1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Lịch sử hình thành và biến đổi của trang phục công an nhân dân việt nam từ 1945 đến nay

163 251 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 163
Dung lượng 5,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Phương pháp khảo sát thực tế: để tiến hành nghiên cứu đề tài tác giả đã nhiều lần tiến hành khảo cứu nguồn tư liệu tại Bảo tàng CAND nơi lưu giữ tư liệu, hiện vật lịch sử của ngành Côn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

HOÀNG THỊ HOA

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ BIẾN ĐỔI CỦA TRANG PHỤC CÔNG AN NHÂN DÂN VIỆT NAM

(TỪ 1945 ĐẾN NAY)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

HOÀNG THỊ HOA

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ BIẾN ĐỔI CỦA TRANG PHỤC CÔNG AN NHÂN DÂN VIỆT NAM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các tư liệu được sử dụng trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đã công bố theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận văn do tôi tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan Các kết quả này chưa được công bố trong các công trình khác

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Học viên

Hoàng Thị Hoa

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn “Lịch sử hình thành

và biến đổi của trang phục Công an nhân dân Việt Nam (từ 1945 đến nay), em

đã nhận được sự giúp đỡ hiệu quả của nhiều đơn vị, cá nhân

Đầu tiên, em xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong bộ môn Lịch sử Văn hóa Việt Nam, đặc biệt là TS Nguyễn Thị Hoài Phương đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt thời gian qua Đồng thời, em xin cảm ơn lãnh đạo Cục Tham mưu Hậu cần – Kỹ thuật và các đơn vị trong Tổng cục Hậu cần-Kỹ thuật, Bảo tàng CAND đã tạo điều kiện cho em hoàn thiện đề tài nghiên cứu của mình Sau cùng, em xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn động viên, giành thời gian cho em hoàn thiện khóa học của mình

Tuy có nhiều cố gắng, nhưng trong luận văn của em không tránh khỏi những thiếu sót Em kính mong quý thầy, cô, các chuyên gia, những người quan tâm đến đề tài tiếp tục có những ý kiến góp ý để đề tài được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn./

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Học viên

Hoàng Thị Hoa

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG CÔNG AN NHÂN DÂN VIỆT NAM TỪ 1945 ĐẾN NAY VÀ SỰ RA ĐỜI CỦA TRANG PHỤC CÔNG AN NHÂN DÂN VIỆT NAM 8

1.1 Một vài nét về quá trình ra đời và hoàn thiện tổ chức bộ máy lực lượng Công an 8

1.1.1 Lực lượng Công an những ngày đầu thành lập (từ 1945 đến 1956) 8

1.1.2 Lực lượng Công an nhân dân Việt Nam từng bước phát triển hoàn thiện (1956 đến 1989) 17

1.1.3 Lực lượng Công an nhân dân trong giai đoạn đổi mới, hội nhập từ 1990 đến 2016 30

1.2 Quá trình hình thành trang phục của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam 31

1.2.1 Trang phục sơ khai của lực lượng CAND Việt Nam trong những ngày đầu thành lập (giai đoạn 1945-1956) 33

1.2.2 Trang phục Công an nhân dân Việt Nam bước đầu được hoàn thiện tiến lên chính quy (thời gian từ 1956 đến 1989) 36

1.2.3 Trang phục Công an nhân dân Việt Nam trong quá trình tiến lên chính quy, hiện đại (giai đoạn 1990 đến 6/2016) 47

Tiểu kết chương 1 50

Chương 2: CÁC THÀNH TỐ CỦA TRANG PHỤC CÔNG AN NHÂN DÂN VIỆT NAM 52

2.1 Trang phục nghi lễ Công an nhân dân 52

2.2 Lễ phục 55

2.3 Trang phục thường dùng Công an nhân dân 56

2.3.1 Trang phục An ninh nhân dân 57

Trang 6

2.3.2 Trang phục Cảnh sát nhân dân 59

2.3.3 Trang phục của lực lượng Cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy 60

2.3.4 Trang phục của lực lượng Công an xã 61

2.4 Trang phục chiến đấu, trang phục hóa trang nghiệp vụ 64

2.4.1 Trang phục của sĩ quan, hạ sỹ quan, chiến sỹ Cảnh vệ làm nhiệm vụ bảo vệ mục tiêu 64

2.4.2 Trang phục Cảnh sát phản ứng nhanh (113), Cảnh sát Cơ động 66

2.4.3 Trang phục chiến đấu của lực lượng CAND (dùng cho mùa hè và mùa đông) 67

2.5 Các thành tố khác cấu thành trang phục (mũ, giày, các cấp hiệu, phù hiệu ) 68

2.5.1 Các loại mũ 68

2.5.2 Các loại giầy 69

2.5.3 Công an hiệu, cúc, sao cấp hiệu 72

Tiểu kết chương 2 76

Chương 3: TRANG PHỤC CÔNG AN NHÂN DÂN VIỆT NAM TỪ 1945 ĐẾN NAY: NHỮNG BIẾN ĐỔI VÀ CÁC GIÁ TRỊ NỔI BẬT 77

3.1 Những biến đổi trong trang phục Công an nhân dân Việt Nam 77

3.2 Các giá trị nổi bật của trang phục Công an nhân dân Việt Nam 95

Tiểu kết chương 3 119

KẾT LUẬN 120

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 122 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ANND An ninh nhân dân BQP Bộ Quốc Phòng CAND Công an nhân dân CNXH Chủ nghĩa xã hội CSCĐ Cảnh sát Cơ động CSGT Cảnh sát giao thông CSND Cảnh sát nhân dân PCCC Phòng cháy chữa cháy QĐND Quân đội nhân dân XHCN Xã hội chủ nghĩa

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trang phục là một trong những thành tố quan trọng cấu thành nên tổng thể văn hóa tộc người; trang phục góp phần thể hiện đặc trưng văn hóa của một quốc gia, một tộc người; phản ánh nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội rất đa dạng và đặc sắc của từng cộng đồng dân cư, từng tộc người Do đó tìm hiểu bản sắc văn hóa của một dân tộc hoặc để bảo vệ di sản văn hóa dân tộc thì trang phục là một lĩnh vực thiết yếu cần được quan tâm nghiên cứu

Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

ra đời, đồng thời lực lượng CAND Việt Nam cũng được thành lập để bảo vệ chính quyền Song song với việc kiện toàn, phát triển về bộ máy tổ chức, lực lượng CAND ngày càng được lãnh đạo Đảng, Nhà nước quan tâm đầu tư đồng bộ về mọi mặt, nhằm mục tiêu xây dựng một lực lượng “chính quy, tinh nhuệ, hiện đại” Trong quá trình phát triển của lực lượng CAND Việt Nam, trang phục của lực lượng CAND cũng được quan tâm phát triển và đã trải qua một quá trình “tự hoàn thiện” trên nhiều phương diện để thành một chỉnh thể thống nhất như hiện nay

Trang phục của lực lượng CAND Việt Nam đã trải qua 70 năm phát triển và biến đổi, đồng thời đây là một loại hình trang phục ẩn chứa trong mình nhiều hệ giá trị Tuy nhiên, hiện nay trong và ngoài lực lượng CAND chưa có một nghiên cứu có hệ thống nào về trang phục của lực lượng an ninh quốc phòng nói chung, CAND Việt Nam nói riêng

Bản thân em là một chiến sỹ đang công tác trong lực lượng CAND và

là một người làm công tác nghiên cứu lịch sử, em càng mong muốn tìm hiểu, phục dựng lại quá trình hình thành, phát triển, biến đổi cũng như đi sâu tìm hiểu hệ giá trị ẩn chứa trong trang phục của lực lượng CAND Việt Nam, đây

là lý do thúc đẩy em lựa chọn đề tài “Sự hình thành và biến đổi của trang

Trang 9

phục CAND Việt Nam (từ 1945 đến nay)” làm đề tài nghiên cứu Luận văn thạc sỹ của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

- Các nghiên cứu chung về trang phục

Lịch sử nghiên cứu về vấn đề văn hóa vật chất, đặc biệt là trang phục của các quốc gia, tộc người đang được các học giả quan tâm nghiên cứu nhiều hơn dưới nhiều góc độ như văn hóa học, dân tộc học, khảo cổ học, kinh tế học, mĩ học đều đề cập một cách trực tiếp hay gián tiếp liên quan đến trang

phục Có thể kể tới công trình “Ngàn năm áo mũ” của tác giả Trần Quang

Đức là một công trình nghiên cứu công phu, phục dựng lại bức tranh trang phục Việt Nam trong cung đình và ngoài dân gian khoảng 1000 năm từ thời

Lý đến thời Nguyễn Tác giả đã lý giải nguyên do và phân tích mức độ mô phỏng trang phục của Trung Hoa trong quy chế trang phục của các triều đại Việt Nam, mô tả chi tiết, tỉ mỉ nhiều loại trang phục Có thể nói “Ngàn năm

áo mũ” đã bù đắp phần nào vào khoảng trống về nghiên cứu trang phục Việt Nam nói riêng, lịch sử văn hóa Việt Nam nói chung Đây thực sự là một công trình nghiên cứu có giá trị chính trị, xã hội và sức ảnh hưởng lâu dài

Thời gian gần đây có một số công trình nghiên cứu riêng về trang phục

như: “Tìm hiểu trang phục Việt Nam” của Đoàn Thị Tình; “Trang phục truyền

thống các dân tộc Việt Nam” của Ngô Đức Thịnh; “Trang phục Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại” của tác giả Nguyễn Thu Phương; “Trang phục của các tộc người nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến” của tác giả Đỗ Thị Hòa; tác giả

Lương Thanh Sơn có nghiên cứu về “Trang phục truyền thống của người

Bih”; Trang phục cổ truyền của người Thái Tây Bắc Việt Nam và nghệ thuật trang phục Thái của Lê Ngọc Thắng… Các công trình trên chủ yếu tập trung

miêu tả, phân tích, nghiên cứu, tìm hiểu các loại hình trang phục truyền thống của dân tộc hoặc một tộc người, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên sâu về trang phục nghề nghiệp

- Các nghiên cứu về trang phục của các tộc người

Trang 10

Nước ta là một nước có nền văn hóa phong phú đa dạng, do sự kết hợp của văn hóa và truyền thống của 54 tộc người cùng sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam Mỗi tộc người lại có một nét đặc trưng văn hóa riêng trong đó có sắc phục riêng, đây là một trong những đặc trưng góp phần nhận dạng các tộc người Chính vì thế vấn đề nghiên cứu về tộc người, văn hóa tộc người được nhiều học giả quan tâm và đã có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu đem lại một nhãn quan mới cho độc giả

Các học giả đã phát hiện ra vai trò của trang phục trong việc nghiên

cứu tộc người được thể hiện qua một số công trình như: “Người Mường ở

Hòa Bình” của Nguyễn Từ Chi; “Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc) và “Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Nam) ” của

