1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tóm tắt luận án tiến sĩ thơ dân tộc tày từ 1945 đến nay

25 590 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 191 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu - Việc tìm hiểu, nghiên cứu những đặc điểm của thơ ca dân tộc Tày từnăm 1945 đến nay góp phần tìm hiểu, soi sáng một bộ phận quan trọngtrong bức tranh văn học các dân

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Ngay từ khi mới ra đời, thơ dân tộc thiểu số nói riêng và văn họcnghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam nói chung đã là một bộ phậnkhông thể tách rời của nền văn học nghệ thuật Việt Nam, góp phần làm nênmột tiếng nói độc đáo, giàu bản sắc Trong đó, với bốn thế hệ tiếp nối nhau,

có thể thấy đội ngũ các nhà thơ dân tộc Tày vẫn chiếm số lượng đông đảonhất và cũng là dân tộc có nhiều thành tựu nhất so với các dân tộc thiểu sốkhác Một tín hiệu đáng mừng là dân tộc Tày cũng là dân tộc có được độingũ kế cận tương đối nhiều và đồng đều để tiếp bước thế hệ trước

1.2 Thực trạng nghiên cứu văn học dân tộc thiểu số nói chung, thơ dântộc thiểu số nói riêng hiện nay còn nhiều hạn chế Các công trình đã cóphần nhiều dành cho việc tổng kết theo giai đoạn hoặc từng dân tộc nhưngcòn thiếu sự chuyên sâu Bên cạnh đó là những công trình phác thảo diệnmạo theo hướng tập trung những gương mặt tiêu biểu Bởi vậy, việc nghiêncứu một cách hệ thống, toàn diện về thơ ca các dân tộc thiểu số, trong đókhông thể thiếu thơ dân tộc Tày là một công việc có ý nghĩa thiết thực Xuất

phát từ những lí do đó, chúng tôi lựa chọn Thơ dân tộc Tày từ 1945 đến nay

làm đề tài nghiên cứu cho luận án

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Việc tìm hiểu, nghiên cứu những đặc điểm của thơ ca dân tộc Tày từnăm 1945 đến nay góp phần tìm hiểu, soi sáng một bộ phận quan trọngtrong bức tranh văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam, từ đó có cái nhìntương đối đầy đủ, toàn diện về những đặc điểm nổi bật, độc đáo của thơ cadân tộc Tày trên các bình diện đội ngũ, nội dung và hình thức nghệ thuật,những phong cách sáng tạo độc đáo

- Luận án với mục tiêu phác hoạ lại diện mạo thơ của dân tộc Tày từ

1945 đến nay nhưng đặc biệt nhấn mạnh vào sự ảnh hưởng của văn hóa

Trang 2

vùng đến những sáng tác Trong mỗi phần giải quyết những luận điểm cụthể, chúng tôi luôn có ý thức phân tích theo hướng đối chiếu, so sánh để nhận

rõ hơn những điểm tương đồng và nhất là những khác biệt của thơ dân tộcTày so với sự phát triển chung của thơ dân tộc Kinh cũng như so với sự thayđổi của thơ ca các dân tộc thiểu số khác như Thái, Mông, Dao, Mường

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận án lấy mốc bắt đầu từ năm 1945 để khảo sát Đây là thời điểm mànhiều nhà nghiên cứu văn học đã lựa chọn và thừa nhận sự biến chuyển lớncủa văn học Việt Nam hiện đại nói chung và văn học dân tộc thiểu số/ dântộc Tày cũng không ngoại lệ

Luận án sẽ tập trung nghiên cứu các tác phẩm thơ của các tác giả dântộc Tày từ năm 1945 đến nay; bên cạnh đó là một số tác phẩm thơ dântộc Tày trước năm 1945, kho tàng thơ ca dân gian Tày; tác phẩm thơ củacác dân tộc thiểu số khác như Thái, Mông, Dao, Mường và những tácphẩm thơ của dân tộc Kinh cùng giai đoạn để có cái nhìn hệ thống; cáccông trình, bài nghiên cứu về thơ ca dân tộc Tày nói riêng và các côngtrình nghiên cứu về thơ/ văn dân tộc thiểu số nói chung; một số tài liệu

về lý luận, lý thuyết có liên quan đến đề tài

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận án chủ yếu tiếp cận vấn đề bằng việc sử dụng kết hợp các phươngpháp nghiên cứu vừa truyền thống vừa hiện đại để từ đó lý giải, xác lập luận

