Luận văn
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Thể loại truyện ngắn có lịch sử lâu dài Trên thế giới và Việt Nam đã có
nhiều nhà văn thành danh với truyện ngắn Cùng với thời gian, đội ngũ những người viết truyện ngắn ngày càng đông đảo, đặc biệt từ thời kỳ đổi mới với một số lượng ấn phẩm phong phú trong đó nhiều cây bút đã tạo được dấu ấn phong cách
1.2 Truyện ngắn là thể loại luôn vận động và biến đổi Ở Việt Nam, cùng với
quá trình hiện đại hóa văn học, thể loại truyện ngắn đã có những chuyển biến rõ rệt, đặc biệt từ thời kỳ đổi mới truyện ngắn đã chứng tỏ là thể loại năng động, có khả năng nắm bắt sự vận động của cuộc sống một cách nhanh nhạy, kịp thời nhưng vẫn khái quát được những vấn đề sâu sắc đặt ra trong đời sống So với trước đây, truyện ngắn đã có những chuyển đổi rõ rệt, cả về nội dung và hình thức Những năm đầu thế
kỷ XXI, truyện ngắn đã có những bước phát triển mới đóng góp vào thành tựu của nền văn học đổi mới Xuất phát từ thực tiễn đời sống thể loại, chúng tôi xét thấy cần
có một công trình nghiên cứu hệ thống, cập nhật về những đặc điểm và quy luật vận động của thể loại trong đời sống văn học từ sau 1986 Mốc 1986 mà chúng tôi lựa chọn có ý hướng để giới hạn và tập trung vào giai đoạn sôi nổi và có nhiều thành tựu của văn học đương đại, của đời sống thể loại những năm sau chiến tranh
1.3 Trong khi thực tiễn đời sống thể loại truyện ngắn đang ngày một trở nên
sinh động thì vấn đề lý thuyết thể loại truyện ngắn lại không ngừng được tra vấn, bổ sung, thậm chí là đối thoại tranh biện với những lý thuyết truyện ngắn tưởng đã ổn định trước đây Những phát biểu về truyện ngắn vẫn không ngừng ra đời Truyện ngắn, từ góc độ thể loại và ranh giới thể loại là vấn đề đáng quan tâm của văn học đương đại Truyện ngắn đang mang trong mình nó những dấu hiệu của sự chuyển
đổi, có nhiều ngả rẽ Khuynh hướng thứ nhất là vẫn viết theo lối truyền thống, tuân thủ những đặc tính vốn có của thể loại, khuynh hướng thứ hai là truyện ngắn có những cách tân nhưng vẫn tôn trọng những dấu hiệu quy chuẩn của thể loại và khuynh hướng thứ ba là những truyện ngắn hướng tới việc phá bỏ ranh giới thể loại Truyện ngắn Việt Nam từ 1986 đến nay nhìn từ góc độ thể loại là một hướng đi được
Trang 2lựa chọn nhằm góp phần lý giải đời sống thể loại trong bước chuyển của đời sống văn học những thập kỷ cuối của thế kỷ XX và những năm đầu của thế kỷ XXI Tìm hiểu truyện ngắn đương đại trên cơ sở tham chiếu lý thuyết thể loại sẽ thấy được những thay đổi trong tư duy nghệ thuật, tư duy thể loại trong bối cảnh mới.
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận án là tìm hiểu sự vận động của thể loại truyện ngắn Việt Nam từ 1986 đến nay, lý giải quy luật vận động, chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến
sự thay đổi tư duy nghệ thuật Trên cơ sở tìm hiểu sự đổi mới tư duy thể loại, luận án
đi sâu nhận diện và lý giải một số phương thức trần thuật, bút pháp nghệ thuật được
sử dụng trong quá trình tạo lập văn bản truyện ngắn
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1.Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là truyện ngắn từ 1986 đến nay trên các phương diện quan niệm và tư duy thể loại, nghệ thuật xây dựng nhân vật và kết cấu truyện ngắn, ngôn ngữ và điểm nhìn trần thuật
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Tập trung khảo sát những sáng tác truyện ngắn đặc sắc của các tác giả tiêu biểu như Nguyễn Minh Châu, Đỗ Chu, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ, Y Ban, Võ Thị Hảo, Lê Minh Khuê, Hồ Anh Thái, Võ Thị Xuân Hà, Trần Thùy Mai,… Mặt khác, luận án cũng chú ý đến sáng tác của các cây bút trẻ xuất hiện gần đây như Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Vĩnh Nguyên, Phong Điệp,
Trong những năm gần đây việc các cây bút hải ngoại công bố tác phẩm ở trong nước không còn là trường hợp hiếm thấy (Lê Minh Hà, Nguyễn Văn Thọ, Amond Nguyen Thi Tu,…) Đây cũng là đối tượng để chúng tôi tham chiếu khi đi vào những vấn đề của thể loại trong đời sống văn học đương đại Ngoài ra, trong quá trình thực hiện đề tài, để thấy được sự vận động và phát triển của truyện ngắn, chúng tôi mở rộng phạm vi nghiên cứu tới truyện ngắn trước 1986 và một số tác phẩm ở các thể loại khác (như tiểu thuyết) từ 1986 đến nay để có cái nhìn đối sánh và sâu hơn về đối tượng
Trang 34 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý thuyết
Một lý thuyết dù có hiệu quả đến mấy thì cũng không thể là chìa khóa vạn năng khi đi vào giải mã thế giới nghệ thuật của nhà văn cũng như tìm hiểu một thể loại hay một tác phẩm, tác giả cụ thể Đối với trường hợp nghiên cứu một số vấn đề
lý thuyết và thực tiễn sáng tác đời sống thể loại truyện ngắn Việt Nam đương đại, như hướng đi luận án lựa chọn, thiết nghĩ sự phối hợp nhiều lý thuyết khi nghiên cứu khảo sát là điều cần thiết Trong luận án này, lý thuyết tự sự học, thi pháp học vẫn là lựa chọn chính yếu Bên cạnh đó, chúng tôi cũng vận dụng một số lý thuyết khác như phân tâm học, lý thuyết huyền thoại, lý thuyết hậu hiện đại,… nhằm có cái nhìn đa chiều khi tiếp cận và giải mã quá trình sáng tạo, sự đổi mới tư duy nghệ thuật của các cây bút truyện ngắn
Luận án cũng xác định và làm rõ một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài như sự tương tác thể loại, sự pha trộn thể loại, tư duy tiểu thuyết trong truyện ngắn,
…
4.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp cấu trúc hệ thống: Đặt truyện ngắn Việt Nam từ 1986 đến nay trong sự vận động của văn học thời kỳ đổi mới, xem xét đối tượng như một hiện tượng có tính hệ thống, chúng tôi hướng tới việc xác định vị trí, ý nghĩa của một thể loại trong diễn trình văn học, đặc biệt là đời sống thể loại
- Phương pháp loại hình: Nhằm tìm ra những đặc điểm tương đồng loại hình
về thi pháp thể loại, qua đó thấy được quy luật phát triển của thể loại truyện ngắn từ thực tế đời sống văn học
- Phương pháp so sánh: Để có sự đối sánh và cái nhìn sâu hơn về đối tượng, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát truyện ngắn giai đoạn này trong sự liên hệ để tìm ra những nét tương đồng và khác biệt giữa truyện ngắn thời kỳ đổi mới và truyện ngắn giai đoạn trước đó, giữa truyện ngắn và các thể loại văn học khác ở góc độ đồng đại
và lịch đại
- Tiếp cận theo hướng thi pháp học, tự sự học
5 Đóng góp của luận án
Trang 4Góp phần làm sáng rõ một số vấn đề thuộc về lý luận thể loại, về những đặc điểm khu biệt và sự tương tác thể loại qua việc khảo sát truyện ngắn sau 1986.
Luận án góp phần vào việc nhìn nhận, đánh giá một phương diện của văn học
sử qua việc tìm hiểu thể loại truyện ngắn trong đời sống văn học đương đại Từ góc nhìn lịch đại, luận án sẽ nhận diện những kế thừa và sự tiếp biến, đổi mới tư duy nghệ thuật truyện ngắn Việt Nam đương đại
6 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu luận án gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Truyện ngắn – quan niệm và sự đổi mới tư duy thể loại
Chương 3: Các dạng thức xây dựng nhân vật và tổ chức kết cấu văn bản truyện ngắn
Chương 4: Ngôn ngữ và điểm nhìn trần thuật
CHƯƠNG 1
Trang 5TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước
Khái lược về những nghiên cứu lý thuyết truyện ngắn
Nguồn tư liệu nước ngoài về lý thuyết truyện ngắn vốn rất phong phú, tuy nhiên vì nhiều lý do, chúng tôi chưa thể bao quát được hết Bởi vậy, khảo sát của luận án chủ yếu dựa trên nguồn tài liệu đã được giới thiệu trong nước
Thuật ngữ truyện ngắn (short story: tiếng Anh, nouvelle: tiếng Pháp, đoản thiên tiểu thuyết: tiếng Trung) ra đời muộn nhưng tiền thân của truyện ngắn vốn xuất hiện từ rất sớm Qua tiến trình lịch sử, đến nay truyện ngắn đã hiện diện với tính chất một thể loại có vị trí quan trọng trong đời sống văn học Truyện ngắn là thể loại phổ biến không chỉ ở Việt Nam mà ở nhiều nước trên thế giới Đã có nhiều ý kiến bàn về truyện ngắn, về khái niệm và đặc trưng của thể loại này
Mặc dù có những quan điểm không tách bạch trên phương diện lý thuyết thể loại giữa truyện ngắn và tiểu thuyết nhưng dù muốn hay không truyện ngắn với tư cách là một thể loại vẫn tồn tại như một thực tế được thừa nhận Đáng chú ý là số lượng truyện ngắn trên thế giới và ở Việt Nam vô cùng phong phú nhưng lại không
dễ đưa ra một định nghĩa thống nhất, cho phép khái quát hết các đặc điểm của các tác phẩm Trong lịch sử văn học, khái niệm truyện ngắn và những vấn đề lý thuyết thể loại luôn là vấn đề gây tranh cãi Không những với người nghiên cứu mà với người sáng tác, các ý kiến, định nghĩa truyện ngắn không chỉ thay đổi theo thời gian mà còn
có nhiều điểm khác biệt tùy vào quan điểm mỹ học của từng tác giả
Từ những năm đầu thế kỷ XIX, lý thuyết truyện ngắn đã được nghiên cứu ở phương Tây [60] Đã có nhiều nhà văn coi truyện ngắn là một thể loại văn học riêng
biệt Edgar Allan Poe là một trong số đó Quan tâm tới mỹ học truyện ngắn, Edgar
Allan Poe chú trọng tới “lý thuyết về bước ngoặt”, “thời gian văn bản” (bao gồm cả thời gian đọc của độc giả) Những phạm trù này được chính nhà văn sử dụng trong khi viết truyện kinh dị (với việc đặt ra yêu cầu hiệu quả của sự bất ngờ, cái kỳ dị, khác thường tác động đến người đọc) Frank Oconnor (1903 – 1966) - nhà văn có
Trang 6hơn 20 năm sống ở Mỹ (từ 1945) lại coi tính chất ngắn của thể loại thuộc về phong cách nhà văn Ông đặc biệt hứng thú với thể truyện rất ngắn vốn đòi hỏi sự cô đúc, ngắn gọn và súc tích vì “những truyện này rất gần với thơ trữ tình” [122, tr.103]
Ở Pháp, thế kỷ XIX được coi là thời kỳ hoàng kim của truyện ngắn với các tên tuổi Maupassant, Daude, Mérimée,… Nhiều tác phẩm truyện ngắn ra đời giai đoạn này tạo được sự quan tâm của người nghiên cứu, “trở thành cơ sở để họ xây dựng
khung lý thuyết thể loại truyện ngắn” [157, tr.17] Mục từ “truyện ngắn” trong Từ điển văn học Pháp ngữ định nghĩa: “Với nhiều người, truyện ngắn so với tiểu thuyết
giống như phim ngắn với phim dài Truyện ngắn là bài tập của các nhà văn duy mĩ”
[157, tr.27] Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Phạm Thị Thật trong công trình Truyện ngắn Pháp cuối thế kỷ XX một số vấn đề lý thuyết và thực tiễn sáng tác [157] thì vấn
đề định nghĩa thể loại truyện ngắn trong thực tiễn văn học Pháp cũng không đồng nhất từ việc xác định độ dài của truyện ngắn đến những vấn đề thuộc về thi pháp thể loại Thực tế này là thách thức không chỉ với các “từ điển gia” mà còn với các nhà nghiên cứu, ngay cả những người viết truyện ngắn Không có một định nghĩa nào thõa mãn được tất cả các tiêu chí, bởi vậy ý kiến của Annie Saumont - nhà văn Pháp được đánh giá là một trong những cây bút truyện ngắn xuất sắc nhất hiện nay - về truyện ngắn có thể cho là dễ được chấp nhận: “truyện ngắn là một văn bản ngắn trong
đó có một câu chuyện, còn kể câu chuyện đó thế nào là việc của nhà văn” [157, tr.41], nghĩa là câu chuyện có thể được thuật lại dưới mọi hình thức
Tên tuổi của nhiều nhà văn Nga cũng được vinh danh ở thể loại truyện ngắn như A Tônxtôi, Pautôpxki, Shêkhôp Đều có những tác phẩm truyện ngắn xuất sắc nhưng mỗi nhà văn lại có những quan niệm và cách thức khác nhau khi viết truyện ngắn Từ kinh nghiệm nghệ thuật, A Tônxtôi chú trọng đến khả năng của người viết:
“Truyện ngắn là một hình thức nghệ thuật khó khăn bậc nhất ( ) Trong truyện ngắn, tất cả như trong bàn tay anh Anh phải thông minh, như anh đã phải hiểu biết Bởi lẽ hình thức nhỏ không có nghĩa là nội dung không lớn lao” [122, tr.116] Pautôpxki nhận định: “Truyện ngắn là một truyện viết ngắn gọn trong đó, cái không bình thường hiện ra như một cái gì bình thường, và cái gì bình thường hiện ra như một cái
Trang 7gì không bình thường” [122, tr.121] Còn Shêkhôp khi viết truyện ngắn lại chú ý “tô đậm cái mở đầu và kết luận” [122, tr.75].
