Trong Luật quốc tế, bất cứ lĩnh vực nào cũng cần tuân theo các nguyên tắc chung mà bất cứ quan hệ nào được điều chỉnh bởi Luật quốc tế cũng không được vi phạm, thêm vào đó, đối với mỗi lĩnh vực cũng cần tuân theo các nguyên tắc “chuyên ngành” của nó. Vấn đề xác định quyền tài phán trên biển của các quốc gia cũng giống nhiều các lĩnh vực khác, cũng có các nguyên tắc riêng của mình. Trong khi áp dụng các nguyên tắc này vào thực tế, các quốc gia ven biển, trong đó có Việt Nam ta sẽ phải biết áp dụng một cách linh hoạt để tránh các tranh chấp phát sinh. Để làm rõ chúng, bài viết sau đây sẽ đi sâu “Phân tích một số nguyên tắc xác định quyền tài phán quốc gia trên biển trong Luật biển quốc tế và thực tiễn quy định trong pháp luật biển Việt Nam.’’
Trang 1BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TẬP NHÓM
MÔN: LUẬT BIỂN QUỐC TẾ
Đề bài: 04
“Phân tích một số nguyên tắc xác định quyền tài phán quốc gia trên
biển trong Luật biển quốc tế và thực tiễn quy định trong pháp luật
biển Việt Nam.”
Nhóm : 04 Lớp : N03-TL2
Hà Nội, 2021
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
-I/ PHÂN TÍCH NỘI DUNG CÁC NGUYÊN TẮC XÁC ĐỊNH QUYỀN TÀI PHÁN CỦA QUỐC GIA TRÊN BIỂN TRONG LUẬT BIỂN QUỐC TẾ 1
1 Nguyên tắc quyền tài phán theo lãnh thổ 1
2 Nguyên tắc quyền tài phán theo quốc tịch 2
3 Nguyên tắc quyền tài phán phổ quát 2
-4 Thứ tự ưu tiên áp dụng các nguyên tắc trong xác định quyền tài phán của quốc gia trên biển 3
II/ THỰC TIỄN QUY ĐỊNH TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM 4
KẾT LUẬN 5
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 6
Trang 3-MỞ ĐẦU
Trong Luật quốc tế, bất cứ lĩnh vực nào cũng cần tuân theo các nguyên tắc chung
mà bất cứ quan hệ nào được điều chỉnh bởi Luật quốc tế cũng không được vi phạm, thêm vào đó, đối với mỗi lĩnh vực cũng cần tuân theo các nguyên tắc “chuyên ngành” của nó Vấn đề xác định quyền tài phán trên biển của các quốc gia cũng giống nhiều các lĩnh vực khác, cũng có các nguyên tắc riêng của mình Trong khi
áp dụng các nguyên tắc này vào thực tế, các quốc gia ven biển, trong đó có Việt Nam ta sẽ phải biết áp dụng một cách linh hoạt để tránh các tranh chấp phát sinh
Để làm rõ chúng, bài viết sau đây sẽ đi sâu “Phân tích một số nguyên tắc xác
định quyền tài phán quốc gia trên biển trong Luật biển quốc tế và thực tiễn quy định trong pháp luật biển Việt Nam.’’
Trang 4NỘI DUNG I/ PHÂN TÍCH N I DUNG CÁC NGUYÊN T C XÁC Đ NH QUY N TÀI PHÁN Ộ Ắ Ị Ề
C A QU C GIA TRÊN BI N TRONG LU T BI N QU C T Ủ Ố Ể Ậ Ể Ố Ế
1 Nguyên tắc quyền tài phán theo lãnh thổ
Đây là nguyên tắc có tính chất nền tảng trong việc xác định quyền tài phán của quốc gia trên biển Nguyên tắc này cho phép quốc gia ven biển thiết lập và bảo đảm thực thi pháp luật đối với các cá nhân, tổ chức và phương tiện hoạt động trong phạm vi lãnh thổ của mình, trừ các trường hợp ngoại lệ được chấp nhận bởi luật quốc tế Trong luật biển, phạm vi quyền tài phán theo lãnh thổ được hiểu rộng hơn,
nó không chỉ giới hạn trong các vùng biển thuộc chủ quyền mà được mở rộng một cách hạn chế tới các vùng biển thuộc quyền chủ quyền của quốc gia ven biển với một số lĩnh vực nhất định như: thăm dò, quản lý và khai thác tài nguyên thiên nhiên; xây dựng đảo nhân tạo và các công trình thiết bị trên biển; bảo vệ môi trường biển Ngoài những lĩnh vực nêu trên, quyền tài phán đối với các hành vi vi phạm của tàu thuyền nước ngoài trong những vùng biển này sẽ được xác định theo nguyên tắc luật cờ tàu Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, việc mở rộng quyền tài phán sẽ không đồng nghĩa với việc mở rộng chủ quyền và biên giới quốc gia trên biển
Theo quy định của UNCLOS và thực tiễn thực thi quyền tài phán của các quốc gia cho thấy, trong một số trường hợp nhất định, quốc gia có thể thực thi quyền tài phán của mình lên tàu thuyền bên ngoài lãnh thổ quốc gia, tuy nhiên cơ sở cho việc thực hiện quyền tài phán này xuất phát từ chính các quyền và lợi ích của quốc gia ven biển Quyền truy đuổi theo quy định của UNCLOS là trường hợp mở rộng quyền tài phán như vậy Về bản chất, quyền truy đuổi là sự chuyển giao các quyền kiểm soát mà quốc gia ven biển thực hiện trong các vùng biển thuộc quyền tài phán của mình ra ngoài khu vực biển quốc tế