Viện Dân tộc học; “Lược khảo về trang phục truyền thống của các dân tộc

Việt Nam” của Duệ Anh; “Nhận diện văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Đăng Duy; “Văn hóa các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc” của Trần Bình hay “Dân tộc Sán Chay ở Việt Nam” và “Dân tộc Khơ

mú ở Việt Nam” của Khổng Diễn; “Dân tộc Nùng ở Việt Nam” của tác giả

Hoàng Nam; Phạm Quang Hoan với các tác phẩm “Người Dao ở Hà Giang”

và “Dân tộc Cơ Lao Việt Nam – Truyền thống và biến đổi”; Bên cạnh đó

cũng có nhiều bài viết, bài nghiên cứu trên các tạp chí Dân tộc học, Văn hóa dân gian, nghiên cứu văn hóa nghệ thuật có đề cập đến trang phục thông qua

việc nghiên cứu các tộc người và văn hóa tộc người

- Các công trình nghiên cứu của ngành Công an

Trong thời gian qua, lãnh đạo Bộ Công an đã chú trọng đẩy mạnh công tác nghiên cứu, tổng kết lịch sử CAND và bước đầu đã thu được nhiều thành tựu Ngành Công an đã có nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử nhưng mới tập trung vào biên soạn các công trình biên niên, các đề tài tổng kết lịch sử các lĩnh vực, chuyên đề công tác chuyên ngành, các giai đoạn lịch sử theo tiến

trình lịch sử dân tộc, đã được Nhà xuất bản CAND in, phát hành như: Biên

niên sự kiện lịch sử CAND giai đoạn 1945 - 1954; Biên niên sự kiện lịch sử

Trang 11

CAND giai đoạn 1954 - 1975; Biên niên sự kiện lịch sử CAND giai đoạn

1975 - 1986; Biên niên sự kiện lịch sử CAND giai đoạn 1986 đến nay; hay Lịch sử CAND 1945 - 1954; Lịch sử CAND 1954 - 1975; Lịch sử CAND giai đoạn 1945 - 2000 do Bộ Công an chủ trì biên soạn Bên cạnh đó các Tổng cục

đã có nhiều công trình nghiên cứu, tổng kết lịch sử như: Tổng kết công tác

Hậu cần CAND 1945 - 2005; Tổng kết công tác Hậu cần - Kỹ thuật CAND trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975) của Tổng cục

Hậu cần-Kỹ thuật; Tổng kết lịch sử xây dựng lực lượng CAND 1945 - 2000

của Tổng cục Xây dựng lực lượng; Lịch sử ANND từ 1945 đến 2005 của Tổng

cục An ninh; Lịch sử CSND của Tổng cục Cảnh sát các nguồn tư liệu này

mới chỉ đề cập đến các mốc thời gian hình thành, phát triển, biến đổi về các dạng thức, màu sắc trang phục của lực lượng Công an theo các chủ trương của Đảng, Nhà nước và ngành Công an mà chưa đi sâu miêu tả, phân tích các vấn

đề liên quan tới trang phục

- Các nghiên cứu về trang phục của lực lượng Công an nhân dân

Hiện nay, cả trong và ngoài lực lượng CAND vẫn chưa có công trình nghiên cứu hoặc bài viết nào đi sâu và miêu tả, phân tích một cách chi tiết và quá trình hình thành, biến đổi, những giải pháp bảo tồn, phát huy hệ giá trị văn hóa trang phục của lực lượng vũ trang nói chung và trang phục CAND Việt Nam nói riêng

3 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài nhằm mục tiêu sau:

- Khái quát được lịch sử quá trình hình thành, phát triển, sửa đổi bổ sung của trang phục CAND từ năm 1945 tới tháng 6/2016)

- Miêu tả được các thành tố cấu thành của trang phục CAND Việt Nam

- Phân tích, đánh giá những biến đổi và các giá trị (bao gồm giá trị văn hóa

và lịch sử, yếu tố chính trị) trong trang phục của lực lượng CAND Việt Nam

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhiệm vụ của đề tài là nhằm phục dựng được quá trình hình thành, phát

Trang 12

triển, biến đổi, định dạng các thành tố cấu thành trang phục CAND Việt Nam

và đưa ra nhận định, đánh giá hệ giá trị ẩn chứa bên trong trang phục thông qua hệ giá trị biểu tượng và đưa ra các kiến nghị, đề xuất trong việc phục dựng, gìn giữ các mẫu trang phục CAND Việt Nam

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là trang phục của lực lượng CAND Việt Nam (bao gồm lực lượng An ninh và Cảnh sát)

5.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: không gian nghiên cứu của đề tài này là lực lượng CAND Việt Nam (gồm lực lượng ANND và CSND) Cụ thể tại Cục Quản lý trang bị kỹ thuật và trang cấp CAND (H44), Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật, Bộ Công an – đơn vị chịu trách nhiệm thiết kế và trang cấp quân trang trong toàn lực lượng Công an)

- Về thời gian: khung thời gian của luận văn này là từ năm 1945 (năm thành lập lực lượng CAND) đến tháng 6/2016 (là năm mà trang phục của lực lượng CAND Việt Nam có một sự thay đổi bước ngoặt, trong việc đồng bộ hóa trang phục của toàn lực lượng theo một mẫu thống nhất)

6 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

- Về nguồn tư liệu phục vụ nghiên cứu đề tài: đề tài được sử dụng nguồn tư liệu trực tiếp là các văn bản thành văn Nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước, Bộ Công an về vấn đề an ninh quốc phòng, vấn đề quân trang của ngành Công an

Nguồn tư liệu trực tiếp là các hiện vật, loại hình trang phục CAND qua các thời kỳ đang được lưu giữ tại Bảo tàng CAND và Tổng cục Hậu cần – Kỹ thuật, Bộ Công an

Nguồn tư liệu thứ cấp là các sách, bài nói, bài viết, câu chuyện được lưu giữ phản ánh về quá trình hình thành lực lượng CAND và trang phục của lực lượng CAND Việt Nam từ khi thành lập cho tới ngày nay

Trang 13

- Phương pháp nghiên cứu cụ thể:

Đề tài này chủ yếu sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như:

+ Phương pháp lịch sử: giúp tác giả có một cái nhìn theo tiến trình thời gian hình thành, phát triển, biển đổi của trang phục CAND để qua đó đưa ra các nhận xét, đánh giá về sự biến đổi của trang phục CAND từ 1945 đến 2016

+ Phương pháp khảo cứu tư liệu: tác giả khảo cứu các Chỉ thị, Nghị quyết, Nghị định, Sắc lệnh, các chủ trương của Đảng, Nhà nước về xây dựng lực lượng CAND; các quy định về cờ truyền thống, trang phục của lực lượng Công an; khảo cứu các nguồn tư liệu có liên quan đến trang phục Công an đang được lưu giữ tại thư viện, phòng lưu trữ hồ sơ của Bộ Công an, đặc biệt là tại Cục Quản lý trang bị kỹ thuật và trang cấp CAND, nơi trực tiếp quản lý, thiết kế các loại mẫu hình trang phục

+ Phương pháp khảo sát thực tế: để tiến hành nghiên cứu đề tài tác giả đã nhiều lần tiến hành khảo cứu nguồn tư liệu tại Bảo tàng CAND nơi lưu giữ tư liệu, hiện vật lịch sử của ngành Công an; Nhà truyền thống của Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật là nơi hiện tại đang lưu giữ nhiều mẫu quân trang và các văn bản liên quan đến công tác quân trang; phòng trưng bày sản phẩm của Cục Quản lý trang bị kỹ thuật và trang cấp (H44) là đơn vị có chức năng thiết kế và phân phối quân trang của ngành Công an; Công ty May 19/5 và nhà máy sản xuất E112 trực thuộc Tổng cục Hậu cần-Kỹ thuật, Bộ Công an là đơn vị trực tiếp may đo và sản xuất quân trang: giúp học viên có một cái nhìn toàn diện về quá trình hình thành, phát triển và biến đổi của trang phục CAND

+ Phương pháp chuyên gia, nhân chứng: giúp học viên khảo cứu lại độ

Trang 14

chính xác của các nguồn thông tin và thu thập thêm tư liệu Học viên đã gặp trực tiếp các chuyên gia về thiết kế quân trang như đồng chí Vũ Xuân Trường, Lê Mạnh Cường, Lê Lâm thuộc phòng quân trang của Cục Trang bị kỹ thuật để khảo cứu các vấn đề về trang phục của lực lượng CAND Đồng thời, học viên đã gặp, trao đổi trực tiếp với các nhiều đồng chí cán bộ công an đã về hưu và đang công tác trong ngành công an về hình dáng, màu sắc, kiểu cách trang phục mà cán bộ chiến sỹ đã từng sử dụng, đang sử dụng những nguồn thông tin này giúp học viên có những kiến thức cơ bản góp phần định hình được những dạng thức, loại hình trang phục đã tồn tại và biến đổi của lực lượng CAND Việt Nam

+ Bên cạnh đó, trong đề tài sử dụng kết hợp các phương pháp tiếp cận hệ thống; phương pháp thống kê, so sánh

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, đề tài được

bố cục thành 03 chương sau:

Chương 1: Quá trình hình thành, phát triển của lực lượng CAND Việt

Nam từ 1945 đến nay và sự ra đời của trang phục CAND Việt Nam

Chương 2: Các thành tố của trang phục CAND Việt Nam

Chương 3 Trang phục CAND Việt Nam từ 1945 đến nay: những biến

đổi và các giá trị nổi bật

Trang 15

Chương 1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG CÔNG

AN NHÂN DÂN VIỆT NAM TỪ 1945 ĐẾN NAY VÀ SỰ RA ĐỜI CỦA

TRANG PHỤC CÔNG AN NHÂN DÂN VIỆT NAM

1.1 Một vài nét về quá trình ra đời và hoàn thiện tổ chức bộ máy lực lượng Công an nhân dân Việt Nam

Tại Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ X tháng 1/1956, Chủ tịch Hồ Chí

Minh đã từng Huấn thị “… Nhân dân ta có hai lực lượng Một là Quân đội, để

đánh giặc ngoại xâm, để bảo vệ Tổ quốc giữ gìn hòa bình Một lực lượng nữa là Công an, để chống kẻ địch trong nước, chống bọn phá hoại Có lúc chiến tranh,

có lúc hòa bình Lúc chiến tranh thì quân đội đánh giặc, lúc hòa bình thì tập luyện Còn Công an thì phải đánh địch thường xuyên, lúc chiến tranh có việc, lúc hòa bình lại càng nhiều việc…” [21]

CAND là một công cụ trọng yếu của Đảng và Nhà nước chuyên chính vô sản, được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu dày công giáo dục, rèn luyện

và được nhân dân hết lòng đùm bọc Từ khi ra đời đến nay, dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, CAND Việt Nam đã không ngừng trưởng thành về mọi mặt và thu được nhiều thành tích vẻ vang trong việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh chính trị, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, bảo vệ tài sản XHCN, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân Lực lượng CAND đã góp phần xứng đáng cùng toàn quân, toàn dân đánh thắng hoàn toàn thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và bọn phản động, lực lượng CAND đã thực hiện tốt lý tưởng cao đẹp của người chiến sỹ CAND

