Đồng thời đây cũng là địa điểm cộng cư của nhiều dân tộc anh em: Kinh, Tày, Nùng, Mông, Lô Lô, Dao… Các dân tộc này sinh sống xen kẽ nhau tạo thành một khối đoàn kết thống nhất, lại mang
Trang 1ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ THÙY DƯƠNG
TỔ CHỨC XÃ HỘI VÀ TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO CỦA NGƯỜI LÔ LÔ Ở
MIỀN TÂY CAO BẰNG TỪ 1945 ĐẾN NAY
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam Người hướng dẫn: PGS.TS Đàm Thị Uyên
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cao Bằng – nơi có đường biên giới giáp với Trung Quốc, đây là vùng giữ
vị trí đặc biệt quan trọng về nhiều mặt trong lịch sử dân tộc và là cái nôi của cách mạng Việt Nam Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau, Cao Bằng đã tích lũy được một bề dầy lịch sử - văn hóa rất đa dạng và phong phú Đồng thời đây cũng là địa điểm cộng cư của nhiều dân tộc anh em: Kinh, Tày, Nùng, Mông, Lô Lô, Dao… Các dân tộc này sinh sống xen kẽ nhau tạo thành một khối đoàn kết thống nhất, lại mang đến cho tỉnh Cao Bằng một nền văn hóa tộc người đặc sắc
Miền Tây Cao Bằng là khu vực có địa hình hiểm trở, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt Do nằm cách xa trung tâm thị xã Cao Bằng, giao thông đi lại còn nhiều hạn chế, nên kinh tế - xã hội gặp rất nhiều khó khăn Tuy nhiên, nơi đây lại là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc ít người: Mông, Lô Lô, Dao… Đặc biệt, đây là khu vực tập trung đông dân cư thuộc tộc người Lô Lô nhiều nhất ở Việt Nam
Người Lô Lô hiện nay còn lại ở Việt Nam không nhiều Họ là một trong những dân tộc rất ít người Là một bộ phận của tộc người Di - một bộ tộc thiểu
số của người Tây Tạng - Miến Điện, sống ở miền Nam Trung Quốc Vào thế kỉ XVIII, do chế độ áp bức ở Trung Quốc, một số bộ phận của tộc người này đã chuyển về sống ở miền Bắc Việt Nam Người Lô Lô hiện nay tập trung chủ yếu
ở hai huyện Bảo Lâm và Bảo Lạc (Cao Bằng) Đại bộ phận cư dân này đều sống trong hoàn cảnh khó khăn, sinh hoạt tiện nghi gần như là không có, đặc biệt người Lô Lô mang những nét văn hóa bộ tộc từ xa xưa cho đến ngày nay vẫn được bảo tồn, gần như không bị đồng hóa với bên ngoài
Trong xu thế toàn cầu hóa như hiện nay, “bản sắc dân tộc” là một vấn đề được Đảng - Nhà nước quan tâm và đề cao trong quá trình lãnh đạo xây dựng đất nước Việc lưu giữ, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc đang ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội của
Trang 3người dân Việt Nam Hiện nay, những nghiên cứu về người Lô Lô vẫn còn khá
ít, cho nên sự hiểu biết về dân tộc này còn nhiều hạn chế Chính vì vậy, nghiên cứu về người Lô Lô sẽ đáp ứng được nhu cầu bức thiết của thực tiễn về phát triển kinh tế - xã hội, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của người Lô Lô,
mà cụ thể là người Lô Lô ở miền Tây Cao Bằng
Người Lô Lô ở miền Tây Cao Bằng do có đường biên giới giáp với Trung Quốc, nên người Lô Lô có một bộ phận có nguồn gốc của người Di (Trung Quốc) Người Lô Lô ở miền Tây Cao Bằng phần lớn sinh sống ở các xã vùng sâu, vùng xa, đời sống gặp nhiều khó khăn, hàng năm vẫn nhận được sự hỗ trợ đặc biệt của Nhà nước, các tổ chức trong và ngoài nước… Điều tra, nghiên cứu
về người Lô Lô ở khu vực này, không những góp phần đánh giá hiệu quả của các chương trình, dự án mà còn cung cấp cơ sở khoa học để điều chỉnh, xây dựng các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa trong những giai đoạn tiếp theo Đồng thời còn góp phần cung cấp dữ liệu làm cơ sở cho việc hoạch định các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường và giữ vững an ninh quốc phòng khu vực biên giới và việc định hướng giao lưu kinh tế, văn hóa giữa hai bên biên giới Việt – Trung
Ngoài ra, chúng ta sẽ có cái nhìn tổng quát hơn về người Lô Lô trong các lĩnh vực văn hóa, tổ chức xã hội, tôn giáo tín ngưỡng Nhìn nhận vai trò của tộc người này trong lịch sử phát triển của dân tộc Đây chính là cơ sở để tăng cường tính đoàn kết giữa các dân tộc trong cùng một địa phương, và sự gắn bó giữa các dân tộc trong một quốc gia – vì đoàn kết là sức mạnh to lớn trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước
Chính vì vậy, tôi chọn: “Tổ chức xã hội và tín ngưỡng tôn giáo của người
Lô Lô ở miền Tây Cao Bằng từ 1945 đến nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ, với mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào việc bảo tồn những di sản văn hóa truyền thống của người Lô Lô – một dân tộc với dân số rất ít nhưng có nền văn hóa đặc sắc và độc đáo
Trang 42 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi đã được thừa hưởng kết quả nghiên cứu của những người đi trước đề cập đến vấn đề nghiên cứu một cách trực tiếp hay gián tiếp ở những khía cạnh khác nhau như:
Đầu tiên là Cuốn “Văn hóa và nếp sống Hà Nhì – Lô Lô”, của Nguyễn
Văn Huy, Nhà xuất bản Văn hóa, 1985 Đây là các công trình nghiên cứu kĩ về các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến ở Việt Nam, trong đó có người
Lô Lô Các nghiên cứu trên đã mô tả về hệ thống thân tộc, các mối quan hệ trong gia đình, họ tộc của người Lô Lô Tuy nhiên, người Lô Lô chưa được tác giả đề cập nhiều trong ấn phẩm đó
Tiếp theo là tác phẩm“Trống đồng cổ với các dân tộc ở Hà Giang” của
Lò Giàng Páo, Nhà xuất bản Thế giới, xuất bản 1996 Tác phẩm này tuy không phải là chuyên khảo về người Lô Lô, song đã phần nào giúp người đọc hiểu được đại cương về những nét văn hóa của họ
Khóa luận tốt nghiệp “Bước tìm hiểu về văn hóa của người Lô Lô ở huyện Bảo Lạc tỉnh Cao Bằng”, Mông Thị Xoan, 2001 Khóa luận đã có chỉ ra những
nét cơ bản về bản sắc dân tộc của người Lô Lô, đặc biệt là những giá trị văn hóa của người Lô Lô Đen ở Bảo Lạc – Cao Bằng
Bộ sách “Địa chí các xã tỉnh Cao Bằng”, Tỉnh ủy - Ủy ban nhân dân tỉnh
Cao Bằng, Nhà xuất bản Chính trị Quốc Gia, 2008 Bộ sách đã đề cập đến tất
cả mọi lĩnh vực từ tự nhiên - kinh tế - văn hoá - xã hội đến lịch sử, quốc phòng
- an ninh của tất các xã, phường, thị trấn trong tỉnh qua các thời kỳ Các tư liệu, tài liệu lịch sử truyền thống cách mạng của các xã đều được khai thác, sưu tầm Trong đó hai huyện Bảo Lâm, Bảo Lạc (Cao Bằng) được đề cập rất sâu và
rõ trong quyển II của bộ sách này
Tác giả Vũ Diệu Trung (chủ biên) với cuốn “Người Lô Lô Đen ở Hà Giang”, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, 2009 Đây là cuốn sách nghiên cứu sâu
về người Lô Lô Đen ở Hà Giang – một nhánh của người Lô Lô Cuốn sách trên
Trang 5tổng hợp tất cả các vấn đề xoay quanh người Lô Lô và cuộc sống, con người của họ Từ đời sống sinh hoạt vật chất đến tinh thần, từ sản xuất kinh tế đến tổ chức xã hội, tín ngưỡng tôn giáo Từ những lễ hội của người Lô Lô Đen ở Hà Giang cho đến những bài múa, bài ca dao cổ của họ
Cuối cùng là cuốn sách “Dân tộc Lô Lô ở Việt Nam”, Khổng Diễn - Trần
Bình, Nhà xuất bản Thông tấn, 2011 Đây là sách chuyên khảo hoàn chỉnh về người Lô Lô ở Việt Nam, chủ yếu là người Lô Lô ở Hà Giang, ở Bảo Lâm, Bảo Lạc (Cao Bằng) Cuốn sách đã nghiên cứu rõ về môi trường tự nhiên, nguồn gốc lịch sử, dân số, đời sống kinh tế, tổ chức xã hội, văn hóa vật chất - tinh thần của người Lô Lô ở Việt Nam
Đây là tổng quát kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học về người dân tộc Lô Lô, đó là những gợi ý quý báu, tạo điều kiện thuận lợi để chúng tôi thực hiện luận văn của mình
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Thực hiện đề tài này chúng tôi tìm hiểu về người
Lô Lô ở 2 huyện Bảo Lạc và Bảo Lâm thuộc tỉnh Cao Bằng, bên cạnh đó phản ánh một cách khoa học, chân thực về lịch sử hình thành, tổ chức xã hội, văn hóa tín ngưỡng của người Lô Lô, đồng thời góp phần bổ sung thêm nguồn tư liệu lịch sử địa phương cho quá trình giảng dạy và nghiên cứu tại Đại học Thái Nguyên
