân chia ra thành kinh tế nông

Trang 26

thôn và kinh tế thành thị Sự phân biệt giữa kinh tế nông thôn và kinh tế thànhthị dựa vào sự khác nhau về địa lý, gắn liền về trình độ phát triển lực lượngsản xuất, phân công lao động xã hội và những đặc thù của các ngành Khuvực nông thôn bao gồm một không gian rộng lớn, ở đó cộng đồng dân cư sinhsống và hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp (theo nghĩa rộng) vớicác hoạt động kinh tế - xã hội gắn liền với lĩnh vực đó Kinh tế nông thôn làmột tổng thể các ngành kinh tế trong khu vực nông thôn Kinh tế nông thôngồm các ngành liên quan mật thiết với nhau: nông nghiệp, lâm nghiệp, ngưnghiệp và bao gồm cả công nghiệp, dịch vụ trong nông nghiệp Các ngànhkinh tế đó quan hệ chặt chẽ với nhau theo những tỷ lệ nhất định về số lượng

và liên quan chặt chẽ về mặt chất lượng Cơ cấu kinh tế nông nghiệp là một

bộ phận của hệ thống cơ cấu kinh tế quốc dân, phụ thuộc vào cơ cấu kinh tếquốc dân, nhưng nó cũng mang tính độc lập tương đối Vậy cơ cấu kinh tếnông nghiệp được hiểu:

Cơ cấu kinh tế nông nghiệp là tổng thể các mối quan hệ theo tỷ lệ về số lượng và chất lượng tương đối ổn định của các yếu tố kinh tế xã hội liên quan đến sản xuất nông nghiệp trong một khoảng thời gian và không gian nhất định.

Cơ cấu kinh tế phản ánh quá trình phát triển, sự phù hợp, hợp lý trongphát triển kinh tế của mỗi Quốc gia, mỗi ngành và mỗi thành phần kinh tế.Muốn có một cơ cấu kinh tế hợp lý, cần có những biện pháp cụ thể nhằmchuyển dịch cơ cấu đúng hướng để có thể khai thác tối đa những tiềm năng vàlợi thế của từng vùng, ngành và từng địa phương

Đặc trưng cơ bản của cơ cấu kinh tế nông nghiệp :

Cơ cấu kinh tế nông nghiệp mang tính khách quan: cơ cấu kinh tế nôngnghiệp tồn tại và phát triển phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượngsản xuất và phân công lao động xã hội Mỗi một trình độ nhất định của lựclượng sản xuất và phân công lao động xã hội tương ứng với một cơ cấu kinh

tế nông thôn cụ thể

Trang 27

Cơ cấu kinh tế nông nghiệp và cơ cấu kinh tế cụ thể trong hệ thốngkinh tế nông nghiệp cũng như xu hướng chuyển dịch của chúng ra sao là tuỳthuộc vào những điều kiện kinh tế- xã hội, những điều kiện tự nhiên nhất định

mà không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người Tuy nhiên, các quyluật kinh tế lại được biểu hiện và vận động thông qua hoạt động của conngười Vì vậy, con người phải nhận thức đầy đủ các quy luật kinh tế cũng nhưcác ngành tự nhiên để từ đó góp phần vào việc hình thành, biến đổi và phát triển

cơ cấu kinh tế nông nghiệp sao cho cơ cấu đó ngày càng hợp lý và đem lại hiệuquả cao Trong điều kiện hội nhập kinh tế khu vực và thế giới hiện nay, cơ cấukinh tế còn bị chi phối bởi sự phát triển kinh tế chung của vùng và của thế giới.Như vậy, việc hình thành và vận động của cơ cấu kinh tế nông nghiệp đòi hỏiphải tôn trọng khách quan và không được áp đặt chủ quan, duy ý chí

Cơ cấu kinh tế nông nghiệp không cố định mà luôn luôn vận động vàbiến đổi sự vận động biến đổi của cơ cấu kinh tế nông nghiệp luôn gắn liềnvới điều kiện kinh tế - xã hội, điều kiện tự nhiên và tiến bộ khoa học kỹ thuật,công nghệ mới Sự tác động của các điều kiện đó làm cho các bộ phận kinh tếtrong hệ thống kinh tế nông nghiệp biến đổi, tác động lẫn nhau, tạo ra một cơcấu kinh tế nông nghiệp mới Cơ cấu ấy vận động và phát triển, đến lượt nóphải nhường chỗ cho một cơ cấu mới khác ra đời Tuy vậy, để đảm bảo choquá trình hình thành, vận động và phát triển của cơ cấu kinh tế nông nghiệpmột cách khách quan, yêu cầu đặt ra là cơ cấu nông nghiệp phải đảm bảotương đối ổn định Nếu cơ cấu kinh tế nông nghiệp thường xuyên thay đổi,xáo trộn sẽ làm cho các quá trình sản xuất kinh doanh không ổn định, quátrình đầu tư lúng túng, lưu thông hàng hoá trở ngại, làm cho kinh tế nôngnghiệp, nông thôn phát triển què quặt và phiến diện, gây lãng phí, tổn thất chonền kinh tế

