tiểu luậnChính sách ngoại giao độc lập tự chủ của Trung Quốc trong quan hệ với Việt Nam từ 1991 đến nay Từ hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoỏ XIII tới nay, cụng tỏc
Trang 1tiểu luận
Chính sách ngoại giao độc lập tự chủ của Trung Quốc trong quan hệ
với Việt Nam từ 1991 đến nay
Từ hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoỏ XIII tới nay, cụng tỏc ngoại giao của Trung Quốc dưới sự lónh đạo của Đảng mà hạt nhõn là đồng chớ Giang Trạch Dõn, đó kiờn trỡ chớnh sỏch ngoại giao hoà bỡnh, độc lập, tự chủ, khụng ngừng mở mang tiến lờn, đó đạt được nhiều thành tớch, tạo điều kiện quốc tế tốt cho Trung Quốc xõy dựng xó hội khỏ giả một cỏch toàn diện bước vào thế kỷ mới
I Chớnh sỏch ngoại giao độc lập tự chủ của Trung Quốc :
1 Ho àn c ả nh ra đờ i :
Căn cứ vào sự thay đổi của xu thế thế giới và nhu cầu tự xõy dựng một xó hội phồn vinh, Trung Quốc đưa ra và theo đuổi chớnh sỏch ngoại giao hoà bỡnh, độc lập tự chủ Bỏo cỏo Đại hội Đảng lần thứ XVI nờu rừ : “ Bất kể làn súng thế giới cú thay đổi thế nào, Trung Quốc kiờn trỡ chớnh sỏch ngoại giao hoà bỡnh, độc lập tự chủ Tụn chỉ chớnh sỏch ngoại giao của Trung Quốc là duy trỡ hoà bỡnh, thỳc đẩy cựng phỏt triển Chỳng ta hy vọng cựng sỏt cỏnh với nhõn dõn thế giới, cựng thỳc đẩy sự nghiệp hoà bỡnh và phỏt triển vĩ đại” Chớnh sỏch ngoại giao độc lập tự chủ của Trung Quốc đề
ra là phự hợp với nhu cầu phỏt triển đất nước trước tỡnh hỡnh quốc tế và trong nước cú nhiều biến động
Thời kỳ cuối những năm 70 của thế kỷ XX, trờn thế giới, nguy cơ chiến tranh vẫn cũn tồn tại, nhõn dõn thế giới vẫn cần phải nõng cao cảnh giỏc Tuy nhiờn, sự phỏt triển của hoà bỡnh nhanh hơn chiến tranh, chiến tranh ngày càng thu hẹp, hoà bỡnh ngày càng phỏt triển Và xu thế sẽ dần là hoà bỡnh và phỏt triển Mỗi quốc gia muốn phỏt triển đều cú nhu cầu hoà
Trang 2bình, kiên quyết phản đối chiến tranh và chạy đua vũ trang Đồng thời, trên thế giới lúc này, khoảng cách kinh tế giữa các quốc gia ngày càng lớn, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển gặp rất nhiều khó khăn Các quốc gia đang phát triển không thể phát triển trên cơ sở đói nghèo do đó họ luôn có nguyện vọng duy trì hoà bình ổn định thế giới Và các nước trên thế giới cũng đang chú trọng phát triển kinh tế trên cơ sở những thành tựu của khoa học - kỹ thuật ngày càng phát
Ở Trung Quốc, thời kỳ này, đồng chí Đặng Tiểu Bình cũng đã có những nhận định quan trọng, tranh thủ hoà bình, duy trì càng lâu càng tốt
Và ông cho rằng hoà bình và phát triển là hai vấn đề lớn của thế giới đương đại Và cùng với sự phát triển của khoa học - kỹ thuật trên thế giới thì Trung Quốc cũng cần có một môi trường hoà bình, ổn định học tập, phát triển các thành tựu tiên tiến trên thế giới, để thực hiện hiện đại hoá trong nước Và từ đầu những năm 80 của thế kỷ XX, cùng với việc thực thi chiến lược cải cách mở cửa, Trung Quốc đã từng bước điều chỉnh chính sách ngoại giao, chỉ rõ nhiệm vụ của công tác này là tạo hoàn cảnh quốc tế hoà bình, thuận lợi cho việc kiến thiết hiện đại hóa đất nước Dưới sự chỉ đạo tư tưởng ngoại giao cảu đồng chí Đặng Tiểu Bình, Trung Quốc đã không nhìn bạn bè thân sơ theo hình thái ý thức mà phát triển quan hệ hợp tác hữu nghị với tất cả các nước trên cơ sở 5 nguyên tắc chung sống hoà bình, thực hiện