Thể loại thường gắn liền với tính quy ước với những yếu tố đặc định, nhưng không phải là những quy phạm cứng nhắc, bất biến Không ít người viết truyện ngắn luôn có ý thức “khắc phục mọi sơ đồ”, “mọi đường mòn đã hình thành trong người viết và người đọc” Đề cao khuynh hướng kể chuyện tự do trong truyện ngắn hiện đại, U Xaroyan (nhà văn Mỹ) cho rằng: “Chừng nào trên quả đất này còn nhà văn, và
họ còn viết, truyện ngắn còn tìm được cách nhập vào mọi hình thức thể tài, chọn cho mình mọi dung lượng, mọi phong cách, và nó cũng có thể vượt ra, phá tung mọi hình thức, mọi khuôn khổ, phong cách đó” [122, tr.97] Nhà văn Nhật Bản Kôbô Abê (sinh 1924) cũng có đồng quan điểm với U Xaroyan về sự sáng tạo trong truyện ngắn: “Tính kịp thời là một đặc điểm đáng ngạc nhiên của truyện ngắn Đó là một sự
tự do, nó cho phép truyện ngắn không bị ràng buộc bởi những hình thức nghệ thuật
đã thành quy phạm Mặt khác, truyện ngắn cũng có khả năng “chín” rất nhanh Hình thức truyện ngắn vừa luôn luôn vỡ ra, thay đổi, vừa luôn luôn được hàn gắn “cấu
trúc” lại” [122, tr.106] Có thể thấy quan niệm và lối viết của các nhà văn theo thời
gian đã trở nên uyển chuyển hơn, đặc điểm của truyện ngắn hiện đại do vậy ngày càng khác xa với truyện ngắn truyền thống
Do khả năng biến động và tính năng sản của thể loại nên đã có rất nhiều quan niệm truyện ngắn được xác lập, theo đó cũng có nhiều cách hiểu về truyện ngắn Thứ
nhất, coi truyện ngắn tồn tại như một thể loại độc lập, có những đặc trưng riêng về thi pháp thể loại Xu hướng thứ hai là đặt truyện ngắn trong mối liên hệ với các thể loại tương cận (như tiểu thuyết: ý kiến của D Grojnowski) Bên cạnh đó, lại cũng có
nhà văn tuyên ngôn rằng khi sáng tác họ từ chối mọi quy định lý thuyết và vì thế truyện ngắn ít bị ràng buộc bởi các quy phạm Có thể thấy việc đưa ra được một định nghĩa nhất quán về truyện ngắn là một thách thức với không chỉ các nhà văn mà còn với cả các nhà nghiên cứu
Cùng với việc đưa ra quan niệm về truyện ngắn, các nhà văn cũng chia sẻ những kinh nghiệm viết truyện ngắn, những công việc “bếp núc” của người sáng tác Xung quanh vấn đề này đã có nhiều ý kiến (Môôm, Hêmingway, O’Connor,
Trang 8Pautôpxki,…) Từ thực tiễn sáng tác – Môôm (Wiliam Somerset Maugham) – nhà văn Anh hiện đại, tác giả của nhiều tập truyện ngắn chia sẻ: “Trong nghệ thuật tôi thiên về sự chuẩn mực, về trật tự nghiêm ngặt và trong truyện ngắn, tôi lại càng thích mọi chuyện được sắp xếp chặt chẽ” [122, tr.87] Những kinh nghiệm này thực sự cần thiết không chỉ với người viết truyện ngắn mà cả với tác giả luận án Đây là những gợi mở để người viết phân tích những vấn đề kỹ thuật viết truyện ngắn của nhà văn.
Những nghiên cứu liên quan đến từng trường hợp, tác giả, tác phẩm cụ thể:
Đã có một số bài viết của các học giả nước ngoài lựa chọn một trường hợp, một tác giả truyện ngắn Việt Nam đương đại làm đối tượng khảo sát (như trường hợp
Nguyễn Huy Thiệp), chẳng hạn: Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp – Evelipe Pieller, Thơ trong văn Nguyễn Huy Thiệp, Lịch sử Việt Nam qua truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp - T.N.Filimonova [107] Một số nhà văn, nhà nghiên cứu Việt Nam ở hải ngoại
(Nguyễn Hưng Quốc, Thụy Khuê) cũng đã có các bài viết về truyện ngắn của tác giả
trong nước: Phạm Thị Hoài trên sinh lộ mới của văn học (Thụy Khuê), Không gian sông nước trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (Thụy Khuê),…
Trong một số Hội thảo quốc tế được tổ chức ở Việt Nam có những học giả
bước đầu quan tâm đến một số tác phẩm và tác giả truyện ngắn Việt Nam đương đại
từ những góc nhìn mới, chẳng hạn tại Hội thảo quốc tế Văn học Việt Nam trong bối cảnh giao lưu văn hóa khu vực và quốc tế do Viện Văn học và Viện Harvard – Yenching phối hợp tổ chức năm 2006 có các tham luận: Khi người ta trẻ: những câu chuyện nữ sinh của Phan Thị Vàng Anh – Rebekah Collins (Nghiên cứu sinh đại học California – Mỹ), Giao thông với tư cách biểu tượng trong văn học đổi mới –
Jonathan McIntyre – Đại học Cornell, New York, Mỹ) Điều đáng chú ý là với những học giả nước ngoài họ thường lựa chọn và giải quyết những vấn đề nghiên cứu gắn với thực tiễn đời sống và đây là đặc điểm khác biệt với tư duy nghiên cứu của người bản địa
1.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
1.2.1 Về khái niệm và định nghĩa truyện ngắn
Trang 9Đã có nhiều công trình nghiên cứu hoặc tập hợp những bài nghiên cứu về truyện ngắn với tư cách là một thể loại tự sự trong đó có đề cập đến khái niệm thể
loại Đáng chú ý là các công trình Sổ tay truyện ngắn [122], Nghệ thuật viết truyện ngắn và ký [115], Bình luận truyện ngắn [152], Truyện ngắn những vấn đề lý thuyết
và thực tiễn thể loại [153]; Truyện ngắn Việt Nam, lịch sử, thi pháp, chân dung [125], Những vấn đề thi pháp của truyện [66], Tìm hiểu truyện ngắn [37], Truyện ngắn: lí luận, tác gia và tác phẩm [10].
Mặc dù chưa có một định nghĩa nhất quán nhưng thuật ngữ “truyện ngắn” đã được nhiều tác giả công trình lý luận, từ điển và người viết truyện ngắn định danh
Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa truyện ngắn là “tác phẩm tự sự cỡ nhỏ”, “khác
với tiểu thuyết là thể loại chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự đầy đặn và toàn vẹn của nó, truyện ngắn thường hướng tới khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn của con người” [126, tr.304]
Trong Từ điển văn học (tập 2, Nxb Khoa học xã hội, 1984) truyện ngắn được
có cân nhắc”, “muốn truyện là truyện ngắn, chỉ nên lấy một ý chính làm chủ đề cho truyện Những chi tiết trong truyện chỉ nên xoay quanh chủ đề ấy Không có chi tiết thừa, rườm rà, miên man” [122, tr.14]
Trang 10Nhiều nhà văn cũng đã chia sẻ về những kinh nghiệm, kỹ thuật viết truyện
ngắn Công trình biên soạn Sổ tay truyện ngắn (Vương Trí Nhàn) hệ thống lại những
kinh nghiệm viết truyện của một số nhà văn như Nguyễn Công Hoan, Tô Hoài, Nguyễn Thành Long, Nguyễn Kiên, Đỗ Chu, Ma Văn Kháng Từ kinh nghiệm viết truyện ngắn của bản thân, nhà văn Tô Hoài đúc kết: “truyện ngắn là một thể văn tạo cho người viết nhiều nết quý lắm Chỉ với truyện ngắn, người ta mới biết tận dụng từng chữ, lo săn sóc từng chữ Nhà văn mình thường yếu không tạo được phong cách riêng Truyện ngắn là nơi là có thể thử tìm phong cách cho mình Truyện ngắn đòi
hỏi sự hoàn thiện” [122, tr.8] Với quan niệm viết truyện ngắn là một công việc rất
thiêng liêng, bởi đó là một cuộc gặp gỡ giữa người viết và người đọc, một cuộc gặp
gỡ phút chốc, nhưng để lại một ấn tượng sâu đậm, làm người ta khó quên, nhà văn
Đỗ Chu chia sẻ: “Với tôi, thường cốt truyện không thành vấn đề lắm Và cả nhân vật nữa, giữa nhân vật với tôi không có sự phân biệt đáng kể Tôi không bám vào hiện tượng quan sát được, mà thường ướm mình vào nhân vật, không giả sử mình đóng vai người khác sẽ ra sao, mà thường giả sử trong trường hợp đó, mình sẽ xử sự ra sao Tôi muốn huy động vai trò của bản thân một cách cao nhất Và mỗi truyện ngắn trở thành một mảnh của sự phân thân” [122, tr.68]
Ngoài ra còn có những công trình khảo cứu truyện ngắn không chỉ ở Việt Nam
mà còn ở các nước phương Tây: Truyện ngắn dưới ánh sáng so sánh (Đào Ngọc Chương) [22], Truyện ngắn Pháp cuối thế kỷ XX một số vấn đề lý thuyết và thực tiễn sáng tác (Phạm Thị Thật) [157] Lựa chọn đối tượng nghiên cứu là truyện ngắn của
một số nước trên thế giới, trong các công trình này, các nhà nghiên cứu cũng đã đặt
ra được một số vấn đề thuộc về lý thuyết và thực tiễn truyện ngắn ở một số nước trên thế giới như Pháp, truyện ngắn Mỹ, truyện ngắn Châu Mỹ
Quan sát những nhận định, ý kiến, bàn luận về truyện ngắn từ xưa đến nay có thể thấy rõ hai khuynh hướng chính sau đây: thứ nhất, chỉ ra những đặc trưng của truyện ngắn, theo đó: “truyện ngắn chỉ dừng lại ở một khoảnh khắc nào đó tiêu biểu trong một đời người” “trong sự hạn chế của không gian thời gian, tính cách trong truyện ngắn thường khi là những tính cách đã hình thành ổn định và người ta chỉ bắt gặp nó, hơn là việc chứng kiến nó phát triển” Bên cạnh những quan niệm coi truyện
Trang 11ngắn là một thể loại độc lập với những tiêu chí rõ ràng thì cũng có những cách thức
so sánh truyện ngắn với tiểu thuyết để tìm ra đặc trưng của truyện ngắn Cũng lại có những quan niệm coi truyện ngắn là “một loại tiểu thuyết rất ngắn”, truyện ngắn nằm trong phạm trù của truyện kể, truyện ngắn gần với tiểu thuyết nghĩa là vẫn lấy tiểu thuyết làm điểm quy chiếu
Dù định nghĩa truyện ngắn khá phong phú và quan niệm về thể loại này còn có nhiều điểm chưa đồng nhất nhưng truyện ngắn với tư cách là một thể loại thuộc loại hình tự sự vẫn có những đặc điểm đặc thù Tính chất ngắn của thể loại là dấu hiệu bề mặt Dung lượng truyện ngắn là ngắn nhưng thể loại này vẫn có một sức dung chứa lớn Truyện ngắn với tư cách là một khái niệm thể loại không chỉ vì truyện của nó ngắn mà vì “cách nắm bắt cuộc sống của thể loại” Truyện ngắn có thể là một tình thế, một khoảnh khắc nhưng cũng có thể phản ánh nhiều phương diện khác nhau của đời sống Do sự khuôn định về dung lượng nên buộc người viết truyện ngắn phải chú
ý đến những phương diện được cho là lợi thế của truyện ngắn Chi tiết, tình huống, kết cấu và ngôn ngữ là những phương diện được chú ý khai thác của người viết truyện ngắn Truyện ngắn thường hạn chế về nhân vật: “Trong tiểu thuyết hay truyện dài sự kiện hành động nhằm để mô tả tâm lý nhân vật, nó có thể rẽ ngang rẽ tắt Trong khi đó với một dung lượng nhỏ hơn rất nhiều, truyện ngắn chỉ chớp lấy cái thần thái của nhân vật khiến nó phải bộc lộ tính cách bằng cách khoan sâu vào lớp đời sống bao quanh nhân vật” [115, tr.105] Với tính chất ngắn, truyện ngắn đòi hỏi một độ căng, độ dồn nén cần thiết để có thể chuyển tải hiệu quả thông điệp của người viết, bởi vậy “truyện ngắn thường mang lại những âm vang dài và rộng hơn khuôn khổ chật hẹp về mặt hình thức của nó”, chính vì thế, “đôi khi chỉ một truyện ngắn vài ngàn chữ, lại cho thấy một sự bao trùm về không gian, thời gian, lịch sử… rộng lớn của một cuốn tiểu thuyết trường thiên” [115, tr.105] Vậy thì, dung lượng (ở đây là sự giới hạn về số trang) tỷ lệ nghịch với những giá trị biểu đạt, với sức dung chứa, với những tầng nghĩa mà nhà văn muốn biểu đạt Điều quan trọng là ở lối viết và khả năng sáng tạo các thủ pháp nghệ thuật của nhà văn