Cơ cấu kinh tế nông nghiệp mang tính hợp tác và cạnh tranh: trongviệc lựa chọn một cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý, có hiệu quả cao phải

Trang 28

xem xét đầy đủ các yếu tố từ bên ngoài ảnh hưởng đến việc hình thành cơcấu kinh tế và mối liên hệ giữa các yếu tố bên trong và bên ngoài Sự gắn

bó được biểu hiện trong quá trình xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội,trong việc bố trí sản xuất, hoạch định các chính sách, ứng dụng tiến bộkhoa học kỹ thuật và công nghệ mới, tổ chức quá trình sản xuất kinh doanhchế biến và tiêu thụ sản phẩm …

Các yếu tố cấu thành trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp: cơ cấu kinh tếnông nghiệp là sản phẩm của phân công lao động xã hội Phân công lao động

xã hội diễn ra liên tục và phát triển cùng với sự phát triển của lực lượng sảnxuất xã hội Phân công lao động xã hội gồm hai hình thức cơ bản: Phân cônglao động xã hội theo ngành và phân công lao động xã hội theo lãnh thổ Haihình thức cơ bản của phân công lao động xã hội đó gắn bó với nhau Sự pháttriển của phân công lao động xã hội theo ngành kéo theo sự phát triển củaphân công lao động xã hội theo lãnh thổ, ngược lại mỗi bước tiến của phâncông lao động xã hội theo lãnh thổ lại góp phần quan trọng cho bước pháttriển mới cho phân công lao động xã hội theo ngành Sự phát triển đó là thước

đo trình độ phát triển chung của mỗi dân tộc Phân công lao động xã hội vàchế độ sở hữu tạo ra cơ cấu các thành phần kinh tế Cơ cấu kinh tế hợp lý sẽthúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, làm cho người sản xuất kinhdoanh năng động hơn, cho phép khai thác các tiềm năng và lợi thế có hiệu quảhơn Như vậy xét trên tổng thể cơ cấu kinh tế nông nghiệp bao gồm: cơ cấungành, cơ cấu vùng lãnh thổ, cơ cấu thành phần kinh tế và cơ cấu kỹ thuật

- Quan niệm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp:

+ Chuyển dịch CCKT:

Trong quá trình sản xuất và tái sản xuất, lực lượng sản xuất (LLSX)luôn biến động Vì vậy, để phù hợp với qui luật phát triển kinh tế khách quan,CCKT cũng thường xuyên biến đổi (lượng và chất) từ trạng thái này sang trạngthái khác cho phù hợp Sự biến đổi ấy được gọi là sự chuyển dịch CCKT

Trang 29

Nói cách khác chuyển dịch CCKT là quá trình làm thay đổi các yếu tốlạc hậu hoặc không còn phù hợp của CCKT hiện tại và được bổ sung, thay thếbằng các yếu tố mới tiên tiến làm cho CCKT mới phù hợp hơn.

Theo từ điển Bách khoa Việt Nam tập 1: chuyển dịch CCKT là quátrình cải biến KT - XH từ trạng thái lạc hậu, mang nặng tính chất tự cấp, tựtúc từng bước chuyên môn hoá hợp lý, trang bị kỹ thuật, công nghệ hiện đại;trên cơ sở đó, tạo ra năng xuất lao động cao, hiệu quả kinh tế cao và nhịp độtăng trưởng mạnh, cho nền kinh tế nói chung Chuyển dịch CCKT bao gồmviệc chuyển biến CCKT theo ngành, theo vùng lãnh thổ và các thành phầnkinh tế Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là vấn đề mang tính khách quan và là mộtquá trình đi lên từng bước dựa trên sự kết hợp mật thiết các điều kiện chủquan, các lợi thế về kinh tế, xã hội, tự nhiên trong nước, trong vùng, trongđơn vị kinh tế với các khả năng đầu tư hợp tác, liên kết, liên doanh về sảnxuất, dịch vụ, tiêu thụ sản phẩm của các nước, các vùng và đơn vị kinh tếkhác nhau [58, tr.535]

Như vậy, thực chất của chuyển dịch CCKT là sự điều chỉnh cơ cấu trên

3 mặt là CCKT ngành, cơ cấu thành phần kinh tế và cơ cấu vùng kinh tế.Nhằm hướng sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế theo các mục tiêu KT - XH

đã được xác định cho từng thời kỳ phát triển

Quá trình chuyển dịch CCKT không phải là tự phát mà do con ngườitác động, trên cơ sở vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan Quá trìnhchuyển dịch CCKT gắn liền với quá trình phân công lao động xã hội, sự biếnđổi của LLSX và quan hệ sản xuất (QHSX) phù hợp với trình độ phát triểncủa LLSX

Trong thời kỳ quá độ, chuyển dịch CCKT là quá trình chuyển từ nềnkinh tế có CCKT: nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ sang CCKT: côngnghiệp - dịch vụ - nông nghiệp Đặc trưng cơ bản của quá trình chuyển dịch làgiá trị sản xuất của 3 ngành trên đều tăng qua các giai đoạn, nhưng tỷ trọng

Trang 30

của ngành nông nghiệp giảm dần, tỷ trọng của công nghiệp, dịch vụ tăng dần.

