Luật biển quốc tế là một ngành luật của Luật quốc tế, luật biển hình thành và phát triển dựa trên các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế: bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia; cấm sử dụng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực; giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hòa bình;…Song bên cạnh đó, biển có những đặc thù rất riêng, vì thế Luật biển cũng có những nguyên tắc riêng của nó: nguyên tắc tự do biển cả; nguyên tắc đất thống trị biển; nguyên tắc công bằng; nguyên tắc di sản chung của loài người. Mỗi nguyên tắc đều giữ vai trò quan trọng nhất định. Trong lý thuyết về lãnh thổ, lãnh thổ đất là cơ sở để xác lập các vùng lãnh thổ khác, như vùng biển, vùng trời và vùng lòng đất. Chính vì vậy, trong khuôn khổ bài tiểu luận sẽ đi sâu vào một nguyên tắc cơ bản và quan trọng của Luật biển quốc tế hiện đại, đó là nguyên tắc đất thống trị biển, thông qua đề bài số 04: “Phân tích ảnh hưởng của nguyên tắc đất thống trị biển tới việc xác định ranh giới và quy chế pháp lý của vùng thềm lục địa.”
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TẬP HỌC KÌ
MÔN: LUẬT BIỂN QUỐC TẾ HIỆN ĐẠI
ĐỀ BÀI: 04
Phân tích ảnh hưởng của nguyên tắc đất thống trị biển tới việc xác định ranh giới và quy chế pháp lý của vùng thềm lục địa.
Hà Nội, 2021
HỌ VÀ TÊN :
Trang 2ĐỀ BÀI SỐ 04:
Phân tích ảnh hưởng của nguyên tắc đất thống trị biển tới việc xác định ranh giới và quy chế pháp lý của vùng
thềm lục địa.
Trang 3MỤC LỤC
Trang 4BẢNG TỪ VIẾT TẮT
Liên hợp quốc
Trang 5MỞ ĐẦU
Luật biển quốc tế là một ngành luật của Luật quốc tế, luật biển hình thành và phát triển dựa trên các nguyên tắc cơ bản
của Luật quốc tế: bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia;
cấm sử dụng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực; giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hòa bình;…Song bên cạnh đó,
biển có những đặc thù rất riêng, vì thế Luật biển cũng có những nguyên tắc riêng của nó: nguyên tắc tự do biển cả; nguyên tắc đất thống trị biển; nguyên tắc công bằng; nguyên tắc di sản chung của loài người Mỗi nguyên tắc đều giữ vai trò quan trọng nhất định Trong lý thuyết về lãnh thổ, lãnh thổ đất là cơ sở để xác lập các vùng lãnh thổ khác, như vùng biển, vùng trời và vùng lòng đất Chính vì vậy, trong khuôn khổ bài tiểu luận sẽ đi sâu vào một nguyên tắc cơ bản và quan trọng của Luật biển quốc tế hiện đại, đó là nguyên tắc đất thống trị biển, thông qua
đề bài số 04: “Phân tích ảnh hưởng của nguyên tắc đất
thống trị biển tới việc xác định ranh giới và quy chế pháp lý của vùng thềm lục địa.”
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong suốt quá trình thực hiện bài làm, song có thể còn tồn tại những mặt hạn chế, thiếu sót
về kiến thức Em rất mong được nhận ý kiến đóng góp và sự chỉ dẫn của các thầy cô giáo để bản thân mình có thêm kinh nghiệm trong những đề tài lần sau Em xin chân thành cảm ơn
Bộ môn Công pháp quốc tế, Khoa Pháp luật Quốc tế -Trường Đại học Luật Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho
em cơ hội được học tập và thực hiện đề tài tiểu luận này!
Trang 6NỘI DUNG
1 Lịch sử hình thành của nguyên tắc đất thống trị biển và vùng thềm lục địa:
Đất thống trị biển là sự thể hiện cụ thể của học thuyết
Res nullius – thuyết lãnh thổ kế cận1, cho phép quốc gia ven biển mở rộng chủ quyền quốc gia ra hướng biển Do đó, lãnh
thổ đất liền và vùng biển có mối quan hệ tương hỗ: “Nếu có
lãnh thổ đất liền (ven biển) thì có quyền có vùng biển và ngược lại, không có quyền đối với vùng biển mà không có lãnh thổ đất liền 2.”