Từ trước đến nay những phát biểu liên quan đến lý thuyết truyện ngắn rất nhiều nhưng không dễ tìm được một định nghĩa thống nhất Lý giải thực tế này, nhà
Trang 12văn Ma Văn Kháng cho rằng: “do năng lực ôm chứa của truyện ngắn ngày càng tỏ ra
vô tận nên thể tài này trong những năm gần đây đã mang một tầm vóc lớn lao về tư tưởng và nghệ thật rất đáng nể trọng Và đó là nguyên nhân khiến co những định nghĩa về nó trong các sách giáo khoa kinh điển đã trở nên bất cập” [135, tr.204 -205] Một phương diện cần phải nói tới là dù tồn tại như một thể loại độc lập nhưng những vấn đề cơ bản của truyện ngắn cũng có thể nằm trong phạm trù tiểu thuyết Bakhtin khi đề cập đến những vấn đề thi pháp tiểu thuyết thì cũng bao hàm trong đó cả những
vấn đề thuộc về truyện ngắn Trong công trình Những vấn đề thi pháp của truyện
(Nguyễn Thái Hòa) khi phân chia các thể loại truyện thì thể loại tiểu thuyết đã bao gồm cả truyện ngắn, truyện dài, truyện vừa Nhà văn Nguyên Ngọc cho rằng: “truyện ngắn là một thể loại rất động Nó không tự nhốt mình trong một khuôn phép nào (và
có lẽ ở đây một lần nữa ta lại thấy sự giao thoa giữa truyện ngắn và tiểu thuyết, không có ranh giới tuyệt đối giữa hai thứ đó)” [115, tr.27] Bởi vậy, tìm hiểu truyện ngắn từ góc độ thể loại, một mặt, chúng tôi hướng tới việc đi tìm những đặc trưng của thể loại truyện ngắn trên cơ sở soi chiếu thực tiễn và thi pháp sáng tác truyện ngắn Việt Nam đương đại; mặt khác, sẽ không tránh khỏi việc xem xét truyện ngắn trong những mối liên quan với tiểu thuyết từ thực tiễn sáng tác thể loại truyện ngắn trong một bối cảnh cụ thể là văn học Việt Nam từ thời kỳ đổi mới
Đã có nhiều ý kiến bàn về đặc trưng thể loại cũng như những chia sẻ về nghệ thuật và kinh nghiệm viết truyện ngắn Bên cạnh đó, từ thực tiễn khảo sát truyện ngắn, nhiều nhà nghiên cứu cũng đã có những đúc kết quan trọng ở phương diện lý thuyết Những quy ước nghệ thuật đó là cơ sở để chúng tôi tham chiếu khi nghiên cứu sự vận động của thể loại truyện ngắn trong đời sống văn học hôm nay
1.2.2 Các công trình, bài viết đề cập đến truyện ngắn từ sau 1986
1.2.2.1 Những vấn đề chung
Sau 1986 cùng với sự xuất hiện đông đảo đội ngũ những người viết truyện ngắn với sự thay đổi trong lối viết đã có nhiều công trình lựa chọn truyện ngắn, đặc biệt là truyện ngắn đổi mới làm đối tượng nghiên cứu Khảo sát truyện ngắn thời kỳ
Trang 13đổi mới, các nhà nghiên cứu, phê bình đã tiếp cận với nhiều phương diện của thể loại Nhiều cuộc tranh luận xung quanh các vấn đề của truyện ngắn, các tác phẩm cụ thể
đã diễn ra tạo nên một đời sống văn học sôi động Các công trình nghiên cứu về sự vận động của truyện ngắn thời kỳ đổi mới đã giúp người đọc thấy được những bước
đi của thể loại trong tiến trình văn học dân tộc
Ngoài các công trình chuyên biệt về thể loại truyện ngắn như luận án tiến sĩ
của Lê Thị Hường hoàn thành năm 1995 Những đặc điểm cơ bản của truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975 -1995 [74]; các công trình, chuyên luận như Bình luận truyện ngắn (Bùi Việt Thắng) [152], Truyện ngắn Việt Nam lịch sử, thi pháp, chân dung (Nhiều tác giả) [125]; Truyện ngắn - Những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại (Bùi Việt Thắng) [153] đã có nhiều bài viết quan tâm nghiên cứu nhiều vấn đề
của truyện ngắn Các công trình, bài viết ở nhiều góc độ đã đề cập đến thành tựu của truyện ngắn sau 1975, những đóng góp và thách thức của thể loại trong đời sống văn học đương đại Tìm hiểu sự vận động của truyện ngắn trong dòng chảy của văn học những thập niên cuối thế kỷ XX, nhiều người có đồng quan điểm với nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng trong việc ghi nhận vị trí quan trọng của truyện ngắn đối với quá trình đổi mới văn học đương đại: “Không quá khi nói rằng độ khoảng mười năm qua (10 năm đầu thời kỳ đổi mới – tác giả luận án) là thời kỳ hưng thịnh của truyện ngắn… truyện ngắn đang thăng hoa” [152, tr.177]
Cùng với các công trình mang tính tổng quan về văn xuôi trong đó có đề cập
đến thể loại truyện ngắn Văn xuôi Việt Nam 1975 – 1995 những đổi mới cơ bản
(Nguyễn Thị Bình) [13] là các bài viết khảo sát quá trình vận động của văn xuôi nói chung và thể loại truyện ngắn nói riêng ở từng giai đoạn, từng thời kỳ và trong từng
năm: Những thành tựu của truyện ngắn sau 1975 (Bích Thu) [161], Từ một góc nhìn
về sự vận động của truyện ngắn chiến tranh (Tôn Phương Lan) [81], Trong tấm gương của thể loại nhỏ (Bùi Việt Thắng) [152] Truyện ngắn và cuộc sống hôm nay (Phạm Xuân Nguyên) [101], Truyện ngắn nhìn từ trong nguồn mạch (Lại Văn Hùng) [69], Nhìn lại văn xuôi 1992 (Mai Hương) [73], Sự vận động của các thể loại văn xuôi trong văn học thời kỳ đổi mới (Lý Hoài Thu) [164], Truyện ngắn hiện nay, sức mạnh và hạn chế (Nguyên Ngọc) [99],…Đa phần các bài viết có chung quan điểm
Trang 14trong việc ghi nhận vị trí quan trọng của truyện ngắn đối với quá trình đổi mới văn học đương đại Khảo sát sự vận động của các thể loại văn xuôi trong văn học thời kỳ đổi mới Lý Hoài Thu khẳng định đây là thời kỳ truyện ngắn lên ngôi Cắt nghĩa về điều này, tác giả cho rằng: “Trong nhịp độ của đời sống công nghiệp hiện đại, dưới sức ép của các phương tiện nghe nhìn, truyện ngắn đã phát huy được ưu thế của mình
một cách hiệu quả” [164] Bích Thu trong bài viết Những thành tựu của truyện ngắn sau 1975 [161] đã có một cái nhìn và cách đánh giá khá toàn diện về truyện ngắn sau
1975 từ việc khảo sát truyện ngắn trên các phương diện cốt truyện, kết cấu, quan niệm nghệ thuật về con người, ngôn ngữ trần thuật
Một trong những “mảnh đất ươm mầm” các cây bút truyện ngắn là các cuộc thi truyện ngắn liên tục được tổ chức trên các báo và tạp chí Bên cạnh việc tham dự của nhà văn là sự quan tâm của các nhà phê bình Ngay sau khi các tác phẩm được đăng tải, nhiều nhà phê bình đã có ý kiến phản hồi tạo nên những hiệu ứng tích cực cho đời sống văn học (các bài viết của Phạm Xuân Nguyên, Lý Hoài Thu, Bùi Việt
Thắng, Xuân Thiều, Bùi Hiển: Tản mạn bên lề cuộc thi (Phạm Xuân Nguyên, tạp chí Văn nghệ quân đội số 10/1993), Những truyện ngắn hay (Lý Hoài Thu, tạp chí Văn nghệ quân đội số 12/1993), Một cuộc thi về người lính, vì người lính và vì một nền văn học đổi mới, lành mạnh (Báo cáo tổng kết cuộc thi truyện ngắn 1992 – 1994, tạp chí Văn nghệ quân đội số 10/1994), Những bài viết này cho thấy gương mặt mới
của thể loại trong đời sống văn học đương đại cùng những chuyển biến tích cực so với truyện ngắn giai đoạn trước
Những sáng tác mới của các tác giả trẻ cũng luôn dành được sự chú ý và phản hồi của người đọc Khi tìm hiểu sáng tác của lớp nhà văn trẻ này, nhiều bài viết một mặt khẳng định những đóng góp và sáng tạo mới, mặt khác còn đề cập đến những
thách thức trong sáng tạo nghệ thuật ở họ (Văn trẻ - phía trước và hy vọng, Khi người ta trẻ I, Khi người ta trẻ II, Bắt mạch văn trẻ (Bùi Việt Thắng) [152] Cùng với tạp chí Văn nghệ quân đội, báo Văn nghệ, báo Văn nghệ trẻ,… là những cái nôi cho
sự xuất hiện của các truyện ngắn, nhất là truyện ngắn của các tác giả trẻ Đồng hành với sáng tác của các cây bút trẻ, với các sáng tác mới là việc đăng tải các bài phê bình
cập nhật về sáng tác của họ Sự xuất hiện của các tập Truyện ngắn 8X và Vũ điệu
Trang 15thân gầy đã dấy lên những tranh luận trên văn đàn Từng có những cuộc hội thảo, tọa đàm về sáng tác của những cây bút thế hệ 8X (tọa đàm về hai tập truyện ngắn Vũ điệu thân gầy và Truyện ngắn 8X do Ban công tác Nhà văn trẻ tổ chức ngày
28/6/2007 tại Hà Nội) Điều này cho thấy ý thức và nhu cầu được viết đúng bản ngã của người viết và sự quan tâm của bạn đọc đối với một thế hệ viết mới Phần lớn các
ý kiến đều hướng tới việc lý giải những vấn đề trong sáng tác trẻ như: nhà văn trẻ và câu chuyện thế hệ, vấn đề vốn sống với nhà văn trẻ, việc lựa chọn đề tài và lối viết, những hạn chế, căn bệnh của người viết trẻ cũng được chỉ ra
Truyện ngắn từ phương diện thể loại cũng đã ít nhiều được các tác giả, các nhà nghiên cứu đề cập đến, ở các phương diện: những đổi mới trong tư duy thể loại, những cách tân trong nghệ thuật tự sự của các cây bút truyện ngắn Sự có mặt của hình thức truyện rất ngắn (còn gọi là truyện ngắn mi ni) cũng không nằm ngoài sự quan tâm nghiên cứu của giới nghiên cứu, phê bình văn học Tìm hiểu truyện ngắn sau 1975 các nhà nghiên cứu cũng đã chú ý đến sự hiện diện của thể loại truyện rất ngắn trong đời sống văn học và coi đó như một nhu cầu tất yếu xuất phát từ cả chủ thể sáng tạo và đối tượng tiếp nhận Nhiều tác giả đã dành sự quan tâm cho thể loại
này như Đặng Anh Đào với Truyện cực ngắn [33], Nguyên Ngọc với Truyện rất ngắn – tác phẩm nghệ thuật, Lê Dục Tú với Thể loại truyện rất ngắn trong đời sống văn học đương đại [174].
Theo dõi tình hình nghiên cứu truyện ngắn đổi mới, có thể thấy, đa phần các ý kiến đều thống nhất cho rằng: “Truyện ngắn Việt Nam đang có những chuyển đổi mạnh mẽ, đang được mùa, “thăng hoa” và đóng một vai trò quan trọng trong đời sống văn học đương đại Qua việc khảo sát lịch sử vấn đề nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy cùng với sự vận động của thể loại, truyện ngắn thời kỳ đổi mới (từ những hiện tượng đến những vấn đề đặt ra trong từng tác giả, tác phẩm cụ thể) đã dành được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình Bên cạnh cách tiếp cận từ đề tài sáng tác (truyện ngắn chiến tranh, hôn nhân và tình yêu, vấn đề gia đình, đề tài người lính, truyện ngắn viết về nông thôn, truyện ngắn miền núi, giới tình và tình dục) là những hướng tiếp cận về sự đổi mới hình thức thể loại, về nghệ thuật tự sự
1.2.2.2 Tiếp cận từ những hiện tượng
Trang 16Trong suốt hơn hai mươi năm đổi mới, đời sống thể loại truyện ngắn đã có một số hiện tượng đáng chú ý.