mở cửa toàn diện Từ đó môi trường quốc tế của Trung Quốc đã được cải thiện đáng kể
2 N ộ i dung ch ính s á ch :
Và cũng từ đây, công tác ngoại giao của Trung Quốc chủ yếu đứng trước ba nhiệm vụ : một là, đối phó với sự thay đổi của quan hệ quốc tế do
sự phát triển xu thế đa cực hoá mang đến; hai là, chống lại các loại chủ nghĩa bá quyền và chính trị cường quyền, bảo vệ hoà bình thế giới, đẩy mạnh việc thiết lập trật tự chính trị kinh tế quốc tế mới công bằng, hợp lý
Trang 3hơn, để bảo vệ quyền lợi của các nước trên thế giới, đặc biêt là đông đảo các nước đang phát triển; ba là, ứng phó với ảnh hưởng của xu thế toàn cầu hoá và sự phát triển nhanh của khoa học - kỹ thuât cao Chính sách ngoại giao độc lập tự chủ được thể hiện ở các nội dung sau :
Kiên trì nguyên tắc độc lập tự chủ :
Đây được coi là tôn chỉ cơ bản của ngoại giao Trung Quốc, nhằm xây dựng một thời kỳ ngoại giao mới ở Trung Quốc Nội dung này được thể hiển ở các mặt sau :
Về mặt chính trị, tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các nước, không xâm phạm, không can thiệp đến nội bộ quốc gia, bình đẳng cùng có lợi, chung sống hoà bình, không được áp đặt ý chí của mình lên đối phương
Về mặt kinh tế, mở rộng giao lưu và hợp tác trên các lĩnh vực khoa học kỹ thuật, tiền tệ, mậu dịch…thúc đẩy lẫn nhau, cùng phát triển, không nên tạo thêm khoảng cách giữa giàu và nghèo
Trên thế giới có hơn 250 quốc gia, hơn 2500 dân tộc và 6,1 tỷ người Quan niệm giá trị, truyền thống lịch sử, tôn giáo tín ngưỡng và nền tảng văn hoá giữa các nước tồn tại sự khác biệt lớn, nhưng nó đều là kết tinh của trí tuệ nhân loại Vì thế, về mặt văn hoá các quốc gia nên học hỏi lẫn nhau, cùng nhau phát triển, chứ không nên bài xích nền văn hoá của các dân tộc khác
Về lĩnh vực an ninh, các quốc gia tin tưởng lẫn nhau, cùng duy trì, xây dựng quan niệm an ninh mới, tin tưởng lẫn nhau, bình đẳng cùng giải quyết tranh chấp thông qua đối thoại và hợp tác chứ không nên sử dụng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực Cần cấm hoàn toàn và thiêu huỷ triệt để vũ khí hạt nhân và những vũ khí giết người hàng loạt, ngăn cấm và loại bỏ những nhân tố có thể gây ra chiến tranh, đảm bảo an toàn cho các quốc gia
và khu vực
Trang 4 Khoa học phán đoán tình hình chiến tranh và hoà bình :
Một trong những nhiệm vụ của ngoại giao Trung Quốc là chống chủ nghĩa bá quyền và tăng cường thực hiện các biện pháp nhằm xây dựng chủ nghĩa xã hội ngày càng phát triển Vì thế Trung Quốc cần phải theo dõi sát sao tình hình thế giới, để có thể đưa ra được những quyết sách phù hợp về ngoại giao khi tình hình thế giới có những biến động Đồng thời tình hình trong nước cung là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến việc đề ra các chính sách ngoại giao đối với một đất nước
Đối ngoại mở cửa :
Trung Quốc tiến hành đối ngoại mở cửa theo ba tiêu chí, học tập khoa học kỹ thuật của phương Tây, học tập kinh nghiệm quản lý của phương Tây, và đồng thời những cái mới của phương Tây Trung Quốc tiếp tục cải thiện và phát triển quan hệ với các nước phát triển, lấy lợi ích cơ bản của nhân dân các nước làm nền tảng, vượt qua rào cản khác biệt về chế
