Luận văn
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Nghệ thuật nói chung và thơ ca nói riêng muốn phát triển được, muốnvươn tới những đỉnh cao mới thì luôn cần sự đổi mới tư duy, cách viết Cuộc sống
bề bộn, phức tạp đã thổi một luồng gió mới, giải phóng mọi năng lực sáng tạo trong
xã hội, trong đó có thơ ca Ngay từ khi mới ra đời, thơ dân tộc thiểu số nói riêng vàvăn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam nói chung đã là một bộ phậnkhông thể tách rời của nền văn học nghệ thuật Việt Nam, góp phần làm nên mộttiếng nói độc đáo, giàu bản sắc Với những tác phẩm của mình, các thế hệ nhà thơdân tộc thiểu số đã tạo thành một gương mặt chung, một phong cách chung thốngnhất trong đa dạng Theo thời gian, thơ dân tộc thiểu số ngày một sung sức, pháttriển cả về lực lượng sáng tác, số lượng tác phẩm và chất lượng cũng có những thayđổi đáng kể
Nhìn lại quá trình vận động và phát triển của đội ngũ văn nghệ sĩ các dân tộcthiểu số, có thể thấy rằng, sự xuất hiện của mỗi thế hệ cầm bút, mỗi tác giả đều gắnvới những hoàn cảnh và điều kiện lịch sử xã hội cụ thể nhất định, trong đó khôngthể phủ nhận vai trò góp sức của rất nhiều yếu tố khác trong xã hội Trong diễn biếnphức tạp tưởng như khó nắm bắt được của các sự kiện văn học, tiến trình văn họcdân tộc Tày vẫn diễn ra theo một trình tự, một quy luật nhất định mà các giai đoạnvăn học cụ thể chỉ là sự tiếp nối lẫn nhau một cách logic Nhìn vào chặng đườngphát triển với bốn thế hệ tiếp nối nhau, có thể thấy đội ngũ các nhà thơ dân tộc Tàyvẫn chiếm số lượng đông đảo nhất và cũng là dân tộc có nhiều thành tựu nhất so vớicác dân tộc thiểu số khác Một tín hiệu đáng mừng là dân tộc Tày cũng là dân tộc cóđược đội ngũ kế cận tương đối nhiều và đồng đều để tiếp bước thế hệ trước
Thế hệ đầu tiên của thơ dân tộc Tày có thể kể đến Nông Quốc Chấn, NôngMinh Châu, Nông Viết Toại, Triều Ân… hầu hết là những trí thức sống gắn bó vớiquê hương, dân tộc mình, giác ngộ cách mạng đi kháng chiến, gặp gỡ, học hỏi vàđược các văn nghệ sĩ người Kinh giúp đỡ trên con đường sáng tạo nghệ thuật Họ làlớp đầu tiên, đặt nền móng cho văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại Thế hệ
Trang 2thứ hai xuất hiện trong thời kỳ xây dựng hòa bình và trong kháng chiến chống Mỹ.
Họ sống, lao động, chiến đấu gắn bó với thực tế và rất nhiều trong số đó được họctập, được đào tạo, bồi dưỡng trở thành văn nghệ sĩ chuyên nghiệp như: Ma ĐìnhThu, Triệu Lam Châu, Y Phương, Mai Liễu, Ma Trường Nguyên, Triệu Sinh, MaPhương Tân, Lương Định, Nông Thị Ngọc Hòa, Đoàn Ngọc Minh, Hữu Tiến,Dương Thuấn rồi lớp nhà thơ tuy tuổi đời còn trẻ nhưng đã có những thành côngnhất định: Tạ Thu Huyền, Dương Khâu Luông, Bế Phương Mai, Nông Thị TôHường, Đinh Thị Mai Lan, Vi Thùy Linh, Hoàng Chiến Thắng, Phạm Văn Vũ Hiện nay dân tộc Tày có một đội ngũ nhà thơ đông đảo với những sáng tác chấtlượng, có những đóng góp tích cực đáng kể cho văn học nghệ thuật nước nhà 1.2 Thực trạng nghiên cứu văn học dân tộc thiểu số nói chung, thơ dân tộcthiểu số nói riêng hiện nay còn nhiều hạn chế Văn học các dân tộc thiểu số rất cầnđược sự tham gia, đánh giá, ủng hộ, khuyến khích của các nhà phê bình văn học,thông qua những công việc như: giới thiệu, phê bình trên tinh thần thẳng thắn, đoànkết, dân chủ, bình đẳng; phát hiện và bồi dưỡng những tài năng mới… Cần phải đẩymạnh nghiên cứu theo hướng có những đánh giá, khái quát về thơ, văn các dân tộcthiểu số bên cạnh những bài viết giới thiệu phê bình từng tác phẩm, tác giả riêng lẻ.Cũng như thơ dân tộc thiểu số nói chung, thơ dân tộc Tày nói riêng ít đượcnghiên cứu Các công trình đã có phần nhiều dành cho việc khái quát, tổng kết theo giaiđoạn hoặc từng dân tộc nhưng còn thiếu sự chuyên sâu Bên cạnh đó là những côngtrình phác thảo diện mạo theo hướng tập trung những gương mặt tiêu biểu Bởi vậy,riêng về thơ dân tộc Tày chưa có công trình nào riêng biệt Diện mạo của nền thơ caViệt Nam hiện đại chỉ có thể được nhìn nhận một cách trọn vẹn thống nhất khi có sựđánh giá đúng vai trò của thơ ca các dân tộc thiểu số Bởi vậy, việc nghiên cứu mộtcách hệ thống, toàn diện về thơ ca các dân tộc thiểu số, trong đó không thể thiếu thơdân tộc Tày là một công việc có ý nghĩa thiết thực Xuất phát từ những lí do đó, chúng
tôi lựa chọn Thơ dân tộc Tày từ 1945 đến nay làm đề tài nghiên cứu cho luận án
2 Mục tiêu nghiên cứu
Văn học các dân tộc thiểu số là một bộ phận quan trọng, độc đáo của văn họcViệt Nam Bởi vậy, muốn tìm hiểu những đặc điểm của thơ ca Việt Nam hiện đại,
Trang 3không thể không nghiên cứu, tìm hiểu đặc điểm của bộ phận thơ ca các dân tộcthiểu số, trong đó có thơ ca dân tộc Tày Việc tìm hiểu, nghiên cứu những đặc điểmcủa thơ ca dân tộc Tày từ năm 1945 đến nay góp phần tìm hiểu, soi sáng một bộphận quan trọng trong bức tranh văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam, từ đó có cáinhìn tương đối đầy đủ, toàn diện về những đặc điểm nổi bật, độc đáo của thơ ca dântộc Tày trên các bình diện đội ngũ, nội dung và hình thức nghệ thuật, những phongcách sáng tạo độc đáo.
Luận án phác hoạ lại diện mạo thơ của dân tộc Tày từ 1945 đến nay nhưng đặcbiệt nhấn mạnh vào sự ảnh hưởng của văn hóa vùng đến những sáng tác Trong mỗiphần giải quyết những luận điểm cụ thể, chúng tôi phân tích theo hướng đối chiếu,
so sánh để nhận rõ hơn những điểm tương đồng và nhất là những khác biệt của thơdân tộc Tày so với sự phát triển chung của thơ dân tộc Kinh cũng như so với sự thayđổi của thơ ca các dân tộc thiểu số khác như Thái, H’mông, Dao, Mường Cũngcần phải nhấn mạnh rằng, văn hóa, văn học dân tộc Tày có sự ảnh hưởng nhất địnhtới sự phát triển của văn học nhiều dân tộc thiểu số khác trong vùng Việt Bắc cũngnhư văn học Kinh kế cận miền xuôi
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận án lấy mốc bắt đầu từ năm 1945 để khảo sát Đây là thời điểm mà nhiềunhà nghiên cứu văn học đã lựa chọn và thừa nhận sự biến chuyển lớn của văn họcViệt Nam hiện đại nói chung và văn học dân tộc thiểu số/ dân tộc Tày cũng khôngngoại lệ Tuy có những cách phân kỳ khác nhau, nhưng đối với văn học hiện đại ViệtNam thì các nhà nghiên cứu đều thống nhất lựa chọn mốc 1945, không chỉ bởi đó làmột mốc lịch sử quan trọng mà còn vì “văn học trước và sau Cách mạng tháng Tám cónhiều điều khác nhau rõ rệt Đó là sự khác nhau từ hình thái xã hội, từ phạm trù vănhóa, từ ý thức hệ của thời đại, dẫn đến sự khác nhau về quan điểm nghệ thuật, về cảmhứng chủ đạo trong văn học, về đề tài, về thế giới nhân vật trong văn học ” [21, tr.12].Văn học dân tộc thiểu số nói chung và văn học hiện đại dân tộc Tày nói riêng
có sự phát triển đi sau so với bề dày thành tựu và thời gian hình thành của văn họcmiền xuôi Theo nhà phê bình Lâm Tiến thì “văn học viết các dân tộc thiểu số ViệtNam mới chỉ hình thành và phát triển vào thế kỷ XX” [92, tr.138] Giai đoạn trước
Trang 4nữa, từ thế kỷ XVII, dân tộc Tày có Bế Văn Phủng và Nông Quỳnh Văn là hai tácgiả nổi tiếng, dân tộc Thái cũng có Ngần Văn Hoan (thế kỷ XIX) với một số sángtác được đồng bào các dân tộc yêu mến Tuy nhiên, sự xuất hiện đó còn ở dạng “lẻ
tẻ, không có sự chắp nối, chất lượng tác phẩm còn mang đậm dấu vết của văn họcdân gian”, chưa đủ điều kiện hình thành một nền văn học các dân tộc thiểu số bêncạnh nền văn học của người Kinh Quan điểm này cũng nhận được sự đồng tình của
tác giả Nông Quốc Bình trong bài viết Nhìn lại văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số và tác giả Đỗ Kim Cuông trong bài Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu
số Việt Nam trong qúa trình đổi mới đều khẳng định văn học nghệ thuật các dân tộc
thiểu số Việt Nam hiện đại ra đời cùng cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 GS.Phan Đăng Nhật cũng lấy năm 1945 để làm mốc phân chia giữa văn học dân gian vàvăn học hiện đại các dân tộc thiểu số Việt Nam [59] Có thể khẳng định rằng, dùmầm mống của văn học hiện đại các dân tộc thiểu số đã có từ trước nhưng nó chỉthực sự ra đời cùng với Cách mạng tháng Tám 1945 Như vậy, việc lấy năm 1945 làmốc để khảo sát nền văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại (trong đókhông ngoại trừ thơ hiện đại dân tộc Tày) là quan niệm chung nhất, phổ biến nhấtcủa các nhà nghiên cứu hiện nay
Luận án lựa chọn nghiên cứu thơ Tày từ 1945 cho đến nay - tức là tại thờiđiểm hiện tại, cả những tác phẩm xuất hiện năm 2012 vẫn trong diện khảo sát củachúng tôi Luận án sẽ tập trung nghiên cứu các tác phẩm thơ của các tác giả dân tộcTày từ năm 1945 đến nay; bên cạnh đó là một số tác phẩm thơ dân tộc Tày trướcnăm 1945, kho tàng thơ ca dân gian Tày; tác phẩm thơ của các dân tộc thiểu số khácnhư Thái, H’mông, Dao, Mường và những tác phẩm thơ của dân tộc Kinh cùnggiai đoạn để có cái nhìn hệ thống; các công trình, bài nghiên cứu về thơ ca dân tộcTày nói riêng và các công trình nghiên cứu về thơ/ văn dân tộc thiểu số nói chung;một số tài liệu về lý luận, lý thuyết có liên quan đến đề tài
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận án này, cách thức tiến hành của chúng tôi không đi vào phân tíchtừng tác giả, tác phẩm cụ thể để nhận diện đặc điểm thơ của chung dân tộc Tày Luận
án chủ yếu tiếp cận vấn đề bằng việc sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu
Trang 5vừa truyền thống vừa hiện đại để từ đó lý giải, xác lập luận điểm, luận cứ và rút ranhững kết luận cần thiết:
Phương pháp văn học sử: Đề tài luận án nhằm khái quát một giai đoạn phát
triển thơ dân tộc Tày vì vậy đây là phương pháp không thể thiếu trong việc khôiphục diện mạo thơ dân tộc Tày trong hơn nửa thế kỷ, tìm ra những đặc điểm củatừng thời kì phát triển, những phong cách sáng tạo độc đáo
Phương pháp phân tích và tổng hợp: Từ việc phân tích những dẫn chứng cụ
thể sẽ giúp tổng hợp và khái quát những đặc điểm nổi bật về nội dung và nghệ thuậtcủa thơ ca dân tộc Tày từ 1945 đến nay
Một số thao tác bổ trợ: đối chiếu, so sánh, thống kê Nghiên cứu thơ dân tộc
Tày từ 1945 đến nay trong bối cảnh văn hóa, trong sự liên thông và tác động của vănhóa với văn học Phương pháp này cũng được vận dụng nhằm tìm hiểu sự ảnh hưởng,tiếp thu có chọn lọc của các nhà thơ dân tộc Tày hiện đại với các tác phẩm của nền vănhọc dân gian, giữa các sáng tác của dân tộc Tày với các nhà thơ dân tộc khác , từ đó điđến khẳng định những đặc điểm nổi bật của thơ văn dân tộc Tày từ 1945 đến nay.Ngoài ra để triển khai các luận điểm, lý giải một số vấn đề, chúng tôi còn sử
dụng một số phương pháp của các khoa học liên ngành, chúng tôi sẽ dành sự chú ý
đặc biệt cho xu hướng nghiên cứu tâm lý học tộc người về các nền văn hóa, lýthuyết văn hóa của L.A White, E Fromm, nhân học văn hóa của M Herskovits, A.Kroeber để từ đó nhìn ra những ảnh hưởng của môi trường, văn hóa tới sáng táccủa các tác giả dân tộc Tày trong hơn nửa thế kỷ phát triển
5 Đóng góp mới của luận án
5.1 Đây là công trình nghiên cứu có quy mô và hệ thống về thơ dân tộc Tàytrong hơn nửa thế kỷ trên các bình diện như: đội ngũ nhà thơ dân tộc Tày từ 1945đến nay; sự thay đổi cảm hứng trong hai giai đoạn phát triển; những đặc điểm nổibật trong nghệ thuật thể hiện và một số phong cách sáng tạo của thơ dân tộc Tàyqua hơn nửa thế kỷ phát triển
Ba phong cách (Nông Quốc Chấn, Y Phương, Dương Thuấn) mà luận án lựachọn làm đối tượng khảo sát là những tác giả thuộc về ba thế hệ kế tiếp nhau Đặcbiệt là sau thời kỳ đổi mới 1986 đến nay (trừ Nông Quốc Chấn mất năm 2002), họ
Trang 6vẫn tiếp tục sáng tác, tác phẩm của họ đã và đang khẳng định được vị thế quantrọng trong nền văn học dân tộc thiểu số cũng như trên thi đàn văn học.
