1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hồi kí trong văn học việt nam từ sau cách mạng tháng tám 1945 đến nay

170 1,1K 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hồi kí trong văn học Việt Nam từ sau cách mạng tháng tám 1945 đến nay
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Văn Học Việt Nam
Thể loại Bài báo
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 170
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Hồi kí là thể loại văn học độc đáo, quá trình vận động của nó phản chiếu rõnét trạng thái lịch sử - xã hội và mang đậm dấu ấn những biến thiên của thời đại Dù rađời và phát triển trên thế giới từ rất sớm, nhưng ở Việt Nam phải đến đầu thế kỉ XX hồi

kí mới hình thành với sự xuất hiện lẻ tẻ một số tác phẩm có xu hướng pha trộn tựtruyện Từ sau 1945 trở đi, hồi kí mới thực sự phát triển, tuy có những bước thăng trầmnhưng vẫn không ngừng tự điều chỉnh tạo nên sức sống riêng của thể loại: thời kìchống Mỹ cứu nước, xuất hiện rầm rộ hồi kí cách mạng, ít có hồi kí văn học, khoảng từđầu thập kỉ 90 trở đi, lại có sự bùng nổ hàng loạt hồi kí của các văn nghệ sĩ, nhà hoạtđộng xã hội, các tướng lĩnh… với những mối quan tâm khác nhau, những bút pháp rất

đa dạng, và hồi kí văn học thực sự lên ngôi Như vậy, đây là hiện tượng chứa đựngnhiều vấn đề có ý nghĩa lí luận và văn học sử rất cần được quan tâm nghiên cứu

1.2 Hồi kí vừa có điểm gần với các loại hình ngoài văn học như báo chí,ghi chép tư liệu, tiểu sử khoa học, nhật kí…, vừa có sự giao thoa với các thể loạivăn học khác như tự truyện, tiểu thuyết tự thuật… Tuy nhiên, hồi kí văn học cóquy luật vận động và đặc thù riêng: tái dựng hiện thực qua hồi ức và thường đậmtính chủ quan, cái tôi tác giả có vị trí nổi bật, sự đa dạng, phức tạp về kiểu loại,cấu trúc và định hướng thẩm mĩ… Việc xác định khái niệm, đặc trưng của thể hồi

kí thông qua sự biện giải, phân tích các hiện tượng sinh động trong thực tiễn sángtác ở nước ta sẽ góp cái nhìn mới về thể loại, giúp đánh giá đúng hơn giá trị của

nó sau một hành trình phát triển khá dài mà xung quanh việc nhìn nhận, định giácòn khá nhiều vấn đề phức tạp…

1.3 Sự vận động và phát triển phong phú, đa dạng của thể hồi kí từ sau 1945đến nay là một phần quan trọng của nền văn học dân tộc Đóng góp lớn nhất của nó

là rọi chiếu vào quá khứ cái nhìn trải nghiệm chân thực, sinh động, gây ấn tượngmạnh đến mức hầu như các thể loại văn học hư cấu không vượt qua được Các thểloại nhật kí, tự truyện, tiểu thuyết tự thuật cũng sử dụng chất liệu “sự thật” nhưngchủ yếu khai thác ở góc độ tiểu sử, đời tư hoặc mở ra khả năng vô biên của sự tự hư

Trang 2

cấu nên tính chân thật có phần mờ nhòe, trong khi hồi kí vừa dựng lên diện mạo quákhứ với mọi vấn đề phức tạp, những phần khuất lấp, thông qua kinh nghiệm củanhân chứng / người trong cuộc, vừa đi sâu mổ xẻ đời tư, nhân cách của cái tôi tácgiả Nó chứng minh một điều: cuộc sống chính là cái đẹp, có sức cuốn hút mạnh mẽbởi vẻ sống động, phức tạp, bí ẩn muôn thuở Nó cũng cho thấy vai trò của cá nhântrong thụ cảm cuộc sống Hồi kí vừa giữ được tính xác thực, sống động của hiệnthực vừa làm cho nó trở nên có tính nghệ thuật và hấp dẫn hơn Nghiên cứu thể loại,

vì thế, có khả năng đưa đến cho độc giả nhận thức sâu sắc về vẻ đẹp, giá trị của hồi

kí đối với sự phát triển của văn học Việt Nam hiện đại

1.4 Trong thời đại dân chủ, con người được khuyến khích nhìn thẳng vào sựthật và ngày càng có điều kiện tiếp cận chân lí bởi khoa học công nghệ phát triển cao,

sự bùng nổ thông tin và công cuộc giao lưu toàn cầu Tri thức con người nhanh chóngđược bồi đắp từ nhiều nguồn khác nhau khiến họ ngày càng có nhu cầu được can dựvào các vấn đề lịch sử và nhất là kiểm chứng chân lí: “Một thực tế không thể phủ nhận

là độc giả ngày nay quan tâm nhiều đến bản thân cuộc đời các nguyên mẫu hiện thực,đến sự chân xác, trung thực khách quan của các chi tiết, sự kiện lịch sử Đây lại chính

là ưu thế lớn của hồi kí nói riêng và các tác phẩm kí nói chung” (Lý Hoài Thu) Điềunày giải thích vì sao trong thị trường ấn phẩm sách báo phong phú và đa dạng hiện nay,nhiều người vẫn tìm đến hồi kí, thể loại tưởng chừng chỉ dành cho lớp độc giả lớn tuổithích hồi cố hoặc giới học thuật có nhu cầu “khảo cổ” Tìm hiểu thể loại này với tưcách là một “kênh” thông tin về “sự thật” qua góc nhìn của người trong cuộc là việclàm lí thú và bổ ích, vừa thỏa mãn tâm lí, thị hiếu của thời đại, vừa chia sẻ “cách đọc”,khơi gợi những định hướng tiếp cận dưới góc nhìn khách quan, khoa học…

Đó là những lí do cơ bản để chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Hồi kí trongvăn học Việt Nam từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay”

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Những nghiên cứu mang tính tổng quan

Khái quát diện mạo của hồi kí trong đời sống văn học sau 1945, nhiều nhànghiên cứu chú ý giải thích sự phát triển có tính lịch sử của nó qua các chặng

Trang 3

đường Bích Thu khẳng định sự bùng nổ và ưu thế của hồi kí vào những thập niêncuối thế kỉ XX Theo bà, sự xuất hiện của những hồi kí “mang đậm dấu ấn cái tôicủa nhà văn, thuật lại lai lịch, đời tư, đời viết, quan hệ chủ thể sáng tạo với đồngnghiệp, bạn văn, người thân và bạn đọc… thu hút sự chú ý của người đọc đã chứng

tỏ cái thế mạnh riêng của tác phẩm kí” [23, tr.411] Một số ý kiến khẳng định hồi

cố, hồi thuật với cảm hứng giải thiêng, nhận thức lại quá khứ là khuynh hướng nổi

trội trong văn xuôi giai đoạn hiện nay Thí dụ, Phong Lê nhấn mạnh sự xuất hiệnnhiều tác phẩm mang khuynh hướng hồi kí, tự truyện: “Để nhớ về một quá khứchưa xa, về một vùng hiện thực khuất nẻo, khó có ai biết, nhưng đã được viết với tư

cách người trong cuộc, nên khó có thể ai viết thay, là Chuyện kể năm 2000, 2 tập (2000) của Bùi Ngọc Tấn, trong nối dài về trước với Tuổi thơ im lặng (1987) của Duy Khán, Cát bụi chân ai (1992) và Chiều chiều (1999) của Tô Hoài… cũng có thể xếp vào đây Thượng đế thì cười (2003) của Nguyễn Khải - một tiểu thuyết gần

như tự truyện (autofiction)…” [73], còn Nguyễn Phượng khẳng định sự phát triểnnổi trội của thể hồi kí, tự truyện trong bối cảnh nền kinh tế thị trường: “Không ngẫunhiên, thể loại hồi kí, tự truyện và tiểu thuyết tự truyện lại gần như chiếm thếthượng phong trong giai đoạn này Công chúng dành sự quan tâm khá đặc biệt với

một số tiểu thuyết tự truyện và hồi kí như Cát bụi chân ai (1992) và Chiều chiều (1999) của Tô Hoài, Chuyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn…” Sự quan tâm đó

theo ông là do “xu hướng giải thiêng, giải ảo”, “sự thay đổi nhận thức và quan niệm

về các hệ giá trị” và “cái nhìn tỉnh táo, duy thực đầy can đảm” của nhà văn trongviệc “diễn đạt những sự thật từng bị che khuất bởi những chi phối của lịch sử vàthời cuộc” [109] Hà Minh Đức trong khi khảo sát mối quan hệ văn chương và thờicuộc cũng nhận định: “Trong tương lai sẽ có rất nhiều hồi kí, nhật kí xuất hiện khingười ta quan tâm đến cuộc đời riêng của nhiều loại người vốn có đóng góp hoặcnổi danh ở một lĩnh vực nào đó” [27]

Như vậy, sự phát triển mạnh mẽ của hồi kí giai đoạn sau 1975 nằm trong xuthế phát triển chung của các dạng thức hồi cố, hồi thuật, tự truyện, nhằm thoả mãnnhu cầu khẳng định cái tôi cá nhân lúc bấy giờ như một qui luật tất yếu Nhiều nhà

Trang 4

nghiên cứu có cái nhìn tổng kết, khái quát quá trình phát triển của thể loại trong các

công trình văn học sử Giáo trình văn học Việt Nam hiện đại của trường Đại học Sư

phạm Hà Nội có đoạn: “Trong văn xuôi những năm 90 và vài năm gần đây, thấy nổilên hai mảng đáng chú ý: hồi kí - tự truyện và tiểu thuyết lịch sử Một loạt hồi kícủa các nhà văn, nhà thơ, cả những nhà hoạt động xã hội đã đem lại cho người đọcnhững hiểu biết cụ thể, sinh động và xác thực về xã hội, lịch sử, về đời sống vănhọc và gương mặt một số nhà văn ở những thời kì đã qua” [77, tr.183] Lý Hoài Thu

trong công trình Đồng cảm và sáng tạo lí giải sự phát triển và ghi nhận những đóng

góp của hồi kí cho đời sống văn học: “Những năm cuối cùng khép lại thế kỉ XX, sự

ra đời của các tác phẩm hồi kí nhằm đáp ứng lại nhu cầu nhìn nhận và suy ngẫm vềquá khứ Những vấn đề của văn chương một thuở, những số phận đã thành dĩ vãnggiờ được tái dựng theo một tinh thần mới, giả thiết mới đã gây không ít những cuộctranh cãi mà nhờ đó, đời sống văn học trở nên có khí sắc hơn” [136, tr.133] Bà tỏ ratin tưởng vào sự phát triển của thể loại này: “Với tất cả những nỗ lực tìm tòi, khámphá, cách tân về nội dung ý nghĩa cũng như nghệ thuật biểu hiện và quan trọng nhất

là với sự tự khẳng định không ngừng phong cách cá nhân của các tác giả hồi kí, bút

kí thời kì đổi mới, chúng ta hoàn toàn có thể khẳng định sự thành công và chín muồicủa thể loại kí ở giai đoạn hiện nay” [137]…

2.2 Những nghiên cứu về tác giả, tác phẩm hồi kí tiêu biểu

Hướng nghiên cứu này được sự quan tâm của rất nhiều người Với các hồi kí

cách mạng xuất hiện trong những năm kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ như Hai lần vượt ngục (Trần Đăng Ninh), Vừa đi đường, vừa kể chuyện (T.Lan), Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch (Trần Dân Tiên), Từ nhân dân mà ra, Những năm tháng không thể nào quên (Võ Nguyên Giáp), Bất khuất (Nguyễn Đức

Thuận)…, các nhà phê bình đều thống nhất đánh giá cao việc tái hiện và ngợi ca lịch

sử đấu tranh cách mạng, biểu hiện sinh động chủ nghĩa anh hùng và vẻ đẹp con ngườiViệt Nam trong chiến tranh cứu nước, thống nhất ghi nhận đóng góp của hồi kí cáchmạng trong việc đưa thực tế phong phú vào tác phẩm, cho thấy không khí, hơi thởcủa một thời đại hào hùng Nhà xuất bản Giáo dục giới thiệu ý nghĩa giáo dục của tập

Trang 5

Hồi kí cách mạng: “Đọc Hồi kí cách mạng, qua những hình ảnh sinh động, cụ thể,

những chi tiết chân thực và những câu chuyện đầy sức thu hút, chúng ta hiểu biết khásâu sắc về những chặng đường hoạt động cách mạng đầy gian lao thử thách và cực kìanh dũng, vẻ vang của Bác Hồ và các đồng chí cộng sản ưu tú của Đảng cũng nhưcủa quần chúng yêu nước từ khi cách mạng còn ở thời kì trứng nước cho đến ngàycách mạng tháng Tám thành công” [193] Trần Hữu Tá khẳng định giá trị lịch sử vàđóng góp của hồi kí cách mạng ở việc khắc họa “vẻ đẹp của người chiến sĩ cộng sảnViệt Nam”: “Trong hỏa ngục trần gian ấy, sáng chói lên hình ảnh người chiến sĩ cộngsản và lớp lớp quần chúng cách mạng trung kiên Những nguyên mẫu xã hội vốn rấtsinh động, qua các trang sách đã trở thành hình tượng nghệ thuật đẹp tươi” [121,

tr.19] Với Những năm tháng không thể nào quên (Võ Nguyên Giáp), Nguyễn Công Hoan đánh giá: “Cuốn Những năm tháng không thể nào quên của Võ Nguyên Giáp

mà trung tá Hữu Mai ghi đã cho ta thấy đầy đủ những sự kiện quan trọng có nhìn thấy

và không nhìn thấy đã xảy ra trong nước, ở trong Phủ Chủ tịch, và sự điều khiển vôcùng tài tình cho con thuyền đang luồn những mỏm đá trong mùa đông lạnh lẽo…”

[54, tr.94-97] Phạm Hùng, Hà Huy Giáp đều đề cao hồi kí Bất khuất của Nguyễn Đức Thuận: “Tập Bất khuất của đồng chí Nguyễn Đức Thuận ra đời lại thêm một

đóng góp mới vào văn nghệ cách mạng của dân tộc ta Là một trong những chiến sĩcộng sản kiên cường, đồng chí Nguyễn Đức Thuận chống “li khai”, chống “tố cộng”đến cùng trong suốt tám năm trường… Đồng chí kể lại một cách trung thực và sinhđộng cuộc đấu tranh vô cùng ác liệt hằng giờ, hằng phút trong các địa ngục trần gian

kiểu Mỹ ở miền Nam” [280, tr.9,10]; “Mỗi trang Bất khuất là một trang thấm máu và

nước mắt, tràn đầy một sức sống mãnh liệt, vang lên tiếng hát yêu đời, yêu conngười, vang lên bài ca chiến thắng không bao giờ tắt” [36, tr.1] Nam Mộc, PhanNhân, Trần Văn Giàu, Hà Minh Đức, Nguyễn Văn Huyên… cũng đề cao hồi kí cách

mạng qua một số bài viết: Lớn lên với Điện Biên, một tập hồi kí có những điểm xuất sắc (Tạp chí Văn học số 11/1964, tr.63); Đọc hồi kí cách mạng Người Hà Nội (Tạp chí Văn học, số 7/1965, tr.36); Đọc tập hồi kí Những ngày gian khổ (Tạp chí Văn học

số 4/1965, tr.36); Về khả năng phản ánh hiện thực của hồi kí, nhân đọc Sống như

Trang 6

Anh (Tạp chí Văn học số 4/1965, tr.81); Bất khuất, một tác phẩm quý để giáo dục lí tưởng cách mạng (Tạp chí Văn học số 4/1968, tr.15)…

Với mảng hồi kí văn nghệ giai đoạn 1945 - 1975, giới nghiên cứu hầu nhưchỉ chú ý đến hai cây bút: Nguyên Hồng và Vũ Bằng Nguyễn Đăng Điệp trong bài