“thức cho dân ngủ ngon, gác cho dân vui chơi, lấy việc bảo vệ niềm hạnh phúc của nhân dân làm niềm vui, lẽ sống của mình” Cùng với quá trình thành lập Nhà nước, các tổ chức vũ trang cũng được hình thành

Trang 16

* Các tổ chức tiền thân của lực lượng CAND Việt Nam

Ngày 03/02/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu bước ngoặt lịch sử của cách mạng Việt Nam, đảm nhận vai trò lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc Đảng vừa ra đời

đã lãnh đạo hai cao trào cách mạng 1930 - 1931, 1936 - 1939 Từ trong các cao trào cách mạng, những tổ chức tiền thân của CAND Việt Nam đã ra đời như: Đội tự vệ đỏ, Ban công tác đội, Đội Tự vệ cứu quốc Năm 1945, tình hình thế giới diễn biến mau lẹ, có lợi cho phong trào cách mạng Hồng quân Liên Xô liên tiếp giành thắng lợi trên mặt trận Xô – Đức, giải phóng các nước Đông và Nam Âu, tấn công Berlin, đập tan sào huyệt cuối cùng của phát xít Đức vào tháng 5/1945, lập ra chính quyền dân chủ nhân dân tại các nước Đông và Nam

Âu Tại Châu Á, liên quân Anh – Mỹ cũng đẩy mạnh tấn công phát xít Nhật, giải phóng một số nước như Indonesia, Philippies…Tháng 8/1945, thực hiện cam kết quốc tế với lực lượng Đồng minh, Liên Xô tuyên chiến với phát xít Nhật và chỉ trong một thời gian ngắn, Hồng quân đã đập tan đội quân Quan Đông, giải phóng Đông Bắc Trung Quốc, Triều Tiên… ngày 15/8/1945 Nhật

đã tuyên bố đầu hàng Đồng Minh Chớp thời cơ “ngàn năm có một”, Đảng ta quyết định Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn quốc Cuộc Tổng khởi nghĩa đã nhanh chóng giành được thắng lợi ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn và các địa phương khác trong cả nước

Cách mạng tháng Tám thành công, Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á được thành lập Trong bối cảnh quan hệ quốc tế diễn biến phức tạp, tranh chấp giữa lực lượng cách mạng và phản cách mạng diễn ra trên phạm vi toàn cầu nên ngay sau khi ra đời, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã trở thành đối tượng chống phá của các thế lực phản động

Cùng với việc thành lập Nhà nước dân chủ nhân dân, trong năm 1945 lực lượng CAND Việt Nam cũng được thành lập Ở Bắc Bộ lập Sở Liêm phóng và Sở Cảnh sát; Trung Bộ lập Sở Trinh sát; Nam Bộ lập Quốc gia tự vệ

Trang 17

cuộc Bước đầu ngành Công an chỉ có hai cấp: cấp kỳ và cấp tỉnh Ở huyện và

xã chưa có tổ chức Công an, nhưng có các lực lượng làm chức năng Công an Tuy tên gọi có khác nhau nhưng những tổ chức và lực lượng ấy làm nhiệm vụ trấn áp phản cách mạng, giữ gìn trật tự; bảo vệ Đảng và chính quyền các cấp

Để không ngừng củng cố ngành Công an thực sự trở thành công cụ trọng yếu của Đảng, Nhà nước, Đảng ta đặt ngành Công an dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, nhiều nơi đã cử cấp ủy viên sang phụ trách công an và bổ sung đảng viên, đoàn viên vào bộ máy công an

Để định rõ nhiệm vụ giữa các Nha trong Bộ Nội vụ ngày 19/01/1946 Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp ký Nghị định số 14/NgĐ về tổ chức Bộ Nội

vụ gồm Văn phòng và 4 Nha, trong đó Nha Công an làm nhiệm vụ trị an

* Thành lập Việt Nam Công an vụ

Sau khi thành lập Chính phủ liên hiệp, trước những khó khăn, phức tạp của cuộc đấu tranh chống phản cách mạng và bọn tội phạm khác, đòi hỏi phải có sự chỉ đạo thống nhất từ Trung ương đến địa phương, đồng thời phải tăng cường công cụ chuyên chính của chính quyền nhân dân để đáp ứng với tình hình và nhiệm vụ mới ngày 21/2/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 23/SL hợp nhất Sở Liêm Phóng và các Sở Cảnh sát trong toàn quốc thành một cơ quan đặt tên là “Việt Nam Công an vụ” nằm trong Bộ Nội vụ

Sắc lệnh xác định Việt Nam Công an vụ có nhiệm vụ: “Tìm kiếm và tập

trung các tin tức và tài liệu liên can đến sự an toàn của quốc gia, hoặc bề trong hoặc bề ngoài” [27; tr82] Thực hiện Sắc lệnh số 23/SL, ở Bắc Bộ, Sở

Liêm Phóng đổi thành Sở Công an Bắc Bộ; ở Trung Bộ, Sở Trinh sát đổi thành Sở Công an Trung Bộ; Quốc gia tự vệ cuộc Nam Bộ đổi thành Sở Công an Nam Bộ Ở các tỉnh và các thành phố của cả ba kỳ đều đổi thành Ty Công an Lực lượng Công an vẫn do Đảng lãnh đạo, là công cụ chuyên chính tuyệt đối trung thành và tin cậy của Đảng Mọi hoạt động của lực lượng CAND dưới sự lãnh đạo của Đảng

Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới mà Trung ương đã

Trang 18

đề ra, lực lượng công an phải củng cố tổ chức nhằm bảo vệ nội bộ, chủ động tiến công địch Ngày 18/4/1946, Bộ trưởng Bộ Nội vụ ra Nghị định số 121/NĐ quy định cụ thể về nhiệm vụ, tổ chức quyền hạn của các cấp Công an Việt Nam Việt Nam Công an vụ chia làm 3 cấp: Công an Trung ương, Công

an kỳ và Công an tỉnh Ở Trung ương gọi là Nha Công an Việt Nam, đặt dưới quyền điều khiển trực tiếp của ông Giám đốc Việt Nam Công an vụ Cơ quan Công an kỳ (ở ba miền Bắc, miền Trung, miền Nam) đặt dưới quyền điều khiển của một ông Giám đốc Công an kỳ Công an tỉnh đặt dưới quyền điều

khiển của một trưởng ty “Nha Công an Việt Nam có nhiệm vụ: sưu tầm và

tập trung tất cả những tài liệu và tin tức có liên quan đến việc nội trị và đối ngoại Điều tra và khám phá những hoạt động phương hại đến an toàn của quốc gia Thi hành những luật lệ và sự tuần soát chung trong nước, nghiên cứu và khởi thảo những luật lệ về công an Tổ chức kiểm soát các cơ quan công an trong toàn quốc” Sở Công an kỳ có nhiệm vụ: giữ gìn trật tự trong địa hạt, đề phòng những hoạt động trái phép, điều tra truy tìm thủ phạm, những hành vi trái phép giao toàn án trừng phạt Điều tra về phương diện hành chính giúp những công sở, về những người, những đoàn thể có liên lạc với cơ sở ấy Kiểm soát và thi hành những phương pháp đề phòng đối với những người nguy hiểm cho sự trị an Tổ chức và kiểm soát các cơ quan Công

an tỉnh” Còn ty Công an tỉnh có nhiệm vụ như Công an kỳ nhưng chỉ hoạt động trong phạm vi một tỉnh” [25; tr 59]

Như vậy, việc hợp nhất hai lực lượng Cảnh sát và Liêm phóng là một

sự kiện quan trọng, làm tăng sức mạnh của lực lượng CAND, đảm bảo hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ đấu tranh chống các thế lực phản cách mạng và tội phạm khác Nghị định của Bộ Nội vụ quy định các bộ phận trực thuộc Nha Công an Trung ương và Sở Công an kỳ gọi là phòng, ở Ty Công an tỉnh gọi là ban, nhưng cũng chưa quy định chính thức gồm những bộ phận nào và nhiệm

vụ cụ thể là gì Nhìn chung, ở Nha Công an Trung ương và các Sở công an kỳ các bộ phận như: bộ phận trại giam, bộ phận tư pháp, bộ phận chính trị (bao

Trang 19

gồm đội điều tra về hình sự, đội điều tra về chính trị)… Ở cấp tỉnh, bên cạnh các bộ phận chính trị, trại giam, công an trật tự Ở cấp huyện, chủ yếu là lực lượng trinh sát Việt Minh huyện đảm nhiệm công tác đấu tranh chống phản cách mạng Ở cấp xã từ cuối năm 1945 trở đi, mỗi xã có một Ủy viên ủy ban nhân dân xã phụ trách các việc trật tự trị an

Ngày 05/4/1948, Bộ Nội vụ ban hành Nghị định số 219/NĐ “Về tổ chức Việt Nam Công an vụ” quy định nhiệm vụ, tổ chức Công an các cấp, thể

lệ tuyển bổ nhân viên và sự liên lạc giữa cơ quan công an với các cấp hành chính và tư pháp Thực hiện Nghị định trên đầu năm 1948, Nha Công an Trung ương xây dựng các ty nghiệp vụ: Ty Chính trị, Ty Tuyên - Nghiêm - Huấn, lập Quận công an đặc biệt (bảo vệ ATK) Ngày 23/01/1948, Sở Công

an Nam Bộ, Trung Bộ lập Ban Công an lưu động Ngày 09/3/1948, Bộ Nội vụ ban hành thông tư số 113/NV-CT xác định chức năng, nhiệm vụ của ủy viên trật tự xã Ngày 24/4/1948, sở Công an Nam Bộ ra Chỉ thị số 36 xác định vai trò của quận và làng, trong đó nêu: phải xây dựng và trang bị vũ khí, các ngũ liên gia bảo phải được củng cố

Như vậy, sau hai năm kháng chiến, ngành Công an đã hình thành 03 lực lượng cơ bản: trinh sát (phản gián, điệp báo), trật tự, tư pháp và lực lượng

vũ trang (công an xung phong, quốc vệ đội) đấu tranh có hiệu quả hơn với bọn phản cách mạng và tội phạm khác

Từ ngày 08 đến ngày 15/01/1950, Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ

V họp tại Tuyên Quang có đủ đại biểu 3 miền Hội nghị đã nghe báo cáo công tác năm 1949 và phương hướng công tác năm 1950, đặc biệt tập trung thảo luận các đề án công tác quan trọng trong đó hội nghị chú trọng thảo luận và xây dựng “Đề án CAND Việt Nam” Đây là một văn kiện lý luận quan trọng xác định những vấn đề cơ bản như nhiệm vụ, đường lối công tác, nguyên tắc xây dựng tổ chức CAND Việt Nam

Để tăng cường công tác công an phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng, ngày 28/2/1950, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ban hành Quyết định số

Trang 20

08-QĐ/TW sáp nhập một bộ phận tình báo quân đội vào Nha Công an Ngày 14/5/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 66/SL về vấn đề nói trên