5.2 Luận án là công trình khảo sát về những thành tựu của thơ dân tộc Tày từ
1945 đến nay, chúng tôi đặt những phân tích, kết luận rút ra từ góc nhìn văn hóa.Kết quả nghiên cứu của luận án đem lại một cái nhìn khái quát, đầy đủ về thơ dântộc Tày - một dân tộc thiểu số không chỉ đông về số dân, giàu bản sắc mà còn sungsức về lực lượng sáng tác thơ văn, từ đó thấy được những tìm tòi, đổi mới, vận động
và phát triển của thơ dân tộc Tày nói riêng và thơ ca dân tộc thiểu số nói chung Khinghiên cứu những tác phẩm thơ dân tộc Tày không chỉ dưới góc độ nghiên cứu vănhọc mà còn từ góc độ văn hóa học, chúng tôi chỉ rõ những kế thừa từ mạch nguồnvăn hóa dân gian, sự cách tân ở từng tác giả, tác phẩm và những dấu vết của sự sángtạo để đổi mới ngôn ngữ, thể loại ; khảo sát hệ thống biểu tượng để thấy được sứcsống bền bỉ của văn hóa dân tộc Tày lưu truyền đến thời kỳ hiện đại
6 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, thư mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận ánđược sắp xếp thành bốn chương:
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Hiện thực đời sống trong thơ dân tộc Tày từ 1945 đến nay
Chương 3: Các phương diện nghệ thuật cơ bản của thơ dân tộc Tày từ 1945 đến nay
Chương 4: Một số phong cách sáng tạo trong thơ dân tộc Tày từ 1945 đến nay.
Trang 7Chương 1:
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tình hình nghiên cứu thơ dân tộc Tày từ 1945 đến nay
1.1.1 Tình hình nghiên cứu thơ dân tộc thiểu số từ 1945 đến nay
Xuất hiện muộn hơn so với thơ ca dân tộc Kinh, thơ ca các dân tộc thiểu sốViệt Nam hiện đại đã có một quá trình phát triển liên tục, mạnh mẽ và đạt đượcnhiều thành tựu Tuy thời gian hình thành và phát triển chưa dài nhưng văn học cácdân tộc thiểu số đã thực sự hòa mình trong dòng chảy của nền văn học Việt Namhiện đại Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam là một trong nhữngtrung tâm tập hợp đội ngũ sáng tác, nghiên cứu, phê bình, triển khai nghiên cứu mộtcách hệ thống và cập nhật thường xuyên tình hình sáng tác cũng như những đổi mớicủa nền văn học dân tộc thiểu số Tuy nhiên những công trình được thực hiệnthường thiên về tính chất tuyển chọn, bình, điểm những gương mặt tiêu biểu củavăn học miền núi qua những nét sơ lược về tiểu sử, các tác phẩm chính hoặc nhữngbài thơ hay Hội cũng có một số công trình viết dành riêng cho văn học miền núi và
đã có những Hội thảo về văn học dân tộc thiểu số và miền núi có chất lượng, songnhững nhận định, đánh giá thường là về thế hệ thứ nhất và thứ hai (và cũng chưahẳn là đầy đủ), thực sự còn rất ít về thế hệ tác giả đương đại
Trong nền văn học Việt Nam đa dân tộc, vấn đề nghiên cứu văn học dân tộcthiểu số nói chung, thơ dân tộc thiểu số nói riêng từ sau Cách mạng tháng Tám đã
có những bước phát triển đáng chú ý Trong đó không thể không kể đến sự góp sứccủa các nhà nghiên cứu phê bình người Kinh Các tác giả viết về văn học dân tộcthiểu số có thể kể đến Tô Hoài, Nguyên Ngọc, Tế Hanh, Trúc Thông, Trinh Đường,
Vũ Quần Phương, Trần Mạnh Hảo, Lưu Khánh Thơ, Vũ Tuấn Anh, Tôn PhươngLan, Phạm Xuân Nguyên, Phan Diễm Phương, Phạm Quang Trung, Trần Lê Văn,Nguyễn Thị Chính, Nguyễn Văn Toại, Nguyễn Ngọc Phúc, Phạm Phú Phong saunày là Trần Thị Việt Trung, Nguyễn Thúy Quỳnh, Nguyễn Trọng Hoàn, Phạm DuyNghĩa Bên cạnh đó, những tác giả là người dân tộc thiểu số vừa sáng tác vừa phêbình dành những chú ý đặc biệt cho văn học dân tộc mình và những dân tộc thiểu sốanh em: Nông Quốc Chấn, Lò Ngân Sủn, Mai Liễu, Dương Thuấn, Inrasara, Hoàng
Trang 8Quảng Uyên, Triều Ân, Vi Hồng, Ma Trường Nguyên, Hà Thu Bình đặc biệt cóLâm Tiến (dân tộc Nùng) Cho đến nay, các tác giả tập trung nghiên cứu văn họchiện đại dân tộc thiểu số đều thống nhất khẳng định sự sung sức và ngày một pháttriển của nền văn học còn nhiều bỏ ngỏ này Có thể kể đến một số công trình như:
Văn học các dân tộc - từ một diễn đàn (1999) của Hội Văn học Nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam; Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại (Nxb Văn hóa dân tộc, H, 1995), Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam (Nxb Văn hóa dân tộc, H, 1997), Về một mảng văn học dân tộc (Nxb Văn hóa dân tộc, H, 1999), Văn học và miền núi (Nxb Văn hóa dân tộc, H, 2002) của Lâm Tiến, Hoa văn thổ cẩm (Nxb Văn hóa dân tộc, H, 1999), Thơ của các nhà thơ dân tộc thiểu số (Nxb Văn hóa dân tộc, H, 2001), Vấn đề đặt ra với các nhà thơ dân tộc thiểu số (Nxb Văn hóa dân tộc, H, 2002) của Lò Ngân Sủn, Nhà văn các dân tộc thiểu số - Đời và văn
(Nxb Văn hóa dân tộc, H, 2003) của Hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số
Việt Nam, Văn hóa các dân tộc thiểu số - Từ một góc nhìn (Nxb Văn hóa dân tộc,
H, 2004) của Vi Hồng Nhân
Về vấn đề đội ngũ: Đội ngũ những người sáng tác thơ dân tộc thiểu số ngày
càng gia tăng về số lượng, có mặt trên nhiều vùng miền dân tộc và được bổ sung từnhiều nguồn khác nhau Bàn đến vấn đề đội ngũ người dân tộc có thể kể đến những
bài viết của Hoàng Tuấn Cư với Văn học dân tộc thiểu số và vấn đề đội ngũ tác giả người dân tộc, Chẩm Hương Việt với Chương trình trọng tâm đối với văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số, Dương Thuấn với Cần nâng cao chất lượng văn học viết
về dân tộc và miền núi, K.Đích với Phát triển đội ngũ sáng tác là người dân tộc thiểu số ở Nam Tây Nguyên [68] Sau năm 1986, đất nước bước vào một thời kỳ
mới Sáng tác văn học nghệ thuật của các dân tộc thiểu số cũng vì thế được quantâm và tạo điều kiện hơn Lúc này, nghiên cứu phê bình về văn học dân tộc thiểu sốbắt đầu có những đầu tư thích đáng hơn Công trình đầu tiên của giai đoạn sau 1986
có thể kể đến 40 năm văn hóa nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam 1945-1985
(Nxb Văn hóa, H, 1985), Phong Lê và Đinh Văn Định viết về thành tựu 40 năm củavăn học dân tộc thiểu số Từ giai đoạn này trở đi, nhiều nhà nghiên cứu đã chú tâmđến văn học dân tộc thiểu số hơn
Trang 9Dù đã dành được sự đầu tư nhất định nhưng do nhiều yếu tố khách quan và chủquan nên việc nghiên cứu thơ dân tộc thiểu số vẫn còn trong tình trạng sơ lược Nhiều
công trình thiên về khái quát văn học dân tộc thiểu số, đưa ra những đặc điểm
chung, phác họa diện mạo và chỉ ra những điểm thành công và cả những hạn chế về
nội dung, nghệ thuật: Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 (Phan Đăng Nhật, Nxb Văn hóa dân tộc, H, 1981); Văn học các dân tộc thiểu số - từ một diễn đàn, (Nhiều tác giả, Nxb Văn hóa dân tộc, H, 1999); Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số thời kỳ đổi mới (Nhiều tác giả, Nxb Văn hóa dân tộc, H, 2007) Trong các công trình đã xuất bản từ sau 1986 đến nay, Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại (Nxb Văn hóa dân tộc, H, 1995) của nhà nghiên
cứu, phê bình văn học Lâm Tiến có thể coi là một công trình nghiên cứu qui mô nhất
về văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại từ trước Cách mạng tháng Támnăm 1945 trên cả ba lĩnh vực: thơ, văn xuôi và kịch Tuy nhiên, công trình này mớichỉ nghiên cứu đánh giá về một số tác giả tác phẩm tiêu biểu của các dân tộc thiểu sốxét trên từng giai đoạn lịch sử, chứ chưa phác thảo về diện mạo cũng như chưa đi sâunghiên cứu về đặc điểm văn học nói chung và thơ ca nói riêng của từng dân tộc Năm
2010, 2011, hai công trình của các tác giả thuộc trường Đại học Thái Nguyên cung
cấp những tư liệu phong phú: Bản sắc dân tộc trong thơ ca các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại - Khu vực phía Bắc Việt Nam (Trần Thị Việt Trung, Lâm Tiến, Nguyễn
Thúy Quỳnh, Nxb Đại học Thái Nguyên, 2010) giới thiệu bản sắc dân tộc trong vănhọc nghệ thuật các dân tộc thiểu số, quá trình vận động và phát triển của thơ ca cácdân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại, giới thiệu thơ ca thời kỳ hiện đại của một số dân
tộc như dân tộc Tày, Thái, H’mông, Dao; Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam thời kỳ hiện đại - một số đặc điểm (Trần Thị Việt Trung, Cao Thị Hảo đồng chủ biên, Nxb.
Đại học Thái Nguyên, 2011) tổng kết những đặc điểm cơ bản của thơ ca dân tộc thiểu
số hiện đại Việt Nam như các chặng đường phát triển, đặc điểm nội dung và nghệthuật Có thể thấy sự thành công trong các công trình nghiên cứu phê bình văn họcnày là việc các tác giả đã chỉ ra được một số đặc điểm cơ bản về nội dung và nghệthuật của văn học các dân tộc thiểu số; đồng thời khẳng định một số nét đặc trưngmang đậm bản sắc dân tộc và miền núi của từng thể loại trong quá trình vận động vàphát triển
Trang 10Thống nhất với quan điểm của nhà thơ Lò Ngân Sủn khi cho rằng: “Cái còn lạivới đời, với thời gian không phải là đã viết được bao nhiêu bài, viết trong bao nhiêuthời gian, mà là các bài thơ, câu thơ, chữ thơ đã gieo vào được lòng người, được người
đời lưu nhớ” [77, tr.19], nhiều công trình thiên về nhận diện những gương mặt tiêu biểu của thơ dân tộc thiểu số, những lời bình chỉ ra cái hay cái dở của những tác
phẩm cụ thể Hướng triển khai của nhiều công trình về thơ dân tộc thiểu số sauCách mạng tháng Tám xem ra là cách thức tối ưu nhất khi sự nghiên cứu về từngdân tộc, khu vực chưa dành được sự đầu tư thích đáng để tiến tới một công trình hệthống, kĩ lưỡng về diện mạo đầy đủ của văn/ thơ dân tộc thiểu số Ở hướng tiếp cậnnày có nhiều công trình đã thực hiện tương đối tốt và đưa ra những nhận định xác
đáng: Hoa văn thổ cẩm (3 tập, Nxb Văn hóa dân tộc, H, 1998, 1999, 2002) của Lò
Ngân Sủn tập hợp những bài viết, phê bình, giới thiệu về những gương mặt tiêubiểu của thơ dân tộc thiểu số, một số bài tiểu luận về vấn đề bản sắc dân tộc trongthơ dân tộc thiểu số, suy ngẫm về đội ngũ làm thơ viết văn là người dân tộc thiểu số
và một số khó khăn của sáng tác bằng tiếng dân tộc Tuy nhiên, có thể thấy thamvọng đặt ra là phác họa lại một diễn trình phát triển hơn nửa thế kỷ của văn học hiệnđại các dân tộc thiểu số nhưng nhiều công trình rơi vào tình trạng “điểm mặt chỉtên”, có sự phong phú và đầy đủ những tên tuổi tiêu biểu nhưng không có được sự
đánh giá trong một chỉnh thể Tuyển tập Văn học dân tộc miền núi (Nông Quốc
Chấn chủ biên, Nxb Giáo dục, H, 1998) cũng vẫn theo lối cũ, tức là sự tập hợp theophong trào: 3 tập đầu giới thiệu những gương mặt thơ tiêu biểu của thơ ca dân tộcthiểu số Trong đó có cung cấp cho bạn đọc tiểu sử sơ lược, những bài thơ hay và
phần lời bình ngắn gọn… về các tác phẩm được tuyển chọn Hợp tuyển thơ văn các tác giả dân tộc thiểu số Việt Nam 1954-1980 (Nxb Văn hóa, H, 1980) tập hợp
những tác phẩm tiêu biểu của 44 nhà thơ và 11 nhà văn cùng 5 tác giả về kịch - sânkhấu; trong đó có ba bài phê bình tiểu luận của Nông Quốc Chấn, Vi Hồng, Nông
Phúc Tước về văn học dân tộc thiểu số nói chung Ngoài ra còn có thể kể đến Văn học các dân tộc thiểu số - Tác phẩm và đội ngũ (1983)
Có thể khẳng định từ tuyển tập Văn học dân tộc thiểu số do nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 1960, đến Hợp tuyển thơ văn các tác giả dân tộc thiểu số Việt Nam 1954-1980 do Nhà xuất bản Văn hóa in năm 1980, với những bài thơ, truyện,
Trang 11ký, kịch nói, tiểu luận, phê bình được chọn, tên tuổi của một số tác giả được giớithiệu rộng rãi và tập trung với bạn đọc trong cả nước Ở đây, vai trò của các nhànghiên cứu được quan tâm một cách đúng mực trong việc góp ý và định hướng.
Làm tốt khía cạnh này có thể kể đến công trình do GS Phong Lê chủ biên Nhà văn các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại (Nxb Văn hóa dân tộc, H, 1988) với việc
công bố 16 bài viết công phu, có hàm lượng khoa học cao về 16 nhà thơ, nhà văndân tộc thiểu số Công trình công phu và đầy đủ nhất tính đến thời điểm hiện tại là
hai tập Nhà văn dân tộc thiểu số đời và văn của Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc
thiểu số Việt Nam với việc giới thiệu 87 tác giả văn thơ trên tất cả các vùng miềncủa văn học dân tộc thiểu số thời kỳ hiện đại
Trong tình hình nghiên cứu còn nhiều hạn chế trên nhiều phương diện, đa
phần các công trình nêu trên đều kết hợp giữa việc giới thiệu những gương mặt tiêu biểu đồng thời bàn đến một số vấn đề của văn học dân tộc thiểu số như
tiếng nói và chữ viết, truyền thống và hiện đại, bản sắc dân tộc Trước 1986 chỉ cóNông Quốc Chấn viết nhiều và được biết đến nhiều trong cả công việc sáng tác lẫn
nghiên cứu, phê bình, tập trung nhất là ba công trình phê bình tiểu luận: Đường ta
đi (1970), Một vườn hoa nhiều hương sắc (1977), Chặng đường mới (1985) Trong
các công trình nghiên cứu của mình, Nông Quốc Chấn chú ý đến vấn đề bản sắc dân
tộc trong thơ, tính dân tộc trong thơ (hai bài viết Bản sắc dân tộc trong thơ và Trả lời bạn thơ Mường - tập Đường ta đi, Nxb Việt Bắc, 1970) Giai đoạn sau này, ông hướng sự quan tâm đến trách nhiệm của người cầm bút trước thời cuộc (Độc lập hòa bình và trách nhiệm của nhà văn trong tập tiểu luận Chặng đường mới, Nxb.