- Đối tượng nghiên cứu: Tổ chức xã hội, tổ chức làng bản, gia đình, dòng
họ và tín ngưỡng, tôn giáo của người Lô Lô ở miền Tây Cao Bằng từ năm
1945 đến nay
- Phạm vi nghiên cứu: + phạm vi không gian: nghiên cứu trên hai huyện
là Bảo Lạc và Bảo Lâm thuộc tỉnh Cao Bằng hiện nay
+ phạm vi thời gian: từ năm 1945 đến nay
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tư liệu: Nghiên cứu về tổ chức xã hội và tín ngưỡng tôn giáo
Trang 6khăn trong việc tìm kiếm tài liệu Tuy nhiên để hoàn thành tốt luận văn tôi đã cố gắng sưu tầm và tập hợp nguồn tư liệu trên nhiều phương diện khác nhau như:
+ Nguồn tư liệu chung: Đại Việt sử ký toàn thư, Kiến văn tiểu lục, Đại Nam thực lục, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Đồng khánh dư địa chí … + Nguồn tư liệu địa phương như: Địa chí các xã tỉnh Cao Bằng, Thống kê nhân khẩu chi tiết của Phòng Thống kê huyện Bảo Lâm, huyện Bảo Lạc; Nghị quyết của
hội đồng nhân dân huyện; Các bài ca dao, truyền thuyết dân gian, thơ ca…
4.2 Phương pháp nghiên cứu: Thực hiện đề tài này, chúng tôi chủ yếu sử
dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic; phương pháp khảo sát điền
dã dân tộc học; phương pháp so sánh, đối chiếu, thống kê các nguồn tư liệu
5 Đóng góp của luận văn
Luận văn còn là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách cụ thể và toàn diện về tổ chức xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo của người Lô Lô ở miền Tây Cao Bằng từ 1945 đến nay
Luận văn là tài liệu tham khảo cho quá trình học tập bộ môn lịch sử địa phương, cơ sở văn hóa cũng như giảng dạy lịch sử địa phương ở trường phổ thông Đồng thời làm cơ sở cho các nhà quản lý hoạch định chính sách dân tộc, góp phần thực hiện mục tiêu bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của người Lô Lô nói riêng và dân tộc thiểu số ở Cao Bằng nói chung
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận (9 trang), nội dung luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về miền Tây Cao Bằng
Chương 2: Tổ chức xã hội của người Lô Lô ở miền Tây Cao Bằng từ
1945 đến nay
Chương 3: Tín ngưỡng và tôn giáo của người Lô Lô ở miền Tây Cao Bằng từ 1945 đến nay
Trang 7Ngoài ra, luận văn còn có tài liệu tham khảo, 10 bảng thống kê, 5 phụ lục cùng 12 ảnh minh họa
Trang 8BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH MIỀN TÂY CAO BẰNG
Trang 9BẢN ĐỒ CƯ TRÚ NGƯỜI LÔ LÔ Ở MIỀN TÂY CAO BẰNG
Trang 10Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ MIỀN TÂY CAO BẰNG 1.1 Vị trí địa lí – điều kiện tự nhiên
Miền Tây Cao Bằng bao gồm địa phận của 4 huyện: Thông Nông, Nguyên Bình, Bảo Lâm, Bảo Lạc (Luận văn nghiên cứu về người Lô Lô thuộc hai huyện Bảo Lâm và Bảo Lạc) Khu vực này có đường biên giới giáp với Trung Quốc ở phía Bắc, phía Tây giáp với tỉnh Hà Giang, phía Nam giáp với tỉnh Bắc Cạn, phía Đông giáp với huyện Hà Quảng và Hòa An
Miền Tây Cao Bằng nằm trong hành lang biên giới Đông – Tây phía Bắc của Tổ Quốc nên có vị trí tương đối thuận lợi Ở đây có 47,5 km đường biên giới với Trung Quốc, với các chợ: Cô Ba, Cốc Pàng - tương lai sẽ trở thành những cửa khẩu quan trọng sau năm 2020 [19, tr 343]
Miền Tây Cao Bằng là khu vực vùng sâu vùng xa với địa hình chủ yếu là núi đất, với các dải núi đá vôi xen kẽ nhau Xen giữa các núi đá, núi đất là những thung lũng với nhiều hình thái khác nhau Ở đây có một số ngọn núi cao
như sau: núi Ma Thiên Lĩnh (xã Cô Ba, Bảo Lạc) đây là ngọn núi cao 1200m so với mực nước biển; núi Chẻ Bản Miỏng cao khoảng 1200m, núi Phja Rạc cao 1500m, núi Nạm Phùm cao 1800m, núi Đán Khao (xã Đình Phùng, Bảo Lạc) cao 1400m so với mặt nước biển [33, tr49]; dãy núi Phja Đi (xã Hồng Trị, Bảo
Lạc) nằm ở phía sau xóm Khâu Pầu từ đỉnh chạy dài đến giáp xóm Thôm Trang tạo thành hình vòng cung, núi phía Đông Nam là núi đá vôi pha đất độ
cao 1000m; núi Mạ Quỷnh (xã Hồng Trị, Bảo Lạc) nằm ở đằng sau xóm Nà
Van, Cốc Muồi, Lũng Tiến kéo dài từ xóm Cốc Muồi đến Pác Nậm (Bắc Cạn),
đây là núi đá vôi pha đất có độ cao 1150m, núi Khâu Sa (xã Hồng Trị, Bảo
Lạc) kéo dài từ Nà Tồng đến giáp xóm Vằng Lình, xã Hưng Đạo, nằm sau xóm
Trang 11Nà Soen, giáp với Tát Kè (xã Hồng Trị, Bảo Lạc) và xóm Khuổi Mực (xã Hưng Đạo, Bảo Lạc) là núi đất pha đá có độ cao 1200m [33, tr 71] Ở phía Bắc
xã Đức Hạnh (Bảo Lâm) có dãy núi đá vôi gọi là núi Lũng Pịa, thuộc xóm
Lũng Mần, chạy dài biên giới Việt – Trung, dài khoảng 7km, độ cao từ 1000 – 1500m so với mặt nước biển [33, tr 163]
Đặc biệt núi Phja Dạ (xã Sơn Lộ, Bảo Lạc) cao 1987m [33, tr 129], được
coi là nóc nhà phía Đông Bắc Bộ, một cảnh quan thiên nhiên kì vĩ Từ trên đỉnh núi một dòng nước tuôn ra, lan tỏa thành dòng thác mềm mại xen lẫn những đám mây bồng bềnh trông rất đẹp mắt Có khá nhiều truyền thuyết về núi Phja Dạ
vừa thực vừa hư Truyền thuyết kể rằng: trên đỉnh núi có bãi đất bằng, có cây cam, quýt, lê, đào của tiên trồng, có “ai” (vũng) nước trong, sâu bên trong còn
có con cá to, lạ thỉnh thoảng nổi lên Ở núi Phja Dạ có vàng sa khoáng được
khai thác từ thời Pháp thuộc Đã có nhiều đoàn địa chất đến khảo sát, theo các nhà địa chất, ở bản Riêng có mỏ quặng có thể khai thác trong tương lai
Rừng ở miền Tây Cao Bằng chủ yếu là những cánh rừng nằm trên các quả đồi và núi Bao gồm rừng núi đá và rằng núi đất Ví dụ như: Những cánh rừng
Pù Vi, Hát Soóc (thị trấn Bảo Lạc, Bảo Lạc), rừng Chẻ Pà, Giàng Sán (xã Đình
Phùng, Bảo Lạc) với nhiều rừng cây mạy kẹo, mạy cáng lò, mạy xả cài, mạy khỉ lếch cao vút và bạt ngàn cây lát, nghiến, lim… (loại gỗ quý), dưới mặt đất
có nhiều cây sa nhân (loại thuốc quý) Trước kia rừng ở đây còn nổi tiếng với cây mác cai - đây là loại cây mọc nhiều dọc bở sông Gâm, từ bến phà Pác Gào đến Pác Pẹt dài 4 km, có những gốc cây to đến 2 - 3 người ôm không xuể, cây cao, cành lá xum xuê, từng chùm quả khi chưa chín có màu lá mạ, khi chín có màu vàng như quả xoài, quả to bằng quả trứng gà, hạt như hạt xoài, ăn vừa thơm vừa bùi, quả mác cai có thể ăn thay cơm Theo kinh nghiệm dân gian, năm nào mác cai sai trĩu quả là năm đó mất mùa Cho nên gần đây, cây mác cai
bị chặt phá làm củi nên còn lại rất ít
Trang 12Các cánh rừng rậm ở xóm Ngàm Lồm và Slam Kha, rừng thông ở khu vực Nà Chùa và Nà Phạ (xã Hồng Trị, Bảo Lạc) với các loại cây quý sau: Gỗ nghiến, lát, gỗ đinh, gỗ dổi; cây xau xau - đây là loại cây mọc tự nhiên, có nhiều ở vùng đất Nà Soen; cây khảo cài - loại cây có vỏ dày gây rặm ngứa, mọc tự nhiên và có nhiều ở núi đất; các loại cây xoan đào (cáng lò) có nhiều ở xóm Nà Van, Cốc Xả, Khau Chang, mọc tự nhiên với chiều cao từ 25 - 30 m, đường kính to nhất có thể lên 80 -100 cm; cây trúc sào được trồng ở các sườn ven khe núi khe suối, có nhiều ở xóm Ngàm Lồm, đây là nguyên liệu làm ghế trúc và giấy bản [33, tr 72]
Là khu vực miền núi vùng cao, với địa hình phần lớn là đồi nú i, cho nên tài nguyên rừng ở miền Tây Cao Bằng rất dồi dào và phong phú, hệ động thực vật rất đa dạng Bao gồm các hệ động vật: thú, chim, bò sát: Các loại cây nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới, các loại cây lấy gỗ, cây dược liệu Với các loại cây điển hình: Gỗ lát, phiến, đinh
Ngoài ra còn có các loại cây: tre, nứa, vầu, chuối rừng, đinh, sấu, xoan, xau xau, hoàng tinh, thảo quyết minh, ích mẫu, hà thủ ô …
Ở Bảo Lạc nổi tiếng với sản phẩm măng khô vàng ươm, mận lòng đỏ,
lê xanh Đây là các sản vật được nhân dân địa phương cũng như các khu vực khác rất ưa chuộng Đây chính tiềm năng để thúc đẩy kinh tế nông – lâm nghiệp phát triển mạnh
Miền Tây Cao Bằng cũng là nơi tập trung nhiều địa chất khoáng sản Ở huyện Bảo Lạc có nhiều phiến sét, sét vôi, xen cát kết, cát bột kết vôi, đá vôi phân lớp mỏng màu đen, đá vôi dolomite hóa, đá vôi màu xám, vôi silic nhiễm quặng man - gan… Trong đó sắt, đồng, kẽm, vàng ở Cốc Pàng, Huy Giáp, Sơn