Trong quá trình phát triển, một số quốc gia ý thức được tầm quan trọng của tài nguyên thiên nhiên ở vùng thềm ngoài khơi của bờ biển với nền kinh tế nước mình nên đã ra tuyên bố giành quyền kiểm soát song giới hạn bên ngoài của TLĐ tuyên
bố xác định khác nhau3 Năm 1942, lần đầu tiên trong lịch sử, vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển trong vịnh Paria, nằm ngoài giới hạn lãnh hải mà trước đó luôn được coi là bộ phận của biển cả đã được hai nước Anh và Venezuela phân chia cùng với sự thừa nhận các quyền thuộc chủ quyền của mỗi quốc gia đối với vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển tương ứng Năm
1945, Tuyên bố của Tổng thống Mỹ Harry Truman về “Chính
sách của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đối với tài nguyên thiên nhiên của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển” đã thừa nhận thềm lục
địa là sự mở rộng lãnh thổ đất liền của quốc gia ven biển nên thuộc quyền của quốc gia đó Bắt đầu từ thời điểm này, học thuyết về thềm lục địa bắt đầu phát triển và đi vào cuộc sống của cộng đồng quốc tế Trong vụ Ngư trường Anh – Nauy năm
1951, ICJ đưa ra phán quyết có nội dung rằng: “Đất đã trao cho
quốc gia ven biển quyền đối với những vùng nước bên ngoài bờ biển”….
Tuy nhiên đến năm 1958, người ta mới thành công trong việc pháp điển hóa khái niệm thềm lục địa trong luật biển quốc
1 Khi một quốc gia có chủ quyền trên một lãnh thổ, quốc gia đó cũng sẽ có chủ quyền trên những vùng lãnh thổ vô chủ kế cận;
2 https://bitly.com.vn/cfdfn0;
3 Giáo trình Luật Biển quốc tế / Trường Đại học Luật Hà Nội ; Chủ biên: Nguyễn Thị Kim Ngân, Nguyễn Toàn Thắng ; Chu Mạnh Hùng – NXB Tư Pháp – 2019, tr 131.
6
Trang 7tế bằng việc thông qua Công ước Geneve về thềm lục địa cùng với 3 công ước khác Điều 1 Công ước Geneve về thềm lục địa
đã định nghĩa thềm lục địa pháp lý như sau: “ thuật ngữ
"Thềm lục địa" được sử dụng để chỉ (a) đáy và lòng đất dưới đáy của khu vực ngầm dưới biển nhưng nằm ngoài lãnh hải và ra đến độ sâu 200m nước; hoặc vượt ra ngoài giới hạn đó ra đến
độ sâu cho phép khai thác được tài nguyên thiên nhiên của các khu vực ngầm dưới biển đó; (b) để chỉ đáy và lòng đất dưới đáy biển của khu vực ngầm dưới biển tương tự tiếp giáp với bờ của đảo”.
Nội dung tiếp tục được ICJ khẳng định trong nhiều phán
quyết sau đó liên quan đến thềm lục địa: Vụ thềm lục địa Biển
Bắc (tranh chấp giữa Đức, Hà Lan, Đan Mạch) năm 1969, vụ phân định thềm lục địa giữa Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ 1978; tranh chấp phân định biển giữa Romania và Ukraine 2009,…
2 Ảnh hưởng của nguyên tắc đất thống trị biển đến cách xác định ranh giới thềm lục địa:
Trong phán quyết của ICJ về vụ TLĐ Biển Bắc: “đối với
thềm lục địa, nguyên tắc được áp dụng là đất thống trị biển”,
tức là đất là cơ sở pháp lý của quyền lực mà một quốc gia thực
hiện đối với phần lãnh thổ mở rộng ra phía biển Do vậy, “các
quyền mà luật quốc tế trao cho quốc gia ven biển trên thềm lục địa của họ xuất phát từ việc các vùng đáy biển này chỉ có thể được xem như một phần của lãnh thổ mà tại đó, quốc gia ven biển đã thực hiện quyền lực của họ Bởi vì, trong khi bị nước bao phủ, các vùng đáy biển này là sự kéo dài, sự tiếp nối, sự mở
mở rộng của lãnh thổ ở dưới biển.” Chính chủ quyền quốc gia
ven biển trên lãnh thổ đất liền đã đương nhiên đem lại quyền chủ quyền trên phần TLĐ kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền
ra biển Khẳng định này vô cùng quan trọng trong việc thiết lập
cơ sở cho việc hiểu đúng bản chất thềm lục địa phải là phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền
Sau này, tại Điều 76 UNCLOS 1982 đã đưa ra khái niệm
hoàn chỉnh về TLĐ: “thềm lục địa của quốc gia ven bờ bao gồm
đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia đó, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền
7
Trang 8của quốc gia cho đến bờ ngoài của rìa lục địa hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lí, khi bờ ngoài của rìa lục địa của quốc gia ở khoảng cách gần hơn”.
