Vai trò của Kitô giáo trong văn hóa xã hội Nhật Bản giai đoạn từ 1945 đến nay Abstract: Khái lược về Kitô giáo và sự truyền bá vào Nhật Bản.. Thần Đạo, Phật giáo và Kitô giáo đã biểu hi
Trang 1Vai trò của Kitô giáo trong văn hóa xã hội Nhật
Bản giai đoạn từ 1945 đến nay
Abstract: Khái lược về Kitô giáo và sự truyền bá vào Nhật Bản Nghiên cứu
vai trò của Kitô giáo đối với giáo dục, y tế và công tác xã hội của Nhật Bản
từ 1945 đến nay Nghiên cứu vai trò của Kitô giáo đối với sinh hoạt văn hóa của Nhật Bản từ 1945 đến nay
Keywords: Châu Á học; Kitô giáo; Tôn giáo; Nhật Bản
Content
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG 4
MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG 1 13
KHÁI LƯỢC VỀ KITÔ GIÁO VÀ SỰ TRUYỀN BÁ VÀO NHẬT BẢN 13
1.1 Khái lược về Kitô giáo 13
1.2 Khái lược lịch sử truyền đạo Kitô vào Nhật Bản 19
CHƯƠNG 2 30
VAI TRÕ CỦA KITÔ GIÁO ĐỐI VỚI GIÁO DỤC - Y TẾ VÀ CÔNG TÁC XÃ HỘI NHẬT BẢN TỪ 1945 ĐẾN NAY 30
2.1 Vai trò của Kitô giáo đối với giáo dục Nhật Bản 31
2.2 Vai trò của Kitô giáo đối với y tế và công tác xã hội 41
CHƯƠNG 3 50
VAI TRÕ CỦA KITÔ GIÁO ĐỐI VỚI SINH HOẠT VĂN HÓA CỦA NHẬT BẢN TỪ 1945 ĐẾN NAY 50
3.1 Đám cưới theo phong cách Công giáo 51
3.2 Lễ Giáng Sinh 55
KẾT LUẬN 62
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
PHỤ LỤC 74
Trang 3MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Tìn ngưỡng nói chung và tôn giáo của một dân tộc nói riêng là một trong những yếu tố biểu hiện rõ nét nhất thế giới quan và nhân sinh quan của dân tộc đó Thần Đạo, Phật giáo và Kitô giáo đã biểu hiện rất rõ nét cách nhín thế giới của người Nhật số lượng những người theo đạo Kitô ở Nhật tương đối ìt, chiếm khoảng 1.1% dân số, song cộng đồng này có tiếng nói và những đóng góp nhất định trên lĩnh vực văn hóa - xã hội bằng những việc làm thiết thực góp phần trực tiếp hoặc gián tiếp vào sự tiến bộ
xã hội Nhật Bản, không chỉ làm thay đổi diện mạo văn hóa mà còn làm phong phú hơn bản sắc văn hóa dân tộc tạo tiền đề phát triển xã hội
2 Tình hình nghiên cứu đề tài luận văn
Hiện nay đã có không ìt những công trính nghiên cứu về Nhật Bản ở Việt Nam và thế giới trong đó có một số công trính đề cập đến tôn giáo ở Nhật Bản Nhưng viết chuyên về Kitô giáo Nhật Bản thí gần như chưa có
và lại càng khan hiếm những đề tài viết về vai trò của tôn giáo này đối với văn hóa xã hội Nhật Bản giai đoạn 1945 đến nay
Phạm Hồng Thái đã viết cuốn sách “Đời sống tôn giáo Nhật Bản hiện nay” Trong công trính này tác giả đã khái quát được diện mạo chủ yếu của tôn giáo Nhật Bản bằng việc đề cập đến hầu hết các tôn giáo chình như Thần đạo, Phật giáo, Kitô giáo và các giáo đoàn thuộc hệ Kitô giáo Tác giả cũng dành thời lượng chủ yếu để đề cập đến vấn đề tôn giáo trong đời
Trang 4sống văn hóa xã hội Nhật Bản hiện nay Tuy nhiên công trính chủ yếu viết
về sự xuất hiện của các tôn giáo mới và ảnh hưởng của chúng đến văn hóa
xã hội cũng như trong quá trính hiện đại hóa đất nước Nhật Bản mà không
đề cập nhiều đến Kitô giáo ngoại trừ một phần nói về giáo dục
Nguyễn Văn Kim với cuốn sách dày hơn 500 trang “Nhật Bản với châu Á – Những mối liên hệ lịch sử và chuyển biến kinh tế – xã hội” trên