Văn hóa, H, 1985) Giai đoạn sau 1986 ghi nhận những thành công nổi bật của Lâm
Tiến Sau thành công của Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại, Lâm Tiến tiếp tục cho ra mắt công trình Về một mảng văn học dân tộc (Nxb Văn hóa
dân tộc, H, 1999) Trong cuốn sách này, ông đã bàn đến một số vấn đề đang đặt racho văn học các dân tộc thiểu số hiện nay như: Văn học viết trước Cách mạng thángTám 1945, phương pháp tiếp cận và nghiên cứu văn học dân tộc thiểu số, tiếng nói
và chữ viết, vấn đề truyền thống và hiện đại, văn hóa Những nhận xét, phân tíchqua những tác phẩm và tác giả văn học cụ thể như thơ Ngần Văn Hoan, Bế VănPhủng, Bàn Tài Đoàn, Lò Ngân Sủn, Y Phương Như vậy, phần ưu ái vẫn dành cho
Trang 12một số tác giả dân tộc Tày Ở đây nhà nghiên cứu Lâm Tiến đã có những cách đánhgiá khá xác đáng và cung cấp nhiều tư liệu quý Sau hai công trình kể trên, năm
2002, ông trở lại với cuốn Văn học và miền núi (Nxb Văn hóa dân tộc, H.) giới
thiệu văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam, các dân tộc thiểu số miền Nam Điềuđáng chú ý ở công trình này là sự phân tích một số tác phẩm văn thơ đề tài miền núi
như Thằng bé củ mài (Mã A Lềnh), Quê hương (Triệu Lam Châu); sắc thái riêng và
những hạn chế trong lí luận phê bình văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam
Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam cũng quan tâm đến việc
tổ chức những hội thảo về thân thế, cuộc đời và sự nghiệp của những nhà thơ dântộc thiểu số nhiều thành tựu như Hội thảo về Bàn Tài Đoàn, Nông Minh Châu(2004), Hoàng Triều Ân (2007), Ma Trường Nguyên (2009) Bên cạnh công trìnhcủa Hội là những đóng góp không nhỏ của cá nhân những người dân tộc thiểu số
viết phê bình như: Một mình trong cõi thơ (Hoàng Quảng Uyên, Nxb Văn hóa dân tộc, H, 2000); Thơ của các nhà thơ dân tộc thiểu số (Lò Ngân Sủn, Nxb Văn hóa dân tộc, H, 2001); Mã A Lềnh với Tần ngần trước văn chương (1998), Hà Lâm Kỳ với Mỗi nét hoa văn (2002), Mai Liễu với Hương sắc miền rừng (2008), Ma Trường Nguyên với Hiện đại mà dân tộc (2010) Một số tác giả tuy không xuất bản những
công trình riêng về nghiên cứu phê bình văn học dân tộc thiểu số nhưng luôn dành
sự quan tâm của mình về những vấn đề cụ thể: Vương Anh viết về thơ ca truyềnthống và hiện đại dân tộc Mường, Triệu Kim Văn viết về văn học người Dao,Inrasara viết nhiều về văn học Chăm, Nông Viết Toại bàn đến vấn đề sử dụng ngônngữ mẹ đẻ trong sáng tác thơ văn Điều có thể nhận thấy rõ ở một số tác giả ngườidân tộc thiểu số khi viết phê bình là sự khác biệt rõ rệt trong cách tiếp cận Lò NgânSủn với những nhận xét tinh tế nhưng bài viết thường dừng lại ở mức độ bình luận
và gợi mở, chưa có công trình, bài viết nào mang tính định hướng sâu Trong khi
đó, Nông Quốc Chấn quan tâm đến nhiều vấn đề của văn học dân tộc thiểu số nhưvấn đề bản sắc dân tộc, sử dụng ngôn ngữ dân tộc để sáng tác, khuyến khích các vănnghệ sĩ sáng tạo và đầu tư hơn nữa cho những tác phẩm với nhiều bài viết sâu sắc.Thế hệ trẻ hơn có Inrasara quan tâm nhiều đến văn học Chăm, có lợi thế ngoại ngữnên tiếp cận những lý thuyết và trào lưu trên thế giới và giới thiệu cho đội ngũ tácgiả Chăm/ tác giả trẻ dân tộc thiểu số những vấn đề mới, cần thiết và nhiều bổ ích;
Trang 13Dương Thuấn quan tâm nhiều đến đội ngũ tác giả trẻ của dân tộc Tày với nhiều bàiviết tinh tế, anh cũng dành hẳn một chuyện luận về văn hóa Tày khá công phu Trong các công trình đã xuất bản, thơ dân tộc thiểu số cũng được quan tâm
xem xét đến những vấn đề còn tồn tại chủ yếu: Văn học nghệ thuật các dân tộc
thiểu số thời kỳ đổi mới (Nxb Văn hóa dân tộc, H, 2007) tập hợp hơn 50 bài viết
về văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Bên cạnh một số bài viết của các tácgiả về văn học của từng dân tộc là một số bài viết bàn về các vấn đề chung của
văn học dân tộc thiểu số; Hoàng Văn An với Nét đẹp văn hóa trong thơ văn và ngôn ngữ dân tộc, T.2: Hương sắc núi rừng (Nxb Hội Nhà văn, H, 2007) giới
thiệu và phân tích các tác phẩm thơ của các tác giả người dân tộc như Lò NgânSủn, Mã Thế Vinh, Vi Thị Kim Bình phân tích bản sắc của nghệ thuật dân tộc
do chính những nghệ sĩ của dân tộc tạo ra Công trình Viện Văn học với văn học dân tộc thiểu số của GS Phan Đăng Nhật trên Tạp chí Nghiên cứu văn học (số 1-
2009) có viết, nhà văn Vũ Ngọc Phan trong các công trình sưu tập cổ tích, ca dao,dân ca thường quan tâm đến dân tộc thiểu số Tuy nhiên, việc nghiên cứu văn họcdân tộc thiểu số ở miền Bắc thực sự có bước chuyển biến quan trọng bắt đầu từ
các sự kiện mà Viện Văn học có đóng góp như: Lịch sử văn học Việt Nam, Văn học dân tộc thiểu số trước Cách mạng tháng Tám, Sử thi Đẻ đất đẻ nước Viện
Văn học cùng với nhà thơ Nông Quốc Chấn hoàn chỉnh bản thảo năm 1980 về
Văn học dân tộc thiểu số với 6 chương: Văn học các dân tộc thiểu số anh em từ
buổi đầu mở nước đến năm 1945, thần thoại và trường ca các dân tộc thiểu số,truyện cổ dân gian, tục ngữ, dân ca và truyện thơ, văn học viết của trí thức dân tộcthiểu số trước Cách mạng tháng Tám Đây là sự khởi đầu, chưa thể hoàn chỉnh,nhưng với công trình này, Viện Văn học đã đánh dấu một mốc quan trọng trong sựnghiệp nghiên cứu văn học dân tộc thiểu số Từ đây mở ra cho một số công trình
khác kế tiếp Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám (1981) của Phan Đăng Nhật, Văn học dân gian các dân tộc ít người ở Việt Nam
(1983) của Võ Quang Nhơn
Trên Tạp chí Văn học cũng trong tình trạng chung là chưa có nhiều bài viết
dành cho văn học dân tộc thiểu số Một số bài viết mang tính chất tổng kết một vài
đặc điểm khái quát có thể kể đến như: Hà Văn Thư với: Mấy nét về văn học các dân
Trang 14tộc thiểu số Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám đến nay (số 1-1960) và Vài nhận định về văn học các dân tộc thiểu số từ Cách mạng tháng Tám đến nay (số 6 -1966),
đã tổng kết và đánh giá những thành tựu đạt được của văn học dân tộc thiểu số từ cổ
truyền đến văn học cách mạng; Nguyễn Khánh Toàn với Về văn học các dân tộc thiểu số ở Việt Nam (số 3-1970); Nông Quốc Chấn với Mấy vấn đề về nền văn học các dân tộc thiểu số (số 10-1964) Giai đoạn sau 1986, Lâm Tiến với Vấn đề truyền truyền thống và hiện đại trong văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam (số 4- 1991); Mạc Phi với Giải thưởng văn học các dân tộc thiểu số 1992 (số 2-1993); Nguyễn Duy Bắc với Về bản sắc dân tộc trong sáng tác của các nhà thơ dân tộc thiểu số (số 9-1994); Hoàng Văn An với Thơ xứ Lạng những năm 90 (số 11-1996); Nguyên Ngọc với Mấy suy nghĩ về tình hình văn học các dân tộc thiểu số hiện nay (số 9-1994); Lâm Tiến với Mấy suy nghĩ về lý luận, phê bình văn học các dân tộc thiểu số (số 5-2006); Đỗ Thị Thu Huyền với Thơ dân tộc thiểu số 10 năm đầu thế kỉ XXI (số 5-2012)
Một số dân tộc có nhiều thành tựu thơ ca như dân tộc H’mông, Thái, Mường,Dao, và gần đây là Chăm, tình hình nghiên cứu cũng không có được sự chú tâmđúng mức như cách nhận xét của nhà văn Nguyên Ngọc “nhiều thực tế phong phúchưa được tổng kết, thậm chí chưa được tập hợp lại một cách tương đối hệ thống;nhiều vấn đề lí luận và thực tiễn chưa được xới ra xem xét, nghiên cứu chặt chẽ,thấu đáo” Ví như với dân tộc H’mông, tình hình nghiên cứu về thơ ca mới chỉ đượcbắt đầu từ những năm 60 của thế kỷ XX trở lại đây nhưng chỉ dừng ở mức độ đề
cập đến một số tác giả, tác phẩm (cuốn Vấn đề đặt ra với các nhà thơ dân tộc thiểu
số của Lò Ngân Sủn đi sâu bàn luận thơ ca của các tác giả dân tộc thiểu số, trong đó
một vài nhà thơ hiện đại dân tộc H’mông cũng được nhắc đến với những đánh giá,bình luận về đặc điểm thơ) Đến nay, công trình có hệ thống nhất là luận văn thạc sĩ
Một số đặc điểm của thơ ca dân tộc H’mông thời kỳ hiện đại của Nguyễn Kiến Thọ
đã khái quát những nét cơ bản về nội dung và nghệ thuật của thơ dân tộc H’mônghiện đại Cũng có những nét tương đồng, thơ hiện đại dân tộc Thái mới chỉ được
sưu tầm, giới thiệu một cách khái quát qua một vài tác giả tiêu biểu như Cầm Biêu,
Lò Văn Cậy, Lương Quy Nhân, Vương Trung, Lò Cao Nhum ; sau đó đánh dấu việc nghiên cứu có hệ thống bằng công trình Thơ ca dân tộc Thái thời kỳ hiện đại
Trang 15của tác giả Vũ Thị Vân Bên cạnh đó là một vài triển khai nghiên cứu theo khu vực
với Thơ Tuyên Quang từ 1986 đến nay của Nông Thị Lan Hương Trong các tác
giả nghiên cứu văn học - văn hóa Chăm, Inrasara là người có nhiều đóng góp Đáng
kể nhất là bộ ba Văn học Chăm, Khái luận - văn tuyển của Inrasara ra đời năm 1994-1995: Văn học Chăm - Khái luận (Nxb Văn hóa dân tộc, H, 1994); Văn học dân gian Chăm - Ca dao, Tục ngữ, Câu đố (Nxb Văn hóa dân tộc, H, 1995), Văn học Chăm - Trường ca, sưu tầm - nghiên cứu (Nxb Văn hóa dân tộc, H, 1995) thì
nền văn học Chăm mới xuất hiện tương đối “đầy đủ và có hệ thống về di sản vănhọc của dân tộc này mà trước đó chưa từng có(Bùi Khánh Thế) Về thơ Chăm,
những công trình như Hành trình cách tân thơ của Inrasara của Lê Thị Việt Hà, Inrasara - Từ quan niệm đến phong cách của Trần Hoài Nam Từ thực trạng
nghiên cứu như chúng tôi vừa phân tích, có thể khẳng định những nghiên cứu đã cóvẫn chưa thực sự đáng kể so với đội ngũ tác giả và khối lượng tác phẩm đồ sộ ngàymột sung sức của thơ dân tộc thiểu số
1.1.2 Tình hình nghiên cứu thơ dân tộc Tày từ 1945 đến nay
1.1.2.1 Những công trình khái quát, tổng kết
Trong những công trình đã có trong và ngoài nước, có thể kể đến các công
trình nghiên cứu riêng về văn học Tày như Truyện thơ Tày - Nùng (1964) của Nông Quốc Chấn; Truyện thơ Tày (1995) của Triều Ân; Truyện thơ Tày: Nguồn gốc, quá trình phát triển và thi pháp thể loại (2004) của Vũ Anh Tuấn, Tuy nhiên, do các
công trình nghiên cứu văn học Tày nói trên chủ yếu được tiến hành từ góc độ vănhọc dân gian, thơ dân tộc Tày thời kỳ hiện đại trong bối cảnh của văn học Việt Namcòn chưa được đề cập nhiều, đặc biệt chưa có một công trình chuyên sâu đáng kể Nghiên cứu thơ Tày hiện đại bắt đầu với Nông Quốc Chấn năm 1957, “Kể ítchuyện làm thơ” phần nào nói lên những kinh nghiệm cá nhân của Nông QuốcChấn trong công việc sáng tác và bước đầu định hướng những điều kiện quan trọngcho sáng tác của những nhà thơ dân tộc thiểu số Năm 1960, Xuân Diệu giới thiệu
tập thơ Tiếng ca người Việt Bắc của Nông Quốc Chấn; năm 1961 Nông Quốc Chấn
có bài Hoàng Đức Hậu và thơ tiếng Tày - đây là những dấu mốc đầu tiên của công
tác nghiên cứu thơ dân tộc Tày nói riêng và thơ thiểu số nói chung Đến năm 1974,
Triều Ân giới thiệu thơ Hoàng Đức Hậu, trong cuốn Mấy suy nghĩ về nền văn học
Trang 16các dân tộc thiểu số ở Việt Bắc (Nxb Việt Bắc, 1976), Hoàng Như Mai viết về thơ
Nông Quốc Chấn Có thể thấy, trước 1986 chỉ có Nông Quốc Chấn viết nhiều vàđược biết đến nhiều trong cả công việc sáng tác lẫn nghiên cứu, phê bình Ông viết
về Quê ta anh biết chăng năm 1962, Đọc “Tung còn và suối đàn” năm 1968 và tập trung nhất là ba công trình phê bình tiểu luận: Đường ta đi (1970), Một vườn hoa nhiều hương sắc (1977), Chặng đường mới (1985)
Các tác giả người Kinh có nhiều đóng góp cho việc nghiên cứu văn học dân tộcTày như Tô Hoài, Phạm Quang Trung, Nguyễn Trọng Hoàn, Trinh Đường với nhiều
bài viết có giá trị Năm 2008, Viện Văn học đã nghiệm thu đề tài khoa học Thơ dân tộc
ít người giai đoạn 10 năm cuối thế kỷ XX - truyền thống và hiện đại của nhóm tác giả
Hà Công Tài, Nguyễn Thị Thanh Lưu, Đỗ Thị Thu Huyền, trong đó số tác giả ngườidân tộc Tày được nghiên cứu có Y Phương, Dương Thuấn, Vi Thùy Linh
Liên quan trực tiếp đến luận án là những công trình đánh giá về diện mạo
chung của thơ Tày có Bản sắc dân tộc trong thơ ca các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại - Khu vực phía Bắc Việt Nam (Nxb Đại học Thái Nguyên, 2010) Các tác