độ xã hội và ý thức hệ, mở rộng lợi ích chung trên cơ sở 5 nguyên tắc chung sống hoà bình, giải quyết thoả đáng vấn đề phân biệt chủng tộc Duy trì đối thoại, không đối kháng là có lợi cho việc duy trì hoà bình và ổn định
ở khu vực cũng như trên thế giới, có lợi cho việc cùng vượt qua những thách thức mà con người phải đối mặt trong quá trình sinh tồn và phát triển
Kể từ những năm 90 của thế kỷ XX, Trung Quốc xây dựng quan hệ hợp tác mang tính xây dựng với Mỹ, hợp tác quan hệ hữu hảo với Nhật, hợp tác toàn diện với châu Âu, cống hiến cho việc duy trì hoà bình thế giới
Duy trì tăng cường quan hệ láng giềng hữu hảo Đây cũng chính là hành vi nguyên tắc mà Trung Quốc tiến hành hàng ngàn năm nay Trung Quốc chủ trương quan hệ láng giềng hữu hảo, tin tưởng cùng có lợi, hợp tác bình đẳng với các nước xung quanh, duy trì hoà bình ổn định, thúc đẩy
sự phát triển chung Đối với những tranh chấp biên giới, lãnh thổ, lãnh hải
do lịch sử để lại, Trung Quốc chủ trương thông qua bình đẳng đối thoại và
Trang 5đàm phán, tìm cách giải quyết bình đẳng hợp lý Một khi không giải quyết được, có thể tạm thời gác sang một bên, không nên vì thế để ảnh hưởng đến quan hệ bình thường giữa các quốc gia
Đồng thời Trung Quốc cũng tăng cường đoàn kết và hợp tác với các nước thứ ba Trung Quốc là một thành viên thuộc các nước thứ ba, luôn coi việc tăng cường hợp tác đoàn kết với các nước đang phát triển là điểm xuất phát cơ bản cho chính sách ngoại giao của mình Về mặt chính trị, tăng cường thông cảm và tin tưởng lẫn nhau, tăng cường giúp đỡ và hỗ trợ Về mặt kinh tế, dựa trên nguyên tắc “ bình đẳng cùng có lợi, coi trọng hiệu quả, đa dạng hoá, cùng phát triển” để mở rộng các lĩnh vực hợp tác nâng cao hiệu quả hợp tác
Chính sách một nước hai chế độ :
Đây là phương châm được áp dụng đối với các đặc khu hành chính của Trung Quốc là Hồng Kông, Ma Cao, Đài Loan nhằm để thống nhất tổ quốc Hồng Kông và Ma Cao trở về với tổ quốc một cách thuận lợi là do Trung Quốc kiên trì theo đuổi phương châm này, qua đàm phán giải quyết những vấn đề do lịch sử để lại Ngày 1-7-1997, Trung Quốc đã khôi phục lại chủ quyền ở Hồng Kông; ngày 20-12-1999 khôi phục lại chủ quyền đối với Ma Cao Trung Quốc là một nước xã hội chủ nghĩa, và chế độ này được Đảng và Chính phủ Trung Quốc kiên trì thực hiện ở đại lục, còn tại các đặc khu hành chính đi theo thể chế tư bản Theo phương châm này thì ở các đặc khu hành chính có quyền tự trị cao độ theo quy định pháp lý của Khu hành chính đặc biệt Đặc khu hành chính được hưởng quyền quản lý, lập pháp, tư pháp, chung thẩm độc lập và các quyền lợi khác theo uỷ nhiệm của Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc và Uỷ ban thường vụ của Đại hội cũng như
sự uỷ nhiệm của chính quyền Trung ương Nhưng không có nghĩa là hoàn toàn tự trị, Chính quyền Trung ương vẫn giữ những quyền lực cần thiết để
Trang 6duy trì sự thống nhất, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia Chức năng ngoại giao và quốc phòng do Chính quyền Trung ương phụ trách