Đặc sắc hồi kí Nguyên Hồng cho rằng hồi kí của nhà văn này là hồi kí tâm trạng,

“chất thơ, chất trữ tình trội át chất phân tích, tự sự”, “Đây vừa là chỗ mạnh, vừa làđiểm yếu của bút pháp Nguyên Hồng” [26, tr.231-235] Nhiều công trình khác vềNguyên Hồng chưa tách hồi kí thành đối tượng nghiên cứu riêng… Vũ Bằng là câybút rất có duyên với thể hồi kí Qua nhiều công trình, bài viết về nhà văn này, VănGiá nhận ra nét riêng của hồi kí Vũ Bằng là “hồi kí trữ tình, tái hiện tâm trạng, cảmxúc; sự kiện được giảm thiểu tối đa, chỉ còn là cái cớ để cho cảm xúc được thănghoa” Trong đối sánh với Tô Hoài, Văn Giá chỉ ra sự khác biệt giữa hai phong cách:nếu hồi kí Tô Hoài “mang giọng kể, mang tính văn xuôi, tiểu thuyết hoá hồi kí”, thìhồi kí Vũ Bằng “mang giọng cảm, trữ tình, mang tính thơ, thơ hoá hồi kí” [30,tr.335] Với loạt bài chân dung văn học của Vũ Bằng, ông cho đó là “chân dung hồikí” và ghi nhận những đóng góp của tác giả, từ quan niệm về con người: “Với riêng

Vũ Bằng, ông quan niệm nhà văn cũng là con người mà đã là con người thì bất kì aicũng đều có mặt tốt, mặt xấu, cái hay cái dở”, đến điểm đặc sắc trong nghệ thuậtdựng chân dung: “Nhà văn Tô Hoài trong các tác phẩm hồi kí hoặc chân dung vănhọc của mình cũng rất quan tâm và hứng thú miêu tả các chi tiết đời tư có phầnnhếch nhác của giới văn nghệ sĩ Nhưng Vũ Bằng khác ông ở chỗ: Nếu Vũ Bằngtrình bày những điều đó với tư cách là người cùng hội cùng thuyền, cùng tài cùngtật… nên rất mực cảm thông, chia sẻ, phát hiện ra cái nguyên cớ bên trong nhiềukhi rất đáng thương ở người nghệ sĩ, thì Tô Hoài nhìn vào đó với cái nhìn của ngườingoài cuộc tỉnh táo, cũng cảm thông thật đấy, nhưng cũng không sao giấu được cái

vẻ giễu cợt tinh quái, cho dù có khi là giễu yêu”; “Những chân dung của Vũ Bằngbao giờ cũng được nội tâm hóa”, còn Tô Hoài “xây dựng chân dung theo hướngmiêu tả khách quan”; “Khi viết chân dung, Tô Hoài vẫn cứ là một cây bút hiện thực,bám chặt vào “chất văn xuôi” của đời sống Trong khi đó, bao giờ Vũ Bằng cũng là

Trang 7

một cây bút trữ tình, đằm thắm chất thơ” [165, tr.391-398] Là người tâm huyết với

Vũ Bằng, Văn Giá đã cơ bản nhận diện được chân dung ông qua hồi kí Vũ Xuân

Triệu cho rằng hình tượng tác giả Vũ Bằng trong hồi kí Bốn mươi năm nói láo là

“cái tôi đa dạng”: “cái tôi thành thật”, “cái tôi đầy dũng khí” và “cái tôi hóm hỉnh”[145] Tường Duy nhận thấy Vũ Bằng là một trong số ít nhà văn thành thực vớichính mình khi viết hồi kí: “Nếu như đây đó chúng ta vẫn bắt gặp những cuốn gọi là

“hồi kí” song nội dung chủ yếu là để thanh minh thanh nga, hoặc khoe khoang côngtích, đánh bóng tên tuổi tác giả, thì điều đó chúng ta sẽ rất khó gặp ở Vũ Bằng Đọcnhững bài viết có tính hồi cố của ông, điều ta có thể nhận thấy ngay: ông là nhà vănrất sòng phẳng với đời Ông sẵn sàng kể “tội” mình” [17]…

Đặc biệt, sự bùng nổ của hồi kí từ đầu thập kỉ 90 trở đi, khiến giới học thuậtrất chú ý đến sự vận động của thể loại Mối quan tâm này được thể hiện rõ khi họ bànđến hai cây bút hồi kí nổi bật nhất là Nguyễn Khải và Tô Hoài Với Nguyễn Khải, cácnhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh, Vương Trí Nhàn, Nguyễn Thị Bình, BíchThu… đều đề cập đến việc sáng tác của ông giai đoạn sau có nhiều chi tiết tiểu sửkhiến chúng đậm chất hồi kí, tự truyện Nguyễn Đăng Mạnh nhấn mạnh sự biếnchuyển trong tư duy nghệ thuật của nhà văn, đặc biệt là sự trở về với cái tôi, điều này

mở ra một hướng khám phá cuộc sống mới bất ngờ, hấp dẫn: “dường như NguyễnKhải muốn khai thác triệt để vào cái kho kinh nghiệm riêng, cái vốn trải nghiệm riêngcủa mình Hàng loạt tác phẩm có tính chất hồi kí tự truyện được ông viết một cáchđầy hào hứng… gần đây ngòi bút của ông từ hướng ngoại chuyển mạnh sang hướngnội, đào rất sâu vào chính thân phận mình và những gì gắn bó với thân phận mình.Trong giới hạn đó, đối tượng hiện thực quả có thu hẹp lại, nhưng người đọc lại thấy

có nhiều khám phá bất ngờ hơn, hấp dẫn hơn, không phải chỉ về bản thân mình mà về

cả chuyện đời chuyện người nữa” [86] Nguyễn Thị Bình rất chú ý đến yếu tố làmthay đổi tư duy tiểu thuyết của Nguyễn Khải: “Có một người kể chuyện đóng vai tácgiả là nhà văn, nhà báo, là chú Khải, ông Khải cùng rất nhiều chi tiết tiểu sử như biểuhiện nhu cầu nhà văn muốn nói về mình, muốn coi mình là đối tượng của văn

chương” [8] Cuốn Thượng đế thì cười, mặc dù được dán nhãn “tiểu thuyết” nhưng

Trang 8

nhiều người tỏ ra nghi ngờ cách định danh này Đặng Anh Đào khẳng định: “đókhông phải tiểu thuyết mà là hồi kí Dù Nguyễn Khải không xưng tôi, tự gọi mình là

“hắn” cũng vẫn là nhân vật hồi kí… hồi kí này vừa giống như một… bản kiểm điểmcủa thế hệ những người quen sinh hoạt tập thể như “hắn”, lại vừa giống lời xưng tộicủa một con chiên! Bởi “hắn” đã tự thú…” [19, tr.105, 106] Nguyễn Thị Bình chorằng: “Đây là một dạng tiểu thuyết tự truyện hoặc một dạng hồi kí được cấp cho dáng

vẻ tiểu thuyết nhờ sự khách thể hoá cái tôi tác giả” [9] Đông La quả quyết: “Thượng

đế thì cười thực chất là một cuốn hồi kí nhưng lại được viết theo hình thức của một

tiểu thuyết; tức các nhân vật đều có thực, còn kết cấu, văn phong thì được viết theo

kiểu tiểu thuyết” [68, tr.6, 7]… Hầu hết các nhà nghiên cứu đều nghiêng về coi tính trội của Thượng đế thì cười là hồi kí, điều này giúp chúng tôi thêm tự tin đưa tác

phẩm vào đối tượng khảo sát Vương Trí Nhàn nhận diện tác phẩm này ở cả hai tưcách: hồi kí và tiểu thuyết, và cho rằng ở tư cách nào cũng là “sự dừng lại nửachừng”, “chưa tới” trong nghệ thuật: “Dù được gọi là tiểu thuyết hay là gì gì nữa,

thực chất của Thượng đế thì cười vẫn là cuốn sách trong đó một con người mang quá khứ của mình ra để kể với bạn đọc… Nhìn chung, Thượng đế thì cười vẫn thành công

chính ở việc biểu dương một sự nghiệp hơn là chạm vào một vấn đề bao quát củacuộc đời Nó mang lại cho tác giả một chút yên tâm cần thiết, chứ không chắc đã giúpcho các tầng lớp bạn đọc lẫn các đồng nghiệp soi vào đó để hiểu thêm những ngàyđang sống, với đủ ngọt bùi chua chát chúng ta vẫn cảm nhận” [99, tr.6,7]

Tô Hoài rất nổi tiếng với các tác phẩm hồi kí hoặc nghiêng về hồi kí: Cỏ dại, Mùa hạ đến mùa xuân đi, Những gương mặt, Cát bụi chân ai, Chiều chiều,

Ba người khác… Riêng hai cuốn hồi kí Cát bụi chân ai và Chiều chiều, từ khi ra

đời đã được bàn luận sôi nổi trong nhiều công trình khác nhau Xuân Sách cho rằng:

“Tác phẩm mang đậm chất phong cách Tô Hoài, từ văn phong đến con người, thâmhậu mà dung dị, thì thầm mà không đơn điệu nhàm chán, lan man tí chút nhưngkhông kề cà vô vị, một chút u mặc với cái giọng khơi khơi mà nói, ai muốn nghe thìnghe, không bắt buộc nghe rồi hiểu Sức hấp dẫn chủ yếu của tác phẩm là sự chânthực” [71, tr.413-416] Đặng Thị Hạnh chú ý đến cấu trúc thời gian và ngôn từ rất

Trang 9

hiện đại trong Cát bụi chân ai: “Thời gian hồi tưởng như ngẫu hứng, cũng chạy

lông bông theo dòng hoài niệm, móc vào đâu đấy, dừng lại một lát rồi lại đi…

Tưởng đó cũng là trò chơi lớn của văn viết hồi kí là đặt chồng lên nhau các lớp thời

gian… Sắc thái ngôn từ thật đa dạng Có những phát biểu thẳng thừng, những châm

biếm trực tiếp… Cát bụi chân ai, một ẩn dụ, loại hình thái tu từ không có nhiều

trong tác phẩm Tô Hoài, mà mỗi người đọc có thể hiểu theo cách của mình” [71,

tr.417-426] Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng Cát bụi chân ai và Chiều chiều là thế

giới của vô vàn chuyện vui, chuyện lạ được phát hiện bởi con mắt tinh quái, sắc sảo

và nụ cười hóm hỉnh của Tô Hoài Thế giới ấy thể hiện rõ quan niệm “con người làcon người” và triết lí sống của Tô Hoài: được sống như chính mình, như một conngười bình thường [87] Theo Lí Hoài Thu, cái nhìn của Tô Hoài trong hai cuốn hồi kí

này thấm đẫm cảm hứng nhận thức lại: “Tác giả của Chiều chiều và Cát bụi chân ai,

với một cái nhìn tỉnh táo, điềm đạm, đã nhìn nhận lại “Nhân văn - Giai phẩm” vànhững vấn đề văn chương phức tạp một thời với tất cả tính thời sự và cả tính bi kịchcủa nó Bằng sức mạnh của hồi tưởng, nhà văn đã mạnh dạn, thẳng thắn nói ra những

“chuyện buồn quá khứ”, những “ấu trĩ trong văn học và chính trị một thời”, giúp ngườiđọc có được một hình dung và nhận thức “tường minh” hơn về lịch sử văn học nước

nhà những năm tháng đầy biến động” [137] Ba người khác của Tô Hoài cũng thu hút

sự chú ý của dư luận Lời giới thiệu của nhà xuất bản Đà Nẵng nhấn mạnh: “Câu

chuyện này có thể được coi là một mảng kí ức trong cuộc đời nhà văn Tô Hoài Và kí

ức, có thể tương ứng, trùng với điều đã diễn ra, nhưng cũng có điều chỉ ở trong tâm

tưởng” [210] Trần Hoa Minh nhận thấy Ba người khác như một sự tiếp nối mạch hồi

kí tự truyện của Tô Hoài: “lối viết Ba người khác - được gọi là tiểu thuyết cũng như các hồi kí Cát bụi chân ai và Chiều chiều luôn là hư hư thực thực, nhưng ánh mắt và

nụ cười tinh ranh của Tô Hoài như vẫn theo dõi và thích thú vì đang đánh đố, dẫn dụngười đọc chúng ta” [90]

Các cuốn hồi kí của Bùi Ngọc Tấn, Phùng Quán, Sao Mai, Duy Khán, Ma

Văn Kháng… cũng rất được hoan nghênh Lê Minh Hà tâm đắc với Rừng xưa xanh

lá, Một thời để mất Bà cho rằng sức nặng chữ nghĩa Bùi Ngọc Tấn chính là những

Trang 10

trải nghiệm, chiêm nghiệm ân nghĩa với đời: “Rừng xưa xanh lá không phải là giai thoại Viết về bè bạn không phải là giai thoại, cũng không phải cuốn sách về chuyện

đời, chuyện nghề chứa ẩn những khái quát, phát hiện về tác giả, tác phẩm, thi pháp,

và Bùi Ngọc Tấn không hì hục với kĩ thuật, vật vã với trào lưu Với một số tác giả,việc đạt được thêm một bước trên tiến trình hiện đại hoá văn chương là toàn bộ ýnghĩa của sáng tác khiến bạn đọc vui mừng Với Bùi Ngọc Tấn, ý nghĩa của sự trở lại

với chữ là nghĩa đời” [38] Ngô Minh giới thiệu với người đọc tài năng và nhân cách Phùng Quán qua cuốn Ba phút sự thật: “Chúng tôi tin rằng cuốn sách sẽ mang đến

cho bạn đọc nhiều chi tiết mới mẻ, cảm động về đời thường của những nhân vật

“nổi tiếng” mà lâu nay chúng ta ít có điều kiện tìm hiểu Đọc sách chúng ta càngtrân trọng tài viết kí và tấm lòng thuỷ chung như nhất của Phùng Quán” [255].Vương Trí Nhàn nói đến vị trí có tính chất bước ngoặt trong hành trình sáng tác

Duy Khán của tác phẩm Tuổi thơ im lặng Tập hồi kí xuất hiện năm 1986 đã khiến

cho nhà văn “đang từ một người làm thơ, chuyển sang văn xuôi Đang từ một người

dễ dãi chạy theo các đề tài thời sự, Duy Khán trở lại với cái phần kí ức tuổi thơ nằm

sâu và trở nên bền chặt trong tâm tư” [97] Với hồi kí Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thương của Ma Văn Kháng, Nguyễn Ngọc Thiện có nhận xét: “Cuốn

sách không chỉ giới hạn trong sự kể lại một cách trung thực, mắt thấy tai nghe vànhớ lại theo cách viết và yêu cầu của hồi kí, mà hơn thế, nó còn được miêu tả, dựnglại một cách tạo hình, sống động với ngôn từ, bút pháp, phong cách của một cây bútvăn xuôi tài hoa, lão thực Qua từng trang của sách, hiện lên rõ nét bức tranh củađời sống xã hội trải dài trong non một thế kỉ với chân dung phong phú các loạingười xuất hiện trong mối quan hệ với tác giả hoặc trong sự quan sát chăm chú củaông theo góc nhìn của nghề viết văn” [132] Từ tác phẩm của Sao Mai, Phạm Khải đãkhái quát về một xu hướng của hồi kí hiện nay: “Nhà văn Sao Mai trong cuốn hồi kí in

ở Nxb Công an nhân dân trước đây non chục năm cũng đặt tên là Sáng tối mặt người,

cho thấy xu hướng viết về con người đa chiều, đan xen những cái xấu, cái tốt là một xuhướng ngày càng phổ biến trong tự truyện, hồi kí văn học” [62]…

Trang 11

Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều ghi nhận sự phát triển của hồi kí trongvăn học Việt Nam từ sau cách mạng tháng Tám 1945 qua các tác phẩm tiêu biểu,đặc sắc Bước đầu các công trình đã chỉ ra nét riêng của thể loại ở từng giai đoạnvăn học với những kết tinh tư tưởng và bút pháp Ý kiến người đi trước thật sự đemđến cho chúng tôi nhiều gợi mở xung quanh thể hồi kí: đặc trưng thể loại, sự đanxen thể loại, giá trị tư liệu, vấn đề sự thật và hư cấu, cái tôi tác giả, phong cách hồikí… Tuy nhiên, sự nghiên cứu trong thời gian qua chưa thực sự đầy đặn cả về phạm

vi tư liệu và nội dung nghiên cứu Những bài viết có ý nghĩa bao quát chung về diệnmạo thể loại còn ít và sự phân tích, lí giải điều kiện, qui luật phát triển, các khuynhhướng cũng như đặc điểm hồi kí ở mỗi giai đoạn còn sơ lược, những nghiên cứu vềtác giả, tác phẩm tiêu biểu cũng chưa thật kĩ lưỡng, thiếu hẳn sự quan tâm đến mảnghồi kí ở miền Nam trước 1975… Trên cơ sở kế thừa thành tựu đã có, chúng tôi sẽ

cố gắng bổ khuyết những thiếu hụt này, đưa việc nghiên cứu hồi kí vào một hệthống, từ xác định khái niệm, đặc trưng thể loại, đến soi chiếu quá trình phát triểnhồi kí qua các giai đoạn, tái hiện diện mạo, đặc điểm, các khuynh hướng vận độngcùng những đóng góp của hồi kí đối với sự phát triển của văn học Việt Nam hiệnđại, góp thêm một tiếng nói đánh giá đầy đủ hơn thành tựu của văn học Việt Namtrên phương diện thể loại