cơ sở phân tìch mối quan hệ bang giao của Nhật Bản với một số nước tiêu biểu trong khu vực, tác giả đã cho người đọc một cái nhín tương đối đa diện và hệ thống về một số vấn đề tiêu biểu trong lịch sử xã hội cũng như đời sống văn hóa Nhật Bản Đặc biệt có một phần nói về xã hội Nhật Bản cuối thế kỷ XVI - đầu thế kỷ XVII qua con mắt của giáo sỹ Allesandro。
Tác giả Trương Ngọc Dũng trong cuốn Nhật Bản học, đã phân tìch
mối quan hệ giữa Tôn giáo và chình trị trong lịch sử Nhật Bản đồng thời
đề cập đến vai trò của đạo Thiên chúa đối với tiến trính hiện đại hóa Nhật Bản
Sueki Fumihiko với đã viết cuốn Lịch sử tôn giáo Nhật Bản Với
những kiến thức uyên thâm và lập luận chặt chẽ, ông đã như một ảo thuật gia sử dụng khái niệm này để bóc tách các tầng văn hóa có được bởi các tôn giáo nhằm tím ra cổ tầng, yếu tố chi phối toàn bộ tư duy, tư tưởng tôn giáo của Nhật Bản
Trong công trính Nghiên cứu tôn giáo Nhật Bản tác giả Joseph
M.Kitagawa đề cập đến hầu hết các loại tôn giáo ở Nhật Bản trong đó nhấn mạnh nhiều đến Phật giáo Tuy nhiên điểm hạn chế của đề tài là tác
Trang 5giả chưa trực tiếp đánh giá ảnh hưởng của tôn giáo đối với xã hội nói chung và đời sống tinh thần của xã hội Nhật Bản nói riêng cũng như chưa
đề cập đến vai trò của Kitô giáo ở Nhật Bản
Cuốn Lịch sử giáo hội công giáo Nhật Bản của Joseph Jennes, CICM
được xem như là một tài liệu chi tiết cho những ai muốn tím hiểu về lịch
sử giáo hội Nhật Bản Tác phẩm trính bày tương đối chi tiết về lịch sử hính
thành giáo hội Công Giáo Nhật Bản theo các mốc lịch sử Đặc biệt đề cập sâu đến phần ảnh hưởng của các sách vở Trung - Âu do các thừa sai Dòng Tên ở Trung Quốc viết và được bì mật đưa sang Nhật Bản Hơn nữa, một phần về số phận của các Kitô hữu lưu vong tại nhiều khu định cư khác nhau ở Đông Nam Á cũng được đề cập đến
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích
Luận văn tập trung làm rõ vai trò của Kitô giáo trong một số lĩnh vực văn hóa, xã hội nổi bật của Nhật Bản như: giáo dục, y tế - công tác xã hội, sinh hoạt văn hóa
3.2 Nhiệm vụ
Chứng minh được vai trò của tôn giáo này đối với một số lĩnh vực văn hóa xã hội Nhật Bản từ 1945 đến 2010
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Cơ sở lý luận: Luận văn chủ yếu vận dụng lý luận triết học duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử về tôn giáo để nghiên cứu
Trang 6Luận văn tham khảo một số công trính nghiên cứu chình của người Nhật và các học giả Việt Nam cũng như nước ngoài về lịch sử truyền giáo, tính hính đạo Kitô ở Nhật Bản (từ năm 1945 đến khoảng 2010), đồng thời khai thác một số công trính nghiên cứu của các tác giả Nhật Bản về mối quan hệ của Kitô giáo với sự phát triển của Văn hóa – xã hội Nhật Bản từ
1945 trở lại đây đặc biệt trên lĩnh vực hội nhập văn hóa Đông Tây; quá trính hiện đại hóa của văn hóa và xã hội Nhật Bản
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn vận dụng kết hợp các phương
pháp nghiên cứu như phương pháp phân tìch, so sánh hệ thống, khái quát nói chung trên cơ sở tiếp thu thành tựu có liên quan từ những tài liệu sẵn
có
6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Đóng góp thêm những nghiên cứu mới về vai trò của Kitô giáo trong đời sống văn hóa xã hội Nhật Bản từ 1945 đến 2010 thông qua một số lĩnh vực cụ thể