Tỷ lệ lao động trong nông nghiệp giảm, trong công nghiệp và dịch vụ ngàycàng tăng, tạo cho kinh tế tăng trưởng nhanh, cao và bền vững

+ Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp:

Là quá trình đưa khoa học kỹ thuật để phát triển nông nghiệp cả vềchiều rộng lẫn chiều sâu, hướng nông nghiệp phát triển theo nhu cầu của thịtrường Đây là quá trình hoàn thiện thể chế nông thôn và là phương hướng chủđạo phát triển của kinh tế nông thôn hiện tại và tương lai

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là nâng cao toàn diện chất lượng nông sản, nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp thông qua các biện pháp như phát huy lợi thế vùng nông nghiệp, doanh nghiệp hóa nông nghiệp, tăng cường khoa học công nghệ, tằng cường công tác thị trường.

Hình thành được hệ thống doanh nghiệp có hình thức tổ chức điều tiếtmậu dịch bao gồm: công nghiệp, nông nghiệp, sản xuất chế biến và tiêu thụ,tập hợp khá đông các yếu tố của sức sản xuất, hình thành quy mô kinh tế tối

ưu nhất

Chuyển dịch mạnh mẽ CCKT nông nghiệp, là một trong những nộidung cốt lõi trong chương trình xây dựng nông thôn mới toàn diện tại cáchuyện ở thành phố Hồ Chí Minh và trong toàn bộ tiến trình xây dựng côngnghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn của Đảng ta, tiến lên chủnghĩa xã hội (CNXH) Quá trình chuyển dịch CCKT nông nghiệp ở nước ta

là một quá trình phức tạp kéo dài trong suốt cả thời kỳ quá độ, chúng tachưa có nhiều kinh nghiệm Do đó, đòi hỏi Đảng, Nhà nước, các cấp ủyĐảng, chính quyền địa phương trong cả nước phải quan tâm hơn nữa tronglãnh đạo, chỉ đạo, rút kinh nghiệm thời gian qua; nghiên cứu, học tập kinhnghiệm của các nước đi trước, đề ra chiến lược và bước đi thích hợp,chuyển dịch mạnh mẽ và nhanh chóng CCKT nông nghiệp đúng hướng vàđạt hiệu quả cao

Trang 31

- Quan niệm về lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp:

+ Quan niệm về lãnh đạo:

Lãnh đạo là khái niệm được sử dụng rất rộng rãi ở các nước xã hội chủnghĩa trước đây và ở nước ta, nhất là từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đờilãnh đạo cách mạng nước ta và khái niệm đó được sử dụng nhiều hơn trongnhững năm gần đây Nó đã trở thành thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến.Song, nói như thế không có nghĩa là khái niệm "lãnh đạo" đã được mọi ngườihiểu tường tận

Theo nghĩa khái quát được Đại từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ýchủ biên thì "lãnh đạo" nghĩa là dẫn dắt, tổ chức phong trào theo đường lối cụthể [64, tr.997] Cách hiểu này nhấn mạnh khâu tổ chức thực hiện các chủtrương, để đạt được mục đích, nhưng có phần phiến diện và rất đơn điệu sovới sự lãnh đạo của Đảng

Đã có nhiều công trình nghiên cứu và đưa ra các khái niệm, định nghĩa

về lãnh đạo khác nhau tùy theo cách tiếp cận, diễn đạt khác nhau, nhưng tựutrung đều có những điểm chung: lãnh đạo là cách con người ứng xử với conngười trong hoạt động thực tiễn, là cách làm việc với con người, là quy trìnhgây ảnh hưởng, tác động đến con người và tổ chức, là đưa ra chủ trương,phương hướng và chính sách phát triển tổ chức nhằm thực hiện mục tiêuchính trị, kinh tế- xã hội trong từng thời kỳ, phù hợp với tiến trình khách quan

và yêu cầu, điều kiện, bước đi cụ thể

Từ những điều trình bày trên, ta có thể gắn chủ thể lãnh đạo và đối

tượng lãnh đạo, làm cho khái niệm “lãnh đạo”, cụ thể và rõ hơn như: Các

Huyện ủy ở thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo phát triển kinh tế, chuyển dịch

cơ cấu kinh tế nông nghiệp, quốc phòng - an ninh…

Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:

“lãnh đạo đúng nghĩa là: Phải quyết định mọi vấn đề một cách đúng đắn; phải

tổ chức sự thi hành cho đúng; phải tổ chức sự kiểm soát” [39, tr.285]