giả dành một chương để khái quát về tính chất “dòng riêng giữa nguồn chung” củathơ Tày hiện đại và một số gương mặt tiêu biểu Tuy nhiên một số nhận định vẫncòn sơ lược và thiên về thế hệ thứ nhất và thứ hai của thơ Tày hiện đại, chưa baoquát được những chuyển động mạnh mẽ của thơ Tày giai đoạn sau Bên cạnh đó là
một số bài viết như Dương Thuấn, Nhìn lại văn học dân tộc Tày trên tạp chí Nghiên cứu văn học, số 9-2006; Đỗ Thị Thu Huyền, Thơ ca Tày hiện đại qua một số gương mặt tiêu biểu trên tạp chí Nghiên cứu văn học, số 5-2008
1.1.2.2 Những công trình về các tác giả, tác phẩm cụ thể
Ngoài số lượng lớn các bài phê bình trên các báo, tạp chí về những tác phẩmtiêu biểu cụ thể của thơ dân tộc Tày, số lượng bài viết về thơ của từng tác giả cũngchiếm số lượng đáng kể (tập trung vào những tác giả có phong cách độc đáo) Tuynhiên, những bài viết này cũng phần nào làm hiện lên diện mạo chung của thơ dântộc Tày hiện đại Tên tuổi nhiều nhà thơ dân tộc Tày đã trở nên quen thuộc trongđời sống văn học Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ qua như Nông Quốc Chấn, MaTrường Nguyên, Y Phương, Mai Liễu, Dương Thuấn và gần đây một lớp thế hệtrẻ như Dương Khâu Luông, Nông Thị Tô Hường, Vi Thùy Linh, Hoàng Chiến
Trang 17Thắng, Phạm Văn Vũ thu hút sự quan tâm của đông đảo bạn đọc, tuy thế sự tìmhiểu một cách cặn kẽ về đội ngũ này tập trung hơn vào một số nhà thơ lớp trước,đến thế hệ đương đại thì hầu như còn nhiều bỏ ngỏ
Các công trình nghiên cứu về thơ dân tộc Tày từ 1945 đến nay hầu hết tập
trung vào một số tác giả tiêu biểu Hướng tiếp cận này nổi bật với: Nhà văn các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại giới thiệu về 7 tác Triều Ân, Vi Thị Kim Bình, Nông Quốc Chấn, Nông Minh Châu, Hoàng Hạc, Vi Hồng và Nông Viết Toại; Tuyển tập văn học dân tộc miền núi của Nxb Giáo dục gồm 8 tập, 3 tập đầu là những bài phê
bình về thơ dân tộc thiểu số (tập 1 và 2 xuất bản năm 1998, tập 3 xuất bản năm1999) Trong tập 2 có 7 tác giả dân tộc Tày được giới thiệu: Triều Ân, Mai Liễu, BếThành Long, Ma Trường Nguyên, Từ Ngàn Phố, Y Phương và Dương Thuấn Tập 3
có 12 tác giả dân tộc Tày được giới thiệu: Hoàng An, Vân Hồng (Vi Hồng Nhân),Lương Định, Hà Lâm Kỳ, Đoàn Lư, Triệu Thị Mai, Đoàn Ngọc Minh, Trần Thị Thu
Nhiễu, Hoàng Hữu Sang, Hoàng Trung Thu, Ma Đình Thu, Triệu Lam Châu; Nhà văn dân tộc thiểu số - Đời và văn có 32 tác giả dân tộc Tày trong tổng số 87 tác giả
- một con số ấn tượng, vượt xa các dân tộc thiểu số khác có mặt trong tuyển tập Thế hệ đầu tiên của thơ dân tộc Tày thu hút sự quan tâm nghiên cứu của
nhiều tác giả Có thể kể đến một số đánh giá tiêu biểu: trong bài Khi nghe gió thổi qua Phja Bjoóc thay cho lời đề tựa nhà văn Tô Hoài viết “Ở Nông Quốc Chấn,
những từng trải rộng lớn của anh và cả cuộc đời anh và từng ngày từng đêm, đất
chôn rau cắt rốn đã vào thơ anh, đất quê anh là ngọn suối thơ anh” [12, tr.28]; tác giả
Tôn Phương Lan đã khẳng định những đóng góp của Nông Viết Toại: “Đóng góp củaNông Viết Toại trong đời sống văn hóa của vùng đất này chắc chắn là không nhỏ.Bên cạnh đó, các sáng tác văn học của anh với những ưu điểm nổi bật - đã góp phầnlàm phong phú hơn đời sống tinh thần của đồng bào miền núi” [38, tr.673]; theo LâmTiến, Nông Minh Châu “là con đẻ của dân tộc Tày, sống trong lòng dân tộc, đượctắm mình trong những lời ru tha thiết ân tình của người mẹ, say sưa với những truyện
cổ ( ) gắn với những câu chuyện cổ tích, những bài “phuối pác” “phong slư” thuộclàu những câu tục ngữ, thành ngữ phong phú của dân tộc Đó chính là nguồn nuôi
dưỡng tâm hồn tư tưởng tình cảm của Nông Minh Châu” [36, tr.29-30]
Trang 18Những tác giả thuộc thế hệ thứ hai và thứ ba của thơ dân tộc Tày là nhữnggương mặt quan trọng đưa thơ Tày lên vị thế mới, với sự chuyển biến không chỉ đadạng về cảm hứng sáng tạo mà còn nhiều khám phá và tìm tòi trong hình thức thểhiện Đánh giá về những đóng góp ấy, có thể kể đến tác giả Mai Hương khi nhậnxét về Triều Ân với tư cách nhà thơ: “Triều Ân đến với bạn đọc trước hết bằngnhững trang thơ, và trong tình cảm của độc giả, anh trước hết là một nhà thơ miền núi
ít nhiều có phong cách riêng ( ) Triều Ân đã khẳng định được vị trí của mình trongnền thơ chung của dân tộc” [80, tr.44]; Phạm Quang Trung phát hiện về thơ MaiLiễu: “Đọc thơ Mai Liễu, tôi không thể không lưu tâm tới lối cấu tứ của thơ anh ( )cấu tứ theo trục thời gian” [97, tr.92] Đa phần những nhà thơ có được sự độc đáo vềphong cách sáng tạo đều chú ý đến bản sắc dân tộc trong từng trang viết Nguyễn HữuTiến nhận định về thơ Y Phương “vừa hiện đại vừa dân tộc là bởi vì anh đã biết kếthợp truyền thống văn hóa của quê mình với mọi miền quê của đất nước” [71, tr.272];
Dương Thuấn được nhà thơ Nông Quốc Chấn đánh giá trong cuốn Nhà văn dân tộc thiểu số Việt Nam đời và văn: “Thơ anh mang lại hơi thở của thời đại mới và không thóat ly cái gốc của người Tày của quê hương Việt Bắc” [38, tr.558]; nhận xét về
đặc điểm thơ của Dương Khâu Luông, Hoàng Quảng Uyên viết: “Đọc Dương KhâuLuông ta cảm được vị ngọt của niềm vui trong khoé mắt vị đắng nước mắt ở đầumôi Đó là kết quả của sự quan sát chắt lọc, chiêm nghiệm và cao cả hơn là sự hoàđồng của một tấm lòng trong vạn tấm lòng Đây là mặt mạnh trong thơ Dương KhâuLuông: Nói ít, gợi nhiều” [38, tr.435]
Về thơ hiện đại dân tộc Tày chưa có luận văn, luận án riêng, chỉ có một số liên
quan như: Văn học Bắc Kạn từ năm 1945 đến nay của Hoàng Thị Dung phác họa
diện mạo chủ yếu của thơ dân tộc Tày, Dao với những đại diện tiêu biểu là NôngQuốc Chấn, Nông Minh Châu và Triệu Kim Văn (dân tộc Dao) Riêng về từng tác
giả dân tộc Tày có thể kể đến Bản sắc Tày trong thơ Nông Quốc Chấn (Phạm Thế Thành, 2005), Hình ảnh con người miền núi trong thơ Dương Thuấn (Nguyễn Thị Hằng, 2006), Bản sắc văn hóa Tày trong thơ Dương Thuấn (Hà Thị Duyên, 2007)
Theo nhà thơ Dương Thuấn: “Hiện nay đã có một vài tác giả người dân tộc
thiểu số làm công việc phê bình nghiên cứu nhưng còn yếu và lẻ tẻ Nên nghiên cứutheo hướng đi sâu vào từng tác giả, từng dân tộc hơn là nghiên cứu chung chung
Trang 19như hiện nay Trên cơ sở nghiên cứu từng tác giả, từng dân tộc sẽ đánh giá một cách
hệ thống từng tác giả hoặc từng vùng văn học” [47] Bởi vậy, nghiên cứu một cáchtoàn diện, có hệ thống về thơ dân tộc Tày từ 1945 đến nay là công việc thực sự quantrọng và cần thiết góp phần nhìn nhận rõ đặc điểm cũng như khẳng định sự phongphú, mạnh mẽ của thơ dân tộc thiểu số Việt Nam thời kỳ hiện đại
Có thể thấy, cũng như thơ dân tộc thiểu số nói chung, hiện chưa có công trìnhnào nghiên cứu một cách toàn diện và kĩ lưỡng về thơ dân tộc Tày từ 1945 đến nay,đây vừa là thuận lợi nhưng cũng là một thách thức khi chúng tôi triển khai đề tài.Thành tựu của những nghiên cứu đã có sẽ là sự gợi mở cần thiết, bổ ích cho chúngtôi khi triển khai luận án Chúng tôi sẽ phác họa một cách hệ thống về những thànhtựu của thơ dân tộc Tày trong hơn nửa thế kỷ, bốn thế hệ nối tiếp nhau, nhữngchuyển biến về đề tài, những đặc trưng thể loại, ngôn ngữ và những phong cách độcđáo Những công trình nghiên cứu đã có về thơ văn dân tộc thiểu số sẽ là những chỉdẫn quý báu cho chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Cùng với tình hình nghiên cứu nói trên, một trong những đặc điểm quan trọngcủa thơ dân tộc thiểu số nói chung, thơ dân tộc Tày từ 1945 đến nay nói riêng là sựbám sát và phát huy truyền thông văn hóa văn học của dân tộc Cho nên, để có thểnhận thức một cách sâu sắc đặc điểm thơ dân tộc Tày từ 1945 đến nay, không thểkhông nói đến truyền thống văn hóa Tày
1.2 Văn hóa dân tộc Tày
1.2.1 Đặc điểm tộc người và điều kiện tự nhiên
Dân tộc Tày chủ yếu sống ở Việt Bắc - một vùng trung du rừng núi trùng điệptrong những năm kháng chiến chống Pháp, với những trận đánh oanh liệt đã đi vàolịch sử đấu tranh nước nhà, miền đất anh hùng đóng góp sức người, sức của lớn laotrong kháng chiến chống Pháp Việt Bắc cũng là một địa danh cùng với con người
tạo nên một bề dày lịch sử đáng kể, nơi mà Tố Hữu viết: Ở đâu đau đớn giống nòi/ Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền Lịch sử đời sống của cư dân Việt Bắc phản ánh
chính sách và tư tưởng của chính quyền nhà nước từ thời tự chủ cho đến ngày nay.Việt Bắc và cư dân là một phần tạo thành con người và đất nước Việt Nam, tầmquan trọng của vùng cũng tương tự như đất tổ Hùng Vương và Kinh Bắc về phươngdiện tâm linh và văn hóa Cư dân ở đây chủ yếu là người Tày và Nùng Qua nhiều
Trang 20thời kỳ lịch sử, cũng có rất nhiều người Việt lên vùng núi sống, hoà nhập và đãhoàn toàn trở thành “Tày hóa” qua vài thế hệ Sự giao lưu văn hóa giữa hai dân tộcTày - Việt đã để lại nhiều nét sâu đậm trong văn hóa Tày ở Việt Bắc Có nhiều điểmtương đồng về nguồn gốc và khía cạnh giao lưu văn hóa Việt - Tày - Nùng
Người Tày xuất hiện rất sớm, có ý kiến cho rằng người Tày có mặt ở Việt Nam
từ nửa cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước công nguyên [106, tr.149] Người Tày còn cótên gọi là Thổ ở Việt Bắc, hoặc Phén (tức là Phiên) ở Hải Ninh nhưng tên dân tộc Tàyđúng hơn cả và được nhân dân Tày xác nhận Tày gồm các nhóm Ngạn, Phén, Pa Dí,Thu Lao; sinh sống chủ yếu ở các tỉnh: Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, TháiNguyên, Bắc Kạn, Quảng Ninh, Bắc Giang, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang
Người Tày là dân tộc thiểu số đông nhất ở miền Bắc, sinh sống rải rác hầu hếtkhắp các tỉnh thượng du và trung du Bắc bộ, từ tả ngạn sông Hồng đến vịnh Bắc
Bộ Theo Tổng hợp số dân và phân bố các dân tộc của cả nước và theo tỉnh [102],
dân tộc Tày có 1.626.392 người, trong đó có những nơi tập trung đông hơn cả làLạng Sơn: 259.532 người, Cao Bằng: 207.805 người, Tuyên Quang: 185.464 người,
Hà Giang: 168.719 người, Bắc Kạn: 155.510 người
Vùng đồng bào Tày giàu đẹp, có nhiều khả năng để phát triển nông nghiệp vàchăn nuôi, có nhiều lâm thổ sản quý giá và những nguồn lợi vô tận về khóang sản Ởvùng này có rất nhiều sông ngòi như sông Lô, sông Cầu, sông Thương, sông LụcNam, sông Bằng Giang… Ngoài việc làm ruộng, nguồn sống của người Tày còn phụthuộc vào việc chăn nuôi (trâu, bò, lợn, gà), trồng hoa màu và khai thác lâm thổ sản
1.2.2 Văn hóa vật chất
Người Tày cũng như nhiều dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc và Tây Bắc có tậpquán cư trú thành làng bản Trong mỗi bản làng của người Tày thì quan hệ huyếtthống là mật thiết nhất Bên cạnh đó là quan hệ láng giềng đồng tộc hay khác tộccũng là yếu tố quan trọng để giúp nhau cả về vật chất lẫn tinh thần
Cơm gạo tẻ là thành phần chủ yếu trong những bữa ăn hàng ngày của ngườiTày Lúa nếp không được trồng cấy nhiều nên gạo nếp chỉ dùng vào những dịp đặcbiệt như chế biến các loại bánh, đồ xôi… khi lễ tết, hội hè Người Tày còn có riêngmột ngày tết cốm, ngoài ra còn có món xôi ngũ sắc rất hấp dẫn (Tết Thanh minh cóxôi nhuộm lá cẩm màu tím hoặc màu xanh, đỏ, Tết Trung thu có xôi trám đen )
Trang 21Nhưng phong phú đa dạng hơn vẫn là các thứ bánh chế biến từ gạo nếp và bột gạonếp (Tết Tháng giêng là tết lớn nhất có bánh chưng, bánh khảo, bánh bỏng, chè lam,Tết Đoan Ngọ có bánh tro…)
Ngôi nhà truyền thống của người Tày là nhà sàn, có bộ sườn làm theo kiểu vìkèo 4, 5, 6 hoặc 7 hàng cột, phổ biến là kiểu nhà 3 gian 2 chái Các bộ phận chínhgồm có mái nhà, bộ cột kèo và xuyên, sàn nhà, phên vách; bộ phận phụ gồm cómáng đựng nước rửa chân, cầu thang, cửa ra vào, sàn nước, gác và gác bếp, sànphơi Khi làm nhà, người Tày có một số kiêng kị như: kiêng sử dụng các loại câycụt ngọn, cây sâu gốc; khi dựng nhà kiêng quay ngọn cây xuống đất, kiêng hướngngọn cây về phía mặt trời mọc Sinh hoạt hàng ngày trên nhà sàn của người Tày có