điểm, luận cứ và rút ra những kết luận cần thiết: Phương pháp văn học sử, phương pháp phân tích và tổng hợp, một số thao tác bổ trợ: đối chiếu, so sánh, thống kê Ngoài ra luận án vận dụng thi pháp học hiện đại để khảo

sát các hình thức nghệ thuật của thơ dân tộc Tày từ 1945 đến nay, đồng thờikết hợp với phương pháp phong cách học để định ra những đặc trưng cơ bảncủa một số tác giả Để triển khai các luận điểm, lý giải một số vấn đề, chúng

tôi còn sử dụng một số phương pháp của các khoa học liên ngành.

5 Đóng góp mới của luận án

5.1 Đây là công trình nghiên cứu có quy mô và hệ thống về thơ dân tộc

Trang 3

Tày trong hơn nửa thế kỷ trên các bình diện như: đội ngũ nhà thơ dân tộcTày từ 1945 đến nay; sự thay đổi cảm hứng trong hai giai đoạn phát triển;những đặc điểm nổi bật trong nghệ thuật thể hiện và một số phong cáchsáng tạo của thơ dân tộc Tày qua hơn nửa thế kỷ phát triển

5.2 Khi nghiên cứu những tác phẩm thơ dân tộc Tày không chỉ dướigóc độ nghiên cứu văn học mà còn từ góc độ văn hóa học, chúng tôi chỉ rõnhững kế thừa từ mạch nguồn văn hóa dân gian, sự cách tân ở từng tác giả,tác phẩm và những dấu vết của sự sáng tạo để đổi mới ngôn ngữ, thểloại ; khảo sát hệ thống biểu tượng để thấy được sức sống bền bỉ của vănhóa dân tộc Tày lưu truyền đến thời kỳ hiện đại

6 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, thư mục tài liệu tham khảo và phụ lục,luận án được sắp xếp thành bốn chương:

Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Hiện thực đời sống trong thơ dân tộc Tày từ 1945 đến nay Chương 3: Các phương diện nghệ thuật cơ bản của thơ dân tộc Tày từ

1945 đến nay

Chương 4: Một số phong cách sáng tạo trong thơ dân tộc Tày từ

1945 đến nay.

Trang 4

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Tình hình nghiên cứu thơ dân tộc Tày từ 1945 đến nay

1.1.1 Tình hình nghiên cứu thơ dân tộc thiểu số từ 1945 đến nay

Dù đã dành được sự đầu tư nhất định nhưng do nhiều yếu tố khách quan

và chủ quan nên việc nghiên cứu thơ dân tộc thiểu số vẫn còn trong tìnhtrạng sơ lược Các công trình đã có tập trung theo ba hướng:

- Nghiên cứu về đội ngũ: Đội ngũ những người sáng tác thơ dân tộcthiểu số ngày càng gia tăng về số lượng, có mặt trên nhiều vùng miền dântộc và được bổ sung từ nhiều nguồn khác nhau Bàn đến vấn đề đội ngũ

người dân tộc có thể kể đến những bài viết của Hoàng Tuấn Cư với Văn học dân tộc thiểu số và vấn đề đội ngũ tác giả người dân tộc, Chẩm Hương Việt với Chương trình trọng tâm đối với văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số, Dương Thuấn với Cần nâng cao chất lượng văn học viết về dân tộc và miền núi, K.Đích với Phát triển đội ngũ sáng tác là người dân tộc thiểu số ở Nam Tây Nguyên

- Nghiên cứu theo hướng khái quát, đưa ra những đặc điểm chung, pháchọa diện mạo và chỉ ra những điểm thành công và cả những hạn chế về nội

dung, nghệ thuật: Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam trước cách mạng tháng Tám năm 1945 (Phan Đăng Nhật, Nxb Văn hóa dân tộc, H, 1981); Văn học các dân tộc thiểu số - từ một diễn đàn, (Nhiều tác giả, Nxb Văn hóa dân tộc, H, 1999); Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam thời kỳ hiện đại - một số đặc điểm (Trần Thị Việt Trung, Cao Thị Hảo đồng chủ biên, Nxb.