Trang 32

Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra một cách toàn diện và súc

tích khái niệm “lãnh đạo” và khái niệm “Lãnh đạo đúng” của Đảng Để lãnh

đạo đúng, đảm bảo thắng lợi của cách mạng, Đảng phải đề ra cương lĩnhchính trị, quyết định (Nghị quyết) đúng đắn; đồng thời, phải tổ chức thực hiệnthắng lợi cương lĩnh chính trị, quyết định (Nghị quyết) đó Trong tổ chức thựchiện phải phân công nhiệm vụ cụ thể cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộlãnh đạo chủ chốt Quá trình lãnh đạo phải tổ chức kiểm soát chặt chẽ (theoChủ tịch Hồ Chí Minh thì kiểm soát bao hàm cả kiểm tra và giám sát) từ khiđịnh chủ trương, ra Nghị quyết, quá trình tổ chức thực hiện và sơ kết, tổngkết, rút ra những kinh nghiệm

+ Quan niệm về lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp:Trước hết cần thống nhất nhận thức về nông nghiệp được hiểu theonghĩa rộng gồm: trồng trọt các cây lương thực, cây công nghiệp ngắn, dàingày, rau quả các loại; chăn nuôi gia súc, gia cầm; nuôi trồng và đánh bắtthuỷ sản; lâm nghiệp và ngành muối

Từ những điều trình bày ở trên, có thể đưa ra quan niệm về các Huyện ủy

ở thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, là toàn bộ hoạt động của Huyện ủy đề ra quyết định (Nghị quyết) đúng đắn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện, tổ chức thực hiện các quyết định (Nghị quyết) và tổ chức kiểm tra, giám sát toàn bộ hoạt động đó đảm bảo cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của từng huyện hợp lý và

chuyển dịch đúng hướng, kinh tế của huyện từng bước phát triển mạnh mẽ, bền

vững, góp phần vào phát triển kinh tế của thành phố và cả nước.

- Các Huyện ủy ra quyết định (Nghị quyết) đúng đắn về chuyển dịch cơcấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện trong giai đoạn hiện nay, đảm bảocác yêu cầu chủ yếu sau đây:

+ Quyết định (Nghị quyết) về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

của các Huyện ủy tuân thủ và phù hợp với quy luật phát triển nền kinh tế thị

Trang 33

trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đúng đường lối, chủ trương của Đảng,pháp luật của Nhà nước, của thành ủy thành phố Hồ Chí Minh về chuyển dịch

cơ cấu kinh tế nông nghiệp Đảm bảo phát triển kinh tế trên địa bàn các huyệnđúng định hướng chung, phát triển đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm và bềnvững; không phá vỡ quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội hoặc làmhạn chế chủ trương và kết quả về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp củathành phố và cả nước

+ Quyết định (Nghị quyết) của các Huyện uỷ về chuyển dịch cơ cấu

kinh tế nông nghiệp đúng đắn, phù hợp và sát thực với điều kiện của từnghuyện, phát huy được tiềm năng, thế mạnh, tạo bước chuyển dịch mạnh cơcấu kinh tế nông nghiệp ; đảm bảo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triểnkinh tế- xã hội trong từng giai đoạn, đáp ứng yêu cầu phát triển cả trước mắt

và lâu dài

+ Trong lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, các Huyện

ủy coi trọng việc ra Nghị quyết, tổ chức thực hiện Nghị quyết và kiểm tra,giám sát quá trình thực hiện Nghị quyết đảm bảo Nghị quyết của các Huyện

ủy được thực hiện nghiêm túc và đạt kết quả

Huyện ủy quan tâm lãnh đạo phát huy vai trò to lớn của các cấp ủyĐảng cơ sở; Chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân từhuyện đến cơ sở; thành phần kinh tế, vùng kinh tế và các ngành kinh tế trênđịa bàn huyện trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp để tập trunglãnh đạo, chỉ đạo chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế nông nghiệp, kinh tếphát triển với tốc độ cao và bền vững

1.2.2 Nội dung, phương thức, quy trình lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của các Huyện ủy

1.2.2.1 Nội dung lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của các Huyện ủy

- Lãnh đạo việc xác định mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ hoạt động

Trang 34

- Lãnh đạo chính quyền nhà nước trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế vàchuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp.

- Lãnh đạo các tổ chức đảng trong việc triển khai thực hiện nghị quyết

và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

- Lãnh đạo phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị

xã hội, nhất là Hội nông dân trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

- Lãnh đạo các tổ chức kinh tế khác trên địa bàn các huyện trong việcchuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

1.2.2.2 Phương thức lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của các Huyện ủy

- Lãnh đạo bằng đề ra chủ trương- phương hướng, nghị quyết vềchuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

- Lãnh đạo chính quyền triển khai việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

- Huyện ủy lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp thông quacông tác tư tưởng

- Huyện ủy lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp thông quacông tác tổ chức và cán bộ, phát huy vai trò tiên phong gương mẫu của cán

bộ, đảng viên trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

- Huyện ủy lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp bằng côngtác kiểm tra, giám sát của cấp ủy Đảng

- Các Huyện ủy lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp bằngquy chế hoạt động của cấp ủy

- Các Huyện ủy lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp bằngviệc lãnh đạo sơ, tổng kết rút kinh nghiệm, xây dựng và nhân rộng các môhình điển hình tiên tiến

1.2.2.3 Quy trình lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của các Huyện ủy ở thành phố Hồ Chí Minh

Các huyện uỷ ở Thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo chuyển dịch cơ cấukinh tế nông nghiệp theo quy trình Quy trình được tiến hành theo các bước:

Trang 35

- Bước 1: chuẩn bị ra nghị quyết.