3 Mục đích nghiên cứu

Chúng tôi nghiên cứu đề tài nhằm tìm ra qui luật vận động, những bước pháttriển về tư tưởng và nghệ thuật của thể hồi kí, đồng thời thấy được thành tựu vànhững đóng góp của hồi kí đối với sự phát triển nền văn học Việt Nam hiện đại

4 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, đối tượng khảo sát

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Mối quan tâm của chúng tôi qua đề tài này là đời sống thể hồi kí trong dòngchảy của lịch sử - xã hội với bao biến thiên thăng trầm Luận án hướng đến tìm hiểudiện mạo, các khuynh hướng, đặc điểm hồi kí qua từng chặng đường văn học: 1945-1975 và sau 1975 đến nay

Trang 12

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Chúng tôi nghiên cứu đề tài: “Hồi kí trong văn học Việt Nam từ sau cáchmạng tháng Tám 1945 đến nay” ở một số phương diện: những vấn đề lí luận về thểloại, các khuynh hướng chính, các đặc điểm cơ bản của hồi kí, tìm hiểu cái tôi tácgiả, những yếu tố đời tư với tư cách là chất liệu nghệ thuật sống động để soi ngắmcác giá trị nhân sinh, tìm hiểu những đặc sắc của nghệ thuật hồi kí: kết cấu hồi ức,ngôn ngữ, giọng điệu và những chuyển dịch của nó…

4.3 Đối tượng khảo sát:

Những hồi kí đã xuất bản ở Việt Nam từ sau cách mạng tháng Tám 1945 đếnnay đều thuộc diện khảo sát của luận án Tuy nhiên, luận án tập trung hơn vào hồi kícủa các văn nghệ sĩ và những nhân vật có ảnh hưởng lớn đến đời sống văn hóa - tưtưởng của dân tộc, những tác phẩm có giá trị văn chương thẩm mĩ cao

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp nghiên cứu văn học sử: Đặt vấn đề nghiên cứu trong bối

cảnh lịch sử - xã hội và văn hóa đương thời để khảo sát, coi trọng tiến trình văn học,

có quan điểm lịch sử kết hợp với góc nhìn hiện tại khi lí giải, đánh giá các hiệntượng hồi kí

5.2 Phương pháp hệ thống: Xem xét sự vận động của hồi kí trong sự vận

động chung của hệ thống thể loại văn học Việt Nam hiện đại Hồi kí vừa tuân thủqui luật phát triển như các thể loại khác dưới tác động của thời đại, vừa có tính độclập tương đối, phát triển theo qui luật nội tại và mang những đặc trưng riêng Chúngtôi vận dụng phương pháp này để phân tích, cụ thể hóa và chỉ ra những đặc thù củathể hồi kí

5.3 Phương pháp so sánh: Tìm hiểu diện mạo, đặc điểm, sự vận động và

phát triển của hồi kí mỗi giai đoạn phát triển trên cơ sở so sánh, đối chiếu với hồi kícác giai đoạn trước và sau nó hoặc so sánh với các thể loại khác…

5.4 Phương pháp tiếp cận thi pháp học: Lựa chọn khảo sát các hồi kí mang

đặc trưng thẩm mĩ cao, luận án vận dụng các khái niệm của thi pháp học để tìm hiểu

Trang 13

cách thức tiếp cận và khám phá hiện thực của hồi kí, cái nhìn về con người, xâydựng không gian, thời gian nghệ thuật

5.5 Phương pháp loại hình: Dựa vào đặc trưng, cái “gốc”, khuôn viên của

thể loại để lựa chọn tác phẩm khảo sát và định hướng khảo sát sao cho làm nổi bậtnhững nét khu biệt của các dạng thức hồi kí so với các thể loại khác

5.6 Phương pháp tiểu sử: Vận dụng phương pháp này nhằm tìm hiểu tác

phẩm thông qua mối quan hệ giữa tác giả và văn bản nghệ thuật do họ tạo nên.Phương pháp này được sử dụng kết hợp với phỏng vấn, điều tra… để có cơ sở tìmhiểu yếu tố đời tư, đời thường, độ “thành thật” của cái tôi tác giả khi nói về mình vàngười khác…

6 Đóng góp của luận án

6.1 Đây là công trình chuyên biệt đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống và

kĩ lưỡng về thể hồi kí trong văn học Việt Nam từ 1945 đến nay, làm rõ đặc trưng,diện mạo và đặc điểm của thể loại qua từng chặng đường vận động: 1945 - 1975, từ

1975 đến nay

6.2 Luận án góp một cách nhìn khoa học khẳng định bản chất và vị trí củahồi kí trong kí văn học nói riêng và văn học Việt Nam gần một thế kỉ qua nóichung, cắt nghĩa việc nó đã đáp ứng nhu cầu của thời cuộc và công chúng như thếnào để trở thành một bộ phận có giá trị đặc biệt trong nền văn học dân tộc

6.3 Luận án làm rõ sự chuyển đổi và khác biệt của thể hồi kí từ 1945

-1975 đến sau -1975 trên các phương diện tư duy thể loại, diện mạo, khuynhhướng, đặc điểm và nghệ thuật, trên cơ sở đó hướng tới những vấn đề lí thuyết

và văn học sử như sự vận động của tư duy thể loại, sự tương tác văn học, tâm lísáng tạo và tiếp nhận…

7 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án được triển khai thành ba chương:Chương 1 Một số vấn đề thể loại

Chương 2 Hồi kí giai đoạn 1945 - 1975

Chương 3 Hồi kí từ sau 1975 đến nay

Trang 14

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ THỂ LOẠI

1.1 Hồi kí là một tiểu loại / dạng thức của kí

1.1.1 Khái niệm kí văn học

Kí là loại hình văn xuôi tự sự, hình thành và phát triển trong văn học thế giớicũng như ở Việt Nam khá sớm Là một dạng / kiểu văn học đặc thù, kí đặc biệt quantâm đến các sự kiện, biến cố lịch sử, những biểu hiện có thật của đời sống với sựbộc lộ trực tiếp cá tính sáng tạo, nhận thức riêng và tham vọng can dự nhằm thúcđẩy các hoạt động xã hội của nhà văn Chính vì vậy, kí có một phạm vi biểu hiệnđời sống rất rộng lớn: có thể thiên về ghi chép sự việc, có thể thiên về biểu hiệnnhững xúc cảm trữ tình, có thể thiên về chính luận, thời sự Nghĩa gốc của chữ “kí”

là ghi chép một sự việc gì đó để không quên Vì tính chất “ghi chép” này phạm trù

của kí được mở rộng, hàm chứa nhiều tiểu loại: thực lục, tạp lục, mạn lục, truyện kí,

sử kí, du kí, nhật kí, hồi kí, phóng sự, tuỳ bút…

Để thấy rõ hơn khái niệm “kí văn học”, cần phân biệt nó với một số loại hìnhngoài văn học như báo chí, chính luận, ghi chép tư liệu, đặc biệt là với “kí báo chí”,loại hình gần “kí văn học” hơn cả Trên thực tế, “kí văn học” có chịu sự tác động rõrệt của báo chí bởi tính chất chính luận, thời sự và chiến đấu của nó Nhưng “kí vănhọc” và “kí báo chí” vẫn có những đặc trưng riêng, phát triển theo những quy luậtriêng, với những chức năng riêng: “Kí văn học và kí báo chí giống nhau ở chỗ đềutôn trọng tính xác thực và tính thời sự Nhưng ở kí báo chí tính xác thực phải đượcđảm bảo ở mức tuyệt đối, và tính thời sự cũng mang tính chất thật cấp bách, có khihằng ngày hằng giờ Kí văn học không đòi hỏi như vậy, ngược lại nó yêu cầu caohơn về chất suy nghĩ và tình cảm của chủ thể” [82] Nhằm thoả mãn nhu cầu thôngtin về cái mới, cái thời sự cho bạn đọc, kí báo chí chịu sự chi phối gắt gao của yêucầu thời sự Tính thời sự là yếu tố đầu tiên được tính đến khi thẩm định giá trị của kíbáo chí Ngược lại, trong kí văn học tính thời sự không phải là tiêu chí hàng đầu,nhà văn viết kí vừa mong muốn lưu giữ, phản ánh hiện thực, vừa sử dụng chất liệuhiện thực để tạo nên những hình tượng nghệ thuật biểu hiện quan niệm thẩm mĩ độcđáo Kí báo chí thiên về thông tin thời sự xác thực, kí văn học từ thông tin sự thật

Trang 15

hướng tới thông tin thẩm mĩ Có thể nói: “Sự kiện trong kí văn học mang ý nghĩa tưtưởng nghệ thuật nhiều hơn Việc lựa chọn đối tượng theo mục đích này khiến chongười thật việc thật trong kí văn học mang ý nghĩa điển hình, và sự thật về sự kiện,con người mang ý nghĩa sâu rộng hơn tính thời sự của chúng, có khả năng khêu gợi,tác động nhiều mặt đến người đọc” [120, tr.246, 247]

1.1.2 Đặc trưng của thể kí văn học

Cho đến nay, kí vẫn được xem là kiểu loại văn học khá đặc biệt vì rất khó xácđịnh được đặc trưng của nó Một số ý kiến đồng nhất đặc điểm của kí với loại văn tưliệu vì một số thiên kí là tác phẩm tư liệu xác thực của đời sống, những tư liệu tiêubiểu và có giá trị nghệ thuật Một số ý kiến cho rằng kí mang nhiều tính chất báo chícũng chính là nói đến một đặc điểm thường thấy trong kí: yếu tố chính luận và tínhthời sự Một số ý kiến lại thấy ở kí những liên hệ chặt chẽ với thể loại trữ tình… Nhàvăn Tô Hoài đã nói: “Kí cũng như truyện ngắn, truyện dài hoặc thơ, hình thù nó đấy,nhưng vóc dáng nó luôn luôn đổi mới, đòi hỏi sáng tạo và thích ứng Cho nên càngchẳng nên trói nó vào một cái khuôn” [49, tr.33] Tuy nhiên, với cái nhìn hệ thốngcác đặc điểm của kí, có thể xác định được đặc trưng riêng của thể loại này

1.1.2.1 Qua thông tin sự thật hướng đến thông tin thẩm mĩ

Kí chỉ trần thuật những “người thật việc thật” đã xảy ra, đó là sự trần thuậtmột cách xác thực nhưng không vì thế mà không có tính nghệ thuật Bởi người thậtviệc thật được nói đến tự thân nó hàm chứa những ý nghĩa riêng và ngay trong sựthật đã có cái thẩm mĩ Hơn nữa, sự thật khách quan được kí lấy làm điểm tựa, là cơ

sở để chọn lựa, khai thác những nội dung, khía cạnh có ý nghĩa thẫm mĩ - nhân sinhnào đó Vì sao sự kiện này đi vào tác phẩm mà không phải sự kiện khác? Vì sao nhàvăn ghi lại sự thật này mà không ghi lại sự thật kia? Trong kí, các chi tiết, sự kiệncủa cuộc sống vừa giữ được những phẩm chất cơ bản của sự thật, vừa được cảm

thụ, đánh giá theo cách nhìn độc đáo của riêng nhà văn Có thể nói: “ghi việc để

thông tin sự thật không phải là nội dung cơ bản của kí Nội dung cơ bản của kí,ngay ở hình thức sơ khai của nó, là thông tin về ý nghĩa, về giá trị nhân sinh của sựviệc được ghi” [120, tr.367]

Tác phẩm kí có thể hư cấu nhưng nói chung là ít và thường ở những thànhphần không xác định với mục đích góp phần tái hiện một cách xác thực người thật

Trang 16

việc thật Đây là đặc điểm có thể phân biệt kí với các loại văn xuôi tự sự khác Nóiđến mức độ của hư cấu thì không thể dựa vào con số thống kê mà vấn đề là mụcđích, tính chất của hư cấu Nếu các nhà viết truyện ngắn, tiểu thuyết luôn muốn tạo

ra một “thế giới thứ hai” và chân lí trong tác phẩm không nhất thiết đồng nhất vớichân lí đời sống thì các nhà viết kí, ngược lại, luôn có mong muốn tác phẩm củamình tái hiện một cách chân thực hiện thực như nó đã có, đã diễn ra Mặc dù theoquy luật của sáng tạo nghệ thuật, chân lí trong các tác phẩm kí cũng không thể hoàntoàn đồng nhất với chân lí đời sống

Mặt khác, cũng không nên cực đoan khi nói về tính chất xác thực trong kí,bởi “Trong quá trình chuyển hóa từ đối tượng khách quan thành hình tượng nghệthuật trải qua nhiều công đoạn khá phức tạp của tư duy nghệ thuật, từ tiếp xúc, quansát đối tượng miêu tả đến việc cảm thụ, chọn lọc, bình giá, sắp xếp để khái quát hóa,

cá thể hóa, điển hình hóa Hình tượng nghệ thuật của người thật việc thật trong tácphẩm dù đảm bảo trung thực chính xác đến đâu cũng là một bước nhảy vọt về chất,đẹp đẽ hơn, tinh khôi hơn so với nguyên mẫu” [23, tr.414, 415] Như vậy, kí đòi hỏixác thực một cách tối đa nhưng không có nghĩa là đi ra ngoài quĩ đạo của sáng tạonghệ thuật Một tác phẩm kí vẫn phải đảm bảo giá trị thẩm mĩ Giá trị này được tạonên bởi bản thân sự thật và cả việc lựa chọn những chi tiết hư cấu, sáng tạo, cách tổchức, sắp xếp câu chuyện, những suy nghĩ, liên tưởng phong phú và giàu tính nghệthuật của tác giả

Xét hành vi sáng tác cũng thấy rõ các tác phẩm kí không thể viết được sựthật một cách tuyệt đối Bởi người viết luôn là một cá nhân, một điểm nhìn vàkhông phải lúc nào cũng là người chứng kiến, dù có chứng kiến chăng nữa cũng vấpphải cơ chế “không biết hết’, “không nhớ hết” Có những sự việc xảy ra quá lâu,càng không thể nhớ chính xác, tường tận, tỉ mỉ… Do vậy, người viết buộc phải bùđắp sự thiếu hụt ấy bằng cách nghe, đọc thêm, đôi khi phải sử dụng sự liên tưởng,

hư cấu Như trên đã nói, kí có hư cấu nhưng luôn hướng đến mục đích tái hiện đúngngười thật việc thật, do vậy, chỉ sử dụng yếu tố này trong những phạm vi nhất định

Ở những thành phần xác định như tên tuổi, lai lịch, ngoại hình, nguồn gốc xuất thân,thành tích, thời gian, địa điểm, những quan hệ xã hội cơ bản, những diễn biến chínhcủa sự việc… người viết kí phải cố gắng trung thành với sự thật một cách tối đa

Trang 17

Với những thành phần không xác định như nội tâm nhân vật, cảnh sắc thiên nhiên,những chi tiết phụ, trình tự câu chuyện… người viết được quyền sử dụng hư cấunhưng vẫn phải đạt đến tính chân thật trong tái hiện.