sự phân chia khu vực dành riêng cho từng đối tượng Mặt bằng sinh hoạt trong ngôinhà của người Tày (có nhiều điểm tương đồng với nhà của người Nùng) chủ yếu trênmặt sàn, chia làm hai phần: một dành cho sinh hoạt của nữ, một dành cho sinh hoạtcủa nam Các phòng và nơi ngủ của mọi thành viên trong nhà đều giáp vách tiền vàhậu Nói đến nhà của người Tày có lẽ không nên bỏ qua một loại hình nhà khá đặcbiệt, đó là “nhà phòng thủ”, thường có sự kết hợp giữa nhà đất và nhà sàn Tường xâygạch hoặc trình rất dày (40-60cm) để chống đạn, trên tường còn được đục nhiều lỗchâu mai; có nhà còn có lô cốt chiến đấu Loại nhà này chủ yếu ở Lạng Sơn gần biêngiới phía bắc để phòng chống trộm cướp Có thể nói, nhà sàn của người Tày mang
bản sắc văn hóa tộc người đậm nét Đó là “tổ ấm, là nơi trú ngụ hàng ngày của các
thành viên trong gia đình sau thời gian làm việc vất vả, mệt nhọc Đây còn là nơi hội
tụ nguồn tình cảm ruột thịt máu mủ, là nơi nuôi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ khôngnhững cho gia đình, dòng họ mà còn cho cả xã hội” [26, tr.85]
Bộ y phục cổ truyền của người Tày làm từ sợi vải bông tự dệt, nhuộm chàm
Bộ y phục của nam giới Tày gồm có áo cánh 4 thân, áo dài 5 thân (mặc trong dịp lễtết, hội hè, đám cưới), khăn đội đầu và giày vải Chiếc áo cánh 4 thân mặc hàngngày được may theo kiểu xẻ ngực, cổ áo tròn, cao, không có cầu vai, có hàng cúcvải (7 cái) ở trước ngực và hai túi nhỏ không nắp ở phía dưới hai vạt trước Quầncủa nam giới Tày được may bằng vải sợi bông, màu chàm may kiểu chân què hoặc
bổ đũng, dài tới mắt cá chân Phần cạp may rộng và không có đường luồn dải rút.Khi mặc, vấn mối về phía trước, buộc dây vải bên trong
Trang 22Trang phục của nữ giới phong phú và đa dạng hơn Y phục của nữ giới gồm áongắn 4 thân, áo dài 5 thân, quần, thắt lưng, khăn đội đầu Áo ngắn của phụ nữ Tày
cổ tròn, xẻ ngực, cài cúc, có hai túi nhỏ ở hai vạt trước Áo may hẹp, hơi thắt eo,ống tay áo nhỏ gần như bó sát với tay Áo ngắn dùng mặc thường ngày hoặc mặc lóttrong áo dài khi đi chợ hoặc tham dự các lễ hội Chiếc áo dài của nữ giới cơ bảngiống áo dài nam giới, cũng thuộc loại áo 5 thân, có 5 cúc cài bên nách phải, nhưng
cổ tròn, ống tay hẹp, thân hẹp và hơi thắt eo Chiếc thắt lưng của phụ nữ Tày dàikhoảng 3mét, rộng khoảng 30cm, dùng để thắt ngoài áo dài, vắt mối phía sau Phụ
nữ Tày thường đội khăn vuông, gập đôi theo đường chéo rồi chít lên đầu, thắt mốiphía sau như khăn mỏ quạ của người Việt
Theo Ngô Đức Thịnh: “trong văn hóa dân tộc, trang phục, đặc biệt là trangphục phụ nữ, là cái mà ở đó bản sắc dân tộc biểu hiện rõ rệt, thường xuyên và lâubền nhất” [86, tr.12] Nhìn chung, trang phục của cả nam và nữ giới dân tộc Tàytương đối giản dị chân phương về màu sắc, cách tạo hình, kiểu cách và hầu nhưkhông có hoa văn trang trí nhưng ở đó có cái tinh tế, sang trọng trong phong cách;cái bền bỉ, đậm đà của màu chàm điều này làm nên phần nào cái nét riêng cho bảnsắc dân tộc Tày - một dân tộc không chỉ phong phú về đời sống vật chất mà cònnhiều nét độc đáo về đời sống tinh thần
1.2.3 Văn hóa tinh thần
1.2.3.1 Tiếng nói, chữ viết
Tiếng Tày thuộc cùng một hệ ngôn ngữ với các dân tộc khác trên đất nướcViệt Nam như: Thái, Sán Chay, Lào, Lự, Giáy, Bố Y, và một số dân tộc khác sốngngoài biên giới Việt Nam như: các dân tộc Choang - Đồng, dân tộc Thái (TrungQuốc), dân tộc Lào, dân tộc Lự (Lào), dân tộc Thái (Thái Lan), dân tộc Thái(Myanma và Ấn Độ) Tiếng nói của dân tộc Tày cũng như những dân tộc thuộccùng nhóm ngôn ngữ đã phát triển khá cao, hệ thống từ vựng của các thứ tiếng nàyrất phong phú, đủ sức phản ánh những nội dung liên quan đến các vấn đề về kinh tế
- văn hóa - xã hội
Đối với người Tày, chữ Hán trước Cách mạng tháng Tám 1945 dùng trongviệc làm văn tự mua bán ruộng đất và ngày nay ở nhiều địa phương dùng trong việccúng bái Chữ Nôm Tày xây dựng trên mẫu tự tượng hình, gần giống chữ Nôm Việt
Trang 23ra đời khoảng thế kỷ XV được dùng để ghi chép các thi ca và truyện, các bài hát,bài cúng của người Tày Chữ Tày - Nùng dựa trên cơ sở chữ cái Latinh ra đời năm
1960 và tồn tại đến giữa những năm 80 được dùng trong các trường phổ thông cấp Ivùng có người Tày, Nùng cư trú Nhưng chữ Nôm Tày không được thông dụng, vìchỉ những người biết chữ Hán mới đọc được nó Hiện nay, trong dân gian còn tảnmát một số tài liệu về thơ ca, truyện viết bằng chữ Nôm Tày Những tài liệu đó cóthể giúp ích nhiều cho việc nghiên cứu lịch sử, văn hóa và văn học dân tộc Tày Theo Hà Văn Thư thì chữ viết Latinh của dân tộc Tày hiện đang sử dụng có từđầu thế kỷ XX, trước những năm 20 thì chữ Tày Latinh đã được dạy ở trường Ba
Xã (Lạng Sơn) Cuốn sách giáo khoa Langue Thổ do Hoàng Khánh Thiện (người
Tày ở Đông Khê, Cao Bằng) biên soạn đã được dạy ở các vùng Tày, Nùng từ nhữngnăm 20 [92, tr.63] Sau Cách mạng tháng Tám, dân tộc Tày cũng như các dân tộcthiểu số khác đã dùng chữ quốc ngữ (từ chữ cái latinh) ghi âm tiếng nói dân tộc mình,nhiều nhà thơ, nhà văn cũng dùng chữ này để sáng tác Năm 1960 bộ chữ Tày Nùngchính thức ra đời (không khác nhiều so với bộ chữ những năm 20) Hiện nay, do tiếngTày có nhiều vùng địa phương khác nhau nên có 1 bộ chữ cũng như cách phát âmchuẩn là khó thực hiện (điều này cũng tương tự các dân tộc Dao, H’mông, Thái )
1.2.3.2 Tín ngưỡng, lễ hội
Người Tày quan niệm tất cả vạn vật như động vật, thực vật, đất, đá, nước đều
có hồn, có ma, có thần Trong cuộc sống đời thường, ảnh hưởng của Phật giáo thểhiện ở quan niệm “ở hiền gặp lành”, con người sống yêu thương nhau, làm điềuthiện, hầu như không đánh mắng con cái trong gia đình, không làm điều thất đức,làm phúc cho thiên hạ thì không nghĩ đến sự trả ơn… Ảnh hưởng của Nho giáo thểhiện ở quan niệm về tôn ty trật tự trong gia đình, về vai trò người con trai, người bốtrong gia đình, tục ứng xử trong gia đình, dòng họ… Ảnh hưởng của Đạo giáo thểhiện ở các tục lệ cúng bái, chữa bệnh, ở việc bói toán, xem tướng số, và việc hànhnghề của một số thầy cúng…
Về cưới xin, nam nữ được tự do tìm hiểu và yêu đương nhưng hôn nhân lại docha mẹ quyết định và tùy thuộc vào việc xin lá số có hợp nhau hay không Nam nữđược tự do yêu đương và chọn người phù hợp với mình Tuy nhiên, vai trò của bố mẹtrong việc cưới xin vẫn đặc biệt quan trọng Người Tày còn chú ý đến việc chọn ngày
Trang 24giờ tốt để tiến hành đám cưới Sau khi cưới, cô dâu ở lại bên nhà mẹ đẻ, đến khi sắpsinh con đầu lòng thì mới về bên nhà chồng Sau khi sinh được 3 ngày thì cúng tẩy vía
và lập bàn thờ mẹ Hoa Khi đầy tháng tổ chức lễ ăn mừng và đặt tên cho trẻ
Trong quan niệm từ xa xưa của người Tày, trời đất được phân chia thành bacõi: cõi trời là nơi ở của Ngọc hoàng, tiên, then, pụt; cõi trần là nơi ở của người vàmuôn loài; cõi nước là cõi âm Nếu có người chết đi thì phải làm lễ tiễn linh hồn vềtrời hưởng vinh hoa phú quý Vì thế những nghi lễ tang ma của đồng bào Tày đềuxuất phát từ quan niệm cho rằng linh hồn cha mẹ sau khi về thế giới bên kia vẫn cónhững nhu cầu như người đang sống Đám ma của người Tày cũng trải qua các lễnhư: lễ rửa mặt cho người chết, lễ khâm liệm, lễ thụ tang, lễ dâng cơm, lễ đưa ma.Sau đám ma, con cháu phải làm lễ chuộc hồn cho người chết ba lần, sau 30 ngày, 1năm và 3 năm Lễ chuộc hồn cuối cùng cũng là lễ mãn tang sau khi chôn cất được 3năm Trong lễ chuộc hồn, ma người chết sẽ nhập vào bà Then để báo tin về cuộcsống ở thế giới hồn ma cho người ở dương thế biết Từ đó, hàng năm con cháu sẽ tổchức cúng giỗ vào một ngày nhất định
Xã hội người Tày đa giáo, trong đó Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo kết hợp vớitín ngưỡng dân gian Họ “khai thác triệt để củng cố ý thức hệ tôn giáo chính thốngcủa mình được thể hiện trên ba thang bậc của tổ chức xã hội: cộng đồng tộc ngườihay địa phương, cộng đồng bản mường và cộng đồng gia tộc” [100, tr.991] NgườiTày chia ma thành hai loại: ma lành và ma dữ Ma lành gồm: ma tổ tiên, ma bếp,
ma thổ công, ma bà mụ… bảo vệ che chở cho con cháu và gia súc Ma dữ gồm: masông, ma núi, ma cây to, ma người chết vì tai nạn, ma gà… Người Tày sợ nhất là
ma gà vì đây là ma chuyên đi hại người Vì thế vai trò của các nghi lễ trong đờisống của người Tày rất quan trọng, thầy cúng được coi là cầu nối giữa con ngườivới thế giới của các đấng thần linh ngự trị, những người làm nghề thầy cúng rấtđược mọi người kính trọng
Hình thức thờ cúng quan trọng nhất trong đời sống tâm linh của người Tày làthờ cúng tổ tiên Vì vậy gia đình nào cũng có một bàn thờ tổ tiên đặt ở nơi tônnghiêm nhất trong nhà Bên cạnh việc thờ cúng tổ tiên, người Tày còn thờ các vịthần che chở bảo vệ cho gia đình, làng bản: mẹ Hoa (bà Mụ - vị thần cai quản vàbảo hộ cho trẻ em), thờ vua bếp (đặt ngay trong bếp), thờ thần tài, thờ thổ công
Trang 25Để cầu mong sự bảo vệ, che chở và phù hộ của thần linh, hàng năm người Tày
tổ chức rất nhiều nghi lễ cúng Vào dịp đầu xuân, họ tổ chức lễ hội Lồng tồng nhằmcầu mong mưa thuận gió hòa, một năm mùa màng bội thu, gia đình yên ấm, no đủ.Trong hội Lồng tồng, người Tày tổ chức các trò chơi dân gian như ném còn, kéo co,chọi gà Trong các nghi lễ độc đáo của người Tày thì lễ mừng thọ cho cha mẹđược đặc biệt coi trọng với tục đổ thêm gạo vào bồ thể hiện mong muốn người già
có thêm lương thực ăn để trường thọ Điều cần nhấn mạnh là, những lễ hội ấy phảnánh lịch sử nhân văn của con người, cộng đồng Tày Họ có khá nhiều lễ và hộitrong một năm Tháng giêng có lễ Tết Nguyên đán và Hội xuống đồng; tháng haihội núi; tháng ba có lễ tảo mộ (thanh minh); tháng tư có lễ và hội hát đình; thángnăm, tháng sáu có lễ cúng thần nông, giết sâu bọ; tháng bảy có lễ Tết Rằm tháng
bảy (Bươn chiêng xo ất, bươn chất líp slí - Tháng Giêng ngày mùng một, tháng Bảy
ngày mười bốn); tháng chín và tháng mười có lễ mừng cơm mới, làm cốm… Đặcbiệt, người Tày có lễ hội Nàng Hai (Nàng Trăng) được tổ chức sau Tết Đắp Nọi kéodài đến hết tháng 3 âm lịch để cầu mùa của người Tày Cao Bằng Trong các ngày tết,ngày lễ, người Tày thường làm nhiều loại bánh trái như bánh chưng, bánh giày, bánhgai, bánh dợm, bánh gio, bánh rán, bánh trôi, bánh khảo Theo Đoàn Văn Chúc thìchính những dịp tổ chức lễ - tết - hội sẽ làm sống lại thuở cội nguồn của hiện tượngbằng những hệ thống biểu tượng của nó, giải phóng những xúc cảm bị kìm hãm trongđời sống đơn điệu hàng ngày
1.2.3.3 Văn học dân gian
Dân tộc Tày mang đậm đặc trưng của nền văn hóa thung lũng, chân núi VùngViệt Bắc giàu có những huyền thoại và truyền thuyết lịch sử Gắn liền với mỗi địa danh
là các tập tục, lễ nghi, các công trình kiến trúc, các sinh hoạt lễ hội vừa cổ xưa vừa độcđáo; các hình thức sinh hoạt văn hóa văn nghệ phong phú…
Văn học dân tộc Tày nằm trong 8 nhóm dân tộc nói ngôn ngữ Tày - Thái: Tày,Nùng, Thái, Sán Chay, Giáy, Lào, Lự, Bố Y Dân tộc Tày có hệ thống văn học dângian rất phong phú, thể hiện ở các truyện cổ, truyện thơ, nội dung thường phản ánh
tư tưởng chủ đạo là đề cao người lao động, đề cao những người khỏe mạnh, tài giỏi,hay giúp dân lành trừ quỷ diệt tà, cứu dân, giúp dân lành chống lại kẻ ác, thể hiện
thái độ căm ghét kẻ gian ác hại người (Viên ngọc cóc, Nàng tiên lấy anh chàng mồ
Trang 26côi, Bể Bà Góa, Hai anh em mồ côi, Truyện bà Giả Gỉn ) Nội dung của các câu
chuyện kể dân gian của đồng bào Tày thường phản ánh những khía cạnh khác nhaucủa đời sống xã hội Đó là các truyền thuyết giải thích nguồn gốc của vũ trụ, sự rađời của loài người, sự tích các loài vật, các hiện tượng thiên nhiên, các vị thần linh
(Chín chúa tranh vua, Truyện Nùng Trí Cao, Phó tướng quân Nông Đắc Thái ).