ĐH Thái Nguyên, 2011) Trong đó, Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại (Nxb Văn hóa dân tộc, H, 1995) của Lâm Tiến có thể coi là một

công trình nghiên cứu qui mô nhất về văn học các dân tộc thiểu số Việt Namhiện đại từ trước cách mạng tháng Tám năm 1945 trên cả ba lĩnh vực: thơ,văn xuôi và kịch

- Nghiên xứu theo hướng nhận diện những gương mặt tiêu biểu Có thể

kể đến: Hoa văn thổ cẩm của Lò Ngân Sủn (3 tập, Nxb Văn hóa dân tộc,

H, 1998, 1999, 2002); Tuyển tập Văn học dân tộc miền núi (Nông Quốc

Chấn chủ biên, Nxb Giáo dục, H, 1998) Tiêu biểu nhất, đầy đủ nhất tính

đến thời điểm hiện tại là hai tập Nhà văn dân tộc thiểu số đời và văn của

Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam với việc giới thiệu

Trang 5

87 tác giả văn thơ trên tất cả các vùng miền của văn học dân tộc thiểu sốthời kỳ hiện đại.

Từ thực trạng nghiên cứu như chúng tôi vừa phân tích, có thể khẳngđịnh những nghiên cứu đã có vẫn chưa thực sự đáng kể so với đội ngũtác giả và khối lượng tác phẩm đồ sộ ngày một sung sức của thơ dân tộcthiểu số

1.1.2 Tình hình nghiên cứu thơ dân tộc Tày từ 1945 đến nay

1.1.2.1 Những công trình khái quát, tổng kết

- Nghiên cứu thơ Tày hiện đại trước 1986 tiêu biểu có Nông Quốc

Chấn với ba công trình phê bình tiểu luận: Đường ta đi (1970), Một vườn hoa nhiều hương sắc (1977), Chặng đường mới (1985)

- Các tác giả người Kinh có nhiều đóng góp cho việc nghiên cứu văn họcdân tộc Tày như Tô Hoài, Phạm Quang Trung, Nguyễn Trọng Hoàn, TrinhĐường với nhiều bài viết có giá trị

- Liên quan trực tiếp đến luận án là những công trình đánh giá về diện

mạo chung của thơ Tày có Bản sắc dân tộc trong thơ ca các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại - Khu vực phía Bắc Việt Nam (Nxb Đại học

Thái Nguyên, 2010) Các tác giả dành một chương để khái quát về tínhchất “dòng riêng giữa nguồn chung” của thơ Tày hiện đại và một sốgương mặt tiêu biểu Tuy nhiên một số nhận định vẫn còn sơ lược vàthiên về thế hệ thứ nhất và thứ hai của thơ Tày hiện đại, chưa bao quátđược những chuyển động mạnh mẽ của thơ Tày giai đoạn sau Bên cạnh

đó là một số bài viết như Dương Thuấn, Nhìn lại văn học dân tộc Tày trên tạp chí Nghiên cứu văn học, số 9-2006; Đỗ Thị Thu Huyền, Thơ ca Tày hiện đại qua một số gương mặt tiêu biểu trên tạp chí Nghiên cứu văn học, số 5-2008

1.1.2.2 Những công trình về các tác giả, tác phẩm cụ thể

Ngoài số lượng lớn các bài phê bình trên các báo, tạp chí về những tácphẩm tiêu biểu cụ thể của thơ dân tộc Tày, số lượng bài viết về thơ củatừng tác giả cũng chiếm số lượng đáng kể (tập trung vào những tác giả cóphong cách độc đáo) Tuy nhiên, những bài viết này cũng phần nào làm

hiện lên diện mạo chung của thơ dân tộc Tày hiện đại Có thể kể đến: Nhà văn các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại giới thiệu về 7 tác Triều Ân, Vi

Thị Kim Bình, Nông Quốc Chấn, Nông Minh Châu, Hoàng Hạc, Vi Hồng

và Nông Viết Toại; Tuyển tập văn học dân tộc miền núi của Nxb Giáo dục

Trang 6

gồm 8 tập, 3 tập đầu là những bài phê bình về thơ dân tộc thiểu số (tập 1 và

2 xuất bản năm 1998, tập 3 xuất bản năm 1999) Trong đó có 19 tác giả dân

tộc Tày được giới thiệu; Nhà văn dân tộc thiểu số - Đời và văn có 32 tác giả

dân tộc Tày trong tổng số 87 tác giả - một con số ấn tượng, vượt xa các dântộc thiểu số khác có mặt trong tuyển tập

