1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đảng bộ tỉnh tỉnh tuyên quang lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể của dân tộc tày tu nam 1991 den nam 2012

76 765 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 1,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặt khác, nhận thức, đánh giá đúng những thành tựu, hạn chế, những thuận lợi và khó khăn trong công tác lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang về bảo tồn và phát huy giá trị tốt đẹp của d

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến Thầy giáo TS Nguyễn Đức Thìn, giảng viên trực tiếp hướng dẫn đã tận tình chu đáo giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn ông Nguyễn Việt Thanh - Giám đốc Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Tuyên Quang, bà Nguyễn Thị Thanh Hải - Phó giám đốc Bảo tàng tỉnh Tuyên Quang, nghệ nhân dân gian Hà Thuấn, người thân và bạn bè đã tạo điều kiện thuận lợi, nhiệt tình cộng tác, ủng hộ, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 10 năm 2014

Tác giả luận văn

Trần Lan Phương

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4

1 Tính cấp thiết của đề tài 4

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 5

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu, nguồn tư liệu 7

6 Đóng góp của luận văn 7

7 Bố cục của luận văn 8

Chương 1: 9

KHÁI QUÁT VỀ DÂN TỘC TÀY VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ 9

VĂN HÓA PHI VẬT THỂ CỦA DÂN TỘC TÀY TUYÊN QUANG 9

1.1 Khái quát về dân tộc Tày Tuyên Quang 9

1.1.1 Dân số, nguồn gốc dân tộc Tày Tuyên Quang 9

1.1.2 Hoạt động kinh tế 11

1.1.3 Đời sống văn hóa xã hội 14

1.2 Hệ thống giá trị văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày Tuyên Quang 15

1.2.1 Tiếng nói, chữ viết 15

1.2.2 Văn học 16

1.2.3 Diễn xướng dân gian 19

1.2.4 Lễ hội truyền thống 25

Chương 2: 33

ĐẢNG BỘ TỈNH TUYÊN QUANG VỚI VẤN ĐỀ BẢO TỒN VÀ 33

PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA PHI VẬT THỂ CỦA DÂN TỘC TÀY 33

2.1 Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa 33

2.2 Quá trình Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày, từ năm 1991 đến năm 2012 37

2.2.1 Chủ trương, chính sách của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày, từ năm 1991 đến năm 2002 37

2.2.2 Chủ trương, chính sách của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày, từ năm 2002 đến năm 2012 39

2.3 Kết quả Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang thực hiện bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày (1991 – 2012) 43

Trang 4

2.3.1 Kết quả - ý nghĩa 43

2.3.2 Hạn chế 50

2.4 Phương hướng và giải pháp phát triển văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày Tuyên Quang 53

2.4.1 Phương hướng phát triển văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày Tuyên Quang 53

2.4.2 Một số giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày Tuyên Quang 57

2.4.3 Kiến nghị 60

KẾT LUẬN 62

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

PHỤ LỤC 69

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản tinh thần vô giá, là cốt lõi của bản sắc dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong

sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc ta Di sản văn hóa bao gồm cả văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể, là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học cần được hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa và phát triển

Luật di sản văn hóa quy định: “Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho

tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động nghiên cứu, sưu tầm, bảo quản, truyền dạy và giới thiệu di sản văn hóa phi vật thể nhằm gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

và làm giàu kho tàng di sản văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam” [28, tr.19]

Tuyên Quang, một tỉnh miền núi phía Bắc nơi có nhiều đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống, nhiều nhất là dân tộc Tày Từ xa xưa, các làn điệu hát Then, hát Cọi, hát Quan làng, lễ hội Lồng Tông đã làm say đắm lòng người, đưa du khách thập phương đến với Tuyên Quang, đặc biệt trong các dịp lễ hội đầu xuân Trong xu thế hội nhập và phát triển của nền kinh tế thị trường, những giá trị văn hóa của dân tộc Tày ở Tuyên Quang không mất đi mà ngày càng được bảo vệ và phát huy Về Tuyên Quang ngày nay, du khách không những được tham quan những di tích lịch

sử cách mạng, mà còn được khám phá những nét văn hóa đặc sắc Có được thành công trên là nhờ sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang và sáng tạo của nhân dân trên lĩnh vực văn hóa

Việc đánh giá đầy đủ, khách quan, khoa học quá trình lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang

là một vấn đề có ý nghĩa chiến lược để xây dựng và phát triển ngành văn hóa du lịch Tuyên Quang Mặt khác, nhận thức, đánh giá đúng những thành tựu, hạn chế, những thuận lợi và khó khăn trong công tác lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang về bảo tồn và phát huy giá trị tốt đẹp của di sản văn hóa phi vật của dân tộc Tày cũng

là vấn đề quan trọng ở những tỉnh có đồng bào dân tộc Tày sinh sống Nghiên cứu, tổng kết, rút kinh nghiệm để thực hiện thành công bảo tồn và phát huy giá trị văn

Trang 6

hóa phi vật thể của dân tộc Tày nói chung Từ đó, tiếp tục hoàn chỉnh về lý luận, phát triển về thực tiễn để tiếp tục hoàn thiện hơn nữa việc cụ thể hóa đường lối của Đảng đối với từng địa phương, trong đó có Tuyên Quang về xây dựng và phát triển văn hóa trong sự nghiệp đổi mới, hội nhập hiện nay

Đã có rất nhiều công trình khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu về văn hóa của dân tộc Tày ở các vùng miền khác nhau, nhưng hiện nay, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu đầy đủ một cách hoàn chỉnh vấn đề của đề tài Đó là

những lý do cấp thiết để tác giả chọn đề tài: “Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lãnh đạo

bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày, từ năm 1991 đến năm 2012” làm luận văn Thạc sĩ lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt

Nam

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Xuất phát từ vị trí vai trò văn hóa các dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam, góp phần xây dựng và phát triển bức tranh văn hóa chung - nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ở Việt Nam Trong những năm qua, đã có nhiều công

trình khoa học nghiên cứu về văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày như: “Tín ngưỡng

và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam” của tác giả Ngô Đức Thịnh (chủ biên), “Văn

hóa dân tộc thiểu số - những giá trị đặc sắc” của tác giả Phan Đăng Nhật, “Lễ hội Lồng Thồng của người Tày ở Lạng Sơn” của tác giả Hoàng Văn Páo, “Văn hóa của dân tộc Tày, Nùng ở Việt Nam” tác giả Hà Đình Thanh, “Văn hóa truyền thống của các dân tộc Tày, Dao, Sán Dìu ở Tuyên Quang” của tác giả Nịnh Văn Độ, “Lễ cầu mùa của các dân tộc ở Việt Nam” của tác giả Phan Hữu Dật - Lê Ngọc Thắng,

“Quan hệ tương tác về văn hóa phi vật thể giữa văn hóa của các tộc người anh em

và văn hóa người Việt”, Tạp chí Di sản văn hóa số 4 (2005) của tác giả Phan Đăng

Nhật … Các công trình khoa học nghiên cứu nêu trên đã đáp ứng phần nào mong muốn tìm hiểu về giá trị văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày của độc giả trong và ngoài nước

Từ những khảo cứu nêu trên có thể thấy, vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể nói chung, văn hóa phi vật thể của dân tộc tày nói riêng là một nội dung phong phú, được tiếp cận ở nhiều góc độ Tuy nhiên, chưa có đề tài nào

Trang 7

nghiên cứu chuyên biệt một cách hệ thống chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày, từ năm 1991 đến năm 2012 dưới góc độ Lịch sử Đảng như đề tài luận văn tôi lựa chọn

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

- Làm sáng tỏ chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đối với việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày, từ năm

1991 đến năm 2012

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Phân tích những đặc điểm cụ thể của địa phương, yêu cầu khách quan quá trình lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày trong những năm (1991 – 2012)

- Trình bày một cách có hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang vận dụng các quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa để đề ra các chủ trương và chỉ đạo thực hiện bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày (1991 – 2012)

- Đánh giá khách quan những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế trong quá trình lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày Tuyên Quang (1991 – 2012)

- Đề ra phương hướng, giải pháp phát huy giá trị văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày Tuyên Quang trong thời gian tới

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Luận văn nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày từ năm 1991 đến năm 2012

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Chủ trương, chính sách lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang về bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày

- Về không gian: Nghiên cứu ở địa bàn tỉnh Tuyên Quang

- Về thời gian: Từ năm 1991 đến năm 2012

Trang 8

5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu, nguồn tư liệu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được tiến hành trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về bảo tồn phát triển văn hóa dân tộc

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, trong đó, đặc biệt chú ý đến các phương pháp phân tích, tổng hợp

Phương pháp điền dã (cùng ăn, cùng ở, cùng làm), điều tra dân tộc học trên địa bàn có dân tộc Tày ở Tuyên Quang sinh sống, tiêu biểu ở các huyện: Chiêm Hóa, Na Hang, Lâm Bình

Cùng với các phương pháp chủ yếu như phương pháp lịch sử, phương pháp logic, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu phỏng vấn, phương pháp thống kê

5.3 Nguồn tư liệu

- Các văn kiện Đại hội của Đảng trong thời kỳ đổi mới, nghị quyết Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư từ năm 1986 đến nay về phát triển văn hóa nói chung và bảo tồn, phát triển văn hóa phi vật thể nói riêng

- Các tác phẩm của Hồ Chí Minh về phát triển văn hóa

- Các văn kiện Đại hội, hội nghị của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang các khóa, các nghị quyết, chỉ thị một số huyện tiêu biểu về bảo tồn và phát triển văn hóa nói chung Báo cáo hằng năm của các xã, các huyện, tỉnh ủy, sở văn hóa thông tin, tài liệu khảo sát thực tế về vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày Tuyên Quang

- Các tài liệu thành văn gồm sách, báo, tạp chí trong nước, luận văn, luận án, những ghi chép của các nghệ nhân về văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày

6 Đóng góp của luận văn

- Luận văn góp phần tổng kết quá trình lãnh đạo thực hiện bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể dân tộc Tày của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang, từ năm

1991 đến năm 2012

Trang 9

- Công trình nghiên cứu của luận văn cung cấp tri thức làm tài liệu tham khảo cho người đọc và góp phần xây dựng hệ thống văn bản toàn diện

và hoàn chỉnh về văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày cho Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang

- Luận văn bước đầu nêu ra những phương hướng và giải pháp khi nghiên cứu đề tài

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn

gồm 2 chương 6 tiết

Trang 10

Chương 1:

KHÁI QUÁT VỀ DÂN TỘC TÀY VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ

VĂN HÓA PHI VẬT THỂ CỦA DÂN TỘC TÀY TUYÊN QUANG

1.1 Khái quát về dân tộc Tày Tuyên Quang

1.1.1 Dân số, nguồn gốc dân tộc Tày Tuyên Quang

Về hành chính, Tuyên Quang gồm có 1 thành phố và 6 huyện, đó là các huyện: Yên Sơn, Sơn Dương, Hàm Yên, Chiêm Hóa, Na Hang, Lâm Bình Địa bàn

cư trú của người Tày rải rác ở các huyện, nhiều nhất là ở huyện Chiêm Hóa, Na Hang, Lâm Bình