- Bước 2: ra nghị quyết lãnh đạo

- Bước 3: tổ chức thực hiện nghị quyết Bao gồm: quán triệt nghị quyết,lãnh đạo đảng bộ, chi bộ cơ sở, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tổ chức thựchiện nghị quyết

- Bước 4: kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện nghị quyết; kiểm tra

tổ chức đảng, đảng viên thuộc quyền tổ chức thực hiện nghị quyết về chuyểndịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

- Bước 5: Tổ chức sơ, tổng kết quá trình ra nghị quyết và tổ chức thựchiện nghị quyết, rút ra những kinh nghiệm có tính phổ biến để chỉ đạo thựctiễn cũng như bổ sung, hoàn thiện quy trình lãnh đạo ở giai đoạn tiếp theo

Trang 36

Chương 2 CÁC HUYỆN ỦY Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LÃNH ĐẠO CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP -

THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ KINH NGHIỆM

2.1 THỰC TRẠNG KINH TẾ NÔNG NGHIỆP CỦA CÁC HUYỆN

2.1.1 Những thành tựu đạt được

2.1.1.1 Thực trạng trước chuyển dịch

Những ngày đầu sau chiến tranh, các Huyện của thành phố Hồ ChíMinh đầy rẫy hố bom, bãi mìn, hàng rào kẽm gai với gần 100.000 ha đấthoang hóa (cứ mỗi ha đất ở Củ Chi có trên 1.000 hố bom pháo các loại).Chiến tranh đã hủy diệt gần như toàn bộ hệ sinh thái và cơ sở hạ tầng ở cáchuyện ngoại thành biến nơi đây thành một vành đai trắng điển hình là vùng

“Đất thép Củ Chi”, rừng sát “Cần Giờ”, vùng bưng Tây Nam làm cho hàngvạn hộ nông dân bị tách khỏi ruộng vườn, đứng trước nguy cơ nạn đói đe dọa.Trãi qua gần 35 năm khôi phục sản xuất nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấukinh tế nông nghiệp, có thể điểm qua ba thời kỳ:

- Thời kỳ khôi phục màu xanh trên “vùng đất trắng” thành vành đai lương thực, thực phẩm; ổn định đời sống nhân dân (1975-1980).

Các huyện ủy ở thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo giúp dân ổn định chỗ

ở, tháo gỡ bom mìn, phục hóa khai hoang với hơn 128.000 quả bom mìn, gần2.000 tấn đạn dược các loại Đưa vào sản xuất 70.000 ha vùng đất trắng, gópphần đưa diện tích trồng trọt từ 45.000 ha lên 115.000 ha, đưa sản lượng lúa

từ 95.000 tấn (1975) lên 160.000 tấn (1976) Góp phần trong việc đảm bảolương thực thực phẩm cho thành phố trong giai đoạn thử thách

- Thời kỳ xây dựng ngoại thành thành vành đai thực phẩm và vành đai cây công nghiệp ngắn ngày với nhiệm vụ cung cấp thực phẩm và một phần nguyên liệu cho công nghiệp chế biến của thành phố (1981-1990).

+ Giai đoạn 1981-1985: Với chủ trương đổi mới cơ chế quản lý kinh tế

nông nghiệp để tạo bước phát triển toàn diện, được đánh dấu từ Nghị quyết

Trang 37

Trung ương 6 (khóa IV), Chỉ thị 100 của Ban Bí thư về khoán sản phẩm đếnnhóm và người lao động, Thành ủy đã cụ thể hóa bằng phương hướng, nhiệm

vụ và các giải pháp, các Huyện ủy đề ra chủ trương Nghị quyết phù hợp vớitừng địa phương để tiếp tục xây dựng ngoại thành thành vành đai thực phẩm

và vành đai cây công nghiệp ngắn ngày có chất lượng cao

Đưa giá trị sản xuất tăng bình quân 5,9%/năm, đàn bò sữa bắt đầu pháttriển 1.500 con, trồng được 22.500 ha rừng tập trung Nông nghiệp đảm bảogiải quyết cơ bản lương thực cho nhân khẩu nông nghiệp và cho 60% nhu cầurau đậu, 20-30% thịt cá

+ Giai đoạn 1986-1990: Thành phố tập trung xây dựng nhiều công

trình thủy lợi như: Hệ thống thủy lợi kênh đông Củ Chi: với 11 km kênh trụcchính, 22 tuyến kênh cấp I (62 km) tưới tiêu cho 15.000 ha vùng Củ Chi; hệthống ngăn mặn, xổ phèn vùng Tây Nam Hóc Môn và Bắc Bình Chánh Cácchương trình phát triển giống bò sữa, heo chất lượng cao được chú trọng