Có thể thấy, cũng như thơ dân tộc thiểu số nói chung, hiện chưa cócông trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và kĩ lưỡng về thơ dân tộcTày từ 1945 đến nay, đây vừa là thuận lợi nhưng cũng là một thách thứckhi chúng tôi triển khai đề tài Cùng với tình hình nghiên cứu nói trên, mộttrong những đặc điểm quan trọng của thơ dân tộc thiểu số nói chung, thơdân tộc Tày từ 1945 đến nay nói riêng là sự bám sát và phát huy truyềnthông văn hóa văn học của dân tộc Cho nên, để có thể nhận thức một cáchsâu sắc đặc điểm thơ dân tộc Tày từ 1945 đến nay, không thể không nóiđến truyền thống văn hóa Tày

1.2 Văn hóa dân tộc Tày

1.2.1 Đặc điểm tộc người và điều kiện tự nhiên

Người Tày là dân tộc thiểu số đông nhất ở miền Bắc, sinh sống rải ráchầu hết khắp các tỉnh thượng du và trung du Bắc bộ, từ tả ngạn sông Hồng

đến vịnh Bắc bộ Theo Tổng hợp số dân và phân bố các dân tộc của cả nước và theo tỉnh, dân tộc Tày có 1.626.392 người, trong đó có những nơi

tập trung đông hơn cả là Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Hà Giang,Bắc Kạn

1.2.2 Văn hóa vật chất

Người Tày cũng như nhiều dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc và Tây Bắc

có tập quán cư trú thành làng bản Trong mỗi bản làng của người Tày thìquan hệ huyết thống là mật thiết nhất

Ngôi nhà truyền thống của người Tày là nhà sàn, có bộ sườn làm theokiểu vì kèo 4, 5, 6 hoặc 7 hàng cột, phổ biến là kiểu nhà 3 gian 2 chái Các

bộ phận chính gồm có mái nhà, bộ cột kèo và xuyên, sàn nhà, phên vách;

bộ phận phụ gồm có máng đựng nước rửa chân, cầu thang, cửa ra vào, sànnước, gác và gác bếp, sàn phơi

Bộ y phục cổ truyền của người Tày làm từ sợi vải bông tự dệt, nhuộmchàm Nhìn chung, trang phục của cả nam và nữ giới dân tộc Tày tươngđối giản dị chân phương về màu sắc, cách tạo hình, kiểu cách và hầu nhưkhông có hoa văn trang trí

Trang 7

1.2.3 Văn hóa tinh thần

1.2.3.1 Tiếng nói, chữ viết

Tiếng nói của dân tộc Tày cũng như những dân tộc thuộc cùng nhómngôn ngữ đã phát triển khá cao, hệ thống từ vựng của các thứ tiếng này rấtphong phú, đủ sức phản ánh những nội dung liên quan đến các vấn đề vềkinh tế - văn hóa - xã hội

Chữ Nôm Tày xây dựng trên mẫu tự tượng hình, gần giống chữ NômViệt ra đời khoảng thế kỷ XV nhưng không được thông dụng Sau Cáchmạng tháng Tám, dân tộc Tày cũng như các dân tộc thiểu số khác đã dùngchữ quốc ngữ (từ chữ cái latinh) ghi âm tiếng nói dân tộc mình, nhiều nhàthơ, nhà văn cũng dùng chữ này để sáng tác

1.2.3.2 Tín ngưỡng, lễ hội

Hình thức thờ cúng quan trọng nhất trong đời sống tâm linh củangười Tày là thờ cúng tổ tiên Bên cạnh đó, người Tày còn thờ các vịthần che chở bảo vệ cho gia đình, làng bản: mẹ Hoa (bà Mụ - vị thần caiquản và bảo hộ cho trẻ em), thờ vua bếp (đặt ngay trong bếp), thờ thầntài, thờ thổ công

Để cầu mong sự bảo vệ, che chở và phù hộ của thần linh, hàngnăm đồng bào Tày tổ chức rất nhiều nghi lễ cúng (hội lồng tồng, hộiNàng Hai…)

1.2.3.3 Văn học dân gian

Điểm đặc biệt đáng chú ý trong văn học dân gian Tày là kho tàngtruyện thơ Nôm truyền miệng, với nội dung rất phong phú Bên cạnh đó,các loại hình ca dao, bài lượn, then, tục ngữ, câu đố của người Tày hết sứcphong phú phản ánh tất cả các mặt của đời sống xã hội, trong quan hệ giữacon người với con người, con người với thiên nhiên

1.3 Đội ngũ nhà thơ dân tộc Tày từ 1945 đến nay

1.3.1 Trước 1945

Một số tác giả thơ văn là những trí thức nho học như Bế Văn Phụng(1567-1637), Nông Quỳnh Văn (1566-1640), nổi tiếng với những bài lượn

được truyền khẩu rộng rãi trong dân gian (Lượn Tam nguyên, Lượn Tứ quý).