Lộ và Hưng Đạo Còn tại huyện Bảo Lâm lại là nơi lưu tụ nhiều loại khoáng sản quý hiếm: vàng được khai thác ở khu vực Thầm Siềm (xã Nam Quang), bạc, kim cương (độ tuổi non); các loại vật liệu xây dựng: cát, sỏi, đá vôi Đây
Trang 13chính là điều kiện thuận lợi để phát triển các ngành khai thác khoáng sản, góp phần không nhỏ trong việc phát triển kinh tế địa phương
Miền Tây Cao Bằng có rất nhiều sông suối và thường tập trung ở các
vùng lòng máng, trong đó sông Gâm là con sông lớn nhất, bắt nguồn từ vùng
núi cao gần 2000m Đây là con sông thuộc địa phận của Trung Quốc chảy vào nước ta, con sông này có một bộ phận chảy qua thị trấn Bảo Lạc (huyện Bảo Lạc) và huyện Bảo Lâm Sông Gâm có lòng sông rất rộng và sâu, độ dốc lớn, tốc
độ chảy và lưu lượng lớn Con sông này chính là nguồn thủy sản và thủy năng lớn, cung cấp cho đời sống sinh hoạt của người dân địa phương ở trong vùng Chẳng hạn, trên nhánh sông Gâm ở huyện Bảo Lâm đã cung cấp một lượng cá quý hiếm: cá anh vũ (trước kia được dùng để “tiến vua”), cá trầm xanh, cá lăng,
cá chiên, cá bỗng, tôm nước ngọt tạo điều kiện cho nhân dân ở gần sông đánh bắt cá để cải thiện bữa ăn và đem bán tăng thu nhập cho gia đình
Sông Neo (hay còn gọi là “Tà Miào) bắt nguồn từ Nặm Pắt, xã Đình
Phùng và Huy Giáp chảy đến xã Hưng Đạo giáp với xã Hồng Trị tại bản nà Tồng dọc theo trục quốc lộ 34 đến thị trấn Bảo Lạc gặp sông Gâm tại hai điểm, phía trên ngã ba Pắc Miầu, phía dưới gặp ngã ba mỏm đồi Chẻ Ròn, đến xã Hồng Trị qua các xóm Pác Puồng, Bản Piậy, Bản Khuông, Thang Buổng, Nà Chùa, Nà Phạ với tổng chiều dài là 12 km, độ sâu từ 1- 4m, lòng sông rộng trung bình 30m, hẹp nhất là 10m, do nước lúc lên lúc xuống không ổn định,lưu lượng dòng chảy 2n/s [33, tr71, tr100], nước chảy xiết Con sông này cho nguồn thủy sản phong phú và đa dạng: cá chiên, cá chày, cá trôi, cá mõm lợn, tôm, ốc, ba ba…
Sông Năng bắt nguồn từ núi Phja Dạ, chảy qua địa phận xã Sơn Lộ (Bảo
Lạc) khoảng 15km rồi đi qua hồ Ba Bể (Bắc Kạn) rồi đổ ra sông Gâm, sau đó gặp sông Lô ở Tuyên Quang, được phù sa bồi đắp hai bên bờ sông tạo nên ruộng đồng bằng phẳng, hình thành các thôn xóm, vùng thấp tương đối tập
trung Sông Năng có độ dốc đều, không có thác, không có đá to, chỉ có đá nhỏ
Trang 14và cát Sông Năng rộng trung bình 15m, độ sâu tùy theo mùa mưa hay mùa khô, lưu lượng dòng chảy bình thường Sông Năng ngoài cung cấp nước tưới
tiêu chính còn có số lượng cá đáng kể và lượng cát phục vụ cho việc xây dựng
Sông Nho Quế bắt nguồn từ Trung Quốc chảy qua xã Sơn Vĩ của huyện
Mèo Vạc (Hà Giang) vào xã Đức Hạnh (Bảo Lâm) rồi gặp sông Gâm tại Nà
Pồng, xã Lý Bôn (Bảo Lâm) Sông Nho Quế còn là đường ranh giới giữa xã
Đức Hạnh với hai xã Lũng Pù, Khâu Vai (Mèo Vạc, Hà Giang) đồng thời cũng
là đường ranh gới của xã Đức Hạnh với xã Lí Bôn (Bảo Lâm) Lưu lượng dòng chảy lớn, có độ sâu 2 – 3 m Sông chảy theo hướng Bắc – Nam, nhưng sông này không có giá trị về kinh tế [33, tr 164]
Bên cạnh các con sông lớn, ở khu vực này có rất nhiều các con suối lớn và khe suối nhỏ khác nhau Các con suối ở đây cung cấp nước cho tưới tiêu và sinh hoạt hàng ngày
Suối Nà Đức (suối Khuổi Rầy) bắt nguồn từ xã Cốc Pàng chảy qua thôn
Nà Đức, Thượng Hà (xã Bảo Toàn, Bảo Lạc) đến địa phận xóm Nà Xiêm (xã Bảo Toàn) gặp con sông Gâm ở dưới làng Nà Xiêm, chiều dài chảy qua xã là 3km, chiều rộng của suối từ 10 – 15m, độ sâu trung bình từ 0,8 – 1m [33, tr 16] Suối thường có lũ cục bộ vào những năm có nhiều mưa, làm ảnh hưởng đến mương máng thủy lợi và sạt lở đất ở gần suối
Suối Tả Mù (xã Thượng Hà, Bảo Lạc): phát nguồn từ xóm Cốc Thốc qua
Nà Quằng – Tả Mù – Nà Báng có thác cao khoảng 6m, mùa lũ nước đổ ầm ầm, suối chảy qua làng Pác Riệu đổ ra sông Gâm Chiều dài suối chảy qua xã 15
km, rộng 6 – 8m, sâu từ 1,5 – 2m [33, tr 139]
Ngoài các con suối có giá trị cung cấp nước tưới tiêu và sinh hoạt cho các địa phương, thì còn có các con suối có giá trị về mặt thủy điện - khi họ lắp đặt một số máy phát điện mini nhằm phục vụ nhu cầu sử dụng điện tại địa phương
Chẳng hạn: suối Khuổi Vác (xã Đức Hạnh, Bảo Lâm) bắt nguồn từ xóm Cốc
Lý, chảy theo hướng Đông Nam – Tây Bắc ra gặp suối Bắc Lý Thông, dài
Trang 15khoảng 10km, lưu lượng dòng chảy nhỏ; suối Nà Làng (xã Mông Ân, Bảo
Lâm) dài khoảng 12km, người dân địa phương đã lợi dụng sức nước của con suối này xây thành một đập thủy điện nhỏ 37 kw, phục vụ ánh sáng cho nhân dân ở khu vực Pắc Miầu
Nhưng ngược lại với những điều kiện thuận lợi đó, thì hệ thống sông suối
ở đây nhiều thác ghềnh, độ dốc lớn cho nên giao thông đường thủy còn hạn chế, phương tiện đi lại vẫn chủ yếu bằng bè (mảng)
Về giao thông: hệ thống đường giao thông hiện nay đã được Nhà nước quan tâm bằng việc xây dựng hệ thống đường giao thông nông thôn, các đường liên thôn, liên xã Ở một số khu vực đã có đường cho ô tô; ví dụ: ở xã Khánh Xuân (Bảo Lạc) có đường ô tô từ thị trấn về trụ sở xã dài 8,2 km; dự án đường vành đai biên giới đi qua địa phận xã dài 16 km, rộng 5 -7 km đã được thi công [33, tr 114]; đường ô tô Lũng Pán – Trường Xuân (xã Xuân Trường, Bảo Lạc) dài 19,6 km [33, tr 165]; xã Đức Hạnh (Bảo Lâm) có đường ô tô từ huyện đến trụ sở xã dài 42 km [33, tr 169]…
Giao thông đường bộ chủ yếu là tuyến đường Quốc lộ 34 từ thị xã Cao Bằng - Nguyên Bình - Tĩnh Túc - Bảo Lạc - Bảo Lâm nối sang Bắc Mê (Hà Giang) và Nà Hang (Tuyên Quang) Tuy nhiên về cơ bản, giao thông còn gặp nhiều hạn chế do đường xá đi lại rất khó khăn, chủ yếu là đi bộ, đi ngựa, hoặc nhân dân tự làm cầu nhỏ gọi là cầu khỉ qua các con sông nhỏ
Về khí hậu, khu vực này nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa Mỗi năm chia làm hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 4 đến hết tháng 9, mùa khô từ tháng 10 đến hết tháng 3 Khí hậu ở đây rất khắc nghiệt, mùa đông rất lạnh giá còn mùa hè lại rất khô nóng
Chẳng hạn ở huyện Bảo Lạc, nhiệt độ trung bình hàng năm là 22,20
C, trong đó nhiệt độ không khí thấp nhất vào tháng 12 và tháng Giêng năm sau, nhiệt độ không khí cao nhất là từ tháng 5 đến tháng 8, nhiệt độ có thể lên tới
390 C [1, tr 15] Trong khi đó, ở huyện Bảo Lâm nhiệt độ trung bình hàng năm
Trang 16khoảng từ 22 – 30 0 C, thấp nhất là dưới 10 0 C, có những thời điểm ở một số vùng xuống 0 0
C [33, tr 164]
Lượng mưa trung bình hàng năm cao, lên tới 1276 mm [1, tr 15] Số ngày mưa trung bình là 113,8 ngày trong một năm Lượng mưa lớn nhất từ tháng 5 đến hết tháng 8, ngày mưa cao nhất lên tới 158,6 mm [1, tr 15] Ngoài ra còn xảy ra các hiện tượng thời tiết khác: sương mù, sương muối, mưa đá Hàng năm trung bình có 0,3 ngày/ năm có hiện tượng mưa đá; 65,6 ngày/ năm xảy ra hiện tượng sương mù trong đó ngày sương mù nhiều nhất là tháng 11 – 12 hàng năm, lên tới 10,4 – 11,5 ngày; 0,1 ngày/ năm có sương muối [1, tr 15] Số giờ nắng trung bình hàng năm là 1421 giờ, trong đó tháng 7 có số giờ nắng cao nhất lên tới 160, 3 giờ, tháng 1 có số giờ nắng thấp nhất 65,1 giờ Độ ẩm trung bình hàng năm là 80% [1, tr 16]
Đất ở miền Tây Cao Bằng chủ yếu gồm những loại đất sau:
+ Đất vàng nhạt trên đá cát (Fq) được hình thành do quá trình phong hóa đá cát Đây là loại đất bị chua, nghèo chất dinh dưỡng nên được sử dụng theo phương thức nông – lâm kết hợp
+ Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ “D”
+ Đất đỏ vàng biến đổi trồng lúa (F1) đây là loại đất được hình thành sau một thời gian trồng lúa nước bị biến đổi như mất kết cấu tầng canh tác, đất bị chua
+ Đất núi đá vôi
+ Đất màu nâu đỏ trên đá vôi
Miền Tây Cao Bằng có diện tích đất núi đồi và đất rừng, đất nông - lâm nghiệp nhiều Đây chính là thế mạnh của vùng để phát triển kinh tế nông - lâm nghiệp Phát huy lợi thế này, trong giai đoạn 2001 - 2005, tại huyện Bảo Lạc đã triển khai 4 dự án: dự án phát triển cây trúc sào, dự án chương trình 5 triệu ha rừng, dự án trồng cỏ chăn nuôi gia súc và dự án phát triển đàn bò [19,