Văn đàn những năm cuối thập kỷ tám mươi từng dấy lên cuộc tranh luận về sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp Tuy nhiên, ngay từ trước đó, truyện ngắn Nguyễn Minh Châu đã gây được chú ý Cùng với những tuyên ngôn nghệ thuật, đặc biệt bài viết “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa”, nhiều sáng tác của
ông như Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Khách ở quê ra, Cỏ lau, Phiên chợ Giát đã cho thấy một sự thay đổi đáng kể trong tư duy nghệ thuật Nhiều bài viết
đánh giá cao những cách tân nghệ thuật và khẳng định đóng góp của Nguyễn Minh
Châu trên tiến trình đổi mới văn học những năm sau chiến tranh (Đọc Nguyễn Minh Châu (từ Bức tranh đến Phiên chợ Giát) - Hoàng Ngọc Hiến [56]), Đọc Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh Châu (Đỗ Đức Hiểu) [63] Đọc Phiên chợ Giát, Đỗ Đức Hiểu nhận định: “Phiên chợ Giát là một truyện mở; từ cái lô gic của ngôn ngữ trên bề mặt,
truyện đi tới ngôn ngữ thứ hai, ngôn ngữ biểu tượng, xiêu vẹo, những ảo giác, với những cơn sốc, những nghịch lý, tức là một thế giới quyện nhòe của hư và thực, đó là những ký hiệu riêng của Nguyễn Minh Châu trong truyện ngắn này Truyện không khép kín ở một ý nghĩa nào, nó mở ra cho mỗi nhóm người đọc một chân trời, người đọc tham dự vào văn học” [63, tr.381] Phạm Vĩnh Cư nhận thấy tư duy tiểu thuyết
đã làm nên những thay đổi đáng kể ở cây bút này (Về những yếu tố tiểu thuyết trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu) [26] Trong cuộc hội thảo kỷ niệm 1 năm và 5
năm ngày mất của ông, nhiều tham luận đã đánh giá cao vai trò của Nguyễn Minh Châu ở tư cách người mở đường cho sự đổi mới văn học mà cũng có thể coi là đổi mới truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp là hiện tượng nổi bật của văn học thời kỳ đổi mới Ngay khi công bố tác phẩm, đã có những dư luận trái chiều về sáng tác của ông Năm 1987,
truyện ngắn Tướng về hưu xuất hiện, tiếp sau đó là các truyện ngắn Con gái thủy thần, Không có vua, Những ngọn gió Hua Tát và nhất là chùm truyện ngắn lịch sử Vàng lửa, Kiếm sắc và Phẩm tiết Sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp đã dấy lên những
cuộc tranh luận trên văn đàn với những ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau
Xung quanh cuộc tranh luận này đã có nhiều bài viết đáng chú ý: Có nghệ thuật Ba -
Trang 17rốc trong các truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp hay không?, Về truyện ngắn “Vàng lửa” của Nguyễn Huy Thiệp (Tạ Ngọc Liễn), Đọc văn phải khác với đọc sử (Lại Nguyên Ân), Có một cách đọc “Vàng lửa” (Đỗ Văn Khang), “Đọc” Nguyễn Huy Thiệp (Văn Tâm), Khi ông tướng về hưu xuất hiện (Đặng Anh Đào) Các bài viết quan trọng về sáng tác Nguyễn Huy Thiệp được tập hợp giới thiệu trong Nguyễn Huy Thiệp tác phẩm và dư luận và Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp Phần lớn các ý kiến đều ghi
nhận những đóng góp nổi bật của Nguyễn Huy Thiệp, về cái mới trong sáng tác của ông từ cách tiếp cận đề tài, xử lý chất liệu hiện thực đến đổi mới bút pháp Dù có những ý kiến, chỉ trích, phê phán truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp nhưng đa phần lại thừa nhận tài năng của tác giả Các bài viết chủ yếu tập trung vào việc tìm hiểu những cách tân nghệ thuật truyện ngắn của ông trong việc tìm tòi, tiếp cận và xử lý chất liệu hiện thực (trong đó có hiện thực huyền ảo), về “quyền” được hư cấu ở mức độ nào của người viết truyện ngắn lịch sử Có thể nói, Nguyễn Huy Thiệp đã làm dậy sóng văn đàn và khơi mở một cách viết mới về đề tài lịch sử
Hiện tượng truyện ngắn nữ vào nửa cuối thập niên 80 và trong suốt thập niên
90 cũng gây được sự chú ý của người đọc và giới nghiên cứu phê bình Có thể thấy phần lớn các cây bút nữ đương đại thường chọn truyện ngắn để thử sức và dấn thân, được độc giả nhìn nhận như những cây bút truyện ngắn và nhiều người trong số họ cũng sớm thành danh ở thể loại này Đây được coi là thời kỳ thăng hoa của truyện ngắn nữ, là giai đoạn “âm thịnh” Những cây bút như Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo, Lê Minh Khuê, Y Ban, Phan Thị Vàng Anh,… đã sớm thành danh trên văn đàn, sáng tác của họ đã tạo được dư luận, gây được sự chú ý của độc giả bởi cách đặt và
xử lý vấn đề, bởi những quan niệm mới mẻ, táo bạo về nhân sinh Xung quanh hiện
tượng này đã có nhiều ý kiến, phân tích lý giải Tạp chí Văn học số 6/1996 đăng tải tường thuật buổi tọa đàm Phụ nữ và sáng tác văn chương [120] trong đó tập trung ý
kiến của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình lẫn sáng tác như Đặng Anh Đào, Lê Minh Khuê, Lại Nguyên Ân, Phạm Xuân Nguyên, Vương Trí Nhàn Các ý kiến tập trung lý giải sự xuất hiện đông đảo các cây bút truyện ngắn nữ sau 1975 cũng như những đổi mới về hướng tiếp cận đời sống và phương thức thể hiện trong sáng tác của họ Đồng thời, có rất nhiều bài viết lựa chọn văn xuôi nữ, truyện ngắn nữ làm đối tượng khảo
Trang 18sát: Văn xuôi của phái đẹp (Bích Thu) [162], Ý thức phái tính trong văn xuôi nữ đương đại (Nguyễn Thị Bình) [12], Phác thảo vài nét về diện mạo truyện ngắn đương đại và sự góp mặt của một số cây bút nữ (Nguyễn Thị Thành Thắng) [156],…
Từ những góc độ khác nhau, các tác giả đã có sự nhìn nhận trên nhiều bình diện của truyện ngắn các cây bút nữ, đề cập đến những đặc điểm nổi bật trong sáng tác của họ Các bài viết khẳng định sự tiếp nối về đội ngũ cũng như những đặc điểm của giới tính bộc lộ qua cách nhìn hiện thực và con người Những năm gần đây trong đời sống
lý luận phê bình văn học đang hình thành xu hướng tiếp cận sáng tác của các cây bút
nữ, của truyện ngắn nữ từ góc độ nữ quyền luận Trên thế giới, việc áp dụng lý thuyết
nữ quyền vào nghiên cứu sáng tác của các cây bút nữ đã có ở nhiều nước phương Tây như Pháp, Mỹ - nơi mà phong trào đấu tranh cho nữ quyền đã trở thành một xu hướng chính trị có ảnh hưởng rộng rãi trong đời sống Ở Việt Nam tình hình có khác
vì việc đấu tranh cho nữ quyền không trở thành một hiện tượng có ảnh hưởng sâu rộng Tuy nhiên một số bài viết cũng đã bước đầu tiếp cận với sáng tác của các cây bút nữ từ lý thuyết này Cũng cần lưu ý một thực tế là khi tiếp cận với sáng tác văn học Việt Nam từ lý thuyết phương Tây đã có những công trình, bài viết ứng dụng có hiệu quả các lý thuyết vào nghiên cứu thực tiễn (lý thuyết tiếp nhận) nhưng cũng có trường hợp không tránh khỏi khiên cưỡng và vì thế chưa có được kết quả khả quan
Đầu thế kỷ XXI, cùng với những chuyển động của đời sống văn học là hiện
tượng Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư, Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu, truyện ngắn 8X Cánh đồng bất tận in lần đầu trên báo Văn nghệ năm 2005 và được trao
tặng giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2006 Ngay từ khi xuất hiện, truyện ngắn này đã nhận được nhiều phản hồi tích cực từ phía người phê bình, nghiên cứu cũng như người đọc, được chuyển thể thành kịch bản điện ảnh, được chuyển ngữ ra nhiều thứ tiếng và xuất bản ở nước ngoài Từng có nhiều tập truyện ngắn trước đó
nhưng đến Cánh đồng bất tận, Nguyễn Ngọc Tư đã có sự bứt phá ngoạn mục với
cách viết táo bạo Dù có nhiều luồng ý kiến xung quanh nó nhưng dư luận nhìn chung
đánh giá cao Cánh đồng bất tận: những nỗi đau, bất hạnh của con người, những thực
trạng đời sống được Nguyễn Ngọc Tư khai thác đến tối đa, đẩy đến tận cùng nhưng tác phẩm lại thấm đẫm tinh thần nhân văn cao cả Bên cạnh đó những thành công
Trang 19trong nghệ thuật tự sự như thay đổi bút pháp và giọng điệu, nghệ thuật kết cấu và ngôn ngữ tác phẩm cũng được ghi nhận.
Năm 2005, tập truyện Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu được xuất bản và ngay lập
tức nhận được những luồng dư luận trái chiều Các ý kiến tập trung vào truyện ngắn
Bóng đè – tác phẩm được lấy làm tên chung cho cả tập Một bộ phận người đọc đánh
giá cao truyện ngắn, cho rằng đây là một tác phẩm hay cả về nội dung và lối viết (ý kiến của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Xuân Nguyên, Nguyên Ngọc) Một bộ phận độc giả lại cho rằng tác phẩm khá dung tục, đã hạ bệ quá khứ, phỉ báng truyền thống, cần phê phán về tư tưởng (Nguyễn Hòa) Có thể thấy, mỗi nhận định, đánh giá về hiện tượng này đứng trên những lập trường, tư tưởng và quan niệm văn học khác nhau, tuy nhiên thực tế là có những ý kiến chưa xuất phát từ chính tác phẩm mà mang nặng thiên kiến cá nhân hoặc tâng bốc một hiện tượng
Những năm gần đây một số cây bút trẻ thế hệ 8X bắt đầu xuất hiện trên văn đàn và các sáng tác của họ nhận được sự quan tâm của người đọc Sự quan tâm đó, trước tiên là sự quan tâm đến một thế hệ mới, tương lai của văn đàn Sự xuất hiện của
các tập Truyện ngắn 8X và Vũ điệu thân gầy đã dấy lên những tranh luận trên văn đàn
và Ban nhà văn Trẻ của Hội nhà văn đã mở cuộc trao đổi với nhiều ý kiến Thực tế cho thấy, sáng tác của họ có những cái khác, cái mới so với thế hệ trước Những người viết thế hệ 8X gần như được sống trong bầu sinh quyển mới, khi tổ quốc không còn tiếng súng, khi đời sống xã hội đã có những biến chuyển ở nhiều phương diện Họ được nuôi dưỡng và trưởng thành trong điều kiện kinh tế không còn khó khăn của thời bao cấp và bản thân sớm được tiếp xúc với những kỹ nghệ mới (như công nghệ thông tin, kỹ thuật số, truyền thông đa phương tiện) - điều mà thế hệ cha chú, anh chị của họ không thể có được Bởi vậy cách họ chiếm lĩnh và khắc họa đời sống cũng có những khác biệt Bên cạnh việc ghi nhận những nỗ lực sáng tác của các cây bút mới cũng có nhiều ý kiến phê bình, thẳng thắn chỉ ra những hạn chế trong truyện ngắn của các cây bút thế hệ này Dù sao, theo chúng tôi, các sáng tác trong hai tập truyện ngắn này cần được xem như những sáng đầu tay mang tính chất thể nghiệm của một thế hệ, “đang nỗ lực đi tìm cách viết”, để rồi hoặc họ không còn tái
Trang 20xuất văn đàn, hoặc sẽ vững vàng hơn trên bước đường văn chương của mình bằng những sáng tác mới
1.2.2.3 Những nghiên cứu về các tác giả, tác phẩm cụ thể
Cụm bài này rất nhiều được đăng tải trên các báo và tạp chí cũng như trong các
công trình nghiên cứu, phổ biến nhất là trên báo Văn nghệ, Văn nghệ trẻ, tạp chí Văn nghệ quân đội, tạp chí Sông Hương,… Ngoài Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Minh
Châu, các bài nghiên cứu, phê bình thường tập trung vào một số tác giả xuất hiện đều đặn và đã thành danh, tiêu biểu cho truyện ngắn một giai đoạn như Xuân Thiều, Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải, Đỗ Chu, Lê Minh Khuê, Y Ban, Võ Thị Xuân Hà, Nguyễn Thị Thu Huệ cùng một số tác giả trẻ đang dần định hình về phong cách như Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy, Phạm Duy Nghĩa, Phong Điệp,… Những bài viết này thường xuất hiện cập nhật với tình hình sáng tác: từ những bài đọc sách, giới thiệu tác phẩm mới đến những bài viết nhận diện sáng tác của từng cây bút, từng chặng đường sáng tác khẳng định những tìm tòi, đóng góp của người viết trên tiến trình đổi mới văn học Ngoài ra còn có nhiều luận văn, luận án lựa chọn một tác giả truyện ngắn làm đối tượng nghiên cứu Các tác giả công trình thường triển khai luận án theo hướng tự sự học, thi pháp học, theo đó thường đi vào các phương diện như nhân vật, cốt truyện, người kể chuyện, ngôn ngữ, giọng điệu, điểm nhìn trần thuật - những phương diện chính yếu trong lý thuyết trần thuật
1.2.2.4 Tiếp cận truyện ngắn từ góc độ vận dụng lý thuyết
- Tiếp cận từ thi pháp học, tự sự học Đây được coi là khuynh hướng nghiên cứu chủ đạo khi tiếp cận với đời sống thể loại Với việc ứng dụng lý thuyết thi pháp học (của Bakhtin), tự sự học (Roland Barthes, Genette,…), lý thuyết tiếp nhận của H.R Jauss, R.Ingarden vào nghiên cứu trường hợp truyện ngắn Việt Nam đương đại, các nhà nghiên cứu đã giải mã nhiều vấn đề thuộc về thi pháp sáng tác và nghệ thuật tự
sự như cảm hứng nghệ thuật, thế giới nhân vật, cốt truyện, kết cấu, không gian, thời gian nghệ thuật,… Khuynh hướng này có ý nghĩa trong việc giải mã những vấn đề thuộc về bút pháp và nghệ thuật trần thuật – những phương diện chính yếu trong một tác phẩm tự sự và trên thực tế đã đem lại nhiều thành tựu nghiên cứu Vận dụng lý thuyết trần thuật vào nghiên cứu truyện ngắn, nhiều công trình nghiên cứu đã chỉ ra
Trang 21những thành tựu và giới hạn của người viết Tuy nhiên, việc tuân thủ duy nhất vào một lý thuyết và việc áp dụng rập khuôn, máy móc một lý thuyết cũng đã cho thấy những bất cập, những hạn chế khi nghiên cứu trường hợp truyện ngắn đương đại cũng như ứng dụng vào việc giải phẫu một tác phẩm cụ thể.
