một thực tế đáng lo ngại đó chính là việc bồi đắp, mở rộng các đảo đá nhỏ, hay các bãi ngầm, rạn san hô, bãi cạn lúc chìm lúc nổi để biến chúng thành đảo nhân tạo đang được một số quốc gia thực hiện với mục đích duy trì, củng cố yêu sách về chủ quyền đối với các vùng biển xung quanh các “đảo” này, đặc biệt là ở các đảo và vùng biển đang có tranh chấp và chồng lấn. Thực trạng đó đã và đang được Trung Quốc tiến hành với quy mô rất lớn tại khu vực biển Đông, đặc biệt là tại quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Liên quan đến vấn đề này, nhóm 1 xin chọn đề tài: “Bình luận về tính hợp pháp của hành vi tôn tạo, bồi đắp các cấu trúc địa lý của Trung Quốc tại Trường Sa”. Bài viết sẽ làm rõ các quy chế pháp lý, điều kiện xây dựng, lắp đặt, sử dụng, khai thác các đảo, thiết bị, công trình nhân tạo; quy chế pháp lý, quyền và nghĩa vụ của các quốc gia đối với đảo, công trình và thiết bị nhân tạo theo quy định của Công ước Luật biển năm 1982. Đồng thời, phân tích và làm rõ tác động từ thực trạng tôn tạo, bồi đắp các cấu trúc địa lý của Trung Quốc tại Trường Sa.
Trang 1A MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh các quốc gia đang nỗ lực mở rộng lãnh thổ, chiếm giữ không gian phát triển, đặc biệt là không gian biển thì vấn đề xây dựng các đảo, công trình, thiết bị nhân tạo đã và đang được các quốc gia quan tâm và thực hiện Bởi lẽ, các đảo, công trình, thiết bị nhân tạo được xây dựng hợp pháp trên biển sẽ mang lại nhiều lợi ích cho quốc gia ven biển trong việc bảo vệ và thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán Tuy nhiên, một thực tế đáng lo ngại đó chính là việc bồi đắp, mở rộng các đảo đá nhỏ, hay các bãi ngầm, rạn san hô, bãi cạn lúc chìm lúc nổi để biến chúng thành đảo nhân tạo đang được một số quốc gia thực hiện với mục đích duy trì, củng cố yêu sách về chủ quyền đối với các vùng biển xung quanh các “đảo” này, đặc biệt là ở các đảo và vùng biển đang có tranh chấp và chồng lấn Thực trạng đó đã và đang được Trung Quốc tiến hành với quy mô rất lớn tại khu vực biển Đông, đặc biệt là tại quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam Liên quan đến vấn đề này, nhóm 1 xin
chọn đề tài: “Bình luận về tính hợp pháp của hành vi tôn tạo, bồi đắp các cấu trúc địa lý của Trung Quốc tại Trường Sa” Bài viết sẽ làm rõ các quy chế pháp lý, điều
kiện xây dựng, lắp đặt, sử dụng, khai thác các đảo, thiết bị, công trình nhân tạo; quy chế pháp lý, quyền và nghĩa vụ của các quốc gia đối với đảo, công trình và thiết bị nhân tạo theo quy định của Công ước Luật biển năm 1982 Đồng thời, phân tích và làm rõ tác động từ thực trạng tôn tạo, bồi đắp các cấu trúc địa lý của Trung Quốc tại Trường Sa
A NỘI DUNG
1 Quy chế pháp lí của các đảo, thực thể khác thuộc quần đảo Trường Sa
Trên thực tế về mặt thuật ngữ, người ta thường gọi Trường Sa là quần đảo, tuy nhiên, trên phương diện pháp lý do Trường Sa không đáp ứng đủ các tiêu chí của
“quần đảo” theo Điều 46.b Công ước Luật biển 1982 Trường Sa không thể có thềm lục địa (TLĐ) và vùng đặc quyền kinh tế (ĐQKT) riêng Việc hoạch định đường cơ sở tại đây cũng không thể thực hiện tương tự như đối với quốc gia quần đảo quy định tại Điều 46 Công ước Các vùng biển thuộc quần đảo này phụ thuộc vào quy chế pháp lí của các đảo và thực thể khác trong đó Đây cũng là quan điểm chính thức của Việt Nam, Philippines và đa số quan điểm của các học giả pháp lí nổi tiếng