tr 344] Đồng thời khu vực này nằm trong lưu vực của hệ thống sông Gâm,
Trang 17địa hình chia cắt và có độ dốc lớn, trong khi đó sông Gâm có lưu vực 4046
km2, lưu lượng nước trung bình 66,5 m3
/s [19, tr 347] Đây chính là tiềm năng
để phát triển thủy điện Hiện tại, tỉnh Cao Bằng đã có chủ trương xây dựng 3 nhà máy thủy điện với công suất 2,5 – 190 MW [19, tr 347]
Sự khắc nghiệt của môi trường tự nhiên ở miền Tây Cao Bằng đã tác động đến cư dân ở đây, trong đó có người Lô Lô Đó chính là sự thích ứng trước tự nhiên để họ tồn tại và phát triển Trải qua nhiều giai đoạn phát triển, người dân
Lô Lô đã tích lũy được những đặc trưng văn hóa riêng so với những dân tộc khác, tạo nên một tập quán - truyền thống mang tính tộc người
1.2 Miền Tây Cao Bằng qua các thời kì lịch sử
Huyện Bảo Lâm và huyện Bảo Lạc trước kia cùng một đơn vị hành chính
- dưới tên gọi là Bảo Lạc Trải qua các thời kì lịch sử, vùng đất này đã có nhiều lần thay đổi về địa giới hành chính
Dưới thời nhà Lý (1009-1225), huyện Bảo Lạc thuộc châu Quảng Nguyên, đến thời nhà Trần (1226-1400) tên gọi Bảo Lạc vẫn không thay đổi Đến thời nhà Lê (1428-1527), cơ cấu tổ chức hành chính nước ta được chia thành đạo, dưới đạo là trấn, lộ, huyện, châu; đơn vị hành chính cơ sở là xã Thời kì này, châu Bảo Lạc thuộc Tây Đạo Năm 1466, dưới thời vua Lê Thánh Tông, châu Bảo Lạc thuộc Tuyên Quang thừa tuyên Năm Minh Mệnh 14 (1833) (sau khi dẹp cuộc biến loạn của Nùng Văn Vân), bỏ châu Bảo Lạc và chia thành hai huyện Vĩnh Điện và Để Định, lúc đầu vẫn thuộc phủ An Bình, cho tới năm Minh Mệnh 16 (1835) đổi thuộc phủ Yên Ninh mới lập (nay là vùng đất Bảo Lạc - Cao Bằng) [29, tr 871]
Đến năm 1891, châu Bảo Lạc được lập lại thuộc tỉnh Hà Giang Tới năm
1925, châu Bảo Lạc thuộc tỉnh Cao Bằng Theo sách Danh mục các làng xã Bắc Kỳ của Ngô Vi Liễn, năm 1928, thì châu Bảo Lạc có 2 tổng và 10 xã: tổng Mông Ân và tổng Nam Quang Trong đó: tổng Mông Ân có 5 xã (Lạc Thổ,
Trang 18Mông Ân, Mông Yên, Nam Cao, Quan Quang); tổng Nam Quang gồm 5 xã (Ân Quang, Gia Lạc, Yên Đức, Yên Lạc, Yên Lãng)
Đến trước Cách mạng Tháng Tám 1945, châu Bảo Lạc có 2 tổng: Nam Quang và Mông Ân Tổng Nam Quang gồm các xã: xã Ân Quang (nay là các
xã Phan Thanh, Khánh Xuân, Xuân Trường, Hồng An và một phần đất của xã Huy Giáp), xã Yên Lạc (gồm các xã Đình Phùng, Sơn Lộ và một phần xã Huy Giáp và Hưng Đạo ngày nay); xã Thượng Yên (gồm xã Hồng Trị và Hưng Đạo ngày nay, xã Vĩnh Phong và một phần xã Vĩnh Quang của huyện Bảo Lâm ngày nay); xã Yên Lạng (nay gồm các xã Thượng Hà và Bảo Toàn); xã Nặm Quét (nay là xã Cô Ba), xã Cốc Pàng (gồm các xã Cốc Bàng và Đức Hạnh ngày nay); xã Yên Đức (xã Lý Bôn và Vĩnh Quang ngày nay, thuộc huyện Bảo Lâm)
Sau khi Cách mạng tháng Tám - 1945 thành công, dưới sự lãnh đạo của Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh, vùng đất Bảo Lạc tiếp tục có sự thay đổi về mặt hành chính Theo sắc lệnh số 1(20 - 12 - 1946), huyện Bảo Lạc thuộc tỉnh Cao Bằng Đến ngày 27 - 12 - 1975, tại kì họp thứ 2 quốc hội khóa V đã ra quyết định hợp nhất tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn thành tỉnh Cao Lạng, cho nên huyện Bảo Lạc thuộc địa giới hành chính của tỉnh Cao Lạng Tới ngày 29 - 12 -
1978, trong kì họp thứ 4 Quốc hội Khóa VI ra Nghị quyết chia tỉnh Cao Lạng thành hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn, theo đó, huyện Bảo Lạc là một trong 12 huyện và thị xã của tỉnh Cao Bằng Ngày 25 - 9 - 2000, Chính phủ đã ra Nghị định số 52/2000/NĐ - CP, tách 10 xã của huyện Bảo Lạc để thành lập huyện Bảo Lâm
Và hiện nay, huyện Bảo Lạc có các đơn vị hành chính sau: huyện lị đặt tại thị trấn Bảo Lạc, Xuân Trường, Cô Ba, Cốc Pàng, Khánh Xuân, Thượng Hà, Bảo Toàn, Hồng Trị, Hưng Đạo, Huy Giáp, Phan Thanh, Đình Phùng, Sơn Lộ, Hồng An, Kim Cúc (xã mới thành lập năm 2009 – tách ra từ xã Hồng Trị) Huyện Bảo Lâm bao gồm: thị trấn Pắc Miầu, và các xã: Đức Hạnh (xã biên
Trang 19giới), Lý Bôn, Vĩnh Quang, Vĩnh Phong, Tân Việt, Nam Quang, Nam Cao, Quảng Lâm, Thạch Lâm, Thái Học, Thái Sơn, Yên Thổ và Mông Ân
Miền Tây Cao Bằng là vùng đất biên ải của tỉnh Cao Bằng, có địa giới giáp với Trung Quốc, cho nên đây là địa danh luôn gắn liền với chiều dài lịch sử của đất nước, từ thời kì phong kiến phương Bắc đô hộ, trải qua cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mĩ xâm lược cho đến giai đoạn xây dựng Xã hội Chủ nghĩa như hiện nay Với bề dầy lịch sử cùng với truyền thống văn hóa lâu đời còn tồn tại cho đến ngày nay, đã tạo nên những nét đặc sắc trong nếp sống sinh hoạt cũng như đời sống vật chất, tinh thần của người dân địa phương Góp phần tô đậm thêm những mảng màu sắc “dân tộc” cho người Lô Lô
1.3 Người Lô Lô ở miền Tây Cao Bằng
Bảng 1.1: Bảng thống kê các dân tộc ở miền Tây Cao Bằng năm 2009
Trang 20Nam có khoảng 4541 người [17, tr 36] Trong đó, người Lô Lô ở miền Tây Cao Bằng có 2366 người (Xin xem bảng 1)
Theo sử sách cổ của Trung Quốc và Việt Nam, người Lô Lô còn được gọi bằng những tên: Ô Man, Lu Lọc, Mán, La La, Qua La, Di Nhân, Di Già Người Tày, người Nùng, người Giấy gọi người Lô Lô là Pù Mỳa, người Mông gọi là người Ma, người Dao gọi là người Me, người Việt gọi là người Mán Khoanh Còn người Lô Lô tự gọi mình là Màn Dì, Màn Chí, Màn Di…
Người Lô Lô ở nước ta chia làm hai ngành: Lô Lô Đen (Màn Dì No) ở Lũng Cú, Đồng Văn (Hà Giang) (Màn Dì Mân Tê) ở Bảo Lạc (Cao Bằng); Lô
Lô Hoa (Màn Dì Qua) (Màn Dì Pu) ở các xã Xỉn Cải, Mèo Vạc, Thượng Phùng thuộc huyện Mèo Vạc và xã Lũng Táo, Sủng Là thuộc huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang
Lô Lô là một bộ lạc trong nhóm Ô Man mà Tân Đường thư gọi là Lu Lu (âm Hán Việt: Tự Lộc) và Nguyên sử loại biên gọi là Lô Lô (âm Hán Việt: Lỏa
La), hiện nay còn rất nhiều ở Tứ Xuyên và Vân Nam Các nhà sử học và dân tộc học đã nhắc đến việc người nước Nam Chiếu (tổ tiên của người Lô Lô nước ta và người Di, Bạch của Trung Quốc) đã nhiều lần gây khuynh đảo hệ thống cai trị của nhà Đường trên lãnh thổ nước ta các thế kỷ VII – X [15, 16] Xét về mặt lịch sử cũng như tên gọi, người Lô Lô ở Việt Nam có quan hệ mật thiết với người Di ở Trung Quốc Người Di là một dân tộc cư trú ở miền Tây cao nguyên Vân Quý với diện tích rộng lớn khoảng 500 km2 Họ là dân tộc thiểu số có số dân đông nhất miền Tây Nam Trung Quốc, phân bố chủ yếu ở bốn tỉnh: Vân Nam, Tứ Xuyên, Quý Châu và Quảng Tây [6, tr 24] Từ xa xưa người Di đã có quan hệ với người Đế Khương, cũng có ý kiến cho người Di và
Đế Khương có nguồn gốc chung
1.3.2 Quá trình di cư đến địa phương
Theo một số nghiên cứu trước, thì có ba cuộc di cư lớn ở các thế kỉ X, XVI, XVII đưa hàng vạn người Lô Lô vào nước ta [10, tr 5]
Trang 21Năm 937, quốc gia Nam Chiếu do Đoàn Tử Bình cầm đầu đánh chiếm
Cư dân cũ ở đây phần không chịu quy phục, phần bị đánh bại phải đầu hàng hay chạy tản mát về phía Nam để tránh sự khủng bố của người Bạch Có lẽ những người nhóm Lô Lô đầu tiên đã vào Việt Nam ngay từ những thời kì ấy
và có thể còn sớm hơn nữa; song cái mốc mà được nhiều nhà nghiên cứu nhắc đến là vào đời nhà Minh (khoảng thế kỉ XV), do không chịu nổi ách thống trị tàn nhẫn của chính quyền phong kiến, tù trưởng Lô Lô đã cùng dân chúng nổi lên chống lại, sau đó ông ta bị giết Một tù trưởng khác là Lu Ngô Quân đã không chịu hàng phục kéo hơn một vạn quân Lô Lô đi về phía Nam, tới đất Đồng Văn khai phá đất đai dựng bản lập mường [8]
Tới thế kỉ XVII, có khoảng năm, sáu nghìn người dưới sự chỉ huy của thủ lĩnh Khổng Mìn (hay còn gọi là quan Hoàng) đã tìm đường đến khai khẩn đất đai Mèo Vạc Cùng thời gian đó, ở Tây Bắc một tù trưởng Lô Lô đã cầm quân đánh chiếm phần lớn tỉnh Lai Châu Ngoài hai đợt di cư lớn trên, người Lô Lô còn rải rác sang Việt Nam hoặc từ Việt Nam đi ngược lại Trung Quốc vào thời