- Tiếp cận từ góc độ phân tâm học Đây là khuynh hướng tiếp cận mới với
những bài viết tiêu biểu của Hồ Thế Hà (Một số tác phẩm văn xuôi Việt Nam qua cái nhìn phân tâm học [53], Trần Thanh Hà (Hướng tiếp cận từ phân tâm học trong truyện ngắn Việt Nam [52] Với việc ứng dụng lý thuyết phân tâm học (chủ yếu của
Freud), người viết đã khảo sát truyện ngắn thời kỳ đổi mới qua những vấn đề của học thuyết này như vô thức, tính dục, tâm lý học sáng tạo nghệ thuật
- Tiếp cận từ lý thuyết huyền thoại Đã có một số công trình, bài viết chọn cách tiếp cận theo khuynh hướng này nhằm nghiên cứu và lý giải sự xuất hiện của yếu tố kỳ ảo trong văn xuôi Việt Nam nói chung và truyện ngắn đương đại nói riêng
(Yếu tố kỳ ảo trong văn xuôi đương đại Việt Nam, luận án tiến sỹ của Bùi Thanh
Truyền)
- Vận dụng những lý thuyết mới như hậu hiện đại, lý thuyết hiện sinh vào nghiên cứu truyện ngắn thời kỳ đổi mới Nếu như chừng năm bảy năm về trước, khái niệm hậu hiện đại còn được đề cập khá dè dặt thì đến nay đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Nhiều nhà nghiên cứu và dịch giả đã có những công trình dịch thuật lý
thuyết hậu hiện đại (Hoàn cảnh hậu hiện đại – Lyotard) [88] và vận dụng khảo sát qua nhiều trường hợp, với các bài viết tiêu biểu như Những dấu hiệu của chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Việt Nam qua sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài của Lã Nguyên [100], Lịch sử trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp và dấu vết của hệ hình thi pháp hậu hiện đại của Cao Kim Lan [79] Cho dù còn có những ý
kiến tranh luận về việc có nên quy một số hiện tượng vào phạm trù văn học hậu hiện đại hay không nhưng những động thái nghiên cứu này đã cho thấy những biến chuyển của đời sống thể loại, cho thấy một thực tế là tâm thức và kỹ thuật viết hậu hiện đại đang là trạng thái hiện tồn trong nhiều tác phẩm, dù hoàn cảnh, điều kiện hậu hiện đại ở Việt Nam hiện nay chưa phải đã xuất hiện đầy đủ
Trang 22- Ngoài ra còn các có hướng tiếp cận từ góc độ liên ngành: xã hội học văn học, nhân học văn hóa,…
Qua việc khảo sát lịch sử vấn đề nghiên cứu, chúng tôi đi đến một số nhận định sau:
- Trong chặng đường hơn hai mươi năm đổi mới, thể loại truyện ngắn đã được các nhà nghiên cứu, phê bình văn học đương đại quan tâm khảo sát với tính chất là những bài viết riêng rẽ hoặc những nhận định về thể loại trong hướng nghiên cứu về những vấn đề của văn xuôi, văn học thời kỳ này Một vài công trình chuyên biệt khác
thì đối tượng nghiên cứu dừng lại ở thời điểm hơn mười năm về trước (Những đặc điểm cơ bản của ruyện ngắn Việt Nam 1975 – 1995) [74] trong khi đời sống thể loại
từ đó đến nay đã có những thay đổi đáng kể Chú ý tới tính cập nhật của đối tượng, chúng tôi coi đó là cơ sở gợi dẫn để tìm hiểu nhận diện những đặc điểm và quy luật vận động của thể loại trên tiến trình đổi mới văn học
- Đời sống truyện ngắn nhìn từ góc độ thể loại là phương diện còn ít được các nhà nghiên cứu, các công trình, bài viết đề cập đến Luận án hướng tới việc nghiên cứu đời sống thể loại trong sự phát triển nội tại và sự tương tác thể loại với hy vọng
sẽ phần nào khắc phục, bổ khuyết việc nhận diện và lý giải đời sống thể loại truyện ngắn từ sau 1986
- Trên cơ sở khảo sát truyện ngắn từ 1986 đến nay từ góc độ thể loại, góp phần nhận diện truyện ngắn giai đoạn này; lý giải quy luật vận động của thể loại, đồng thời có sự đánh giá những đổi mới về tư duy nghệ thuật, xu hướng chuyển đổi trong ý thức sáng tạo của các cây bút truyện ngắn
1.3 Diễn trình truyện ngắn thời kỳ đổi mới
Năm 2008, báo Văn nghệ cho ra mắt bạn đọc bộ tuyển tập 60 năm truyện ngắn báo Văn nghệ Với bộ tinh tuyển này người đọc cũng đã phần nào hình dung
được chặng đường 60 năm qua của truyện ngắn Việt Nam Nhìn vào năm tập của bộ tuyển tập gắn liền với 5 giai đoạn: 1945 - 1954, 1954 - 1965, 1965 - 1975, 1975 -
1986, 1986 - 2007 với tiêu đề mỗi tập là tác phẩm được lựa chọn tiêu biểu cho mỗi
giai đoạn Con đường sống (Minh Lộc), Bút máu (Vũ Hạnh), Mầm sống (Triệu Bôn), Muối của rừng (Nguyễn Huy Thiệp) và Nợ trần gian (Nguyễn Bản) người đọc có thể
Trang 23thấy được sự vận động của đời sống thể loại, qua đó thấy được bước chuyển, dấu ấn của lịch sử, thời đại và bước đi của nghệ thuật viết truyện ngắn qua từng chặng đường Quan sát đời sống thể loại, có thể thấy, trong vài ba thập niên trở lại đây, với
xu hướng chuyển đổi trong ý thức và hành vi sáng tác, truyện ngắn đã và đang có những chuyển biến trước đòi hỏi của đời sống và sự cảm thụ của người đọc Với khả năng biến hóa linh hoạt, truyện ngắn đã chứng tỏ là thể loại thuận lợi trong việc phát huy khả năng tiếp cận hiện thực trong giai đoạn mới nhanh nhạy và sắc bén
1.3.1 Giai đoạn từ 1986 đến 2000 với vai trò chủ đạo của thế hệ nhà văn thế hệ thứ ba, thế hệ thứ tư
Sau quãng thời gian mười năm giao thời khi chiến tranh kết thúc, từ nửa sau thập kỷ 80 của thế kỷ XX, đời sống văn học mới thực sự có những chuyển đổi: từ tính thống nhất với tư duy sử thi là chủ đạo đến tư duy tiểu thuyết, từ chịu ảnh hưởng của các quy luật chiến tranh đến chịu tác động của các quy luật thời bình Bước chuyển của văn học được thể hiện qua thơ, kịch, văn xuôi trong đó truyện ngắn là thể loại ghi dấu rõ rệt Cùng với những chuyển động của thể loại tiểu thuyết với sự xuất
hiện của những tác phẩm từng gây dư luận như Cù lao Tràm, Đứng trước biển (Nguyễn Mạnh Tuấn), Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng), Chim én bay (Nguyễn Trí Huân), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường, ) là sự trở lại, lên ngôi của truyện ngắn với những cây bút
gạo cội từng có những đóng góp cho nền văn học kháng chiến Các nhà văn Xuân Thiều, Bùi Hiển, Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Mai Ngữ, Đỗ Chu, Nguyễn Kiên, Nguyễn Quang Sáng vẫn thường xuyên có tác phẩm đăng đàn Bùi Hiển với
các tập Tâm tưởng, Ngơ ngẩn mùa xuân; Nguyễn Minh Châu với các tập truyện Bến quê, Cỏ lau, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành; Ma Văn Kháng với Đồng bạc trắng hoa xòe, Ngày đẹp trời, Trăng soi sân nhỏ; Đỗ Chu với Mảnh vườn xưa hoang vắng, Một loài chim trên sóng; Xuân Thiều với Gió từ miền cát, Xin đừng gõ cửa; Nguyễn Kiên với Những mảnh vỡ, Đáy nước, Chim khách kêu, Nguyễn Quang Sáng với Con mèo Foujita,… Từng sống và viết trong chiến tranh, trở về với cuộc sống
thời bình các nhà văn đã có sự nhập cuộc với đời sống hậu chiến, có sự chuyển biến trong lối viết Sáng tác của các nhà văn này đã có sự kết hợp giữa lối viết truyền
Trang 24thống với sự cách tân trong nghệ thuật, trong bút pháp và cách thức kể Có thể khẳng định, chính sự tiếp tục hiện diện của họ trong đời sống văn học đã góp phần quan trọng làm nên những thành tựu của văn học đổi mới
Bên cạnh đó là những cây bút xuất hiện ở giai đoạn kế tiếp như: Bảo Ninh, Lê Minh Khuê, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anh, Nguyễn Quang Thiều,
Dạ Ngân, Hòa Vang, Y Ban, Võ Thị Xuân Hà, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phạm Ngọc Tiến, Nguyễn Thị Ấm, Phạm Hoa, Lưu Sơn Minh, Phạm Thị Minh Thư, Sương Nguyệt Minh, Hồ Anh Thái, Trần Thùy Mai,… Sự kế tục của đội ngũ người viết truyện ngắn hùng hậu này đã làm cho bức tranh truyện ngắn đương đại Việt Nam trở nên đa sắc với nhiều mảng màu, đường nét và hình khối
Sau chiến tranh, dưới tác động của làn gió đổi mới, các nhà văn đã có những chuyển biến trong ý thức nghệ thuật Ở tư cách người viết, nhà văn Nguyễn Kiên -
tác giả của nhiều tập truyện ngắn viết trong chiến tranh (như Trong làng, Đồng tháng năm, Vụ mùa chưa gặt) - đã bộc bạch nhu cầu nhìn nhận lại thực tế cuộc sống bằng
con mắt của ngày hôm nay: “Đã có một thời, theo tên gọi một truyện ngắn của Nguyễn Khải là “cái thời lãng mạn” trong đó chúng ta đem cái mơ ước và cả ảo tưởng nữa áp đặt vào thực tế Mơ ước thì vẫn còn, vẫn cần thiết nhưng ảo tưởng thì đang bị thực tế xua đi” [138], nghĩa là không gì khác, chính đòi hỏi của đời sống đã tác động đến nhà văn, “cuộc sống quyết định tiến trình của văn học và truyện ngắn” Với ý thức đó, nhiều nhà văn từng kinh qua chiến tranh đã có những thay đổi trong
cách lựa chọn vấn đề và xử lý chất liệu hiện thực Cái thời lãng mạn, Một người Hà Nội (Nguyễn Khải), Cỏ lau, Phiên chợ Giát (Nguyễn Minh Châu), Con mèo Foujita (Nguyễn Quang Sáng), Tóc huyền màu bạc trắng (Ma Văn Kháng), Mảnh vườn xưa hoang vắng, Mê lộ (Đỗ Chu),… là những tác phẩm cho thấy tinh thần đổi mới của
nhà văn trước thực tế đời sống Với trường hợp Bùi Hiển, có thể thấy, nếu như trong chiến tranh, từ những ngày đầu đế quốc Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc, ông đã có mặt ở tuyến lửa thực sự hòa mình vào cuộc chiến đấu của nhân dân, kịp thời ghi lại không khí chiến đấu trên khắp các nẻo
đường chiến dịch (Đường lớn, Những tiếng hát hậu phương, Hoa và thép) thì
Trang 25sau ngày miền Nam được giải phóng, Bùi Hiển lại tiếp tục những chuyến đi Ông đã có mặt ở Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên,… tiếp tục viết về những con người từng gặp và cuộc sống ở những vùng đất ông từng đặt chân, qua đó cho thấy khả năng nhập cuộc trước thực tế đời sống mới Sau chiến tranh, sáng tác của Bùi Hiển lại đặt ra những vấn đề trực diện của đời sống xã
hội, con người hôm nay Ngòi bút của tác giả Nằm vạ (viết năm 1940) lại tỏ ra
riết róng với những vấn đề của xã hội sau chiến tranh: trạng thái tâm lý của người luống tuổi trước những biến động của đời sống gia đình và xã hội thời
đổi mới (Một ngày tốt bụng), sự suy thoái đạo đức nhân cách, mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng (Cái bóng cọc), sự tranh giành quyền lực (Anh bạn
Kỉnh của tôi) Từ chiến tranh trở về với cuộc sống đời thường, từ hướng ngoại
chuyển dần sang hướng nội, tác phẩm của ông càng ngày càng giàu chất chiêm nghiệm Giọng điệu suy tư, triết lý trở thành giọng điệu chủ yếu trong
nhiều tác phẩm của nhà văn viết sau chiến tranh (ở các tập Tâm tưởng, Ngơ
ngẩn mùa xuân) Bên cạnh đó, nhiều tác phẩm của các tác giả khác cũng đã đi vào khai thác những khía cạnh gai góc đang đặt ra trong đời sống hoặc những vấn đề của
con người đời thường gây được sự chú ý của dư luận như Vũ điệu của cái bô (Nguyễn Quang Thân), Nợ trần gian (Nguyễn Bản), Bước qua lời nguyền, Xưa kia chị đẹp nhất làng (Tạ Duy Anh), Bi kịch nhỏ, Đồng đô la vĩ đại (Lê Minh Khuê), Đùa của tạo hóa (Phạm Hoa), Người sót lại của rừng cười (Võ Thị Hảo), Hậu thiên đường, Minu xinh đẹp (Nguyễn Thị Thu Huệ),…
Đề tài hậu chiến, cuộc sống của người lính trở về từ chiến tranh, xung đột giữa cái cũ và cái mới là những vấn đề thường được đặt ra trong các truyện ngắn Mười năm đầu sau khi chiến tranh kết thúc, văn học vẫn được viết theo quán tính, nghĩa là âm hưởng về một cuộc chiến tranh hào hùng của cả dân tộc vẫn hiện diện trong nhiều sáng tác Từ thời kỳ đổi mới, các cây bút truyện ngắn đã đi vào những vấn đề của con người hậu chiến: số phận của những người lính trở về sau chiến tranh
(Cỏ lau – Nguyễn Minh Châu, Người sót lại của rừng cười – Võ Thị Hảo, Mảnh vườn xưa hoang vắng, Mê lộ - Đỗ Chu), trạng thái lạc lõng của một vị tướng về hưu