Dân tộc Tày có số dân đông nhất trong các dân tộc thiểu số ở nước ta Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009: “Người Tày ở Việt Nam có dân số 1.626.392 người, là dân tộc có dân số đứng thứ 2 tại Việt Nam, có mặt trên tất cả

người, chiếm 35,4% dân số toàn tỉnh và 31,5% tổng số người Tày tại Việt Nam), Cao Bằng (207.805 người, chiếm 41,0% dân số toàn tỉnh và 25,2% tổng số người Tày tại Việt Nam), Tuyên Quang (185.464 người, chiếm 25,6% dân số toàn tỉnh và 22,5% tổng số người Tày tại Việt Nam), Hà Giang (168.719 người, chiếm 23,3% dân số toàn tỉnh và 20,5% tổng số người Tày tại Việt Nam), Bắc Kạn (155.510 người, chiếm 52,9% dân số toàn tỉnh và 18,9% tổng số người Tày tại Việt Nam), Yên Bái (135.314 người, chiếm 18,3% dân số toàn tỉnh và 16,4% tổng

số người Tày tại Việt Nam), Thái Nguyên (123.197 người, chiếm 11,0% dân số toàn tỉnh và 15,0% tổng số người Tày tại Việt Nam), Lào Cai (94.243 người), Đắk Lắk (51.285 người) ” [3, tr 134 – 225]

Tày là tên đồng bào tự gọi và ngày nay trở thành tên gọi chính thức của dân tộc thay cho tên gọi “Thổ” trước kia “Thổ” theo nghĩa đen có nghĩa là thổ dân, người bản

xứ Dân tộc Tày còn có các tên gọi khác theo nhóm địa phương là Thổ (tên cũ), Ngạn

do mặc áo ngắn hơn, Phén mặc áo màu nâu, Thu Lao quấn khăn thành chóp nhọn trên đỉnh đầu, Pa Dí áo có thêu hoa văn ở cổ và vải vắt ngang ngực, ống tay được nối những đoạn vải màu, mũ hình mái nhà Người Tày là cư dân định cư ở Việt Nam từ rất sớm, nhiều học giả và nhiều tài liệu đã khẳng định người Tày có mặt ở miền Bắc Việt Nam từ cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước công nguyên Trong thư tịch cổ Trung

Trang 11

Quốc gọi các bộ lạc ở vùng phía Nam Trung Quốc và Bắc Việt Nam là Bách Việt

Bộ lạc Âu Việt của nhóm Tày – Nùng và bộ lạc Lạc Việt của nhóm Việt – Mường nằm trong Bách Việt, về sau liên minh với nhau thành Nhà nước Âu Lạc Âu Lạc là tên chung lấy chữ đầu của Âu Việt và chữ đầu của Lạc Việt ghép thành Như vậy, người Tày định cư rất sớm ở nước ta và còn là một trong những chủ nhân đầu tiên của nước Việt cổ

Người Tày ở Tuyên Quang gồm người gốc Tày ở đây từ lâu đời, nhưng cũng có một bộ phận người được “Tày hóa” các dân tộc khác đến sống ở vùng người Tày với nhiều lý do khác nhau do được bổ nhiệm làm quan, là binh lính được điều lên đồn trú, lánh nạn do bị thất thế, do tha phương cầu thực … Họ đến

ở, lấy vợ, lấy chồng người Tày chịu ảnh hưởng văn hóa Tày sâu sắc và trở thành người Tày Ngoài ra, còn có người Tày ở các tỉnh lân cận di cư đến Tuyên Quang Tại các huyện Chiêm Hóa, Na Hang, Lâm Bình, người Tày thường mang

họ Hà, họ Quan, họ Quân, họ Nông

Theo tài liệu nghiên cứu về khảo cổ học, cách đây hàng vạn năm, Tuyên Quang

đã có người cư trú Những vết tích về thời kỳ đồ đá tìm thấy ở Thúy Loa (Na Hang), Ngọc Hội (Chiêm Hóa), An Khang (Yên Sơn)… đã chứng minh điều đó Qua tìm hiểu các gia phả để lại, dân tộc Tày có thể là dân tộc cư trú lâu đời nhất ở Tuyên Quang Các dân tộc Cao Lan, Nùng, Hoa, Dao đến Tuyên Quang được khoảng vài ba trăm năm nay Nhưng cũng có dân tộc mới đến Tuyên Quang được khoảng trên dưới 100 năm như: Sán Dìu, Sán Chí, Pà Thẻn…

Theo số liệu thống kê, Tuyên Quang có trên 22 dân tộc anh em cùng sinh sống, chủ yếu là dân tộc: Kinh, Tày, Nùng, Dao, Sán Chay, Sán Dìu, Hoa, HMông, bao gồm:

Trang 12

6 Nùng 14.306

7 Sán Dìu 12.621

9 Các dân tộc khác 2.781

Nguồn: Theo số liệu của Cục Thống kê tỉnh Tuyên Quang năm 2010

Người Tày, gọi cộng đồng cư trú của mình là bản, bản là đơn vị cư dân nhỏ nhất, là cộng đồng gắn kết các hộ gia đình với nhau, bản nhỏ dưới 10 hộ, bản trung bình từ 15 đến 20 hộ, bản lớn có khi 50 – 60 hộ Các bản tập trung ở các địa hình khác nhau, có bản nhà này sát nhà kia, nhưng cũng có bản nhà ở theo cụm, theo hộ cách xa nhau Người Tày định cư chủ yếu ở vùng thấp, đi lại thuận tiện, gần nguồn nước, gần đồng ruộng để tiện trồng trọt Bản người Tày có nhiều cây ăn quả, cây bóng mát, cây lấy gỗ, lấy lá để lợp nhà

Mỗi bản đều có trưởng bản, phụ nữ không làm trưởng bản do quan niệm phụ quyền đã sâu đậm trong đời sống đồng bào Tày Người Tày đặt tên cho bản của mình rất giản dị họ thường lấy đặc điểm thửa ruộng, gốc cây to, khe suối … để đặt tên bản Ví dụ bản Nà Đứa xã Thanh Tương (bản gần ruộng có cây sung), xã Đức Luân, bản Nà Diêm (bản gần ruộng có diêm sinh); xã Thượng Lâm, bản Nà Tông (bản cạnh cánh đồng), bản Chùa (bản gần chùa); xã Lăng Can, bản Khuổi Kịch (bản bên cạnh suối Kịch)… Nhiều vùng ở các huyện Hàm Yên, Yên Sơn, Sơn Dương đồng bào gọi cộng đồng cư trú của mình là làng Ví dụ ở xã Hùng Lợi có làng Cóc, làng Nhà; xã Kim Quan có làng Hản; xã Tân Trào có làng Kim Long

1.1.2 Hoạt động kinh tế

1.1.2.1 Kinh tế nông nghiệp

Là người dân bản địa, người Tày quần cư và canh tác trên chính mảnh đất của mình Hoạt động kinh tế nông nghiệp trồng trọt là chủ yếu Người Tày có hai loại canh tác chính là làm nương rẫy và trồng lúa nước

- Canh tác nương rẫy:

Loại hình canh tác này hiện nay vẫn còn được duy trì do điều kiện tự nhiên

và vùng đất định cư của người Tày liền kề với núi rừng, có nhiều mảnh đất màu mỡ, thuận lợi cho việc trồng lúa nương, ngô, khoai, sắn, bông, vừng, lạc… Không phải

Trang 13

mất nhiều công chăm sóc mà các loại cây lương thực này vẫn đảm bảo năng suất cao nên trong nhiều năm đồng bào vẫn đốt nương rẫy để canh tác Hạt giống thường được chọn từ vụ trước Thóc giống về gặt bó thành cum, phơi khô để riêng trên gác bếp Ngô giống chọn bắp hạt to đều, để cả vỏ, phơi khô, treo trên gác bếp để tránh mọt Các giống đậu chọn quả to, hạt chắc, phơi khô rồi cho vào quả bầu khô, đổ tro bếp lên trên, nút kín miệng bằng lá chuối khô Người Tày khi tra lúa, ngô, đỗ và các loại hạt khác thì không cuốc hố mà dùng một cây thân gỗ vừa tay cầm, đầu vót nhọn dùng để chọc lỗ rồi bỏ hạt và lấp đất lại Canh tác nương rẫy hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, hạn hán, mưa lũ, gió lốc thường xuyên xảy ra Vì vậy, đời sống của đồng bào ngày càng bấp bênh, phương thức canh tác này ngày càng không phù hợp Ngày nay, đồng bào Tày hầu như không còn trồng lúa nương nữa, họ chuyển sang trồng các loại cây lương thực khác ở đồi thấp như: ngô, khoai, sắn, đỗ

… phục vụ cho chăn nuôi

- Canh tác lúa nước:

Những thửa ruộng bậc thang của người Tày là nét nhấn, tô điểm cho bức tranh vùng sơn cước, là dấu ấn khó phai trong tâm trí những ai đến đây dù chỉ một lần Khi canh tác lúa nước, người Tày không tra hạt như lúa nương mà gieo mạ để cấy giống như người Kinh Đất gieo mạ được làm rất kỹ, cày bừa bằng trâu Khi cày bừa xong, người ta bón phân chuồng lên ruộng, sau đó mới bừa cho mặt ruộng phẳng, láng nước Thóc để làm giống được chọn rất kỹ thuộc loại già, hạt mẩy và đều Trước khi đem đi ủ mầm, thóc được ngâm trong nước khoảng 1 ngày, sau đó, đem ủ khoảng 2 đến 3 ngày, khi hạt nảy mầm đều thì đem ra ruộng gieo Sau đó, họ dùng bù nhìn quấn bằng rơm dựng ở ruộng để xua đuổi chim khỏi ăn thóc Khi mạ gieo xong, để khoảng 4 ngày cho mầm thóc ổn định mới cho nước vào Nước được lấy từ các hệ thống mương phai nội đồng, ở các ruộng bậc thang thì nước được lấy

từ các cọn dẫn nước Từ khi gieo mạ đến khi cấy thời gian khoảng 25 đến 30 ngày

Mạ nhổ được bó thành từng nắm vừa đủ để cầm tay Ruộng để cấy được cày bừa

kỹ, khi làm ruộng người Tày sử dụng phân chuồng hoặc phân xanh để bón cho lúa Ngày nay, nhờ áp dụng khoa học và cải tiến kỹ thuật, nên đồng bào đã sử dụng các loại phân đạm hóa học, thuốc trừ sâu để chăm sóc cho lúa, nhờ vậy nên năng suất tăng cao Người Tày đã dùng loại lúa ngắn ngày để gieo trồng nên một số ruộng đã cho 2 vụ lúa trên một năm Từ năm 1991, tỉnh Tuyên Quang có chủ trương đóng

Trang 14

cửa rừng tự nhiên, công việc canh tác lúa nương chấm dứt, người Tày chỉ chuyên canh tác lúa nước và coi đó là nguồn sống chính của gia đình Ngoài ra, đồng bào còn trồng thêm hoa màu tham gia trồng và bảo vệ rừng góp phần “phủ xanh đất trống, đồi núi trọc”

- Săn bắt:

Tuyên Quang là tỉnh có độ che phủ rừng khá lớn, nổi tiếng có khu rừng nguyên sinh Na Hang Nơi đây, có nguồn động thực vật phong phú Trước đây, hầu như gia đình người Tày nào cũng đều có khẩu súng săn Hoạt động săn bắn vừa để cải thiện bữa ăn gia đình vừa là nguồn giải trí hứng thú của người Tày

Họ dùng súng tự chế hoặc dùng nỏ để săn bắn những loài động vật nhỏ như: cầy, nai, nhím, don …

- Hái lượm:

Sống trong môi trường rừng núi và khi cuộc sống còn bấp bênh, việc thu lượm các sản phẩm tự nhiên trong rừng có ý nghĩa lớn về mặt kinh tế Sau buổi làm nương, đồng bào tranh thủ hái rau rừng, nấm, măng về làm thức ăn Những lúc giáp hạt, đồng bào đào củ mài, thậm chí cả củ nâu, củ pấu để thay gạo Rừng còn là nơi cung cấp nhiều loại thuốc tốt như mật ong, tầm gửi, các loại lá thuốc chữa bệnh