Trang 2Theo Điều 121 Công ước Luật biển 1982, một đảo muốn có các vùng biển: lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng ĐQKT và TLĐ thì đảo đó phải là: một vùng đất tự nhiên, có nước bao bọc, ở trên mặt nước khi thủy triều lên và thích hợp cho con người đến ở hay cho một đời sống kinh tế riêng
Quần đảo Trường Sa nằm ở khu vực Biển Đông, phần lớn là những bãi cát không thể trồng trọt; vào khoảng chục đảo khác là do những mỏm đá tạo thành.1 Trong
Vụ kiện Biển Đông2, Tòa kết luận rằng tất cả các thực thể trên quần đảo Trường Sa và bãi Scarborough hoặc là bãi lúc nổi lúc chìm hoặc là đảo đá Không có bất kỳ thực thể nào là đảo với đầy đủ các vùng biển (islands with full entitlements).3 Điều này có
nghĩa: Một, các bãi lúc nổi lúc chìm sẽ có quy chế pháp lý của vùng biển mà bãi đó thuộc về Hai, không một đảo nào ở Trường Sa có thể có vùng ĐQKT và TLĐ, mà chỉ
có lãnh hải rộng tối đa 12 hải lý và vùng tiếp giáp lãnh hải rộng tối đa 12 hải lý tính từ ranh giới ngoài của lãnh hải
UNCLOS có quy định về quy chế pháp lý của các thực thể thường thấy ở trên biển, bao gồm bãi san hô (Điều 6), bãi lúc nổi lúc chìm (Điều 13), đảo nhân tạo, công trình và kiến trúc nhân tạo (Điều 60 và 80), và đảo (Điều 121) Trong đó, bãi san hô, bãi lúc nổi lúc chìm và đảo là các thực thể tự nhiên
1.1 Quy chế các đảo
Các vùng đất tự nhiên là phần kéo dài của lãnh thổ đất liền và nhô lên trên mặt biển được Công ước Luật biển chia thành các loại sau: 1) Quần đảo là tổng thể các đảo
kể cả các bộ phận của các đảo, các vùng nước tiếp liền và các thành phần tự nhiên khác có liên quan với nhau đến mức tạo thành về thực chất một thể thống nhất về địa
lí, kinh tế và chính trị, hay được coi như thế về mặt lịch sử (Điều 46 b); 2) Đảo là vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thuỷ triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước (khoản 1 Điều 121); 3) Đảo đá không thích hợp cho con người đến ở hoặc cho đời sống kinh tế riêng thì không có vùng ĐQKT và TLĐ (khoản 3 Điều 121); 4) Bãi
1 Xem: Monique Chemillier - Gendreau, Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, NXB Chính trị Quốc gia, 1998.
2 Xem: The South China Sea Arbitration (The Republic of Philippines v The People's Republic of China), https://pca-cpa.org/en/cases/7/, truy cập ngày 17/03/2021
3 Xem: Arbitral Tribunal, PCA Case No 2013-19, South China Sea Arbitration, Philippines v China, 12/7/2016, p.643 – 648
Trang 3cạn lúc nổi lúc chìm là vùng đất nhô cao tự nhiên có biển bao quanh, khi thuỷ triều xuống thấp thì lộ ra, khi thuỷ triều lên cao thì ngập nước (khoản 1 Điều 13) Các vùng đất hoàn toàn bị chìm ngập dưới biển được xác định là một phần của đáy biển và không có bất kì vai trò gì trong hoạch định các vùng biển Như vậy, việc sử dụng các khái niệm “đảo, đảo đá, bãi cạn, cồn san hô và bãi ngầm” thuộc quần đảo Trường Sa chỉ mang tính tương đối, không theo nghĩa của Công ước Luật biển mà theo thói quen ngôn ngữ thông thường