+ Giai đoạn 1991-2000: Nhờ đổi mới cơ chế quản lý, khuyến khích các

thành phần kinh tế đầu tư mạnh vào nông nghiệp và áp dụng kịp thời cácthành tựu khoa học kỹ thuật nên cơ cấu sản xuất từng bước chuyển đổi theohướng tạo hàng hóa có giá trị kinh tế cao

Giá trị sản xuất nông lâm thủy sản tăng bình quân 4,9%/năm; đàn bò sữatăng lên 6.650 con; giảm diện tích độc canh cây lúa 1 vụ năng suất thấp, tăng câytrồng thực phẩm và công nghiệp, bắt đầu khôi phục phát triển cây ăn trái; quản

lý có hiệu quả 30.500 ha rừng phòng hộ Hệ thống hạ tầng nông thôn: Điện,đường, trường, trạm, nước sạch được quan tâm đầu tư phát triển Cơ cấu nôngnghiệp có sự chuyển dịch: tỷ trọng trồng trọt từ 45,2%, giảm còn 39%; tỷ trọngchăn nuôi từ 29 tăng 34%; tỷ trọng thủy sản tăng nhẹ từ 11,9% lên 12,8% [52]

2.1.1.2 Thực trạng sau chuyển dịch

- Kinh tế chung của thành phố không ngừng tăng trưởng với tốc độ khácao, trong mười năm là 13,5%, trong đó năm 1996-2000 tăng bình quân

Trang 38

12,2%/năm; giai đoạn 2001-2005 tăng bình quân 14%/năm Nét nổi bật là tốc

độ tăng trưởng GDP ngày càng cao, năm sau cao hơn năm trước Đặc biệt cáchuyện ở thành phố Hồ Chí Minh tốc độ gia tăng nhanh 48,2%, khu vực nôngnghiệp giảm từ 3,3% xuống 1,2%, tăng dần tỷ trọng của khu công nghiệp

Cơ cấu kinh tế của các huyện xét về tỷ trọng là công nghiệp- nôngnghiệp và dịch vụ Giá trị sản xuất nông nghiệp luôn tăng trưởng và cơ cấukinh tế nông nghiệp có sự chuyển dịch tích cực theo hướng nâng cao năngsuất, chất lượng, hiệu quả gắn với nhu cầu thị trường Năm 1995, giá trị sảnxuất nông lâm ngư nghiệp đạt 1.935,3 tỷ, trong đó trồng trọt: 875,9 tỷ; chănnuôi: 562,7 tỷ; lâm nghiệp: 84,9 tỷ; thủy sản: 219,7 tỷ và dịch vụ nông lâmnghiệp: 192,1 tỷ Đến năm 2006 giá trị sản xuất nông lâm ngư nghiệp đạt4.388 tỷ, trong đó trồng trọt: 1.192 tỷ; chăn nuôi: 1.474 tỷ; lâm nghiệp: 73,8tỷ; thủy sản: 1.273,59 tỷ và dịch vụ nông lâm ngư nghiệp: 374,30 tỷ đồng.Năm 2009 giá trị sản xuất nông lâm ngư nghiệp khoảng 7.640,3 tỷ đồng,trong đó lĩnh vực trồng trọt đạt khoảng 2.209 tỷ; chăn nuôi 3.080 tỷ; lâmnghiệp 72 tỷ; thủy sản 511,3 tỷ, các hoạt động dịch vụ nông lâm ngư nghiệp

768 tỷ, tăng 6,9%, (trong đó dịch vụ nông lâm nghiệp: 580 tỷ, dịch vụ thủy

sản: 188 tỷ) [52] (phụ lục 3).

Giai đoạn 1996-2000 tốc độ tăng trưởng bình quân năm là 1,1%; giaiđoạn 2001-2005, từ kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp phát huyhiệu quả, đặc biệt là đã hình thành vùng nuôi tôm đã thúc đẩy tăng trưởng củangành nông nghiệp đạt 6%/năm; đây là mức tăng trưởng cao nhất từ trước đếnnay, trong khi đất nông nghiệp ngày một giảm Kết quả giai đoạn 1996-2006,tốc độ tăng trưởng bình quân 3,7%/năm

Giai đoạn 2006-2009 tốc độ tăng trưởng bình quân 5,7%/năm Trongnông nghiệp đã có sự chuyển dịch cơ cấu tích cực theo hướng tăng tỷ trọngcủa ngành thủy sản (Nhà Bè, Cần Giờ chuyển đất trồng lúa một vụ sang nuôi

tôm sú) và chăn nuôi, giảm tỷ trọng trồng trọt (phụ lục 1).