Trang 26giữa đời thường (Tướng về hưu – Nguyễn Huy Thiệp), trạng thái cô đơn của những người phụ nữ có chồng đi chinh chiến vĩnh viễn không trở về (Hai người đàn bà xóm Trại – Nguyễn Quang Thiều) Có thể thấy rõ điều này qua trường hợp Đỗ Chu – tác giả của những truyện ngắn giàu chất thơ Hương cỏ mật, Phù sa từng được bạn đọc
biết đến từ những năm 60 Nếu như các truyện ngắn được viết từ trước 1975 (qua hai
tập truyện Phù sa và Gió qua thung lũng) cho đến những năm cuối thập kỷ bảy mươi (Trung du) nổi bật với cảm hứng lãng mạn cách mạng, cũng là đặc trưng của một thời
kỳ văn học chịu sự chi phối của quy luật chiến tranh thì đến Mảnh vườn xưa hoang vắng, Đỗ Chu đã có sự chuyển biến trong cách tiếp cận đời sống và thể hiện nhiều
vấn đề của nhân sinh, thế sự Nửa sau thập kỷ 70, nửa đầu thập kỷ 80 là những năm
“bản lề” của một giai đoạn văn học mới Thời kỳ này Đỗ Chu vẫn tiếp tục sáng tác
tuy nhiên hai tập truyện ngắn Trung du (1977) và Nơi con đường gặp biển (1978)
được viết trong quãng thời gian này chưa gây được sự chú ý của người đọc Những
dấu hiệu đổi mới đã có ở tập Tháng hai (1986) nhưng phải đến khi Mảnh vườn xưa hoang vắng ra mắt bạn đọc năm 1989, Đỗ Chu mới thực sự làm cho cả người đọc lẫn
nhiều nhà nghiên cứu phê bình phải thêm một lần khâm phục bởi nỗ lực làm mới mình của một người nghệ sỹ tâm huyết với nghề nghiệp Vẫn là một Đỗ Chu với những trang viết giàu chất trữ tình của hơn hai mươi năm về trước nhưng giờ đây đã
có thêm những sắc thái và giọng điệu mới cho thấy sự bắt nhịp với đời sống đương
đại để khám phá ra nhiều vỉa tầng của hiện thực Cả ba tác phẩm Cánh đồng không
có chân trời, Mảnh vườn xưa hoang vắng, Mê lộ đều viết về chặng đường tiếp theo
của người lính kể từ khi họ rời khỏi chiến trận, khi đất nước kết thúc thời binh lửa
Đỗ Chu là người đi ra từ chiến tranh, và cũng đã trên mười năm kể từ ngày giành
được độc lập dân tộc tính đến thời điểm nhà văn viết Mảnh vườn xưa hoang vắng,
hơn ai hết ông ý thức được cái giá phải trả cho độc lập của một dân tộc Và một bình diện hiện thực được đề cập trong nhiều sáng tác thông qua cuộc đời, số phận nhân vật
là sau chiến tranh “những người lính được gì, mất gì và họ phải sống như thế nào”
Nhiều truyện ngắn trong tập truyện Ngày đẹp trời của Ma Văn Kháng (xuất bản
1986) thể hiện được vấn đề con người hậu chiến, những xung đột thế hệ, xung đột giữa cái cũ và cái mới, những khó khăn phải đối mặt của người lính trở về từ chiến
Trang 27trường bởi hình hài không còn nguyên vẹn, cơ thể bầm dập vì bom đạn (Ông Thiềng
– Ngày đẹp trời); sự lệch lạc trong quan niệm và lối sống của thế hệ trẻ - những người bắt đầu được hòa mình vào đời sống hậu chiến (Huyền - Đợi chờ, Luyến – Mất điện), sự tha hóa của con người khi phải tìm mọi cách thoát khỏi cuộc sống nghèo hèn khốn khó (Thuần – Tàu đi Thái),… Nhiều vấn đề liên quan đến số phận
con người sau chiến tranh được đưa lên trang viết với những cách tiếp cận khác nhau đem đến cho văn học thời kỳ này những tiếng nói đa thanh, phức điệu Các cây bút
đã có những cách tiếp cận mới cho thấy những chuyển đổi trong tư duy nghệ thuật dù
cùng khai thác một đề tài là cuộc sống và con người sau chiến tranh (Có một đêm như thế - Phạm Thị Minh Thư với cấu trúc “xoắn kép” lồng ghép hai mạch truyện để thấy được những đối ngẫu của hai thực trạng đời sống, Bến trần gian - Lưu Sơn
Minh với bút pháp kỳ ảo để khám phá thế giới tâm linh của con người- một phạm trù
ít được đề cập trong văn học trước đó, Người sót lại của rừng cười – Võ Thị Hảo với
khả năng biểu hiện một kiểu dạng của con người nếm trải cô đơn trong chiến tranh,
Hai người đàn bà xóm Trại - Nguyễn Quang Thiều là khả năng đi sâu vào tâm lý
nhân vật,…)
Bên cạnh đó là việc đi vào những vấn đề của con người cá nhân, con người đời thường Trong truyện ngắn Lê Minh Khuê, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Y Ban người đọc có thể bắt gặp những cảnh ngộ éo le, những trắc trở trong tình yêu và hôn nhân, những xung đột trong đời sống gia đình, cả những vấn đề thuộc về đời sống bản năng, những vấn đề của tình dục và giới tính Cũng cần nói đến hiện tượng truyện ngắn của các cây bút nữ vào những năm cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 Đây được coi là thời kỳ thăng hoa của truyện ngắn nữ với sự gia tăng của các cây bút nữ, nhất là truyện ngắn có lối viết và giọng điệu khác nhau Sự xuất hiện đông đảo người viết nữ cùng với nỗ lực và ý thức cách tân về lối viết đã đem đến cho người đọc những cảm quan mới mẻ
Có thể thấy, giai đoạn từ 1986 đến những năm cuối thế kỷ XX, lực lượng viết truyện ngắn chủ yếu vẫn là những cây bút “gạo cội” từng tham gia chiến tranh cùng với những cây bút thuộc thế hệ tiếp theo xuất hiện ngay sau giai đoạn đầu của thời kỳ đổi mới Những cách tân nghệ thuật, sự đổi mới lối viết được thể hiện ngay trong đội
Trang 28ngũ những người viết này Không ai khác, họ là những người đóng vai trò quan trọng trong việc kế thừa và cách tân thể loại, để rồi đến những năm đầu thế kỷ XXI, cùng với sự thay đổi đời sống xã hội, đời sống văn học, sự bổ sung của đội ngũ những người viết trẻ, thể loại truyện ngắn đã có những cách tân đáng kể hòa vào dòng chảy của văn học trong thời đại toàn cầu hóa.
1.3.2 Giai đoạn từ 2000 đến nay với sự xuất hiện của những cây bút thế hệ 7X, 8X
Bước sang thế kỷ XXI, đời sống xã hội đã có những thay đổi đáng kể Tốc độ
đô thị hóa nhanh chóng và sự gia tăng của các phương tiện truyền thông hiện đại, của internet, truyền thông đa phương tiện đã tác động đến nhiều mặt của đời sống xã hội trong đó có văn học Cùng với sự thay đổi của đời sống xã hội, của ý thức và nhu cầu đổi mới tư duy nghệ thuật là sự xuất hiện của đội ngũ đông đảo những người viết trẻ,
đa phần sinh ra và lớn lên sau chiến tranh Trong những năm qua số lượng các cây bút trẻ về tuổi đời và tuổi nghề không ngừng tăng lên, sách của người viết trẻ đang ngày một chiếm lĩnh thị trường sách văn học, đồng thời xuất hiện một nhu cầu mang tính tự thân là nhu cầu “viết về thế hệ mình”
Không phải ngẫu nhiên mà nhiều người viết trẻ đã chọn truyện ngắn làm thể loại thử sức Với những người mới bước những bước đi ban đầu trên bước đường đến với văn chương thì truyện ngắn được coi là thể loại, là mảnh đất dễ cày xới, là địa hạt để người viết có thể thử sức, bởi lúc này viết tiểu thuyết còn là quá sức đối với họ, khi mà cả vốn sống, sự trải nghiệm và kinh nghiệm viết còn quá ít ỏi Bên cạnh đó, so với tiểu thuyết thì truyện ngắn khá thuận lợi trong việc in ấn, xuất bản Truyện ngắn là thể loại có nhiều đất diễn, người viết có nhiều cơ hội để công bố tác phẩm với bạn đọc bởi thể loại này là “hình thức văn chương phù hợp với việc chuyển tải trên trang báo vốn có yêu cầu giới hạn về lượng chữ” Phần lớn các tờ báo và tạp chí (cả chuyên và không chuyên) đều cho đăng các truyện ngắn Rất nhiều cây bút trẻ
ở Việt Nam không mấy khó khăn khi xuất bản các tác phẩm, trong đó có các tập truyện ngắn
Quan sát đời sống văn học hiện nay có thể thấy sự hiện diện đông đảo những cây bút trẻ viết truyện ngắn Trong suốt thập niên đầu của thế kỷ XXI, những cây bút 7X như Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Ngọc Thuần, Phạm Duy Nghĩa, Nguyễn Vĩnh
Trang 29Nguyên, Nguyễn Ngọc Tư, Phong Điệp từ chỗ là những gương mặt khá mới mẻ trên văn đàn đến nay họ đã là lớp đàn anh đàn chị, đã từng bước khẳng định được vị thế
và nhiều người trong số họ lại tiếp tục thử sức với thể loại tiểu thuyết (như Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Ngọc Thuần, Phong Điệp, Nguyễn Ngọc Tư) Với những cây bút trẻ này, cho đến nay, họ cũng đã có ít nhất năm, ba tập truyện ngắn in riêng Bên cạnh đó
là những cây bút thế hệ 8X (Nguyễn Quỳnh Trang, Phạm Thị Điệp Giang, Nguyễn Thị Cẩm, Chu Thùy Anh, Ngọc Cầm Dương,…)
Có thể thấy ranh giới thế hệ là một đặc điểm rất rõ, ngay trong đội ngũ những người viết văn trẻ ở độ tuổi 7X và 8X cũng đã có sự khác biệt lớn Ở độ tuổi 7X dẫu sao cũng được sinh ra và lớn lên ở thời điểm đất nước còn có chiến tranh, dấu ấn về một giai đoạn đất nước trong thời kỳ bao cấp vẫn còn ít nhiều tồn tại trong ý thức của chính họ Với những người viết thế hệ 8X, 9X sinh ra và lớn lên trong bầu sinh quyển mới, khi tổ quốc không còn tiếng súng, khi đời sống xã hội đã có những biến chuyển
ở nhiều phương diện thì cái cách họ chiếm lĩnh và khắc họa đời sống cũng có những
khác biệt Đọc tập Truyện ngắn 8X có thể thấy nhân vật trong sáng tác của họ thường
là những người trẻ, ở họ có khát vọng, hoài bão, nỗi băn khoăn và cả sự hoang mang của những người mới bước chân vào thực tế đời sống Tuy nhiên, nhiều tác giả trẻ
trong Vũ điệu thân gầy và Truyện ngắn 8X chưa đáp ứng được kỳ vọng của nhiều độc
giả, còn dẫm chân ở việc đi vào những mối tình không lối thoát, ở sự “thiếu muối” trong cách tiếp cận, nhìn nhận, lý giải những vấn đề của đời sống, dù là đời sống của giới trẻ
Chỉ trong vòng hơn hai thập niên qua, đời sống xã hội đã có những biến đổi mạnh mẽ, trong đó phải kể đến sự hiện diện và tiếp nối của một thế hệ những người viết trẻ Trong dàn hợp xướng nhiều âm sắc của đội ngũ những người viết hôm nay, các nhà văn trẻ đã tạo nên một “dòng riêng giữa nguồn chung”, đã đem đến cho đời sống văn học những góc nhìn mới – góc nhìn của những người trẻ Tuy nhiên, liệu những gương mặt trẻ, trong đó có những cây bút được xem là có triển vọng hôm nay
có làm nên tương lai của văn học thì hãy còn phải chờ thời gian, bởi thực tế cũng có
Trang 30những cây bút xuất hiện thưa thớt rồi “rửa tay gác bút” và có thể họ không còn tái xuất văn đàn
Có thể thấy truyện ngắn trong vài ba thập niên trở lại đây là một cuộc chạy tiếp sức không ngừng nghỉ giữa các thế hệ cầm bút, từ thế hệ người viết từng kinh qua chiến tranh như Xuân Thiều, Nguyễn Kiên, Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Lê Minh Khuê đến những cây bút xuất hiện trong thời kỳ đổi mới (Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Dạ Ngân, Nguyễn Thị Thu Huệ, Y Ban,
Võ Thị Xuân Hà, Nguyễn Văn Thọ, Phạm Ngọc Tiến, Trần Thùy Mai,…) rồi những người viết trẻ sinh ra và lớn lên sau chiến tranh (Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Vĩnh Nguyên, Nguyễn Danh Lam, Phong Điệp,…) Cùng sống và viết sau chiến tranh với ý thức đổi mới và trăn trở về lối viết nhưng ở mỗi thế hệ cầm bút lại
có những nét riêng biệt trong cách tiếp cận và chuyển tải những vấn đề của đời sống
Đó có thể là chiến tranh trong cái nhìn đa chiều với những nghiền ngẫm day dứt về hiện thực trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu, Xuân Thiều, Bảo Ninh, Lê Minh Khuê Cũng có thể là những trăn trở về thân phận, về cuộc sống hôm nay, những góc khuất của đời sống và tâm hồn con người (trong truyện ngắn Dạ Ngân, Nguyễn Thị Thu Huệ, Y Ban, Trần Thùy Mai,…) Với các cây bút trẻ, bên cạnh những người viết