Theo quy định của Công ước Luật biển, chỉ những “vùng đất” thuộc quần đảo Trường Sa không bị ngập dưới mực nước biển mới có hiệu lực trong hoạch định các vùng biển Nếu đó là bãi cạn lúc nổi lúc chìm thì có thể được sử dụng để xác định đường cơ sở khi chúng ở cách một hòn đảo khoảng cách không vượt quá chiều rộng của lãnh hải Đối với những “vùng đất” cao hơn mặt biển ngay cả khi thuỷ triều lên cao, chúng có thể được hưởng quy chế của đảo hoặc đảo đá khi không đủ điều kiện cho người đến ở hay không có đời sống kinh tế riêng
Đến nay, chưa có một tài liệu nghiên cứu nào xác định chính xác số lượng các cấu trúc ở Trường Sa Đa số các tài liệu cho rằng Trường Sa hầu như bao gồm các đảo,
đá nằm ở khu vực trung tâm Biển Đông, mỗi đảo có diện tích rất nhỏ, cằn cỗi, thời tiết
khắc nghiệt, bão tố nhiều, không thích hợp cho con người đến ở và cho đời sống kinh
tế riêng nên xung quanh các đảo này chỉ có thể có nội thuỷ và lãnh hải, không có vùng
ĐQKT và TLĐ như quy định tại khoản 3 Điều 121 Công ước Luật biển Theo cố vấn
pháp lí của Bộ ngoại giao Philippines, “quần đảo Trường Sa đang có tranh chấp hoàn
toàn là đá san hô và nó chỉ có các cây tràm, cây bụi và thực vật cằn cỗi mọc thưa thớt Khu vực này hoàn toàn không thể đáp ứng cho con người đến ở”;4 một học giả Trung
Quốc kết luận, những đảo này “rõ ràng là quá bé để cho phép sử dụng lâu dài”5
Trong bản tranh tụng do Philippines gửi lên Tòa trọng tài theo Phụ lục VII vụ Philippines – Trung Quốc, theo quan điểm của nước này, bãi Vành Khăn, Cỏ Mây, Xu
Bi, Ga Ve, Ken Nan (bao gồm cả Tư Nghĩa) là các bãi nửa nổi nửa chìm; Scarborough, Gạc Ma, Châu Viên và Chữ Thập chỉ là đá và tất cả những cấu trúc này đều không có vùng ĐQKT và TLĐ riêng Phán quyết của Tòa trọng tài được thành lập theo Phụ lục
4 Xem: Coquia J.R (1990)., “Maritime Boundary Problems in the South China Sea”, U.B.C.L Review, tr 117 - 120
5 Xem: Tao Cheng (1975), “Dispute over the South China Sea Islands”, Texas International Law Journal, tr 267
Trang 4VII đã đưa ra kết luận rằng “không có cấu trúc nổi nào ở Trường Sa có khả năng duy
trì sự cư trú của con người hoặc có một đời sống kinh tế riêng, do đó, theo Điều 121 (3), các cấu trúc như vậy không có vùng ĐQKT và TLĐ”.6 Kết luận này đã được tất cả các thẩm phán thông qua trên cơ sở phân tích những quy định của UNCLOS, thực tiễn quốc tế cũng như những tư liệu do Tòa thu thập và Philippines cung cấp Trước khi có phán quyết cuối cùng của Tòa, một số quốc gia trong khu vực cũng đã bày tỏ quan điểm về việc không thừa nhận các thực thể ở Trường Sa đáp ứng đủ các điều kiện để
có vùng ĐQKT và TLĐ riêng Đệ trình chung của Malaysia và Việt Nam cũng như đệ trình riêng của Việt Nam năm 2009 lên CLCS chỉ thể hiện TLĐ kéo dài từ lãnh thổ của hai nước mà không tính đến các đảo tại Hoàng Sa, Trường Sa Indonesia trong công hàm gửi LHQ đáp lại đệ trình mở rộng TLĐ của Việt Nam – Malysia đã bày tỏ
quan điểm rằng: “những cấu trúc xa xôi hẻo lánh hoặc rất nhỏ ở biển Đông không phù
hợp để có vùng ĐQKT và TLĐ của chính chúng” 7