Tiếp đó là một số tác giả như Bế Hữu Cung (1757-1820), Hoàng Ích Ngọ(1766-1828), Hoàng Ích Thặng (1783-1853) Cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ

XX, thơ Tày đánh dấu một thời kỳ phát triển mới với một số tên tuổi: Hà VũBằng, Bế Ích Bồng, Nông Đình Cấp, Bế Đức Cốm Tiêu biểu nhất là Hoàng

Trang 8

Đức Hậu (1890 - 1945) với một số lượng tác phẩm đồ sộ bằng cả tiếng Tày,tiếng Việt và tiếng Hán.

1.3.2 Từ 1945 đến nay

1.3.2.1 Bốn thế hệ nhà thơ sau 1945

Thế hệ đặt nền móng cho văn học các dân tộc thiểu số nói chung cũngnhư văn học hiện đại dân tộc Tày nói riêng có thể kể đến Nông Quốc Chấn,Nông Minh Châu, Bế Sĩ Uông, Nông Viết Toại, Hà Phan, Hoàng Hóa Thế hệ thứ hai của thơ dân tộc Tày với một lực lượng hùng hậu: NôngVăn Bút, Hoàng Hạc, Hoàng Trung Thu, Triều Ân, Hoàng Định, Bế ThànhLong, Bế Dôn, Ma Đình Thu, Hoàng An, Hoàng Luận, Vân Hồng, TriệuLam Châu, Y Phương, Mai Liễu, Nguyễn Thị Đua, Ma Trường Nguyên,Triệu Sinh, Trần Thị Thu Nhiễu, Vi Thị Kim Bình, Triệu Đức Xuân

Thế hệ thứ ba, thơ Tày có một đội ngũ nhà thơ dân tộc thiểu số vững vềtay nghề và có những đóng góp tích cực cho văn học nghệ thuật nước nhà:Triệu Thị Mai, Hoàng Thị Diệu Tuyết, Ma Phương Tân, Lương Định,Nông Thị Ngọc Hòa, Đoàn Lư, Đoàn Ngọc Minh, Hữu Tiến, DươngThuấn, Tạ Thu Huyền, Hoàng Minh Thông, Dương Khâu Luông, Ma Kim

Ly, Hà Thị Hải Yến, Vi Thị Thu Đạm

Thế hệ thứ tư là những nhà thơ tuổi đời còn rất trẻ, tuy vậy cũng đã cómột số tác giả thành danh từ khá lâu và một số mới bắt đầu sự nghiệp cầmbút của mình, có thể kể đến: Bế Phương Mai (1972), Nông Thị Tô Hường(1978), Nông Văn Lập, Đinh Thị Mai Lan (1979), Vi Thùy Linh (1980),Hoàng Chiến Thắng (1980), Phạm Văn Vũ (1982), Ngô Bá Hòa (1985)

1.3.2.2 Ba xu hướng biến đổi của thơ Tày từ 1945 đến nay

- Xu hướng truyền thống: Ở xu hướng này, đầu tiên cần chú ý đặc biệttới các nhà thơ thuộc thế hệ thứ nhất Những tác giả này có sự gần gũi vớinhững người cách mạng, những văn nghệ sĩ cách mạng và được họ dìu dắt

cả trên con đường đấu tranh lẫn con đường sáng tạo nghệ thuật buổi đầu.Những sáng tác thời kỳ này mang nét hồn nhiên, chân thành, thô mộc củanhững người miền núi lần đầu tiên được tiếp xúc với những điều mới mẻcủa miền xuôi Ta thấy được cái phong cách truyền thống đậm nét trongnhững sáng tác của Hoàng Văn Thụ, Nông Quốc Chấn, Nông Minh Châu,Nông Viết Toại, Ma Trường Nguyên Có thể thấy, qua thơ họ truyềnthống của văn học dân gian Tày được kế thừa một cách xuất sắc