cơ bản vẫn tiếp tục kế thừa hình thức nghệ thuật truyền thống (Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Ngọc Tư, Phạm Duy Nghĩa) là các tác giả chú ý đến sự đổi mới về lối viết (Nguyễn Vĩnh Nguyên, Phan Việt) Có thể coi truyện ngắn thời kỳ đổi mới là một bản tổng phổ nhiều bè, đa dạng các sắc thái và phong cách Với những cây bút mới,
sự hiện diện của họ trong đời sống văn học là điều đáng ghi nhận vì văn học cần sự thể nghiệm, cần có sự kế tục Những ý kiến lo ngại về xu hướng thể nghiệm quá chú trọng vào kỹ thuật tân kỳ cũng là có cơ sở Văn học đương đại thuộc về cái “hiện tại chưa hoàn thành” vì thế những giá trị nghệ thuật đích thực sẽ được sàng lọc theo thời gian Suy cho cùng, mọi sự cách tân và đổi mới chỉ thực sự có ý nghĩa khi hình thức phải có giá trị nghệ thuật và tinh thần nhân văn (vốn là phẩm tính muôn thuở của tác phẩm văn chương và cũng là điều kiện cần thiết để tác phẩm có sức neo giữ với người đọc và trường tồn trong dòng mạch văn học dân tộc)
Trang 31Tiểu kết:
Khảo sát những vấn đề nghiên cứu liên quan đến lý thuyết truyện ngắn, chúng tôi nhận thấy, nhìn chung ở Việt Nam cũng như trên thế giới đều có thực tế là cả các nhà nghiên cứu lẫn sáng tác không dễ đưa ra một định nghĩa nhất quán cho thể loại truyện ngắn Tuy nhiên, đa phần, tác giả các công trình bài viết đều thống nhất ở đặc điểm cơ bản của truyện ngắn là tính chất “ngắn” của thể loại Một mặt truyện ngắn được xem là thể loại độc lập có những đặc trưng về thi pháp, mặt khác trong các công trình, các nhà văn, nhà nghiên cứu cũng lại chỉ ra mối liên hệ giữa truyện ngắn và truyện kể, hoặc xem truyện ngắn là thể loại “trung gian giữa truyện kể và tiểu thuyết” Một mặt, các nhà nghiên cứu đi tìm một định nghĩa nhằm phân biệt truyện ngắn và truyện kể với tiểu thuyết nhưng thực tế quan niệm về thể loại truyện ngắn lại muôn hình muôn vẻ Đã có nhiều định nghĩa truyện ngắn được đưa ra nhưng vẫn không tránh khỏi những ngoại lệ vì không phải truyện ngắn nào cũng thỏa mãn những tiêu chí Sở dĩ có điều này là bởi trong khi định nghĩa “luôn có ý đồ áp đặt các quy chuẩn thi pháp” thì sáng tác nghệ thuật luôn có sự đổi mới không ngừng
Ở chương Tổng quan này, chúng tôi cũng đã có những khảo sát, đánh giá về tình hình nghiên cứu truyện ngắn Việt Nam thời kỳ đổi mới trên các phương diện những vấn đề chung, các hiện tượng và trường hợp truyện ngắn đáng chú ý Chúng tôi coi tìm hiểu vấn đề nghiên cứu ở góc độ lý thuyết và thực tiễn sáng tác cùng với việc phác thảo diễn trình truyện ngắn Việt Nam thời kỳ đổi mới là tiền đề trước khi nghiên cứu những vấn đề của tư duy truyện ngắn, nhận diện những kế thừa và sự tiếp biến của hình thức thể loại trong bối cảnh văn học Việt Nam đương đại
Trang 32CHƯƠNG 2 TRUYỆN NGẮN - QUAN NIỆM VÀ SỰ ĐỔI MỚI TƯ DUY
THỂ LOẠI
Truyện ngắn không phải là thể loại xuất hiện sớm như thơ ca dù mầm mống của sự hình thành thể loại đã có từ rất lâu trong lịch sử văn học dân tộc, từ những tác phẩm cổ tích, truyền thuyết, thần thoại Phải sang thế kỷ XX cùng với những thay đổi của đời sống xã hội, của báo chí, xuất bản, nhiều nhà văn đã sáng tác, thành danh với truyện ngắn, theo đó truyện ngắn cũng đã có những quy chuẩn đặc trưng Cho đến
Trang 33nay, truyện ngắn đã đi được một chặng đường khá dài và cùng với quá trình vận động nội tại của nó, những cây bút truyện ngắn vẫn không ngừng tìm tòi sáng tạo, truyện ngắn vẫn luôn vận động và biến đổi
2.1 Quan niệm và tư duy thể loại truyện ngắn trong văn học truyền thống
Khi đề cập tới nguồn gốc và sự phát triển của truyện ngắn Việt Nam, tác giả
các công trình nghiên cứu Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại (Nguyễn Đăng Na)
và Thi pháp truyện ngắn trung đại Việt Nam (Trần Nho Thìn) cho rằng thời kỳ trung đại đã có hình thức truyện ngắn dù “truyện ngắn trung đại là một khái niệm tương
đối của khoa nghiên cứu văn học hiện đại áp dụng cho thực tế văn học trung đại” và thời trung đại chưa hề biết đến khái niệm này” [125, tr.78] Sang thời kỳ văn học hiện
đại khái niệm truyện ngắn hiện đại được dùng để chỉ một thể loại văn xuôi trong
tương quan với những thể loại khác như thơ, kịch, tiểu thuyết, Theo quan điểm của chúng tôi ở thời kỳ trung đại đã có hình thức sơ khai của truyện ngắn (đó thường là những chuyện kể được ghi chép lại và vì thế chưa có được những chuẩn mực của truyện ngắn hiện đại) Truyện ngắn hiện đại với tư cách là một hình thái tư duy mới, một thuật ngữ có quy chuẩn lý thuyết thể loại xuất hiện muộn (dù hình thức sơ khai
đã có từ thế kỷ XV, XVI với Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ và một số tác phẩm
văn xuôi tự sự khác) Sang thế kỷ XX cùng với sự hiện diện của đời sống báo chí, sự thay đổi quan niệm thẩm mỹ, quan niệm văn học, truyện ngắn với tính chất là một thể loại văn học thuộc loại hình tự sự mới có những quy chuẩn đặc trưng
Ở giai đoạn sơ khai, truyện thường được tổ chức theo những mô típ có sẵn
như Việt điện u linh, Thiền uyển tập anh Việt điện u linh, Thiền uyển tập anh là
những tác phẩm chưa có phóng tác mà chủ yếu là ghi chép lại những tiểu truyện về
các thiền sư nổi tiếng (Thiền uyển tập anh) hay là tập hợp các truyền thuyết về các vị thần linh ở Việt Nam vào thời xa xưa (Việt điện u linh) Việt điện u linh gồm 27 thiên
(27 truyện kể) và mỗi thiên được viết theo công thức sau: “Mở đầu mỗi thiên là câu: Theo (tài liệu nào đó, của ai), ngài (vương, ông)… là (họ, tên)… Kết thúc mỗi thiên
là 3 đợt gia phong của vua Trùng Hưng năm thứ nhất (1285), năm thứ tư (1288) và vua Hưng Long năm thứ 21 (1313) và câu: Vì có công âm phù vậy” [93, tr.49 - 50]
Tương tự, trong thiên Bố Cái, Phu Hựu, Chương Tín, Sùng Nghĩa đại vương phần
Trang 34mở đầu tác giả viết: “Theo Giao Châu ký của Triệu Công, vương họ Phùng, tên là Hưng đời đời làm tù trưởng nơi biên khố của châu Đường Lâm, gọi là Quan Lang”[93, tr.51] Kết thúc tác phẩm: “Năm đầu niên hiệu Trùng Hưng của Hoàng Triều, sách phong vương là Phu Hựu đại vương Đến năm thứ 4 gia phong thêm 2 chữ Chương Tín Năm thứ 21 niên hiệu Hưng Long gia phong thêm 2 chữ Sùng Nghĩa vì có công âm phù vậy” [93, tr.52] Lối mở đầu và kết thúc như trên đã trở
thành mô típ quen thuộc trong các thiên của Việt điện u linh Nhân vật trong mỗi
thiên là khác nhau nhưng đã được xây dựng trên cơ sở cốt truyện “có đầu có đuôi” sẵn có
Sau Việt điện u linh, Thiền uyển tập anh tuy đã có những tình tiết đa dạng
nhưng tính chất công thức vẫn là một đặc điểm quy định sự vận động của thiên truyện Mô típ thường gặp trong các truyện là việc lạ hóa ba yếu tố sau đây của nhân vật: ra đời thần kỳ, phép thuật tu luyện thần kỳ và tịch diệt thần kỳ Chẳng hạn, trong
Thiền sư Đạo Huệ, mở đầu tác phẩm, tác giả giới thiệu xuất xứ của nhà sư:
“Thiền sư người hương Chân Hộ, quận Như Nguyệt, họ Âu, tướng mạo đoan chính, giọng nói trong trẻo Từ năm 25 tuổi xuất gia theo hầu sư Ngô Pháp Hoa ở chùa Phổ Ninh học hỏi được nhiều điều uyên áo của cửa huyền Sau sư đến trụ trì chùa Quang Minh, giữ nghiêm giới luật, chuyên tu thiền định, trong vòng 6 tháng lưng không bén chiếu, hiểu sâu phép Tam quán Tam ma địa, học trò đông đến hơn một nghìn người” [93, tr.64]
Tiếp đó là những phép thuật thần kỳ của nhà sư thể hiện trong việc chữa bệnh ở cung vua và cuối cùng là sự tịch diệt: “Canh ba đêm ấy sư lặng lẽ qua đời”[93, tr.64] Với lối dựng truyện theo công thức như vậy, người đọc luôn đoán định được số phận nhân vật, tính cách nhân vật mờ nhạt, các câu chuyện chỉ ghi lại những sự tích đời trước chứ chưa có phóng tác
Đến thế kỷ XVI, sự ra đời của Truyền kỳ mạn lục (Nguyễn Dữ) đánh dấu một bước trưởng thành của truyện ngắn dân tộc Truyện kỳ mạn lục đã là một sáng tác văn
học đích thực chứ không thuần túy là một công trình ghi chép và truyền lại những truyện cũ Nguyễn Dữ đã dựa vào những sự tích cũ phần lớn là những chuyện lưu
hành từ lâu trong xã hội mà viết nên những thiên truyện mới Mặc dầu vậy Truyền kỳ
Trang 35mạn lục vẫn nằm trong phạm trù của văn học trung đại với những đặc điểm mang
tính quy phạm Những mô típ dân gian được tác giả khai thác và sáng tạo nhưng mô típ kết thúc truyện vẫn theo những đường mòn quen thuộc Nhiều truyện được kết
thúc bởi sự biến mất bất ngờ mang màu sắc huyền ảo (Cuộc kỳ ngộ ở trại Tây, Từ Thức lấy vợ tiên, Bữa tiệc đêm ở Đà Giang, Cây gạo) hay kiểu kết thúc có hậu thường thấy trong các câu chuyện cổ (Phạm Tử Hư lên chơi Thiên Tào, Người con gái Nam Xương: nhân vật chết – giải oan) Với cách thức này, truyện không chỉ được
triển khai theo lô gic nhân quả của sự kiện, hiện thực trong tác phẩm thường là hiện thực hoàn kết mà còn mang tính rập khuôn về cách thức kể
Sang thời kỳ hiện đại, những thập kỷ đầu thế kỷ XX đánh dấu sự xuất hiện của nhiều cây bút truyện ngắn như Phạm Duy Tốn, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Thạch Lam, Tô Hoài, Bùi Hiển,… Tiếp sau đó là thế hệ nhà văn chống Pháp và chống Mỹ với các tên tuổi Xuân Thiều, Nguyễn Kiên, Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Đỗ Chu, Nguyễn Thành Long, Nguyễn Quang Sáng, Anh Đức, Phần lớn các cây bút truyện ngắn thời kỳ này viết truyện ngắn theo hình thức văn bản tự sự có thể kể lại được, có nhân vật, cốt truyện, sự kiện và hành động (ở giai đoạn trước 1945 với sự góp mặt của một số cây bút như Thạch Lam, Hồ Dzếnh, Thanh Tịnh, hình thức truyện ngắn trữ tình đã tồn tại nhưng chưa trở thành một khuynh hướng hay một
ý thức về hình thức nghệ thuật như ở thời kỳ đổi mới) Theo đó, cốt truyện luôn là thành tố quan trọng và người viết thường chú trọng đến những yếu tố gay cấn, khai thác xung đột và quá trình phát triển tính cách của nhân vật Người đọc dễ dàng kể lại được nội dung của câu chuyện, nghĩa là mỗi nhà văn khi viết truyện ngắn đều hướng tới việc thiết lập sườn truyện với hệ thống các sự kiện, tình huống, xung đột đóng vai trò là sợi dây liên kết sự diễn tiến của câu chuyện được kể Tính đầy đủ của các thành
tố trong cốt truyện từ mở đầu, phát triển, đỉnh điểm và kết thúc luôn được tuân thủ nghiêm ngặt Với sự chi phối của tư duy thể loại như đã đề cập ở trên, truyện ngắn truyền thống vì thế thường nặng về kể, người viết truyện ngắn thường chú ý đến diễn trình hành động - thời gian tuyến tính của chuyện kể, chú trọng đến câu chuyện được
kể hơn là cách thức kể (bản kể)
Trang 362.2 Sự thay đổi quan niệm và tư duy thể loại truyện ngắn trong văn học hiện nay
2.2.1 Những tiền đề của sự đổi mới tư duy thể loại
2.2.1.1 Tác động của bối cảnh xã hội
Những năm sau chiến tranh, trở về với quỹ đạo của cuộc sống đời thường, nhà văn có điều kiện phát huy tự do sáng tạo Điều này một phần được tác động bởi tinh thần dân chủ trong đời sống Chủ trương, đường lối lãnh đạo về văn hóa văn nghệ có
xu hướng cởi mở hơn đã tạo chất xúc tác cho sự đổi mới tư duy sáng tạo, đời sống văn học và đời sống thể loại đã có những thay đổi đáng kể Năm 1976, tác phẩm
truyện ngắn được xem là một trong những “cột mốc” của quá trình đổi mới Hai người trở lại trung đoàn của Thái Bá Lợi ra đời ít nhiều gây nên bất ngờ cho người
đọc, cho thấy những thay đổi trong cách nhìn về con người và những vấn đề thế sự, đời tư Trong số những nhà văn chống Mỹ, Nguyễn Minh Châu là người có ý thức