Những câu chuyện đều mang giá trị nhân văn sâu sắc, giáo dục lối sống, đạo đức,hướng con người tới những điều chân, thiện, mỹ của cuộc sống
Điểm đặc biệt đáng chú ý trong văn học dân gian Tày là kho tàng truyện thơNôm truyền miệng, với nội dung rất phong phú Người Tày có nhiều truyện thơ
sáng tác bằng chữ Nôm Tày khuyết danh như: Nam Kim Thị Đan, Quảng Tân Ngọc Lương, Thạch Sanh, Tần Châu Người Tày nổi tiếng với truyện thơ Khảm hải (Vượt biển), được lưu truyền rộng rãi ở vùng xung quanh hồ Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn Các thầy cúng thường đọc Khảm hải trong những buổi lễ cầu cúng Nhà sưu tầm
văn học dân gian Tày đã quá cố Lục Văn Pảo thống kê có đến 114 truyện Nôm Tày
ở huyện Chợ Rã (cũ) nay tách thành hai huyện Ba Bể và Pác Nặm, nhưng cho đếnnay chúng vẫn chưa được phiên âm sang tiếng latinh
Trong kho tàng văn hóa dân gian dân tộc Tày, loại hình ca dao, tục ngữ, câu
đố hết sức phong phú phản ánh tất cả các mặt của đời sống xã hội, trong quan hệgiữa con người với con người, con người với thiên nhiên Người Tày nổi tiếng vớinhững bài lượn, then được hát trong các cuộc vui, lễ hội, đám cưới hỏi, chúc thọ,mừng tân gia, cầu mùa và hát giao duyên trong các lễ hội, chợ phiên Một loại hìnhđặc biệt của người Tày là thơ ca đám cưới (gọi là hát Quan làng) Hát Quan làng rấtphong phú, đa dạng nhưng chủ yếu nhằm đề cao người phụ nữ, giáo dục con người
ý thức về sự sinh thành và dưỡng dục của cha mẹ, đề cao đạo lý uống nước nhớnguồn, thắt chặt tình cảm giữa hai họ nhà trai và nhà gái Hầu hết trong các lễ cúngcủa người Tày đều có hát then Hát then không chỉ đơn thuần là một loại hình âmnhạc hay diễn xướng dân gian mà có sự gắn kết chặt chẽ với tín ngưỡng Người Tàybất kể tuổi tác, giới tính, những người mê tín cũng như không mê tín rất thích nghehát then Một vài tộc khác như H’mông, Việt ở trong vùng cũng tiếp nhận thể loạihát này trong đời sống tinh thần của mình
Trang 27Dân tộc học chia văn hóa thành ba loại: văn hóa vật chất (bao gồm công cụsản xuất, phương tiện đi lại, làng mạc, nhà cửa, quần áo, giày dép, đồ trang sức, cácthức ăn, thức uống…); văn hóa xã hội (bao gồm các thiết chế xã hội: hôn nhân, giađình, dòng họ, làng bản và mối quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng); vănhóa tinh thần (bao gồm các tri thức khoa học, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tôngiáo, lễ hội, văn học nghệ thuật dân gian…) Chính từ đặc trưng văn hóa, các thuộctính của văn hóa, văn học, có thể xem xét mối quan hệ giữa chúng ảnh hưởng và tácđộng qua lại với nhau như thế nào Văn học là một bộ phận của văn hóa, nằm trongvăn hóa vì thế chịu sự chi phối của văn hóa Những nhân tố như: ngôn ngữ, hoạtđộng kinh tế, lao động sản xuất, ăn, mặc, ở, đi lại, sự phát triển của khoa học kỹthuật… đều là điều kiện quan trọng trong môi trường nảy sinh, hình thành nhữngtác phẩm văn học M Bakhtin cho rằng, văn học là một bộ phận không thể tách rờikhỏi văn hóa, không thể hiểu nó ngoài cái mạch nguyên vẹn của toàn bộ văn hóamột thời nó tồn tại Không được tách nó khỏi các bộ phận khác của văn hóa, cũngnhư không được như người ta vẫn làm, là trực tiếp gắn nó với các nhân tố xã hội,kinh tế vượt qua đầu văn hóa Văn hóa có khả năng quyết định sự phát triển của vănhọc trong một giới hạn, một mức độ nhất định Ngược lại, sự tác động ảnh hưởngtrở lại với văn hóa của văn học cũng không nhỏ
Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học gắn bó mật thiết ở cả hai phương diệnđồng đại và lịch đại, do vậy nghiên cứu một hiện tượng văn học trong quan hệ đồngđại với văn hóa sẽ thấy được vai trò sáng tạo văn hóa, thấy được cấu trúc, chứcnăng văn hóa của văn học Tuy nhiên, văn học không chỉ là sản phẩm của văn hóamột thời, mang trong mình giá trị của văn hóa một giai đoạn cụ thể mà là sản phẩmcủa cả một quá trình văn hóa Nhà phê bình văn học Nga kiệt xuất thế kỷ XIXBelinsky đã từng nói “Muốn làm cho thiên tài của anh được khắp mọi nơi và mọingười công nhận” thì phải: “Làm cho tính dân tộc trong các tác phẩm của anh trởthành hình hài, cơ thể, thịt xương, diện mạo, nhân cách của thế giới tinh thần là vô
hình của những tư tưởng toàn nhân loại” [31, tr.77] Văn hóa dân tộc Tày tuy cũng
ảnh hưởng từ Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo nhưng trong quá trình sinh sống vàphát triển đã khẳng định những nét độc đáo riêng của một nền văn hóa thung lũng,chân núi Nhà thơ, nhà văn hóa Nông Quốc Chấn khi nói về bản sắc văn hóa cũng
Trang 28có những diễn tả cụ thể: “Bản sắc văn hóa Việt Nam bao gồm nhiều nét đặc trưng.
Có những nét chung trong văn hóa người Việt (còn gọi là người Kinh) có những nétriêng trong văn hóa các dân tộc thiểu số Những nét ấy biểu hiện trong cách laođộng, cách sống, cách kiến trúc nhà cửa, cách ứng xử giữa người với người Những nét riêng ấy không mâu thuẫn với nét chung; nó đa dạng có sự hài hoà” [16,tr.52] Chính bởi dân tộc Tày sinh sống lâu đời ở Việt Nam, với sự phát triển vượtbậc về nhiều mặt, có sự đa dạng mà độc đáo về văn hóa; đặc biệt là vốn văn hóa dângian giàu có, phong phú các thể loại, sự hình thành tầng lớp trí thức sớm tất cảnhững điều đó góp phần hình thành nên đội ngũ những tác giả văn học viết sungsức, đông đảo trong thời kỳ hiện đại
1.3 Đội ngũ nhà thơ dân tộc Tày từ 1945 đến nay
1.3.1 Trước 1945
Nhìn lại quá trình vận động và phát triển của đội ngũ văn nghệ sĩ các dân tộcthiểu số, có thể thấy rằng, sự xuất hiện của mỗi thế hệ cầm bút, mỗi tác giả đều gắnvới những hoàn cảnh và điều kiện lịch sử xã hội cụ thể nhất định, trong đó khôngthể phủ nhận vai trò góp sức của rất nhiều yếu tố khác trong xã hội Trải qua quátrình hình thành và phát triển tương đối dài, dân tộc Tày có một nền văn học nghệthuật vô cùng phong phú và đa dạng Sở dĩ, lịch sử văn học là một dòng chảy liêntục, không gián đoạn mặc dù nó có sự thay đổi, diễn tiến qua thời gian, thậm chíqua không gian cho nên nghiên cứu, phác họa tiến trình phát triển và thay đổi củamột nền văn học không phải là sự tập hợp rời rạc, ngẫu nhiên những tác giả, tácphẩm riêng lẻ, cho dù đó là những tác giả, tác phẩm xuất sắc Những sự kiện vănhọc sử mà trung tâm là những tác giả, tác phẩm văn học phải được xâu chuỗi theomột hệ thống nhất định, theo logic, theo một phương pháp hữu hiệu nào đó để ngườiđọc cảm thấy có một tiến trình lịch sử thật sự đã diễn ra và có một quy luật thực tếchi phối phổ biến đối với diễn tiến ấy Trong sự diễn biến phức tạp tưởng như khónắm bắt được của các sự kiện văn học, tiến trình văn học Tày vẫn diễn ra theo mộttrình tự, một quy luật nhất định mà các giai đoạn văn học cụ thể chỉ là sự tiếp nốilẫn nhau một cách logic
Trong quá trình phát triển của văn học cũng như thơ ca Tày, một điểm thuậnlợi đáng chú ý là tầng lớp trí thức Tày - Nùng hình thành từ rất sớm Đầu tiên là cáctrí thức dân gian dưới lớp vỏ nghề nghiệp như thầy mo, then, tào, pụt Trong thời kỳ
Trang 29tự chủ, triều đình có quan tâm đến việc học hành của cư dân Việt Bắc Nhà Mạc khichạy lên đóng đô ở Cao Bằng ra sức đào tạo tầng lớp nho sĩ, quan lại người Việtchạy lên đây bị Tày hóa Do vậy tầng lớp trí thức nho học hình thành, có một số đạttới trình độ học vấn cao như Bế Văn Phụng (1567-1637), Nông Quỳnh Văn (1566-1640) Bế Văn Phụng giữ chức Tư thiên quản nhạc trong triều một thời gian rồi lui
về ở ẩn tại Hòa An, Cao Bằng Nông Quỳnh Văn có tài nhưng không ra làm quan.Hai ông đều là tác giả của những bài lượn được truyền khẩu rộng rãi trong dân gian,
sáng tác tiêu biểu có thể kể đến Lượn Tam nguyên (760 câu) của Bế Văn Phụng và Lượn Tứ quý (742 câu) của Nông Quỳnh Văn, hai tác phẩm đều viết bằng chữ Nôm
Tày Tiếp đó là một số tác giả như Bế Hữu Cung (1757-1820), Hoàng Ích Ngọ(1766-1828), Hoàng Ích Thặng (1783-1853) Cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, thơTày đánh dấu một thời kỳ phát triển mới với một số tên tuổi: Hà Vũ Bằng, Bế ÍchBồng, Nông Đình Cấp, Bế Đức Cốm Tiêu biểu nhất là Hoàng Đức Hậu (1890 -1945) với một số lượng tác phẩm đồ sộ bằng cả tiếng Tày, tiếng Việt và tiếng Hán(theo nhà phê bình văn học Lâm Tiến, có khoảng 150 bài đã được khảo cứu và côngbố), bao gồm những đề tài và bút pháp đa dạng phong phú được truyền khẩu rộngrãi trong dân gian, ông được coi là người đặt nền móng cho thơ Tày hiện đại Điềuđặc biệt là Hoàng Đức Hậu được xem như người sáng tác thơ bằng tiếng Tày hay,độc đáo và điêu luyện bậc nhất trong đội ngũ những nhà thơ dân tộc thiểu số Nếuđánh giá đúng vai trò của Hoàng Đức Hậu thì chúng ta sẽ có được sự lý giải choviệc phát vượt bậc của văn học hiện đại Tày so với những dân tộc thiểu số khác
Nhà nghiên cứu Lâm Tiến cũng có một bài viết khá công phu trong cuốn Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại đánh giá lại vị thế của Hoàng Đức Hậu như
một nhà thơ lớn không chỉ của dân tộc Tày mà còn là “nhà thơ hiện đại độc đáo củavăn học Việt Nam” [92, tr.58]
Ngoài Hoàng Đức Hậu, giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX phải kể đến những nhàthơ có lòng yêu nước, được người dân kính trọng, về sau đã đi theo ánh sáng củaĐảng như Hoàng Văn Thụ, Lương Văn Chi
1.3.2 Từ 1945 đến nay
1.3.2.1 Bốn thế hệ nhà thơ sau 1945
Từ 1945 đến nay, thơ dân tộc Tày xuất hiện khá nhiều tác giả với những thànhtựu đáng ghi nhận Đặt nền móng cho văn học các dân tộc thiểu số nói chung cũng
Trang 30như văn học hiện đại dân tộc Tày nói riêng phải kể đến những tác giả thành danhtrong thời kỳ kháng chiến chống Pháp Thế hệ đầu tiên có thể kể đến Nông QuốcChấn (1923-2002), Nông Minh Châu (1924-1979), Bế Sĩ Uông (1923-2007), NôngViết Toại (sinh năm 1926), Hà Phan (sinh năm 1929), Hoàng Hóa (dịch thơ Tàysang tiếng Việt, sinh năm 1930) giác ngộ cách mạng đi kháng chiến, được các văn
nghệ sĩ người Kinh giúp đỡ trên con đường sáng tạo nghệ thuật Nếu bài thơ Nhắn bạn của Hoàng Văn Thụ là bài thơ Tày hiện đại đầu tiên được nhiều người biết tới, thì sau đó chưa đầy mười năm, bài thơ Dọn về làng của Nông Quốc Chấn chính là
sự kế tiếp mới về tinh thần và nghệ thuật của các nhà thơ dân tộc Tày trong thời đại
mới Tuy thời kỳ này đội ngũ vẫn còn mỏng, cách viết phần nhiều vẫn chịu ảnh hưởng sâu đậm của văn học dân gian nhưng cũng đáp ứng được yêu cầu của đời sống, của cuộc đấu tranh kháng chiến chống Pháp
Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc cómột sự kiện văn hóa quan trọng là việc tổ chức Hội nghị sáng tác văn học các dân tộcthiểu số ở miền Bắc lần thứ nhất (Thái Nguyên, năm 1964) Những vấn đề của sángtác văn học của các dân tộc thiểu số như: vấn đề về cuộc sống, con người miền núimới; vấn đề phát triển các thể loại văn học, vấn đề song ngữ trong sáng tác văn học,vấn đề xây dựng đội ngũ nhà văn là con em các dân tộc thiểu số… được đặt ra và gợi
mở nhiều cách giải quyết Đội ngũ các nhà thơ dân tộc Tày thời kỳ này được bổ sungđông đảo hơn, xuất hiện một số tác giả mới với bút pháp vững vàng, vừa dân tộc vừahiện đại Các tác giả thời kỳ này đa phần đã được trang bị phần nào về kiến thức và tỏ
ra có nghề trong sáng tác văn chương Thế hệ thứ hai của thơ dân tộc Tày với một lựclượng hùng hậu: Nông Văn Bút, Hoàng Hạc, Hoàng Trung Thu, Triều Ân, HoàngĐịnh, Bế Thành Long, Bế Dôn, Ma Đình Thu, Hoàng An, Hoàng Luận, Vân Hồng,Triệu Lam Châu, Y Phương, Mai Liễu, Nguyễn Thị Đua, Ma Trường Nguyên, TriệuSinh, Trần Thị Thu Nhiễu, Vi Thị Kim Bình, Triệu Đức Xuân
Thế hệ thứ ba, thơ Tày có một đội ngũ nhà thơ dân tộc thiểu số vững về tay nghề
và có những đóng góp tích cực cho văn học nghệ thuật nước nhà: thứ nhất là nhómnhững nhà thơ trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến và còn sung sức cho đến hiện tại,thứ hai là những nhà thơ xuất hiện sau khi hòa bình lập lại, tuổi đời còn rất trẻ nhưng đã
có những dấu ấn đáng ghi nhận trong dòng chảy chung của thơ ca dân tộc như: Triệu
Trang 31Thị Mai, Hoàng Thị Diệu Tuyết, Ma Phương Tân, Lương Định, Nông Thị Ngọc Hòa,Đoàn Lư, Đoàn Ngọc Minh, Hữu Tiến, Dương Thuấn, Tạ Thu Huyền, Hoàng MinhThông, Dương Khâu Luông, Ma Kim Ly, Hà Thị Hải Yến, Vi Thị Thu Đạm
Thế hệ thứ tư là những nhà thơ tuổi đời còn rất trẻ, tuy vậy cũng đã có một sốtác giả thành danh từ khá lâu và một số mới bắt đầu sự nghiệp cầm bút của mình, cóthể kể đến: Bế Phương Mai (1972), Nông Thị Tô Hường (1978), Nông Văn Lập,Đinh Thị Mai Lan (1979), Vi Thùy Linh (1980), Hoàng Chiến Thắng (1980), PhạmVăn Vũ (1982), Ngô Bá Hòa (1985)
1.3.2.2 Ba xu hướng biến đổi của thơ Tày từ 1945 đến nay
Nhìn vào chặng đường phát triển của thơ dân tộc thiểu số với bốn thế hệ tiếpnối nhau, có thể thấy đội ngũ sung sức, số lượng tác phẩm xuất bản nhiều nhất vẫnthuộc về những dân tộc vốn có truyền thống và bề dày thơ ca Đội ngũ các nhà thơdân tộc Tày vẫn chiếm số lượng đông đảo nhất, có nhiều thành tựu nhất Khảo sátqua một loạt những gương mặt thơ ca dân tộc Tày xuất hiện từ 1945 đến nay, tức làqua bốn thế hệ, chúng tôi tạm phân chia thành ba xu hướng biến đổi rõ rệt: xuhướng truyền thống, xu hướng dân tộc và hiện đại và xu hướng hiện đại hóa
Xu hướng truyền thống
Trước 1975, văn học dân tộc thiểu số nói chung và văn học dân tộc Tày nóiriêng rất gần với dân gian Cả thơ và văn xuôi đều chủ yếu dùng ngôn ngữ dân gian,hình thức diễn đạt cũng mang tính dân gian Ở xu hướng truyền thống đơn thuần,đầu tiên cần chú ý đặc biệt tới các nhà thơ thuộc thế hệ thứ nhất Những tác giả này
có sự gần gũi với những người cách mạng, những văn nghệ sĩ cách mạng và được
họ dìu dắt cả trên con đường đấu tranh lẫn con đường sáng tạo nghệ thuật buổi đầu.Những sáng tác thời kỳ này mang nét hồn nhiên, chân thành, thô mộc của nhữngngười miền núi lần đầu tiên được tiếp xúc với những điều mới mẻ của miền xuôi
Ta thấy được cái phong cách truyền thống đậm nét trong những sáng tác của HoàngVăn Thụ, Nông Quốc Chấn, Nông Minh Châu, Nông Viết Toại Nhà thơ Bế Dônviết bài thơ mừng quân dân Việt Bắc bắn rơi nhiều máy bay Mỹ (năm 1965) với
giọng thơ hồn nhiên và những xúc cảm mộc mạc: Pháo gầm đạn nổ khói bay mù/ Đất nước rung lên tiếng diệt thù/ Mừng anh bộ đội dân quân bắn/ Quạ Mỹ tan thây
Trang 32khói bốc mù/ Bản mường vui nhộn, nắng trời thu/ Tiếng kẻng, đồng quê vàng chói màu/ Cả nước nhân dân đều nhất trí/ Tay cày, tay súng diệt quân thù.