- Xu hướng dân tộc và hiện đại: tiêu biểu có Y Phương, Mai Liễu,

Trang 9

Dương Thuấn, Dương Khâu Luông thế hệ trẻ có Nông Thị Tô Hường,Hoàng Chiến Thắng, Phạm Văn Vũ… Trong thơ của họ, ảnh hưởng củavăn hóa Tày rất rõ, họ ý thức được vai trò của nguồn cội, truyền thốngtrong sáng tạo nghệ thuật và thiên chức cao cả của những người cầm bút,

và thường lấy cảm hứng sáng tác từ những tiết tấu trong cuộc sống đờithường của con người miền núi

- Xu hướng hiện đại hóa: Xu hướng hiện đại hóa bao gồm sáng tác củacác tác giả thực sự vươn tới sự đổi mới trên tinh thần thời đại, mang yếu tốhiện đại, không mang ảnh hưởng sâu đậm của văn học dân gian Tày Nhiềukhi chúng ta khó nhận ra dấu ấn Tày trong đó, có thể kể đến Bế ThànhLong, Triều Ân, Nông Thị Ngọc Hòa (trong giai đoạn sau của sự nghiệpsáng tác), Hoàng Kim Dung, Vi Thuỳ Linh… Trong thơ họ cách diễn tả,nguồn cảm hứng, cách tư duy đã bắt đầu có sự thay đổi rõ Xu hướng hiệnđại hóa dường như là một sự phát triển tất yếu của thơ ca Tày nói riêng vàvăn học, văn hóa các dân tộc

Chương 2 HIỆN THỰC ĐỜI SỐNG TRONG THƠ DÂN TỘC TÀY TỪ 1945 ĐẾN NAY

2.1 Hai giai đoạn phát triển của thơ dân tộc Tày sau 1945

Từ 1945 đến 1975, thơ dân tộc Tày hình thành và phát triển trên cái nềncủa hiện thực nhiều biến động - đó là cuộc kháng chiến của dân tộc, cùngvới đó là sự quan sát học hỏi từ một nền thơ nhiều thành tựu (trong tươngquan với thơ của các tác giả miền xuôi) Giai đoạn này, thơ dân tộc Tày chủyếu viết về những cảm nhận của đồng bào miền núi khi có ánh sáng Đảngsoi đường, sự thức tỉnh của những người giác ngộ cách mạng và cái anh

dũng quật cường của con người trong chiến đấu chống giặc: Tiếng ca người Việt Bắc, Đèo gió của Nông Quốc Chấn, Cưa khửn đông (Muối lên rừng) của Nông Minh Châu, Đét chang nâư (Nắng ban trưa) của Nông Viết Toại, Nắng ngàn, Bốn mùa hoa… của Triều Ân

- Nếu như giai đoạn 1945-1975, thơ Tày có sự tập trung cao, tất cảhướng về cuộc sống và chiến đấu của người miền núi thì sau 1975, sự phânhóa phức tạp dần bộc lộ rõ Giai đoạn từ 1975 đến nay thơ dân tộc Tày cónhững chuyển biến mạnh mẽ không chỉ đội ngũ sáng tác mà còn có những

Trang 10

phát triển vượt bậc về chất lượng những tác phẩm Có thể kể đến Cỏ may,

Ở nguồn của Bế Thành Long; Tiếng hát tháng Giêng, Lời chúc, Chín tháng của Y Phương; Tiếng lá rừng gọi đôi, Câu hát vắt qua vai, Bắc cầu vồng thăm nhau của Ma Trường Nguyên; Tìm tuổi, Giấc mơ của núi, Đầu nguồn mây trắng của Mai Liễu; Đi tìm bóng núi, Đi ngược mặt trời, Hát với sông Năng của Dương Thuấn; Tương tư, Núi và hòn đá lẻ của Lương Định; Trăng sáng trên non, Ngọn lửa rừng của Triệu Lam Châu; Trước gương, Lời của lá, Con đường cho mây đi của Nông Thị Ngọc Hòa rồi thế

hệ trẻ hơn có Dương Khâu Luông với Gọi bò về chuồng, Dám kha cần ngám điếp, Bản mùa cốm, Co nghịu hưa cần, Lửa ấm bản Hon; Tạ Thu Huyền với Đầy vơi; Đinh Thị Mai Lan với Tiếng đàn đêm; Bế Phương Mai với Bài thơ cho cha…