Như vậy, các đảo đá trong quần đảo Trường Sa đều có diện tích rất nhỏ, cằn cỗi, thời tiết khắc nghiệt, bão tố nhiều, không thích hợp cho con người đến ở và cho đời sống kinh tế riêng nên xung quanh các đảo này chỉ có thể có nội thuỷ và lãnh hải rộng 12 hải lí, không có vùng ĐQKT và TLĐ (theo khoản 3 Điều 121 Công ước Luật biển) Đây cũng là quan điểm của chính thức của Việt Nam về quy chế các đảo trong hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa
1.2 Quy chế các bãi đá ngầm, bãi cạn lúc nổi lúc chìm:
Bãi cạn lúc nổi lúc chìm không thể bị chiếm hữu, trừ trường hợp chúng nằm trong khu vực lãnh hải của QGVB và không được xem là lãnh thổ đất liền Do đó, các bãi cạn lúc nổi lúc chìm không có vùng lãnh hải riêng khi chúng nằm ngoài giới hạn của lãnh hải của một đảo hoặc lục địa.8 Các bãi cạn lúc nổi lúc chìm chiếm phần lớn trong những cấu tạo tự nhiên tại Trường Sa Do vậy mà việc xác định vai trò của
6 Xem: Arbitral Tribunal, PCA Case No 2013-19, South China Sea Arbitration, Philippines v China, 12/7/2016, p.626
7 Xem: Note Verbale from the Republic of Indonesia to the Secretary – General of the United Nations, No.480/POL-703/ VII/10 (8 July 2010)
8 Xem: Sovereignty over Pedra Branca/Pulau Batu Puteh, Middle Rocks and South Ledge (Malaysia v Singapore), 2008 ICJ Rep 12, các đoạn 291-9 Trong đó ICJ phân biệt Middle Rocks với South Ledge, South Ledge được phân loại là bãi cạn lúc chìm lúc nổi; trích dẫn đi kèm với thảo luận chính thức tại Maritime Delimitation and Territorial Questions between Qatar and Bahrain (Qatar v Bahrain), 2001 ICJ Rep 40, các đoạn 205-6.
Trang 5chúng là công việc hết sức quan trọng Tuy nhiên, vấn đề này đã được quy định rất rõ ràng tại Điều 13 Công ước 1982
Theo khoản 2 Điều 13 Công ước Luật Biển, quốc gia chỉ có thể thực hiện chủ quyền của mình trên các bãi cạn này mà không hề có chủ quyền, quyền chủ quyền hay quyền tài phán đối với các vùng biển bao quanh
Cũng theo khoản 1 Điều 13 Công ước, trong trường hợp khoảng cách giữa bãi cạn lúc nổi lúc chìm với các đảo thuộc Trường Sa có khoảng cách bằng hoặc ít hơn 12 hải lý, ngấn nước triều thấp nhất ở trên bãi cạn có thể được dùng để vạch đường cơ sở
để tính chiều rộng lãnh hải của các đảo nếu trên các bãi cạn đó có đèn biển hoặc các công trình nổi thường xuyên Có thể thấy rằng rất ít các bãi cạn lúc nổi lúc chìm thuộc Trường Sa được xếp vào trường hợp này
Trong Vụ kiện Biển Đông, Tòa có kết luận quan trọng rằng: bãi lúc nổi lúc chìm không thể là đối tượng thủ đắc lãnh thổ Luật pháp quốc tế về thụ đắc lãnh thổ chỉ áp dụng với đất liền và đảo (gồm cả đảo đá) Một thực thể ở trạng thái tự nhiên là bãi lúc nổi lúc chìm sẽ không thể trở thành lãnh thổ thuộc chủ quyền quốc gia dù được cải tạo một cách nhân tạo thành một thực thể luôn nổi
1.3 Quy chế các đảo nhân tạo, công trình, thiết bị nhân tạo trên biển
Hiện tại, có 3 loại đảo, công trình và thiết bị nhân tạo ở trong và xung quanh quần đảo Trường Sa và các vùng lân cận là: 1) Các thiết bị nhân tạo nổi tạm thời như giàn khoan dầu (khi chúng không còn hoạt động, các giàn khoan này sẽ được tháo dỡ
và loại bỏ); 2) Các công trình, thiết bị nhân tạo gắn kết tạm thời hoặc vĩnh viễn với đảo
tự nhiên như đường băng sân bay; 3) Các đảo nhân tạo được xây dựng trên các loại đá
tự nhiên và các rạn san hô vĩnh cửu.9