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận luận văn được chia thành 3 chương: Chương 1 Khái lược về Kitô giáo và sự truyền bá vào Nhật Bản
Chương 2 Vai trò của Kitô giáo đối với giáo dục, y tế và công tác xã hội của Nhật Bản từ 1945 đến nay
Chương 3 Vai trò của Kitô giáo đối với sinh hoạt văn hóa của Nhật
Trang 7Bản từ 1945 đến nay
CHƯƠNG 1 KHÁI LƯỢC VỀ KITÔ GIÁO VÀ SỰ TRUYỀN BÁ CỦA NÓ VÀO
NHẬT BẢN
1.1 Khái lược về Kitô giáo
Một trong ba tôn giáo lớn nhất thế giới hiện nay là Kitô giáo Kitô giáo xuất hiện vào thế kỷ thứ I ở khu vực phìa đông của đế quốc La Mã với chế độ chiếm hữu nô lệ
Trong thời cổ đại Kitô giáo bị những người theo Do Thái giáo đả kìch
và chình quyền La Mã đàn áp Sang thế kỷ II, tầng lớp quý tộc dần theo Kitô giáo làm thay đổi vị trì và ảnh hưởng của nó, đến cuối thế kỷ II, Kitô giáo trở thành quốc giáo của Đế chế La Mã
Đến thời trung cổ Kitô giáo chi phối mọi mặt đời sống kinh tế, chình trị, văn hóa, xã hội của nhiều nước phong kiến châu Âu Quá trính mở rộng ảnh hưởng của đạo Kitô đã gây ra nhiều cuộc xung đột, mâu thuẫn gay gắt giữa Kitô giáo với Do Thái giáo và Hồi giáo.Ngay trong bản thân Kitô giáo cũng nảy sinh mâu thuẫn gay gắt, quyết liệt dẫn đến sự phân hoá Kitô giáo lần thứ nhất vào năm 1054 thành 2 phái: Công giáo – thế lực lớn nhất
ở phìa Tây La Mã Chình thống giáo ở phìa Đông La Mã
Đến thế kỷ XVI, sự ra đời, phát triển của giai cấp tư sản và phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã xuất hiện yêu cầu cải cách Kitô giáo Kết quả cho ra đời Giáo hội cải cách gọi là Tin lành Cũng thời kỳ này vua Anh tách Công giáo ở Anh khỏi sự chỉ đạo của Giáo Hoàng và lập ra Anh giáo Ngày nay, Kitô giáo có hơn 400 dòng khác nhau trong đó có 4 nhánh
Trang 8lớn là Công giáo, Chình thống giáo, đạo Tin Lành và Anh giáo
Giáo lý Công giáo là một hệ thống từ giản đơn cho đến phức tạp của các học thuyết kinh viện với các quan điểm triết học và thần học siêu hính
Kinh thánh là một bộ sách gồm 73 quyển được chia làm 2 bộ Tân ước
và Cựu ước Kinh thánh bao gồm toàn bộ quan điểm, tư tưởng của giáo lý
và tìn điều của các đạo Kitô
Về cơ cấu tổ chức thí đứng đầu là Giáo hội bao hàm các giáo phẩm, tu
sĩ, giáo dân Cơ quan lãnh đạo giáo hội công giáo thế giới ở Toà thánh Vaticăng, do Giáo hoàng trực tiếp lãnh đạo, bên dưới là đoàn Hồng y giáo
Cơ quan chủ yếu của Toà thánh gồm có: Quốc vụ viện, Cục văn thư, Cục tài chình, Toà án, Thánh bộ và Ban bì thư
Với một lịch sử khoảng 2000 năm, Kitô giáo có ảnh hưởng to lớn đến đời sống sản xuất văn hóa các dân tộc, có tác dụng không nhỏ đối với sự phát triển chình trị, kinh tế, pháp luật, triết học, văn học nghệ thuật và khoa học kỹ thuật của nhiều quốc gia
1.2 Khái lƣợc lịch sử truyền đạo Kitô vào Nhật Bản
Kitô giáo xuất hiện trên đất nước mặt trời mọc vào thời điểm mà lịch
sử Nhật Bản gọi là sengoku jidai ( chiến quốc thời đại) hay giai đoạn xung
đột trong nước Năm 1549 những nhà truyền giáo dòng Tên đầu tiên là Francis Xavier (1506 – 1552) và Cosme Torres (1510 - 70) đã đến Kagoshima và đây là mốc đánh dấu sự có mặt của đạo Kitô trên xứ sở hoa anh đào Phạm vi hoạt động chủ yếu của họ là ở Kyushu