1.1.2.2 Cái tôi tác giả có vai trò đặc biệt quan trọng

Trong các tác phẩm kí, nhân vật trần thuật là “tôi” ở ngôi thứ nhất và thôngthường là chính tác giả Tác giả đóng vai trò người chứng kiến để tăng cường tính

xác thực trong kí đồng thời trực tiếp bộc lộ tính khuynh hướng thông qua những

cảm xúc trữ tình, suy ngẫm, bình luận công khai Tác giả kí là người trực tiếp tiếpcận, nghiên cứu vấn đề, tìm tòi và khái quát ý nghĩa xã hội thẩm mĩ của các sự kiệnđược ghi chép, phản ánh Bức tranh cuộc sống trong kí chủ yếu được dựng bằngnhững gì mà chính tác giả quan sát, cảm thấy… Mặt khác, tác giả là người trực tiếptham gia vào thế giới nghệ thuật, phát huy khả năng quan sát, liên tưởng, nối kết cácchi tiết, hướng dẫn người đọc cảm thụ cuộc sống theo những định hướng riêng Dovậy, trong kí, các sự kiện của đời sống không phải là một tập hợp ngẫu nhiên, thômộc, chúng đã được lựa chọn, đánh giá bởi điểm nhìn tác giả để trở thành nhữngchất liệu nghệ thuật mang giá trị thẩm mĩ cao Như vậy, với sự có mặt của cái tôi tácgiả, kí càng chứng tỏ ưu thế phóng khoáng, tự do dù phản ánh người thật việc thật:

“Với thể kí văn học, ngoài sự ràng buộc phải phản ánh trung thực hiện thực đờisống khách quan, thì bằng cái tôi của mình, nhà văn vẫn tìm cách thoát ra khỏi cái

áp lực của người thật việc thật để mở rộng biên độ sáng tác văn học đến những địahạt khác bằng cảm xúc, tưởng tượng, liên tưởng, hồi ức, hoài niệm…” [23, tr.422].Chính cái tôi tác giả mang lại cho kí sự thuyết phục và sức tác động lớn tới côngchúng Kí vừa phản ánh hiện tại, vừa tái hiện quá khứ, vừa mở ra thế giới nội tâmbên trong với những suy tư phong phú: “Nói chung, qua vai trò trung gian của chủthể, nhà văn thường tìm cách nối liền thế giới bên ngoài và thế giới bên trong thầmkín của mình, bổ sung vào những dữ kiện của thực tại bằng những dữ kiện của nộitâm (tưởng tượng, xúc cảm, hoài niệm, suy nghiệm…) gắn liền cái hư và thực trongmột thể thống nhất” [151, tr.170]

Cái tôi tác giả đã gia tăng yếu tố trữ tình và chính luận trong kí, tạo nên đặctrưng về kết cấu, cốt truyện của thể loại Yếu tố trữ tình và chính luận - những yếu

tố “phi cốt truyện” chiếm tỉ lệ khá lớn trong kí Từ đó, gây nên sự phá vỡ cốt truyện

Trang 18

ở mức độ này, mức độ khác Nhiều tác phẩm không có cốt truyện, có khi chỉ là sựtập hợp hệ thống sự kiện thể hiện chủ đề thống nhất nào đó Liên quan đến cốttruyện, vấn đề kết cấu của kí cũng có những điểm đáng lưu ý Loại kí có cốt truyệnđược tổ chức theo diễn biến cốt truyện như các loại truyện ngắn, truyện dài, tiểuthuyết nhưng tương đối tự do, co dãn hơn do sự chi phối của cái tôi tác giả tham giatrực tiếp vào tác phẩm Loại kí không có cốt truyện thì kết cấu theo lối liên tưởng, ở

đó có sự xen kẽ giữa sự kiện, con người với những đoạn nghị luận, trữ tình củanhân vật trần thuật Kí cũng có kết cấu lắp ghép là hình thức đan xen giữa các tìnhtiết, sự kiện và dòng suy tưởng, bàn luận của tác giả…

1.1.2.3 Một số cách xử lí riêng về nghệ thuật thể hiện

Ngoài một số phương diện đã được đề cập ở phần trên như: hình tượng tácgiả, yếu tố hư cấu, tưởng tượng, tính xác thực, kết cấu… tác phẩm kí còn được tổchức với các cách xử lí riêng về thời gian trần thuật, các phương thức thể hiện, ngôn

từ nghệ thuật…

Về tổ chức thời gian trong tác phẩm, để tạo khả năng tác động mạnh tớicon người và đời sống, kí có sự rút ngắn tối đa khoảng cách giữa thời gian sựkiện và thời gian trần thuật bằng nhiều thủ pháp kết cấu Theo các tác giả giáo

trình Lí luận văn học của trường Đại học Sư phạm Hà Nội, có thể thường xuyên

bắt gặp bốn thủ pháp cơ bản: 1 Dựa vào cái đơn nhất, xác thực để xây dựnghình tượng: cái điển hình, cái thẩm mĩ trong kí là cái xác thực, cái có thể bắtgặp trong cuộc đời Kí lấy các chi tiết đời sống đang diễn ra trước mắt đưathẳng vào tác phẩm; 2 Tôn trọng trật tự biên niên của thời gian sự kiện: vừathể hiện sự tôn trọng tính xác thực của sự việc được ghi chép, vừa là cách đểxoá bỏ thời gian trần thuật, nhằm tạo ra sự tác động trực tiếp của hiện thựcđược phản ánh tới người đọc; 3 Lược bỏ ngôn ngữ trần thuật, sử dụng kĩ thuật

“lắp ráp” điện ảnh: ngôn ngữ trần thuật được rút gọn tối đa, chỉ còn những chitiết, hình ảnh từ nhiều góc độ, tạo ấn tượng trực tiếp cho người đọc, truyền đến

họ cái sống động, tươi mới của cuộc đời; 4 Làm nổi bật hình tượng tác giả,người chứng kiến, tham gia: hình tượng tác giả vừa mang lại sự thuyết phụccho kí về các thông tin sự thật, vừa tác động mạnh tới công chúng về các giá trị

Trang 19

nhân sinh, xoá đi khoảng cách giữa thời gian sự kiện và thời gian trần thuật…[120, tr.369, 370].

Về phương thức thể hiện, kí kết hợp linh hoạt các phương thức tự sự, trữtình, nghị luận với những thao tác tư duy khoa học Tự sự là nền tảng cấu trúc củatác phẩm kí Yếu tố tự sự bao gồm các chi tiết, sự kiện sinh động của đời sống được

tả lại, kể lại trong tác phẩm Trên nền tảng tự sự, kí phát triển rất tự nhiên yếu tốnghị luận Phần nghị luận tạo thành tính chính luận như một đặc điểm nổi bật của

kí Kí không chỉ kể việc, tả người mà còn thể hiện cảm xúc, tâm tư của người viết,tạo nên mạch trữ tình sâu lắng, hướng độc giả đến với những giá trị nhân sinh caođẹp Ở kí còn có sự kết hợp tự nhiên giữa tư duy nghệ thuật với tư duy khoa học.Người viết kí không chỉ có tài năng và tâm hồn văn chương mà còn phải có vốnkiến thức sâu rộng về nhiều lĩnh vực, có sự tìm tòi, quan sát, phân tích, tổng hợp và

cả những kinh nghiệm, trải nghiệm… Sự kết hợp này giúp nhà viết kí tạo nên nhữngtác phẩm vừa giàu giá trị nghệ thuật, vừa giàu giá trị thông tin

Văn phong, ngôn từ nghệ thuật của kí cũng có những đặc điểm riêng Hướngvào miêu tả phong tục qua những đặc điểm môi trường hoặc những nét tính cáchtiêu biểu của cuộc sống, ngôn từ của kí, vì thế, vừa khái quát, vừa cụ thể, sinh động,đậm chất đời thường Do vai trò đặc biệt quan trọng của cái tôi tác giả, ngôn từ nghệthuật trong kí mang đậm tính chủ thể, gắn liền với cá tính sáng tạo của nhà văn Kíthường không chỉ trần thuật, mà cùng với trần thuật là phân tích, khái quát ý nghĩacác hiện tượng đời sống được đề cập Kí cũng khêu gợi xúc cảm ở người đọc,truyền tới họ cách nhìn nhận, đánh giá của tác giả Do vậy, ngôn từ nghệ thuật trong

kí chủ yếu là thứ ngôn từ thuyết phục trực tiếp và gây hiệu quả nhận thức, làm rungđộng tình cảm của người đọc…

Nhìn chung, kí có những đặc trưng riêng, vẻ đẹp riêng so với các thể loại vănhọc khác Kí góp phần làm cho văn học phát triển hài hoà, phong phú, kịp thời songhành cùng cuộc sống, đáp ứng trực tiếp nhu cầu nhận thức nhiều mặt của con người.Tác phẩm kí văn học bộc lộ rõ tính tư tưởng, tính khuynh hướng và cảm hứngnghiên cứu trong việc tái hiện và tác động đến đời sống xã hội Kí còn là thể loạilưu giữ nhiều tài liệu xác thực về đời sống và cảm quan nghệ thuật của con người, lànguồn dự trữ tư liệu tin cậy cho sáng tạo nghệ thuật về sau

Trang 20

1.1.3 Các tiểu loại kí

Kí văn học luôn được mở rộng khả năng sáng tạo cho phù hợp với tính chấtphong phú của đối tượng phản ánh Tuỳ theo phạm vi hiện thực được nói đến, kí cócách xử lí riêng về nghệ thuật trần thuật, phương thức biểu hiện Kí có xu hướng

mở rộng, thừa nhận nhiều hình thức và phong cách sáng tạo, nhiều kiểu loại… Cóthể phân loại kí dựa vào những tiêu chí khác nhau Dựa vào mối tương tác giữa chủthể trần thuật với sự tổ chức tình tiết, sự kiện, có thể phân kí thành: loại kí phi cốt

truyện gồm phóng sự, bút kí, tuỳ bút, nhật kí và loại kí có cốt truyện hoàn chỉnh hoặc tương đối hoàn chỉnh gồm kí sự, truyện kí Dựa vào mức độ thâm nhập, kết

hợp giữa ba thành phần tự sự, trữ tình, chính luận trong kí, có thể chia ra thành: loại

kí tự sự bao gồm phóng sự, kí sự, hồi kí, truyện kí; loại kí trữ tình bao gồm tuỳ bút, bút kí, nhật kí; loại kí chính luận bao gồm các dạng tiểu phẩm văn học, tạp văn, tạp kí… Kết hợp các tiêu chí trên có thể đưa ra đặc trưng một số tiểu loại cơ bản của kí

Phóng sự là loại kí phi cốt truyện kết cấu theo lối liên tưởng Nghĩa là động

lực của chủ thể trần thuật mạnh đến nỗi chi phối một cách thoải mái những sự kiện,hiện tượng đời sống được tái hiện, chúng không cần thiết tổ chức thành cốt truyện.Phóng sự nổi bật bằng những sự kiện khách quan, xác thực, dồi dào và nóng hổitính thời sự Nội dung chủ yếu của phóng sự thiên về những vấn đề mà xã hội đangquan tâm và người viết muốn đề xuất cách giải quyết, chứng minh cho một kết luậncủa mình… Phóng sự, do đó, có màu sắc chính luận rõ rệt

Bút kí cũng là loại kí phi cốt truyện “là một thể loại phóng khoáng, tự do mà

cá tính nghệ sĩ trực tiếp tham gia vào đặc điểm thể loại” [120, tr.253] Sự việc vàcon người được tái hiện trong bút kí dồi dào, phong phú nhưng qua đó biểu hiện khátrực tiếp cảm nghĩ của tác giả Những yếu tố trữ tình luôn được xen kẽ với ghi việc,

tả việc, do đó, bút kí mang màu sắc trữ tình, và nhiều khi nghiêng hẳn về trữ tình,

rất dễ phát triển thành tuỳ bút… Bút kí cũng có thể tăng cường phần nghị luận và trở thành bút kí chính luận trong việc miêu tả các hiện tượng đời sống kèm theo

những nhận xét, đánh giá…

Tuỳ bút là một trong những thể kí mà yếu tố trữ tình chiếm phân lượng quan

trọng Nhà văn thường kết hợp, xen kẽ việc miêu tả đối tượng khách quan với bộc

lộ cảm xúc chủ quan Sự kiện trong tuỳ bút thường không được trình bày liên tục do

Trang 21

sự phát biểu xen kẽ cảm xúc chủ quan của người viết, hoặc do được khai thác từnhiều địa điểm và thời gian khác nhau để phục vụ cho dòng suy tưởng Tác dụnggợi cảm của tuỳ bút tuỳ thuộc vào đặc điểm của đối tượng miêu tả nhưng nhữngnhận xét, bàn luận và liên tưởng của tác giả lại có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Kí sự là loại kí có cốt truyện hoàn chỉnh hoặc tương đối hoàn chỉnh Kí sự chủ

yếu ghi lại diễn biến của cuộc sống và con người thông qua những sự kiện, tôn trọngtiếng nói khách quan của sự kiện Người viết kí sự có quyền bình luận, phân tích,nhưng chủ yếu vẫn là tiếng nói của bản thân sự sống đang vận động, phát triển Kí sự

có thể ghi chép khá hoàn chỉnh một sự kiện, một phong trào… Kí sự là bức tranh toàncảnh, trong đó sự việc và con người đan chéo với nhau, nhưng gương mặt của nhân vậtkhông thật rõ nét

Truyện kí cũng là loại kí có cốt truyện nhưng thường tập trung vào việc trần

thuật thành tích một danh nhân, anh hùng, chính khách, nhà hoạt động cách mạng…Xoay quanh một nhân vật, truyện kí dễ triển khai những tình tiết thành một cốttruyện hoàn chỉnh Đây là một tiểu loại có tính chất trung gian giữa truyện và kí

Hồi kí là thể kí trong đó chủ thể trần thuật phải là người trong cuộc, kể lại

những sự việc trong quá khứ Người viết có thể “kể lại điều mà mình có dịp quansát hoặc nghe trực tiếp, những sự việc và con người để lại ấn tượng sâu sắc, gắn bóvới kỉ niệm riêng nhưng đồng thời lại có một nội dung xã hội phong phú” [31] Hồi

kí là thể kí tự sự nhưng chứa nhiều suy tưởng và cái nhìn, quan điểm riêng củangười viết Hồi kí có thể thiên về con người hay sự kiện, có thể được tổ chức vớinhiều kiểu kết cấu hồi ức khác nhau

Bút kí chính luận là thể kí nghiêng về phần chính luận Ở đây có sự kết hợp

chặt chẽ giữa tư duy hình tượng của người nghệ sĩ với tư duy chính luận Từ nhữnghiện tượng phong phú và phức tạp của đời sống, nhà văn phát hiện vấn đề cầnkhẳng định, biểu dương hay phê phán… Bút kí chính luận có tác dụng động viên,tuyên truyền khá mạnh khi phần chính luận được xây dựng trên những sự việc vànhân vật chọn lọc, tiêu biểu và được phát triển một cách chặt chẽ, có luận cứ sắcsảo, thuyết phục

Tuy nhiên, sự phân loại trên đây chỉ là tương đối Các tiểu loại kí trong thựctiễn văn học là hết sức đa dạng, ranh giới giữa các thể cũng không tuyệt đối, luôn có

Trang 22

tình trạng chuyển hoá, thâm nhập lẫn nhau Khi nhận diện một tiểu loại ta dựa vào

đặc trưng có tính trội của nó.