Sắc lệnh nêu rõ: “Cục Tình báo BQP nay phân chia thành hai bộ phận: một

bộ phận sát nhập vào Nha Công an thuộc Bộ Nội vụ, một bộ phận sát nhập vào ngành Quân báo Bộ Tổng Tham mưu thuộc BQP” [27; tr198] Đến cuối

năm 1950, Nha Công an tổ chức lễ sáp nhập một bộ phận Tình báo vào Nha Công an thành lập Ty Tình Báo

* Thành lập Ban Công an xã

Để đáp ứng yêu cầu của cách mạng trong giai đoạn mới phục vụ công tác tiếp quản và quản lý vùng mới giải phóng, ngày 02/8/1950, Nha Công an Trung ương tổ chức “Hội nghị Công an trật tự lần thứ nhất” tại chiến khu Việt Bắc Theo chủ trương của Hội nghị, công an các tỉnh chấn chỉnh lại công tác trật tự ở cơ sở, đặc biệt là các vùng tự do thuộc căn cứ địa Việt Bắc, vùng tự

do liên khu IV và V Ngày 10/10/1950, Bộ Nội vụ ban hành Nghị định số 137-NĐ/BNV về việc thành lập Ban Công an xã trong toàn quốc thay cho Ban trật tự xã Việc thành lập Ban Công an xã trong phạm vi toàn quốc khẳng định sự trưởng thành của lực lượng CAND Việt Nam về tổ chức, lực lượng từng bước đi sâu và hòa nhập cùng nhân dân giữ gìn trật tự, an ninh, bảo vệ chính quyền cơ sở

Ngày 12/5/1951, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số

05 - CT/TW “Về nhiệm vụ và tổ chức Công an” Tiếp đó, ngày 23/11/1952, Trung ương Đảng ban hành Quyết nghị số 26/QN-TW “về công tác Công an” Quyết nghị đã bổ sung và cụ thể hóa nhiệm vụ và tổ chức của ngành Công an

đã được quy định trong Chỉ thị số 05 - CT/TW của Trung ương Đảng Trong Quyết nghị này Trung ương Đảng giao cho Ngành Công an phụ trách thêm

nhiệm vụ “bảo vệ võ trang trong các cơ quan đầu não từ Trung ương tới liên

khu ủy và tỉnh ủy; phụ trách việc quản trị nhà giam, giáo dục, cải tạo phạm nhân”[25; tr200] Về cơ cấu tổ chức của Nha Công an ở trong Bộ Nội vụ gồm

các bộ phận: Bộ phận phụ trách bảo vệ chính trị; Bộ phận phụ trách công việc trị an hành chính; Bộ phận nghiên cứu; Văn phòng; trường Công an

Trang 21

Quán triệt Chỉ thị số 05-CT/TW của Ban Bí thư về nhiệm vụ, tổ chức của Bộ Công an, tháng 8/1951, Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ VI được triệu tập Hội nghị đã tập trung kiểm điểm công tác công an về các mặt chính trị, nhiệm vụ công tác, tổ chức cán bộ, thông qua chương trình công tác trong năm 1952 Đặc biệt, Hội nghị đã thảo luận xác định tính chất của tổ chức

công an, về cơ cấu tổ chức phải “trên tinh vi, dưới đơn giản, nặng về nghiệp

vụ, nhẹ về hành chính, bảo đảm bí mật, chuyên môn hóa cán bộ” [25; tr 168]

Tại hội nghị mô hình tổ chức của Công an toàn quốc được xác định như sau: Nha công an Trung ương; Sở Công an Liên khu (từ Trung bộ trở ra); Sở công

an Nam Trung Bộ; Sở Công an Nam Bộ; Ty Công an tỉnh; Công an huyện; Công an thị xã; Ban Công an xã Trong đó, tổ chức Nha Công an Trung ương gồm các bộ phận: Văn phòng, Ty Chính trị bảo vệ; Ty trị an hành chính; Trường Công an trung cấp Cơ cấu tổ chức của công an liên khu và tỉnh cũng

có những bộ phận tương ứng

* Thành lập Thứ Bộ Công an

Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong tình hình mới, ngày 16/2/1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 141/SL đổi Nha Công an Việt Nam thành Thứ Bộ Công an Sắc lệnh quy định tổ chức bộ máy của Thứ

Bộ Công an gồm có: “Văn phòng Thứ Bộ; Vụ Bảo vệ chính trị; Vụ trị an hành

chính; Phòng nhân sự; Vụ Chấp pháp; Cục Cảnh vệ; Trường Công an” [25;

tr 202] Đồng chí Trần Quốc Hoàn, Ủy viên Trung ương Đảng được cử giữ chức Thứ trưởng Bộ Công an

Đến ngày 13/5/1953, Thứ Bộ Công an ra Nghị định số 74/NĐ quy định nhiệm vụ và tổ chức cụ thể của Công an các cấp, quy định mối quan hệ giữa Thứ Bộ Công an với Ủy ban hành chính các cấp Từ cuối năm 1952 đến tháng 8/1953, tổ chức bộ máy ở Thứ Bộ Công an bao gồm: Văn phòng Thứ Bộ Công an; Văn phòng nhân sự (sau đổi tên thành phòng tổ chức cán bộ) gồm 3 ban: Tổ chức, cán bộ và tuyên huấn; Vụ bảo vệ chính trị (trước là Ty chính trị bảo vệ) gồm các bộ phận: Văn thư; Phòng điều tra nghiên cứu; Phòng trinh

Trang 22

sát và Phòng trinh sát địch hậu; Vụ trị an hành chính (trước là Ty trị an hành chính), tổ chức gồm: Văn thư vụ, Phòng trị an, Phòng quản chế, Phòng Công

an biên phòng; Phòng quản lý ngoại kiều, Phòng căn cước; Vụ chấp pháp (đến cuối năm 1954 đổi tên thành Vụ Chấp pháp Lao cải) gồm: Phòng xét hỏi,

Phòng quản lý trại giam và trại cải tạo ở Trung ương và Cục Cảnh vệ (Cục

Cảnh vệ được thành lập ngày 16/2/1953) là cơ quan làm nhiệm vụ chủ yếu bảo vệ khu vực cơ quan Trung ương Đảng và Chính phủ; bộ phận trực tiếp bảo vệ Chủ tịch Hồ Chí Minh Việc thành lập Thứ bộ Công an trong Chính phủ đã nâng cao vị thế của lực lượng Công an, đảm bảo đủ sức hoàn thành nhiệm vụ trong tình hình mới

Trước những chuyển biến mạnh mẽ của cuộc kháng chiến chống Pháp, trong phiên họp từ ngày 27 đến 29/8/1953, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị quyết về tăng cường lực lượng Công an về tổ chức và cán bộ Nghị quyết của Chính phủ đã đổi Thứ Bộ Công an thành Bộ Công an trực thuộc Hội đồng Chính phủ Đây là một bước phát triển rất quan trọng về xây dựng lực lượng CAND đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược

* Thành lập ngành CSND

Ngay từ tháng 3/1954, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã thông qua Nghị quyết Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất về trị an hành chính đặt nền móng căn bản xây dựng của các lực lượng CSND Cuộc đấu tranh chống phản cách mạng ở nước ta ngày càng quyết liệt và công tác giữ gìn trị an xã hội đã đặt ra yêu cầu hết sức quan trọng Lực lượng Trị an dân cảnh không còn phù hợp cần phải có tổ chức thích ứng Trước đó, ngày 20/6/1956, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 30/CT-TW “về thành lập Ngành CSND”

đã xác định: “Việc thành lập Ngành CSND là một công tác quan trọng trong

việc củng cố tổ chức bộ máy Nhà nước dân chủ nhân dân, yêu cầu các cấp ủy phải coi trọng đúng mức công tác lãnh đạo Ngành CSND, để ngành này trở thành đội ngũ tin cậy về chính trị, thông thuộc về nghiệp vụ, đảm bảo nhiệm

Trang 23

vụ giữ gìn trật tự xã hội” [26; tr 67] Chính vì thế đến ngày 28/7/1956, Thủ

tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 982/TTg “về thành lập Cục CSND thuộc Bộ Công an” Nghị định nêu rõ: “Thành lập Cục CSND thuộc Bộ Công

an để thống nhất việc xây dựng, quản lý, huấn luyện giáo dục các loại CSND gồm có Cảnh sát hành chính (hộ tịch, giao thông, cứu hỏa), Cảnh sát kinh tế, Cảnh sát vũ trang…”(Điều 1) “Việc canh gác các trại giam và trại lao cải do

Bộ đội cảnh vệ phụ trách nay giao cho CSND phụ trách (Điều 2) “CSND là lực lượng vũ trang và nửa vũ trang thuộc biên chế ngành Công an Cảnh sát viên được hưởng lương và phụ cấp như công chức và được cấp phát quần áo,

vũ khí và những thứ trang bị khác theo tiêu chuẩn và kiểu mẫu …” (Điều 3)

Tiếp đó, ngày 10/8/1956 Thủ tướng Chính phủ ban hành Thông tư số 1001/TTg về việc tổ chức Ngành CSND, nêu rõ Ngành CSND có nhiệm vụ

sau đây: “Cảnh sát hộ tịch phụ trách quản lý hộ khẩu, CSGT phụ trách công

tác giao thông trong thành phố Cảnh sát cứu hỏa phụ trách công tác phòng hỏa trong nhân dân Cảnh sát kinh tế phụ trách công tác bảo vệ công khai các nhà máy, hầm mỏ Cảnh sát vũ trang phụ trách công tác các trại giam, các trại lao cải và làm nhiệm vụ tiễu phỉ trừ gian ” [26; tr 68] Đảng và Nhà

nước xác định CSND là lực lượng vũ trang là bước phát triển mới về quan điểm xây dựng lực lượng CAND nói chung

Như vậy, từ năm 1945 đến năm 1956 lực lượng CAND Việt Nam đã

ra đời, từ các lực lượng tiền thân của CAND, đến tháng 2/1946 Việt Nam Công an vụ được thành lập trực thuộc Bộ Nội vụ, bộ máy tổ chức của Việt Nam Công an vụ được chia thành 3 cấp là Công an Trung ương, Công an kỳ

và Công an tỉnh Đến cuối năm 1950, một bộ phận Tình báo của Cục Tình báo BQP được sáp nhập vào Nha Công an thành Ty tình báo Đồng thời, trong tháng 10/1950, Ban Công an xã được thành lập trong toàn quốc đã đánh dấu sự trưởng thành về tổ chức của lực lượng CAND từ trung ương tới địa phương Tiếp đó, tháng 2/1950, Cục Cảnh vệ được thành lập, CAND có thêm bộ phận mới Cùng thời gian trên, Nha Công an Việt Nam cũng được

Trang 24

đổi thành Thứ Bộ Công an Đặc biệt, đến giữa năm 1956, Cục CSND trực thuộc Bộ Công an đã được thành lập với các lực lượng chính là Cảnh sát hành chính (hộ tịch, giao thông, cứu hoả), Cảnh sát kinh tế, Cảnh sát vũ trang Việc ra đời của lực lượng CSND đã đánh dấu sự phát triển tiến lên chính quy của CAND Việt Nam