Trang 15

- Nghề thủ công truyền thống:

Nghề dệt vải là sản phẩm của lao động thủ công và là một giá trị văn hóa quan trọng của nền văn minh tiền công nghiệp Nghề dệt vải truyền thống của người Tày xuất hiện từ rất sớm Nghề dệt là một trong những nghề thủ công cơ bản có vị trí quan trọng không thể thiếu trong đời sống kinh tế, văn hóa cộng đồng người Tày Tuyên Quang

Nghề dệt truyền thống của người Tày mang tính xã hội cao, gắn bó khá mật thiết với phụ nữ Tày, được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác Những người phụ

nữ Tày hầu như ai cũng biết trồng bông, dệt vải Những mảnh vải ít thêu thùa và trang trí hoa văn, nhưng hoa văn được dệt trên vải lại rất phong phú, đa dạng tùy theo mục đích sử dụng của sản phẩm Vải nhuộm chàm dùng để may quần áo, vải trơn dùng trong tang lễ, vải thổ cẩm dùng để nhuộm vỏ chăn, vỏ gối, địu, túi đeo … với nhiều kiểu dáng như kiểu hoa hồi, hoa lê, hoa móc, quả trám … Những sản phẩm này, thể hiện sự sáng tạo thẩm mỹ, kỹ năng, kỹ sảo tinh tế, niềm tin tín ngưỡng và chuẩn mực đạo đức của đồng bào Tày

Nghề dệt vải đã gắn chặt với phong tục cưới xin truyền thống của người Tày

từ bao đời nay Để chuẩn bị hành trang về nhà chồng, các thiếu nữ Tày phải tự tay dệt rất nhiều vỏ chăn, gối để biếu những người thân trong gia đình nhà chồng Trong phong tục cưới xin người Tày có tục dâng tấm vải khô ướt Tấm vải khô ướt một đầu nhuộm hồng tượng trưng cho phần khô Dâng tấm vải có hai phần khô ướt mang ý nghĩa đền ơn người mẹ chăm sóc nuôi con (chỗ ướt mẹ nằm, chỗ khô dành cho con) Trong các lễ vật dẫn cưới không thể thiếu tấm vải hai phần khô ướt Đây

là nét đẹp trong phong tục cưới của người Tày mang ý nghĩa sâu sắc về lòng hiếu thảo của con cái đối với công lao sinh thành và giáo dưỡng của người mẹ Qua đó, thể hiện sự khéo léo, tài hoa và quan niệm thẩm mỹ của người phụ nữ Tày Phong tục này mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc và đã trở thành nét văn hóa truyền thống đẹp của người Tày

1.1.3 Đời sống văn hóa xã hội

Dân tộc Tày là dân tộc chiếm số đông sau dân tộc Kinh ở Tuyên Quang nên đời sống văn hóa xã hội của đồng bào Tày ngoài những nét văn hóa đặc trưng của dân tộc có sự tương đồng lớn với người Kinh Có thể kết luận, đời sống văn hóa xã

Trang 16

hội của đồng bào dân tộc Tày rất đa dạng và phong phú, nhưng vẫn lưu giữ được nét tinh hoa văn hóa của dân tộc Đời sống văn hóa xã hội đa dạng, phong phú thể hiện qua các ngày tết lễ, lễ hội truyền thống của người Tày Cũng giống như người Kinh, người Tày có Tết Nguyên Đán, Tết Thanh minh (mồng 3 tháng 3 âm lịch), Tết Đoan Ngọ (mồng 5 tháng 5 âm lịch), Rằm tháng bảy, Tết Trung thu (rằm tháng tám), Tết Đông Chí Ngoài ra, có lễ cúng Tiên nông (vào ngày mồng sáu tháng sáu),

lễ mừng Thọ được định ra theo mức tuổi cách nhau 1 giáp (12 năm): Với người 49 tuổi người Tày làm lễ mừng Phúc, với người 61 tuổi làm lễ mừng Thọ, với người 73 tuổi làm lễ mừng Khang, với người trên 73 tuổi làm lễ mừng Ninh Song song với lịch sản xuất nông nghiệp, người Tày có các lễ hội gắn với nguyện vọng, mong ước mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu tiêu biểu là lễ hội Lồng Tông (xuống đồng) được tổ chức vào ngày mồng 7 đến ngày 12 tháng giêng âm lịch

Dân tộc Tày ở Tuyên Quang phần lớn thờ tổ tiên là chính, ngoài ra, còn thờ các vị thần thường gặp trong đạo Phật và đạo Giáo, thờ một số vị anh hùng dân tộc, đặc biệt là thờ mẹ Va (mẹ Hoa), người mẹ theo quan niệm của người Tày là bà mẹ sinh ra vạn vật trên trần gian và cho người Tày có cuộc sống như ngày hôm nay Sức mạnh của mẹ Va được ví như Ngọc Hoàng trên thiên đình

1.2 Hệ thống giá trị văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày Tuyên Quang

1.2.1 Tiếng nói, chữ viết

1.2.1.1 Tiếng nói

Tiếng Tày thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái có vốn từ vựng rất phong phú

và là ngôn ngữ chính dùng để giao tiếp cho người Tày nói chung và người Tày Tuyên Quang nói riêng Tuy cùng là tiếng Tày nhưng mỗi địa phương lại có cách phát âm nặng, nhẹ khác nhau Tiếng Tày ở huyện Na Hang phát âm nặng hơn tiếng Tày ở huyện Chiêm Hóa, Sơn Dương, Yên Sơn Hệ thống tiếng nói của người Tày ngày nay đã vay mượn khá nhiều từ Hán Việt như: đi chợ (pây chợ), đi học (pây học), oto, xe máy, vi tính … để làm phong phú thêm vốn từ của dân tộc Tiếng Tày được ví như chim hót bởi ngữ điệu trầm bổng rất đặc sắc hơn nữa, tiếng Tày có điểm nhấn trong trọng âm rõ ràng làm cho lời nói có sức thu hút và hấp dẫn đặc biệt tới người nghe Đồng thời, qua đó cũng thấy được sự truyền cảm của lời nói Tuy mỗi vùng có cách phát âm khác nhau nhưng về cơ bản, tiếng Tày dễ học và dễ nói

Trang 17

Giống như phát âm tiếng Kinh của người Kinh, người Tày có sự khác biệt trong phát âm nặng, nhẹ ấy là do thói quen dùng tiếng bản địa của từng vùng Cách phát

âm khác nhau ở mỗi vùng miền của đồng bào Tày Tuyên Quang tạo nên sự phong phú cho tiếng Tày Người Tày dùng tiếng nói của mình để giao tiếp như ám hiệu riêng giữa những người cùng sống chung

1.2.1.2 Chữ viết

Trước đây, người Tày không có chữ viết riêng nên phải dùng chữ Hán Qua các tài liệu và nguồn thư tịch cổ cho thấy người Tày ở Tuyên Quang đã sử dụng chữ Hán làm chữ viết của dân tộc mình khoảng từ thế kỷ XI (Căn cứ vào tấm bia: “Bảo Ninh Sùng Phúc tự bi” (Bia chùa Bảo Ninh Sùng Phúc), được phát hiện tại xã Yên Nguyên, huyện Chiêm Hóa, nội dung của tấm bia ghi sự kiện Hà Hưng Tông (Tức

Hà Di Khánh – Châu mục, châu Vị Long), người có công giúp triều đình nhà Lý chống quân xâm lược nhà Tống thế kỷ XI Chữ Hán được người Tày Tuyên Quang

sử dụng khá phổ biến trong các văn bản vào khoảng thế kỷ XV Qua cuộc điều tra khảo cổ học thuộc dự án Bảo tồn văn hóa vùng lòng hồ thủy điện Tuyên Quang (2003) các nhà khảo cổ học đã phát hiện được hàng loạt ngôi mộ cổ của người Tày

cổ tại di chỉ Leo Luông xã Thúy Loa, di chỉ Heo Uẩn xã Trùng Khánh của huyện

Na Hang, các tấm bia mộ có niên đại vào thế kỷ XV

Trải qua quá trình tiếp thu và ảnh hưởng văn hóa Hán, cư dân cổ người Tày Tuyên Quang đã sáng tạo ra chữ viết riêng cho mình dựa trên cơ sở chữ tượng hình

là chữ Hán để tạo thành một thể loại chữ viết rất độc đáo gọi là chữ Nôm Tày Chữ Nôm Tày là loại chữ dùng chữ Hán ghép lại với nhau để ghi lại âm điệu của người Tày Cho tới ngày nay, chữ Nôm Tày gần như chỉ xuất hiện trong các văn tự cổ, và trong các bài văn khấn, các hình thức sinh hoạt nghi lễ của thầy Then, thầy cúng Thay vì sử dụng chữ Nôm Tày, người Tày Tuyên Quang hiện nay sử dụng chữ quốc ngữ để viết lại phiên âm tiếng Tày và coi đó là chữ viết của người Tày

1.2.2 Văn học

1.2.2.1 Chuyện kể

Trong kho tàng văn học dân gian của người Tày, thể loại chuyện kể dân gian còn được bảo lưu khá phong phú và đa dạng Các câu chuyện kể được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác qua lời kể của ông bà, của cha mẹ cho các con, các cháu

Trang 18

nghe Nội dung của thể loại truyện kể dân gian của đồng bào Tày phản ánh những khía cạnh khác nhau của đời sống xã hội Đó là các câu chuyện truyền thuyết giải thích nguồn gốc của vũ trụ, sự ra đời của loài người, sự tích các loài vật, lý giải các hiện tượng tự nhiên … Mỗi câu chuyện ở các thể loại khác nhau nhưng đều mang giá trị nhân văn sâu sắc, đều có nội dung giáo dục lối sống, đạo đức, hướng con người tới giá trị chân, thiện, mỹ của cuộc sống con người

Giải thích về nguồn gốc của các dân tộc, truyền thuyết của người Tày ở huyện Na Hang có “Chuyện quả bầu”; ở xã Thượng Lâm, đồng bào vẫn lưu truyền những câu chuyện truyền thuyết ly kỳ, hấp dẫn cắt nghĩa sự trùng điệp của dãy núi

đá vôi dọc theo hữu ngạn của thượng nguồn sông Gâm Nơi đây, gắn với truyền thuyết đàn Phượng Hoàng đi tìm đất làm kinh đô Truyền thuyết còn được lưu truyền khá phổ biến trong mỗi người dân nơi đây Chuyện kể rằng: “Ngày xửa, ngày xưa có một đàn Phượng Hoàng đi tìm đất làm kinh đô Khi bay tới vùng đất Thượng Lâm, 99 con Phượng Hoàng bay về trước, mỗi con đậu trên một đỉnh núi, còn một con bay về sau không có chỗ đậu Vì vậy, con Phượng Hoàng bay đi và không lấy nơi này làm kinh đô nữa” Mỗi tên sông, tên núi nơi đây đều được khoác lên mình tấm áo huyền thoại Những câu chuyện truyền thuyết được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, đời nối tiếp đời đã góp phần làm phong phú kho tàng văn hóa dân gian của đồng bào Tày Tuyên Quang

Người Tày Tuyên Quang có kho tàng truyện kể dân gian hết sức phong phú Bên cạnh đó, là những câu tục ngữ, câu đố, các làn điệu hát then, hát lượn