1.2 Đặc trưng của thể hồi kí

1.2.1 Khái niệm hồi kí

Hồi kí là một tiểu loại / dạng thức của kí văn học Như trên đã nói, rất khóphân biệt được chính xác ranh giới các thể trong kí Về khái niệm hồi kí (memoir),

có rất nhiều ý kiến khác nhau nhưng đều khá thống nhất ở những điểm cơ bản: táihiện quá khứ người thật, việc thật, tác giả chính là người trong cuộc hoặc chứng

kiến Trong Từ điển văn học (bộ mới), Lại Nguyên Ân viết: “Tác phẩm hồi kí là

một thiên trần thuật từ ngôi tác giả (“tôi” tác giả, không phải “tôi” hư cấu ở một sốtiểu thuyết, truyện ngắn), kể về những sự kiện có thực trong quá khứ mà tác giả

tham dự hoặc chứng kiến” [33, tr.646] Nhóm tác giả giáo trình Lí luận văn học cho

rằng: “Hồi kí với đặc điểm là chủ thể trần thuật phải là người trong cuộc, kể lạinhững sự việc trong quá khứ” [82, tr.435, 436] Theo Hà Minh Đức: “Hồi kí lànhững trang ghi chép dựa trên sự hồi tưởng lại những sự việc đã lùi vào quá khứ.Viết hồi kí là nhằm đáp ứng những nhu cầu của hiện tại bằng những câu chuyện kể

về người thật, việc thật ngày hôm qua, do chính người kể chứng kiến hay tham gia

vào sự việc” [25, tr.230] Nguyễn Chí Tình trong bài Vài ý kiến trao đổi về viết hồi kí, khá thống nhất với các nhà nghiên cứu trên đây về khái niệm hồi kí:

“Hồi kí, tôi muốn nói ở đây là một hình thức văn học viết nhằm ôn lại một hoặcnhiều sự thật của quá khứ, mà tác giả của nó là người trong cuộc hoặc là ngườichứng kiến” [140]…

Như vậy, hồi kí là một dạng thức thuộc loại hình kí Hồi kí kể lại những

sự kiện đã xảy ra trong quá khứ mà tác giả là người tham dự hay chứng kiến.Nội dung phản ánh trong hồi kí mang tính xác thực cao Đó là những sự việc vàcon người để lại ấn tượng sâu sắc, gắn với những kỉ niệm riêng nhưng đồngthời tái hiện chân thực đời sống lịch sử - xã hội và văn hoá của thời đã qua

Các dạng thức hồi kí có sự hình thành và phát triển trên thế giới từ rấtsớm Ngay thời Hy Lạp cổ đại, những hồi kí cổ xưa nhất đã xuất hiện như hồi

ức của Kxênôphôn, ghi chép của Xôcrat về các cuộc hành quân của Hy Lạp (thế

kỉ V TCN)… Thể tự thuật có nguồn gốc từ truyền thống xưng tội trong đạo

Trang 23

Thiên Chúa, mở đầu là Tự thú của Thánh Augustine được viết khoảng năm 397

- 401 Đến thế kỉ XVIII, sự xuất hiện cuốn Tự bạch của Jean Jacque Rousseau

(in trong khoảng 1782 - 1789) được xem là tự thuật đầu tiên bởi sự thành thực

và lòng can đảm dám bộc lộ tất cả bản tính cá nhân, những tình cảm sâu kín củamình lên trang sách: “Tôi muốn chỉ ra cho đồng bào tôi một con người trongtoàn bộ sự thật của bản thân nó, và con người ấy là tôi” (Rousseau) Tiếp đến là

sự ra đời nhiều tác phẩm đánh dấu bước phát triển mới của thể loại này như Tự thú của một đứa con của thời đại (Alfred de Musset), Hồi kí viết dưới mộ (Chateaubriand), Câu chuyện đời tôi (George Sand), Hồi ức của một thiếu nữ

nề nếp (S.Beauvoir)… Thế kỉ XX, được xem là thể kỉ bùng nổ của tự thuật ở

các nước phương Tây, khi người ta bắt đầu chán thể loại hư cấu, các hình tượngtiểu thuyết và có xu hướng thích “gương mặt mộc mạc” của sự thật…

Thực tiễn sáng tác bao giờ cũng phong phú, sống động hơn những khái quát

lí luận về thể loại Sự bùng phát các dạng hồi kí, tự thuật đôi khi khiến các địnhnghĩa, qui ước có tính qui phạm không giải thích hết sự đa dạng của nó Cần có sựphân định giữa hồi kí với các loại hình gần nó hơn cả như nhật kí, tự truyện, tiểuthuyết tự thuật, văn xuôi lịch sử, tiểu sử khoa học, để thấy rõ hơn bản chất, cái

“gốc” của nó, từ đó có thể soi chiếu, lí giải về thể loại khi nó luôn vận động, chuyểnhóa không ngừng

Nhật kí (diary) là dạng trần thuật từ ngôi thứ nhất số ít dưới hình thức

những ghi chép hàng ngày, có đánh số ngày tháng Nhật kí thường rất chânthành và tự nhiên trong phát ngôn (lời ghi) Nhật kí là ghi cho mình chứ khôngchủ đích viết cho công chúng Thể loại này thường nói về các sự kiện đời tưđồng thời bộc lộ những cảm xúc, suy tư của bản thân người ghi Thể tài nhật kíphát triển trong văn học khi có sự gia tăng chú ý đến thế giới nội tâm conngười, khi cái tôi cá nhân có nhu cầu tự bộc bạch, tự quan sát

Như vậy, hồi kí gần nhật kí ở hình thức giãi bày, ở việc không dùng các thủpháp cốt truyện và chú ý đến các sự kiện mang tính tiểu sử Hồi kí và nhật kí đều lànhững “chuyện đời tự kể”, nhưng hồi kí được viết theo chiều nghịch của thời gian,hướng về dĩ vãng với cảm hứng hồi cố còn nhật kí được viết theo chiều thuận, ghilại những sự kiện và cảm xúc hàng ngày Hồi kí có tính tổng kết và lí giải (một

Trang 24

chặng đường, một thế hệ, một cuộc đời…) còn nhật kí có tính thời sự và thườngdang dở, ít khái quát, bởi thời gian sống và viết gần như đồng thời, người viếtkhông biết trước tương lai Nếu hồi kí được viết ra nhằm mục đích giãi bày, thúnhận với người khác, thiên về hướng ngoại thì nhật kí là lối viết thầm kín cho riêngmình, có tính riêng tư và hướng nội (trừ khi nhật kí được xuất bản theo ý muốn tácgiả hoặc những tác phẩm văn học được viết dưới dạng nhật kí)

Tự truyện (autobiography / autobiographie), theo Philippe Lejeune: “là một

dạng văn xuôi tự sự do một người có thật ngược dòng thời gian kể lại đời mình,

nhấn mạnh tới cuộc sống cá nhân, đặc biệt là lịch sử hình thành nhân cách” (Quy ước tự truyện, 1975) Người viết tự truyện công khai tên tuổi, tự do nói những điều

mình nghĩ, rọi xuống cuộc đời mình một cái nhìn riêng Tác phẩm tự truyện thường

có thiên hướng lí giải cuộc sống đã qua như một chỉnh thể và luôn muốn khắc phụccái thời gian đã lùi xa, mưu toan quay về thời tuổi thơ, tuổi trẻ, làm sống lại nhữngđoạn đời quan trọng nhất Tự truyện, do vậy, thường được viết vào thời tác giả đãtrưởng thành, đã trải qua phần lớn các chặng đường đời mình

Tự truyện và hồi kí đều hướng về dĩ vãng, đều có cảm hứng tổng kết và

lí giải, đều được viết ra cho người khác đọc để bộc bạch cái “tôi”, chia sẻ kinhnghiệm cá nhân Nhưng nếu tác giả tự truyện xoáy vào bản thân người viết, cótham vọng ghi lại lịch sử tâm hồn mình trong sự tương tác của nó với thế giớibên ngoài thì tác giả hồi kí thường lưu ý trước tiên đến thế giới bên ngoài ấyvới những con người và sự việc để lại ấn tượng sâu sắc mà mình đã gặp, tham

dự và chứng kiến Do vậy, hồi kí thường là bức tranh về một thời đại, bên cạnhcâu chuyện của mình, người viết còn đi sâu tìm hiểu những mảnh đời khác,những sự việc khác Nếu tự truyện kể lại đời riêng một cách ít nhân nhượng,đặt cái “tôi” của mình ở trung tâm tác phẩm để quan sát, đào xới, đạt đến một

sự giãi bày, phân tích nội tâm sâu sắc thì hồi kí quan tâm đến chuyện thế sựnhiều hơn, nói về bản thân, đời sống nội tâm của mình đôi khi chung chung,nhưng ngược lại viết về người khác, dựng chân dung người khác với nhữngdiện mạo khá phức tạp… Về bản chất, tự truyện mang đặc trưng của truyện(giàu tính miêu tả, chú ý đến nghệ thuật kể), còn hồi kí mang đặc trưng của kí(nặng về tính sự kiện, tính xác thực) Hồi kí chỉ xuất hiện khi người ta có cảm

Trang 25

hứng hồi cố, có nhu cầu trục vớt quá khứ khi nó đòi được hiện diện trong hiệntại, thỏa mãn mong muốn phát xét lại lịch sử; tự truyện xuất phát từ nhu cầu lígiải bản thân nhiều hơn, từ nhu cầu đó mà nhìn lại lịch sử hình thành nhân cáchcủa mình Do vậy, tự truyện có cái tôi hiện tại, hồi kí không có cái tôi hiện tại

và thông thường hồi kí cần có độ lùi thời gian lớn hơn đủ cho kí ức sống lại,đong đầy một niềm tiếc nuối, trình ra hiện thực bị khuất lấp… Tuy nhiên, hồi kícũng có khi được coi là “một dạng tự truyện của tác giả”, bởi vậy khó có thểphân định một ranh giới rạch ròi, tuyệt đối giữa hồi kí và tự truyện Trong thựctiễn văn học chúng luôn có sự vận động và chuyển hóa không ngừng, cần dựa

vào đặc trưng có tính trội mà xem xét, nhận diện chúng thuộc thể loại này hay

thể loại kia

Tiểu thuyết tự thuật (autobiographical novel / roman autobiographique) là

“dạng tiểu thuyết sử dụng kĩ thuật tự hư cấu hay sự kết hợp của tự thuật và nhữngyếu tố hư cấu” (Từ điển Wikipedia) Đây là kiểu tiểu thuyết sử dụng những “câu

chuyện cuộc đời” có thật làm chất liệu để sáng tạo nghệ thuật Tiểu thuyết tự thuật

không đơn thuần là thể loại nằm ở ranh giới giữa tự thuật và tiểu thuyết, mối ràngbuộc giữa nó với tự thuật được nới lỏng ra rất nhiều, tạo điều kiện cho các nhà văn

tự do trong sáng tạo của mình Trên nền của chất liệu tự truyện, tự thuật, các nhàtiểu thuyết tạo nên những hình tượng hư cấu và nó chiếm vai trò chính trong tácphẩm Trong tiểu thuyết tự thuật, người kể chuyện xưng “tôi” coi như đồng nhất vớitác giả, chủ yếu kể chuyện đời mình, phơi bày cả những chuyện riêng tư, cái thật lẫnvới cái hư cấu Cùng với chủ thể xưng “tôi” là những dấu hiệu khác khiến ngườiđọc tin là chuyện kể có thật, dù sự thật ấy có biến dạng đi nhiều Đó là họ tên thậtcủa nhà văn, ngày tháng năm sinh và hàng loạt chi tiết nhân thân, tiểu sử: cha mẹ,anh em, hình dáng, tính tình, nghề nghiệp, biến cố trong đời… Nhưng độc giả mấy

ai có điều kiện đối sánh tiểu thuyết tự thuật với tiểu sử nhà văn để nhận biết chỗ nàođúng, sai, thật hay không thật và mức độ hư cấu đến đâu Hơn nữa, các nhà tiểuthuyết mấy ai không đưa ít nhiều bóng dáng cá nhân mình vào tác phẩm dưới dạngnày hay dạng kia, mức độ này hay mức độ khác Chưa kể họ còn tạo ra loại “tựthuật âm bản” và cả loại tự thuật hoàn toàn tưởng tượng dựa theo “sự đỏng đảnh của

kí ức”, “sự phản bội của kí ức”… Như vậy, đường biên giữa tiểu thuyết tự thuật, tự

Trang 26

truyện, hồi kí thật nhạt nhòa, khuôn viên của chúng thật khó xác định Hồi ức vàsáng tạo, sự thật và hư cấu, cái riêng và cái chung luôn có nguy cơ lẫn vào nhau,thâm nhập vào nhau trong các thể loại này Nếu hiểu theo nghĩa rộng rãi thì dườngnhư nhìn đâu ta cũng bắt gặp tiểu thuyết tự thuật.

Tuy nhiên, dựa vào một số nét khu biệt, ta vẫn nhận ra ranh giới giữa tiểuthuyết tự thuật và hồi kí Mục đích của hồi kí là dựng lại gương mặt quá khứ trong

đó có cuộc đời mình với những chi tiết tiểu sử, đời tư, còn tiểu thuyết, mặc dù cũngdựng lại cuộc đời con người đó, trong thời đại đó nhưng được hư cấu hóa Hồi kí

vốn được coi là thể loại phi hư cấu, dù có hư cấu chăng nữa cũng là để chuyển tải sinh động cái sự thật, còn tiểu thuyết tự thuật vì bản chất hư cấu của nó nên cái sự

thật ở đây chỉ là giống / tựa như thật, có khi là “phiên bản” của sự thật và tác giảkhông cần chịu trách nhiệm về điều đó Hồi kí, xuất phát điểm của nó không phảisáng tạo nghệ thuật mà là nhớ lại, viết lại quá khứ và cuộc đời của tác giả, còn tiểuthuyết hoàn toàn là sáng tạo nghệ thuật của nhà văn Tuy vậy, là một thể loại tự sựđặc biệt, hồi kí luôn biến đổi, chuyển hóa trong quá trình phát triển, các mô típ,dạng thức của nó có thể trở thành chất liệu, yếu tố của các thể loại khác như tựtruyện, tiểu thuyết tự thuật, giả hồi kí…

Ngoài ra, hồi kí cũng có nét gần với văn xuôi lịch sử, tiểu sử khoa học, vănhọc tư liệu… về chất liệu, tính xác thực, không hư cấu Song nếu các thể loại nàyhướng một cách nghiêm ngặt vào tính xác thực và sự phân tích, nghiên cứu các tưliệu một cách toàn diện, thì hồi kí sử dụng các sự kiện thực một cách tự do hơn.Người viết hồi kí chỉ tiếp nhận và ghi chép phần hiện thực mà tác giả nhìn rõ hơn cảtrên cơ sở những ấn tượng và hồi ức riêng…

1.2.2 Hiện thực được phản ánh qua hồi ức và thường đậm tính chủ quan

Với cảm hứng hồi cố, hồi thuật, hồi kí kể về “người thật việc thật” thuộc vềquá khứ Do vậy, người viết hồi kí chỉ tái dựng mảng hiện thực nằm trong miền kí ức,gắn với những ấn tượng, kỉ niệm riêng Những gì được viết ra thường đậm tính chủquan, thể hiện cái nhìn cá nhân của người viết Điều này đã được nhiều nhà nghiêncứu khẳng định Lại Nguyên Ân nhấn mạnh tính chủ quan như một đặc trưng của hồikí: “Người viết hồi kí chỉ tái hiện cái phần hiện thực thường nằm trong tầm nhìn củamình, anh ta thường chỉ căn cứ chủ yếu vào những ấn tượng và hồi ức của bản thân

Trang 27

mình; bởi vậy khắp nơi trong tác phẩm cái nổi lên hàng đầu chỉ hoặc là bản thân anh

ta, hoặc là cái nhìn của anh ta vào tất cả những gì được kể lại, tả lại” [33] Phạm Khảilưu ý đến cái nhìn chủ quan của tác giả hồi kí: “Trong cuộc đời con người, khôngphải tất cả mọi điều đều được các tác giả lưu giữ đầy đủ trong kí ức, và không phải tất

cả đều cần thiết được phơi trải trên trang sách Và vì mục đích của mỗi người khithực hiện cuốn hồi kí hoặc tự truyện là khác nhau, cho nên mọi tình tiết được nêu rađều có “chọn lọc” và chắc chắn không thể thoát được cái nhìn chủ quan của ngườiviết” [62]…

Một yêu cầu của thể loại kí nói chung là sự chân thật Ở mức độ cao hơn còn

là sự xác thực Chân thực, xác thực trong hồi kí cũng tính đến yếu tố chủ quan Tácgiả hồi kí luôn có ý thức tôn trọng người thật việc thật nhưng viết về nó, thể hiện nótheo trí nhớ và cái nhìn cá nhân Các sự kiện trong quá khứ được kể lại không khỏichịu tác động bởi sự “không biết hết”, “không nhớ hết”, quy luật “quên lãng” và

“làm méo lệch” của cơ chế hồi ức Nếu quá khứ càng lùi xa thì sự tác động nàycàng gia tăng Do đó, hồi kí khó tạo dựng một hiện thực hoàn toàn trùng khít với sựthật khách quan Điều này đôi khi do khả năng của người viết, nhận thức và kinhnghiệm của anh ta đưa lại Nhà văn viết sự thật như mình biết, như mình nghĩ và tin

đó là sự thật Như vậy, hồi kí có sự thật khách quan và cả sự thật qua lăng kính chủquan, qua kiểm chứng cá nhân của người viết