Trang 39

- Cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch hợp lý và đúng hướng, đượctập trung chỉ đạo theo các chương trình mục tiêu cây con cụ thể và có sự phốihợp chặt chẽ với các sở ngành thành phố, các đoàn thể, nhất là Hội nông dân,Hội Liên hiệp phụ nữ, Đoàn thanh niên Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuấtnông lâm ngư nghiệp được tiếp tục được duy trì và ở mức cao, bình quân giaiđoạn 2006-2009 tăng 5,7%/năm Vấn đề này có ý nghĩa rất quan trọng trongđiều kiện đô thị hóa, đất nông nghiệp giảm, khẳng định hiệu quả của chươngtrình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp tại các huyện ở thành phố Hồ ChíMinh Các chương trình mục tiêu đạt kết quả tích cực như phát triển và nângcao năng suất đàn bò sữa, rau an toàn, trồng hoa- cây kiểng, cá sấu, cá cảnh…

Trình độ kỹ thuật, khoa học công nghệ trong nông nghiệp và nông dânngày càng được nâng cao; qua các chương trình tập huấn, huấn luyện vàchuyển giao tiến bộ kỹ thuật được quan tâm, tăng cường đầu tư, có sự phốihợp chặt chẽ giữa các cơ quan, đoàn thể, đặc biệt là sự tham gia của cácdoanh nghiệp nên được nông dân đồng tình ứng dụng vào sản xuất

Nhiều loại cây trồng, vật nuôi đã sử dụng giống mới, chất lượng cao;chương trình giống cây giống con chất lượng cao đạt kết quả tích cực; kinh tếtrang trại phát triển nhanh về số lượng, quy mô và đang chuyển dịch mở rộngcác hoạt động dịch vụ, ngành nghề nông thôn Phong trào nông dân sản xuấtgiỏi ở các huyện ngày càng tăng về số lượng và hiệu quả Các thành phầnkinh tế ngoài quốc doanh phát triển mạnh, năng động, nhất là trong lĩnh vựcnuôi tôm sú, bò sữa, rau an toàn, hoa- cây cảnh- cá kiểng, ba ba, cá sấu, sảnxuất và dịch vụ giống cây, giống con, thủy sản

Các hoạt động về xúc tiến thương mại, hợp tác, liên kết trong tổ chứcsản xuất kinh doanh, thành lập hiệp hội chuyên ngành, xây dựng thương hiệuđược quan tâm chỉ đạo, đầu tư hỗ trợ và phát triển khá Các hợp tác xã nôngnghiệp, tổ hợp tác sản xuất đã quen dần với hình thức sản xuất tiêu thụ thôngqua hợp đồng với các doanh nghiệp với sự hỗ trợ, cầu nối của cơ quan nhà

Trang 40

nước Bên cạnh các hoạt động hỗ trợ, tạo điều điều của các huyện về tham giacác hội chợ, triển lãm, các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh đã đẩymạnh công tác thông tin, quảng bá sản phẩm qua các trang tin điện tử, quảncáo… Tuy khối lượng sản xuất, tiêu thụ thông qua hợp đồng đến nay chưanhiều, chưa ổn định nhưng đã tăng tính chủ động cho các hợp tác xã, tổ hợptác quản lý điều hành kế hoạch sản xuất, tiêu thụ sản phẩm Các qui định củaquốc tế về an toàn dịch bệnh, vệ sinh an toàn thực phẩm đã được nghiên cứu,hướng dẫn các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp, tạo điều kiện tiếp cận thị trườngtrong và ngoài nước, đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại, xuất khẩu.

Chương trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, chuyển dịch cơcấu kinh tế nông nghiệp được các huyện ở thành phố Hồ Chí Minh tăngcường chỉ đạo, đổi mới và đạt hiệu quả cao, nhất là các hoạt động quản lý,kiểm dịch, kiểm tra chất lượng giống, phân bón, vật tư nông nghiệp; công tácphòng chống dịch bệnh cây trồng, vật nuôi, tủy sản; kiểm tra vệ sinh an toànthực phẩm có nguồn gốc động, thực vật, thủy sản; dư lượng hóa chất, thuốctrờ sâu, chất bảo quản nông sản, thủy sản Chính sách khuyến khích hỗ trợnông dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, hỗ trợ phòng chống dịchbệnh cây trồng, vật nuôi cũng được các huyện quan tâm, đã giúp nông dânyên tâm và tăng cường đầu tư thâm canh, phát triển cơ giới hóa và nhất làgiảm giá thành nông sản, tăng tính cạnh tranh của sản phẩm

- Kinh tế vùng và thành phần kinh tế nông nghiệp của các huyện có

bước phát triển quan trọng, cụ thể trên từng lĩnh vực như sau: ( phụ lục 2)

Về trồng trọt: tuy diện tích gieo trồng hàng năm đều giảm, từ năm 1995

đến năm 2006 diện tích đất gieo trồng ở các huyện giảm trên 30.000 ha; trong

đó diện tích đất trồng lúa giảm trên 20.000 ha nhưng nhờ cơ cấu cây trồngchuyển dịch đúng hướng: giảm diện tích lúa, tăng diện tích trồng hoa, rau antoàn, cỏ thức ăn gia súc, cây công nghiệp hàng năm khác, tăng hệ số sử dụngđất tăng từ 1,43 lần năm 1996 lên 3,72 lần năm 2006 nên giá trị sản xuất của