1.1.2 Lực lượng Công an nhân dân Việt Nam từng bước phát triển hoàn thiện (1956 đến 1989)

Ngày 23/10/1957, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 479/TTg về việc thành lập Vụ tổ chức cán bộ thuộc Bộ Công an để giúp Bộ trưởng lãnh đạo, về mọi mặt công tác cán bộ trong toàn lực lượng Đây là bước phát triển mới về công tác xây dựng lực lượng, nhất là công tác tổ chức cán bộ trong lực lượng Công an

* Thành lập lực lượng CAND vũ trang

Để bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, phải bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới, vùng biển Sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng một số đơn vị QĐND và các trạm công an biên phòng đã được triển khai làm nhiệm vụ bảo vệ biên giới và kiểm soát cửa khẩu Tuy nhiên, trên thực tế việc

tổ chức và bố trí giữa hai lực lượng chưa hợp lý, chỉ đạo chưa thống nhất, phối hợp chưa chặt chẽ, công tác bảo vệ còn sơ hở, kẻ địch có thể lợi dụng phá ta Theo đề nghị của Đảng đoàn Bộ Công an, Đảng ủy Quân sự Trung ương và BQP, ngày 19/11/1958, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 58 - NQ/TW về xây dựng lực lượng Cảnh vệ nội địa và biên

phòng Nghị quyết xác định: “Bộ Chính trị quyết định thống nhất các đơn vị

bộ đội quốc phòng đang làm công tác bảo vệ nội địa, bảo vệ biên giới, bờ bể, giới tuyến và các lực lượng Công an vũ trang, xây dựng thành một lực lượng

vũ trang của Đảng và Nhà nước chuyên trách công tác bảo vệ nội địa và biên phòng, giao cho ngành Công an trực tiếp chỉ đạo, lấy tên là lực lượng Cảnh

vệ Lực lượng Cảnh vệ này có nhiệm vụ trấn áp mọi hành động phá hoại của bọn phản cách mạng trong nước và bọn phản cách mạng ngoài nước xâm

Trang 25

nhập phá hoại nước ta, luôn luôn sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ an ninh biên giới, bờ biển, giới tuyến và nội địa, bảo vệ an toàn các cơ sở kinh tế, văn hóa quan trọng” CAND vũ trang trung ương đặt dưới sự chỉ đạo của Bộ trưởng

Bộ Công an Ở các tỉnh, thành có các đồn, trạm biên phòng chịu trách nhiệm bảo vệ một đoạn biên giới nhất định, đặt dưới sự chỉ huy thống nhất của cấp tỉnh, thành… khi có chiến tranh về mặt tác chiến và phòng thủ, lực lượng CAND vũ trang đặt dưới sự chỉ đạo của BQP - Tổng tư lệnh QĐND Việt Nam” [26, 126]

Đến ngày 21/2/1959, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Thông tư số

206/TT-TW đổi tên “lực lượng Cảnh vệ nội địa và biên phòng” thành “lực

lượng CAND vũ trang” [26, tr 117] Ngày 28/3/1959, Bộ Công an đã tổ chức

lễ thành lập lực lượng CAND vũ trang Việc thành lập CAND vũ trang là sự hiệp đồng chiến đấu, giúp đỡ lẫn nhau giữa bộ đội và công an

* Kiện toàn tổ chức bộ máy Ngành Công an

Bước vào thời kỳ cải tạo XHCN ở miền Bắc (1958-1960) để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 13 (tháng 01/1959) đã xác định phải tiếp tục kiện toàn tổ chức, xây dựng lực lượng, đẩy mạnh công tác chính trị, tư tưởng trong ngành,… đồng thời kiện toàn tổ chức

bộ máy CAND theo hướng tăng cường cho các đơn vị nghiệp vụ chiến đấu, giảm bớt trung gian Cuối năm 1957, tổ chức bộ máy cơ quan Bộ còn 10 Vụ, cục với 35 phòng Đến năm 1960, tổ chức này phát triển lên 20 Vụ, Cục gồm

79 phòng, ban (kể cả CAND vũ trang) Có những đơn vị, nhất là Vụ bảo vệ chính trị đã tách phòng cơ quan nội chính, văn xã, lập Cục bảo vệ cơ quan, văn hóa và cục bảo vệ kinh tế Phòng Ngoại tuyến được tách ra trực thuộc Bộ trưởng, Vụ bảo vệ chính trị thời gian này làm nhiệm vụ đấu tranh chống gián điệp, chống phản động ngoài xã hội, trong các cơ quan cố định và lâm thời của các nước đóng trên nước ta, phụ trách công tác phái khiển và kỹ thuật nghiệp vụ Ở Cục CSND lập thêm phòng chống tham ô, ở địa phương đều có

bộ phận này Sáp nhập phòng hộ tịch, ngoại kiều thành một phòng quản lý sản

Trang 26

xuất thuộc Cục Lao cải, giải thể Cục Dân cảnh biên phòng, củng cố hệ thống

tổ chức CAND ở các địa phương

Nhằm kiện toàn cơ quan Công an đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn mới của cách mạng do đại hội III của Đảng đề ra, theo đề nghị của Đảng đoàn Bộ Công an, ngày 29/9/1961, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 132/CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy Bộ Công

an Nghị định đã xác định những vấn đề cơ bản như “Bộ Công an là cơ quan

của Hội đồng Chính phủ có trách nhiệm quản lý công tác công an theo đường lối, chính sách, của Đảng và Nhà nước, bảo đảm hoàn thành tốt nhiệm vụ đấu tranh tiêu diệt mọi âm mưu, hoạt động, tổ chức của bọn phản cách mạng và bọn tội phạm hình sự khác, giữ gìn trật tự an ninh nhằm bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ quân đội, bảo vệ nhân dân, bảo vệ công cuộc xây dựng CNXH, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ an ninh Tổ quốc” [26, tr 194]

Về tổ chức bộ máy của Bộ Công an gồm có: Văn phòng, Vụ tổ chức cán bộ, Vụ tài vụ - kế hoạch, Cục bảo vệ chính trị 1, Cục bảo vệ chính trị 2, Cục bảo vệ chính trị 3, Cục bảo vệ cơ quan và văn hóa, Cục bảo vệ kinh tế 1, Cục bảo vệ kinh tế 2, Cục Bảo vệ quân đội, Cục Cảnh vệ, Cục CSND, Cục ngoại tuyến, Cục Chấp pháp, Cục Quản lý trại giam, Cục Tham mưu, Cục Chính trị, Cục trinh sát, Cục Hậu cần… và các đơn vị sự nghiệp do Bộ Quản

lý Ở Bộ có Bộ Tư lệnh CAND vũ trang chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng và chỉ huy toàn bộ công tác của lực lượng CAND vũ trang

Để tăng cường lực lượng giữ gìn an ninh, trật tự, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền lợi của nhân dân, Bộ Công an đã nghiên cứu đề xuất Nhà nước ban hành Pháp lệnh quy định nhiệm vụ, quyền hạn tổ chức bộ máy của lực lượng CSND và Pháp lệnh quy định chế độ cấp bậc sỹ quan và hạ sỹ quan CSND Hai pháp lệnh này đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thông qua ngày 20/7/1962 Đây là những văn kiện quan trọng thể chế hóa về mặt Nhà nước Nghị quyết của Đảng nhằm xây dựng lực lượng CSND theo hướng chính quy, hiện đại Pháp lệnh là cơ sở để

Trang 27

cán bộ, chiến sỹ CSND xác định rõ trách nhiệm không ngừng nâng cao ý thức

tổ chức kỷ luật để phục vụ cuộc đấu tranh bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền cách mạng, bảo vệ nhân dân, từ đây CSND là một lực lượng vũ trang thuộc

Bộ Công an Đồng thời, giữa năm 1962, để tăng cường hiệu quả trinh sát đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ an ninh chính trị và trật tự xã hội, phòng trinh sát ngoại tuyến trực thuộc Bộ Công an được thành lập

* Lực lượng PCCC trực thuộc Bộ Công an

Để ngành Công an tập trung nhiệm vụ đấu tranh chống âm mưu hoạt động của bọn phản cách mạng và tội phạm khác, ngày 27/9/1961, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ký Pháp lệnh giao Bộ Nội vụ phụ trách công tác PCCC Qua một thời gian xét thấy công tác PCCC có liên quan mật thiết với công tác bảo vệ trật tự an ninh chung do Bộ Công an đảm nhiệm, ngày 05/4/1963, Chủ tịch nước đã ký Lệnh số 17/LCT chuyển giao việc quản lý công tác PCCC từ Bộ Nội vụ sang Bộ Công an Đặt Cục PCCC trực thuộc

Bộ Công an

* Cục Giao thông và bưu điện trực thuộc Bộ Công an

Để phù hợp với công tác bảo vệ giao thông và bưu điện trong tình hình

chiến tranh phá hoại ác liệt của đế quốc Mỹ, ngày 30/5/1966, Chính phủ đã ký quyết định thành lập Cục Bảo vệ giao thông và bưu điện trực thuộc Bộ Công an Cục bảo vệ giao thông và bưu điện có nhiệm vụ giúp Bộ trưởng Bộ Công an nghiên cứu, đề ra các biện pháp bảo vệ an toàn cho các cơ quan vận tải và bưu điện truyền thanh, cho các chuyến vận chuyển giao thông, đề ra các biện pháp bảo vệ vật tư hàng hóa trong quá trình vận chuyển nhằm ngăn ngừa mọi tiết lộ bí mật Nhà nước và đấu tranh chống mọi hoạt động của bọn phản cách mạng và bọn lưu manh, trộm cắp, tổ chức và chỉ đạo thực hiện các biện pháp đó

Thực hiện Nghị quyết số 03/CP của Hội đồng Chính phủ về củng cố tổ

chức và tăng cường lực lượng CAND, ngày 08/5/1967, Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn đã ký Quyết định số 237/CA-QĐ sửa đổi tổ chức các Vụ, Cục như sau: Tách Văn phòng Bộ thành Vụ nghiên cứu tổng hợp, Vụ Tài vụ - vật tư và Văn

Trang 28

Phòng Bộ Tách Cục bảo vệ nội bộ thành Vụ nghiên cứu tổng quan và văn hóa và Cục Bảo vệ kinh tế Lập thêm Cục Tuyên huấn phụ trách công tác tuyên huấn chung của ngành Cục Chính trị phụ trách công tác chính trị tư tưởng lực lượng CAND vũ trang

Như vậy,chỉ trong một thời gian ngắn từ năm 1965 - 1968, Bộ Công an

đã thành lập thêm Cục Tuyên huấn (đến đầu năm 1973 được đổi thành Cục công tác chính trị), Cục Kỹ thuật nghiệp vụ II, Cục Hồ sơ, Cục Bảo vệ giao thông – bưu điện, Ban Thanh tra và ban nghiên cứu miền nam, tái lập Vụ tài

vụ - vật tư Tách Văn phòng thành: Vụ nghiên cứu Tổng hợp và Văn phòng

Bộ, Cục Bảo vệ nội bộ thành 2 cục Phòng công tác C trực thuộc Bộ, đổi tên Cục phái khiển thành Cục Sưu tập