UNCLOS 1982 dựa trên tiêu chí “kéo dài tự nhiên” và tiêu chí
“khoảng cách” để xác định thềm lục địa
Như vậy, đây là cơ sở để khẳng định rằng quốc gia ven biển luôn có quyền chủ quyền đương nhiên với tối thiểu 200 hải
lý TLĐ Mỗi quốc gia ven biển đều được quyền hưởng phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ mình ra biển, ngay cả khi một vùng đáy biển gần lãnh thổ của một quốc gia hơn là lãnh thổ của mỗi quốc gia khác, người ta cũng không thể coi rằng nó thuộc quốc gia này nếu nó không phải là phần mở rộng tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia đó ra biển Đây là yêu cầu không được sửa chữa lại tự nhiên
Tuy nhiên các QG cũng không thể lạm dụng nguyên tắc đất thống trị biển để mở rộng thẩm quyền của mình ra biển hoặc đơn phương yêu sách những vùng biển rộng lớn hơn không phù hợp với luật quốc tế Nếu bờ ngoài của rìa lục địa tự nhiên vượt quá 200 hải lý thì quốc gia ven biển có thể có thềm lục địa pháp
lý rộng hơn 200 hải lý4 (thường gọi là TLĐ mở rộng hoặc TLĐ vượt quá 200 hải lý) Trường hợp này UNCLOS 1982 cho phép các quốc gia xác định theo bề dày lớp đá trầm tích hoặc theo phương pháp chân dốc lục địa (khoản 4 Điều 76) Tuy nhiên, thềm lục địa không được vượt quá 350 hải lý tính từ đường cơ
sở hoặc 100 hải lý tính từ đường đẳng sâu 2.500m
3 Ảnh hưởng của nguyên tắc đất thống trị biển đến quy chế pháp lí của thềm lục địa:
Xuất phát từ bản chất của thềm lục địa là sự kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền, việc quản lý tài nguyên thiên nhiên nói chung và khoáng sản nói riêng được thực hiện nhằm mục đích quan trọng nhất là bảo vệ lợi ích của quốc gia ven biển Nếu như trên lãnh thổ quốc gia, những quyền mà quốc gia tiến hành đối với lãnh thổ của mình là những quyền nhằm thực hiện chức năng công quyền theo một cách thức phổ biến và riêng
4 Quốc gia ven biển muốn mở rộng thềm lục địa lớn hơn 200 hải lí tính từ đường cơ sở thì cần hoàn thành các thủ tục quy định tại khoản 8,9 điều 76 UNCLOS 1982
8
Trang 9biệt để đạt được những mục tiêu và đối tượng do tự bản thân quốc gia đã quyết định thì những quyền tại thềm lục địa do luật quốc tế quy định
3.1 Quyền của quốc gia ven biển:
Thứ nhất, quyền chủ quyền đối với thắm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên: Quốc gia ven biển có quyền chủ
quyền về thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên5 trên TLĐ
Quyền này mang tính chất tự nhiên, vốn có (ipso facto and ab
initio), “không phụ thuộc vào sự chiếm hữu thực sự hay danh
nghĩa cũng như vào bất cứ tuyên bố rõ ràng nào” (khoản 3 điều
77 UNCLOS 1982); Các quyền này không thể chuyển nhượng và không thể mất hiệu lực đối với quốc gia ven biển Điều này xuất phát từ chủ quyền đối với vùng đất và như một sự mở rộng chủ quyền trong việc thực hiện quyền chủ quyền đối với hoạt động thăm dò đáy biển và khai thác tài nguyên thiên nhiên Các quyền chủ quyền của quốc gia ven biển về mặt thăm dò, khai
thác tài nguyên thiên nhiên ở thềm lục địa mang tính đặc
quyền, nghĩa là quốc gia ven biển không có nghĩa vụ phải chia