1
Trang 52 Nguyên tắc quyền tài phán theo quốc tịch
a Xác định quyền tài phán của quốc gia theo quốc tịch của tàu thuyền
Nguyên tắc quốc tịch của tàu thuyền sẽ không có tính tuyệt đối bởi lẽ:
- Khi ở trong một cảng nước ngoài, tàu thuyền ngoài việc chịu sự điều chỉnh bởi pháp luật của quốc gia mà nó mang cờ thì nó còn phải tôn trọng các luật và quy định của quốc gia có cảng
- Trên thực tế quốc gia mà tàu mang cờ không phải lúc nào cũng có thể thực hiện quyền tài phán tuyệt dối của mình lên tàu treo cờ nước mình, đặc biệt đói với những tàu thuê mướn quốc tịch hoặc tàu treo cờ phương tiện
- Tàu thuyền có thể là vật bảo đảm hoặc là đối tượng bị cầm cố do một bên thưa kiện, đây không phải là tính chất của lãnh thổ
b Xác định quyền tài phán của quốc gia thông qua quốc tịch của cá nhân
Mặc dù không được áp dụng phổ biến trong xác định quyền tài phán của quốc gia trên biển như quốc tịch của tàu thuyền, tuy nhiên trong một số trường hợp nhất định, đặc biệt với các hành vi vi phạm hình sự, quốc tịch của cá nhân cũng có thể là một trong những dấu hiệu để phân định quyền tài phán giữa các quốc gia Tuy nhiên cũng cần khẳng định rằng nếu nằm trong mối tương quan với quốc tịch của tàu thuyền, thì quốc tịch của cá nhân không phải là dấu hiệu được ưu tiên, nó chỉ được xét đến khi các dấu hiệu khác bị hạn chế trong quá trình áp dụng
3 Nguyên tắc quyền tài phán phổ quát
Nguyên tắc quyền tài phán phổ quát là một trong ba nguyên tắc được sử dụng
để xác định quyền tài phán của quốc gia trên biển, được ra đời dựa trên giả thuyết rằng mọi quốc gia đều có chung lợi ích trong việc thực hiện quyền tài phán đối với những tội phạm xảy ra ở trên biển cả
Theo đó, đây là một khái niệm tương đối mới của luật biển quốc tế nói riêng cũng như luật quốc tế nói chung, nó cho phép một quốc gia truy tố, xét xử các cá nhân phạm những tội ác quốc tế mà không đòi hỏi quốc gia đó phải có mối liên hệ
2
Trang 6nào với nơi tội phạm xảy ra, quốc tịch của kẻ phạm tội, quốc tịch của nạn nhân hoặc bất kì mối liên hệ nào về lợi ích của quốc gia đó Nguyên tắc này thường được
áp dụng nhằm trừng phạt đối với các tội phạm có tính chất nghiêm trọng tại các vùng biển nằm ngoài phạm vi tài phán thông thường của các quốc gia, nơi mà các nguyên tắc xác định quyền tài phán theo quốc tịch hay theo lãnh thổ bị “cản trở” bởi quy chế pháp lý của biển quốc tế và được xem như sự “mở rộng” quyền tài phán của các quốc gia trên vùng biển này Cũng chính vì vậy mà quyền tài phán phổ quát chỉ được áp dụng hạn chế đối với một số tội phạm quốc tế như tội diệt chủng, tội ác chiến tranh, tội ác chống lại loài người,…
Ví dụ, đối với tội phạm cướp biển, quyền tài phán đặc quyền của quốc gia
mà tàu mang cờ bị loại bỏ, thay vào đó là quyền tài phán được mở rộng cho tất cả các quốc gia khi phát hiện được hành vi trên
4 Thứ tự ưu tiên áp dụng các nguyên tắc trong xác định quyền tài phán của quốc gia trên biển
Có thể thấy rằng các nguyên tắc lãnh thổ và nguyên tắc quốc tịch là hai nguyên tắc truyền thống và phổ biến nhất trong xác định thẩm quyền tài phán của quốc gia trên biển Nếu nói về mức độ quan trọng thì có lẽ nguyên tắc lãnh thổ đóng vai trò nền tảng hơn cả vì có xuất phát điểm là chủ quyền quốc gia Tuy nhiên nếu xét về giá trị ưu tiên áp dụng giữa hai nguyên tắc này gần như rất khó để phân định bởi các vùng biển với bản chất và quy chế pháp lý này gần như khó để phân định bởi vì các vùng biển với bản chất và quy chế pháp lý khác nhau sẽ có sự ưu tiên áp dụng cho các nguyên tắc khác nhau