kì sau Trong kí ức của nhân dân cũng như trong các bài ca, thần thoại và bài cúng đưa hồn người chết, người Lô Lô đều cho rằng Lũng Cú – Đồng Văn là nơi mà họ đặt chân đến đầu tiên Nhóm Lô Lô ở Bảo Lạc (Cao Bằng) cũng từ đây mà di chuyển dần sang
Truyền thuyết của người Lô Lô kể lại rằng: Người Lô Lô có 7 anh em, 3 người rời vùng đất No Pả sang Việt Nam thì một người bị lạc, hai người còn lại tìm tới đất Đồng Văn (Hà Giang) Một người ở lại mảnh đất đó còn người kia đến Bảo Lạc (Cao Bằng) để sinh sống, nay thuộc đất của hai xã Mông Ân và Nam Quang Về sau bị thổ ty người Tày chèn ép nên phải di cư đến các xã miền Đông Bảo Lạc để sinh sống
Như vậy, người Lô Lô có mặt tại vùng Hà Giang và Cao Bằng từ khá sớm, người Lô Lô có niềm tự hào chính đáng được nhận là cư dân đầu tiên đến khai phá đất đai vùng này
Trang 221.4 Khái quát về kinh tế, văn hóa, giáo dục của người Lô Lô
Hiện nay, do sự quan tâm và giúp đỡ của Đảng và Nhà nước về khoa học kĩ thuật, nên người Lô Lô đã biết khai thác đất dốc thành ruộng bậc thang, kết hợp làm nương với ruộng lúa nước Ngoài ra họ đã biết sử dụng các loại nông cụ mới, phân hóa học Cho nên sản lượng lương thực của họ đã tăng nhanh chóng
Do điều kiện tự nhiên tương đối khắc nghiệt, người Lô Lô đã hình thành loại nương xếp đá và thổ canh hốc đá Do đất đai canh tác khan hiếm, họ đã cần mẫn nhặt từng hòn đá, kè thành những bờ nương giữ đất trồng trọt Trải qua nhiều thế hệ, họ đã biến những khoảnh đất hoang hóa thành nương rẫy để trồng lúa, ngô và nhiều loại cây trồng khác Bên cạnh hai loại cây trồng chính là ngô
và lúa, người Lô Lô còn thâm canh một số loại cây trồng, trong đó có tam giác mạch Đất trồng loại cây này là những khoảnh nương cao, nương xấu bạc màu, nương hốc đá Công việc chuẩn bị đất đơn giản hơn so với trồng ngô và lúa Gia đình nào có điều kiện thì cày vỡ một lần trước Tết Nguyên đán hoặc đến tháng 2 cày xáo đất rồi bừa tơi, san phẳng, nhặt sạch cỏ rác và trồng luôn Họ trộn lẫn mạch với phân chuồng, vãi đều như gieo mạ khắp nương, hoặc dùng cuốc mổ hốc, hốc cách hốc, hàng cách hàng 20cm, nếu ở nương bằng họ dùng cày chia thành từng rãnh và tra hạt rồi lấp đất Chu kỳ sinh trưởng của tam giác mạch ngắn ngày hơn so với ngô và lúa, thường chỉ trồng sau 3 tháng (từ tháng 2 đến tháng 4) là thu hoạch Đây là giống cây trồng khỏe, sinh trưởng nhanh, chu kỳ phát triển ngắn, lại được trồng chủ yếu ở những nương đất xấu, hoặc thổ canh hốc đá nên cỏ ít có điều kiện phát triển Do vậy, từ khi gieo trồng cho đến khi
Trang 23thu hoạch, hầu như không phải làm cỏ Khi thu hoạch dùng liềm và dao cắt sát gốc, đập rụng hạt vào thùng gỗ tại nương giống như thu hoạch lúa Thân cây để khô đốt thành tro làm phân bón cho nương Sau khi thu hoạch, mạch được gác trên sàn bếp và được chế biến dần thành món mèn mén truyền thống Đậu Hà Lan, răng ngựa, khoai lang cũng được trồng phổ biến ở đây Cây dong riềng cũng là một loại cây trồng có mặt rất sớm trong đời sống của người Lô Lô, thường được trồng ở nương thổ canh hốc đá để lấy củ
Bên cạnh trồng trọt, người Lô Lô còn chăn nuôi để tăng thêm thu nhập Trước kia, đối với các loại gia súc, gia cầm, họ thường thả rông, không làm chuồng trại, đến đêm thì cột vào khu vực gần nhà hoặc gầm nhà sàn Các giống vật nuôi chính là: Ngựa, trâu, bò, dê, lợn, gà, vịt… Tuy nhiên ngày nay họ đã biết nuôi lợn nhốt, vừa hạn chế được dịch bệnh đồng thời hạn chế việc gia súc, gia cầm phá hoại các loại cây trồng Đồng thời, họ sử dụng nguồn phân gia súc, gia cầm này để trồng trọt Hàng ngày họ gom số phân tơi ở chuồng trâu, bò, lợn, gà vào một nơi dự trữ, khi nào cần chăm bón thì đập tơi và sàng kỹ rồi đem bón cho cây trồng Chính vì vậy, chăn nuôi đang dần trở thành nguồn thu nhập chính của các gia đình người Lô Lô Họ đã biết mua bán, trao đổi các loại gia súc, gia cầm để tăng thu nhập cho gia đình
Bên cạnh đó, đã hình thành giao lưu buôn bán giữa các thành viên trong cộng đồng làng bản, giữa các dân tộc láng giềng với nhau hoặc đã biết buôn bán trao đổi sản phẩm với các địa phương lân cận
Nhưng nhìn chung đời sống của người Lô Lô còn ở mức thấp và lạc hậu
1.4.2 Về văn hóa, giáo dục
Nhà ở của người Lô Lô chủ yếu là nhà sàn và gần giống với nhà của người Mông và người Tày, nhưng bàn thờ của người Lô Lô khác với người Mông và Tày, đó chính đặc điểm dễ nhận biết nhà ở của người Lô Lô Nhà ở của họ có 3 loại nhà: nhà sàn, nhà đất và nhà nửa sàn nửa đất
Trang 24Nguyên vật liệu để làm nhà gồm có: Gỗ để làm cột kèo, ván hoặc tre để đan vách, cây mai hoặc cây tre để làm dui, gianh hoặc ngói để lợp… Thông thường nhà thường có năm gian và bốn mái Nhà có một cửa chính mở ở gian giữa, trước cửa có sàn để phơi thóc, hoặc để phơi quần áo Cách bố cục trong nhà bao gồm: bàn thờ nhà ma đặt ở sát vách ở gian giữa, gian phải bàn thờ là buồng ngủ và bếp lửa để sưởi ấm Gian trái đặt lò bếp, để gia cụ và công cụ lao động Những gia đình đông người, họ phải bố trí buồng ngủ cho một số thành viên ở gian này Bàn thờ khoan li – nơi linh thiêng nhất của mỗi gia đình cũng được đặt ở gian trái Trừ chủ nhà ra không ai được phép lui tới hoặc quét dọn nơi thờ cúng ấy Đối với bàn thờ ma nhà, đồng bào kiêng không được để đồ uế tạp lên Trên bàn thờ có ống cắm hương, nếu nhà nào có thầy mo thì có bàn thờ riêng bên cạnh bàn thờ chính, phía bên phải của bàn thờ chính có chỗ thờ những người chết bất đắc kì tử trong gia đình hoặc dòng họ mình Ví dụ: nhà ở của người Lô Lô ở xã Cô Ba (Bảo Lạc) là nhà sàn từ ba đến năm gian lợp ngói hoặc lợp gianh, tùy theo điều kiện từng gia đình cột có thể kê đá tảng, xuyên
xà, trong nhà được ngăn làm nhiều buồng Người Lô Lô ở đây đi ngủ ít mắc màn vì theo họ khi làm nhà đã tìm được ngày tốt để dựng nhà nên ít hoặc không có muỗi [33, tr 36]
Đồ đạc trong nhà rất đơn giản, thường chỉ có bàn, ghế gỗ, chiếu, hòm đựng quần áo, đèn dầu Rất ít nhà có tủ, mỗi nhà đều có một cái chạn bát Chỗ ngủ của người Lô Lô được quy định rất chặt chẽ, không ai được xâm phạm chỗ ngủ của người khác nhất là buồng ngủ của cô dâu Những người khách và con trai chưa vợ cùng với ông già ngủ ở gian giữa Nhưng họ kiêng không được nằm chính giữa bàn thờ, chân không quay vào bàn thờ Người có vợ có chồng thì quay buồng ở hai gian bên cạnh, lương thực để trên gác Cũng giống như các dân tộc khác, họ để trâu bò dưới sàn Nhưng ngày nay đã hạn chế dần, trâu
bò được ở tại các chuồng trâu, bò nằm cách xa nhà
Trang 25Trang phục của người Lô Lô rất đặc sắc và độc đáo Về cơ bản người Lô
Lô Hoa và Lô Lô Đen trang phục đều giống nhau, chỉ khác nhau là ở nơi phụ
nữ mặc áo cổ vuông chui đầu, nơi mặc áo cổ tròn xẻ ngực Kỹ thuật tạo dáng áo của phụ nữ nơi thân áo rộng thẳng, tay áo rộng Nơi thân áo phía dưới thu nhỏ, tay áo hẹp
Một bộ trang phục đầy đủ của của phụ nữ Lô Lô Đen gồm có: khăn đội đầu, áo, quần, xà cạp, túi đựng trầu, vòng cổ, đôi hài, nón đội đầu Phụ nữ Lô
Lô Đen mặc quần hai ống rộng dưới bó, trên vùng eo lưng thắt lại bằng chất liệu vải thô tự dệt nhuộm chàm pha củ nâu để giữ màu đen tím lâu phai Áo cũng bằng vải chàm mang một sắc thái riêng, áo ngắn bó sát thân được thêu bằng chỉ màu đỏ viền vải xanh lá mạ cuốn quanh thân chính vòng, cánh tay áo dài hơn thân áo được thêu bảy vòng vàng, xanh và đỏ, cúc áo bằng đồng nhỏ như hạt ngô có 5 cúc, lỗ khuya bằng vải khâu nối Dọc đường khuy áo là 2 viền sọc đỏ xanh Lưng áo dệt một miếng thổ cẩm hoa văn vuông màu đen trắng rộng chừng một bàn tay dài từ cổ áo đến hết gấu áo, mép viền gấu áo là một sợi vải rộng khoảng 1cm, 2 màu đỏ và xanh thít chặt vùng bụng trên Quấn quanh vùng eo là một miếng vải chàm nhuộm màu đen rộng khoảng 60 cm gấp đôi lại Khăn đội đầu gọi là mũ có ba lớp vài chàm trắng bên trong - hai khăn màu chàm xếp quấn hai vòng bên ngoài Tất cả là do bàn tay khéo léo của người phụ nữ cắt, khâu Riêng chiếc áo, đó là một nghệ thuật tạo hình Áo ngắn hở bụng nhưng lại bó gọn lại đôi “bồng đào”, dù có lao động hăng say nặng hay nhẹ áo vẫn bó gọn thân hình thon thả đẹp Ngày nay phần bụng hở được mặc thêm một áo lót mỏng màu trắng hồng hoặc xanh da trời bằng vải phin (Ngày xưa là phin này có thể pha thêm nilon)