Sự thật khách quan là sự thật tự nhiên và xã hội diễn ra đúng như ta chứngkiến Các tác giả đều có mong muốn tái hiện sự thật khách quan nhưng có nhìn ra,đạt đến sự thật đó hay không còn phụ thuộc vào tài năng và cả bản lĩnh của ngườiviết Dù nhà văn có tài năng và bản lĩnh dám nói sự thật, thì kí ức họ cũng khôngthể là nơi lưu giữ đầy đủ mọi điều và tất cả cũng không nhất thiết phải phơi trải trêntrang sách Tuỳ mục đích viết, nhu cầu và cá tính của mỗi nhà văn mà các chi tiết sựthật được đưa ra có chọn lọc và sắp xếp khác nhau Tính chân thực của các chi tiết,

sự kiện lúc này được xem xét ở góc độ nó có tải được ý đồ nghệ thuật của nhà vănhay không Đặng Thị Hạnh cho rằng: “Tôi hiểu tính chân thực trong tự thuật và hồi

kí theo cái nghĩa miễn sao tác giả xây dựng được diện mạo người cùng thời, và quachuyện của mình mà phác họa ra cả thời đại là tốt rồi” [66] Nhà thơ Phạm TiếnDuật nhấn mạnh sự thật của ý tưởng và tâm linh trong các dạng thức hồi kí, tự

Trang 28

truyện: “sự thật của cuộc sống được đề cập trong những cuốn tự truyện cũng khôngthể hiểu theo nghĩa “trần trụi” được… cái “trục từ trường” của sự thật quan trọnghơn chi tiết Mọi chi tiết trong một cuốn sách cũng đều đóng vai trò chứng minh chomột dòng chảy chính mà tác giả muốn đề cập đến Bản thân mỗi chi tiết, có thể là sựthật 100% đấy nhưng chưa chắc đã nói lên điều gì Vậy nên, sự thật của ý tưởng vàtâm linh mới là điều quan trọng nhất” [18] Như vậy, sự thật khách quan đi vào hồi

kí trở nên phong phú, đa dạng hơn, có thể thiên về góc độ này hay góc độ khác, lĩnhvực này hay lĩnh vực kia, có cả lịch sử một thời đại, một cộng đồng đến lịch sử đờisống một cá nhân

Sự thật khách quan, bản thân nó đã có sức hấp dẫn nhưng tính chất “sống” củahiện thực cũng rất quan trọng, cái tôi người kể cũng hấp dẫn không kém Nguyễn Kiêncho rằng: “Một số hồi kí sở dĩ đọc chán ngắt vì đại khái toàn kể những chuyện người đọc

đã biết rồi Ngược lại, những cuốn hồi kí mà tôi thích thường có cái sinh động của nhữngchi tiết đời thường… Nếu không có cái vẻ sinh động của đời sống hàng ngày thì còn aicần đến hồi kí nữa” [66] Nhà văn không chỉ đưa vào hồi kí những chi tiết sự thật diễn rahàng ngày mà ai cũng biết, không chỉ là nhân chứng trung thành với tư liệu lịch sử ở thờiđiểm mà mình nhắc tới, họ còn có nhu cầu khám phá đời sống, nói đến cái sinh động củanhững chi tiết đời thường, nói về thời cũ theo “cái biết” của mình… Tất cả làm cho hiệnthực trong hồi kí trở nên cá biệt hơn, riêng tư hơn và có sức hấp dẫn hơn Như vậy, cómột sự thật chủ quan trong hồi kí: sự thật phụ thuộc vào suy nghĩ và hành động của conngười mà chúng diễn ra nhiều khi không như ta nhìn thấy Sự thật này được tạo nên bởinhững yếu tố cá nhân, phi chính thức và chính nó đã gia tăng sự cuốn hút cho hồi kí Do

đó, hồi kí dù viết về quá khứ song giá trị và khả năng cảm hoá của nó lại được xác lậpbởi góc nhìn hiện tại, dù tái hiện người thật việc thật nhưng cái người đọc muốn kiếmtìm không chỉ là những giá trị tư liệu lịch sử chính thống Có thể nói, trung thực, xác thực

là yếu tố sống còn của một cuốn hồi kí nhưng hồi kí chân thực theo cách: nhà văn vừa cốgắng nói ra sự thật, tôn trọng sự thật như nó vốn có, vừa rất trung thực với chính mình,thể hiện người thật việc thật gắn với nhu cầu khám phá đời sống, tìm đến cái sinh độngcủa nó, bộc lộ cái nhìn đa chiều về cuộc đời và con người Đó là nét đặc trưng của sự thậttrong hồi kí cũng là yếu tố tạo nên sức hấp dẫn riêng của thể loại này Điều này giải thích

Trang 29

vì sao nhiều hồi kí cùng viết về các sự kiện như “chính sử”, nhưng nó tạo được sức thuhút người đọc hơn “chính sử”

Trong khi bàn về tính chân thực trong hồi kí, các nhà nghiên cứu đưa ra một số

yêu cầu, chuẩn mực đối với tác phẩm hồi kí sao cho vừa đảm bảo tái hiện người thật việc thật vừa tôn trọng yếu tố chủ quan như một đặc trưng thể loại.

Nguyễn Chí Tình đòi hỏi tác phẩm hồi kí phải coi trọng sự trung thực: “yêucầu hàng đầu đặt ra ở đây là sự trung thực, nghĩa là yêu cầu nói lên sự thật như nó

đã diễn ra, như người viết được biết một cách có kiểm chứng, như người viết tinchắc rằng đó là sự thật với tất cả lương tri của người đang thực hiện giao lưu vớicông chúng… Nếu yêu cầu này không được tính đến thì chức năng khôi phục sựthật của quá khứ cũng như các chức năng khác sẽ chẳng còn ý nghĩa gì” [140] Nhàvăn Tô Hoài, một “cây” hồi kí xuất sắc cũng cho rằng người viết hồi kí phải tôntrọng sự thật, phải có cái nhìn khách quan: “Viết hồi kí là một cuộc đấu tranh tưtưởng để thấy ra sự thật Nhưng thấy ra sự thật được hay không còn tuỳ vào khảnăng của người viết… Nhiều người muốn khoe mình thì giữ cái nhìn khách quan làrất khó” [50] Nguyễn Văn Dân nói đến quyền được sáng tạo của người viết để đảmbảo tính nghệ thuật của tác phẩm hồi kí: “Hồi kí không hư cấu nhưng vẫn có tínhnghệ thuật Hiệu ứng nghệ thuật của nó được hình thành từ kĩ thuật bố cục, cấu trúccủa tác phẩm, từ lời văn và nghệ thuật kể chuyện… Và mặc dù về cơ bản nó khôngcho phép hư cấu, nhưng người viết có thể thêm bớt các chi tiết phụ nếu như các chitiết đó không làm sai lệch sự chân thực của các sự kiện…” [14] Với Nguyễn Kiên

và Đặng Thị Hạnh thì một trong những yếu tố tạo nên sức hấp dẫn của hồi kí là nhucầu khám phá đời sống, cái nhìn đa chiều của người viết: “Trong khi kể chuyện,người viết đóng vai trò một nhân chứng Sự trung thành với tài liệu ở thời điểm màmình nhắc tới tự nó đã có sức mời gọi người đọc Còn nếu như giờ đây mình nghĩkhác đi về chuyện xảy ra hồi trước thì lại càng thú vị Ta có quyền viết ra cả hai,nhưng hai chuyện phải tách bạch cho rõ ràng”, “Đã từ lâu chúng ta có thói quen chorằng chân lí là duy nhất, và chỉ có một số người (trong đó có ta) nắm được chân lí

đó Một khi có cách nghĩ ngược lại, thì hồi ức của con người như được giải phóng,tạo nên rất nhiều hào hứng” [66]

Trang 30

Như vậy, ở thể hồi kí, người viết “tái hiện sự thật” theo trải nghiệm và kiểmchứng cá nhân Cái khung “phi hư cấu” của thể loại không hạn chế khả năng khámphá đời sống của các tác giả Với góc nhìn cá nhân, những suy ngẫm sâu sắc về quákhứ và bản lĩnh nghệ thuật, nhà văn đã tạo nên một hiện thực tươi mới, sống động,chứa nhiều thông tin thẩm mĩ, nhân sinh Đây là một phương diện cho thấy sức hấpdẫn riêng của thể loại.

1.2.3 Vị trí trung tâm và nổi bật của hình tượng tác giả

Là thể loại người viết trực tiếp kể lại những gì mình chứng kiến và trảinghiệm nên hình tượng tác giả luôn giữ vị trí trung tâm và nổi bật Tác giả là ngườitham dự, là chứng nhân kể lại câu chuyện đời mình cùng những biến cố lịch sử, sốphận dân tộc, qua đó bộc lộ nhận thức, lí giải về con người và cuộc sống xungquanh Nhà văn vừa tái dựng hiện thực, phơi trải cuộc đời mình với người khác, vừakhơi gợi xúc cảm thẩm mĩ qua việc lựa chọn đối tượng, phạm vi phản ánh, cách kểchuyện, những định giá riêng Có thể nói, tác giả là người đưa bạn đọc đến với hiệnthực qua lăng kính của mình, tạo nên tính khuynh hướng, tính tư tưởng cao cho tácphẩm hồi kí

Trong hồi kí, người viết bày tỏ một cách công khai quan điểm về bản thâncũng như về người khác, bộc lộ suy ngẫm liên quan đến cuộc đời, lẽ sống và cảnhững vấn đề lớn của số phận nhân loại, tương lai đất nước Họ cùng bạn đọc nghĩlại về những bước đi của thời quá vãng Họ rất tự do trong cảm hứng hồi cố, tổngkết và lí giải, tự do giãi bày kinh nghiệm cá nhân, giải toả ẩn ức, mặc cảm trong quákhứ Với nhu cầu tự nhận thức, tự thể hiện, nhà văn lấy toàn bộ cuộc đời mình, conngười mình làm đối tượng khảo sát, lí giải Theo Vương Trí Nhàn, họ thường xuyênphê phán chính mình, không hài lòng về bản thân, thậm chí rơi vào trạng thái hoangmang: “nhân vật của các hồi kí giờ đây phải đứng vững ở vị trí của một con người,tức đối mặt với chính giá trị bản thân sẵn có Nhu cầu tự nhận thức được đưa lênhàng đầu, mà trong việc này, tư duy phê phán sẽ đóng vai trò một công cụ hiệunghiệm… Họ thường xuyên rơi vào tình trạng bất hòa với mình Họ biết rằng ởmình có cả những cái rất cao cả lẫn những cái trần tục Họ hoang mang, họ lúngtúng… Sự không thỏa mãn là một nét đặc trưng làm nên vẻ đẹp của những conngười sáng suốt” [99] Họ còn phải thành thực với chính mình, nghiêm khắc nhìn

Trang 31

nhận những thành công và hạn chế trên từng bước đường đời, sẵn sàng phán xét cảcái tốt lẫn cái xấu trong con người mình: “Hồi kí không phải là những cuốn sách ở

đó người viết ca công tụng đức mình Mà yêu cầu chính đặt ra với các cuốn hồi kítheo nghĩa hiện đại là nhà văn phải lấy toàn bộ con người mình ra làm đối tượngkhảo sát, sẵn sàng “lật tẩy”, “xét lại” chính mình, “lật lại cả vụ án” là chính cuộcđời mình Chỉ có làm như thế người ta mới thực sự làm cuộc phiêu lưu mới và viếtđược những trang cần cho nhân quần, thế sự” [102]

Có thể nói, trong hồi kí, nổi lên hàng đầu vẫn là hình tượng tác giả với tất cảnhững gì đã trải nghiệm được kể lại, phân tích, lí giải để khẳng định kinh nghiệm cánhân Tác giả cùng lúc đóng nhiều vai trò quan trọng: chứng nhân lịch sử, người trầnthuật, suy ngẫm, biện minh… Qua hồi kí, người đọc có thể hiểu rõ hơn một số phươngdiện của nhân cách tác giả như thế giới quan, lập trường tư tưởng - thẩm mĩ, cá tính,phong cách… Cái tôi tác giả là yếu tố góp phần tạo nên sức hấp dẫn của một cuốn hồi kí:

“Một cuốn hồi kí hay, bên cạnh sự hấp dẫn ở những sự kiện được nhiều người quan tâm,còn có sự hấp dẫn của chính người được chứng kiến sự kiện đó, làm nên sự kiện đó Lúc

ấy cái “tôi” suy nghĩ, hành động, yêu thương giận hờn thế nào nhỉ?” [149]

1.2.4 Sự đa dạng về kiểu loại, cấu trúc và định hướng thẩm mĩ

Việc xác định các dạng / kiểu hồi kí và phân định ranh giới giữa chúngkhông đơn giản Các dạng thức hồi kí luôn có xu hướng giao thoa, chuyển hóa phức

tạp Điều này đã được khẳng định trong nhiều công trình nghiên cứu Trong Từ điển văn học, Lại Nguyên Ân cho rằng: “hồi kí rất đa dạng về kiểu loại; nó cũng tương

đối ít định hình về cấu trúc và định hướng thẩm mĩ Có những tác phẩm hồi kí rấtgần với văn xuôi lịch sử; lại có những tác phẩm gần với tiểu thuyết” [33] Các tác

giả giáo trình Lí luận văn học cũng thấy được sự đan xen, “nhập nhằng” này: “Ngay

ranh giới của các thể nói trên cũng không tuyệt đối, luôn luôn có tình trạng chuyểnhoá, thâm nhập lẫn nhau” [82, tr.435, 436]…

Thực tiễn sáng tác càng chứng tỏ sự phong phú, đa dạng của hồi kí Trongkhi các nhà lí luận cố gắng xây dựng những khái niệm, những định nghĩa có tínhchất kinh viện nhằm khu biệt hóa, đặc trưng hóa hồi kí thì thực tế lại mở ra khảnăng vô cùng linh hoạt cho thể loại Sáng tác hồi kí đôi khi như một trò chơingẫu hứng, tùy thuộc vào hoàn cảnh, tâm thế và khí chất của người viết Do vậy,

Trang 32

có hiện tượng cùng một văn bản nhưng chính tác giả của nó khi thì gọi là hồi kí,

khi thì cho là tiểu thuyết Chẳng hạn, trường hợp Ba người khác của Tô Hoài.