Do việc kiên trì thực hiện chính sách ngoại giao hoà bình, độc lập tự chủ nên đến nay ngoại giao Trung Quốc đã có địa vị chủ động, bước vào thời đại mới để phục vụ sự phát triển kinh tế
II Chính sách ngoại giao độc lập tự chủ của Trung Quốc trong quan hệ với Việt Nam từ năm 1991 đến nay :
Từ cuối những năm 80 sang đầu những năm 90 của thế kỷ XX, cục diện thế giới đã diễn ra những thay đổi chưa từng có : chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu sụp đổ, Liên bang Xô Viết tan rã, đối đầu giữa hai siêu cường Xô
- Mỹ không còn nữa, chiến tranh lạnh kết thúc, thế giới quá độ sang thời kỳ hình thành đa cực hoá với xu thế cơ bản là hòa bình, ổn định, xây dựng kinh tế, hợp tác và phát triển Trong tình hình đó, mối quan hệ giữa các nước với nhau trên thế giới và trong khu vực được hình thành trong thời kỳ đối đầu Xô - Mỹ và chiến tranh lạnh không còn phù hợp với yêu cầu của cục diện thế giơisau chiến tranh lạnh, cần phải thay đổi và cấu trúc lại
Việt Nam và Trung Quốc vốn là láng giềng thân thiện, có truyền thống hữu nghị lâu đời Cả hai nước trong thời kỳ đổi mới, cải cách và mở cửa đều mong muốn có môi trường xung quanh hoà bình, ổn định, đều cần
mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác kinh tế, khoa học kỹ thuật và giao lưu văn hoá với các nước trong khu vực và trên thế giới Chính trong bối cảnh thay đổi chung của thế giới và trong khu vực cũng như nhu cầu của mỗi nước như đã nêu ra trên đây, khiến cho hai nước Việt Nam – Trung Quốc xích lại gần nhau, vượt qua trở ngại tiến tới bình thường hoá quan hệ
Đầu tháng 9-1990, tại Hội nghị cấp cao không chính thức Việt Nam – Trung Quốc tổ chức tại Thành Đô ( tỉnh Tứ Xuyên – Trung Quốc ), lãnh đạo cấp cao của hai nước đã đạt được những thoả thuận chung là “ Khép lại
Trang 7quá khứ, mở ra tương lai”, thực hiện bình thường hóa quan hệ hai nước Ngày 5-11-1991, Đoàn đại biểu cấp cao của Đảng cộng sản Việt Nam và Chính phủ Việt Nam do Tổng Bí thư Đỗ Mười và Thủ tướng Võ Văn Kiệt dẫn đầu thăm hữu nghị chính thức Trung Quốc, hai bên ký “ Thông cáo chung Việt Nam – Trung Quốc”, tuyên bố quan hệ hai nước chính thức bình thường hoá Từ đó, bắt đầu một giai đoạn phát triển mới trong quan hệ Việt Nam – Trung Quốc thời kỳ hiện đại
Thực hiện chính sách ngoại giao độc lập tự chủ trong quan hệ vớí Việt Nam từ khi bình thường hoá đến nay, mối quan hệ giữa Trung Quốc
và Việt Nam ngày càng tốt đẹp Từ tháng 11-1991 đến nay, quan hệ Việt – Trung trên tất cả các lĩnh vực, từ chính trị - ngoại giao, quân sự đến trao đổi thương mại, hợp tác kinh tế, khoa học kỹ thuật, giáo dục, giao lưu văn hoá,
du lịch, nghệ thuật…đều đã được khôi phục, ngày càng được củng cố và phát triển cả về bề rộng lẫn chiều sâu Những biểu hiện thể hiện rõ nhất việc thực thi chính sách ngoại giao hoà bình, độc lập tự chủ của Trung Quốc đối với Việt Nam là ở các thành tựu trong tất cả các lĩnh vực mà hai nước đã cùng nhau phấn đấu đạt được từ năm 1991 đến nay :
Quan hệ chính trị:
Kể từ khi bình thường hoá quan hệ năm 1991 đến nay, quan hệ hữu nghị và hợp tác cùng có lợi Việt – Trung phát triển nhanh chóng và sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực, đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho cả hai bên Đến nay, hai nước đã ký 52 hiệp định ở cấp Nhà nước, đặt cơ sở pháp lý cho quan hệ hợp tác lâu dài giữa hai nước Hai bên đã khai thông đường hàng không, đường biển, đường bộ, đường sắt, tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu hàng hoá và hành khách giữa hai nước Trao đổi đoàn ở trung ương và địa phương ngày càng tăng, hàng năm hai bên trao đổi trên 100 đoàn ở cấp lãnh đạo các bộ, ngành và địa phương, đoàn thể quần chúng,
Trang 8góp phần tăng cường hiểu biết, tin cậy lẫn nhau và mở rộng hợp tác giữa hai nước
Các cuộc gặp gỡ giữa Lãnh đạo cấp cao hai nước được duy trì đều đặn hàng năm Trong chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu tháng 2/1999, lãnh đạo cấp cao hai nước đã xác định phương châm
16 chữ thúc đẩy quan hệ hai nước trong thế kỷ 21 là “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” Dịp Chủ tịch nước Trần Đức Lương thăm Trung Quốc tháng 12/2000, hai bên đã ký Tuyên bố chung về hợp tác toàn diện trong thế kỷ mới, cụ thể hóa phương châm 16 chữ đó thành những biện pháp cụ thể phát triển quan hệ hai nước trên tất cả các lĩnh vực Hai bên cũng đã thoả thuận đưa hai nước trở thành “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”
Trong năm 2006, đã diễn ra chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh vào tháng 8, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào thăm Việt Nam tháng 11, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng đã có hai cuộc gặp gỡ với Thủ tướng Ôn Gia Bảo dịp dự Hội nghị ASEM 6 tại Phần Lan vào tháng 9 và dịp dự Hội nghị cấp cao kỷ niệm Trung Quốc – ASEAN tại Nam Ninh vào tháng 10
Bước vào năm 2007, tiếp tục có các chuyến thăm Trung Quốc của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết (5/2007), Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng (4/2007) và Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm (3/2007) Trong các chuyến thăm, Lãnh đạo cấp cao hai nước nhấn mạnh tình hữu nghị Việt – Trung là tài sản quý báu của hai nước và nhân dân hai nước, cần được hết sức giữ gìn và không ngừng vun đắp; khẳng định sẽ làm hết sức mình để đưa quan hệ đó ngày càng sâu sắc hơn, tin cậy hơn, cùng ủng hộ lẫn nhau trong sự nghiệp đổi mới, cải cách mở cửa và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở mỗi nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới
Trang 9Quan hệ hợp tác giữa các ngành quan trọng như ngoại giao, quốc phòng, công an, an ninh của hai nước được tăng cường thêm một bước với việc ký các thoả thuận hợp tác giữa hai Bộ ngoại giao (12/2002), hai Bộ Công an (9/2003), hai Bộ Quốc phòng (10/2003) Việc giao lưu giữa thế hệ trẻ hai nước được tổ chức thường xuyên với nội dung phong phú, thiết thực Một số hội thảo lý luận về kinh nghiệm phát triển đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng Đảng được hai bên coi trọng và tổ chức đều đặn
Phía Việt Nam đã lập Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại Quảng Châu (1993), Hongkong (1994) Tháng 5/2004, Việt Nam mở thêm hai Tổng Lãnh sự quán tại Côn Minh ( Vân Nam ) và Nam Ninh ( Quảng Tây), Trung Quốc Phía Trung Quốc lập Tổng Lãnh sự quán Trung Quốc tại Thành phố Hồ Chí Minh (1993)