Về tổng thể, một bộ nữ phục của người Lô Lô Hoa gồm có khăn đội đầu,
áo, quần, quần yếm, thắt lưng, xa cạp Trang phục của phụ nữ người Lô Lô Hoa gần giống Lô Lô Đen, tuy nhiên trang phục nhiều màu sắc hơn, áo dài quá thân, khăn đội xếp nhiều lớp hình vuông được trang trí hoa văn sặc sỡ
Trang 26Đàn ông Lô Lô Hoa cũng giống đàn ông Lô Lô Đen, họ mặc quần hai ống rộng bằng vải chàm đen, phần trên quấn quanh bụng là phần nối khoảng 20 cm bằng vải chàm không nhuộm, nhưng áo khác nhau đôi chút
Tóm lại, y phục của người Lô Lô khá công phu và độc đáo Có thể coi đó
là một tác phẩm nghệ thuật
Ngôn ngữ của người Lô Lô có chữ viết riêng theo vần Trước kia chữ viết của họ là chữ tượng hình, nhưng ngày nay không dùng nữa Khoảng thế kỉ XIV, người Lô Lô đã có chữ tượng hình với 140 bộ thủ Người ta dùng phương pháp ghép bộ thủ để diễn đạt nghĩa Chữ được ghi trên các tấm gỗ mỏng, trên
da thú hoặc giấy giày dày, thô Tới nay chỉ có một số gia đình còn giữ lại được một vài mảnh có ghi lại loại chữ đó mà ít ai đọc được
Văn hóa dân gian của người Lô Lô đa dạng, đặc sắc – được thể hiện qua các điệu múa, câu hát, truyện cổ… Lịch của họ chia làm 12 tháng, mỗi tháng tương ứng với một con vật Ngày nay, người Lô Lô còn gìn giữ được những bộ trống đồng – đây là loại nhạc cụ truyền thống nổi tiếng của họ, do tộc trưởng cất giữ cho dòng họ, bảo quản bằng cách chôn xuống đất Trống đồng của người Lô Lô là nhạc cụ chỉ dùng trong nghi lễ chôn người đã khuất Trống đồng là tài sản của từng dòng họ Khi có người trong dòng họ qua đời, người
Lô Lô sẽ dùng 3 cặp trống, mỗi cặp có một trống đực và một trống cái để thực hiện nghi lễ chôn cất Vì tập quán kiêng kỵ dùng trong đám ma nên trống đồng thường để ở bên ngoài nhà Trước đây, vì cuộc sống vất vả nên người Lô Lô thường phải di cư liên tục, nhưng đi đâu họ cũng mang theo những chiếc trống Người Lô Lô quan niệm, nếu không có tiếng trống đồng dẫn đường thì hương hồn của người quá cố không thể về với tổ tiên được Trống đồng với âm hưởng trầm vang đã đi sâu vào tình cảm, phong tục và dân ca của người Lô Lô
Bên cạnh đó, nghệ thuật dân gian của người Lô Lô cũng rất độc đáo Đặc biệt là những bài dân ca Cuộc sống sinh hoạt về vật chất hay tinh thần
từ dĩ vãng xa xưa đến các giai đoạn lịch sử gần đây đều được thể hiện qua
Trang 27các bài dân ca Chúng thể hiện vũ trụ quan tối thiểu của người Lô Lô, ca ngợi tinh thần đấu tranh chống thiên nhiên mãnh liệt giành quyền sống, hàng loạt bài ca lao động chan chứa lòng yêu đời, ghi lại những truyền thống lao động cần cù đáng quý…
Lễ hội dân tộc Lô Lô là một trong những hình thức sinh hoạt văn hoá tinh thần đặc biệt có nguồn gốc rất lâu đời của cộng đồng tộc người này Nó đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống tinh thần của người Lô
Lô Lễ hội truyền thống trong tộc người Lô Lô là sự tổng hoà giữa tôn giáo tín ngưỡng và văn hoá nghệ thuật, giữa tinh thần và vật chất, vừa linh thiêng, vừa đời thường Vì thế, mỗi cá nhân trong cộng đồng đều có ý thức, có trách nhiệm tham gia lễ hội như bổn phận, như nghĩa vụ đối với thần linh, tổ tiên và dòng tộc Mỗi lễ hội lại có những bài ca, những làn điệu, những loại nhạc cụ, những điệu múa riêng - thể hiện những câu chuyện, những truyền thuyết khác nhau của tộc người này Có thể kể tên một số lễ hội tiêu biểu của người Lô Lô như: Lễ hội cầu mưa, Lễ tế trời đất, Lễ rước thần, Lễ rước đuốc, Lễ mừng lúa mới
Về giáo dục, bên cạnh việc phát triển kinh tế, Đảng và Nhà nước cũng quan tâm đến chất lượng giáo dục, tuy nhiên do đời sống còn gặp nhiều khó khăn, cơ sở vật chất còn thiếu cho nên trình độ học vấn của người Lô Lô ở miền Tây Cao Bằng còn nhiều hạn chế
Theo số liệu thống kê, năm 1979, số người Lô Lô ở Cao Bằng từ 6 tuổi trở lên của cả tỉnh Cao Bằng là 1057 người (nữ: 547 người) [17, tr 145] Trong đó
số người biết chữ không nhiều như thống kê ở bảng sau:
Bảng 1.2: Trình độ học vấn của người Lô Lô ở Cao Bằng
Nguồn: Dân tộc Lô Lô ở Việt Nam [6, tr 145]
Trang 28Như vậy, trình độ học vấn và mặt bằng dân trí của người Lô Lô còn thấp,
số người không biết chữ chiếm tới 92,7 % trên tổng số người đến độ tuổi đi học; trong đó số người trình độ học vấn phổ thông chỉ chiếm 7,19 % trên tổng
số người đến độ tuổi đi học Đặc biệt, ở nữ giới, số người biết chữ và có học vấn không nhiều
Năm học 1999 – 2000, theo điều tra tại trường Tiểu học Hồng Trị (Bảo Lạc) có học sinh thuộc 6 dân tộc theo học (Tày, Mông, Dao, Sán Chí, Nùng,
Lô Lô) với tổng số 798 học sinh, thì số người Lô Lô đang học tập tại trường
có 166 học sinh (nữ 66) chiếm 20,8% [17, tr 146] Khối lớp 1, có 72 học sinh người Lô Lô, khối lớp 5 thì không có học sinh người Lô Lô nào Càng lên lớp cao, số người Lô Lô càng giảm dần Năm 2000, ở xã chỉ có duy nhất 1 người tốt nghiệp lớp 12, còn lại trình độ học vấn cao nhất là 7/12 hệ Bổ túc văn hóa [6, tr 147]
Bảng 1.3: Số người đi học của người Lô Lô ở huyện Bảo Lạc năm
Nguồn: Dân tộc Lô Lô ở Việt Nam [6, tr 149]
Ở xã Đức Hạnh (huyện Bảo Lâm) – nơi tập trung đông người Lô Lô tụ cư – chưa có người Lô Lô nào tốt nghiệp sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học [38] Theo như những thống kê trên, cho thấy người Lô Lô ở miền Tây Cao Bằng cần được quan tâm hơn nữa về việc nâng cao dân trí và trình độ học vấn Bởi cuộc sống tuy được cải thiện phần nào, nhưng dường như vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn, giao thông đi lại còn hạn chế, cơ sở vật chất – trang thiết bị trường học còn thiếu thốn, số lượng giáo viên không nhiều Đó những bước cản cho con đường đi tới tri thức của người Lô Lô ở miền Tây Cao Bằng
Trang 29Tiểu kết
Như vậy, khu vực miền Tây Cao Bằng – nơi có điều kiện tự nhiên vô cùng khắc nghiệt, đường giao thông đi lại khó khăn đời sống của người dân còn nhiều thiếu thốn Nhưng những người dân tộc thiểu số nơi đây, trong đó người Lô Lô tụ
cư chiếm tỉ lệ lớn nhất trên cả nước, vẫn lưu giữ, bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa của tộc người mình
Bằng nhiều các thức khác nhau, người Lô Lô di cư đến vùng đất miền Tây của tỉnh Cao Bằng, tụ cư và sinh sống thành các làng bản Họ sinh sống chủ yếu nhờ vào phát triển ngành trồng trọt và chăn nuôi Do còn nhiều thiếu thốn về cơ
sở vật chất và trình độ canh tác còn yếu kém, nên mức sống của họ vẫn ở mức độ thấp Tuy vậy, đời sống văn hóa của họ lại rất phong phú và đa dạng, trong đó trang phục là nét văn hóa vật thể nổi bật Mỗi một bộ trang phục thể hiện sự khéo léo của bàn tay và khối óc sáng tạo của người Lô Lô để tạo nên vẻ đẹp trong y phục của người Lô Lô
Trang 30Hình thức gia đình phổ biến của người Lô Lô ở miền Tây Cao Bằng là gia đình một vợ một chồng Số người trong gia đình khoảng từ 2 đến 10 người, số gia đình chỉ có 1 người (hộ độc thân) rất ít hoặc từ 10 người trở lên không nhiều
Có thể phân chia các hình thức gia đình thường thấy của người Lô Lô như sau: + Gia đình hai thế hệ gồm một cặp vợ chồng cùng con cái chưa xây dựng gia đình (1)
+ Gia đình gồm một cặp vợ chồng cùng con cái chưa xây dựng gia đình
Trang 31Bảng 2.1: Các loại hình gia đình của người Lô Lô ở huyện Bảo Lâm
Hình thức gia đình (1) (2) (3) (4) Tổng cộng
Nguồn: Phòng thống kê huyện Bảo Lâm [38]
Qua khảo sát của tác giả, có thể thấy ở huyện Bảo Lâm tỉ lệ giữa các loại gia đình chênh lệch nhau không đáng kể Tuy nhiên loại gia đình gồm vợ chồng
và con cái chưa lập gia đình vẫn chiếm số lượng nhiều hơn các loại gia đình khác Đây cũng chính là kiểu gia đình phổ biến - đang được áp dụng ở hầu hết các gia đình của người Lô Lô nói riêng và người Việt Nam nói chung