Các công trình nhân tạo nhìn chung không được coi là đảo vì chúng rõ ràng không phải là các vùng đất được hình thành một cách tự nhiên Cả Công ước 1958 về Lãnh hải và Công ước Luật biển năm 1982 đều không ghi nhận quy chế đảo cho các công trình thuộc loại này Vấn đề quy chế của các đảo nhân tạo, thiết bị và công trình nhân tạo trên biển được quy định trong Công ước Luật biển 1982 như sau: Trong vùng ĐQKT của mình, QGVB có đặc quyền tiến hành xây dựng, cho phép và quy định việc
9 Xem: Keyuan Zou (2011), Tác động của các đảo nhân tạo đối với tranh chấp quần đảo Trường Sa,
http://nghiencuubiendong.vn , truy cập ngày 17/03/2021
Trang 6xây dựng, khai thác và sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình nhân tạo dùng vào các mục đích được trù định ở Điều 56 hoặc các mục đích khác Như vậy, Công ước 1982 chỉ đề cập đến việc xây dựng các công trình nhân tạo trong vùng
ĐQKT (Điều 60.1) Công ước khẳng định các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình
nhân tạo không được hưởng quy chế đảo, không có lãnh hải riêng và sự có mặt của chúng không có ảnh hưởng đến việc hoạch định lãnh hải, vùng ĐQKT hoặc TLĐ (Điều
60.8) Công ước cho phép QGVB khi cần có thể lập ra xung quanh các đảo nhân tạo, các thiết bị hoặc công trình những khu vực an toàn với kích thước hợp lý; trong các khu vực này, QGVB có thể áp dụng các biện pháp thích hợp để bảo đảm an toàn hàng hải, cũng như an toàn của các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình (Điều 60.4)
Như vậy, Công ước Luật biển năm 1982 chỉ ghi nhận hiệu lực pháp lý của một
số công trình nhân tạo nằm ngay sát và liên kết với bờ biển thành một chỉnh thể thống nhất Trong trường hợp xây dựng ở ngoài khơi xa bờ, những công trình này sẽ không ảnh hưởng đến việc xác định và mở rộng các vùng biển.10
Một trong những vấn đề phức tạp là việc xây dựng các công trình nhân tạo trên các bãi cạn lúc chìm lúc nổi Về mặt pháp lý, các bãi cạn lúc chìm lúc nổi không thể có quy chế pháp lý của đảo, cho dù ở đó có công trình nhân tạo thường xuyên nhô trên mặt biển Các công trình nhân tạo được xây dựng gắn với bờ biển hoặc trên các bãi cạn lúc chìm lúc nổi mà khoảng cách của chúng với lục địa hoặc một đảo tự nhiên không quá 12 hải lý thì chúng có vai trò trong việc xác định đường cơ sở thẳng dùng để tính chiều rộng của lãnh hải của QGVB theo khoản 4 Điều 7 UNCLOS Ngược lại, nếu công trình nhân tạo được xây dựng ở lãnh hải, tiếp giáp lãnh hải, vùng ĐQKT và TLĐ thì QGVB chỉ được thiết lập vùng an toàn không quá 500m Và dĩ nhiên các công trình nhân tạo, sẽ không có bất kỳ vai trò gì trong quá trình phân định biển vì chúng không
có lãnh hải, tiếp giáp lãnh hải, vùng ĐQKT và TLĐ theo quy định tại Điều 60 khoản 8 của UNCLOS
2 Bình luận về tính hợp pháp của hành vi tôn tạo, bồi đắp các cấu trúc địa lý
của Trung Quốc tại Trường Sa
10 Xem: Nguyễn Toàn Thắng (2015), “Hoạt động xây dựng của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa và vấn đề giải quyết tranh chấp ở Biển Đông”, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Xây dựng các công trình nhân tạo trên Biển Đông và tác động đối với hoà bình, an ninh, kinh tế, thương mại của khu vực, Hồ Chí Minh.