Ngày đăng: 27/11/2020, 00:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2003), Con đường công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường công nghiệp hóa nông nghiệp, nôngthôn Việt Nam
Tác giả: Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003
7. Nguyễn Văn Cúc (chủ biên) (1997), Tác động của Nhà nước đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của Nhà nước đối với quátrình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn theohướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Nguyễn Văn Cúc (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
8. Nguyễn Sinh Cúc (chủ biên) (2003), Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới, Nxb Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp, nông thôn Việt Namthời kỳ đổi mới
Tác giả: Nguyễn Sinh Cúc (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2003
9. Nguyễn Sinh Cúc (2008), “Làm gì để phát triển tam nông trong thời gian tới”, Tạp chí tuyên giáo, (6), tr.30-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm gì để phát triển tam nông trong thời giantới”, "Tạp chí tuyên giáo
Tác giả: Nguyễn Sinh Cúc
Năm: 2008
10. Nguyễn Sinh Cúc (2008), “Những giải pháp phát triển tam nông bền vững”, Tạp chí Tuyên giáo, (10), tr.21-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những giải pháp phát triển tam nông bềnvững"”, Tạp chí Tuyên giáo
Tác giả: Nguyễn Sinh Cúc
Năm: 2008
12. Cục thống kê thành phố Hồ Chí Minh (2007), niên giám thống kê 2006, Nxb thống kê thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: niên giám thống kê 2006
Tác giả: Cục thống kê thành phố Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb thống kê thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2007
14. Phạm Quang Diệu, Chiến lược công nghiệp hóa lan toả - chuyển đổi nền kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp, Viện Kinh tế Nông nghiệp - Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược công nghiệp hóa lan toả - chuyển đổi nềnkinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp
15. Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội X
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trịquốc gia
Năm: 2001
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1999), Văn kiện hội nghị lần thứ VI (lần 2), Ban Chấp hành TW khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị lần thứ VI (lần 2),Ban Chấp hành TW khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
24. Ngô Đình Giao (chủ biên) (1994), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theohướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân
Tác giả: Ngô Đình Giao (chủ biên)
Nhà XB: NxbChính trị quốc gia
Năm: 1994
25. Trần Ngọc Hiên (chủ biên) (1997), Mối quan hệ công - nông, dịch vụ trong sự hình thành nền kinh tế thị trường ở nước ta, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ công - nông, dịch vụtrong sự hình thành nền kinh tế thị trường ở nước ta
Tác giả: Trần Ngọc Hiên (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trịquốc gia
Năm: 1997
26. Chu Phạm Ngọc Hiển (2004), Một số giải pháp nhằm đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thanh Hóa, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp nhằm đẩy nhanh quátrình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiệnđại hóa ở Thanh Hóa
Tác giả: Chu Phạm Ngọc Hiển
Năm: 2004
27. Lê Thu Hoa (2007), Kinh tế vùng ở Việt Nam từ lý luận đến thực tiễn, Nxb Lao động - xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế vùng ở Việt Nam từ lý luận đến thực tiễn
Tác giả: Lê Thu Hoa
Nhà XB: Nxb Lao động - xã hội
Năm: 2007
28. Nguyễn Ngọc Hồng (1996), Phương hướng và những giải pháp chủ yếu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông - lâm nghiệp tỉnh Hoà Bình , Luận án PTS khoa học kinh tế, trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương hướng và những giải pháp chủ yếuchuyển dịch cơ cấu kinh tế nông - lâm nghiệp tỉnh Hoà Bình
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hồng
Năm: 1996
29. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Xây dựng Đảng (2004), Giáo trình xây dựng Đảng hệ cử nhân, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình xây dựng Đảng hệ cử nhân
Tác giả: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Xây dựng Đảng
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2004
30. Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia (1999), Giáo trình kinh tế học chính trị Mác - Lênin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáotrình kinh tế học chính trị Mác - Lênin
Tác giả: Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
31. Vũ Ngọc Hùng (2004) Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Quảng Nam, Tạp chí Cộng sản số (72) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạpchí Cộng sản số
35. Đặng Thị Loan, Lê Du Phong, Hoàng Thị Hoa (đồng chủ biên) (2006), Kinh tế Việt Nam 20 năm đổi mới (1996-2006) thành tựu và những vấn đề đặt ra, Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Việt Nam 20 năm đổi mới (1996-2006) thành tựu và nhữngvấn đề đặt ra
Tác giả: Đặng Thị Loan, Lê Du Phong, Hoàng Thị Hoa (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân
Năm: 2006
36. Lê Văn Lý (chủ biên) (1999), Sự lãnh đạo của Đảng trong một số lĩnh vực trọng yếu của đời sống xã hội ở nước ta , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự lãnh đạo của Đảng trong một số lĩnhvực trọng yếu của đời sống xã hội ở nước ta
Tác giả: Lê Văn Lý (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốcgia
Năm: 1999
37. Lê Thị Phương Mai (2003), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở tỉnh Hà Tây, Tạp chí Cộng sản số (670) Sách, tạp chí
Tiêu đề: chí Cộng sản
Tác giả: Lê Thị Phương Mai
Năm: 2003

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w