Trong số những tác giả của thế hệ thứ nhất với nhiều thành tựu, Nông QuốcChấn được xem là “cánh chim đầu đàn của những người làm văn học cách mạngcủa các dân tộc thiểu số” Thơ Nông Quốc Chấn đã đặt một dấu mốc lịch sử quantrọng, đưa thơ ca dân tộc Tày sang một giai đoạn mới, bước vào quỹ đạo hiện đại
của nền thơ Việt Nam Nếu tính từ tập thơ đầu tiên của Nông Quốc Chấn (Việt Bắc đánh giặc) thì thơ hiện đại dân tộc Tày đã có quá trình tồn tại hơn 60 năm Nông
Quốc Chấn là người kháng chiến Thơ Nông Quốc Chấn là tiếng ca người Việt Bắc
được giải phóng, nhìn cái gì cũng thấy đẹp, thấy yêu mến: Nước trong xanh dòng suối/ Trải mưa nắng bao đời/ Khi Cụ Hồ chưa tới/ Ai biết dòng đầy vơi/ … Suối có
họ có tên/ Có bóng hình ông Cụ/ Nước chảy đi trăm miền/ Như tiếng vang lãnh tụ (Bài thơ Pác Bó) Nguồn cảm hứng chính của thơ Nông Quốc Chấn là cách mạng và
cuộc đấu tranh của nhân dân, đặc biệt là những người con Việt Bắc, thể hiện bằng bútpháp dung dị, gắn bó mật thiết với mạch nguồn văn hóa, văn học dân gian dân tộcTày Những bài thơ đặc sắc nhất của Nông Quốc Chấn chủ yếu tập trung ở giai đoạn
còn chiến tranh Sau này, từ tập Dòng thác, rồi đến Bài thơ Pác Bó, Suối và biển, thơ
Nông Quốc Chấn mượt mà hơn trong vần điệu, cấu trúc hiện đại hơn nhưng cái nhìnbớt đi nhiều sự hồn nhiên và bộc trực, bởi thế kém hấp dẫn một phần
Là người đặt dấu mốc cho tác phẩm văn xuôi đầu tiên (Ché Mèn được đi họp, 1958), Nông Minh Châu (1924) còn sáng tác rất nhiều tác phẩm thơ Tuyển tập Nông Minh Châu do Nông Phúc Tước tuyển chọn (Nxb Văn hóa dân tộc, 2005) gồm 140
bài, trong đó có 83 bài thơ tiếng Tày, 1 trường ca và 56 bài thơ tiếng Kinh Về cấutrúc bài thơ, ngôn từ đến giọng điệu chịu ảnh hưởng sâu đậm của phong slư mà ông làtác giả của không ít tác phẩm làm say mê trái tim những thanh niên nam nữ Tày:
Nay nắng về trên đỉnh núi Óng ánh cả dòng suối
Cả làng ta biết yêu ai ghét ai Chị em ơi! Hát lượn một câu Đời ta ấm no với nắng
Có cơm, có áo, có muối
Trang 33Có cả chữ viết cho người yêu
Xa ngàn dặm như chung một bản
(Nắng tháng Mười)
Nhà thơ Nông Viết Toại thì ngay từ đầu những năm 1945, 1946 trong độituyên truyền kháng Nhật ở Ngân Sơn đã nhen nhóm ngọn lửa yêu nước và dùng thơvăn khích lệ lòng yêu nước của những người dân lao động miền núi Sự nghiệp sáng
tác của Nông Viết Toại với Rại róa vít pây (Điều xấu bỏ qua), Kin ngay phuối khát (Ăn ngay nói thẳng), Đét chang nâư (Nắng ban trưa) ghi dấu tên tuổi ông là một
trong những nhà thơ cách mạng thành công của thơ dân tộc thiểu số Giai đoạn sau
này, Ngoảc đếnh (Ngoảnh lại nhìn, 2006) tạo được một sự bứt phá thú vị so với
những gì đã làm trước đó nhưng những vần thơ khiến người đọc nhớ vẫn thuộc về
cách diễn tả gần với ngôn ngữ dân gian: Kể chuyện đánh Mỹ không mang hết gánh/ Xương chúng hóa vôi vẫn còn chưa hết chuyện/ Có dịp gặp nhau hẵng kể thêm/ Giờ thì nhà tôi giục đi theo bà gánh thóc (Kể chuyện đánh Mỹ).
Thuộc thế hệ thứ hai của thơ dân tộc Tày hiện đại nhưng Ma Trường Nguyên(1944) vẫn giữ cách viết theo lối truyền thống Tác phẩm thơ đầu tiên của Ma
Trường Nguyên là tập Mát xanh rừng cọ - một trong số ít những trường ca của thơ dân tộc thiểu số nói chung Tiếp đến với Trái tim không ngủ (1988) và Tiếng lá rừng gọi đôi (1996) thống nhất một phong cách giản dị nhưng không hẳn là không
có nhiều nét độc đáo Ba tập thơ gần đây nhất của Ma Trường Nguyên là Câu hát vắt qua vai (2005), Cây nêu (2006), Bắc cầu vồng thăm nhau (2007) Thơ Ma
Trường Nguyên thể hiện cái nhìn hồn hậu, mộc mạc nhưng không kém phần thi vị
đối với cuộc sống: Bảy sắc màu lung linh/ Cầu vồng cong cong bắc/ Từ hai nơi mặt đất/ Vồng lên trời ngóng nhau/ Bây giờ em ở đâu?/ Dưới cầu vồng xa hút/ Trên vòm cao sũng nước/ Nhớ đẫm trời thênh thênh (Bắc cầu vồng thăm nhau) Trải
qua gần 30 năm sáng tác, Ma Trường Nguyên vẫn giữ được nét tươi mới, trẻ trung
trong cách sống và viết như ông từng khẳng định: Là đàn ông anh dám sống đến cùng/ Và dám yêu đến cùng nữa chứ/ Nếu không tin, em còn lưỡng lự/ Em cứ việc
đi tìm người nào hơn anh (Là đàn ông).
Trang 34Có thể thấy, qua thơ của Nông Quốc Chấn, Nông Minh Châu, Nông Viết Toại,
Ma Trường Nguyên truyền thống của văn học dân gian Tày được kế thừa mộtcách xuất sắc Những tác phẩm của họ chính là truyền thống, là cái nhìn tươi mớikhi đất nước chuyển mình mạnh mẽ trong chiến đấu, trong xây dựng đất nước khihòa bình Thơ Tày hiện nay đang dần bước vào quỹ đạo của sự hiện đại, cách tân,
có những cây bút khẳng định cái độc đáo của mình một cách quyết liệt Tính từ thế
hệ thứ hai của thơ ca Tày, đặc biệt là những sáng tác hình thành sau năm 1975, thơ
ca Tày có sự biến đổi lớn Nhưng dấu ấn đậm nhất của sự biến đổi lại nằm ở thế hệthứ ba - những tác giả tạm tính là thuộc vào thời kỳ đương đại
Xu hướng dân tộc và hiện đại
Xu hướng dân tộc và hiện đại tiêu biểu có Y Phương, Mai Liễu, DươngThuấn, Dương Khâu Luông thế hệ trẻ có Nông Thị Tô Hường, Hoàng ChiếnThắng, Phạm Văn Vũ… Trong thơ của họ, ảnh hưởng của văn hóa Tày rất rõ, họ ýthức được vai trò của nguồn cội, truyền thống trong sáng tạo nghệ thuật và thiênchức cao cả của những người cầm bút, và thường lấy cảm hứng sáng tác từ nhữngtiết tấu trong cuộc sống đời thường của con người miền núi
Từ tập thơ đầu tiên - Tiếng hát tháng Giêng đến nay, Y Phương (1948) đã có
hơn 30 năm sáng tác, con đường nghệ thuật của nhà thơ gắn với nhiều sự kiện vàbiến cố quan trọng cũng như những thành tựu của văn học dân tộc Điều nổi bậtnhất có thể nhận ra trong thơ Y Phương đấy là niềm khát vọng, niềm tin nhiều nhưsông như suối, muốn “đục đá kê cao quê hương” Tày của mình với một bút phápđiêu luyện, ngôn ngữ chọn lọc Y Phương viết nhiều đề tài, nhưng thành công nhất
là đề tài chiến tranh - số phận con người - số phận dân tộc Cũng trong đề tài ấy ônggói gọn được cả tình quê hương, tình yêu lứa đôi và tình cảm gia đình một cách sâu
sắc nhất Từ Tiếng hát tháng giêng (1987) đến Thất tàng lồm - Ngược gió (thơ song ngữ Tày - Việt, 2006), trường ca Đò trăng (2009) đều nhất quán điều ấy
Thơ Y Phương ở những sáng tác trước 2001 đã thể hiện khá rõ yếu tố dân tộc
và hiện đại: Đất nước/ Sinh ra từ ngực người đàn bà/ Sau đó sinh ra làng quê xóm mạc/ Sinh ra tình yêu sinh ra bi kịch/ Sinh ra trí khôn đánh giặc chống trời/ Sinh ra/ Khan/ Khắp/ Cọi Sau 2001, sáng tác trong môi trường văn hóa khác,
Trang 35không còn là “Những đứa con của đá/ Lăn lóc đi vào đời” nữa nhưng tính dân tộc
không vì thế mà phai nhạt Lối nói, lối nghĩ, hình ảnh, cách tạo dựng biểu tượng vẫnđậm chất Tày Giai đoạn sau này, cách tư duy đậm chất miền núi trong thơ ông đôikhi bị sự khái quát hóa, dụng công cầu kì lấn át
Mai Liễu (1949) với Suối làng (1994), Mây vẫn bay về núi (1995), Lời then ai
buộc (1996), Tìm tuổi (1998), Giấc mơ của núi (2001), Đầu nguồn mây trắng (2004) trở đi trở lại là hình ảnh quê hương với suối nguồn, gió rừng, thác đổ tạo nên một không khí mới cho những trang viết: Suối làng tôi bắt nguồn từ nơi ấy/ Là ngọn nguồn trong trẻo của đời tôi; Tôi đã đi qua bao đồi bao núi/ Đã vượt nhiều bể
cả sông to / Mỗi khi nghĩ về rừng/ Hồn tôi lại vi vu/ Gió thổi
Triệu Lam Châu (1952) từ các tập thơ Trăng sáng trên non (1998), Ngọn lửa rừng (1999), Giọt khèn (2001) đạt được thành công đến Thầm hát trên đồi (2004)
hầu như vẫn thể hiện một bút pháp khá tinh tế với nhiều suy tưởng, nhưng sau đó lạichuyển sang tiểu thuyết Không chỉ là nhà thơ kiên trì với việc sáng tác song ngữ,Triệu Lam Châu còn được biết đến còn với tư cách là một dịch giả có nhiều thànhtựu Ông đã dịch nhiều tác phẩm thơ từ tiếng Nga sang tiếng Việt và mới đây nhất là
dịch Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh ra tiếng Tày (2011)
Hà Lâm Kỳ (1952) với Lời riêng (2009) cũng thể hiện một bước tiến so với Xôn xao rừng lá ra mắt từ trước đó rất lâu (1992); Hoàng Hữu Sang tuy viết không nhiều nhưng với Câu sli xứ Lạng đủ để khẳng định bút lực: Câu sli qua dốc gập ghềnh/ Va vào vách đá tan thành sao đêm ; Lương Định (1957) với Tương tư (1991), Núi và hòn đá lẻ (1995), gần đây là Lối trong rừng nhất quán một phong
cách thơ mộc mạc mà nhiều thể nghiệm, như tuyên ngôn nghệ thuật gián tiếp thể
hiện trong thơ: Không ai mở sẵn/ Bằng con dao sắc của mình/ Con tự mở lối đi… (Lời người cha Lũng Núi).