Trang 7Từ khoảng cuối năm 2013 đầu năm 2014, Trung Quốc bắt đầu tăng cường tiến hành các hoạt động tôn tạo, bồi đắp các cấu trúc địa lý mà nước này đang chiếm đóng trái phép tại quần đảo Trường Sa của Việt Nam nhằm hiện thực hóa yêu sách “đường lưỡi bò (đường đứt khúc 9 đoạn)” phi lý ở Biển Đông Trung Quốc đã tiến hành các hoạt động nạo vét, lấn biển để bồi đắp, cải tạo trên diện rộng các cấu trúc địa lý, huy động một lượng lớn máy móc, trang thiết bị để đồng loạt đẩy mạnh xây dựng11 nhằm
mở rộng diện tích các vị trí Trung Quốc chiếm đóng trái phép của Việt Nam Không chỉ vậy, Trung Quốc còn cắt phá các rạn san hô nhằm thay đổi trạng thái nguyên bản của các thực thể ấy, với ý định biến chúng thành các đảo nhân tạo nhằm khẳng định chủ quyền phi pháp, từng bước hiện thực hóa yêu sách của mình.12
Những thực thể Trung Quốc chiếm được một cách phi pháp ở Trường Sa của Việt Nam chỉ là những bãi đá chìm, hay bãi cạn lúc chìm lúc nổi, có rất ít thực thể được xem là đảo Tuy nhiên, Trung Quốc đã ồ ạt xây dựng các đảo nhân tạo trên các đảo/bãi đá còn đang tranh chấp với tốc độ bồi đắp chóng mặt, những thực thể đó đang trở thành đảo nhân tạo có diện tích lớn hơn nhiều tất cả các đảo/đá tự nhiên ở Trường
Sa, phá vỡ tình trạng tự nhiên và gia tăng thêm căng thẳng trên Biển Đông
Hành vi tôn tạo, bồi đắp các cấu trúc địa lý của Trung Quốc đã đi ngược lại với Công ước Luật biển 1982; làm thay đổi tính chất tự nhiên của các thực thể địa lý, phá hủy môi trường và hệ sinh thái biển, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tiến trình quản lý xung đột và giải quyết tranh chấp với các quốc gia liên quan trong khu vực
2.1 Hành vi của Trung Quốc vi phạm chủ quyền của Việt Nam với quần đảo
Trường Sa
Theo luật pháp quốc tế, Trung Quốc không có quyền xây dựng các đảo nhân tạo trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam Bởi lẽ, vào năm 1988 và năm 1995, Trung Quốc đã sử dụng vũ lực tấn công, chiếm đóng 7 bãi đá thuộc quần đảo Trường Sa chủ quyền của Việt Nam Việc Trung Quốc sử dụng vũ lực xâm chiếm quần đảo Trường
11 Trung Quốc huy động nhiều máy móc các loại, ví dụ như tàu vận tải công suất lớn, tàu quốc Thiên Kình mở luồng, hút phun cát, cấp tập xây dựng trên bãi đá Huy Gơ (“Cận cảnh hoạt động xây dựng trái phép của Trung Quốc ở Trường Sa”, http://www.doisongphapluat.com/the-gioi/the-gioi-24h/can-canh-hoat-dong-xay-dung-trai-phep-cua-trung-quoc-o-truong-sa-a50204.html , truy cập ngày 17/03/2021)
12 Xem: South China Sea: China’s Unprecedented Spratlys Building Program, https://thediplomat.com/2015/04/south-china-sea-chinas-unprecedented-spratlys-building-program/ , truy cập ngày 17/03/2021
Trang 8Sa của Việt Nam là trái pháp luật quốc tế, vì chủ quyền của một quốc gia đối với lãnh thổ có được bằng hành động sử dụng vũ lực để xâm lược không được thừa nhận theo pháp luật quốc tế Đó là hành động đơn phương vi phạm chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa và do đó không có giá trị pháp lý.13 Do vậy, hành vi xây dựng các đảo nhân tạo trên quần đảo Trường Sa là hoàn toàn trái với luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982
Các hành động san lấp, bồi đắp và cải tạo trên diện rộng tại các cấu trúc địa lý ở Hoàng Sa và đặc biệt ở bảy cấu trúc địa lý mà Trung Quốc chiếm đóng trái phép ở Trường Sa là hành vi tiếp nối các hành động vi phạm chủ quyền của Trung Quốc đối với chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo này
2.2 Hành vi của Trung Quốc vi phạm nghĩa vụ giữ nguyên hiện trạng của các
vùng biển đang có tranh chấp
Các thực thể bị Trung Quốc bồi đắp và cải tạo ở Trường Sa đang nằm trong khu vực có tranh chấp chủ quyền Điều 74 và 83 của UNCLOS 1982 đòi hỏi rằng trong các khu vực có các yêu sách EEZ hoặc TLĐ mở rộng mâu thuẫn nhau thì các bên tranh
chấp: "trên tinh thần hiểu biết và hợp tác, sẽ thực hiện mọi nỗ lực để tham gia vào các
dàn xếp tạm thời có tính chất thực tiễn và trong giai đoạn chuyển tiếp này, không gây phương hại cho hay cản trở việc đi đến các thỏa thuận cuối cùng."