cách tân khá sớm Tập truyện Bến quê đánh dấu sự chuyển đổi tư duy nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu sau Dấu chân người lính, Mảnh trăng cuối rừng Tiếp sau đó là những dư luận xung quanh truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp (với chùm truyện ngắn lịch sử Vàng lửa, Phẩm tiết, Kiếm sắc; truyện ngắn Tướng về hưu,…), Phạm Thị Hoài (với Thiên sứ, các truyện ngắn trong tập Mê lộ) Không chỉ với nhà văn sáng tác
trong thời kỳ đổi mới mà với thế hệ nhà văn xuất hiện từ sau khi hòa bình lập lại, thế
hệ nhà văn trưởng thành trong chiến tranh chống Mỹ như Xuân Thiều, Đỗ Chu, Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Sáng,… sáng tác của họ cũng cho thấy
sự đổi mới trong tư duy nghệ thuật cũng như có sự kết hợp lối viết truyền thống với việc đổi mới nghệ thuật dựng truyện: trong kết cấu, bố cục tác phẩm, trong việc sử dụng ngôn ngữ và sử dụng bút pháp đa dạng, hiệu quả để thể hiện con người bên trong với nhiều ẩn khuất tầng bậc Nhiều người trong số họ đã tạo dựng được phong cách và cá tính nghệ thuật độc đáo, góp phần quan trọng vào thành tựu của truyện ngắn Việt Nam đương đại Không khí sáng tác và phê bình văn học trở nên sôi động với nhiều tiếng nói, nhiều sự phản biện
Văn học Việt Nam từ thời kỳ đổi mới cho thấy những thay đổi căn bản trong cách tiếp cận đề tài và xử lý chất liệu hiện thực Ý thức cách tân, ý thức về sự đổi
Trang 37mới lối viết là yếu tố căn bản cho sự thay đổi diện mạo đời sống văn học Tuy nhiên, những thay đổi trong tư duy và ý thức nghệ thuật của người cầm bút lại xuất phát từ những điều kiện lịch sử xã hội cụ thể: sự thay đổi trạng thái đời sống từ chiến tranh sang hòa bình, công cuộc đổi mới trong mọi lĩnh vực từ chính trị, kinh tế, xã hội đến văn hóa, văn học; sự xâm nhập, tác động của cơ chế thị trường vào đời sống vật chất
và tinh thần của con người hôm nay
Từ sau 1975 đời sống xã hội rẽ sang một bước ngoặt mới với sự trở về cuộc sống thời bình, xóa bỏ cơ chế bao cấp và điều này đã làm nên những thay đổi căn bản trong đời sống Với người sáng tác, trước đây, do yêu cầu của lịch sử, người ta vẫn thường nói tới phong trào đi thực tế sáng tác và kết quả của những chuyến đi đó là các sáng tác được viết theo đề tài đã được khuôn định như đề tài hợp tác hóa nông nghiệp, đề tài công nhân, đề tài chiến tranh và người lính,… Chiến tranh kết thúc, đại hội VI của Đảng với chủ trương “cởi trói” cho văn học nghệ thuật đã mở những cánh cửa cho nghệ sỹ Trong cuộc gặp gỡ của Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh với văn nghệ
sỹ năm 1987, Nguyễn Minh Châu viết “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa” Đây có thể coi là sự nhận thức lại, là nhu cầu tự vấn và là khát vọng được thành thật của người cầm bút, điều trăn trở lâu nay có lẽ của không chỉ Nguyễn Minh Châu Ông thẳng thắn chỉ ra những thực trạng của văn học thời gian trước:
“phải nói thật với nhau rằng: mấy chục năm qua, tự do sáng tác chỉ có đối với lối viết minh họa, văn học minh họa, với những cây bút chỉ quen với công việc cài hoa, kết
lá, vờn mây cho những khuôn khổ đã có sẵn mà chúng ta quy cho đấy đã là tất cả hiện thực đời sống đa dạng và rộng lớn” [18] Những luận điểm của Nguyễn Minh Châu về cái gọi là “văn học minh họa” cũng như ý kiến về một nền “văn học phải đạo” của Hoàng Ngọc Hiến từ chỗ gây xôn xao trong đời sống văn học đã trở thành một “cú hích” cho sáng tạo nghệ thuật Cùng với những “tuyên ngôn” là sự thay đổi
về lối viết Sau Dấu chân người lính, Mảnh trăng cuối rừng Nguyễn Minh Châu đã
có sự “lột xác” với Bức tranh, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Cỏ lau, Phiên chợ Giát: từ âm hưởng hào hùng, chất giọng lãng mạn, sử thi về cuộc chiến tranh
thần thánh của dân tộc đến giọng điệu thâm trầm, day dứt về thân phận của con người sau chiến tranh, những ám ảnh khôn nguôi về quá khứ Một thời lãng mạn lùi về phía
Trang 38sau nhường chỗ cho sự chiêm nghiệm và nhận thức lại Trong truyện ngắn Một thời lãng mạn (viết sau 1986), qua hình tượng nhân vật nhà văn – người đã sống và viết
cả trong và sau chiến tranh - Nguyễn Khải cho thấy một thực tế là sự thay đổi trong nhận thức về thực tiễn và suy nghĩ của nhà văn trước đời sống Hai thời điểm của lịch
sử, trong và sau chiến tranh, nhà văn đã có những thay đổi căn bản trong nhận thức cũng như hành động và dĩ nhiên điều này sẽ tác động trực tiếp đến những gì họ thể hiện trên trang viết Không ít những truyện ngắn sau chiến tranh đi vào nhiều góc
cạnh của đời sống, những góc khuất của số phận con người thời hậu chiến (Cỏ lau – Nguyễn Minh Châu, Mảnh vườn xưa hoang vắng, Mê lộ - Đỗ Chu, Xưa kia chị đẹp nhất làng - Tạ Duy Anh, Người sót lại của rừng cười – Võ Thị Hảo, Họ đã trở thành đàn ông – Phạm Ngọc Tiến, Hai người đàn bà xóm Trại – Nguyễn Quang Thiều, Bản lý lịch tự thuật (Y Ban),…) được thể hiện với giọng điệu chiêm nghiệm, nhiều
suy cảm Đó là chưa kể đến nhiều mặt trái khác của đời sống trong xã hội hiện đại đã được các nhà văn đề cập đến trong truyện ngắn của mình
Cơ chế thị trường với sự chi phối của quy luật cung cầu cũng đã tác động mạnh mẽ đến văn học nghệ thuật, từ người sáng tác, người đọc đến hoạt động xuất bản, phát hành lưu thông sản phẩm Với người viết vấn đề viết cái gì và viết như thế nào lại được đặt ra: làm sao để tác phẩm vừa có người đọc vừa có giá trị thẩm mỹ? Thị hiếu thẩm mĩ của người đọc khác trước, chuẩn mực thẩm mỹ của người đọc không còn giữ những tiêu chí cũ khiến người cầm bút không thể viết như cũ Sự thay đổi từ phía người đọc là một trong những nhân tố quan trọng tác động vào đời sống văn học đương đại Không phải ngẫu nhiên mà những năm gần đây hình thức tiểu thuyết ngắn được nhiều nhà văn lựa chọn Hàng loạt cuốn tiểu thuyết dung lượng ngắn có mặt trên thị trường sách như là một sự tìm kiếm khả năng thích ứng của thể loại trong bối cảnh mới Có thể thấy hoạt động xuất bản, thị trường sách văn học trong những năm gần đây đang đứng trước những thách thức bởi sự cạnh tranh, sự xuất hiện của các phương tiện truyền thông hiện đại Khái niệm “thế giới phẳng” đã cho thấy bức tranh mới về thế giới mà trong đó mỗi người chúng ta đang sống Con người ngày càng có nhiều sự quan tâm, quỹ thời gian dành cho việc đọc ngày một thu hẹp dần Điều này đe dọa đến văn hóa đọc, đến cách thức và lối viết của nhà văn, của
Trang 39các cây bút truyện ngắn đương đại Nhìn vào thị trường sách hiện nay, có thể thấy chủng loại sách trở nên vô cùng phong phú, còn sách văn học bên cạnh những tác phẩm văn chương thì thực tế là những cuốn sách thị trường, sách giải trí đang có xu hướng gia tăng và thu hút sự đọc của giới trẻ.
Cơ chế thị trường cũng là một phương diện tác động đến sự thay đổi đề tài sáng tác Trong truyện ngắn Lê Minh Khuê, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái, Lý Lan và nhiều tác giả khác người đọc bắt gặp đa dạng các trạng thái đời sống của con người hôm nay: sự tha hóa nhân cách vì đồng tiền, những cách thức mưu sinh và tồn tại, những thay đổi trong quan niệm và lối sống của mỗi cá nhân, sự lại căng về văn hóa,… Muôn mặt đời sống được tái hiện trên trang viết Đồng thời cũng có những tác phẩm đi vào những đề tài “câu khách”, thu hút sự chú ý nhất thời của một bộ phận người đọc
Đổi mới văn học nói chung và truyện ngắn nói riêng không phải là hiện tượng riêng lẻ, cá biệt mà là xu thế chung của đời sống xã hội, chính trị văn hóa thời kỳ mở cửa Xu thế hội nhập với thế giới là một trong những tiền đề để nhà văn có cơ hội tiếp xúc với những tinh hoa văn hóa của nhân loại, mở ra cơ hội giao lưu hội nhập trong bối cảnh khu vực và quốc tế đang có những thay đổi mạnh mẽ Các ấn phẩm văn hóa của thế giới đang từng ngày từng giờ có mặt trong đời sống xã hội Việt Nam Trong xu thế hội nhập toàn cầu và giao lưu văn hóa quốc tế việc nhà văn Việt Nam tiếp thu và ảnh hưởng những giá trị, trào lưu sáng tác trên thế giới cũng là một thực tế tất yếu Những năm gần đây hậu hiện đại không còn là khái niệm xa lạ Từ chỗ còn là những tranh luận xung quanh vấn đề “có hay không có” dấu ấn của chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Việt Nam thì đến nay đã có nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu đặt ra vấn đề nghiên cứu tính chất/ tinh thần/ ảnh hưởng của hậu hiện đại trong các sáng tác truyện ngắn (như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Đặng Thân) cũng như trong các thể loại văn học khác (như tiểu thuyết) Theo Jean Baudrillard thì chủ nghĩa hậu hiện đại là hệ quả của văn minh thông tin đại chúng Nó bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng nhận thức luận từ đầu thế kỷ 20 đến những năm 60 với sự xuất hiện của lý thuyết đa thế giới, hiện thực hỗn loạn, lý thuyết tai biến, thuyết tương đối,
… Hậu hiện đại từng được quan niệm không chỉ đơn thuần là thủ pháp, mà là một
Trang 40tâm thức, cái nhìn về thế giới và con người Bởi thế, sự xuất hiện của những yếu tố mới và khác trong hình thức nghệ thuật tác phẩm không chỉ đơn thuần là những cách tân về nghệ thuật thể hiện mà nó còn cho thấy cách nhìn thế giới, cảm quan, tư duy sáng tác mới của chủ thể Tuy nhiên những tác phẩm được cho là mang tinh thần hậu hiện đại vẫn chưa chinh phục được đông đảo người đọc vì thực tế là có những tác phẩm chỉ xuất hiện như một khát vọng thay đổi lối viết mà chưa có được giá trị nghệ thuật đích thực.
Sức sống của truyện ngắn được nuôi dưỡng trong không khí xã hội với xu hướng mở rộng tính chất dân chủ Sự bùng nổ các tác phẩm truyện ngắn trên các ấn phẩm báo chí là môi trường để truyện ngắn dễ dàng đến với người đọc Truyện ngắn được in nhiều trên các báo và tuyển tập Nhiều cuộc thi truyện ngắn đã được phát động và cũng qua đó người đọc có thể tìm được những gương mặt triển vọng Bên cạnh các cuộc thi truyện ngắn được tổ chức thường xuyên trên các báo và tạp chí
(báo Văn nghệ, tạp chí Văn nghệ quân đội, báo Tiền phong, tạp chí Thế giới mới,…)
là việc hưởng ứng của các tác giả cho cuộc thi truyện ngắn dành cho các cây bút mới
do nhà xuất bản Văn nghệ Tp Hồ Chí Minh tổ chức, cuộc thi Văn học tuổi 20,…
Cùng với sự phát triển của truyền thông, báo chí và xuất bản đã trở thành một diễn đàn quan trọng cho việc công bố sáng tác của các cây bút, góp phần làm cho thể loại truyện ngắn nói chung và văn học nói riêng được hiện diện cập nhật rộng rãi trong đời sống Đây cũng là nơi các tài năng văn chương được phát hiện
2.2.1.2 Ý thức đổi mới tư duy của chủ thể sáng tạo
Những năm sau chiến tranh, trở về với quỹ đạo của cuộc sống đời thường, được tác động bởi tinh thần dân chủ trong đời sống, nhà văn có điều kiện được phát huy sáng tạo Bước chuyển của văn học được thể hiện qua thơ, kịch, văn xuôi trong
đó truyện ngắn là thể loại ghi dấu rõ rệt Là thể loại nhạy bén và xung kích trong việc
áp sát thực tế đời sống, truyện ngắn đã đi vào phản ánh cái hàng ngày, cái thường nhật Sự nở rộ của những cây bút mới và sự thay đổi lối viết của các cây bút từng kinh qua chiến tranh cho thấy một thực tế tất yếu của đời sống văn học đương đại: ý thức cách tân đã trở thành nhu cầu nội tại của người cầm bút không chỉ là những