… thấm sâu vào tâm hồn người Tày một cách tự nhiên, sâu lắng từ lời ru của

mẹ thủa còn thơ bé, khi còn nằm trong nôi đến khi lớn lên được nghe bà kể chuyện lúc đêm khuya

1.2.2.2 Ca dao, tục ngữ

Trong kho tàng văn hóa dân gian thì loại hình ca dao, tục ngữ của người Tày rất đặc sắc phản ánh tất cả mọi mặt của đời sống xã hội trong quan hệ giữa con người với con người, con người với thiên nhiên

Nói về kinh nghiệm sản xuất, đồng bào Tày có câu:

Tỉnh hiêng hói đảy chin, Tỉnh mèng lìn thai dác

Trang 19

Tạm dịch:

Tháng ba gieo mạ, Tháng năm cấy ruộng

Thành ngữ còn lại trong cộng đồng đồng bào Tày còn rất ít nhưng mang giá trị nhân văn và có ý nghĩa răn dạy con người sâu sắc

Thai đin phăng, Nhằng đin liệng

(Chết đất chôn, Sống đất nuôi)

Pjạ khần ái nhặc, Cần sắc ái chẩu, Cần bẩu ái sang

(Dao sắc thích băm, Người chăm thích khiến, Người đần thích đùa)

Sắc việc bản, Chặn việc lườn

(Chăm việc làng, Nhác việc nhà)

Chin hẩu đo,

Lo hẩu thuổn, (Ăn cho đủ,

Lo cho trọn)

Chắc hết lè đo, Chắc kho lẻ ún, (Biết làm thì đủ, Biết co thì ấm)

Trang 20

1.2.2.3 Câu đố dân gian

Đây là một trong các loại hình văn học nghệ thuật dân gian được đồng bào Tày yêu thích và hay sử dụng Câu đố dân gian được bắt nguồn từ đời sống sinh hoạt, quá trình lao động sản xuất thường nhật và lối tư duy dân dã và được thể hiện bằng trực quan sinh động hết sức tinh tế Đồng bào Tày đã tạo nên một kho tàng câu

đố dân gian khá phong phú như câu đố về các loài vật, cây cỏ, đồ vật, dụng cụ sinh hoạt quen thuộc hàng ngày dưới nhiều hình thức thể hiện

Câu đố về hoa quả là câu đố khá độc đáo, được thể hiện bằng làn điệu hát cọi (hát đối đáp) giữa thanh niên nam nữ Tày, họ thường hát vào các dịp lễ hội hay các dịp đầu năm vào mỗi độ xuân về Câu đố được sáng tác theo kiểu văn vần

dễ thuộc, dễ nhớ:

Thứ gì ăn vào đầu năm?

Thứ gì ăn vào tháng chín mùa gặt?

Thứ gì ăn vào tháng ba mùa giáp hạt?

Thứ gì ăn vào tháng chạp mùa đông?

Thứ gì ăn cả lông cả vỏ không phải bóc?

Thứ gì ăn ở bên ngoài bóc ở bên trong?

Măng vầu ăn đầu năm, Quả quýt ăn vào tháng chín mùa gặt,

Củ mài ăn vào mùa giáp hạt tháng ba, Quả cọ ăn vào tháng chạp mùa đông, Quả đào ăn cả lông không phải bóc,

Mề gà ăn ở ngoài bóc ở trong

Như vậy, ngoài câu đố thông thường thì trong kho tàng câu đố dân gian của đồng bào Tày Tuyên Quang còn xuất hiện một số câu đố viết theo thể văn vần dưới dạng các làn điệu hát Cọi Câu đố tuy mộc mạc, đơn giản, dễ hiểu nhưng ẩn chứa trong đó những giá trị nhân văn sâu sắc và thể hiện sức sáng tạo của các nghệ nhân dân gian đồng bào Tày

1.2.3 Diễn xướng dân gian

Diễn xướng là thuật ngữ được dùng khá quen thuộc trong nghiên cứu văn học nghệ thuật và đặc biệt là trong nghiên cứu văn học, văn hoá dân gian Song,

Trang 21

trong quá trình nhận diện, nhiều vấn đề liên quan đến thuật ngữ này còn chưa thật

sự thống nhất Trong kho tàng di sản văn hóa phi vật thể của người Tày, hát quan làng, hát then được coi như một hình thức diễn xướng theo thể dân ca nghi lễ của dân tộc Tày

Khách:

Kính thưa các bạn đứng giữa đường!

Nhà người có hoa thơm bông quý,

Em tôi còn sống lẻ một thân, Hoa người lại đang xuân nở nhị, Hoa người lại đang tuổi nở đều, Sáng chói đẹp như sao giữa tháng, Hai bên đã gặp mặt thuận tình

Trang 22

Bố mẹ cùng họ hàng thuận ý, Hôm nay mới làm lễ đón dâu, Chúng tôi mới đến đây nộp lệ, Lợn gà cùng các thứ gánh gồng, Của con rể trả ơn bố mẹ,

Ơn bạn hãy mở cửa cho vào

Hát Quan làng không phải là để dành phần thắng, phần thua mà là để mời chào Lời hát Quan làng được hát theo trình tự nghi lễ một đám cưới Trên đây chỉ

là một trích đoạn trong lễ cưới mà tác giả muốn giới thiệu

1.2.3.2 Hát Then

Then là những khúc hát, điệu múa thuộc thể loại dân ca nghi lễ, phong tục từ lâu đời của dân tộc Tày Tuy nguồn gốc từ “Then” là chữ “thiên” (trời), nhưng những người làm thầy Then không phải là thiên tử mà chỉ là những thầy cúng bình thường Hát Then gắn với nghi lễ thờ cúng và đồng thời, đồng bào Tày hát Then như để trao gửi tâm tình của mình tới bạn bè anh em, tới người thương và tới Ngọc Hoàng Then được phân theo hình thức thể hiện và nội dung Trong Then có các thể loại truyện (thần thoại, cổ tích, ngụ ngôn, truyền thuyết) Nhiều tích truyện có nội dung giải thích nguồn gốc một số sự vật, hiện tượng về vũ trụ, thiên nhiên Cách giải thích đơn giản, mộc mạc nhưng khá ly kỳ, phản ánh thế giới quan của người Tày xưa Chẳng hạn,

trong truyện “Bách điểu tranh công” loài chim nào cũng tự cho mình là đẹp nhất và muốn giành được quyền lực Hay chuyện “Vì sao gà mái ấp trứng vịt”: Ông mặt trời

lặn bốn mươi ngày không mọc Muông thú chẳng có ngày phải nhờ tiếng gáy của con

gà, mặt trời nhô lên đằng Đông, nhưng gà không tự bơi đến nơi chân trời để cất tiếng gáy gọi mặt trời mọc mà phải nhờ vịt bơi cõng gà Để đáp lại ơn ấy, nay gà phải ấp trứng cho vịt

Then là những câu văn vần, có nhiều từ tượng hình, tượng thanh là truyện thơ được gắn vào một làn điệu cụ thể để diễn xướng thành dân ca Then có nhạc cụ đệm là đàn tính và chùm xóc Trong Then khắc họa nhiều hình ảnh, cảnh vật thiên nhiên được đặc tả khá đậm nét trong các bức tranh trang trí tại đàn lễ của các đám cúng lớn như lễ cấp sắc, cầu mùa … Then có đối thoại mang kịch tính thu hút người nghe Chẳng hạn, đoạn Chúa tạng (quân binh then) trên đường hành lễ gặp đàn

Trang 23

bướm tại bãi sỏi, hỏi nguồn gốc, quê quán của bướm ở đâu, bướm rằng: Vốn xưa

em cũng là con người, cũng có tình yêu, thầm ước ao kết duyên với nàng Quế, hẹn nàng tháng ba ra soi nói chuyện, nhưng chờ ba ngày chẳng thấy nàng đâu, nỗi buồn khôn xiết; bực mình không chịu nổi em đã thắt cổ hóa kiếp thành con bướm Hàng năm, cứ đến tháng ba em lại ra bãi soi tìm bạn Tương tự có nhiều đoạn Then tự sự khá hấp dẫn Trong Then cũng có nghệ thuật múa như múa quét hoa, múa chèo thuyền, săn bắt thú

Mọi thủ tục cúng bái, nghi lễ của thầy Then phản ánh khá rõ yếu tố tâm linh, tín ngưỡng trong Then Người Tày xưa quan niệm, vũ trụ có 3 cõi: thượng nguyên (mường Trời), trung nguyên (dương gian), hạ nguyên (âm phủ, thủy phủ) Trên mường Trời có Ngọc Hoàng cai trị cả ba cõi, dưới Ngọc Hoàng là các tinh quân, thiên vương, thiên tướng, thiên sư … giúp Ngọc Hoàng quan sát ba cõi, nhận lệnh ban phúc hay giáng họa Dưới âm phủ (diêm la) là cơ quan “tư pháp của Ngọc Hoàng” Con người ở trần gian nếu sống lương thiện, tu nhân tích đức, ở hiền thì sẽ gặp lành; còn sống giả dối, ác giả làm điều hại cho người khác thì sẽ bị trừng phạt

- Phân loại Then (theo hình thức thể hiện, cách sử dụng, sắp xếp trình tự nội dung Then):

Chia thành hai loại Then tính và Then quạt

+ Then quạt: Then quạt cùng nhóm với Pụt (nghĩa là Bụt, thầy Bụt), ngôn

ngữ sử dụng chủ yếu là tiếng Tày, Then quạt ra đời sớm hơn Then tính Khi hát, thầy then chỉ dùng quạt, mặc quần áo mầu đỏ, khăn đỏ, mũ đỏ Giai điệu Then quạt hát kéo dài như hát Pụt, chủ yếu là âm điệu ừ,ừ,ừ không có nhạc đệm, thời gian hát dài hơn Then tính Khi hát đầu hơi lắc lư, một tay cầm quạt phe phẩy nhẹ nhàng trước mặt, một tay cầm khăn đỏ Nội dung đường then cơ bản giống Then tính, chỉ

có một số câu khác Then tính; Then quạt có bộ sách riêng, ra đời trước Then tính Hiện nay, số người biết hát Then quạt tại Tuyên Quang còn lại rất ít

Then quạt được sử dụng trong các nghi lễ Cầu yên như: Cúng mụ, cúng giải hạn, cúng chữa bệnh hoặc cúng đầu ma Trước khi mời thầy về cúng, gia chủ phải sắm một mâm lễ gồm: Xôi, thịt, rượu, gà; sau đó phải thắp hương, đánh trống, kẻng

để xin phép thần thánh làm lễ Một buổi lễ thường được tiến hành trong khoảng 2 giờ, riêng lễ Cấp sắc được tổ chức trong 2 ngày đêm Nghi lễ Then quạt phải hát

Trang 24

qua 15 bài cúng: Cúng thổ công, cửa thần, cửa gia tiên, cửa tổ tiên, cửa bụt, cửa then, cửa cha (vàng thiên), cửa thần, cửa tứ phủ, cửa đình chùa, cửa mụ bà, cửa hồn (cửa khoăn), cửa hạn, cửa cửu thần, mở các cửa

+ Then tính: Then tính ra đời và phát triển trên cơ sở Then quạt, có nhạc cụ

đệm là đàn tính và chùm sóc, quả nhạc Khi thể hiện, vừa đàn vừa hát, nhịp đi lúc nhanh, lúc chậm tùy vào nội dung khúc hát; nếu thời gian cùng thể hiện một khúc hát thì Then tính nhanh gấp ba lần Then quạt Như vậy, Then tính rút gọn hơn về số câu và nhịp phách Ở Then quạt âm điệu chủ yếu là ừ,ừ; thì ở Then tính âm điệu là