2.2 Đời sống và tâm thế con người dân tộc Tày

2.2.1 Quê hương

- Hình ảnh thiên nhiên trong thơ của các nhà thơ dân tộc Tày nói riêng

và thơ dân tộc thiểu số nói chung hầu hết đều khai thác nét đẹp của nhữngnúi rừng, những dòng sông, dòng thác đổ nghiêng trời hay đèo cao, núisâu Nhưng từ những điểm chung đó, mỗi tác giả lại tìm ra một cách truyền

tải mới lạ để thể hiện cách cảm của riêng mình: Mùa thu dưới lũng - Lương Định, Về Cao Bằng - Đinh Thị Mai Lan, Tản mạn sông Lô - Mai Liễu

Không chỉ tự hào về những cảnh sắc quê hương, địa danh lịch sử vớinúi non hùng vĩ, tươi đẹp… mà thơ dân tộc Tày còn bộc lộ niềm yêu mến,

tự hào bởi đó là miền đất với những con người và phong tục tập quán đặcsắc Những nét đẹp ấy đi vào trong thơ với những hình ảnh chân thực,phong phú, sinh động, cụ thể; gửi gắm qua đó niềm tự hào về đời sống tinhthần giàu có, ấm áp nghĩa tình của những con người xứ núi Chính nộidung này đã góp phần quan trọng trong việc làm nên giá trị độc đáo, đặcsắc riêng cho những tác phẩm thơ của họ: sự sẻ chia, gắn bó của người Tày

trong Cái bờ ruộng, Của Pang - Dương Khâu Luông, tục ở rể trong thơ Dương Thuấn, tục kết tồng (kết nghĩa anh em) trong Kết tồng ngày nay -

Nông Minh Châu, hội Lồng tồng trong thơ Nông Thị Ngọc Hòa, tục hát

lượn trong Câu hát chia tay - Ma Phương Tân

Trong thơ những tác giả thuộc thế hệ thứ hai, ba của thơ dân tộc Tày như

Y Phương, Mai Liễu, Ma Trường Nguyên, Lương Định, Triệu Lam Châu,Dương Thuấn người đọc thấy được những ý thức rất rõ về từng chặng đường

Trang 11

mà họ đã đi qua, đã sống, đã yêu thương và trang trải những món nợ với quêhương mình Những triết lý trong thơ của họ dường như cũng song hành cùngvới quá trình ấy, đó là: sự ra đi, sự trải nghiệm và sự trở về Y Phương với

Thất tàng lồm, Mai Liễu với Đầu nguồn mây trắng, Lương Định với Núi và hòn đá lẻ, Ma Trường Nguyên với Tiếng lá rừng gọi đôi rồi thời điểm hiện tại, Lửa ấm bản Hon (2012) của Dương Khâu Luông với Tiếng quay sa của

mẹ, Con đường nối bản, Người miền núi, Tiếng chim cũng vẫn nằm trong

một mạch cảm xúc - đó là sự đối lập giữa hai cuộc sống, phố phường thịthành sầm uất và bản làng quê hương bình dị

Không phải ngẫu nhiên mà thơ của các nhà thơ dân tộc Tày bên cạnhnhững tác phẩm viết về sự hòa nhập văn hóa nơi đồng bằng, thị thành làviệc xuất hiện nhiều phong tục tập quán, nhiều nét đẹp văn hóa truyềnthống và nhiều địa danh quê hương, không chỉ với tư cách là những tênriêng, cái cớ bộc lộ cảm xúc mà mang ý nghĩa của cội nguồn nuôi dưỡng,một chiều sâu nhân bản: quê hương là điểm xuất phát ra đi, cũng là điểmtìm về để sống hết mình và để khẳng định giá trị nhân cách con người

2.2.2 Con người

2.2.2.1 Người mẹ vùng cao

Nhiều tác giả thơ dân tộc Tày dành những trang thơ hay nhất, sâu lắngnhất cho người mẹ, đầu tiên là bộc lộ tình yêu thương, kính trọng vô bờ bến

của mình: Mẹ/ Người bạn đầu tiên của tôi/ Kho báu đầu tiên của tôi (Y

Phương) Khi đi xa, hình ảnh người mẹ luôn hiện lên đầu tiên trong nỗi nhớ.Thơ nhiều tác giả chủ yếu khai thác người mẹ ở khía cạnh đời thường nhưng