Theo khảo sát ở miền Tây Cao Bằng, số hộ gia đình chỉ có 1 thành viên chiếm tỉ lệ rất ít:
- Ở xã Đức Hạnh (huyện Bảo Lâm) có 4 hộ gia đình chỉ có 1 thành viên: Châu Văn Phiên, Chu Thị Suệ (xóm Cà Pẻn A); Cha Văn Vàng (Cà Đổng); Tô Văn Khỏe (Cà Mèng) [38]; Ở xã Hồng Trị (huyện Bảo Lạc): Na Văn Khín, Na Thị Sính (xóm Nà Van) [37]
Số hộ gia đình mà có từ 10 thành viên trở lên chiếm số lượng không nhiều:
- Ở xã Đức Hạnh (huyện Bảo Lâm): Nà Văn Hai (xóm Cà Pẻn A), Tô Văn Quang (xóm Cà Pẻn B) có 10 thành viên; Cha Văn Long (xóm Cà Đông) có 11 thành viên; Nông Văn Tấn (xóm Cà Mèng) có 12 thành viên [38]
- Ở xã Cô Ba (huyện Bảo Lạc): Quan Văn Hèn (xóm Nà Lùng,) [37]
- Ở xã Hồng Trị (huyện Bảo Lạc): Lý Văn Thiền (xóm Khau Chang), Chung Văn Sô (xóm Cốc Xả Trên), Lý Văn Tiển (xóm Nà Van) có 10 thành viên [37] Trong gia đình của người Lô Lô đều có sự tương quan giữa giới tính nam và
nữ Ở xã Đức Hạnh (Bảo Lâm) có 995 người Lô Lô, trong đó 499 nữ; 496 nam [38] Khảo sát 10 hộ gia đình người Lô Lô ở xóm Khau Cà, xã Hồng Trị như sau:
Trang 32Bảng 2.2: Nhân khẩu chi tiết ở 10 hộ gia đình ở xóm Khau Cà, xã Hồng Trị, huyện Bảo Lạc năm 2009
Nguồn: Phòng thống kê huyện Bảo Lạc [37]
Theo những số liệu nêu trên, người Lô Lô ở miền Tây Cao Bằng có số nam
và nữ tương đương nhau trong một gia đình Theo đó, các thành viên trong gia đình sẽ có sự phân công lao động hợp lí, tương trợ lẫn nhau để hoàn thành các công việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt Những người đàn ông sẽ là người chủ gia đình - thực hiện những công việc lớn của gia đình, còn những người phụ nữ sẽ
có trách nhiệm vun vén gia đình và nuôi dạy con cái
Người Lô Lô sau khi lập gia đình thì cư trú bên nhà chồng và mang tính chất phụ quyền Người Lô Lô chủ yếu kết hôn trong đồng tộc Tuy nhiên, đã có một số trường hợp người Lô Lô kết hôn với người khác dân tộc cùng cộng cư: Mông, Kinh, Tày Cụ thể, ở xã Hồng Trị (Bảo Lạc) có 1 nam người Lô Lô lấy
vợ người Kinh, 2 nữ người Lô Lô lấy chồng người Kinh [17, tr 39]; hầu hết những người Lô Lô lấy vợ hoặc chồng là người khác dân tộc đều do đi công tác,
bộ đội, đi làm ăn xa nhà Tuổi kết hôn thường là 13 - 14, tuy họ lập gia đình từ rất sớm nhưng từ xưa đến nay rất ít cặp vợ chồng bỏ nhau Phong tục kết hôn của người Lô Lô khá đặc sắc, thể hiện bản sắc văn hóa tộc người rất rõ nét Cụ
Trang 33thể, ở xã Cô Ba (Bảo Lạc), thanh niên nam nữ sau khi được tự do tìm hiểu, đến giai đoạn nhất trí, đồng lòng xây dựng gia đình thì sẽ báo cáo cho bố mẹ biết, sau đó bố mẹ bên nhà trai đến hỏi ý kiến của nhà gái, nếu nhà gái nhất trí sẽ tổ chức lễ ăn hỏi, năm sau tổ chức cưới Khi cưới nhà trai lo lễ vật đến nhà gái gồm: tiền mặt 2.000.000 đồng, thịt lợn 80 kg, gạo tẻ + gạo nếp 80 kg, rượu 80 lít
và thù lao cho ông đi đưa gọi là tả slống 12 kg thịt lợn, 12 kg gạo, 12 lít rượu
[33, tr 36] Trong đám cưới họ hàng đến dự có thể mang tặng những vật kỷ niệm cho cô dâu như: chiếu, chăn chiên, màn, ấm chén… Trường hợp nếu có bố nuôi phải cho con gái một con gà Lệ tục của người Lô Lô rất nghiêm khắc đối với các trường hợp hủ hóa, ngoại tình Điều này chứng tỏ chế đọ hôn nhân một vợ một chồng được người Lô Lô duy trì khá bền vững
Như vậy, trong việc kết hôn của người Lô Lô chứa đựng nhiều nét văn hóa truyền thống đặc sắc của tộc người mình Gia đình là cái gốc của xã hội, từng thành viên là hạt nhân gắn kết gia đình lại Chính vì vậy, trong mỗi gia đình đều có những nguyên tắc nhất định nhằm mục đích thể hiện tôn ti trật tự của gia đình
Trong gia đình của người Lô Lô, khi vào bữa ăn họ thường ngồi quây quần cùng mâm, rất ít trường hợp tách ra thành nhiều mâm Nơi để bày mâm trong nhà có thể ở cạnh bếp, nhưng thường ở gian chính ngay chỗ gần bàn thờ Nếu trong nhà chỉ có một đôi vợ chồng cùng các con chưa xây dựng gia đình thì bố phải ngồi ở hàng trên tiếp giáp bàn thờ, còn các thành viên khác được ngồi tùy ý chỗ nào cũng được Nếu như trong nhà có nhiều người cùng ăn thì hàng trên ở phía gần bàn thờ là nơi ngồi của ông, bố và các con trai lớn tuổi, hàng ở phía dưới giáp với bếp là nơi ngồi của bà, mẹ, con dâu thứ, hàng ở dưới giáp với cửa chính là nơi ngồi của trẻ con, hàng còn lại là nơi ngồi của con dâu cả và các con gái đã có chồng Như vậy, chỉ trong quy tắc vị trí ngồi ăn giữa các thành viên trong gia đình, ta đã thấy người đàn ông của người Lô Lô được coi trọng và có thứ bậc cao trong gia đình
Trang 34Ngoài ra, phòng ngủ của các thành viên trong gia đình cũng được quy định
cụ thể và có quy tắc Ở gia đình hai thế hệ gồm một cặp vợ chồng và con cái còn nhỏ, họ chỉ bố trí một chỗ hay đặt một chiếc giường ngủ ở trong buồng nơi gần bếp sưởi và chỗ này mãi mãi sẽ là nơi ngủ của vợ chồng gia chủ Người Lô Lô
có kiêng kị: bố đẻ không được vào buồng ngủ của các cô con gái đã lớn tuổi, những người con gái đã đi lấy chồng thì không được vào buồng ngủ của anh em trai đã có vợ Bởi vì, theo họ nếu không làm theo đúng nguyên tắc trên thì gia đình sẽ làm ăn không thuận buồm xuôi gió, bị người đời chê cười
Việc tổ chức sản xuất phân công lao động trong gia đình thực hiện theo nguyên tắc tuổi - giới khá rõ ràng Người đàn ông (người cha, người chồng ) là chủ và trụ cột trong gia đình, họ luôn sắp đặt mọi công việc trong gia đình và là người lo toan những công việc nặng nhọc, những việc lớn Người đàn ông là người chủ trì các nghi lễ cúng tổ tiên của gia đình và tham gia các nghi lễ của dòng họ cũng như làng bản Khi cha mẹ qua đời, người đàn ông điều hành tang
lễ Họ cũng là người giải quyết các vấn đề nảy sinh trong gia đình mình và các vấn đề ngoại giao ở bên ngoài xã hội Ngược lại, người phụ nữ (người mẹ, người vợ ) có vai trò quản lý chi tiêu, lo việc ăn uống, may mặc và chăm sóc các thành viên trong gia đình Khảo sát tại gia đình ông Lý Văn Vàng ở bản Khau Chang, xã Hồng Trị, huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng; Gia đình ông gồm có
5 thành viên, trong đó có 2 nam và 3 nữ Theo đó, sự phân công lao động của gia
đình ông cụ thể như sau
Bảng 2.3: Phân công lao động tại gia đình ông Lý Văn Vàng
Trang 35Cắt lúa x x x
Nguồn: Dân tộc Lô Lô ở Việt Nam [6, tr 121] Qua biểu trên, ta thấy rằng, người Lô Lô ở đây đã có sự phân công lao động rõ ràng và có sự giúp đỡ lẫn nhau trong các công việc nhà cũng như trong sản xuất Công việc làm vườn chủ yếu dành cho người lớn tuổi nhất, nam giới
và người già đảm nhiệm, còn người phụ nữ ít quan tâm đến vườn tược hơn vì
họ phải dành thời gian vào làm nương và chăm sóc con cái, nội trợ gia đình Tính chất phụ quyền của người Lô Lô còn được thể hiện rõ trong việc phân chia tài sản thừa kế Người con nào ở với bố mẹ sẽ hưởng tài sản nhiều hơn Thông thường, bố mẹ ở với con trai cả, nhưng cũng nhiều khi ở với con trai thứ hoặc út Việc thờ tự và bảo quản trống đồng thường được giao cho con trai cả; ruộng nương trâu bò… chia đều cho các con trai Con gái không được chia tài sản, mà chỉ được hưởng của hồi môn khi đi lấy chồng Trường hợp không có con trai, tài sản để lại cho con nuôi Nếu không có con nuôi thì để lại cho các
Trang 36Người Lô Lô cũng giống như một số dân tộc (Kinh, Tày…) luôn đề cao vai trò của người đàn ông, người con trai trong gia đình Người phụ nữ dần dần cũng thể hiện được vai trò trong gia đình - xã hội, tuy nhiên vẫn mang tính chất giúp việc cho người đàn ông, họ chưa khẳng định vai trò quan trọng trong gia đình khi giải quyết các công việc trọng đại