ới la, ới là (có nghĩa là khát vọng giao đãi của con người với trời đất, thiên nhiên, vạn vật) Đặc biệt, âm điệu ới la được bắt đầu trước khi vào câu hát, chỉ có trong Then của Tuyên Quang Trước khi hát, dạo nhạc đàn tính, rồi mới bắt vào lời Khi xướng lên, nhiều cụm từ liên khúc rất nhanh, sau đó ngắt để vào câu tiếp theo, rồi ngân nga nhằm cho giữa đàn và hát luôn ăn nhịp

- Phân nhóm theo nội dung Then:

Thường chia nội dung Then làm hai nhóm là Then kỳ yên và Then lễ hội,

gồm khoảng 60 bài, cung, phủ được sử dụng hát trong các nghi lễ

+ Nhóm nghi lễ Then kỳ yên: Bao gồm các nội dung cầu yên, cầu chúc, chữa

bệnh Tỷ lệ Then kỳ yên chiếm nhiều hơn trong đường Then So với Then lễ hội, nghi lễ, Then kỳ yên phải trải qua nhiều cung đoạn gồm: Cung thổ công; cung phát pang (phát lễ cho họ nội ngoại); cung thần linh thổ địa (các thần linh); cung mồ mả, cung vua bếp (Táo quân); cung tổ tiên (gia tiên); cung bắc cầu, cầu hoa; cung mụ; cung giải hạn; phủ hội đồng; cung tam bảo; cung vua; cung khảm hải Nghi

lễ Then kỳ yên (đồng bào Tày thường gọi là làm Then) bao giờ cũng tổ chức vào ban đêm yên tĩnh, khi mọi sự sống đã lắng đọng vào giấc ngủ, chỉ còn vang vọng tiếng hát của Then, giúp mọi người lắng nghe và thấu hiểu từng lời hát một cách đầy đủ và trọn vẹn nhất

+ Nhóm nghi lễ Then lễ hội:

Then lễ hội: là những khúc hát khích lệ tinh thần mọi người thêm vui vẻ, xua

tan phiền muộn, cực nhọc vất vả trong cuộc sống để thỏa mãn ước vọng về một cuộc sống đầy đủ, muôn vật sinh linh Loại Then lễ hội thường được sử dụng trong các nghi lễ: Lễ cầu mùa, lễ vào nhà mới, lễ cấp sắc, lễ cốm Then lễ hội gồm nhiều

Trang 25

cung phủ: Giải uế, khảm hải, ca bốn mùa, tứ bách hoặc phủ thu quạt, pụt luông (chúa của thần nông), nhà phép, hội đồng, tam bảo, chợ tam quang, vua cha

Then là một hình thức sinh hoạt văn hoá truyền thống của người Tày, ra đời

từ lâu đời và gắn bó với sự hình thành, phát triển cộng đồng người Tày, phản ánh hiện thực đời sống xã hội người Tày trong các giai đoạn lịch sử

Các khúc hát Then trong nghi lễ của người Tày nhằm cầu cho vạn vật được bình an, con người khỏe mạnh, mùa màng bội thu, luôn hướng con người làm điều thiện, tránh điều ác

Nghi lễ Then là một loại hình diễn xướng dân gian tổng hợp (gồm văn học ,

âm nhạc , hội họa , múa) Các khúc hát sử dụng trong nghi lễ mang tính đô ̣c đáo riêng và thể hiê ̣n bản sắc văn hóa của dân tô ̣c Tày Hát Then là di sản văn hóa phi

vật thể đặc trưng của dân tô ̣c Tày

Then là loại nghệ thuật dân gian khá phong phú, nội dung gần gũi với quần chúng nhân dân lao động, được mọi người ưa thích và gìn giữ Lời hát Then thể hiê ̣n trong các nghi lễ đươ ̣c phát triển và duy trì qua thời gian , đây là nét tiêu biểu đô ̣c đáo, là thẻ căn cước để khẳng định, thể hiê ̣n giá tri ̣, bản sắc văn hóa độc đáo của dân

tô ̣c Tày

Các điê ̣u hát Then có tác dụng khích lệ , động viên tích cực đến đời sống tinh thần, quá trình lao động và sinh hoạt cộng đồng của người dân trong vùng Tạo nguồn cảm hứng sáng tạo cho các văn nghệ sĩ sáng tác phục vụ cuộc sống

Then chính là sự tích hợp những giá trị văn hoá nghệ thuật đặc trưng của người Tày, tiêu biểu là nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật biểu diễn cộng với môi trường diễn xướng mang đậm màu sắc tâm linh, thông qua các thể loại độc tấu, song tấu, hoà tấu, hỗn tấu cùng cây đàn tính

Thông qua nghệ thuật sắp xếp ca từ, Then đã khắc hoạ nên những hình tượng nhân vật tương phản với ý nghĩa răn đe, giáo dục người đời Để khuyên răn con cái phải hiếu thảo với cha mẹ, con người phải biết thương yêu giúp đỡ nhau Đây là hình thức diễn xướng hát có đệm đàn, đạt được hiệu quả tích cực trong giáo dục cộng đồng mà không phải hình thức tuyên truyền nào cũng làm được

Đặc biệt, các khúc hát Then ở Tuyên Quang giàu về tiết tấu, hình thức diễn

tả được nổi rõ trong các đoạn hát nói, đối đáp; giai điệu lời ca mềm mại, uyển

Trang 26

chuyển Khác với Then ở các vùng khác, Then Tày Tuyên Quang trước khi hát đều

có khúc hát dạo “ới la” Âm nhạc trong Then thu hút âm hưởng của dân ca một cách mạnh bạo

Qua các khúc hát sử dụng trong nghi lễ, giúp các nhà nghiên cứu có thêm tri thức văn hóa dân gian về đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào Tày Nghi lễ Then mang tính nhân văn sâu sắc , thể hiê ̣n ước vo ̣ng của con người về cuô ̣c sống bình an và thể hiê ̣n nhu cầu về cuô ̣c sống tinh thần, tâm linh của mỗi người dân

Nội dung các khúc hát Then đều mong nhân an vật thịnh, cầu cho mưa thuận gió hòa, con người khỏe mạnh, mùa màng tươi tốt, dạy đạo lý làm người, con người biết thương yêu nhau, phải làm nhiều việc thiện, phải biết cứu nhân độ thế Đó là cơ

sở tâm linh để củng cố niềm tin, tạo mối liên hệ thiêng liêng giữa các thành viên trong cộng đồng, giữa con người với thiên nhiên, với các hiện tượng siêu nhiên

Ngày nay các làn điệu hát Then thường được các nghệ nhân sử dụng trong các buổi liên hoan văn nghệ quần chúng ở các địa phương , vì thế, đây cũng là dịp

để mọi người cùng gă ̣p gỡ , trao đổi, thưởng thức các làn điệu độc đáo của dân tộc mình Nghi lễ Then là di sản văn hóa phi vật thể có vai trò quan trọng trong đời sống cộng đồng cư dân Tày ở Tuyên Quang

Lễ hội Lồng Tông được tổ chức tại nhiều điểm trên đi ̣a bàn 5 huyê ̣n của tỉnh Tuyên Quang : Huyện Sơn Dương , huyê ̣n Hàm Yên , huyê ̣n Chiêm Hóa , huyê ̣n Na Hang, huyện Lâm Bình

- Huyện Sơn Dương , lễ hô ̣i Lồng Tông được tổ chức ở thôn Cả và thôn Tân

Trang 27

- Huyện Hàm Yên, lễ hô ̣i Lồng Tông tổ chức ta ̣i thôn Thu ̣t, xã Phù Lưu(2)

- Huyện Na Hang, lễ hô ̣i Lồng Tông đươ ̣c tổ chức ta ̣i 4 xã(3) và 1 thị trấn

- Huyện Lâm Bình có hai điểm tổ chức lễ hô ̣i Lồng Tông ta ̣i xã Thượng Lâm

và xã Lăng Can

- Huyện Chiêm Hóa là huyê ̣n có nhiều điể m tổ chức lễ hô ̣i và có quy mô lớn nhất Lễ hô ̣i Lồng Tông ta ̣i huyê ̣n Chiêm Hóa được tổ chức theo quy mô cấp huyê ̣n ta ̣i trung tâm huyê ̣n ly ̣ Chiêm Hóa , ngoài ra lễ hội Lồng Tông ở huyện Chiêm Hóa còn đươ ̣c tổ chức theo các thôn bản và cụm thôn bản tại 20 xã trong huyện

Lễ hô ̣i Lồng Tông là mô ̣t loa ̣i hình sinh hoa ̣t văn hóa nghi lễ mang đâ ̣m tính dân gian về cô ̣i nguồn văn hóa Lễ hô ̣i Lồng Tông là lễ hô ̣i cầu mùa của cư dân trồng lúa nước Lễ hô ̣i Lồng Tông đã được lưu truyền từ lâu đời trong đời sống văn hóa tinh thần và xã hội của người Tày

Người Tày sống hòa đồng với thiên nhiên và biết lợi du ̣ng nguồn lợi tự nhiên

để phục vụ cho đời sống của mình , có hệ thống tri thức dân gian về sản xuất , về mùa vụ Người Tày có quan niê ̣m va ̣n vâ ̣t hữu linh , họ cho rằng mọi sinh vật và vật

vô tri đều có mô ̣t linh hồn trú ngu ̣ Các thế lực siêu nhiên có khả năng tự điều chỉnh sự tồn ta ̣i và ảnh hưởng đến đời sống con người Cùng với việc khắc ghi trong tâm tưởng những khi gă ̣p cơn mưa thuâ ̣n gió hòa làm cho mùa màng tốt tươi , đồng bào ghi nhớ những điều kiện tự nhiên bất lơ ̣i khiến mùa màng thất thu và cầu khấn thần linh phù hô ̣ Dần dần những niềm tin vào lực lượng siêu nhiên và hê ̣ thống thần thánh hình thành v à in đậm trong tiềm thức của người Tày cùng với ảnh hưởng của Tam giáo (Đạo giáo, Nho giáo, Phật giáo), viê ̣c thờ cúng thánh thần , cầu khấn thần nông phù hô ̣ cho viê ̣c sản xuất nông nghiê ̣p được hình thành, phát triển Điều này chính

là nguồn gốc sâu xa, là cốt lõi của lễ hội Lồng Tông cổ truyền của người Tày

Tại tỉnh Tuyên Quang , lễ hội Lồng Tông được tổ chức hàng năm tại đình , đền và các thửa ruộng hoặc bãi cỏ bằng phẳng Đây là lễ hội cổ truyền có từ lâu đời của người Tày ở Tuyên Quang gắn liền với tín ngưỡng cầu mùa , tín ngưỡng thờ thần Thành hoàng làng bao gồm : Thiên thần (Ngọc hoàng thượng đế ), Đi ̣a thần (Thần linh, thổ địa, sơn thần, long ma ̣ch), Thủy thần (Long vương, thần sông, thần suối, thần hồ, khe), Nhân thần (người sau khi chết được tôn làm thần thánh ) Tại

Trang 28

mỗi đi ̣a điểm tổ chức lễ hô ̣i ở các huyê ̣n , đi ̣a phương khác nhau người Tày thờ các

vị thần khác nhau , có n hững nơi thờ cả Thiên thần , Địa thần và Nhân thần , đó là những người có công xây dựng , bảo vệ dân làng , có những nơi chỉ thờ các Thiên thần và Nhân thần(4)