Kể từ năm 1601, Giáo Hội ở Nhật Bản đã bước vào một kỷ nguyên
Trang 9mới, kỷ nguyên của tự do tương đối và hưng thịnh Nagasaki trở thành trung tâm quan trọng nhất của đời sống Kitô giáo
Tuy nhiên tính hính thực sự đã thay đổi khi Ieyasu nhận thấy người Tây Ban Nha không mấy quan tâm đến buôn bán khiến ông bắt đầu có thái
độ nghi ngờ và vào năm 1605 ông đã tím đến với các mối quan hệ khác như với Hà Lan và Anh Năm 1612 ông chình thức quyết định cấm đạo Kitô, triệt phá một số nhà thờ và áp dụng những biện pháp kiên quyết đối với dân đạo trong giới quân sự, đặc biệt đối với những quân nhân cao cấp, tuy nhiên vẫn chưa tước quyền tự do tìn ngưỡng, tôn giáo của những người thuộc tầng lớp khác Nhiều nhà truyền giáo đã bị quản thúc tại nhà cho tới lúc chết và đã có nhiều người tử ví đạo ở Kyoto và Nagasaki
Năm 1636 Nhật chình thức ra sắc lệnh bế quan tỏa cảng theo đó mọi
giao thương với ngoại quốc của các tàu thuyền Nhật Bản bị chấm dứt Chình sách này đối với Kitô giáo chẳng khác nào nhổ cỏ tận gốc bằng việc ngăn chặn sự thâm nhập lén lút của các thừa sai vào Nhật Bản và không để bất cứ ảnh hưởng nào của Kitô giáo từ bên ngoài lọt vào được trong nước
Phủ Điều Tra Tôn Giáo được thành lập năm 1640 với nhiệm vụ tiêu diệt tất cả những người theo đạo Kitô còn sống sót và xóa sổ các vết tìch cuối cùng của tôn giáo ngoại quốc này ra khỏi đất nước Nhật Bản
Hậu quả tất yếu của các cuộc điều tra tôn giáo là hầu như không một người theo đạo Kitô nào còn sót lại nào mà không bị phát hiện cho dù người ấy đã cố che dấu đức tin của mính với một cái vỏ bề ngoài là bỏ đạo
mà các tài liệu của Nhật gọi là kakure kirisutan
Trang 10Giữa thế kỷ XIX, mâu thuẫn sâu sắc giữa kinh tế tư bản chủ nghĩa với quan hệ sản xuất phong kiến lỗi thời đã dẫn đến một thời kỳ sâu sắc Đây
là thời kỳ Nhật Bản bắt đầu công cuộc hiện đại hóa và vươn đến vị thế
cường quốc trên thế giới Đồng thời sau khi phái bộ Iwakura đi tuần du ở
Âu mỹ về, chình phủ Minh Trị thấy rõ sự gắn bó của người Tây phương với đối với đạo Thiên chúa và muốn Tây phương chấp nhận Nhật Bản nên
đã cho triệt hồi lệnh cấm Đạo vào năm 1873 Từ đó các nhà truyền đạo Kitô đã vào Nhật cuối thời Tokugawa để giúp đỡ về giáo dục và y liệu mới
có điều kiện để tìch cực truyền đạo Trên cơ sở đó Đạo Kitô đã có một vài đóng góp nhất định đặc biệt là vấn đề giáo dục và các phong trào liên kết thương mại
Riêng trường hợp đạo Tin lành thí có mặt ở Nhật muộn hơn so với các nhánh khác Năm 1854, Nhật Bản xoá bỏ chình sách “Bế quan toả cảng”, các tổ chức truyền giáo Âu - Mỹ đã tận dụng điều đó và từ năm 1859 đã gửi các nhà truyền giáo Tin Lành đến Nhật Bản
Sau lệnh dỡ bỏ việc cấm đạo (1873), các hoạt động của đạo Tin Lành mặc nhiên được thừa nhận đã mở ra một giai đoạn phát triển mới mạnh mẽ hơn trước Những nỗ lực hoạt động từ trước đó cho đến lúc này (1873) của các nhà truyền giáo Tin Lành ở Nhật Bản đã đạt được những thành quả nhất định Từ đây, Nhật Bản bước vào giai đoạn sùng bái phương Tây nhất là thập niên 80 của thế kỷ XIX, xu hướng phương Tây hoá trở nên thịnh hành đến mức thành trào lưu xã hội