từ đó tạo được nhiều liên tưởng sâu sắc: Gọi vía Mai Liễu, Bà mẹ xứ mây

-Dương Thuấn

Hình ảnh người mẹ trong thơ dân tộc Tày từ 1945 đến nay chủ yếuhiện lên với những đặc điểm tâm hồn, tính cách vùng cao; cả những hànhđộng, lời nói và cách yêu thương con cái cũng đậm sắc thái dân tộc Ở cáctác phẩm văn học mang tính sử thi, hình ảnh người mẹ thường được khắchọa trong cảm hứng về số phận chung của dân tộc Thơ của các nhà thơdân tộc Tày cũng nằm trong mạch cảm xúc đó nhưng vẫn nhận ra nhữngnét khác biệt, đó là hình ảnh người mẹ vùng cao lam lũ được nhắc đếnnhiều như là sự trở lại với những con người không tên tuổi, nhưng cuộcđời của họ mãi mãi đọng lại trong tâm hồn mọi niềm cảm thương, sự kínhtrọng, lòng yêu thương vô bờ pha lẫn chút xót xa

Trang 12

2.2.2.2 Người lính áo chàm

Những anh bộ đội áo chàm - nét độc đáo riêng của thơ dân tộc Tàyđược khắc họa giản dị Nếu trước 1975, cảm hứng sử thi - ngợi ca là chủđạo, thì sau năm 1975 văn học bước sang một thời kỳ mới - thơ dân tộcTày bắt đầu có những đổi thay Vẫn tiếp nối mạch cảm xúc cũ nhưng thơviết về người lính, chiến tranh mang dư vị khác trước Cảm hứng trữ tìnhchuyển từ sự tự hào, ngợi ca sang suy tư, chiêm nghiệm; bởi thế cái hàosảng, hùng tráng nhường chỗ cho sự bình dị, mộc mạc

Người lính không còn được khai thác nhiều ở tư thế: Gió bão ta không sợ/ Sấm sét ta không lùi mà trở về với cái thật nhất trong suy nghĩ mỗi cá nhân Họ không ngại nói đến sự hi sinh của những người chiến sĩ (Hoa súng

đỏ - Ma Trường Nguyên, Nghĩ về những tấm Huân chương - Nông Thị Ngọc Hòa), nỗi đau nỗi đau vì hậu họa dai dẳng của chiến tranh (Hạnh phúc không bình an - Lộc Bích Kiệm, Bốn em bé ở Bắc Ninh - Dương Thuấn, Đứa con của chiến tranh - Hoàng Chiến Thắng )

2.2.3 Tình yêu

Mỗi nhà thơ đem đến một tiếng nói mới mẻ riêng trong đề tài tưởng nhưquá quen thuộc này Tình yêu trong thơ Triều Ân thường trực nhất ở trạng thái

hạnh phúc tràn đầy: Băn khoăn, Trái tim , thơ tình yêu của Y Phương lại là

hình ảnh của những đôi trai gái yêu nhau, đậm chất miền núi trong cái hạnh

phúc thơ ngây của dân tộc mình: Để rồi sáng sớm trong rừng/ Lá rụng/ Hoa rụng/ Quả rụng/ Chim chóc cáo chồn ngơ ngác/ Suối chở đầy hương thơm nhàu nát…

Đội ngũ các nhà thơ dân tộc Tày có khá nhiều gương mặt nữ Thơtình của Nông Thị Ngọc Hòa, Hoàng Kim Dung, Đinh Thị Mai Lanphần nhiều gặp nhau ở một điểm là sự thể hiện cái thiên tính nữ, đằmthắm và trong trẻo

Trong đề tài tình yêu của thơ dân tộc Tày, hình ảnh người phụ nữ luôn

ở vị trí trung tâm Dù mất mát, tan vỡ hay có được hạnh phúc vĩnh viễn,người phụ nữ luôn là cứu cánh của cuộc sống, là khởi nguồn cho tình yêu,cho cuộc sống Thơ dân tộc Tày đặc biệt đề cao, ngợi ca người phụ nữ.Khác với cách nói của người miền xuôi, thơ dân tộc Tày có những so sánhrất đặc trưng

Một điều hiển nhiên là đề tài tình yêu không bao giờ là mới nhưng nóvẫn dành được sự ưu ái không thể phủ nhận của tất cả mọi nhà thơ Thơ

Ngày đăng: 18/12/2014, 13:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w