Khi được phỏng vấn về thể loại của nó, ông trả lời lấp lửng: “Đề hồi kí thì phức

tạp và khó in” [51] Như vậy, ban đầu Ba người khác là một hồi kí, Tô Hoài đã viết hồi kí, nhưng cuối cùng vì nhiều lí do, tác phẩm ra đời với cái “nhãn” tiểu thuyết dù nội dung văn bản không có gì thay đổi Việc định danh thể loại đôi khi

không phải thuộc đặc trưng của sáng tạo mà do áp lực ngoài sáng tạo Do vậy,nghiên cứu văn bản chỉ dựa vào tên thể loại của nó đôi khi bị “đánh lừa”, bịchệch hướng Hồi kí được khu biệt trong những dấu hiệu hình thức như: là “câuchuyện có thật”, “người kể chuyện xưng “tôi” là người tham dự hoặc chứngkiến”… đó chỉ là qui ước ngầm giữa người sáng tác và người tiếp nhận chứkhông phải là những dấu hiệu “cứng” không thể thay đổi Thực tế, hồi kí cũngnhư các thể kí nói chung không thể viết sự thật một cách tuyệt đối (như đã trìnhbày ở phần trên) Người kể chuyện không phải lúc nào cũng xưng “tôi”: một số

hồi kí cách mạng xưng “chúng tôi”, “chúng ta”, Thượng đế thì cười trần thuật từ ngôi thứ ba “hắn”, Vũ Hoàng Chương xưng “Hoàng” trong Ta đã làm chi đời ta… Ranh giới giữa hư cấu và phi hư cấu trong hồi kí cũng chỉ là qui ước Người

đọc khó kiểm chứng được tác giả nói sự thật đến đâu Đôi khi tác giả chỉ cam kếtviết sự thật theo kiểu “sự thật như tôi nhớ, như tôi biết và tin là sự thật”…

Nhìn chung, trong thực tiễn sáng tác, hồi kí phát triển với những biểu hiện rấtphong phú, tạo ra nhiều nhánh, nhiều dạng, nhiều sự kết hợp, đan xen giữa hồi kívới các thể kí khác cũng như hồi kí với các thể tự truyện, tiểu thuyết… Căn cứ vàomột số phương diện chính như đề tài, khuynh hướng cảm hứng, phương thức thểhiện, có thể xác định một số kiểu loại hồi kí cơ bản sau:

1 Dựa vào “chân tướng” thể loại, có thể chia hồi kí thành hồi kí nguyên dạng và hồi kí ẩn dạng Hồi kí nguyên dạng là dạng thức hoàn toàn đáp ứng những

yêu cầu thể loại theo “khung” truyền thống, nghĩa là đảm bảo: “tái hiện quá khứngười thật việc thật”, “tác giả - người kể chuyện xưng “tôi”, là người trong cuộc

hoặc chứng kiến” Hồi kí ẩn dạng là dạng thức hồi kí được định danh bằng thể loại khác do ý đồ của tác giả vì những lí do ngoài sáng tạo (như trường hợp Ba người khác của Tô Hoài, Thượng đế thì cười của Nguyễn Khải…), hoặc kiểu hồi kí ẩn

Trang 33

mình trong một thể loại khác (mang dáng dấp của thể loại khác, pha trộn với thểloại khác) Đây là biểu hiện sự nới rộng đường biên so với “khung” thể loại truyền

thống, chẳng hạn: Cai (Vũ Bằng), Cô bé nhìn mưa (Đặng Thị Hạnh)…

2 Theo đề tài, chủ đề, tác phẩm hồi kí có thể thuộc hồi kí lịch sử, hồi kí đời

tư hay hồi kí - chân dung văn học Mỗi đề tài, chủ đề được cảm nhận, khám phá, tái

hiện ở nhiều góc độ Chẳng hạn, ở đất nước chiến tranh kéo dài như Việt Nam, đềtài lịch sử rất phong phú: vừa đưa ra những bức tranh xã hội rộng lớn gắn với biến

cố lịch sử (hồi kí cách mạng), vừa tái hiện lịch sử qua cái đời thường (hồi kí TôHoài); lịch sử qua cái nhìn của những nhân vật có ảnh hưởng lớn đến đời sống tưtưởng của đất nước (Hồi kí của Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Thị Bình…), lịch sử quacái nhìn của các nhà khoa học, văn hóa học, nhà văn, nhà báo (Hồi kí của Đào DuyAnh, Nguyễn Hiến Lê, Trần Văn Giàu, Đặng Thai Mai, Sơn Nam, Vũ Ngọc Khánh,

Lý Quý Chung…), lịch sử qua cái nhìn đa chiều của các nhà văn, tướng lĩnh miềnNam và hải ngoại (hồi kí của Vũ Thư Hiên, Đỗ Mậu, Hoàng Khởi Phong, Cao XuânHuy…) Hồi kí chân dung cũng rất đa dạng Hầu hết “người mẫu” là các văn nghệ

sĩ, nhưng mỗi người hiện lên một dáng vẻ khác nhau do góc nhìn của “họa sĩ” Bêncạnh chân dung các nhân vật, chân dung tự họa của người viết cũng rất sắc nét Vũ

Bằng, Tạ Tỵ, Tô Hoài… đều có những chân dung văn học đặc sắc

3 Theo cảm hứng chủ đạo, hồi kí phát triển theo ba khuynh hướng chính: tự

mê, tự thú, tự trào Khuynh hướng tự mê: chủ yếu thể hiện cảm hứng tôn vinh, ngợi

ca sự nghiệp của một cá nhân, một dân tộc (hồi kí cách mạng); Khuynh hướng tự bạch, tự thú: đi vào những câu chuyện riêng tư, đời thường với cái nhìn đính chính,

nhận thức lại quá khứ (hồi kí của Đào Xuân Quý, Đoàn Duy Thành, Sao Mai, Tô

Hoài…) Khuynh hướng tự trào: kể lại sự thật về quá khứ, về chính mình với cái

nhìn hài hước, giễu nhại (hồi kí của Nguyễn Khải, Vũ Bằng, Vương Hồng Sển…)

4 Căn cứ khuynh hướng tư tưởng của người viết, có thể chia hồi kí thành: hồi kí “xuôi dòng” và hồi kí “ngược dòng” Hồi kí “xuôi dòng” tái hiện sự kiện và

con người cơ bản theo quan điểm chính thống, thực chất là nói rõ hơn những điều

đã được nghe, được tuyên truyền về thời đã qua (Mùa thu lớn của Lưu Trọng Lư, Nhớ lại một thời của Tố Hữu, Gia đình, bạn bè và đất nước của Nguyễn Thị Bình…) Hồi kí “ngược dòng” dựng lại những gì chưa được kể, hoặc đính chính lại

Trang 34

những điều đã nghe, lật lại những vấn đề đã được tuyên truyền lâu nay về lịch sử, vềquá khứ Đây chính là khuynh hướng “phản biện quá khứ” từ những mặt trái, nhữnggóc nhìn khác, những quan điểm trái chiều, nó chú ý đến những mảng hiện thực

khuất lấp đòi được lên tiếng (Nhớ lại của Đào Xuân Quý, Ba người khác của Tô Hoài, Tôi là một thằng hèn của Tô Hải, Ngày N+ của Hoàng Khởi Phong…)

5 Căn cứ vào bản chất thể loại (là tiếng nói của cái tôi tác giả), có thể chia hồi kí thành hai xu hướng: 1 Hướng nội, tái hiện quá khứ chủ yếu dựa vào trải

nghiệm, chiêm nghiệm bản thân Với xu hướng này, sự kiện, biến cố lịch sử trở thành

“cơn cớ” của tâm trạng, người viết dựa vào những gì đã trải qua, cảm nhận và suyngẫm để nhìn lại quá khứ, phán xét con người mình Có thể xếp vào xu hướng này

các tác phẩm: Ta đã làm chi đời ta (Vũ Hoàng Chương), Bốn mươi năm nói láo (Vũ Bằng), Thượng đế thì cười (Nguyễn Khải)… 2 Hướng ngoại, lấy những quan sát thế

giới bên ngoài làm điểm nhấn, ít đào sâu thế giới nội tâm, những sự kiện, biến cố lịch

sử - xã hội và văn hóa trở thành đối tượng chính của bức tranh quá khứ Một số tác

phẩm tiêu biểu: Nhớ nghĩ chiều hôm (Đào Duy Anh), Nhớ lại (Đào Xuân Quý), Gia đình, bạn bè và đất nước (Nguyễn Thị Bình), Rễ bèo chân sóng (Vũ Bão)…

6 Căn cứ vào sự đan xen thể loại, có thể nhận ra nhiều dạng thức phong phú: hồi kí - tự truyện (Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng, Cỏ dại của Tô Hoài, Một giọt nắng nhạt của Nguyễn Khải…); hồi kí mang dáng dấp tiểu thuyết (Cai của Vũ Bằng, Cát bụi chân ai, Ba người khác của Tô Hoài, Thượng đế thì cười của Nguyễn Khải…); hồi kí như một thiên tuỳ bút (Thương nhớ mười hai, Món ngon Hà Nội của Vũ Bằng…)… Đặc biệt, trong đời sống văn học đương đại,

khi mỗi tác phẩm muốn tự xác định thể loại cho mình, thì hiện tượng giả hồi kí,giả tự truyện, giả tiểu thuyết, giả cổ tích, giả sử… khá phổ biến Hiện tượng nàycho thấy khả năng mở rộng đường biên thể loại Có thể hiểu vì sao một số tácphẩm khó xác định được thể loại, vẫn được người đọc tiếp nhận ở những dạng /

kiểu khác với nhãn thể loại mà tác giả cấp cho chúng Thí dụ: Những ngày thơ ấu

(Nguyên Hồng) tuy được ghi trên bìa sách là hồi kí nhưng một số nhà nghiên cứu

vẫn xem là tự truyện, hay tiểu thuyết tự truyện; Một giọt nắng nhạt (Nguyễn Khải)

đã được đưa vào Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Khải nhưng có nhà nghiên cứu vẫn xem là “hồi kí văn học mang đậm yếu tố tự truyện” (Bích Thu), Thương nhớ

Trang 35

mười hai (Vũ Bằng) thuộc thể hồi kí hay tùy bút? Hai tác phẩm Ba người khác (Tô Hoài), Thượng đế thì cười (Nguyễn Khải) đều được dán nhãn tiểu thuyết nhưng

người đọc vẫn tiếp nhận chúng như những hồi kí đặc biệt; Ngược lại, tiểu thuyết

Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh trong những phân tích của Đoàn Cầm Thi được coi là “tự truyện bất thành”; Cát bụi chân ai và Chiều chiều thường được coi

là hồi kí nhưng cũng có tác giả chứng minh nó là tự truyện (Phạm Ngọc Lan),

Bích Thu gọi Cát bụi chân ai là “hồi kí - tự truyện” [23, tr.421], Phạm Xuân Nguyên cho rằng “Chiều chiều nửa hồi kí nửa tiểu thuyết” (Một kiếp bên trời); Chuyện kể năm 2000 (Bùi Ngọc Tấn) tuy được gọi là tiểu thuyết nhưng sự hấp dẫn

công chúng lại nằm ở tính tự truyện, tự thuật…

Có thể nói, hồi kí rất đa dạng về kiểu loại, chúng dễ thâm nhập với các thểloại khác tạo nên những dạng thức rất phong phú Trên cái nền câu chuyện có thậtcủa hồi kí, có thể phát triển các yếu tố hư cấu tưởng tượng để trở thành tiểu thuyết

tự thuật; sự gia tăng cảm xúc trong các hồi kí trữ tình khiến chúng gần với mạch liên tưởng phóng túng của tùy bút; nhấn mạnh tính truyện của hồi kí (chú ý đến

nghệ thuật kể, coi trọng miêu tả nội tâm…) sẽ làm chúng giống tự truyện… Hiệntượng “dịch chuyển” phức tạp này không chỉ có ở hồi kí mà phổ biến ở tất cả cácthể loại có sự tham gia của yếu tố tiểu sử Cần dựa vào cái “gốc” và đặc trưng có

tính trội để xác định đúng ranh giới và khuôn viên của chúng

1.3 Hành trình của hồi kí trong văn học Việt Nam

Hồi kí là thể văn xuất hiện ở Việt Nam tương đối muộn so với một số thể loạikhác nhưng có sự vận động và phát triển với tốc độ nhanh song hành với sự biến đổimau lẹ, bất ngờ trong chính nó Ở thời trung đại đã xuất hiện một số tác phẩm có “tínhhồi kí” với sự hiện diện của tác giả cùng những chi tiết tự thuật, những sự kiện có thực

liên quan đến cuộc đời ông ta như: Nam Ông mộng lục (Hồ Nguyên Trừng), Thượng kinh kí sự (Lê Hữu Trác), Vũ trung tuỳ bút (Phạm Đình Hổ)… Đến đầu thế kỉ XX,

những đổi thay sâu sắc của xã hội, sự ra đời của cái tôi cá nhân là cơ sở để hồi kí hìnhthành Đầu tiên là sự xuất hiện những cuốn mang tính “ghi chép” hoặc đan xen giữa

hồi kí, bút kí, du kí như Chuyến đi Bắc kì năm Ất Hợi (1876) (Trương Vĩnh Ký), Hạn mạn du kí (Nguyễn Bá Trác), Mười ngày ở Huế, Một tháng ở Nam kì (Phạm Quỳnh)…

Sau đó là sự ra đời của những tác phẩm có tính tự thuật, những hồi kí - tự truyện như

Trang 36

Phan Bội Châu niên biểu (Phan Bội Châu), Giấc mộng lớn (Tản Đà), Những ngày thơ

ấu (Nguyên Hồng), Cỏ dại (Tô Hoài), Chiếc cáng xanh (Lưu Trọng Lư), Cai (Vũ

Bằng)… Tuy nhiên, giai đoạn này chưa có hồi kí nguyên dạng (là những hồi kí đápứng đầy đủ yêu cầu của “khung” lí luận thể loại) Có thể lí giải tình trạng này dựa vàođặc trưng hồi kí và môi trường phát triển của nó Như trên đã nói, hồi kí là thể loại cótính chất tổng kết và lí giải quá khứ nên thường xuất hiện nhiều ở thời điểm cuối củamột tiến trình lịch sử, một chặng đường văn học hay sau những sự kiện, biến cố gâychấn động lớn, và thường được viết bởi những người từng trải, có vốn sống phong phú,

có mối quan tâm sâu sắc đến thời cuộc Xã hội Việt Nam mấy thập kỉ này đang trongcuộc biến thiên dữ dội, các biến cố còn quá mới mẻ, các giá trị còn chìm nổi, nhiều đổithay không dễ đoán định, khiến người ta ít có cảm hứng hồi cố, chưa có nhu cầu trụcvớt quá khứ để phán xét, đối thoại Trong khi đó đội ngũ sáng tác chủ yếu của văn họcViệt Nam lúc bấy giờ là tầng lớp trí thức Tây học, đa số tuổi đời còn rất trẻ, có vốnkiến thức hiện đại, song chưa nhiều trải nghiệm, chưa thấu suốt những thăng trầm lịch

sử và chưa có độ lùi cần thiết về thời gian để nảy sinh nhu cầu hồi cố, tổng kết cácchặng đường đã qua Chính đội ngũ này về sau sẽ viết hồi kí rất nhiều như Quách Tấn,Anh Thơ, Huy Cận, Tố Hữu, Nguyễn Công Hoan, Vũ Ngọc Phan… Các tác giả đã viếthồi kí như Nguyên Hồng, Vũ Bằng, Tô Hoài… giai đoạn sau càng có nhiều tác phẩmnổi tiếng, khẳng định được cá tính, phong cách qua thể loại này Một nguyên nhân nữa

là văn học Việt Nam thời đó đang từng bước hiện đại hóa, bản thân các thể tài văn học,đặc biệt là thể tài kí còn đang trong quá trình hình thành và phát triển, đường biên giữa

kí với các thể loại văn học khác cũng như giữa các kiểu loại / dạng thức của kí chưađược phân định rõ nét (đặc biệt là những năm đầu thế kỉ XX) Điều này khiến cho sựgiao thoa vốn có giữa các thể loại kí càng trở nên phổ biến (một số tác phẩm hồi kí thời

kì này còn tạo ra nhiều tranh cãi về sự phân định thể loại)…

Sau cách mạng tháng Tám và từ những năm 50 trở đi, trên nền cảnh khángchiến vệ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, độ lùi thời gian và yêucầu chính trị hiện tại đã hội đủ điều kiện để ra đời hàng loạt hồi kí cách mạng của

tướng lĩnh, các nhà văn - chiến sĩ, như Nhân dân ta rất anh hùng (Nhiều tác giả), Vừa đi đường vừa kể chuyện (T.Lan), Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch (Trần Dân Tiên), Từ nhân dân mà ra, Những năm tháng không thể nào

Trang 37

quên (Võ Nguyên Giáp), Bất khuất (Nguyễn Đức Thuận)… Ở các đô thị miền

Nam, trong bối cảnh lịch sử xã hội và văn hóa riêng, hồi kí cũng phát triển với đặc

điểm, qui luật riêng: xuất hiện một số hồi kí về đời sống văn nghệ, báo chí như 50 năm mê hát (Vương Hồng Sển), Ngày đó có em (Đinh Hùng), Bốn mươi năm nói láo (Vũ Bằng), Văn thi sĩ tiền chiến (Nguyễn Vỹ), Mười khuôn mặt văn nghệ (Tạ Tỵ), Ta đã làm chi đời ta (Vũ Hoàng Chương), Viết và đọc tiểu thuyết (Nhất Linh), Bốn mươi mốt năm làm báo (Hồ Hữu Tường)… Đặc biệt, từ sau 1975 đến nay, với

sự thức tỉnh ý thức cá nhân, khát vọng dân chủ và nhu cầu nhận thức lại quá khứ,thể hồi kí có sự bùng nổ theo nhiều khuynh hướng, nhiều phong cách khác nhau,

tạo sự bề thế của thể loại Có thể kể đến một số tác phẩm tiêu biểu: Đặng Thai Mai hồi kí, Nửa đêm sực tỉnh (Lưu Trọng Lư), Nhớ lại một thời (Tố Hữu), Nhớ lại (Đào Xuân Quý), Cát bụi chân ai, Chiều chiều (Tô Hoài), Thượng đế thì cười (Nguyễn Khải), Sáng tối mặt người (Sao Mai), Hồi kí song đôi (Huy Cận), Tầm xuân (Đặng Anh Đào), Một thời để mất, Rừng xưa xanh lá (Bùi Ngọc Tấn), Cửa riêng không khép (Vũ Ngọc Khánh), Hồi kí Nguyễn Hiến Lê, Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thương (Ma Văn Kháng), Rễ bèo chân sóng (Vũ Bão)…