Thơ dân tộc thiểu số giai đoạn cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI bắt đầu có sựchuyển mình mạnh mẽ, một trong những đặc điểm quan trọng là sự gia tăng đáng kểtrong đội ngũ Nếu như trong thời kỳ trước có Nông Quốc Chấn, Nông Viết Toại,Nông Minh Châu thường xuyên sáng tác bằng hai thứ tiếng, thì giai đoạn này xuấthiện thêm các tác giả như: Dương Thuấn, Dương Khâu Luông, Nông Thị TôHường… Với 17 tập thơ đã xuất bản, thơ Dương Thuấn (1959) lúc nào cũng đau
Trang 36đáu một khát khao “đi tìm bóng núi” và “hát những lời cho quả sai” Những bài thơ
của anh tựa như những khúc ca, những chất liệu để có thể hát thành lượn cọi, lượn nàng ới, hay theo điệu phong slư Dù hạ sơn về phố từ lâu nhưng Dương Thuấn vẫn
không đánh mất chất Tày, chất núi rừng trong con người mình
Giai đoạn hiện tại của thơ Tày, những tác giả còn rất trẻ nhưng đã thể hiện một
xu hướng sáng tác rõ rệt, hình thành cho mình một phong cách riêng, báo hiệunhững dấu hiệu tốt như Dương Khâu Luông, Nông Thị Tô Hường… Điểm nổi bật
được chú ý trong thơ Dương Khâu Luông với 4 tập Gọi bò về chuồng (2003), Dám kha cần ngám điếp (Bước chân người đang yêu, 2005), Bắt cá ở sông quê (2006),
Co nghịu hưa cần (Cây gạo giúp người, 2008) là khả năng tạo dựng những bức
tranh sinh động, cảnh vật, con người luôn hiện ra tươi mới, sống động như được tắmgội trong suối nguồn mát trong của hồ Ba Bể Những bài thơ anh viết về văn hóa
phong tục quê hương thường bộc lộ được nhiều ý tình vang vọng: Ta hát cho ngọn lửa tàn đêm/ Ta hát cho trăng tròn, trăng khuyết/ Ta hát cho trăng lặn lại trăng lên/ Cho tình yêu ta chung một nhịp tim hay như: Trời sáng rồi/ Người hát có biết không?/ Lửa tắt/ Tàn đêm/ Câu hát vẫn bùng lên/ Than trong lòng cháy đỏ…
Thơ Nông Thị Tô Hường có sự đằm thắm của người thiếu nữ vùng cao Dùviết cho thiếu nhi, viết cho gia đình, bè bạn hay viết về tình yêu đôi lứa, chị cũnggiữ được cái chất đơn sơ, tinh khôi trong từng câu chữ Cách cảm, cách nghĩ của
Nông Thị Tô Hường trong thơ mang đậm chất Tày, chất miền núi: Đừng mà anh/ Rừng thật lắm lối/ Đừng thả củi trôi dốc/ Mắc gốc cây/ Lạt đứt/ Mắc lối ngoặt/ Gẫy củi/ Mắc tiếng cười chê/ Lời không xuôi…
Đinh Thị Mai Lan với Tiếng đàn đêm cũng tạo được ấn tượng tốt: Một đời khó nhọc/ Cha vun lên những mùa màng tình yêu/ Không chờ ngày gặt hái/ Những đứa con dù chắc như lim/ Dù vững như núi/ Vẫn tròn như đá sỏi/ Lăn về phía cha Thế
hệ trẻ hiện nay của thơ dân tộc Tày có thể kể đến một số gương mặt triển vọng nhưHoàng Chiến Thắng, Phạm Văn Vũ bắt đầu thể hiện được bản lĩnh của một ngườisáng tác gắn bó với truyền thống dân tộc mình mà không bị cũ mòn trong cách viết Nhiều tác giả trẻ cũng có những cố gắng trong việc tái hiện và lưu truyền vănhóa dân tộc trong những sáng tác Dù sinh sống ở miền núi hay miền xuôi, cơ chếnhập thân văn hóa khẳng định sự tham gia của cá nhân vào một hình thức cụ thể của
Trang 37văn hóa Đây là khái niệm chìa khóa đối với M Herskovits trong việc xây dựngquan niệm nhân học văn hóa toàn vẹn của ông Chính quá trình gia nhập văn hóamới xuất hiện các cơ chế sản xuất ra các cộng đồng văn hóa tộc người và khả năngthay đổi của một xã hội (văn hóa) này hoặc khác, tức là nhập thân văn hóa khôngchỉ tạo ra con người văn hóa mà còn chứa đựng cơ chế thực hiện những thay đổitrong văn hóa Trong văn hóa học thường nhắc tới khái niệm “tâm thức” (mentalité)như “một tập hợp tương đối toàn vẹn những ý tưởng, tín ngưỡng, tập quán tinh thầntạo nên bức tranh thế giới và sự củng cố sự thống nhất của truyền thống văn hóa haymột cộng đồng nào đó” Thơ các tác giả trẻ của dân tộc Tày thể hiện rõ ý thức dunghòa yếu tố dân tộc và hiện đại, Hoàng Chiến Thắng tự họa về những người của núi:
Người của núi có cái nhìn màu xanh/ Có nụ cười của suối / Người của núi vụng nói/ Người của núi chăm nghe / Khi người của núi yêu/ Khắp rừng vang câu hát / Người của núi/ Thở, yêu, nói bằng lời của núi! Thơ Hoàng Chiến Thắng thể hiện sự
táo bạo của người viết trẻ, thử nghiệm và không ít những thành công Bên cạnh đây
đó những câu chữ quen thuộc kiểu như: Rệu rạo những ngày không em/ Vắt kiệt mình cho câu thơ rong ruổi/ Lãng đãng sương mờ đỉnh núi là những mới mẻ, bứt phá mà không xa rời truyền thống: Câu then ngủ quên/ Mắt ngày rực xém nỗi đau/ Câu then ru vào đêm sâu/ Khúc đại ngàn/ Cho người về nhặt lá/ Ta lên rừng hái quả/ Câu then cựa mình/ Đắng hoa mùa mật ngọt/ Ta cõng ngày lên nương/ Người địu ngày xuống suối/ Câu then ngái ngủ/ Ru phía ngược chiều.
Thơ của Mai Liễu, Y Phương, Dương Thuấn, Nông Thị Tô Hường… có sựtừng trải trong cuộc sống, với cách diễn tả hồn nhiên mà sâu lắng, các đề tài rộng
mở, “có đồng bằng và biển, có phố phường sầm uất thị thành” nhưng đậm nhất,nhiều nhất và hay nhất vẫn là hình ảnh cuộc sống người miền núi với những cảnh
vật, con người, tâm tư, tình cảm bình dị Điều đáng nói là họ dung hòa được chất
hiện đại và truyền thống trong sáng tác Trong số họ có nhiều người sinh sống vàsáng tác trong một bầu khí quyển, môi trường văn hóa khác nhưng ở những tác giả
có bản lĩnh, có ý thức không đánh mất chính mình, và ngược lại Một môi trườngvăn hóa mới phần nào khiến thơ dân tộc thiểu số nói riêng, văn học dân tộc thiểu sốnói chung có sự thay đổi (gần với hiện đại hơn, khẳng định một tiếng nói vừa tự tin
Trang 38vừa trách nhiệm trong bản hợp thanh của văn học đương đại với ý thức thường trực
về bản sắc dân tộc)
Xu hướng hiện đại hóa
Xu hướng hiện đại hóa bao gồm sáng tác của các tác giả thực sự vươn tới sựđổi mới trên tinh thần thời đại, mang yếu tố hiện đại, không mang ảnh hưởng sâuđậm của văn học dân gian Tày Nhiều khi chúng ta khó nhận ra dấu ấn Tày trong
đó, có thể kể đến Bế Thành Long, Triều Ân, Nông Thị Ngọc Hòa (trong giai đoạnsau của sự nghiệp sáng tác), Hoàng Kim Dung, Vi Thuỳ Linh… Trong thơ họ cáchdiễn tả, nguồn cảm hứng, cách tư duy đã bắt đầu có sự thay đổi rõ
Bế Thành Long (1938) với Cỏ may (1996) và gần đây là Ở nguồn nhất quán
một phong cách Thơ Bế Thành Long lãng đãng, xúc cảm nhẹ nhàng, có chút tàihoa như chính con người ông Tuy không mới và độc đáo nhưng ta thấy ông cũng
không cũ, và cũng không hẳn là không thú vị: Đất nhẹ nở đầy hoa cúc dại/ Hương thơm khắc khổ vậy ư? Hay: Râu tóc cũng phải lòng mây gió/ Du hành, suy tưởng, trắng phơ phơ.
Triều Ân (1931) từ Quê ta, anh biết chăng (1961, giải Nhì, không có giải Nhất cuộc thi thơ Tạp chí Văn nghệ) đến nay đã 50 năm, Triều Ân vẫn miệt mài sáng tác (Nắng ngàn, Bốn mùa hoa, Kin mác, Chốn xa xăm, Hoa vông, Hoa và nắng) Bên
cạnh tiểu thuyết, biên soạn, nghiên cứu, sưu tầm là thơ Thơ Triều Ân vẫn đề tài ấy,vẫn con người miền núi, tình yêu, bè bạn và vẫn phong cách ấy, chân thực, không caogiọng, không cố tình triết lý mà vẫn sâu sắc Sang những năm đầu của thế kỷ XXI tuykhông đậm đặc hình ảnh đồng bào Tày từng bước đấu tranh giành thắng lợi và xâydựng cuộc sống mới nhưng vẫn là những đề tài quen thuộc Giai đoạn sau này ôngchủ yếu chuyển sang nghiên cứu, sưu tầm, nhiều công trình về Nôm Tày của ông lànhững đóng góp quý, nổi trội hơn cả
Ở xu hướng này có thể kể đến nhiều tác giả, đóng góp của họ chính là khẳngđịnh cái sung sức của đội ngũ những người viết văn làm thơ dân tộc Tày đương đại,
dù nhiều tác giả thuộc vào thế hệ thứ hai, thứ ba của thơ Tày từ 1945 đến nay Đoàn
Lư (1959) với tập thơ đầu tiên Mùa khẩu lam (1997), sau một thời gian thành công với văn xuôi cũng ra mắt Dòng sông nghiêng (2003) chủ yếu nói về tình yêu, những
suy ngẫm của một người nhiều trải nghiệm, thể 7 chữ quen thuộc là phổ biến hơn
Trang 39cả Đoàn Ngọc Minh (1959) với Lời hẹn (1997), Gọi nắng (2004), Sông ngàn lau (2001), gần đây nhất là Gió hoàng hôn (2012)… Triệu Sinh có Chẩp căn tềnh kéo điếp (Gặp nhau trên đỉnh đèo yêu thương, 2006) bước đầu tạo được dấu ấn cá tính riêng khi viết về đất chợ Slo; Triệu Đức Xuân có Hai bờ dòng chảy (2005) với chất
giọng mộc mạc, tuy nội dung và cách viết không có gì mới; Hoàng Kim Dung có
Bỡ ngỡ (2005), Chốn xưa (2006), Khúc giao mùa (2008) cả tiếng Tày và tiếng Việt; Hoàng Diệu Tuyết với Mùa nắng mới (2005) Các tác giả thường sử dụng những
hình ảnh, ngôn từ, cách diễn tả quen thuộc với cách viết theo hướng hiện đại, Đoàn
Ngọc Minh với những liên tưởng hoàn toàn khác lạ với cách tư duy người Tày: Ta không đợi/ Sao người lại tìm về/ Người như manh áo/ Xua đi cái rét cuối đông/ Người như giọt mặn/ Chan vào ta năm tháng nhạt phai Thu Bình thì: Dẫu năm tháng/ Chất chồng/ Dẫu tóc xanh/ Hóa bạc/ Dẫu đời buồn vui
Có một nét khá riêng của thơ ca Tày hiện nay là sự xuất hiện của rất nhiềugương mặt thơ nữ Thơ của họ phần nhiều gặp nhau ở một điểm là sự thể hiện cáithiên tính nữ, cái nhẹ nhàng, đa cảm trong tâm hồn… Nông Thị Ngọc Hòa (1955)
với các tập Trước gương (1988), Lời ru cho mình (1999), Lời của lá (2000), Vườn duyên (2002), Con đường cho mây đi (2004), Nước hồ mãi trong xanh (trường ca,
2006) Giữa rất nhiều dáng vẻ, phong cách, chị tạo cho mình một tiếng nói riêng vớinhững vần thơ đẹp, không cầu kỳ, không bi lụy mà nồng nàn, nhiều dự cảm nhưng
cách dùng từ, sử dụng thể thơ không khác các nhà thơ miền xuôi: Hình như đã có một thời xa lắm/ Gió mải yêu quên hết mọi nẻo về…/ Hình như có hôm nào, hình như thế/ Người trao ta báu vật với câu thề/ Trăng khờ dại khuyết dần như hẹn trước/ Để bây giờ người tiếc lại đòi đi…
Thơ Hoàng Kim Dung có chất say say của hạnh phúc tràn đầy, như chạm tới,cầm nắm được; vừa gắn bó với thực tại nhưng vẫn phảng phất nét mơ hồ, xa xăm:
Nhẹ nhàng, nhẹ nhàng thôi/ Mưa không hề báo trước/ Bất ngờ, ướt cỏ cây/ Như một chiều xa lắc! Tạ Thu Huyền (1960, Yên Bái) với Đầy vơi (2001) cũng thể hiện
một chất thơ tươi mới, có triển vọng nhưng sau đó không thấy làm thêm được
nhiều… Nhiều bài thơ của chị có cách diễn đạt, giọng điệu rất “Kinh”: Em viết bài thơ đầu tiên/ Ở tuổi bốn mươi/ Như lời tự hát/ Cũng như nham thạch/ Vụt trào lên
từ những mạch ngầm/ Đất vặn mình đau đến ngàn lần/ Giọt nước mắt trên môi mặn
Trang 40chát/ Cầm trái đắng trên tay/ Đi qua những tháng năm khó nhọc/ Để tìm lại chính mình.
Gương mặt đặc biệt của xu hướng này phải kể đến Vi Thùy Linh Sinh năm
1980 nhưng đến nay đã cho ra mắt bạn đọc 6 tập: Khát (1999), Linh (2000), Đồng
tử (2006), ViLi in love (song ngữ Việt - Anh, 2008), Phim đôi - tình tự chậm (2010), Chu du cùng ông nội (2011) không chỉ tiêu biểu cho sự sáng tạo và dám làm mới
trong những tác giả trẻ của thơ dân tộc Tày mà còn của chung những tác giả thơ trẻ
đương đại Chỉ trong một thời gian ngắn, với sự ra đời của hai tập thơ: Khát (1999)
và Linh (2000), Vi Thùy Linh đã trở thành một “hiện tượng”, đã ghi tên mình một
cách ấn tượng trong làng thơ trẻ và trong lòng công chúng yêu thơ Tuy nhiên, cũngchính bởi sự ra đời hai tập thơ ấy, Vi Thùy Linh cũng trở thành một chủ đề gây xônxao dư luận, đến nỗi có một khoảng thời gian, nhắc đến sự khác lạ, sự phá cáchtrong thơ ca là người ta dẫn Vi Thùy Linh như một điển hình tiêu biểu
Với Vi Thuỳ Linh, điểm hạn chế khi xếp chị vào đội ngũ những nhà thơ dân tộcthiểu số là sự thiếu vốn văn hóa Tày Ông Vi Thuỳ Linh là người Tày, bố Vi ThuỳLinh cũng là người Tày nhưng sống chủ yếu ở Hà Nội Vi Thuỳ Linh mang gốc Tàynhưng thực chất đã bị “bứng” khỏi quê hương mình Thơ Vi Thuỳ Linh gia nhập quỹđạo của thơ hiện đại một cách nhanh chóng và quyết liệt Nói theo cách của nhà thơ YPhương, thơ Vi Thùy Linh giống như vải thiều Hải Dương mang lên trồng ở đất CaoBằng - cái biến đổi lớn là không thể tránh khỏi Linh viết những câu thơ đầy khao khát:
Thềm mưa thềm mưa Phấn hoa bay trên làn da cẩm thạch Trời trong vắt như bình vang trắng Cơn gió đực
Làm tình một mình trên mái(1)
Anh tô son môi em chín chín lần
trong một buổi tối bằng môi anh
…Những người điếc nghe nhạc mải mê Những người mù say sưa chụp ảnh Những người câm reo cười nhún nhảy Những người liệt chạy tung tăng hoan hỉ