sẻ với bất kỳ quốc gia nào Nếu quốc gia ven biển này không thăm dò TLĐ/ không khai thác tài nguyên thiên nhiên của TLĐ thì không ai có quyền tiến hành các hoạt động này, nếu không
có sự thỏa thuận/nhất trí rõ ràng của quốc gia ven biển6
Quốc gia ven biển còn có quyền chủ quyền với chính thềm lục địa: Điều 81 UNCLOS 1982 quy định quốc gia ven biển có
đặc quyền cho phép và quy định việc “khoan ở thềm lục địa” vì bất kỳ mục đích gì và quốc gia ven biển có quyền được
khai thác lòng đất dưới đáy biển bằng cách đào hầm đất, bất kể
độ sâu của các vùng nước nơi ấy là bao nhiêu7
Thứ hai, quyền tài phán của quốc gia ven biển: Quốc
gia ven biển có các quyền tài phán đối với các đảo nhân tạo, thiết bị công trình trên thềm lục địa Quyền tài phán về nghiên
5 Gồm tài nguyên vi sinh vật, tài nguyên sinh vật, thuộc loại định cư
6 ICJ 1969 North Sea Continental Shelf
7 Điều 85 UNCLOS 1982
9
Trang 10cứu khoa học biển, quyền tài phán về bảo vệ và gìn giữ môi trường biển tương tự như trong vùng ĐQKT, nhằm ngăn ngừa, hạn chế ô nhiễm do các hoạt động liên quan đến đáy biển thuộc quyền tài phán của QG
3.2 Nghĩa vụ của quốc gia ven biển:
QG ven biển cũng cần phải tôn trọng những giới hạn nhất
định đó là: Tôn trọng các quyền tự do của quốc gia khác tại
thềm lục địa; không được đương nhiên tiến hành các hoạt động thăm dò khai thác trong trường hợp chưa phân định thềm lục địa và thực hiện nghĩa vụ chia sẻ một phần lợi nhuận thu được trong trường hợp khai thác thềm lục địa mở rộng UNCLOS 1982
quy định một số nghĩa vụ đối với quốc gia ven biển có TLĐ mở rộng quá 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Quốc gia ven biển hải có nghĩa vụ đóng góp bằng tiền hay hiện vật khi khai thác các tài nguyên thiên nhiên không sinh vật của TLĐ nằm ngoài 200 hải lý Các khoản đóng góp này được nộp hàng năm, tính theo toàn bộ sản phẩm thu hoạch được tại khu vực khai thác8 Nguyên nhân là do thềm lục địa không phải là lãnh thổ của quốc gia ven biển Thềm lục địa là vùng biển lưỡng cực9, không hoàn toàn là lãnh thổ quốc gia nhưng cũng không hoàn toàn là vùng biển quốc tế Tại đó, QG
vẫn được hưởng những đặc quyền do sự tiếp liền về địa lý với
lãnh thổ của QG ven biển Trong khi một số quyền tự do của các chủ thể khác vẫn được đảm bảo Nói cách khác, để đảm bảo hoạt động quản lý của QG ven biển không làm ảnh hưởng đến quyền của các chủ thể khác, cũng như ảnh hưởng đến lợi ích chung được LQT bảo vệ, nên song song với việc ghi nhận quyền, công ước cũng đưa ra những giới hạn mà QG ven biển phải tuân thủ trong quá trình thực hiện quyền chủ quyền của mình Đồng
thời, quốc gia ven bờ “không cản trở hoặc gây thiệt hại” cho các
8 5 năm đầu được miễn đóng góp; Từ năm thứ 6 đóng góp 1% của giá trị/ khối lượng sản phẩm khai thác được ở điểm khai thác; Mỗi năm sau đó tăng thêm 1%, tới năm thứ 12, tỷ
lệ đóng góp sẽ đạt mức 7% - mức này sẽ được duy trì không thay đổi cho các năm tiếp theo – khoản 2 điều 82 UNCLOS
9 Pháp luật quốc tế về quản lý tài nguyên khoáng sản biển và thực tiễn của Việt Nam : luận án tiến sĩ Luật học / Phạm Hồng Hạnh ; Người hướng dẫn: PGS TS Nguyễn Hồng Thao, PGS TS Nguyễn Thị Thuận – trang 61
10