Khi cuộc chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc và cuộc chiếm đóng nước Nhật bắt đầu, các nhà truyền đạo ngoại quốc quay trở lại hoạt động Các
Trang 11tìn đồ Kitô Nhật phải vượt qua một thời kỳ khó khăn để hàn gắn các vết thương chiến tranh về thể chất cũng như tinh thần Vào lúc nhiều người mất lòng tin vào nước Nhật và nhiệt tính hướng đến với nước Mỹ, đạo Kitô đã gây được sự chú ý, nhưng những thành tìch lâu dài thực sự lại thuộc về các phong trào tìn ngưỡng mới của Nhật Bản như Soka Gakkai, được xây dựng trên truyền thống tìn ngưỡng của người Nhật
Mặc dù công cuộc truyền đạo vẫn tìch cực nhưng nó cũng không làm gia tăng số lượng tìn đồ là mấy Từ 1985 trở lại đây mặc dù số lượng những người theo đạo Kitô ở Nhật có chiều hướng tăng lên nhưng mức độ tăng không đáng kể Hiện nay số lượng dân số Nhật theo đạo Kitô cũng vẫn khiêm tốn với hơn 1%, ìt hơn rất nhiều so với Phật giáo và Thần đạo
Hiện nay tại Nhật có 47 giáo xứ phân bố trong 16 giáo phận là:
Sapporo, Sendai, Niigata, Saitama, Tokyo, Yokohama, Nagoya, Kyoto, Osaka, Hiroshima, Takamatsu, Fukuoka, Nagasaki, Oita, Kagoshima,
Naha
Chình sách cấm đạo của Nhật Bản nhín chung là một chình sách phổ biến của các nước Châu Á trong buổi đầu tiếp xúc với văn minh phương Tây Điểm xuất phát của nó là từ sự lo ngại khả năng xâm lược quốc gia của những nước phương Tây hùng mạnh
CHƯƠNG 2 VAI TRÕ CỦA KITÔ GIÁO ĐỐI VỚI GIÁO DỤC - Y TẾ VÀ CÔNG
TÁC XÃ HỘI NHẬT BẢN TỪ 1945 ĐẾN NAY
Trang 122.1 Vai trò của Kitô giáo đối với giáo dục Nhật Bản
Về mặt giáo dục, Nhật Bản là một trong số các quốc gia phát triển trên thế giới Điều này đã tạo cơ sở cho sự phát triển kinh tế và công nghiệp của đất nước Nhật Bản trong thời kỳ hiện đại
Tôn giáo tham gia vào giáo dục là một hiện tượng có từ lâu trong lịch
sử Nhật Bản Điển hính là việc mở trường dạy học của các Thiền phái Phật
giáo có ngay từ thời Kamakura (terakoya) Việc các giáo phái quan tâm
đến giáo dục trước hết là do họ quan tâm đến việc đào tạo nhân lực, đào tạo những người kế tục sự nghiệp và cũng là cách để thu hút tìn đồ Trước chiến tranh chỉ có một số ìt các giáo phái và tổ chức tôn giáo quan tâm đến giáo dục như Konkoukyo và Tenrikyo Nhưng sau chiến tranh các tổ chức trên vẫn tăng cường sự nghiệp của mính đồng thời một số giáo phái khác bắt đầu tăng cường đầu tư mạnh vào giáo dục đặc biệt là thành lập thêm nhiều trường trung học phổ thông và trung học bậc cao
Các nhà truyền đạo Kitô đến Nhật Bản vào thế kỷ XVI đã thử nhiều phương pháp khác nhau để tiếp cận người Nhật và giới thiệu Đức Tin đến
họ Các trường Kitô có ở Nhật Bản từ sau năm 1868, đó là thời điểm nước Nhật còn trong giai đoạn lộn xộn và ví Kitô giáo còn bị cấm nên nhiều nhà truyền giáo lập ra các trường dưới danh nghĩa trường tư thục, đặc biệt là trường tư thục dạy tiếng Anh Các trường này có thể là do các đoàn truyền giáo lập ra, cũng có thể do các nhà truyền giáo được mời đến dạy ở một trường có sẵn
Tháng 8 năm 1945 Nhật đầu hàng quân đồng minh và do hậu quả của