Như đã phân tích ở phần 1, UNCLOS đã phân định quy chế riêng biệt đối với đảo được hưởng quy chế vùng ĐQKT (200 hải lý) và TLĐ trong khi các bãi đá, bãi cạn lúc nổi lúc chìm sẽ có thể được hưởng tiêu chuẩn tối đa là vùng lãnh hải 12 hải lý Ngoài ra, đối với các đảo nhân tạo thì Điều 121 của UNCLOS quy định rất rõ ràng:
“Các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình không được hưởng quy chế của các đảo Chúng không có lãnh hải riêng và không có tác động gì đối với việc hoạch định ranh giới lãnh hải, vùng đặc quyền về kinh tế hoặc TLĐ”
Bằng các hoạt động nạo vét biển, sử dụng tàu cuốc để cắt những mảng san hô,
đổ cát xây đảo quy mô lớn, Trung Quốc đang cố gắng làm thay đổi tình trạng tự nhiên của các cấu trúc, dần dần xóa đi bản chất tự nhiên ban đầu của những thực thể này, từ
đó làm cơ sở để tiếp tục đưa ra các yêu sách vùng biển Tuy nhiên, hoạt động nhân tạo
13 Xem: Trung Quốc bồi đắp, tôn tạo trái phép các cấu trúc địa lý trên Biển Đông: Đấu tranh của Việt Nam và phản ứng của cộng đồng quốc tế, http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-vietnam/5944-trung-quoc-boi-dap-va-ton-tao-trai-phep-cac-cau-truc-dia-ly-tren-bien-dong , truy cập ngày 17/03/2021
Trang 9của con người không làm thay đổi bản chất pháp lý của các cấu trúc tự nhiên, không
có giá trị trong việc chuyển hóa “bãi cạn”, “đá” thành “đảo” Điều này đã được Tòa
trọng tài khẳng định trong vụ Philippines hiện Trung Quốc, theo đó “… việc quy định
“cấu tạo tự nhiên” trong định nghĩa về bãi cạn lúc chìm lúc nổi và đảo cho thấy rằng bản chất pháp lý của những cấu trúc nêu trên phải được xác định theo điều kiện tự nhiên của những cấu trúc đó Vì vậy, sự tác động của con người không biến một phần đáy biển thành bãi cạn lúc chìm lúc nổi, cũng không thể biến một bãi cạn lúc chìm lúc nổi trở thành đảo Theo quy định của UNCLOS, một bãi cạn sẽ luôn là bãi cạn, không phụ thuộc vào quy mô cải tạo hoặc của những công trình xây dựng trên bãi cạn đó”.