Lịch sử vận động của hồi kí trong văn học Việt Nam có những nét khá độcđáo Ở các nước phương Tây, với sự đề cao giá trị cá nhân, các thể loại văn họctrong đó người viết tự do bộc bạch về mình, công bố kinh nghiệm bản thân như hồi

kí, tự truyện, tự thuật, tiểu thuyết tự thuật phát triển sớm và mạnh mẽ Ở lĩnh vựchồi kí, có thể thấy đối tượng tham gia rất phong phú Bên cạnh hồi kí của các nhàvăn, xuất hiện nhiều hồi kí của những chính khách, nguyên thủ quốc gia, doanhnhân, nhà hoạt động xã hội nổi tiếng… Có thể hiểu vì sao ngày càng có nhiềunguyên thủ quốc gia công bố hồi kí của mình như hồi kí của tổng thống Mỹ BillClinton, hồi kí của tổng thống phu nhân Hillarry Clinton, hồi kí của thủ tướng ĐứcGerhard Schroeder, hồi kí của thủ tướng Anh Tony Blair, hồi kí của tổng thống IraqSaddam Hussein… Trong xã hội phương Tây hiện đại, cũng xuất hiện không ít hồi

kí thiên về chuyện phòng the, sex, ma tuý, những chuyện li kì giật gân, hiện tượng

hư cấu bịa đặt, giả hồi kí của giới nghệ sĩ, người mẫu, vận động viên… gây sự hiếu

kì, tò mò nơi độc giả Điều này một mặt khẳng định sức cuốn hút đặc biệt của thểloại mà cái tôi tác giả công khai những chuyện riêng tư, cam kết kể sự thật, mặt

Trang 38

khác cho thấy một tư duy hồi kí phương Tây rất góc cạnh, lí trí, trực diện và tự do Với điều kiện lịch sử và văn hóa của Việt Nam, hồi kí chủ yếu xoay quanh hai

mảng để tài lớn: đời tư và lịch sử - xã hội Hồi kí đời tư là khuynh hướng lấy cuộc

đời và số phận cá nhân, những kỉ niệm riêng tư làm cảm hứng hồi cố Đây chủ yếu

là tác phẩm của các nhà văn viết về cuộc đời mình, dựng chân dung bè bạn qua

những kỉ niệm gắn bó, chia sẻ về nghề nghiệp… Hồi kí lịch sử - xã hội thường là

tác phẩm của một số văn nghệ sĩ, những nhà hoạt động xã hội, các tướng lĩnh, viết

về đề tài đấu tranh cách mạng, những sự kiện văn hoá, chính trị… Do bối cảnhchiến tranh kéo dài, hồi kí lịch sử - xã hội tỏ ra chiếm ưu thế Không chỉ trong thời

kì chiến tranh mà trong thời bình, đề tài lịch sử vẫn trở đi trở lại trong hồi kí vớinhiều góc nhìn, nhiều ý nghĩa: giáo dục truyền thống cho hế hệ sau, nhìn nhận lạimột số vấn đề khuất lấp, những mặt trái của quá khứ mà trước đây chưa được nóiđến hay đi tìm cái đời tư, đời thường, những yếu tố cá nhân trong nền lịch sử chung(hồi kí của các vị tướng, các cựu chiến binh về chiến tranh cách mạng, hồi kí củacác tướng lĩnh miền Nam, hồi kí của các nhà văn về đề tài lịch sử…)

Trong mỗi chặng đường phát triển, hồi kí lại có những chuyển biến mới về đề tài,đội ngũ sáng tác, khuynh hướng cảm hứng… Trước thời kì đổi mới (1986), ở nước ta hồi

kí của những người nổi tiếng như chính khách, nguyên thủ quốc gia, doanh nhân, nhữngnhà hoạt động xã hội còn chưa phổ biến, hồi kí của giới giải trí có tính chất câu khách ítxuất hiện Nhưng từ sau 1986, ý thức cá nhân, tinh thần dân chủ và điều kiện in ấn khácởi mở, sự bùng nổ của phương tiện thông tin điện tử khiến nhiều kiểu dạng hồi kí pháttriển Đối tượng tham gia viết hồi kí ngày càng mở rộng: hồi kí của chính trị gia (Hồi kíĐoàn Duy Thành, Nguyễn Thị Bình…); hồi kí, tự truyện của những nghệ sĩ sân khấu,

điện ảnh, âm nhạc, những người làm báo như Lê Vân yêu và sống, Hồi kí Trần Văn Khê, Điện ảnh, chặng đường và kỉ niệm (Trung Sơn), Phim là đời (Đặng Nhật Minh), Nguyễn Ngọc Bạch - Một đời sân khấu, Người chở đò thời đại, chân dung nghệ sĩ Việt Nam thế kỉ XX, (Hoài Anh), Nguyễn Văn Tý tự họa, Một cuộc đời đeo đuổi sự nghiệp

âm nhạc (Nguyễn Văn Thương), Hồi kí không tên (Lý Quý Chung)… Đặc biệt, nhiều hồi kí xuất hiện trên internet như Đêm giữa ban ngày (Vũ Thư Hiên), Tôi là một thằng hèn (Tô Hải), Hồi kí Phạm Duy, Hồi kí một người mất ngày tháng (Nhã Ca), Hồi kí Đỗ Mậu, Ngày N+… (Hoàng Khởi Phong), Tháng ba gãy súng (Cao Xuân Huy), Giọt nước

Trang 39

trong biển cả (Hoàng Văn Hoan), Mặt thật, Hoa xuyên tuyết (Bùi Tín), Hồi kí Nguyễn Đăng Mạnh… Trong đó, có một số cuốn đã xuất bản ở nước ngoài, chủ yếu tại Mĩ (Ngày N+…, Nxb Văn nghệ, California, 1988; Hồi kí một người mất ngày tháng, Nxb Thương yêu, 1991; Đêm giữa ban ngày, Nxb Văn nghệ, California, 1997; Tôi là một thằng hèn, Nxb Tiếng Quê hương, 2009…), có nhiều tác phẩm được viết bởi các tác giả

người Việt đang định cư ở nước ngoài, thuộc nhiều thành phần khác nhau (nhà văn, nhàkhoa học, nhạc sĩ, tướng lĩnh…), với nhãn quan chính trị, văn hóa khác nhau Đây làmảng hồi kí được xem như “không chính thống” Tuy nhiên, trong thời đại báo mạng,văn học mạng ngày càng trở nên phổ biến thì internet cũng là một phương thức để tácphẩm đến với công chúng, tham gia vào đời sống văn học Do vậy, tìm hiểu các tácphẩm này dưới cái nhìn khoa học nhằm khơi gợi những định hướng tiếp cận khách quan,phù hợp là việc làm cần thiết và có ý nghĩa…

Ở phương diện là tiếng nói của cái tôi tác giả, hồi kí ở ta cũng có những nét

riêng Nó thể hiện một cái tôi rất Việt Nam: vừa cá tính, sắc nét, vừa kín đáo, chừng

mực, dễ khoan dung… Nó chưa phải là cái tôi phát triển đến tột cùng như ở phươngTây, chưa giải phóng hết năng lượng nhưng cũng chưa bị đẩy đến cái tôi vị kỉ, “cáitôi đáng ghét” (Pascal), bởi nó xuất phát từ môi trường vốn coi trọng sự “vô ngã” và

“khắc kỉ phục lễ”, nó còn nhiều “ràng buộc thế gian”, “không muốn làm đau lòngai”, một cái tôi “bướng bỉnh nhưng uyển chuyển và tránh trực diện” [11] Do vậy,

có thể thấy trong hồi kí, một Nguyễn Khải nói về mình với “sự dừng lại nửa chừng”(Vương Trí Nhàn), một Phùng Quán khốn khổ qua bao oan khuất, ngộ nhận củangười đời vẫn không phiền trách ai, một Ma Văn Kháng với tâm lí “thể tất chonhững gì đã qua”… Điều này khiến trong nhiều tác phẩm, vai trò cá nhân không lấn

át sự kiện, sự việc như hồi kí ở các nước phương Tây nói chung…

Trang 40

Chương 2 HỒI KÍ GIAI ĐOẠN TỪ 1945 ĐẾN 1975 2.1 Những nhân tố tác động đến tư duy thể loại

2.1.1 Nhu cầu ngoái lại quá khứ để tri ân và tuyên truyền cách mạng

Từ 1945 đến 1975, trên đất nước ta đã diễn ra nhiều biến cố lịch sử trọng đại.Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 và thắng lợi của hai cuộc kháng chiến đã tác độngsâu sắc đến mọi mặt đời sống xã hội Bối cảnh khác thường ấy chi phối trực tiếpđến sự phát triển của thể hồi kí Hiện thực mới đang được kiến tạo kéo theo nhữngbiến đổi mạnh mẽ trong tâm lí, tình cảm nhân dân, đòi hỏi ở văn học một sự biểuhiện tương xứng Việc tái hiện quá khứ “người thật việc thật” của thể hồi kí trởthành một lựa chọn hợp lí Quá trình vận động của cách mạng và kháng chiến vệquốc tạo ra chất liệu thẩm mĩ ngồn ngộn sức sống mà những nhà viết kí nói chung

và hồi kí nói riêng muốn chia sẻ cùng bạn đọc Đó là quá khứ đáng trân trọng, tựhào Bao con người bình thường mà vĩ đại, những ân nghĩa thủy chung, những sựkiện lớn nhỏ, những chiến công trong quá khứ gần, xa đều đáng được ghi lại tronghồi kí như sự lưu giữ kí ức đẹp của dân tộc Ghi lại hiện thực khốc liệt mà hào hùngcủa dân tộc là nhu cầu bức thiết của cuộc sống, là một nhiệm vụ cách mạng quantrọng, nuôi dưỡng khát vọng chiến đấu và chiến thắng, cổ vũ, động viên con ngườisẵn sàng tận hiến cho sự nghiệp chung Mượn hình thức hồi kí, các nhà văn bày tỏ

sự ngưỡng mộ đối với lịch sử hào hùng của Đảng và nhân dân Những trang viếtnóng hổi hơi thở thời đại sẽ là những tư liệu đáng quý góp phần giáo dục, tuyêntruyền cách mạng cho thế hệ hậu sinh Lịch sử qua góc nhìn của người trong cuộctrở nên có hồn hơn, riêng tư hơn nhờ gắn với những kỉ niệm, ấn tượng khó phai.Đây sẽ là phần bổ sung cho “chính sử”, làm cho lịch sử hiện ra phong phú, hấp dẫnhơn Người viết hồi kí thời kì này cũng ý thức được nhiệm vụ phải ghi lại những bàihọc quý báu về đấu tranh cách mạng bởi kinh nghiệm có khi phải đánh đổi bằng

nhiều hi sinh mất mát, do vậy, không nên để những khoảnh khắc làm nên lịch sử bị

lãng quên Họ đã giúp người đọc thấy được quá khứ đau thương mà anh hùng củadân tộc để ứng xử đúng hơn với hiện tại và tương lai Nhiều cuốn hồi kí có giá trị đãgóp phần không nhỏ vào việc tiếp thêm sức mạnh chiến đấu cho nhân dân đồng thờichuyển tiếp ngọn lửa truyền thống cho thế hệ mai sau

Ngày đăng: 04/12/2013, 13:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Tuấn Anh (2001), Văn học Việt Nam hiện đại - nhận thức và thẩm định, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam hiện đại - nhận thức và thẩm định
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2001
2. Vũ Tuấn Anh, Bích Thu (2007), Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam (tập1, 2), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam
Tác giả: Vũ Tuấn Anh, Bích Thu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
3. Đào Tuấn Ảnh, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Thị Hoài Thanh (sưu tầm và biên soạn), (2004), Văn học hậu hiện đại thế giới - những vấn đề lí thuyết, Nxb Hội nhà văn - Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học hậu hiện đại thế giới - những vấn đề lí thuyết
Tác giả: Đào Tuấn Ảnh, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Thị Hoài Thanh (sưu tầm và biên soạn)
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn - Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây
Năm: 2004
4. Lại Nguyên Ân (2003), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
5. Nguyễn Bảo, Viết hồi kí chiến tranh phải trung thực (trả lời phỏng vấn Tạp chí Văn nghệ Quân đội), Nguồn: http://www.cand.com.vn/vi-VN/vanhoa/2007/12/81888.cand Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viết hồi kí chiến tranh phải trung thực (trả lời phỏng vấn Tạp chí Văn nghệ Quân đội)
6. Lê Huy Bắc (1998), “Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại”, Tạp chí văn học, (9), tr.63 - 67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại”, "Tạp chí văn học
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 1998
7. Lê Huy Bắc (2012), Văn học hậu hiện đại, lí thuyết và tiếp nhận, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học hậu hiện đại, lí thuyết và tiếp nhận
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2012
8. Nguyễn Thị Bình (1998), “Nguyễn Khải và tư duy tiểu thuyết”, Tạp chí văn học, (7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Khải và tư duy tiểu thuyết”, "Tạp chí văn học
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 1998
9. Nguyễn Thị Bình, (2007), Văn xuôi Việt Nam 1975 - 1995, Những đổi mới cơ bản, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam 1975 - 1995, Những đổi mới cơ bản
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
10. Nguyễn Thị Bình, (2008), Một số khuynh hướng tiểu thuyết ở nước ta từ thời điểm đổi mới đến nay, Đề tài cấp Bộ, Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số khuynh hướng tiểu thuyết ở nước ta từ thời điểm đổi mới đến nay
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 2008
11. Văn Chinh (2009), Tự truyện Lejeune và tự truyện Việt Nam, ai cần mặc nhờ áo ai? Nguồn: http://vanchinh.net.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự truyện Lejeune và tự truyện Việt Nam, ai cần mặc nhờ áo ai
Tác giả: Văn Chinh
Năm: 2009
14. Nguyễn Văn Dân (2008), Hồi kí văn học - Tiềm năng và hạn chế, Nguồn: http://hoinhavanvietnam.vn/new.asp?cat Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồi kí văn học - Tiềm năng và hạn chế
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Năm: 2008
15. Lê Tiến Dũng (1991), “Bước phát triển của văn xuôi Việt Nam sau 1975”, Tạp chí Cửa Việt, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước phát triển của văn xuôi Việt Nam sau 1975”, "Tạp chí Cửa Việt
Tác giả: Lê Tiến Dũng
Năm: 1991
16. Đinh Xuân Dũng (2004), Văn học Văn hóa, tiếp nhận và suy nghĩ, Nxb Từ điển bách khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Văn hóa, tiếp nhận và suy nghĩ
Tác giả: Đinh Xuân Dũng
Nhà XB: Nxb Từ điển bách khoa
Năm: 2004
17. Tường Duy (2009), Nhà văn Vũ Bằng - người hay kể tội mình, Nguồn: http://tonvinhvanhoadoc.vn/van-hoc-viet-nam/doi-song-van-hoc/196-nha-van-vu-bang...html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Vũ Bằng - người hay kể tội mình
Tác giả: Tường Duy
Năm: 2009
18. Phạm Tiến Duật, Sự thật của ý tưởng và tâm linh mới là điều quan trọng nhất, Nguồn: http://vnca.cand.com.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự thật của ý tưởng và tâm linh mới là điều quan trọng nhất
19. Đặng Anh Đào (2007), Việt Nam và phương Tây - Tiếp nhận và giao thoa trong văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam và phương Tây - Tiếp nhận và giao thoa trong văn học
Tác giả: Đặng Anh Đào
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
20. Trần Thiện Đạo (2007), Bùi Ngọc Tấn kể chuyện bạn bè, viết về Một thời để mất, Nxb Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bùi Ngọc Tấn kể chuyện bạn bè", viết về "Một thời để mất
Tác giả: Trần Thiện Đạo
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2007
21. Nguyễn Đăng Điệp (2002), Vọng từ con chữ, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vọng từ con chữ
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2002
22. Trịnh Bá Đĩnh (2011), Tiếp cận văn học Việt Nam từ các lí thuyết phương Tây, kinh nghiệm lịch sử và đường hướng hiện tại, Nguồn:http://vanhocquenha.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận văn học Việt Nam từ các lí thuyết phương Tây, kinh nghiệm lịch sử và đường hướng hiện tại
Tác giả: Trịnh Bá Đĩnh
Năm: 2011

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w