Trang 11quốc gia khác khi thực hiện các quyền hợp pháp của họ ở vùng nước phía trên và không phận phía trên vùng nước đó
Ảnh hưởng của nguyên tắc đất thống trị biển đối với thềm lục địa là rất lớn, nên nguyên tắc tự do biển cả ở vùng này chỉ
có một phần ảnh hưởng, thể hiện ở việc các quốc gia khác trên thềm lục địa có các quyền về tự do hàng hải; tự do hàng không;
tự do đặt dây cáp, ống dẫn ngầm nhưng hướng đi của các tuyến cáp, ống này phải được quốc gia ven biển đồng ý
11
Trang 12KẾT LUẬN
Nguyên tắc đất thống trị biển là nguyên tắc quan trọng
của Luật biển quốc tế Tuy rằng nguyên tắc “đất thống trị biển”
hướng tới bảo vệ lợi ích của các quốc gia ven biển, nguyên tắc này thúc đẩy việc mở rộng thẩm quyền của quốc gia vào không gian biển Song song với đó cần phải chứa hạt nhân hợp lí về chia sẻ với quốc gia khác Chế độ pháp lý, chế độ chia sẻ lợi nhuận của thềm lục địa tại phần thềm lục địa giống như một
“mối quan hệ bù đắp cho nhau” Nói cách khác điều khoản này
là sự thỏa hiệp giữa một bên là những quốc gia phản đối việc cho phép mở rộng ranh giới ranh giới ngoài thềm lục địa trên cơ
sở nguyên tắc “di sản chung của loài người” và một bên là
những quốc gia ủng hộ sự mở rộng này trên cơ sở viện dẫn bản
chất của thềm lục địa là phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất
liền ngập dưới biển theo nguyên tắc đất thống trị biển, hơn nữa
là để cân bằng giữa chế độ pháp lý của thềm lục địa và vùng
Do thời gian và kiến thức còn hạn chế nên khó có thể tránh khỏi những sai sót trong bài, một lần nữa, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy, cô trong bộ môn để giúp bài làm được hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn!
12
Trang 13DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
A – Tài liệu in:
1 Giáo trình Luật Biển quốc tế / Trường Đại học Luật Hà Nội ; Chủ biên: Nguyễn Thị Kim Ngân, Nguyễn Toàn Thắng ; Chu Mạnh Hùng – NXB Tư Pháp – 2019;
2 Giáo trình Luật Quốc tế / Trường Đại học Luật Hà Nội ; Lê Mai Anh chủ biên ; Hoàng Ly Anh – NXB CAND – năm 2019;
3 Pháp luật quốc tế về quản lý tài nguyên khoáng sản biển và thực tiễn của Việt Nam : luận án tiến sĩ Luật học / Phạm Hồng Hạnh ; Người hướng dẫn: PGS TS Nguyễn Hồng Thao, PGS TS Nguyễn Thị Thuận
B – Tài liệu Website:
1 Thế nào là thềm lục địa? Phạm vi và chế độ pháp lý?
Theo tài liệu tuyên truyền pháp luật về biển đảo -https://www.camau.gov.vn/
2 http://www.qil-qdi.org/land-dominates-sea-dominates-land-dominates-sea/#:~:text=It%20is%20a%20truth
%20universally,the%20land%20dominates%20the%20sea
-https://vi.wikipedia.org/wiki/Res_nullius;
4 Đánh giá vai trò của nguyên tắc tự do biển cả và đất thống trị biển - https://www.123doc.net/document/1250398- danh-gia-vai-tro-cua-nguyen-tac-tu-do-bien-ca-va-dat-thong-tri-bien.htm;
C – Các vụ việc:
1 Tranh chấp thềm lục địa Biển Bắc năm 1969 và phán quyết của Tòa án công lý quốc tế
-http://www.worldcourts.com/icj/eng/decisions/1969.02.20_ continental_shelf.htm;
2 Vụ ngư trường Anh – Nauy và phán quyết của Tòa án công lý quốc tế ICJ 1951 –
http://www.worldcourts.com/icj/eng/decisions/1951.12.18_ fisheries.htm;
13