Trong một gia đình, người Lô Lô rất kính trọng những người lớn tuổi Đồng thời con cái cũng rất hiếu thảo với cha mẹ Điều này được thể hiện rõ qua phong tục của người Lô Lô ở huyện Bảo Lạc (Cao Bằng) trong việc mừng thọ cho những người lớn tuổi trong gia đình Trong đời người, lễ mừng thọ rất được chú trọng và tổ chức vào các tuổi 59, 61, và 73 Theo quan niệm của người Lô Lô, những tuổi trên thường có hạn, nên họ tổ chức mừng thọ để giải hạn Lễ mừng thọ thường do các con trai chịu trách nhiệm tổ chức Bên cạnh lễ mừng thọ thì lễ sinh nhật cũng được tổ chức vào một số độ tuổi nhất định Họ thường tổ chức lễ sinh nhật vào các tuổi 13, 25 và 37 – đây là cái tuổi được cho
là đánh dấu các bước trưởng thành của một đời người
Theo phong tục của người Lô Lô, quan hệ giữa bố chồng và con dâu có nhiều điều kiêng kỵ Chẳng hạn: bố chồng và con dâu không được ngồi nói chuyện với nhau, nhất là khi chỉ có hai người trong nhà, bố chồng không được vào buồng con dâu, con dâu không được ngồi đối diện với bố chồng… Đặc biệt, trước kia người Lô Lô cấm đoán phụ nữ không được ăn thịt lợn, thịt gà, chỉ được ăn thịt trâu, bò, hươu, nai mà những loại này lại ít khi có, cho nên trước kia họ suốt đời chỉ biết có ăn rau [8]
Người Lô Lô ở miền Tây Cao Bằng coi gia đình là nhân tố quan trọng trong một chỉnh thể xã hội Mỗi một gia đình tồn tại những tôn ti trật tự nhất định, đấy chính là quy tắc để mọi thành viên trong gia đình làm theo Tạo nên nếp sống gia đình quy củ, vợ chồng hòa thuận, người dưới kính trọng người trên, con cái hiếu thảo với cha mẹ
2.1.2 Tổ chức dòng họ
Dòng họ là một hiện tượng lịch sử - văn hóa mang tính phổ quát, xuất hiện từ lâu trong nhân loại và tồn tại ở mọi nền văn hóa
Trang 37Có nhiều quan niệm khác nhau về định nghĩa dòng họ: Nguyễn Từ Chi quan niệm: “Họ, quá lắm cũng chỉ có thể xem là một dạng đặc biệt của gia đình
mở rộng, mà tác dụng chính đối với các thành viên của nó (tức là các gia đình nhỏ hợp thành nó) là tạo ra một niềm cộng cảm dựa trên huyết thống” [5, tr 253]; Phan Đại Doãn viết: “Theo nghĩa rộng thì dòng họ, ngoài mối liên hệ ngang lại có mối liên hệ dọc đứng đến chín đời (cửu tộc), ngoài ra còn có quan
hệ nội ngoại, nhưng huyết thống bên nội là quan hệ quyết định nhất [7, tr 27] Theo đó, về cơ bản, dòng họ là một thiết chế xã hội đặc biệt gắn bó với nhau bởi quan hệ huyết thống do khởi sinh từ một thủy tổ Trong mối quan hệ đồng huyết này, các cá nhân bao gồm cả người đang sống và người đã chết đều mang tộc danh về phía bố Chỉ mang tộc danh về phía bố nên người Việt thường coi trọng họ nội Tuy nhiên, chính mối quan hệ quan trọng nhất - mối quan hệ huyết thống đó đã khiến dòng họ người Việt Nam hình thành hàng loạt mối quan hệ khác: quan hệ kinh tế với chế độ lưu giữ và trao truyền gia sản, quan hệ tín ngưỡng thờ tổ tiên mà trước hết là thờ thủy tổ, quan hệ cộng đồng của các thành viên cùng sống trong một thiết chế xã hội được tổ chức theo nguyên tắc luân lý…
Giống các dân tộc khác sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam - Người Lô
Lô ở miền Tây Cao Bằng sống theo từng bản với nhiều dòng họ khác nhau Theo tiếng Lô Lô dòng họ có nơi được gọi là “sía hộ”, có nơi gọi là “chẩu” (huyện Bảo Lạc)
Cũng như người dân tộc Mông, Tày, xã hội Lô Lô trước ngày giải phóng
có sự phân hóa giai cấp sâu sắc, người dân nơi đây chịu sự áp bức giai cấp đồng thời còn bị chèn ép bởi chính sách chia rẽ dân tộc tàn bạo của bọn thực dân Bị áp bức bóc lột nặng nề cộng với những lệ tục lạc hậu, dân tộc Lô Lô cứ
bị mai một dần Việc cư trú thành những chòm bản đơn độc giải rác dọc biên giới ngày nay và việc tồn tại nhiều dòng họ, mỗi dòng họ chỉ có vài ba nóc nhà thậm chí chỉ một gia đình đơn độc có lẽ phần nào nói lên tình trạng ấy Người
Lô Lô ở huyện Bảo Lạc kể rằng: trong các dòng họ Lô Lô ở đây chỉ có họ Chi
là tên gọi của dòng họ mình
Trang 38Hiện nay, trong quá trình cộng cư, người Lô Lô có rất nhiều dòng họ như thống kê của tác giả ở bảng sau:
Bảng 2.4: Số nhân khẩu của các dòng họ ở huyện Bảo Lâm
STT Dòng họ Số nhân khẩu Tỉ lệ so với toàn bộ số
Trang 39chính là kết quả của việc cộng cư và giao thoa giữa người Lô Lô với các dân tộc lân cận khác Chẳng hạn như họ Nguyễn, Giàng, Vừ…
Ngoài ra, các dòng họ của người Lô Lô còn thường tập trung sinh sống ở một địa phương nhất định Ví dụ, họ Chi tập trung chủ yếu ở xã Kim Cúc (huyện Bảo Lạc), họ Lang tập trung đông nhất ở xã Hồng Trị (huyện Bảo Lạc) Theo số liệu thống kê, ở xóm Khuổi Khon, xã Kim Cúc có tất cả 52 hộ gia đình bao gồm các dòng họ: Chi, Na, Pâu, Phùng, Dương Trong đó dòng
họ Chi ở đây có 25 hộ gia đình, chiếm 48 % tổng số hộ gia đình ở xóm Khuổi Khon [38] Đặc biệt, dòng họ Chi ở xã Kim Cúc tập trung tất cả các thành viên ở xóm Khuổi Khon, còn những xóm còn lại trong xã không có hộ gia đình họ Chi nào sinh sống
Chứng tỏ rằng, người Lô Lô có tính cố kết dòng tộc rất cao Khi cả dòng
họ cùng chung sống trong một địa phương, họ sẽ dễ dàng giúp đỡ nhau trong lao động sản xuất, sinh hoạt thường ngày cũng như khi gia đình, dòng họ có việc lớn, hay nhân dịp lễ, tết
Dòng họ của người Lô Lô theo chế độ phụ hệ, bao gồm các thành viên
có cùng huyết thống trong vòng từ 4 đến 5 đời Mỗi dòng họ chia thành những tông tộc nhỏ Những gia đình cùng tông tộc thường ở chung một bản, cùng thờ tổ tiên duy khế và có một bộ trống đồng Tuy nhiên người Lô Lô ở
xã Hồng Trị (Bảo Lạc) không xây dựng nhà thờ và lập gia phả họ [33, tr 74] Đứng đầu mỗi họ là trưởng họ (theo tiếng Lô Lô: trăng phắng, thầu chư, trương chua) Trưởng họ là những người nhiều tuổi, thuộc ngành trưởng, có nhiệm vụ trông coi toàn tông tộc, giữ gìn lề thói phong tục cho dòng họ mình Trưởng họ theo tục cha truyền, con nối; trưởng họ là người thay mặt cả họ trong việc cúng tế dòng họ, cúng bái đám ma, đám cưới cho các thành viên trong dòng họ cũng như giải quyết các xung đột trong dòng họ và giao thiệp với các họ khác trong thôn Do vai trò của trưởng họ rất quan trọng, nên họ được cả dòng họ quý mến, kính nể Tuy nhiên, trong các công việc quan
Trang 40trọng, đặc biệt là khi tổ chức thờ cúng tổ tiên, họ vẫn phải bàn bạc và có sự thống nhất của những người lớn tuổi trong dòng họ Ngoài ra, trưởng họ cũng
là người chỉ đạo việc lao động sản xuất trong khu vực canh tác riêng của dòng
họ mình, các thành viên khác cùng hưởng lợi chung từ thành quả lao động trên mảnh đất đó Các thành viên trong một dòng họ cùng gắn bó với nhau khá chặt chẽ bằng những quan hệ huyết thống và có sự quan tâm giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống hàng ngày Đối với những dòng họ lớn ở trong bản, trưởng họ của dòng họ ấy còn được đại diện dân bản thực hiện các yêu sách của chế độ chức dịch trong vùng: giám sát và thu thuế các gia đình, giải quyết việc đi phu đi lính…Với quyền thế như vậy, cho nên những người trong dòng
họ ấy thường giàu có hơn, có nhiều đất sản xuất và được miễn thuế nông nghiệp, không phải đi phu đi lính Tuy nhiên họ lại luôn tôn trọng tập quán tộc người, không tham gia bóc lột tiền của và sức lao động của người dân trong bản Điều này cho thấy sự gắn bó, đoàn kết và yêu thương nhau của người Lô Lô Trong thời kì hợp tác xã nông nghiệp, khi bầu ban chủ nhiệm hợp tác xã, ông trưởng họ lớn trong bản được tín nhiệm bầu làm chủ nhiệm hoặc phó chủ nhiệm Họ không chỉ quản lí dân bản về mặt hành chính và còn quản lí các gia đình thành viên về mặt phong tục tập quán và nắm giữ việc cũng bái trong các nghi lễ cộng đồng
Mỗi một dòng họ của người Lô Lô thường cư trú quây quần thành từng xóm riêng Những dòng họ có từ ba bộ trống đồng trở lên là những dòng họ lớn và có vị thế trong làng Các thành viên trong dòng họ được sử dụng trống đồng chung đó và trưởng họ là những người có trách nhiệm bảo quản Đặc biệt, chỉ những người trong dòng họ mới được phép sử dụng trống đồng, những người ở dòng họ khác không được sử dụng Trống đồng của người Lô
Lô là nhạc cụ chỉ dùng trong nghi lễ chôn người đã khuất Trống đồng là tài sản của từng dòng họ Khi có người trong dòng họ qua đời, người trong dòng
họ sẽ dùng 3 cặp trống, mỗi cặp có một trống đực và một trống cái để thực