Tuy nhiên, với các vùng biển thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia, do bản chất pháp lý của vùng biển này là những vùng biển không thuộc lãnh thổ quốc gia nhưng cũng không phải là lãnh thổ quốc tế, do đó việc xác định quyền tài phán, tùy từng trường hợp mà xác định theo nguyên tắc lãnh thổ hay theo nguyên tắc quốc tịch
3
Trang 7Tương tự như vậy, tại khu vực biển quốc tế, do vậy đây là những vùng biển không thuộc chủ quyền của riêng quốc gia nào, do đó yếu tố lãnh thổ gần như không được tính đến Việc xác định quyền tài phán sẽ chủ yếu dựa trên nguyên tắc quốc tịch, trừ một số trường hợp ngoại lệ đã được trù định trong luật quốc tế , ví dụ như các trường hợp áp dụng nguyên tắc quyền tài phán phổ quát hay nguyên tắc bảo vệ lợi ích quốc gia
II/ THỰC TIỄN QUY ĐỊNH TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Tương tự như các quy định trong UNCLOS về quy chế pháp lý của từng vùng biển, Luật Biển Việt Nam 2012 cũng đã thừa nhận và quy định cụ thể hơn các quyền của quốc gia đối với từng vùng biển thuộc quyền chủ quyền, quyền tài phán của quốc gia phù hợp với quy định của Công ước Cụ thể các vùng đó được quy định trong những điều khoản sau đây:
- Vùng tiếp giáp lãnh hải: Điều 14 Luật biển Việt Nam 2012
- Vùng đặc quyền kinh tế: Điều 16 Luật Biển Việt Nam năm 2012
- Vùng thềm lục địa: Điều 18 Luật Biển Việt Nam năm 2012
Bên cạnh đó, kế thừa quy định tại Điều 27 và 28 Công ước năm 1982, Luật Biển Việt Nam năm 2012 đã có những quy định cụ thể về quyền tài phán hình sự và dân sự đối với tàu thuyền nước ngoài đối với vùng biển thuộc quyền tài phán của Việt Nam, cụ thể:
- Quyền tài phán hình sự đối với tàu thuyền nước ngoài được quy định tại Điều 30 Luật Biển Việt Nam 2012
- Quyền tài phán dân sự đối với tàu thuyền nước ngoài được quy định tại Điều 31 Luật Biển Việt Nam 2012
Như vậy, về cơ bản, Luật Biển Việt Nam đã dựa trên cơ sở của Luật Biển quốc tế để đưa ra những cách xác định các vùng biển hợp lý nhất, đảm bảo lợi thế
và quyền của Việt Nam là tối đa nhất trong khuôn khổ được cộng đồng quốc tế công nhận, từ đó ta thấy, Luật biển năm 1982 chính là Công ước chung cho tất cả
4
Trang 8các chủ thể của Luật Quốc tế và là căn cứ, chế định pháp lý cơ bản để các nhà làm luật đưa ra những quy định cụ thể cho tình hình Việt Nam Sự tương thích về nội thủy và lãnh hải ở đây là rất lớn, bởi các quy định của Luật biển Việt Nam năm
2012 đều căn cứ trên các quy định của Công ước quy định về nội thủy và lãnh hải Tuy nhiên, hiện nay tình hình Biển Đông có nhiều vấn đề phức tạp, các nước có biểu hiện không thực thi Công ước năm1982, tàu thuyền các nước đi vào các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán…đã có những hành vi vi phạm pháp luật của quốc gia ven biển, trong đó có Việt Nam Hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí, đánh bắt hải sản trái phép, xâm phạm kinh tế biển Việt Nam Do vậy, thời gian tới cần phải ban hành Luật Kinh tế biển Việt Nam để xây dựng một khung pháp lý cho các hoạt động trên biển, yêu cầu các quốc gia cần tuân thủ thực thi các chế độ pháp luật của Việt Nam theo đúng quy chế mà các quốc gia đã ký kết
KẾT LUẬN
Tóm lại, xây dựng và nguyên cứu các nguyên tắc xác định quyền tài phán quốc gia có ý nghĩa quan trọng trong quan hệ quốc tế, một mặt nhằm phân định một cách
rõ ràng quyền tài phán giữa các quốc gia đối với ác trường hợp vi phạm, mặt khác những nguyên tắc này còn trở thành căn cứ để giải quyết những tranh chấp, bất đồng giữa các quốc gia, đồng thời hạn chế sự can thiệp hay mở rộng quyền tài phán của các quốc gia đối với những hành vi vi phạm không thuộc quyền
5
Trang 9DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS)
2 Công ước Geneva về Biển cả năm 1958
3 Nguyễn Thị Hồng Yến, “Các nguyên tắc xác định quyền tài phán của quốc gia trên biển”, Tạp chí Luật học, số 2/2017.
4 Nguyễn Thị Hồng Yến (2017), Quyền tài phán của quốc gia trên biển –
Những vấn đề lí luận và thực tiễn, Luận án tiến sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội.
referer=&httpsredir=1&article=1188&context=pilr
6