Quan hệ giữa các tỉnh biên giới của hai nước cũng được tăng cường mạnh mẽ, lãnh đạo thường xuyên thăm viếng lẫn nhau, bàn việc đẩy mạnh hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư, du lịch…giữa hai bên cũng như công tác trong việc giữ gìn trật tự trị an vùng biên giới, góp phần đẩy nhanh tiến trình phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền giữa hai nước Đặc biệt là đầu tháng 6/2007, Bộ Ngoại giao đã chủ trì tổ chức đoàn của 7 tỉnh biên giới phía Bắc và Thành phố Hải Phòng tiến hành xúc tiến kinh tế thương mại tại các tỉnh Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông – Trung Quốc đem lại nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp hai bên trong hợp tác kinh tế, thương mại, du lịch, đầu tư Trong dịp này, các tỉnh biên giới phía Bắc của Việt Nam đã ký thoả thuận với Quảng Tây, Vân Nam – Trung Quốc về việc thành lập Uỷ ban/ Nhóm công tác liên hợp giữa các tỉnh biên giới hai nước
Trên cơ sở của chính sách ngoại giao độc lập tự chủ, giải quyết các vấn đề thông qua đàm phán hoà bình, vì vậyđối với vấn đế biển Đông, hai bên đã tiến hành 12 vòng đàm phán cấp chuyên viên về vấn đề trên biển,
Trang 10tăng thêm hiểu biết về lập trường của nhau Giữa ASEAN và Trung Quốc cũng đã ký Tuyên bố về cách ứng xử ở biển Đông (DOC), hiện đang trong quá trình trao đổi để đi vào triển khai, tiến tới xây dựng Bộ quy tắc ứng xử
ở biển Đông (DOC) Ngày 14/3/2005, ba công ty dầu khí ba nước Việt Nam (Petro Vietnam ), Trung Quốc ( CNOOC ), Philippin ( PNOC ) đã ký được thoả thuận về khảo sát địa chấn chung trong một số khu vực trên biển Đông và đang được triển khai thuận lợi
Quan hệ kinh tế, thương mại :
Theo phương châm đối ngoại mở cửa để phát triển và sự hợp tác giữa hai bên là bình đẳng, cùng có lợi mà quan hệ kinh tế, thương mại giữa Trung Quốc và Việt Nam ngày càng phát triển Hiện nay Trung Quốc đã trở thành bạn hàng thương mại hàng đầu của Việt Nam Năm 2006, kim ngạch mậu dịch song phương đạt 10,42 tỷ USD ( Việt Nam xuất 3,03 tỷ USD; nhập 7,39 USD) 3 tháng đầu năm 2007, kim ngạch mậu dịch song phương đạt 2,99 tỷ USD, tăng 42,2% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó Việt Nam xuất khẩu 722,7 triệu USD, giảm 2,29% ; nhập khẩu đạt 2,27 tỷ USD , tăng 66,3%
Tuy nhiên kim ngạch buôn bán hai chiều Việt – Trung chỉ chiếm khoảng 0,6% tổng kim ngạch ngoại thương của Trung Quốc trong khi chiếm hơn 12% tổng min ngạch ngoại thương của Việt Nam; đáng chú ý là
từ năm 2001 đến nay, Việt Nam liên tục nhập siêu từ Trung Quốc với mức
độ tăng rõ rệt Hai bên thoả thuận phấn đấu đưa kim ngạch song phương lên 15 tỷ USD đi đôi với giảm dần mức nhập siêu của Việt Nam
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến hết tháng 4/2007, Trung Quốc
có 437 dự án đầu tư tại Việt Nam với tổng vốn đầu tư là 1,182 tỷ USD, đứng thứ 14/77 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam
Trong chuyến thăm Trung Quốc của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, hai bên đã ký được 6 văn bản hợp tác và 9 hợp đồng kinh tế trị giá