Đến ngày 20/7/1972, Bộ trưởng Bộ Công an ký quyết định số 1105/CA-QĐ định chuyển Cục Bảo vệ giao thông và bưu điện thành Cục Cảnh sát bảo vệ giao thông và giao cho Cục CSGT phụ trách công tác bảo vệ giao thông của Cục bảo vệ giao thông và bưu điện và công tác quản lý trật tự

an toàn giao thông của Cục CSND phụ trách trước đây; giao công tác bảo vệ Tổng cục bưu điện và ngành bưu điện cho Cục và lực lượng bảo vệ kinh tế phụ trách Tổ chức bộ máy của cục Cảnh sát bảo vệ giao thông gồm có: phòng nghiên cứu tổng hợp, phòng chính trị, phòng bảo vệ cơ quan Bộ giao thông và vận tải; phòng bảo vệ vận tải đường bộ và đường sắt; phòng bảo vệ đường sông và đường biển, phòng quản lý phương tiện giao thông vận tải; phòng kỹ thuật điều khiển an toàn giao thông Tất cả cán bộ, chiến sỹ Cục Cảnh sát bảo vệ giao thông đều được phong cấp và trang phục theo quy định của Pháp lệnh CSND

* Sửa đổi, kiện toàn bộ máy tổ chức của Bộ Công an

Để tăng cường lực lượng CAND trong tình hình và nhiệm vụ cách mạng mới, ngày 22/2/1973, Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng đã ký Nghị định số 32/CP về sửa đổi bộ máy tổ chức của Bộ Công an Nghị định nêu rõ: tổ chức bộ máy của Bộ Công an gồm có: Văn phòng; Vụ nghiên cứu

Trang 29

Tổng hợp; Ban Thanh Tra; Vụ tổ chức; Vụ cán bộ; Vụ Tài vụ vật tư, Cục Cơ yếu; Cục Thông tin liên lạc; Cục Xử lý tin tức; Cục Hồ sơ; Cục đào tạo Cán bộ; Cục Công tác chính trị, Cục Chống gián điệp; Cục Chống phản động; Cục sưu tập, Cục Chấp pháp, Cục ngoại tuyến, Cục kỹ thuật I, Cục Kỹ thuật II, Cục Kỹ thuật III, Cục Cảnh vệ; Cục bảo vệ quân đội; Cục bảo vệ cơ quan và văn hóa, Cục bảo vệ kinh tế I, Cục bảo vệ kinh tế II, Cục bảo vệ kinh tế III, Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Cục Cảnh sát hình sự; Cục CSGT và đường bộ, Cục Cảnh sát bảo vệ, Cục Cảnh sát PCCC, Cục Cảnh sát quản lý trại giam, Viện nghiên cứu khoa học Công an, Viện kỹ thuật hình sự, Trường sĩ quan an ninh, Trường sỹ quan cảnh sát

Đồng thời Nghị định nêu rõ:“chuyển nhiệm vụ bảo vệ nội địa của lực

lượng CAND vũ trang quy định ở điều 2 của Nghị định số 100/TTg ngày 03/3/1959 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập CAND vũ trang sang các cục Cảnh sát phụ trách” [26; tr 532]

* Kiện toàn tổ chức bộ máy của lực lượng CSND

Triển khai thực hiện Nghị định số 32/CP ngày 22/2/1973 của Hội đồng Chính phủ, tổ chức Bộ Công an gồm 36 đơn vị thuộc trong đó lực lượng CSND gồm có: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trị an, Cục Cảnh sát hình

sự, Cục CSGT và bưu điện, Cục Cảnh sát bảo vệ, Cục Cảnh sát PCCC, Cục Cảnh sát quản lý trại giam, Trường sĩ quan cảnh sát

Tiếp đó, ngày 06/1/1974, Bộ trưởng Bộ Công an Trần Quốc Hoàn đã

ký quyết định số 14/CA-QĐ thành lập các vụ, cục mới, trong đó quyết định: tách Cục CSND thành: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội (Cục Cảnh sát I), Cục Cảnh sát hình sự (Cục Cảnh sát II), Cục Cảnh sát bảo

vệ (Cục Cảnh sát IV) Cùng ngày, Bộ trưởng đã ký các quyết định quy định nhiệm vụ và tổ chức bộ máy các vụ, cục mới thành lập Bên cạnh đó, Bộ trưởng cũng ký các quyết định quy định nhiệm vụ, sửa đổi tổ chức của Cục Cảnh sát bảo vệ giao thông bưu điện; Cục Cảnh sát PCCC; Cục Cảnh sát quản

lý trại giam đã được thành lập trước đây Các Cục Cảnh sát trên đều có hệ

Trang 30

thống từ Bộ xuống khu, tỉnh, huyện Như vậy đến năm 1973, lực lượng Công

an đã có 06 cục Cảnh sát Các tổ chức này được tách ra để chuyên sâu công tác cảnh sát trên cơ sở phương thức hoạt động và đối tượng đấu tranh, mỗi cục đều có nhiệm vụ cụ thể

* Kiện toàn tổ chức bộ máy của lực lượng ANND

Đồng thời, Bộ Công an cũng quyết định tách Cục bảo vệ chính trị thành

“Cục chống gián điệp (Cục bảo vệ Chính trị I), Cục Chống gián điệp (Cục bảo

vệ chính trị II); tách Cục bảo vệ kinh tế thành: Cục bảo vệ kinh tế I (Bảo vệ công nghiệp và xây dựng cơ bản); Cục bảo vệ kinh tế II (bảo vệ nông nghiệp và nông thôn); Cục bảo vệ kinh tế III (bảo vệ thương nghiệp và các hợp tác xã ở thành phố, thị xã…) Song song với việc kiện toàn tổ chức các đơn vị cũ, Bộ Công an cũng quyết định thành lập thêm một số đơn vị mới như: Cục Kỹ thuật

I (Nghiên cứu sản xuất phương tiện kỹ thuật); Cục trinh sát kỹ thuật khoa học kình sự (Cục Kỹ thuật II); Cục Tình báo phản gián điện đài (Cục Kỹ thuật II)

Như vậy, sau khi Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định 32/CP bộ máy tổ chức của lực lượng CAND gồm 03 lực lượng: An ninh, Cảnh sát, CAND vũ trang Nghị định cũng quyết định chuyển giao nhiệm vụ bảo vệ nội địa từ CAND vũ trang sang các Cục Cảnh sát phụ trách Theo tinh thần Nghị định lực lượng ANND, CSND đã được chấn chỉnh, kiện toàn một bước rất cơ bản, tổ chức mới đảm bảo hai yếu tố: gọn nhẹ và chuyên sâu Việc thành lập các Cục chuyên ngành của lực lượng ANND (ngành bảo vệ Chính trị) và các phòng ban ở địa phương, cho phép lực lượng ANND chỉ đạo và hiệp đồng chiến đấu có hiệu quả Đây là mốc quan trọng về phát triển tổ chức của lực lượng ANND từ khi thành lập Bộ Công an

Thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước kết thúc quá trình 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, chấm dứt ách thống trị hơn một thế kỷ của chủ nghĩa đế quốc, giành độc lập dân tộc, mở ra một bước ngoặt vĩ đại đưa cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội Trong phiên họp thứ nhất từ ngày mùng 03 đến ngày mùng 06/6/1975,

Trang 31

Quốc hội khóa 5, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã quyết nghị hợp nhất

Bộ Công an và Bộ Nội vụ lấy tên là Bộ Nội vụ Ngày 18/7/1975, Bộ Công an

ra thông báo số 108/CT-CA gửi các bộ, cơ quan ngang Bộ, các đoàn thể, ủy ban hành chính các khu, thành, tỉnh về việc đổi tên thành Bộ Nội vụ

Tháng 01/1976, Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 30 đã ra Nghị quyết về nhiệm vụ công tác công an phục vụ sự nghiệp cách mạng XHCN và xây dựng chủ nghĩa xã hội trong cả nước Về xây dựng lực lượng CAND

Nghị quyết nêu rõ: “công tác xây dựng lực lượng của ngành Công an phải

xuất phát từ tình hình đất nước thống nhất mà xây dựng lực lượng Công an thống nhất đảm bảo nhiệm vụ của ngành Công an trong cả nước và trước giai đoạn mới… [33; tr102]

* Thành lập Trung đoàn CSCĐ

Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị về phòng chống bạo loạn, chủ

động phá tan ý đồ của kẻ thù ngoài đánh vào, trong nổi dậy, để có lực lượng

cơ động mạnh kịp thời dập tắt mọi cuộc bạo loạn, lãnh đạo Bộ Nội vụ đã chủ trương thành lập các đơn vị Cảnh sát bảo vệ được huấn luyện tốt, có trang bị cần thiết, có sức chiến đấu cao Ngày 22/8/1978, Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã ký quyết định số 144/QĐ-BNV thành lập trung đoàn CSCĐ đầu tiên lấy tên là E29, đặt dưới sự chỉ huy tập trung thống nhất của Bộ trưởng Bộ Nội vụ làm nhiệm vụ trấn áp phản cách mạng, dẹp các cuộc bạo loạn, các cuộc gây rối trật tự, an toàn xã hội, tiễu phỉ, truy quét FULRO, tham gia bảo vệ những ngày lễ lớn theo lệnh của Bộ trưởng

* Chuyển lực lượng CAND vũ trang sang BQP

Trong quá trình hoạt động chiến đấu và công tác, từ trước đến nay, lực lượng CAND vũ trang đã không ngừng lớn mạnh, luôn hoàn thành tốt nhiệm

vụ giữ gìn an ninh chính trị, trật tự xã hội biên giới, vùng biển, hải đảo, giới tuyến bảo vệ các cơ quan lãnh đạo của Đảng, Nhà nước Đồng thời đã phối hợp với QĐND lập nhiều chiến công trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước cũng như trong hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc chống quân xâm lược và

Trang 32

tay sai của chúng trên hướng Tây Nam và trên biên giới phía Bắc nước ta… Sau chiến tranh biên giới Tây Nam và Phía bắc, để thống nhất lãnh đạo và chỉ huy các lực lượng vũ trang, tăng cường sức mạnh chiến đấu, đồng thời phát huy sở trường của các lực lượng nhằm góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, ngày 10/10/1979 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số 22 về việc chuyển giao nhiệm vụ và lực lượng CAND vũ trang sang BQP Bộ Chính trị đã quyết định phân định lại nhiệm vụ chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ an ninh biên giới, bờ biển, hải đảo giữa lực lượng thuộc BQP và lực lượng của Bộ Nội vụ như sau:… lực lượng của Bộ Nội vụ có nhiệm vụ cơ bản thường xuyên là giữ gìn an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội; thực hiện quản lý quy chế hành chính bằng các đồn cảnh sát ở các cửa khẩu gồm: sân bay quốc tế, thương cảng, đầu mối trục giao thông có đường sắt và đường ô tô ra vào biên giới, cửa sông lớn