Trang 132 quả bom giáng xuống Nhật Bản mà hầu hết các trường học phải đóng cửa trong nhiều tháng.Thêm vào đó là tính trạng “bùng nổ trẻ em” xuất hiện từ năm 1940, mà sau chiến tranh nhu cầu về trường học tăng rất nhanh Năm 1949 sắc lệnh về trường tư được công bố, cho phép các cá nhân và tổ chức được phép mở trường với những điều kiện cụ thể Một số trường hính thành từ những cơ sở trước đó là những trường chuyên, trường ngoài giờ, giống như đại học Tenri ( của giáo phái Tenrikyo), Đại học Meiji Gakuin ( của giáo phái Tin Lành) Điểm đặc biệt của hoạt động giáo dục của các tổ chức tôn giáo ngày nay là khoảng 2/3 các trường loại này là trường Kitô giáo Hiện nay trên toàn nước Nhật có tổng cộng 620 trường học (từ cấp phổ thông cho tới đại học, cao đẳng) là của các tổ chức Kitô giáo, chiếm 1,2% tổng số các trường phổ thông ở Nhật, 7% các trường tư thục Có 67,4% các trường tư thục của các tổ chức tôn giáo ở Nhật là trường Kitô giáo
Trong nửa đầu thế kỷ XX, Kitô giáo gặp một số khó khăn nhưng vẫn
có một số trường mới được lập ra Hệ thống các trường Kitô giáo rất đa dạng từ vườn trẻ, tiểu học, trung học bậc thấp, trung học bậc cao, đại học, học viện… Mặc dù các trường này là của tổ chức tôn giáo hoặc ìt nhất người sáng lập là những người theo đạo Kitô thành lập trường trên niềm tin tìn ngưỡng nhưng nội dung giảng dạy trong trường lại cực kỳ phong phú Một số trường của Kitô giáo hiện có ở Nhật Bản phải kể đến như Đại học nữ Công giáo Tokyo (Tokyo Woman's Christian University), Đại học Công giáo Ibaraki (Ibaraki Christian College), Đại học Công Giáo quốc tế (International Christian University), Đại học Công giáo Tokyo (Tokyo Christian University) …
Trang 14Khoảng 10 năm sau cuộc chiến tranh thế giới thứ 2 số lượng các trường Công giáo ở Nhật tăng lên nhanh chóng đến mức người ta dùng
cụm từ “bùng nổ trường Công giáo” Số lượng học sinh sinh viên ghi danh
vào những trường này ngày càng đông Một trong những lý do đó là có nhiều giáo viên là người nước ngoài dạy trong những trường này Thêm vào đó ngoại ngữ đều được dạy bởi các nhà truyền giáo bằng chình tiếng
mẹ đẻ của họ Các bậc phụ huynh quan tâm đến các trường Công giáo một phần ví nền giáo dục đạo đức ở đây
Các trường học của Kitô giáo tạo cơ hội học tập cho phụ nữ và gián tiếp cung cấp lực lượng nữ có trính độ góp phần làm dồi dào nguồn lao động Nhật Bản thời hậu chiến Mặc dù đã có một số lượng các trường cao đẳng nữ thục và một số rất nổi tiếng nhưng nhín chung cơ hội cho phụ nữ học lên cấp học cao thí không nhiều Và trong thời gian sau đó các nhà truyền đạo Kitô đã tham gia vào việc xây dựng một số trường học ở cấp học cao Trường học trong hệ thống Kitô giáo là nơi chấp nhận và khuyến khìch các học sinh nữ Họ được xem như những người đã mở rộng cơ hội cho phụ nữ được học ở cấp cao hơn
Các trường học của Giáo hội thường là nơi duy nhất cung cấp các cơ hội giáo dục cho thiếu nữ, các dân tộc ìt người, người nghèo ở thôn quê và trẻ em kém may mắn Nhiều người Nhật cũng tham gia học ở các trường
do các tổ chức tôn giáo thành lập ở thế kỷ XVI, XVII Ví các trường này đều được các giáo hội nước ngoài tài trợ nên các trường học kiểu này hoàn toàn miễn phì Đây chình là cơ hội để những người nghèo cũng được đến trường đi học trong khi truyền thống của Nhật là giáo dục chỉ dành cho giới quý tộc, người giàu Do vậy việc thành lập các trường học kiểu này đã