Lễ hô ̣i Lồng Tông đã được hình thành và phát triển trải qua nhiề u giai đoa ̣n lịch sử Trong thời kỳ chiến tranh , đình, đền, chùa miếu bị phá bỏ , mô ̣t số lễ hô ̣i , nghi lễ, tín ngưỡng và tập quán bị coi là mê tín dị đoan Lễ hô ̣i Lồng Tông là nghi lễ cầu mùa bi ̣ coi chứa đựng những yếu t ố mê tín thần bí , cũng đã bị mai một Từ những năm 80 của thế kỷ XX, đă ̣c biê ̣t khoảng 10 năm trở la ̣i đây, lễ hô ̣i Lồng Tông đươ ̣c phu ̣c hồi và phát triển ở hầu khắp các vùng dân tô ̣c Tày trên đi ̣a bàn tỉnh

Tuyên Quang, đặc biê ̣t ta ̣i huyê ̣n Chiêm Hóa , lễ hô ̣i Lồng Tông phát triển và có mă ̣t

ở các cấp từ thôn bản đến cụm thôn bản và cấp huyện Ngày nay, nhân dân đươ ̣c tự

do tín ngưỡng , lễ hô ̣i Lồng Tông được xem là mô ̣t tín ngưỡng , mô ̣t lễ hô ̣i đă ̣c sắc của dân tộc Tày và được dân tộc Tày cũng như các dân tộc anh em khác cùng bảo

vê ̣, giữ gìn và phát triển

Quy mô, thơ ̀ i gian, không gian diễn ra lễ hội:

Lễ hô ̣i Lồng Tông là một lễ hội đă ̣c sắc của tỉnh Tuyên Quang , lễ hội được tổ chức theo khu vực dân cư, có thể liên xóm, liên xã, có khi cả một vùng Lễ hội hàng năm đươ ̣c tổ chức từ ngày mùng 2 tháng Giêng kéo dài đến đầu tháng Hai âm lịch Tùy theo từng vùng thời gian mở hội khác nhau

Lễ hô ̣i Lồng Tông chỉ tổ chức vào những ngày đầu xuân , theo quan niê ̣m dân gian mùa xuân là thời điểm giao hòa của trời đất, âm dương Lễ hô ̣i mang không khí

Nhâ ̣t Duâ ̣t, người có công trong công cuô ̣c đánh đuổi quân xâm lược Nguyên Mông)

Tại huyện Lâm Bình , nhân dân thờ Đức Quâ ̣n Công Nguyễn Thế Quần , người có nhiều

Tại huyện Chiêm Hóa , các vị thần được nhân dân thờ cúng là Thiên nhần , Đi ̣a thần, Thủy thần và các Nhân thần: Vua Hùng, Âu Cơ; những người có công với đất nước như: Trần Hưng Đa ̣o,

Lý Thường Kiệt; những người có công xây dựng, bảo vệ dân làng được làng bản hiển thánh phong thần: Đa ̣i tướng Ma Doãn Giảo sinh ra và lớn lên ta ̣i bản Cuống, xã Minh Quang có công đánh giă ̣c Cờ Đen, bảo vệ dân bản

Tại huyện Sơn Dương, nhân dân thờ các vi ̣ Nhiên thần đa ̣i diê ̣n cho các thần sông , thần núi xung quanh làng Tân Lâ ̣p, làng Cả và các vùng lân cận

Tại huyện Hàm Yên, nhân dân thờ Quan Công và thờ Mẫu

Trang 29

vui tươi của ngày Tết Nguyên Đán , đồng thời cũng là di ̣p để mo ̣i người thể h iê ̣n tín ngưỡng tâm linh , khát vọng vươn tới hạnh phúc , cầu mong mùa màng tươi tốt bô ̣i thu, muôn vật nảy nở khỏe ma ̣nh , muôn người bình an , khang thái, phát đạt; là dịp giao thoa tình cảm, bày tỏ những điều tốt đẹp nhất giữ a con người với con người; là dịp giao lưu văn hóa , kinh tế, xã hội… Đối với sản xuất , lễ hô ̣i Lồng Tông là di ̣p đón tiếp mô ̣t mùa sản xuất mới đầy ước vo ̣ng Đối với thần thánh , đây là di ̣p mừng thần bản địa, Thành Hoàng làng và tạ ơn thần Nông đã phù hộ cho một mùa làm ăn tốt đe ̣p Ngày hội chính là thời điểm để họ hàng và bạn bè tới thăm hỏi , chúc tụng lẫn nhau sau mô ̣t mùa làm ăn Hô ̣i Lồng Tông còn là mùa vui của tuổi trẻ , nơi ho ̣ tìm đến để hát giao duyên, để trao đổi tâm tình

Ở các cụm bản , các xã gần nhau khi tổ chức lễ hội Lồng Tông thường chọn

lê ̣ch ngày để cùng nhau góp vui, giao lưu lễ hô ̣i với thôn bản khác, điều này thể hiê ̣n sự chia sẻ, cô ̣ng cảm, mang tính chất cố kết trong cô ̣ng đồng làng xã của người Tày Lễ hô ̣i cũng là nơi để các chàng trai cô gái gặp gỡ tìm hiểu và kết duyên vợ chồng

Ai đến dự hô ̣i cũng mua mô ̣t món đồ với quan niê ̣m "mua điều may, bán điều rủi"

Đồng bào thường mua các nông cụ như dao, cuốc, xẻng trong ngày hội để cầu mong cho mùa màng bô ̣i thu

Các nghi thức tế lễ, các trò chơi dân gian của lễ hội Lồng Tông được tổ chức tại đình, đền, miếu thờ các Thiên thần, Đi ̣a thần, Thủy thần, Nhân thần và ta ̣i mô ̣t khu ruô ̣ng rô ̣ng, bằng phẳng của làng

Lễ hô ̣i Lồng Tông hằng năm theo quy mô cấp thôn, xã và huyện Lễ hô ̣i Lồng Tông đươ ̣c tổ chức với sự chuẩn bi ̣ chu đáo của cả bản làng hay đơn vị dân cư nơi diễn

ra lễ hô ̣i Ban tổ chức được thành lâ ̣p gồm các cu ̣ già cao tuổi, có uy tín về nhiều mặt, đứng đầu là Pú Mo(5)

chủ trì, hướ ng dẫn dân bản làm các công viê ̣c chuẩn bi ̣ cho lễ hô ̣i Công viê ̣c chuẩn bi ̣ được cả làng, cả bản tham gia, bàn bạc, đóng góp ý kiến, biểu hiê ̣n tính dân chủ, cố kết cô ̣ng đồng ở mức đô ̣ nhất đi ̣nh(6)

Trước ngày lễ hô ̣i diễn ra hằng tháng , đồng bào Tày ở các bản làng phân công cu ̣ thể các công viê ̣c chuẩn bi ̣ cho lễ hô ̣i Không khí chuẩn bi ̣ lễ hô ̣i phấn khởi ,

(5)

(6)

cúng bái đến các lễ thức tổ chức lễ hội đều do Tri Châu chỉ đạo, ủy nhiệm

Trang 30

nhô ̣n nhi ̣p bao trùm lên tất cả các gia đình và toàn thôn bản Mỗi nhà trong thôn bản đều chuẩn bị một mâm lễ cúng thần trong ngày lễ , trong đó có các lo ại bánh, hoa quả, tiền vàng , thịt gà , thịt lợn Để làm các loa ̣i bánh cho lễ cầu khấn , đồng bào chọn lúa ở những nương rẫy tốt , hạt to, mẩy Gà, lơ ̣n thịt làm lễ được chọn kỹ , phải

là gà trống thiến , đươ ̣c nuôi béo, quây liếp dưới sàn nhà Những gia đình nghèo có thể mổ chung lơ ̣n với mô ̣t hoă ̣c vài nhà khác để đảm bảo không mô ̣t nhà nào thiếu thốn lễ vâ ̣t trong ngày lễ hô ̣i ; đây là nét đe ̣p về lòng nhân ái và tính cố kết cô ̣ng đồng trong lễ hô ̣i Lồng Tông của người Tày

Những gia đình có thanh niên và trẻ nhỏ hồ hởi mua sắm quần áo mới , mũ mới, khăn mới để đi dự hô ̣i , thể hiê ̣n tinh thần hướng tới cái đe ̣p của mỗi người trong cô ̣ng đồng tô ̣c người Tày

Ở các làng bản , nam thanh niên tổ chức các đô ̣i múa lân từ 10 - 15 người gồm các chàng trai khỏe ma ̣nh , giỏi võ , tâ ̣p luyê ̣n chuẩn bi ̣ múa lân cho ngày

hô ̣i Dụng cụ của đội múa lân có đầu lân (hiện nay đươ ̣c làm gần giống đ ầu sư tử), trống, thanh la , não bạt được trang trí và làm mới để phục vụ lễ hội

Trước ngày hô ̣i , đồng bào do ̣n sa ̣ch sẽ khu vực đình , đền, miếu thờ thần và khu ruô ̣ng , sân vâ ̣n đô ̣ng đã được cho ̣n để tổ chức lễ hô ̣i ; dựng đàn cúng tế để làm lễ cúng tế thần linh , dựng cây nêu để tung Còn , cô ̣t treo trống , kỳ đài để biểu diễn văn hóa nghê ̣ thuâ ̣t dân gian cũng như các trò diễn dân gian của mình , xếp các dãy bàn để sắp mâm lễ , dựng ra ̣p đón tiếp khách và kê bàn ghế đa ̣i biểu Diễn trình lễ hô ̣i Lồng Tông gồm có hai phần : Phần lễ và phần hô ̣i ; theo các nhà nghiên cứu về lễ hội Lồng Tông của người Tày cho rằng "phần nghi lễ thể hiê ̣n cái tinh thần và phần hội thể hiê ̣n cái tinh hoa" Theo đó, khi tham gia lễ hô ̣i Lồng Tông

của người Tày, mỗi người có thể cảm nhâ ̣n được cả "cái tinh thần" và "cái tinh hoa"

của người Tày ở Tuyên Quang nói riêng và dân tộc Tày ở Việt Nam nói chung

Ngày tổ chức lễ hội Lồng Tông tại thôn Tân Lập , xã Tân Trào còn là ngày thể hiê ̣n sự biết ơn vô ha ̣n đối với Chủ ti ̣ch Hồ Chí Minh Nhân dân các dân tô ̣c Tân Trào dành giây phút tưởng nhớ hình ảnh gần gũi của Người , thể hiê ̣n niềm vui và lòng biết ơn đối với công lao của cụ Hồ đã mang lại ấm no , hạnh phúc cho nhân dân

và biết ơn các vị thần đã che chở, phù hộ cho dân làng trong năm vừa qua

Trang 31

Giá trị thẩm mỹ: Thể hiê ̣n ngay từ khâu chuẩn bi ̣, đi ̣a điểm tổ chức lễ hô ̣i được lựa cho ̣n kỹ, các lễ vật được lựa chọn và chế biến cầ u kỳ, khéo léo; thể hiê ̣n qua các nghi lễ nghiêm trang thành kính, trâ ̣t tự, nề nếp; qua trang phu ̣c của các thành viên về dự hô ̣i; qua các trò chơi, trò diễn sôi nổi đầy sức xuân

Giá trị biểu tượng : Thể hiê ̣n qua các nghi lễ , diễn xướng, đă ̣c biê ̣t nổi bâ ̣t là thông qua hình tượng múa lân, tung Còn, kéo co…