* Kiện toàn tổ chức bộ máy của Bộ Công an

Bị thất bại trong chiến tranh xâm lược ở biên giới Tây Nam và phía Bắc, bọn phản động đế quốc câu kết chặt chẽ với đế quốc tiến hành chiến tranh phá hoại nhiều mặt đối với nước ta Ngày 02/2/1980, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 31/NQ-TW về nhiệm vụ bảo vệ an ninh, chính trị, giữ gìn trật tự xã hội trong tình hình mới Nghị quyết đã đề cập toàn diện và sâu sắc về tình hình âm mưu địch, xác định đối tượng, địa bàn, nguyên tắc chỉ đạo cuộc chiến tranh, nhiệm vụ và những công tác lớn phải làm nhằm bảo vệ an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội Về nhiệm vụ chung của CAND, Nghị quyết

nêu rõ:“Phải ra sức xây dựng CAND trong sạch, vững mạnh về mọi mặt và đẩy

mạnh phong trào quần chúng bảo vệ An ninh Tổ quốc”,“Tổ chức bộ máy CAND từ Trung ương đến địa phương phải chú trọng chất lượng, tập trung thống nhất nhanh chóng, kịp thời, sắc bén; vừa làm đầy đủ chức năng và nhiệm

vụ phục vụ đắc lực sự lãnh đạo của cấp ủy và chính quyền các cấp, vừa là lực lượng thường trực chiến đấu có hiệu lực đạt kết quả cao” [24; tr 453] Để cụ

thể hóa công tác xây dựng lực lượng Công an được xác định trong Nghị quyết

Trang 33

số 31-NQ/TW, ngày 16/6/1981 Hội đồng Chính phủ đã ký Nghị định số 250/CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy Bộ Nội vụ Ở Bộ thành lập 4 Tổng cục: An ninh, Cảnh sát, Xây dựng lực lượng và Hậu cần CAND; Văn phòng tổng hợp và một số đơn vị trực thuộc Tổ chức Công an ở các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương gọi là Công an tỉnh, Công

an thành phố, Công an đặc khu Tổ chức công an quận, huyện, thị xã, công an thành phố trực thuộc tỉnh Tổ chức Công an cơ sở, phường, thị trấn gọi là công an xã, công an huyện, công an thị trấn Có thể nói, trên thực tế Nghị định số 250/CP của Hội đồng Chính phủ năm 1981 là thể chế hóa đường lối xây dựng lực lượng CAND về tổ chức mà Đảng ta đã đề ra Theo phương hướng đó, ngành ta đã xây dựng bộ máy tổ chức và đã mang lại nhiều kết quả trong công tác và chiến đấu

Triển khai thực hiện Nghị quyết số 31/NQ-TW của Bộ Chính trị và Nghị định số 250/CP của Hội đồng Chính phủ ngày 18/6/1981, lãnh đạo Bộ Nội vụ đã ra quyết định về nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức các Tổng cục, Vụ, Cục trực thuộc Bộ trưởng

Theo quyết định số 11/QĐ-BNV ngày 18/6/1981, bộ máy tổ chức của Tổng cục An ninh (Tổng cục I) gồm 12 Vụ, Cục (trong đó có 06 Vụ, Cục thành lập mới): Cục Tham mưu an ninh, Cục Tình báo, Cục chống gián điệp Trung Quốc, Cục chống gián điệp Mỹ và gián điệp khác, Cục Chống Phản động; Cục an ninh kinh tế - văn hóa tư tưởng; Cục Quản lý người nước ngoài

và xuất cảnh, nhập cảnh; Cục Quản lý cửa khẩu, Cục Ngoại tuyến, Cục Kỹ thuật nghiệp vụ I, Cục Kỹ thuật nghiệp vụ II, Cục An ninh điều tra xét hỏi

Theo quyết định số 12/QĐ-BNV, bộ máy tổ chức của Tổng cục Cảnh sát (Tổng cục II) gồm 12 vụ, cục (trong đó có 05 vụ, cục mới thành lập): Cục Tham mưu Cảnh sát, Cục quản lý hành chính về trật tự xã hội, Cục Cảnh sát hình sự, Cục Cảnh sát kinh tế, Cục Cảnh sát điều tra xét hỏi, Cục Cảnh sát giao thông đường Bộ, Cục Cảnh sát giao thông đường thủy, Cục Cảnh sát giao thông đường sắt, Viện Khoa học hình sự; Cục Cảnh sát bảo vệ; Cục Cảnh PCCC, Cục Cảnh sát quản lý và cải tạo phạm nhân

Trang 34

Theo quyết định số 13/QĐ-BNV, bộ máy tổ chức của Tổng cục Xây dựng lực lượng CAND (Tổng cục III) gồm 09 đơn vị: Vụ nghiên cứu Tổng hợp, Vụ tổ chức cán bộ, Cục đào tạo cán bộ, Cục Công tác chính trị, Ban Thanh tra, Cục xây dựng phong trào quần chúng bảo vệ An ninh Tổ quốc, Viện khoa học Công an, Nhà xuất bản CAND, Báo CAND và 37 trường trực thuộc Bộ Quản lý

Theo quyết định số 14/QĐ-BNV, bộ máy tổ chức của Tổng cục Hậu cần CAND gồm: Vụ Kế hoạch, Vụ tài vụ, Cục Cung cấp, Cục vật tư kỹ thuật, Cục xây dựng, Cục Y tế, Cục nghiên cứu và sản xuất phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ, các xí nghiệp, Trường hậu cần

Ngoài việc quyết định thành lập 04 Tổng cục, Bộ trưởng còn ra các quyết định về nhiệm vụ và quyền hạn, tổ chức của các đơn vị trực thuộc Bộ như: Văn Phòng Tổng hợp, Cục Quan hệ quốc tế, Cục Cảnh vệ, Cục Xử lý thông tin điện

tử, Cục Thông tin liên lạc, Cục Cơ yếu, Cục Hồ sơ, Vụ Pháp chế

Ngày 25/10/1982, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết

số 03 NQ/TW về kiên quyết đập tan kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của

các thế lực thù địch Về xây dựng lực lượng CAND, Nghị quyết nêu rõ: “phải

xây dựng và củng cố lực lượng CAND trong sạch, vững mạnh, thực sự là một lực lượng vũ trang mạnh và tiến công sắc bén”[24; tr 486 ]

Ngày 26/11/1982, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết

số 21-NQ/TW về công tác an ninh Nghị quyết xác định vị trí, nhiệm vụ, phương hướng chiến lược của công tác an ninh Nghị quyết xác định: “phải tổ chức lại bộ máy an ninh phù hợp với nhiệm vụ chiến lược đánh địch và tính chất của ngành An ninh… Bộ máy An ninh phải tổ chức theo địa bàn và mục tiêu, không nhất thiết tổ chức theo hệ thống hành chính” Đây là một Nghị quyết chuyên ngành về công tác an ninh có ý nghĩa lịch sử quan trọng giúp cho các cấp ủy, Đảng lãnh đạo chặt chẽ công tác bảo vệ an ninh quốc gia trong tình hình mới, đồng thời giúp cho lãnh đạo công an các cấp nghiên cứu, từng bước kiện toàn bộ máy mà trung tâm là làm rành mạch, riêng biệt giữa

Trang 35

hai lực lượng An ninh, Cảnh sát, tăng cường hiệu quả và sức chiến đấu của tổ chức lực lượng An ninh

Ngày 11/2/1987, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước công bố “Pháp lệnh CSND” nhằm thể chế hóa quan điểm cơ bản của Đảng, Nhà nước về công tác bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và xây dựng lực lượng CAND Đây là cơ sở pháp lý để lực lượng Cảnh sát thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn, củng cố tổ chức, xây dựng đội ngũ trong sạch, tiến lên chính quy, hiện đại

Tiếp đó ngày 14/11/1987, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước ký lệnh, công

bố “Pháp lệnh về lực lượng ANND” Pháp lệnh khẳng định: trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, lực lượng ANND là lực lượng nòng cốt, có nhiệm vụ đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và xâm hại an ninh quốc gia, bảo vệ chế

độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền nhân dân Đây là văn bản pháp quy làm cơ sở cho lực lượng ANND công tác, chiến đấu bảo vệ an ninh Tổ quốc, xây dựng lực lượng ngày càng chính quy, hiện đại

Ngày 30/11/1987, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 07 NQ-TW về nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội trong tình

hình mới Về xây dựng lực lượng CAND, Nghị quyết nêu “xây dựng lực

lượng CAND trong sạch theo hướng lực lượng chuyên trách, tinh giản gọn nhẹ, tăng cường chất lượng chính trị, tinh thông nghiệp vụ, có kỷ luật chặt chẽ, có lực lượng bán chuyên trách, cơ sở bí mật và đặc tình rộng mạnh, có chính sách khuyến khích hoạt động của họ Đổi mới phương tiện kỹ thuật cần thiết cho công tác nghiệp vụ” [28; tr139]

Trên cơ sở phát huy thành tích, khắc phục khuyết điểm, tăng cường lãnh đạo, tổ chức công tác bảo vệ an ninh trật tự trong tình hình mới, ngày 30/7/1987, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra Nghị quyết số 07/NQ-TW về nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội trong tình

hình mới, trong đó nêu rõ “Bộ máy Công an phải gọn nhẹ Chuyển lực lượng

Bộ đội Biên phòng trở lại Bộ Nội vụ” [28,tr137] Triển khai thực hiện Nghị

quyết trên ngày 31/5/1988, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số

Trang 36

41/CT-TW chuyển giao lực lượng Bộ đội Biên phòng từ BQP sang Bộ Nội vụ Thực hiện Chỉ thị của Ban Bí thư ngày 11/6/1988, Hội đồng Bộ trưởng đã ký quyết định số 104/HĐBT chuyển giao lực lượng Bộ đội Biên phòng từ BQP sang

Bộ Nội vụ nhằm đáp ứng yêu cầu thống nhất chỉ huy các lực lượng chiến đấu

ở vùng biên giới

Tiếp đó, ngày 25/6/1988, Bộ Nội vụ đã ký quyết định số 29-QĐ/BNV

về kiện toàn một bước nhiệm vụ và tổ chức của Tổng cục CSND: tách tổ chức CSCĐ vũ trang từ Cục Cảnh sát bảo vệ, thành lập Bộ chỉ huy CSCĐ trực thuộc Tổng cục CSND; chuyển giao nhiệm vụ đấu tranh với đối tượng hình

sự và kinh tế trên các tuyến giao thông đường sắt, đường bộ từ Cục CSGT sang Cục Cảnh sát hình sự và Cục Cảnh sát kinh tế; chuyển giao nhiệm vụ canh gác, bảo vệ các sứ quán, cơ quan nước ngoài tại Việt Nam từ Cục Cảnh sát bảo vệ thuộc Tổng cục Cảnh sát sang Cục ngoại tuyến, Tổng cục ANND, chuyển giao nhiệm vụ, tổ chức bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh (Đoàn 375) từ Cục Cảnh sát bảo vệ sang Bộ Tư lệnh Cảnh vệ; chuyển giao chức năng huấn luyện, trang bị cho lực lượng Cảnh sát vũ trang canh gác các trại cải tạo từ Cục Cảnh sát trại giam sang Cục Cảnh sát bảo vệ; đổi tên Cục Cảnh sát bảo vệ thành Cục Cảnh sát bảo vệ mục tiêu và đến ngày 26/2/1990 lãnh đạo Bộ Nội vụ đã ký quyết định số 40-QĐ/BNV (X13) sáp nhập Cục Cảnh sát bảo vệ mục tiêu và Bộ chỉ huy CSCĐ thành Cục Cảnh sát bảo vệ mục tiêu và

cơ động (gọi tắt là Cục Cảnh sát bảo vệ) Đồng thời, để tăng cường công tác bảo vệ trong tình hình mới

Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, để triển khai thực hiện Nghị quyết 07/NQ-TW của Bộ Chính trị năm 1987 Ngày 31/01/1989, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 11/HĐBT về sửa đổi, bổ sung tổ chức Bộ Nội vụ Nội dung Nghị định bao gồm: đổi tên Tổng cục An ninh thành Tổng cục Phản gián; thành lập Tổng cục Tình báo thuộc Bộ Nội vụ; thành lập Bộ

Tư lệnh Cảnh vệ (trên cơ sở Cục Cảnh vệ) thuộc Bộ Nội vụ

Có thể nhận định, trên cơ sở Nghị định số 250/CP ngày 10/6/1981 và

Trang 37

Quyết định số 104/HĐBT ngày 11/6/1988 của Hội đồng Bộ trưởng về việc chuyển lực lượng Bộ đội Biên phòng từ BQP sang Bộ Nội vụ, cùng Nghị định

số 11/HĐBT ngày 31/01/1989 về sửa đổi, bổ sung tổ chức của Bộ Nội vụ thì

tổ chức của Bộ Nội vụ bao gồm 05 Tổng cục (Phản gián, CSND, Xây dựng lực lượng, Hậu cần, Tình báo); 02 Bộ Tư lệnh (Cảnh vệ, Bộ Đội biên phòng)

và một số Cục, Vụ, Viện trực thuộc Bộ trưởng Nghị định của Hội đồng Bộ trưởng làm cho Bộ máy tổ chức của Bộ Nội vụ ngày càng hoàn chỉnh, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội

Nhằm tăng cường bảo vệ trật tự, an toàn xã hội, xây dựng lực lượng CSND vững mạnh, góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc VNXHCN, ngày 11/2/1989, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước đã ký Lệnh số 14 LCT/HDDNN 8 công bố “Pháp lệnh lực lượng CSND” Pháp lệnh về CSND là văn bản pháp luật quan trọng của Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng CSND hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và góp phần xây dựng lực lượng ngày càng chính quy, hiện đại đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong thời kỳ đổi mới

1.1.3 Lực lượng Công an nhân dân trong giai đoạn đổi mới, hội nhập từ 1990 đến 2016

Ngày 14/9/1989, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Chỉ thị số 135/CT về tăng cường công tác bảo vệ trật tự an toàn xã hội trong tình hình mới Để tăng cường hiệu quả chiến đấu của lực lượng CSND, tiếp tục trấn áp tội phạm hình

sự ngày 23/11/1990, Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã ký quyết định số 374/QĐ-BNV

về việc thành lập lực lượng CSCĐ ở công an tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương Nhiệm vụ chủ yếu của CSCĐ là vũ trang để can thiệp, phối hợp với các đơn vị có chức năng liên quan ngăn chặn, giải tán các vụ phá rối an ninh, trật tự công cộng mà đơn vị chức năng đã huy động, không đủ sức giải quyết, theo lệnh của Giám đốc công an tỉnh, thành phố, đặc khu Với việc thành lập CSCĐ, Bộ đã tăng cường lực lượng tạo điều kiện cho công an các địa phương đủ khả năng để liên tục tấn công, trấn áp tội phạm hình sự, bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân

Trang 38

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã xác định: phải đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa để đến khoảng 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa là sự nghiệp của toàn đảng, toàn dân Xây dựng lực lượng CAND thành lực lượng vũ trang cách mạng, chính quy, từng bước hiện đại, phục vụ có hiệu quả sự nghiệp

vẻ vang đó là mục tiêu để lực lượng Công an vươn tới Thực hiện Nghị quyết số 13/1998/NQ-QH 10 ngày 07/5/1998 của Quốc hội khóa X kỳ họp thứ 3 đã đổi tên Bộ Nội vụ thành Bộ Công an

Nhằm tiếp tục kiện toàn và phát huy toàn diện các mặt công tác của lực lượng CAND, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản nhằm kiện toàn lại tổ chức của Bộ Công an như: Nghị định số 37/1998/NĐ-CP ngày 09/6/1998 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy Bộ Công an; Nghị định số 40/1999/NĐ-CP, ngày 23/6/1999 về Công an xã Nghị định đã quy định Công an xã là lực lượng vũ trang bán chuyên trách, là công

cụ trọng yếu của Đảng, Nhà nước ở xã để bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở cơ sở; Nghị định số 136/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức Bộ Công an Trong những năm qua được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước lực lượng CAND Việt Nam đã không ngừng trưởng thành về mọi mặt cả về thế và lực trong công cuộc hòa nhập với thế giới

Như vậy, sau khi lực lượng CAND vũ trang được chuyển về trực thuộc BQP (năm 1995), thì trong tổ chức bộ máy lực lượng CAND Việt Nam có 02 lực lượng chính là: ANND và CSND, được bố trí rộng khắp từ trung ương tới địa phương nhằm bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn

xã hội trong mọi tình huống, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó, xứng đáng là thanh “bảo kiếm” sắc bén của Đảng

để bảo vệ Đảng, chính quyền, bảo vệ nhân dân

1.2 Quá trình hình thành trang phục của lực lƣợng Công an nhân dân Việt Nam

Trang phục là một phạm trù lịch sử, luôn gắn liền với điều kiện sống,

Trang 39

điều kiện kinh tế, văn hóa của xã hội trong từng thời kỳ lịch sử của nhân loại Trang phục là sản phẩm do con người tạo ra để phục vụ nhu cầu sống và hoạt động của mình, nhu cầu của con người càng cao, trang phục ngày càng phát triển Những năm gần đây, do điều kiện kinh tế - xã hội được nâng cao kéo theo sự thay đổi về nhu cầu thẩm mỹ, trang phục đã phát triển với tốc độc chưa từng có, thay đổi về kiểu dáng, thay đổi về chủng loại, thay đổi về chất liệu, màu sắc, về hoa văn trang trí… Có sự thay đổi hoàn toàn bằng tư duy sáng tạo mới của xã hội hiện đại, có sự thay đổi trên cơ sở phát triển hoặc bảo tồn các trang phục truyền thống của một dân tộc, một tộc người

Trang phục đã có lịch sử phát triển lâu dài và phong phú trong tiến trình lịch sử loài người như vậy, nhưng khi đặt vấn đề “trang phục là gì” thì chưa có một định nghĩa nào được xem là chuẩn mực nhất Các nhà nghiên cứu đã đưa ra một số khái niệm về vấn đề trang phục như: Theo Từ điển Tiếng việt [63; tr1004]1, Từ điển Anh - Việt [60; tr1003]2,Từ điển Trung – Việt [62; tr 547]3, Từ điển Tiếng Hán [61; tr 229]4 Tuy nhiên, các cách định nghĩa trên vẫn chưa bao quát được đầy đủ ý nghĩa, nội hàm của khái niệm trang phục Qua quá trình khảo sát nghiên cứu tài liệu và thực tế đời sống xã hội chúng tôi cho rằng: trang phục là toàn bộ những đồ dùng mang mặc của con người phù hợp với từng môi trường sống và hoạt động Trang phục bao gồm: y phục và đồ trang sức, y phục là quần, áo, thắt lưng, dày dép, khăn; đồ trang sức có vòng cổ, vòng tay chân, nhẫn, khuyên tai, xà tích, thắt lưng, những dấu hiệu trên mũ, áo

QĐND và CAND là hai lực lượng đặc thù, đây là những lực lượng có trang phục riêng nên ta không thể dùng cách định nghĩa trang phục thông thường để định dạng trang phục của hai lực lượng này Đã có một số định

1 Trang phục là quần áo dành riêng cho một ngành, một nghề nào đó

2 uniform với nghĩa tính từ là: “diện mạo, không đổi, cùng một tiêu chuẩn, cùng theo những quy luật như

nhau, không biến hóa Danh từ có nghĩa là:“đồng phục, quân phục”

Trang 40

nghĩa về trang phục của hai lực lượng này như sau: theo Từ điển Tiếng Việt:

“Quân phục: quần áo đồng phục cho quân nhân Quân trang: trang phục

dùng cho quân nhân” [63; tr 974] Trong khi đó Từ điển Tiếng Hán, giải

nghĩa “quân phục” giải nghĩa là: trang phục của quân nhân… tuy nhiên, những giải nghĩa trên vẫn chưa đưa ra được khái niệm chính xác cụm từ

“trang phục Công an”

Trong các quyết định của Bộ Công an nêu rõ: trang phục CAND gồm mũ,

áo, quần, giầy, dép, thắt lưng, găng tay và các dấu hiệu trên mũ như quân hàm, quân hiệu, cành tùng, cấp hiệu, hình biểu tượng các lực lượng, ngành nghề…

Từ trước đến nay trong các văn bản của Bộ Công an chưa có định nghĩa chính thức nào về trang phục CAND Từ những nghiên cứu trên, chúng tôi có thể quy ước trang phục CAND như sau: trang phục CAND là toàn bộ những

đồ dùng mang mặc của lực lượng Công an phù hợp với tính chất, đặc điểm và môi trường hoạt động của CAND, được sản xuất theo chuẩn mực quy định của Nhà nước và Bộ Công an trong từng giai đoạn lịch sử

Như vậy, những đồ dùng mang mặc của Công an bao gồm mũ, áo, quần, thắt lưng, giày dép, găng tay và các dấu hiệu trên mũ, áo như quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu, hình biểu tượng của các lực lượng nghiệp vụ khác nhau trong CAND

Hơn 70 năm qua trang phục của lực lượng CAND đã thay đổi nhiều lần, vì cùng với quá trình kiện toàn tổ chức bộ máy của ngành Công an trang phục của lực lượng CAND Việt Nam cũng từng bước được hoàn thiện

1.2.1 Trang phục sơ khai của lực lượng CAND Việt Nam trong những ngày đầu thành lập (giai đoạn 1945-1956)

Cách mạng tháng Tám thành công nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

ra đời Cùng với sự ra đời của chính quyền cách mạng, các tổ chức đầu tiên của CAND được thành lập (Liêm Phóng và Cảnh sát ở Bắc Bộ, Trinh sát ở Trung Bộ, Quốc gia tự vệ cuộc ở Nam Bộ) làm nhiệm vụ giữ gìn an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền cách

Ngày đăng: 17/01/2019, 16:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w