Vì vậy, hoạt động cải tạo của Trung Quốc không được tòa tính đến trong việc xác định quy chế pháp lý của các cấu trúc thuộc quần đảo Trường Sa, Tòa căn cứ vào trạng thái
tự nhiên của những cấu trúc trước khi Trung Quốc thực hiện hoạt động tôn tạo, bồi đắp
và xây dựng để xác định đó là đảo đá hay bãi cạn lúc chìm lúc nổi.14
2.3 Hành vi của Trung Quốc vi phạm nghĩa vụ không làm trầm trọng thêm tình
trạng tranh chấp
Theo quy định của luật quốc tế, hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế là nghĩa
vụ bắt buộc đối với mọi quốc gia Các nước cần nỗ lực trên tinh thần thiện chí để giải quyết tranh chấp, đồng thời kiềm chế mọi hành động làm căng thẳng tình hình và có thể dẫn đến xung đột vũ trang
Điều 33 Hiến chương LHQ quy định: “các bên tham gia tranh chấp trước tiên
phải cố gắng tìm cách giải quyết tranh chấp bằng con đường đàm phán, điều tra, trung gian, hòa giải, trọng tài, tòa án, sử dụng các tổ chức hoặc các hiệp định khu vực, hoặc bằng các biện pháp hòa bình khác tùy theo sự lựa chọn của mình” Đối với
các tranh chấp trên biển, Công ước Luật biển 1982 thường được viện dẫn với tính chất
là ĐƯQT đa phương, đồng thời chứa đựng các quy phạm tập quán quốc tế, điều chỉnh tương đối toàn diện các vấn đề pháp lý liên quan đến khai thác, sử dụng và hoạch định các vùng biển
Là thành viên của Hiến chương LHQ cũng như Công ước Luật biển 1982 Trung Quốc có nghĩa vụ tuân thủ các quy định của luật quốc tế, giải quyết mọi xung đột, tranh chấp, mâu thuẫn trên cơ sở bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau Đối với các tranh
14 Xem: Arbitral Tribunal, PCA Case No 2013-19, South China Sea Arbitration, Philippines v China, 12/7/2016, p.305
Trang 10chấp ở biển Đông, Trung Quốc cần giải quyết bằng biện pháp hòa bình, không sử dụng
vũ lực và không có hành động làm phức tạp thêm tình hình Hoạt động đơn phương của Trung Quốc trong việc xây dựng quy mô lớn ở quần đảo Trường Sa đã phá vỡ nguyên trạng biển Đông, đe dọa tự do hàng hải được ghi nhận trong Công ước Luật biển 1982
Tòa xem xét liệu việc Trung Quốc tiếp tục hoạt động xây dựng đảo sau khi Philippines khởi kiện có vi phạm nghĩa vụ không mở rộng hay làm trầm trọng tranh chấp khi tranh chấp đó đang được một cơ quan tài phán quốc tế xem xét giải quyết Tòa cho rằng luật quốc tế quy định nghĩa vụ không mở rộng hay làm trầm trọng tranh chấp khi cơ quan tài phán đang xem xét giải quyết.15 Hành vi của một bên trong tranh chấp có thể làm trầm trọng tranh chấp theo ba cách: (1) tiếp tục thực hiện những hành
vi đang bị cáo buộc vi phạm quyền của bên còn lại trong tranh chấp, theo cách làm cho
vi phạm bị cáo buộc nghiêm trọng thêm, (2) có hành vi làm giảm hiệu quả thực tế của phán quyết sẽ được đưa ra hoặc gây khó khăn đáng kể cho việc thực thi phán quyết, và (3) có hành vi gây tổn hại đến tính toàn vẹn của tiến trình giải quyết tranh chấp bằng việc gây khó khăn cho cơ quan tài phán xem xét vụ việc, hay có hành vi khiến cho tiến trình giải quyết tranh chấp không còn hiệu quả giải quyết tranh chấp trên thực tế.16
Việc Trung Quốc tiếp tục hoạt động xây dựng đảo sau khi Philippines khởi kiện
và trong giai đoạn Tòa trọng tài đang xem xét đã làm trầm trọng tranh chấp do hoạt
động này tạo ra “tình trạng đã rồi” (fait accompli) tại Đá Vành Khăn khiến cho việc
thực hiện phán quyết khó khăn hơn và không thể trả lại hiện trạng ban đầu trước cải tạo, tiếp tục gây ra tổn hại không thể khắc phục cho môi trường biển, và phá hủy bằng chứng về tình trạng tự nhiên của các thực thể.17
2.4 Hành vi của Trung Quốc vi phạm pháp luật quốc tế về giữ gìn và bảo vệ môi
trường biển
Trung Quốc đang vi phạm Điều 192 và 123 của UNCLOS, về bảo vệ môi
trường biển Điều 192 quy định rằng: "Các quốc gia có nghĩa vụ bảo vệ và giữ gìn môi
trường biển", Các quốc gia có nghĩa vụ vụ phải chủ động có biện pháp bảo vệ, gìn giữ ,
15 Xem: Arbitral Tribunal, PCA Case No 2013-19, South China Sea Arbitration, Philippines v China, 12/7/2016, p.1174
16 Xem: Arbitral Tribunal, PCA Case No 2013-19, South China Sea Arbitration, Philippines v China, 12/7/2016, p.1176
17 Xem: Arbitral Tribunal, PCA Case No 2013-19, South China Sea Arbitration, Philippines v China, 12/7/2016, p.1181