Giá trị cố kết cộng đồng : Lễ hô ̣i Lồng Tông không chỉ là lễ hô ̣i của riêng người Tày ở Tuyên Quang mà còn là lễ hô ̣i thu hút sự góp mă ̣t đô ng đảo của các dân tô ̣c anh em như : Hoa, Nùng, H'mông, Dao, Kinh… và nhân dân các vùng lân

câ ̣n ta ̣o nên mô ̣t lễ hô ̣i đa sắc thái , đa dân tô ̣c Lễ hô ̣i là nơi gă ̣p gỡ , trao đổi, giao lưu tình cảm , thể hiê ̣n sự cô ̣ng mê ̣nh , cô ̣ng cảm sâu sắc trong hoa ̣t đô ̣ng tâm linh , trong các hoa ̣t đô ̣ng vui chơi giải trí của cô ̣ng đồng thông qua lễ hô ̣i ta ̣o nên sức cố kết cô ̣ng đồng lớn

Có thể nói , lễ hô ̣i Lồng Tông là mô ̣t hình thức sinh hoa ̣t văn hóa văn nghê ̣ tổng hơ ̣p của m ột cộng đồng người Lễ hô ̣i gắn liền với đời sống , thể hiê ̣n các tri thức và quan niê ̣m dân gian, vốn văn hóa truyền thống đô ̣c đáo đồng bào Tày Sự cư trú xen ghép giữa các dân tộc tạo cho lễ hội Lồng Tông của người Tày ở Tuyên Quang vươ ̣t ra ngoài khuôn khổ lễ hô ̣i của mô ̣t dân tô ̣c mà trở thành lễ hô ̣i chung của nhân dân các dân tộc trong vùng

Lễ hô ̣i Lồng Tông mang tính nhân văn sâu sắc , thể hiê ̣n đa ̣o lý "uống nước

nhớ nguồn" của dân tộc dân tộc Tày ở Tuyên Quang nói riêng và nhân dân các dân

tộc nói chung, đồng thời thể hiê ̣n ước vo ̣ng về cuô ̣c sống giàu đe ̣p , thể hiê ̣n nhu cầu về cuô ̣c sống tinh thần, tâm linh của mỗi người dân

Các hoạt động trong lễ hội nhằm mục đích để cầu mong cho mưa thuận gió hòa, dân an vật thịnh Đồng thời lễ hội cũng là dịp gặp gỡ trao đổi, thưởng thức các hoạt động văn hóa văn nghệ, trò chơi dân gian hấp dẫn Lễ hô ̣i Lồng Tông là di sản văn hóa phi vật thể có vai trò quan trọng trong đời sống cộng đồng cư dân Tày ở Tuyên Quang, đã và đang được lưu truyền, kế thừa, phát triển

1.2.4.2 Lễ hội Tung Co ̀ n

Tung Còn theo tiếng Tày là "tức Còn", nghĩa là đánh còn hay ném Còn, đây là

mô ̣t trò diễn quan tro ̣ng trong ngày hô ̣i gắn với tâm thức cầu mùa của dân tô ̣c Tày

Trang 32

Tung Còn có hai loa ̣i , mô ̣t loa ̣i vừa vui chơi giải trí vừa gắn với nghi lễ cầu mùa là quả Còn được ném qua vòng tròn của cây Còn được dựng sẵn ; một loa ̣i là Tung Còn tự do của các đôi nam nữ , gắn với tình yêu Lễ hội Tung Còn được tổ chức hàng năm ở tất cả các xã trong địa bàn tỉnh Tuyên Quang nơi có người Tày sinh sống Tại một số huyện như huyện Chiêm Hóa, huyện Na Hang, Tung Còn gắn với lễ hội Lồng Tông Tuy nhiên, ở các huyện khác như huyện Yên Sơn , Sơn Dương thì Tung Còn được tổ chức như lễ hội truyền thống không thể thiếu hàng

năm vào dịp tết đến xuân về Trò chơi ném Còn xuất phát từ tình yêu , nhưng tình yêu bao giờ cũng gắn kết với cuô ̣c sống lao đô ̣ng sản xuất Tình yêu càng nảy nở , càng thắm sắc khi kết quả vụ mùa được nâng cao , đó cũng là ý nghĩa đan xen trong nghi lễ cầu mùa của trò chơi này

Trước khi bắt đầu trò chơi , đồng bào dựng cây nêu để tung Còn ở trên "Nà Lồng Tông" bằng tre hoă ̣c mai non chưa ra lá , có độ dẻo và đàn hồi tốt , cao 15m đến 30m(7) Trên đỉnh cô ̣t uốn mô ̣t vòng tròn đường kính 30 - 50cm, lấy giấy phong kín hồng tâm Vòng tròn tượng trưng cho mặt trời , liên quan đến tu ̣c thờ mă ̣t trời, quay theo hướng Đông - Tây, phía Đông viết chữ nhật (mă ̣t trời), phía Tây viết chữ nguyê ̣t (mă ̣t trăng) với tâm thức âm dương hòa hợp Vòng giấy trắng là biểu tượng của "xử nữ ma ̣c " của người trinh nữ , hô ̣i ném còn là mô ̣ t nghi thức phồn thực , cầu mong cho mo ̣i sự sinh sôi nảy nở của con người và mùa màng

Mở đầu hô ̣i Tung Còn , ông chủ lễ cầm các quả Còn tung lên trời để mo ̣i

người bắt lấy và dùng quả Còn đó ném trúng vòng tròn giấy trên đỉnh cô ̣t Còn Ai ném trúng trước tiên sẽ được nhận giải thưởng và coi là điềm may mắn cho cả năm , đươ ̣c thần linh phù hô ̣ Gia đình nào đa ̣t giải nhất tung Còn được đồng bào quan

niê ̣m đã làm vừa lòng thần Nông , thể hiê ̣n tấm lòng thành với các vi ̣ thầ n Đây là nét

đă ̣c sắc mà chỉ ở dân tô ̣c Tày mới có Quả Còn được ném trúng đích đầu tiên được đem đặt lên bàn thờ cúng thần Nông và thần Thành Hoàng làng(8)

Sau hô ̣i Tung Còn cầu mùa đến hô ̣ i Tung Còn tự do : Các thanh niên nam nữ người Tày có ý cho ̣n ba ̣n khi tung Còn Các chàng trai, cô gái có tình ý với nhau sẽ cố ý tung Còn cho nhau Khi quả Còn của người ba ̣n có thiê ̣n cảm gieo đúng chỗ

số lẻ là con số may mắn thi ̣nh vượng

(8)

bắn thủng tâm vòng giấy Theo quan niệm của đồng bào, như vâ ̣y âm dương mới hòa hợp, mới phù

hô ̣ cho dân làng có được mùa màng tốt tươi

Trang 33

mình thì người đó đã ngầm hiểu ý và cha ̣y tới đón bắt cho bằng được và nhằm người ba ̣n ấy mà tung la ̣i quả Còn … Cứ như vâ ̣y , đôi ba ̣n say sưa tung đi tung la ̣i cho nhau thể hiê ̣n tình ý ngầm gắn bó Nếu ai không bắt được quả Còn người kia ném t hì bị coi là thua và phải phạt uống rượu , hát lượn hoặc phải "bắt nơ ̣", trao

khăn, trao áo hoă ̣c vòng tay , vòng cổ … để tạ lỗi , cuối buổi chơi các vâ ̣t được "bắt

nợ" sẽ được trả lại chủ hoặc có thể được giữ lại làm tí n vâ ̣t nếu được sự đồng ý của

chủ nhân Buổi tung Còn là di ̣p để cho các chàng trai cô gái tìm hiểu nhau , sau đó

có thể gặp gỡ qua lại , vì thế nhiều đôi nên duyên vợ chồng từ những dịp hội xuân tung Còn

Lễ hội Tung Còn của người Tày Tuyên Quang thể hiện ước vọng mong muốn mùa màng bội thu, mưa thuận gió hòa Ngoài ra, lễ hội Tung Còn còn là nơi

để các đôi trai gái hẹn hò, thể hiện tâm tư tình cảm của mình Lễ hội một phần nói lên đời sống hài hòa với thiên nhiên, coi trọng nông nghiệp của người Tày Mặt khác, các nghi thức trong lễ hội Tung Còn nói lên đời sống văn hóa phong phú, đa dạng của người Tày cần được bảo tồn và phát huy

Trang 34

Chương 2:

ĐẢNG BỘ TỈNH TUYÊN QUANG VỚI VẤN ĐỀ BẢO TỒN VÀ

PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA PHI VẬT THỂ CỦA DÂN TỘC TÀY

2.1 Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa

Trong những năm qua, công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa đã nhận được sự quan tâm to lớn của Đảng, Nhà nước và trở thành tình cảm, trách nhiệm của mỗi người Việt Nam yêu nước Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ngay sau khi đất nước mới giành được độc lập, trong hoàn cảnh vô vàn khó khăn

của nạn đói, nạn dốt, nạn ngoại xâm, vận mệnh của dân tộc như "ngàn cân treo sợi

tóc", trong bộn bề công việc đối nội, đối ngoại của một Nhà nước non trẻ mới được

hình thành, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 65/SL-CTP, ngày 23/11/1945

Về bảo tồn tất cả cổ tích trên toàn cõi Việt Nam, khẳng định quan điểm, đường lối,

chính sách và biện pháp của Đảng và Nhà nước cách mạng Việt Nam đối với di sản văn hóa dân tộc, mở ra một trang lịch sử mới cho sự nghiệp bảo tồn và phát huy giá trị

di sản văn hóa dân tộc Nội dung của Sắc lệnh ngắn gọn, súc tích, nhưng đã hàm chứa rất rõ ràng sự vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về việc kế thừa tinh hoa văn hóa dân tộc vào việc xây dựng và phát triển nền văn hóa mới của nước ta Sắc lệnh khẳng định: Xét rằng việc bảo tồn cổ tịch là việc rất cần trong công cuộc kiến thiết nước Việt Nam; xét rằng Đông Dương Bác Cổ học viện có nhiệm vụ bảo tồn tất

cả cổ tích trong toàn cõi Việt Nam Sắc lệnh gồm 6 điều, tại điều thứ tư đã nêu rõ: “Cấm phá huỷ những đình chùa, đền, miếu, các cổ vật, thành quách, lăng, mộ, chiếu sắc, văn bằng có ích cho lịch sử” [31, tr.74]

Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc bảo tồn, phát huy giá trị tốt đẹp của di sản văn hóa dân tộc đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, tiếp tục kế thừa những tư tưởng, quan điểm về di sản văn hóa được nêu trong Sắc lệnh số 65/SL-CTP, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II (1951) của Đảng họp trong những năm tháng kháng chiến trường kỳ gian khổ chống thực dân Pháp xâm lược tại Việt

Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong Báo cáo Chính trị đã chỉ rõ: “Xúc tiến công tác văn

hóa” để đào tạo con người mới và cán bộ mới cho công cuộc kháng chiến kiến

Trang 35

quốc Phải triệt để tẩy trừ mọi di tích thuộc địa và ảnh hưởng nô dịch của văn hóa

đế quốc Đồng thời, phát triển những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc và hấp thụ những cái mới của văn hóa tiến bộ trên thế giới, để xây dựng một nền văn hóa Việt Nam có tính chất dân tộc, khoa học và đại chúng” [32, tr.173]

Như vậy, có thể khẳng định rằng, công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa đã nhận được sự quan tâm to lớn của Đảng và Nhà nước ta, ngay từ khi nhân dân ta đang tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Từ sau chiến thắng Mùa Xuân năm 1975 và nhất là từ khi đất nước thực hiện công cuộc đổi mới cho

đến nay, sự quan tâm ấy lại càng rõ nét hơn Cương lĩnh xây dựng đất nước trong

thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đã được Đại hội lần thứ VII (1991) thông qua,

xác định một trong những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội ở nước ta là: “Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” [13, tr.9] Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996) tiếp tục khẳng định: “Vǎn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” [15, tr.110] Đại hội lần thứ XI của Đảng (2011), tiếp tục khẳng định: “Hoàn thiện và thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ, về bảo tồn, phát huy các di sản văn hóa vật thể

và phi vật thể của dân tộc” [21, tr.225]

Những quan điểm đó, đã được cụ thể hóa bằng những chủ trương, chính sách trong các Nghị quyết, các văn bản pháp lý tiếp theo của Đảng và Nhà nước Nghị quyết Trung ương lần thứ tư (khóa VII) tháng 1 năm 1993 chỉ rõ “Trước mắt, tập trung xây dựng một số luật cần thiết như Luật xuất bản, Luật bảo vệ di tích văn hóa dân tộc” [14, tr.56] Thực hiện Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, ngày 19/01/1993, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 25/TTg, quy định mức độ, tỷ lệ và nguồn kinh phí đầy đủ cho công tác bảo tồn và phát huy giá trị của các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể ở Việt Nam

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (1996), sau khi khẳng định những thành công sau 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước đã xác định phương hướng, nhiệm vụ phát triển sự nghiệp văn hóa là: "Khai thác và phát triển mọi sắc thái và giá trị văn hóa, nghệ thuật của các dân tộc trên đất nước ta; tạo ra sự thống nhất trong tính đa dạng và phong phú của nền văn hóa Việt Nam" [15,

Trang 36

tr.111] Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa

VIII (7/1998) Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản

sắc dân tộc, khẳng định vai trò to lớn của di sản văn hóa và nhiệm vụ bảo tồn, phát

huy những giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc Việt Nam Về bảo tồn và phát

huy các di sản văn hóa: “Di sản văn hoá là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc,

là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hoá Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hoá truyền thống (bác học và dân gian), văn hoá cách mạng, bao gồm cả văn hoá vật thể và phi vật thể Nghiên cứu và giáo dục sâu rộng những đạo lý dân tộc tốt đẹp do cha ông để lại”

[16, tr.63] Đồng thời, trong mục Bảo tồn, phát huy và phát triển văn hóa các dân tộc

thiểu số, nghị quyết nêu rõ: “Coi trọng và bảo tồn, phát huy những giá trị truyền

thống và xây dựng, phát triển những giá trị mới về văn hóa, văn học, nghệ thuật của các dân tộc thiểu số Bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, chữ viết của các dân tộc Đi đôi với việc sử dụng ngôn ngữ, chữ viết phổ thông, khuyến khích thế hệ trẻ thuộc đồng bào các dân tộc thiểu số học tập, hiểu biết và sử dụng thành thạo tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình Phát hiện, bồi dưỡng, tổ chức lực lượng sáng tác, sưu tầm, nghiên cứu văn hóa, văn học nghệ thuật là người dân tộc thiểu

số … Đầu tư và tổ chức điều tra, sưu tầm, nghiên cứu, phổ biến các giá trị văn hóa, văn học, nghệ thuật các dân tộc thiểu số” [16, tr.65 - 66]

Đây được coi là một nội dung quan trọng trong quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ta trong công cuộc đổi mới đất nước

Các kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, X, XI của Đảng tiếp tục khẳng định nhiệm vụ cụ thể của công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa, văn học nghệ thuật dân tộc trong thời kỳ này là: "Bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa dân tộc, các giá trị văn học, nghệ thuật, ngôn ngữ, chữ viết và thuần phong mỹ tục của các dân tộc; tôn tạo các di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh; khai thác các kho tàng văn hóa cổ truyền" [18 tr.115] Đại hội X của Đảng đã xác định: "Tiếp tục đầu tư cho việc bảo tồn, tôn tạo các các di tích lịch sử cách mạng, kháng chiến, các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của dân tộc, các giá trị văn hóa, nghệ thuật, ngôn ngữ, thuần phong mỹ tục của cộng đồng các dân tộc Bảo tồn và phát huy văn hóa, văn nghệ dân gian" [19, tr 107] Đại hội XI của Đảng tiếp

Trang 37

tục quán triệt: “Xây dựng và thực hiện các chính sách bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá, ngôn ngữ, chữ viết các dân tộc thiểu số” [21 tr.225]

Như vậy, Đảng ta có quan điểm nhất quán về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Đó là những điểm cần nắm vững:

“Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy

sự phát triển kinh tế - xã hội Nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà

đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Xây dựng và phát triển văn hóa là

sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng Văn hóa là một mặt trận; xây dựng và phát triển văn hóa là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì, thận trọng” [15,

tr 55, 56, 57, 58]

Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 71/2001/QĐ-TTg, ngày 04/05/2001

về Các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2001-2005: “Mục tiêu bảo tồn và

phát huy các giá trị văn hóa tiêu biểu của dân tộc; xây dựng và phát triển đời sống văn hóa cơ sở” Nội dung bao gồm 3 dự án bảo tồn và phát huy di sản văn hóa tiêu

biểu của dân tộc:

Dự án chống xuống cấp và tôn tạo các di tích lịch sử, cách mạng và kháng chiến

Dự án nghiên cứu, điều tra, bảo tồn một số làng bản, buôn tiêu biểu và lễ hội truyền thống đặc sắc của các dân tộc ít người

Dự án sưu tầm và bảo tồn giá trị văn hóa phi vật thể tiêu biểu; xây dựng ngân hàng dữ liệu về văn hóa phi vật thể

Quyết định của Thủ tướng Chính phủ (17/06/2003), tại Điều 1 Phê duyệt đề

án “Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam”; nội dung bảo tồn,

phát huy giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số: Mục c) Tổ chức, sưu tầm, nghiên cứu, giới thiệu, lưu giữ các loại hình văn học, nghệ thuật dân gian của các dân tộc; sáng tạo những giá trị mới về văn học, nghệ thuật trên cơ sở kế thừa và phát huy những sắc thái riêng, độc đáo truyền thống của các dân tộc thiểu số; tổ chức và hướng dẫn những biện pháp quản lý, giữ gìn, phát huy các hoạt động văn hóa lễ hội truyền thống, phong tục tập quán lành mạnh của các dân tộc thiểu số

Trang 38

Đặc biệt, trên tinh thần cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra trong các nghị quyết của Đảng về văn hóa nói chung, công tác bảo tồn, phát huy di sản văn

hóa nói riêng Quốc hội đã ban hành Luật di sản văn hóa (có hiệu lực từ tháng 1/2002), ngay sau đó, để Luật di sản văn hóa sớm đi vào cuộc sống, Chính phủ đã ban hành Nghị định 92/2002/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật

di sản văn hóa Năm 2009, Luật di sản văn hóa được sửa đổi, bổ sung, là văn bản

pháp lý cao nhất và cũng là “cẩm nang” cho các ngành có chức năng bảo vệ và phát

huy các di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam Luật di sản

văn hóa ra đời, đã đánh dấu một bước phát triển mới trong nhận thức của Đảng,

Nhà nước và nhân dân ta về vị trí, vai trò của di sản văn hóa đối với sự phát triển của đất nước

Hơn tám mươi năm qua, dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng, sự tham gia hưởng ứng của toàn thể nhân dân, sự nghiệp bảo vệ, phát huy di sản văn hóa dân tộc trên tất cả các lĩnh vực đã có những bước tiến dài và đạt được những thành tựu rất đáng tự hào, góp phần tích cực vào việc nâng cao nhận thức của nhân dân đối với di sản văn hóa dân tộc, góp phần xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, làm cho văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội

Sự trường tồn của các giá trị di sản văn hóa dân tộc đã và đang tác động trực tiếp tới thắng lợi của công cuộc đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; vững bước trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội

2.2 Quá trình Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày, từ năm 1991 đến năm 2012

2.2.1 Chủ trương, chính sách của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang về bảo tồn

và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày, từ năm 1991 đến năm

2002

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, trong những năm 1986 – 1991, đất nước ta có nhiều chuyển biến tích cực Những thành tựu đạt được trong công cuộc đổi mới đã đưa nước ta từng bước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã

Ngày đăng: 29/12/2015, 21:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vi Văn An, La Công Ý, Trần Tất Chủng, Vũ Khánh (2009), Người Tày ở Việt Nam, Nxb. Thông tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Tày ở Việt Nam
Tác giả: Vi Văn An, La Công Ý, Trần Tất Chủng, Vũ Khánh
Nhà XB: Nxb. Thông tấn
Năm: 2009
2. Triều Ân (2003), Then Tày những khúc ca, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Then Tày những khúc ca
Tác giả: Triều Ân
Nhà XB: Nxb. Văn hóa dân tộc
Năm: 2003
3. Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương (6 – 2010), Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ
4. Ban tuyên giáo tỉnh ùy Tuyên Quang, Bác Hồ với Tuyên Quang (2007), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bác Hồ với Tuyên Quang (2007)
Tác giả: Ban tuyên giáo tỉnh ùy Tuyên Quang, Bác Hồ với Tuyên Quang
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2007
5. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang (2009), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang (giai đoạn 1976 – 2005), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang (giai đoạn 1976 – 2005)
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2009
6. Nguyễn Duy Bắc (2001), Lễ hội Tày-Nùng, Nxb. Kim Đồng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội Tày-Nùng
Tác giả: Nguyễn Duy Bắc
Nhà XB: Nxb. Kim Đồng
Năm: 2001
7. Bộ Văn hóa Thông tin (2003), Văn bản của Đảng và Nhà nước về công tác văn hóa – thông tin vùng dân tộc thiểu số ở miền núi, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản của Đảng và Nhà nước về công tác văn hóa – thông tin vùng dân tộc thiểu số ở miền núi
Tác giả: Bộ Văn hóa Thông tin
Năm: 2003
8. Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch (2012), Thông báo Kết luận của Bộ trưởng Hoàng Tuấn Anh tại buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh Tuyên Quang, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo Kết luận của Bộ trưởng Hoàng Tuấn Anh tại buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh Tuyên Quang
Tác giả: Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch
Năm: 2012
9. Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch (2013), Quyết định Về việc cho phép Viện Âm nhạc tổ chức tập huấn “Kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể Nghi lễ Then” và Hội thảo khoa học “Nghi lễ Then xưa và nay”, Tuyên Quang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định Về việc cho phép Viện Âm nhạc tổ chức tập huấn “Kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể Nghi lễ Then” và Hội thảo khoa học “Nghi lễ Then xưa và nay”
Tác giả: Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch
Năm: 2013
10. Dương Kim Bội (1978), Những yếu tố dân ca, ca dao trong lời Then Tày – Nùng, Nxb. Dân tộc học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những yếu tố dân ca, ca dao trong lời Then Tày – Nùng
Tác giả: Dương Kim Bội
Nhà XB: Nxb. Dân tộc học
Năm: 1978
11. Đỗ Thuý Bình (1994), Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày, Nùng và Thái ở Việt Nam, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày, Nùng và Thái ở Việt Nam
Tác giả: Đỗ Thuý Bình
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
Năm: 1994
12. Hoàng Đức Chung (1999), Lẩu then Bjoóc Mạ của người Tày huyện Vị Xuyên - tỉnh Hà Giang, Nxb. Văn hoá Dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lẩu then Bjoóc Mạ của người Tày huyện Vị Xuyên - tỉnh Hà Giang
Tác giả: Hoàng Đức Chung
Nhà XB: Nxb. Văn hoá Dân tộc
Năm: 1999
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1991
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), Văn kiện Hội nghị lần thứ tư (khóa VIII), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư (khóa VIII)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1993
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1996
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1998
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm (khóa VIII), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm (khóa VIII)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1998
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2001
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2006
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2010), Các kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm