1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TU LIEU VAN HOC

30 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 1,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“Hiện nay hầu hết khi giảng văn về một tác phẩm nào đó phần về tác giả chỉ đi lướt qua rất nhanh chóng hoặc tự các em tìm hiểu đọc thêm - nhà thơ tâm sự - “Thế nên không ít học sinh chỉ[r]

Trang 1

Gặp lại các tác giả trong SGKThứ Bảy, 14/06/2008 14:15

Nhà văn Lê Minh Khuê với “Những

ngôi sao xa xôi”

Nhà văn Hồ Phương: Đừng nhầm nhân vật trong “Cỏ non” với anh

Hồ Giáo!

(TT&VH Online) - “Tôi đã chứng kiến cuộc sống của những cô

gái thanh niên xung phong trong thời chống Mỹ - nhà văn Lê

Minh Khuê tâm sự về truyện ngắn “Những ngôi sao xa xôi”

của mình (được đưa vào SGK lớp 9, và có tên trong tuyển tập

“The art of the short story” (Nghệ thuật truyện ngắn thế

giới)-Những ngày ấy tôi thấy nhớ Hà Nội vô cùng và tất cả đã được gửi

gắm vào trong tác phẩm"

* Viết bằng kỷ niệm, kí ức và tình yêu Hà nội.…

Đây là một truyện ngắn rất khó có thể tóm tắt Ba nữ TNXP làm

thành một tổ trinh sát mặt đ ường tại một trọng điểm trên tuyến

đường Trường Sơn Nhiệm vụ của họ là quan sát địch ném bom,

đo khối lượng đất đá phải san lấp, đánh dấu các trái bom ch o nổ

Công việc của họ hết sức nguy hiểm Họ phải đối mặt với thần chết trong khi phá bom Nhưng cuộc sống của họ vẫn có những niềm vui hồn nhiên của tuổi trẻ, những giây phút thanh thản, mơ mộng

“Những ngôi Sao xa xôi” là một trong những tác phẩm đầu tiên trong sự nghệp cầm bút của nhà văn Lê

Minh Khuê Bà kể lại: “Ngày đó tôi là phóng viên báo Tiền Phong, đã từng đi đến rất nhiều các chiến trường

để viết báo Năm 1971 tôi cùng một binh chủng làm đường đến đèo Côlanhip và đã ở lại một đêm trong một hang đá cùng một tiểu đội công binh.

Họ cũng là những người trẻ, hầu hết là học sinh trung học, những sinh viên… đi tham gia kháng chiến Sống cùng nhau, cùng tuổi, cùng lý tưởng như nhau trong một hoàn cảnh vô cùng ác liệt nên dễ dàng hiểu

và chia sẻ cho nhau Trong tâm hồn những cô gái thanh niên xung phong, quê nhà bao giờ cũng hiện lên kỳ diệu Và bởi vẻ đẹp kỳ diệu đó mà họ sẵn sàng hy sinh Đó cũng chính là ý tưởng lớn nhất mà tôi muốn gửi gắm qua truyện ngắn này”.

Tôi không sinh ra và lớn lên ở Hà Nội nhưng thời còn nhỏ, hè nào tôi cũng ra Hà Nội vì họ hàng ở ngoài này nhiều Khi lớn lên tôi làm việc tại Hà Nội Vào những ngày cuối tuần tôi thường cùng bạn bè cùng lứa trong đó có cả Lưu Quang Vũ đạp xe đi dọc các con đường, những phố phường Hà Nội…Rồi đến khi vào chiến trường, dù trong hoàn cảnh ác liệt nhưng những cảnh núi rừng Trường Sơn tuyệt đẹp cũng không khỏi khiến người ta xao xuyến Những cây cổ thụ cao vút dễ làm người ta liên tưởng đến những rừng bạch dương trong nhạc Nga, rồi những ngày mưa mù mịt khiến những người sống bên nhau như xích lại gần nhau hơn…để từ đó trong tôi nảy sinh những cảm xúc mãnh liệt để đến khi trở về Hà Nội tôi đã chắp bút viết rất nhanh bằng kỷ niệm, bằng kí ức và một tình yêu tha thiết với Hà Nội.

Mọi người hỏi tôi: “Tại sao chứng kiến cuộc sống của những cô gái thanh niên xung phong mà nhà văn lại cảm thấy nhớ Hà Nội?” Tôi trả lời rằng: “Tôi cũng giống như bao nhiêu cô gái khác đã trở thành một thanh niên xung phong để góp một phần sức lực nhỏ bé của mình vào cuộc chiến tranh giữ nước thần kỳ của dân tộc.

Cuộc chiến tranh ấy để bảo vệ vẻ đẹp, vẻ thanh bình cho những làng quê Việt mà trong đó, Hà Nội là trái tim, là biểu tượng cao nhất của đất Mẹ Việt Nam Bằng truyện ngắn này tôi muốn phân tích cuộc sống, tình cảm của những cô gái thanh niên xung phong qua cái nỗi nhớ 'tượng trưng" đó Tất cả họ đều không ngại gian nguy để giữ cho đất nước được yên bình Những hình ảnh thành phố trong nỗi nhớ không đối lập với cuộc sống gian khổ của các cô gái thanh niên xung phong mà đó là cái đích tượng trưng mà mỗi ngưòi trong số họ đều sẵn sàng huy sinh”.

* “Tôi hạnh phúc vì được sống trong thời đại ấy”

Trong tác phẩm, cảm xúc về chiến tranh và Hà Nội đều rất thật dù câu chuyện không hoàn toàn là sự thật Tên tác phẩm là một câu nói của một nhân vật và cũng là một cái gì đó xa xôi hư ảo…

Thời của chúng tôi, mọi thứ cứ mông lung nhưng trong sáng Có lẽ trong thời đại bây giờ khó có được những điều đó Dường như mọi thứ giờ đây rõ ràng quá làm cho con người mất đi sự bí ẩn về nhau Trong cái thời đại mà chúng tôi ra đi không hẹn ngày về, gặp nhau nơi chiến trường lửa đạn, gặp đấy, quen đấy,

có khi thân ngay đấy nhưng chẳng bao giờ dám nghĩ đến ngày gặp lại Nhiều khi những con người ấy lướt qua mình như cổ tích như huyền thoại làm nên sự bí ẩn về nhau của những con người.

Nhà văn Lê Minh Khê.

Trang 2

Mấy chục năm đã trôi qua, tôi đã không còn gặp lại những người lính năm xưa, mà có gặp có lẽ bây giờ cũng khác Cái thời của chúng tôi đã không còn nữa Dù giờ đây đất nước đã hòa bình và cũng chẳng ai mong đất nước gặp chiến tranh nhưng với tôi, tôi thực sự hạnh phúc vì đã được sống một thời tuổi trẻ với những người lính, với những điều mông lung và đầy bí ẩn…

Có một điều khá lạ lùng mà chính tôi đã cảm nhận trong thời gian tôi ở chiến trường Đó là giữa bom đạn như vậy, giữa rừng núi bạt ngàn như vậy, con người lại cảm thấy rất được tự do Sau này khi đi thực tế, gặp gỡ các cô gái thanh niên xung phong tôi mới hiểu ra rằng khi con người được lao động, được sống và được huy sinh cho cái lý tưởng lớn lao trong tâm hồn mình thì con người đó sẽ cảm thấy rất tự do, vui vẻ Nhân vật trong câu chuyện quả thật rất thảnh thơi và vô tư lự nữa Họ có lý tưởng bảo vệ cuộc sống bình yên của đất nước và đang hàng ngày hàng giờ thực hiện lý tưởng đó Thế cho nên trong những giây phút nghỉ ngơi, họ sống hoàn toàn thoả mái Bom đạn không thể làm nguôi đi niềm vui sống trong tâm hồn họ”.

Tác phẩm này được in lần đầu tiên trong tạp chí “Tác phẩm mới” và cả trong tuyển tập “The art of the short story” (Nghệ thuật truyện ngắn thế giới) Sau này, tôi rất vui khi biết tác phẩm này được đưa vào giảng dạy

trong SGK lớp 9.

Tôi cũng mong những thế hệ trẻ giờ đây sẽ hiểu được phần nào cuộc sống của một thế trẻ trong chiến tranh Cho dù các bạn không phải trải qua những tháng ngày như thế, thậm chí cả những thầy cô giáo giảng dạy về những tác phẩm chiến tranh cũng không có cuộc sống trải nghiệm.

Những quả thực, điều đó là rất khó Bởi lẽ có sống mới thực hiểu được tất cả những gì mà những người lính, những cô gái thanh niên xung phong đã trải qua Cũng chỉ có thế mới hiểu hết được giá trị thực sự của cuốc sống này Và như đã nói ban đầu, tôi hạnh phúc vì được sống trong thời đại ấy…”

Yên Khương

Gặp lại các tác giả trong SGK:Chủ Nhật, 15/06/2008 00:14 Nhà thơ Y Phương: “Nói với con” cũng chính là nói với lòng mình!

(TT&VH Online) - Đến gặp nhà thơ Y Phương, tác giả của bài thơ “Nói với con” (SGK lớp 9) tại nhà riêng của ông, chúng tôi không khỏi ngạc nhiên với nhà thơ người dân tộc Tày này Cánh cửa nhà

mở toang, vọng ra tiếng ông đang ngâm một bài thơ tiếng Tày đầy sảng khoái Khi chúng tôi tới, ông vừa gò lưng lau nhà vừa hát thơ Ngẩng đầu lên, ông tươi cười, thay cho lời chào đáp lại ông nói:“nghề chính của tôi là tạp vụ, có nghề phụ làm thơ.”

* Đó là lúctôi dường như không biết lấy gì để vịn!

Vợ chồng chúng tôi sinh cô con gái đầu lòng vào giữa năm

1979 Bài thơ “Nói với con” tôi viết năm 1980 Đó là thời điểm

đất nước ta gặp vô vàn khó khăn Thời kỳ cả nước mới thoát

ra khỏi cuộc chiến tranh chống Mỹ lâu dài và gian khổ Giống như một người mới ốm dậy, xã hội khi ấy bắt đầu xuất hiện người tốt, kẻ xấu để tranh giành sự sống Thực ra, theo tôi không có con người xấu, mà chỉ có những tính xấu như trộm cắp, tham nhũng, lừa đảo, sự dối trá…Ta phải biến những cái xấu ấy thành “phân”, để “bón” cho cây cối và làm giàu cho đất cát.

Bài thơ với nhan đề là “Nói với con”, đó là lời tâm sự của tôi với đứa con gái đầu lòng Tâm sự với con còn

là tâm sự với chính mình Nguyên do thì nhiều, nhưng lý do lớn nhất để bài thơ ra đời chính là lúc tôi dường như không biết lấy gì để vịn, để tin Cả xã hội lúc bấy giờ đang hối hả gấp gáp kiếm tìm tiền bạc Muốn sống đàng hoàng như một con người, tôi nghĩ phải bám vào văn hóa Phải tin vào những giá trị tích cực vĩnh cửu của văn hóa Chính vì thế, qua bài thơ ấy, tôi muốn nói rằng chúng ta phải vượt qua sự ngặt nghèo, đói khổ bằng văn hóa.

"Dường như mọi

thứ giờ đây rõ ràng quá

làm cho con người mất

đi sự bí ẩn về nhau"

Sốngtrên đá không chê đá gập ghềnh

Sống trong thung không chê thung nghèo

đói

Sống như sông như suối

Lên thác xuống ghềnh

Không lo cực nhọc”

Trang 3

Bài thơ 28 câu này được xem như là viết riêng cho đứa con đầu lòng Ở phạm vi hẹp, bài thơ chủ yếu đề cập đến văn hóa dân tộc, nhằm tôn vinh nét đẹp của văn hóa truyền thống dân tộc Tày.

Tôi rất bất ngờ khi biết “Nói với con” được đưa vào SGK Tuy nhiên

tôi không biết đích xác đưa vào năm nào Quan trọng là tác phẩm

của tôi đã được đông đảo các em học sinh đón nhận Với những

tác phẩm trong SGK, việc cải cách liên tục như hiện nay thì một tác

phẩm nay “để”, mai “bóc” chuyện bình thường Vì thế phần thưởng

lớn nhất dành cho tôi là được mọi người biết đến, nhớ đến tác

phẩm của mình.

* Nhiều giáo viên và học sinh đã đến nhà nhờ giảng về bài thơ

Bài thơ “Nói với con”, dù thấy chẳng có gì đặc biệt hay, nhưng cũng

khiến nhiều người băn khoăn Chẳng hạn trong bài thơ có hai câu:

“Người đồng mình thô sơ da thịt

Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con”

Đấy là hai câu chốt của bài thơ “Nói với con” Thế nhưng, nhiều

giáo viên dường như chưa hiểu hàm ý của hai câu thơ Nên khi

giảng bài, họ chỉ dựa vào hướng dẫn trong SGK là chính Thực ra,

theo tác giả, ý nghĩa của bài thơ khác hơn nhiều Nó cao và sâu

hơn câu chuyện về tình phụ tử Chúng ta đừng viện cớ thiếu thốn

khó khăn mà đánh mất đạo đức, văn hóa Tôi thấy, dường như giờ

đây, nhiều con em các dân tộc không mấy mặn mà với văn hóa

truyền thống Và họ đang tự nguyện nhập ngoại, lai căng một cách

dễ dãi Tôi ủng hộ hòa nhập nhưng không thể hòa tan Văn hóa dân

tộc là tài sản lớn Giữ cho mình và giữ cho con cháu mình Tôi là

người dân tộc Tày Chúng tôi sinh hoạt như những người Tày ngay

giữa lòng Thủ đô Không phải do tôi sợ đánh mất bản bản sắc riêng mà là niềm tự hào chính đáng về văn

hóa dân tộc của mình Tôi tự hào vì tôi là người Tày.

Có lần, một cậu bé ở tận trong Huế lặn lội ra Hà Nội, tìm đến nhà và hỏi chuyện tôi về bài thơ Hình như cậu bé chuẩn bị thi vào trường quốc học Huế Đúng vậy Cậu học trò ấy đã chọn bài thơ “Nói với con” để làm bài thi môn văn Và cậu ấy đã đỗ thủ khoa Một số giáo viên ở trường chuyên ở các tỉnh, cũng đích thân tới tận nhà gặp và

hỏi trực tiếp tôi về bài thơ “Nói với con”.

Bài thơ mà mọi người hay băn khoăn thắc mắc nhất là hai

câu: “Chân phải bước tới cha/ Chân trái bước tới mẹ” nghĩa là sao?

Tôi bật cười, cái đó thì quá đơn giản Có gì đâu, đứa con sinh ra thì phải có cha có mẹ Đó là khởi điểm của một con người Một điều

nữa “vách nhà ken câu hát” làyếu tố văn hóa phi vật thể Người con

trai ngồi ngoài vách Người con gái ở bên trong vách Họ hát cho nhau nghe Hát tràn đêm đến sáng bạch Bởi thế, bức vách ở đây không chỉ là một bức vách cụ thể bằng đất bằng đá nữa Nó đã trở thành một chủ thể văn hóa Văn hóa ăn nhau ở sự khác biệt chứ không nói sự hơn kém.

Câu chuyện với nhà thơ người Tày Y Phương tưởng như không thể dứt ra được Từ chuyện ông ước mơ đi học các phép thuật để làm thầy tào; chuyện ông đi “buôn lậu” đến những quan niệm của ông về làm thơ Mời các bạn đón đọc kỳ sau.

Yên Khương CÁC TIN LIÊN QUAN:

Gặp các tác giả trong SGKThứ Bảy, 14/06/2008 06:50

Nhà văn Nguyễn Quang Sáng: Hồi nhỏ tui rất dốt văn

Nhà văn Nguyễn Quang Sáng từ lâu đã quen thuộc với giới học trò Học sinh cấp 2 được

học tác phẩm Chiếc lược ngà, học sinh cấp 3 học Quán rượu người câm cùng những truyện ngắn trong phần đọc thêm như: Con gà trống, Tiếng chày giã gạo…

Chân phải bước tới cha Chân trái bước tới mẹ Một bước chạm tiếng nói Hai bước tới tiếng cười Người đồng mình yêu lắm con ơi Đan lờ cài nan hoa

Vách nhà ken câu hát Rừng cho hoa Con đường cho những tấm lòng Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời Người đồng mình thương lắm con ơi Cao đo nỗi buồn

Xa nuôi chí lớn Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn Sống trên đá không chê đá gập ghềnh

Sống trong thung không chê thung nghèo đói

Sống như sông như suối Lên thác xuống ghềnh Không lo cực nhọc Người đồng mình thô sơ da thịt Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương

Còn quê hương thì làm phong tục Con ơi tuy thô sơ da thịt

Lên đường Không bao giờ nhỏ bé được Nghe con.

"Tôi là người dân tộc Tày

Chúng tôi sinh hoạt như những

người Tày ngay giữa lòng Thủ

đô "

Nhà thơ Y Phương

Trang 4

Có nhiều tác phẩm trong SGK,

biên kịch nhiều bộ phim nổi tiếng

như: Cánh đồng hoang, Mùa gió

chướng… thế nhưng ít người biết

rằng nhà văn Nguyễn Quang

Sáng- như ông tự nhận- là hồi

nhỏ rất dốt môn văn!

* “Thằng Sáng mà cũng viết được

văn, kỳ vậy ta!”

Trong tưởng tượng của nhiều

người, nhà văn ắt hẳn phải là

người văn hay chữ tốt Cứ theo hệ qui chiếu ấy mà xét thì nhà văn Nguyễn Quang Sáng phải là người có năng khiếu bẩm sinh và học cực kỳ giỏi môn văn.

Cũng như nhiều người đã nghĩ như vậy, tôi đem câu hỏi này hỏi tác giả của nhiều tác phẩm trong SGK mà mình đã được học Nhà văn Nguyễn Quang Sáng lập tức phủ nhận:

“Đâu có, đâu có Nói cho trung thực hồi nhỏ tui học dốt môn văn lắm Tui còn nhớ một bài làm văn của mình chỉ được 0,5/20 điểm Tui dốt văn không phải do thầy dạy dở mà do mình không chú tâm học thôi Nhưng bù lại tui giỏi các môn tự nhiên, đặc biệt là môn toán nên vẫn lên lớp đều đều”.

Sau này, nhiều bạn bè học cũ biết ông Nguyễn Quang Sáng thành nhà văn, có người đã ngạc nhiên thốt lên: “Thằng Sáng mà cũng viết được văn, kỳ vậy ta!” Chính bản thân nhà văn Nguyễn Quang Sáng cũng không nghĩ mình sẽ cầm bút làm công việc sáng tạo nhọc nhằn này.

Vậy ông Nguyễn Quang Sáng thành nhà văn là do đâu? Ông trả lời thật đơn giản: “Chính cuộc sống thôi thúc mình cầm bút viết cái gì đó cho đỡ buồn phiền” Những gì Nguyễn Quang Sáng nhìn thấy trong cuộc sống được ông chuyển tải thông qua trí tưởng tượng của mình thành tác phẩm Nhưng ông cũng nói thêm, nhà văn khác với người thường là nhờ bản năng trong người Ông ví dụ: “Cũng chứng kiến một sự việc như bao người khác nhưng anh nhà văn lại bị thôi thúc bởi bản năng trong người mà cầm bút” Từ đó ông nói đến chuyện học giỏi văn không liên hệ gì hết đến danh phận nhà văn.

Như trong truyện ngắn Chiếc lược ngà, nhà văn Nguyễn Quang Sáng đã kể bối cảnh ra đời: “Ngày 1/1/1966, từ Hà Nội, tôi cùng với một số văn nghệ sĩ và một đoàn khoảng 40

người vượt Trường Sơn về chiến trường miền Nam Tất cả mang dép cao su, ngày đi đêm nghỉ, đói và sốt rét, gần 4 tháng thì về đến căn cứ của Trung ương cục, được gọi là R Cũng trong năm 1966, bắt đầu mùa nước nổi, tôi xuống chiến trường đồng nước Tháp Mười Đến đồng bằng, người giao liên đầu tiên mà tôi gặp được là một cô gái khoảng 17,

18 tuổi tên Thu Cô giao liên đưa tôi xuống chiến trường vào một đêm tối trời bằng xuống máy đuôi tôm xuôi theo dòng sông Vàm Cỏ Đông Trên chiếc xuống đầy lá ngụy trang, có nhiều giề lục bình Thấy lạ tôi hỏi cô giao liên, cô trả lời lục bình cũng là lá ngụy trang Tôi nhớ thời kháng Pháp chỉ cần ngụy trang vào ban ngày, ban đêm đâu cần Nhưng nhờ cô giao liên, tôi mới hiểu thêm thời này ngay cả ban đêm cũng cần vỏ bọc vì trực thăng địch rình suốt.

Sau chuyến đi này tôi hình thành câu chuyện Chiếc lược ngà Khi tôi về chiến trường miền Nam, tôi như người vừa rời khỏi ghế nhà trường bắt đầu bước vào đời, cuộc đời của chiến tranh, nên mọi thứ xung quanh như rải màu lên trang giấy trắng của tâm hồn tôi Lúc viết Chiếc lược ngà, tôi viết một mạch trong buổi sáng trên căn chòi cạnh sông, kê giấy lên đầu gối mà viết Tất nhiên, câu chuyện tôi đã kết hợp hình ảnh cô Thu giao liên và cảnh sum họp rồi chia ly của những gia đình mà tôi từng biết Có thể nói trong Chiếc lược ngà với tôi có hai câu chuyện Hai chuyện này chẳng liên quan gì đến nhau nhưng thông qua trí tưởng tượng tôi xâu chuổi lại thành một câu chuyện".

Nhà văn Nguyễn Quang Sáng

Trang 5

Như vậy, quyết định thành nhà văn hay không quan trọng nhất là trí tưởng tượng và cuối cùng là hành động viết, vì không viết sao thành tác phẩm được dù nhiều người mơ mộng, tưởng tượng còn hơn tôi” Từ chuyện sáng tác, nhà văn Nguyễn Quang Sáng đề cập đến vấn đề dạy văn trong nhà trường thông qua việc học của con cháu mình.

* “Vặn” lại giáo viên dạy văn

Nhà văn Nguyễn Quang Sáng tiết lộ đạo diễn Nguyễn Quang Dũng – con trai ông làm biên kịch, viết báo … cũng đều do tự học chứ không hề nhờ vả ông kiềm cặp hay học bất cứ trường lớp viết lách nào Thời Nguyễn Quang Dũng cũng như nhiều con cháu khác của ông học phổ thông, các thầy cô biết phụ huynh Nguyễn Quang Sáng là nhà văn có tác

phẩm trong SGK nên thường mời ông lên nhà trường “mắng vốn”.

Nhà văn Nguyễn Quang Sáng kể chuyện vui: “Nhiều lần nhà

trường mời tui lên họp, tôi bị cô giáo chủ nhiệm và cô giáo dạy văn than phiền, đại ý: ông là nhà văn mà con ông học văn dở ẹc!

“Mắng vốn” như vậy một vài lần thì được, đằng này nhiều lần quá nên tui bực mình hỏi vặn lại: Cháu nó viết bài theo ý nó hay theo ý cô? Theo ý cô thì giỏi, còn theo ý nó là dở à!”.

Nhà văn Nguyễn Quang Sáng cho rằng dạy văn theo lối đóng khung, chia một bài văn thành nhiều thang điểm… là trói buộc trí tưởng tượng của học trò Vì rằng học các môn khoa học tự nhiên, nhất là môn toán người ta cũng cần trí tưởng tượng vậy thì một bài văn, thơ hay cũng phải để người học hiểu các nghĩa khác nhau của nó chứ.

Theo nhà văn Nguyễn Quang Sáng, công việc của thầy cô giáo dạy văn giỏi chính là truyền đạt niềm yêu thích văn, thơ

cho học trò của mình Ông nói: “Cái hay, cái đẹp ai không

thích Vậy phải làm sao chỉ ra chỗ nào hay, chỗ nào giá trị trong tác phẩm để học trò biết rằng truyện ngắn, bài thơ này giá trị Và phải khuyến khích học trò phát hiện thêm những chi tiết mới lạ bổ sung vào những gì thầy cô giáo đã biết Hơn nữa, bản thân các thầy cô phải nghiên cứu thêm để cho giáo án năm sau khác năm trước chứ năm nào cũng một giáo án cũ thì người dạy cũng chán mà người học cũng nhàm Mấy đứa nhỏ trong nhà tôi học văn thấy mà tội Nói chung vấn đề này còn là câu chuyện dài kỳ của những người làm giáo dục”.

* Nếu tăng giá SGK, chúng tôi sẽ đòi bản quyền!

Trong câu chuyện của mình, nhà văn Nguyễn Quang Sáng đề cập đến vấn đề thời sự là việc tăng giá SGK Ông cho biết những tác phẩm trong SGK của ông không hề có nhuận bút vậy thì tăng giá SGK ông không đồng tình:

“Nếu SGK phát không cho học trò thì tui chẳng màng đến chuyện thù lao tác phẩm của

mình làm gì Đằng này có bán, có lợi nhuận lại còn đòi tăng giá thì những nhà văn như chúng tôi rất bức xúc Tui có nói với một số anh em có tác phẩm trong SGK phải cùng nhau làm đơn đề nghị NXB xem xét lại chuyện này nếu không chúng tôi sẽ đòi bản

quyền!” – nhà văn nói.

Trần Hoàng Nhân

Gặp lại các tác giả trong SGK - Nhà thơ Hoàng CầmThứ Sáu, 13/06/2008 13:50 Nguyên Hồng đã khóc khi nghe “Bên kia sông Đuống”

Nhà văn Hồ Phương: Đừng nhầm nhân vật trong “Cỏ non” với anh Hồ Giáo!

Em ơi, buồn làm chi

Nhà văn Nguyễn Quang

Sáng sinh năm 1932 tại

huyện Chợ Mới tỉnh An

Giang Ông bắt đầu cầm bút

năm 20 tuổi với tiểu thuyết

Đất lửa Đến nay ông đã

xuất bản hơn 30 đầu sách

Ông đã nhận nhiều giải

thưởng văn học nghệ thuật,

trong đó có giải thưởng Hồ

Chí Minh

Ông cũng là một nhà biên

kịch với nhiều bộ phim đã

trở thành kinh điển của điện

ảnh VN Công việc biên kịch

cũng do ông tự học nhờ đi

xem phim nhiều chứ không

hề thông qua trường lớp học

hành điện ảnh gì hết

Trang 6

Anh đưa em về sông Đuống

Ngày xưa cát trắng phẳng lì…

Đó là những câu thơ mơ đầu của “Bên kia sông Đuống” trong SGK Văn lớp 12.“Tôi không biết sau khi đưa vào SGK, các thầy cô giáo giảng thế nào về tiểu sử của bài thơ nhưng như ngay cháu tôi nó đi học về cứ vặn hỏi tôi: “Ông ơi! Sao lúc ông viết bài thơ “Bên kia sông Đuống” ông lại khóc?- nhà thơ Hoàng Cầm kể- “Tôi biết có sự hiểu lầm gì đó nên nói với cháu: “Ông rất xúc động khi viết bài thơ ấy nhưng ông không khóc mà chỉ nhà văn

Nguyên Hồng sau khi nghe ông đọc thơ rồi khóc thôi ”

1 Ông viết bài này lúc đang ở chiến khu 12 trong kháng chiến chống Pháp (gồm địa bàn các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Ninh và Lạng Sơn) Qua nửa đêm sau khi nghe các đồng chí ở làng Đông Hồ lên báo cáo về tình hình chiến sự ở vùng quê mình, ông như “ngồi trên cả đống than, đống lửa, lòng dạ rối bờichỉ ước có cánh bay thẳng về nhà xem cơ sự thế nào

… Tôi vô cùng đau đớn vì ở đó tôi còn mẹ già, vợ và

ba đứa con thơ”

Ngay đêm ấy, ông đã viết bài thơ này Nhà thơ Hoàng Cầm rưng rưng xúc động lên như chính được sống lại giây phút ấy: “Cứ thế mạch tình cảm như nước chảy mãi ra trong tôi không thể nào ngăn nổi Đến bốn giờ sáng thì tôi viết xong và rất muốn đọc to cho ai đó nghe Anh Nguyên Hồng sau một ngày bếp núc vất vả cùng anh em đã ngủ từ lâu.Bình thường tôi không dám quấy quả anh ấy nhưng vì vui mừng quá tôi liền đánh thức anh dậy

Anh thảng thốt nhìn tôi rồi hỏi: “Kìa, Hoàng Cầm đấy à, có việc gì cần mình thế!? Làm gì mà giờ này chưa ngủ? Mặt mày hốc hác ra rồi kia kìa."

Tôi nói với anh Nguyên Hồng: “Anh Nguyên Hồng, đêm qua cán bộ và nhân dân làng tôi ở Thuận Thành lên báo cáo Giặc Pháp chiếm hết khu Nam phần Bắc Ninh rồi, kể cả cái làng Nguyệt Cầu

mà hồi nào anh chạy giặc ở nhờ nhà ông Ngọc Giao ấy! Mình xúc động viết bài thơ này đọc cho Nguyên Hồng nghe nhé" Và tôi không biết giọng đọc của mình có gì hay mà mới chỉ đọc “Em ơi buồn làm chi? - Anh đưa em về sông Đuống , tự nhiên nhà vǎn Nguyên Hồng ôm mặt khóc nức

nở Ông vật mình thổn thức, nước mắt giàn giụa ”

Tôi cắt lời nhà thơ Hoàng Cầm: “Vậy là nhà văn Nguyên Hồng khóc chứ không phải nhà thơ sao?” Nhà thơ Hoàng Cầm gật đầu “xác nhận” thay cho câu trả lời Ông nói thêm: “Nhắc đến chi tiết này nhà thơ Hoàng Cầm kể lại: “Nhà văn Nguyên Hồng đa cảm lắm Nghe tôi đọc thơ mà cứ khóc rưng rức Tôi biết tính ông nên kệ, cứ đọc cho đến hết bài thơ dài Còn nhà vǎn Nguyên Hồng cứ khóc khi bài thơ đã kết thúc từ lâu Sau đó nhà văn Nguyên Hồng lặng lẽ rút ra 4-5 tờ giấy trắng tinh (hồi này giấy rất hiếm, đến ngay nhà vǎn cũng chỉ dám dùng giấy giang Hoàng

Vǎn Thụ chép bản thảo của mình mà thôi!) đưa cho tôi rồi nói trong tiếng nấc: "Hoàng Cần này, cậu chép… chép cho… tớ ba bản thật sạch sẽ, bài thơ này rất cần cho nhiều người đọc Nhất là các chiến sĩ ta"

2.Hai tháng sau nhà thơ Hoàng Cầm đang hướng dẫn cho diễn viên tập vở kịch Đứa con nuôi thì bỗng nhà vǎn Nguyên Hồng xuất hiện ở bậc cửa, trên tay cầm tờ báo Cứu Quốc khổ nhỡ (do

nhà nghiên cứu vǎn học Như Phong và nhà vǎn Tô Hoài phụ trách) Nhà thơ Hoàng Cầm kể tiếp:

"Anh Nguyên Hồng vẫy tay gọi tôi Này Hoàng Cầm, bài của cậu tớ gửi, báo in rồi đây! Tôi mừng quá, run run nhận tờ báo từ tay Nguyên Hồng Lúc này bao nhiêu tâm sự trào dâng về quê hương, về cái làng Lạc Thổ phía bên kia sông Đuống, về các cô gái "môi trầu cắn chỉ", về tranh

Đông Hồ "Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp " đang bị giặc Pháp dày xéo dưới xuôi kia vẫn

không thể làm hoen ố cái hồn dân tộc phập phồng trên nền giấy bản

Hoàng Cầm nhận Giải thưởng Nhà nước

Trang 7

Tròn 60 năm bài thơ “Bên kia sông Đuống”

của Hoàng Cầm được nhiều thế hệ biết đến,

yêu mến và chép tặng nhau đọc Nhà thơ

Hoàng Cầm tâm đắc với đứa con tinh thần

của mình: “Viết về quê hương, nhất là nơi

mình sinh ra và lớn lên, đòi hỏi phải có cảm

xúc mạnh, trí tưởng tượng sâu rộng, sức liên

tưởng dồi dào qua các sự vật tình cảnh có

thực, đồng thời phải thấu hiểu lịch sử và

nhân vật lịch sử của một vùng đất Từ nhỏ

tôi đã theo mẹ đi lễ chùa, dự hội chùa Phật

Tích, Chùa Dâu, Bút Tháp, Tiên Sơn, Long

Khánh… và đến phường hát Quan họ mà mẹ tôi là thành viên Những đêm hát ấy thấm đậm vào hồn tôi từ hồi đó

Bài thơ “Bên kia sông Đuống là một trong những bài thơ tôi viết nhanh nhưng lại thấy rất tâm đắc Thời vượt Trường Sơn chống Mỹ, tôi rất cảm động và vui sướng khi thấy bài thơ nằm trong hành trang của rất nhiều người lính trên những chặng đường hành quân

“Không riêng gì bài thơ Bên kia sông Đuống mà hầu hết mỗi khi làm thơ tôi đều nhận thức rằng:

Nhiệm vụ của nhà thơ là nói lên được tiếng nói riêng biệt của dân tộc mình trong cộng đồng nhânloại Không thế thơ không hay được”- nhà thơ Hoàng Cầm đúc kết

-

Thứ Sáu, 13/06/2008 00:21

Gặp tác giả bài thơ Người mẹ Bàn

Cờ

(TT&VH Online) - Bài hát Người mẹ Bàn Cờ của nhạc sĩ

Trần Long Ẩn gắn liền với phong trào sinh viên tranh

đấu ở các Đô thị miền Nam một thời còn vang vọng

đến hôm nay Thế nhưng, tác giả lời thơ của bài hát

này vẫn ít được người đời biết tới Nguyễn Kim Ngân,

tác giả bài thơ Người mẹ Bàn Cờ đã sống một cuộc đời

trầm lặng tại quê nhà Phú Yên.

“Người mẹ Bàn Cờ” ở Quận 3, TP.HCM

Nguyễn Kim Ngân sinh năm 1946 tại huyện Sông Cầu,

Phú Yên,nơi giao hòa một bên núi và một bên biển với

rừng dừa xanh ngút ngàn Ai có dịp thiên lý Bắc Nam

ngang qua địa phương này đều phải công nhận thiên

nhiên nơi đây cực kỳ hữu tình Chính vì nét đẹp quê

nhà đã khiến Nguyễn Kim Ngân dù đi đâu rồi cũng trở

về nơi chôn nhau cắt rốn Cuối những năm 1960,

Nguyễn Kim Ngân vào Sài Gòn học môn triết học

phương Tây (Triết Tây) - ĐH Văn Khoa (nay là ĐH

KHXH&NV TP.HCM) Cũng như bao nhiêu người tuổi

trẻ khác đang tìm kiếm tri thức trên ghế giảng đường

lúc đó, Nguyễn Kim Ngân không thể đứng ngoài cuộc

tranh đấu đòi hòa bình cho dân tộc trước sự kìm kẹp của ngoại bang Hơn nữa, ông có gen của người cha là liệt sĩ trong 9 năm kháng Pháp nên những “ngày xuống đường”, những “đêm không ngủ” đều ít khi thiếu vắng sự có mặt của ông.

Năm 1970, trong một lần xuống đường biểu tình gần Đại sứ quán Campuchia (nay là UBND Q.3 TP.HCM), bị cảnh sát chế độ cũ đàn áp, để bảo toàn lực lượng, Nguyễn Kim Ngân cùng nhiều bèbạn tránh vào nhà dân Thời đó, người dân rất quý sinh viên dám đứng lên đấu tranh đòi hòa bình Ở trong nhà dân, Nguyễn Kim Ngân và bè bạn được các má nhận làm con, các chị nhận

Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong

Người mẹ Bàn Cờ

Thơ Nguyễn Kim Ngân

Có người mẹ Bàn Cờ Tay gầy tóc bạc phơ Chuyền cơm qua vách cấm Khi ngoài trời đã thưa

Có người chị Bàn Cờ Lính ngồi canh trước cửa Nhận sinh viên là chồng

Để đưa về khỏi ngõ

Có người em Bàn Cờ Tảo tần trao tin thơ Đưa từng người qua hẻm Rồi nhìn theo bơ vơĐường Việt Nam Bàn Cờ Tình Việt Nam như tơ Đồng Việt Nam lầy lội Giặc đợi chết từng giờ

Trang 8

làm chồng để không bị cảnh sát truy bắt Sự đùm bọc ân tình ấy của những người phụ nữ không

họ hàng thân thích đã khiến trái tim nhà thơ rung lên thành vần điệu Bài thơ Người mẹ Bàn Cờ

ra đời ngay trong lúc nguy nan ấy Nguyễn Kim Ngân cho biết: “Tôi viết Người mẹ Bàn Cờ như những dòng nhật ký bằng thơ, diễn tả trung thực nhất những gì đã diễn ra xung quanh cũng như bày tỏ lòng biết ơn với những mẹ, những chị đã bao che, thương yêu mình như người ruột thịt”.Bài thơ Người mẹ Bàn Cờ được truyền tay nhau, được đọc cho nhau nghe trong giới sinh viên tranh đấu Năm 1971, nhạc sĩ Trần Long Ẩn - một người bạn của Nguyễn Kim Ngân trong phong trào đã chắp cánh giai điệu cho bài thơ thêm lan tỏa đến nhiều người hơn Từ ngày bài thơ và

âm nhạc hòa quyện cho đến nay, nó gần như trở thành một bài hát sinh hoạt truyền thống của

giới sinh viên học sinh với những câu ca rực lửa: “Người Việt Nam Bàn Cờ/ Tình Việt Nam như tơ/ Đồng Việt Nam lầy lội/ Giặc đợi chết từng giờ”.

Nhà thơ Nguyễn Kim Ngân (phải)

Nhà thơ, ông giáo làng và ngôi nhà vách đất

Sau năm 1975, thay vì ở lại Sài Gòn tiếp tục hoạt động văn nghệ như nhiều bè bạn khác NguyễnKim Ngân lại nhất quyết về quê Vì ở quê nhà, ông còn người mẹ già góa bụa cần bàn tay chăm

sóc của đứa con trai xa cách bao năm Hơn thế, ông có một ao ước đã thể hiện trong thơ: “Ngày hòa bình đi bộ về quê hương” Nhà thơ Nguyễn Kim Ngân tâm sự: “Không nơi đâu trên quả đất này bằng nơi tôi đã cất tiếng khóc chào đời” Về quê, trong những ngày đầu sau giải phóng, ông

công tác giảng dạy ở trường THPT Nguyễn Huệ - trường cấp 3 duy nhất của tỉnh Phú Yên lúc

đó Nhưng vì suy nghĩ lạc hậu của một số vị lãnh đạo trường này nên dù đỗ cử nhân ông chỉ được nhận lương tú tài, vì bằng cử nhân Triết không được chấp nhận Mọi việc chưa yên, một thời gian sau tỉnh mở thêm một trường THPT mới, thế là ông bị điều chuyển đi Ở trường mới cũng chưa yên thân, vì nhiều lý do, trong đó có tính khí cứ thích “đấu tranh” cho mọi việc “trắng đen rõ ràng” của ông Thế là trong vài năm đầu về quê nhà, Nguyễn Kim Ngân bị “đì sát ván” Nhiều bạn bè của ông ở Sài Gòn viết thư ra khuyên “bỏ quách” xứ sở mà vô Nam sinh sống Nhưng dù ai nói ngả nói nghiêng, Nguyễn Kim Ngân vẫn nhất mực “sống chết” cùng quê nhà Năm 1980, ông chính thức được “phân công” xuống làm hiệu trưởng cấp 2 trường làng cho đến ngày về hưu Ông nhà thơ thành thầy giáo làng với đúng nghĩa đen vì trường nằm ngay tại làng ông

Làm giáo làng được gần gũi chăm sóc mẹ già là hạnh phúc lớn nhất đời ông dù cuộc sống quá đỗi thanh bần Không biết có phải muốn “ở vậy” phụng dưỡng mẹ hay không mà đến ngoài 40 tuổi Nguyễn Kim Ngân mới chịu lấy vợ Lập gia đình xong ông mới bắt đầu xây dựng tổ ấm cho riêng mình Việc trước tiên là cất nhà trên mảnh đất vườn của tổ tiên Thật kinh ngạc, ông nhà thơ, nhà giáo nhỏ thó lại một thân một mình lên núi chặt cây, dựng kèo cột, gánh đất đổ nền làm nên ngôi nhà mái tôn vách đất tồn tại từ năm 1987 đến nay Ngạc nhiên hơn, những ngôi nhà chòm xóm đều quay lưng ra mặt lộ thì nhà ông lại “quay mông” ra đường Chắc là ông nhà thơ

Trang 9

“lập dị”?! Không phải vậy, ông giải thích rằng phía trước nhà có con lạch nước mát trong xanh, lại đúng hướng Nam gió thổi quanh năm, tại sao cứ hùa nhau quay mặt ra đường bụi bặm.

Tác phẩm của nhà thơ Nguyễn Kim Ngân

“Tỷ phú không tiền”

Đó là câu nói đùa bạn bè hay trêu ông Nguyễn Kim Ngân có lối sống hào sảng mà chưa chắc người thừa tiền nào “dám chơi” như vậy Ông có một vườn cây cảnh khiến nhiều đại gia trong vàngoài tỉnh nhìn “rỏ dãi” Những cây cảnh này do ông vác ba lô lên núi săn lùng trong nhiều năm, ông quý cây như mạng người Một số cây cảnh của ông có đại gia ngã giá đến trăm triệu đồng nhưng ông không bán mà chỉ tặng nếu người đó biết thương cây như ông Nhiều người bảo ông “không bình thường” vì gia cảnh có khấm khá hơn ai đâu Ông lại đang có con nhỏ do lập gia đình muộn, đứa lớn chưa tốt nghiệp đại học Nói vậy, nhưng ông vẫn là một người cha, người chồng được kính trọng, người hàng xóm được yêu thương Dẫu mang danh phận nhà thơ,nhà giáo nhưng trong nhiều năm liền, tranh thủ ba tháng nghỉ Hè là ông trở thành một nông dân chính hiệu trên đìa tôm của mình Ông nuôi tôm sú trong vịnh Vũng Lắm gần nhà, người khác nuôi có “lên” có “xuống” còn ông nuôi tôm từ hòa vốn đến lỗ Dự định làm kinh tế để “đổi đời” củaông xem như phá sản, đến độ muốn in một tập thơ cho riêng mình cũng không thành Mãi đến năm 2007, bạn bè thời sinh viên tranh đấu mới giúp in tác phẩm đầu tay của Nguyễn Kim Ngân, tập thơ Sông chảy bên trời Tập thơ này gần như bao gồm tất cả sự nghiệp sáng tác của NguyễnKim Ngân Ông viết rất ít, chỉ khoảng 100 bài trong chừng ấy năm, và chỉ viết khi có dấu ấn đặc biệt nào đó trong cuộc đời Nhà thơ Nguyễn Kim Ngân thơ không nhiều, bạc tiền không nhiều, danh vọng không nhiều nhưng ông vẫn cứ là “tỷ phú” ở cõi riêng mình như dòng sông chơi vơi mãi chảy bên trời

-

Gặp lại các tác giả trong SGKThứ Năm, 12/06/2008 18:54

Trang 10

Nhà thơ Bằng Việt: Gia đình có

gì tôi đã đưa hết vào thơ rồi!

Một bếp lửa chờn vờn sương sớm,

Một bếp lửa ấp iu nồng đượm,

Cháu thương bà biết mấy nắng mưa…

Chắc hẳn ai đọc lại những câu thơ trên đều sẽ

nhớ lại những kỷ niệm thời thơ ấu, về thuở học

trò không thể nào quên Đó chính là những câu

thư mở đầu trong bài thơ “Bếp lửa” của nhà thơ

Bằng Việt.

* Mang hơi thở công nông binh

Bài thơ "Bếp lửa" được viết năm 1963, lúc nhà thơ

Bằng Việt đang học năm thứ hai tại Đại học Tổng

hợp Quốc gia Kiev (Ukraina, hồi đó còn thuộc Liên

Xô)

Nhà thơ Bằng Việt kể lại “Những năm đầu theo học

Luật tại đây tôi nhớ nhà kinh khủng Tháng 9 ở bên

đó trời se se lạnh, buổi sáng sương khói thường bay

mờ mờ mặt đất, ngoài cửa sổ, trên các vòm cây, gợi

nhớ cảnh mùa đôngở quê nhà Mỗi buổi dậy sớmđi

học, tôi hay nhớ đến khung cảnh một bếp lửa thân quen, nhớ lại hình ảnh bà nội lụi cụi dậy sớm nấu nồi xôi, luộc củ khoai củ sắn cho cả nhà”

Trong hoàn cảnh đó nhà thơ Bằng Việt nhớ lại thói quen bao nhiêu năm của bà; những kỷ niệm

ấu thơ như một cuốn phimcứ lần lần hiện lại, từ những năm nhà còn nhỏ xíu, đi tản cư kháng chiến, rồi xa hơn nữa, là thời cả gia đình ông từ Huế đi ra Bắc trên chuyến tàu gần như cuối cùng trước thời tiêu thổ kháng chiến Nhà thơ Bằng Việt thú nhận: “Tôi chẳng nhớ được gì ngoài tiếng hú còi tàu và tiếng chim tu hú kêu khắc khoải Rồi lại cũng tiếng chim tu húấy vẫn kêu suốt những mùa vài chín dọc những triền sông và bờ đê của cả vùng quê tôi”

Tất cả những điều đó đã gợi cảm hứng cho nhà thơ Bằng Việt viết nên bài thơ “Bếp lửa” Ông nói: “Bếp lửa” của tôi được đưa vào giảng dạy trong nhà trường có lẽ cũng bởi nó mang tính kháiquát và tiêu biểu cho một lớp người trong cuộc kháng chiến ngày ấy Bài thơ là một câu chuyện thật về những nhân vật có thật, ngôn ngữ không cách điệu mà nôm na, bình dân, nhưng không

tự nhiên chủ nghĩa và khác hoàn toàn với ngôn ngữ thơ mới lúc bấy giờ, hay nói cho đúng hơn làbài thơ mang hơi thở công nông binh"

* Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy là chuyện thật!

Sau khi ra Bắc, cụ thân sinh nhà thơ Bằng Việt thoát ly lên Việt Bắc tham gia kháng chiến, mẹ tham gia hội phụ nữ, nhà chỉ còn hai anh em Có thời gian, cụ về quê phụ giúp nghề chở xe ngựa để nuôi gia đình Chi tiết này về sau nhà thơ cũng đưa vào bài thơ "Bếp lửa", mà nhiều bạn

cứ tưởng là hư cấu:

Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói

Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi

Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy

Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu

Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay

Nói đến câu thơ “Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy”, bỗng nhiên ông buồn buồn Ông giải thích:

“Nhiều người sau khi đọc đến câu thơ này gọi điện cho tôi hỏi: “Ông có bịa không đấy vì nhà ông làm gì đến nỗi ông cụ đi “đánh xe khô rạc ngựa gầy”, hay ông giả vờ nghèo, kể khổ để mọi ngườiphải thông cảm cho gia đình ông? Tôi khẳng định với họ rằng chẳng việc gì phải bịa hay cách điệu hoàn cảnh để xin mọi người thông cảm cả Gia đình tôi có gì tôi đã đưa hết vào thơ rồi”.Nhà thơ kể tiếp: “Bố mẹ tôi ở trong Huế 18 năm và sinh tôi trong ấy Sau khi cách mạng bùng nổ,

cả nhà chuyển ra Bắc, tản cư về một vùng quê ở chân núi Ba Vì – Hà Tây Bố tôi chưa có việc gìlàm cho dù ông là một trí thức ngành luật May sao trong lúc khó khăn đó bác tôi có cỗ xe ngựa

Nhà thơ Bằng Việt tại Hạ Long

Trang 11

chuyên chạy tuyến Phùng (Đan Phượng, Hà Tây) đi Hà Nội nên bố tôi nhận lời mời của bác đi phụ xe kiếm tiền nuôi gia đình Những năm gian khổ ấy, người còn đói nữa huống hồ ngựa nên

chuyện tôi nói trong thơ “Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy” không có gì là sai hay cường điệu

hoàn cảnh cả”

Rất nhiều chi tiết, cứ tưởng như ngẫu nhiên, đến khi tập họp lại, tự nhiên lại như những nét chấm phá để hình thành nên cả một khung cảnh, cả một không gian sống, thậm chí làm nên cái nền chân thật, sinhđộng cho cả một thời Từ đó nhà thơ chỉ còn có việc dựng nên trên cái nền ấymột hình ảnh xuyên suốt, hình ảnhđã được điển hình hoá và phổ quát hoá, từ bà nội thực của mình trở thành bà nội của bao người khác, thành biểu tượng một người bà, người mẹ

hậu phương tận tuỵ, hy sinh, làm chỗ dựa cho con cháu, làm điểm trụ vững chắc ở phía sau để làm yên lòng những người ra tiền tuyến

“Bếp lửa” sau khi “bay” từ Nga về ngay lập tức được nhà thơ Khương Hữu Dụng chọn đăng trên báo Văn nghệ, số tháng 9 năm 1963 “Bếp lửa” cũng chính là bài thơ đầu tiên ông đổi bút danh

từ Việt Bằng thành Bằng Việt (tên thật của ông là Nguyễn Việt Bằng) và là bài thơ thứ hai được đăng báo sau bài “Qua Trường Sa” – Báo Văn nghệ năm 1961

*

Thơ của nhà thơ Bằng Việt được đưa vào giảng dạy trong trường phổ thông có 3 bài, đó là “Về Nghệ An thăm con” lớp 7 cũ, “Mẹ” lớp 4 cũ và “Bếp lửa” Nhưng sau này cải cách SGK, hai bài:

“Về Nghệ An thăm con” và “Mẹ” không còn “hợp gu” nên đành phải “loại” Còn với “Bếp lửa” thì

có lẽ dù có “cải cách chương trình” đến cỡ nào thì người ta cũng không thể bỏ đi những câu thơ giản dị, chân thật và nồng đượm như những kỷ niệm bên bếp lửa với người bà của mình

Nhà thơ Bằng Việt tâm sự: “Trong cả hai cuộc kháng chiến, chống Pháp và chống Mỹ, có lẽ vai trò của những người bà, người mẹ, người chị như thế là không có gì thay thế nổi Và có thể nóikhông ngoa rằng chính những con người hiền hoà, nhân hậu, khiêm nhường ấy đã cùng nhau gánh cả cuộc kháng chiến lên trên đôi vai gầy guộc, bé nhỏ của mình Tôi tự hào dù chỉ làm được một chút gì an ủi những năm đằng đẵng vất vả, dài dặc ấy của bà, như tiếng chim tu hú cộng hưởng với nỗi cô đơn lo toan của bà, gắng làm cho bà được nhẹ nhõm hơn

Nhà thơ bồi hồi đọc lại khổ cuối bài thơ:

Giờ cháu đã đi xa

Có ngọn khói trăm tàu

Có niềm vui trăm ngả

Nhưng vẫn chẳng khi nào quên nhắc nhở

Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?

(TT&VH)- Mặc dù đã ngoài tuổi 60 và đã nghỉ hưu nhưng nhà thơ Vương Trọng, tác giả bài

thơ Gió từ tay mẹ, Chú thợ điện in trong SGK lớp 3 (cũ) vẫn còn mạnh khỏe và hăng hái với nghiệp cầm bút lắm Nhà thơ mang đậm nét “ông đồ xứ Nghệ” đang rất bận bịu với Toàn tập thơ chữ Hán Nguyễn Du sẽ ra mắt bạn đọc nay mai nhưng vừa nhắc đến “Gió từ tay mẹ/ Thổi suốt đêm ngày ” và “Như chim gõ kiến/ Bám dọc thân tre/ Kìa chú thợ điện/

Đu mình tài ghê ”, ông đã vui hẳn lên.

Bài thơ ra đời từ những đêm Hà Nội mất điện

Năm 1974, nhà thơ Vương Trọng cùng một số nhà văn, nhà thơ khác trong tạp chí Văn nghệ Quân đội như Thu Bồn, Nguyễn Đức Mậu, Duy Khán ở và làm việc tại khu Văn công Mai Dịch

“Vào thời điểm này, đất nước đang còn rất nhiều khó khăn và thiếu thốn, điện nước lúc có lúc khôngnhà thơ Vương Trọng nhớ lại - Những đêm Hè nóng bức, mất điện toàn thành phố, người dân thường đổ ra đường, ngồi đâu đó hóng mát rồi khuya mới về nhà

Trang 12

Nhà thơ Vương Trọng

Ngày ấy, khu tôi ở, nhà cửa san sát nhau chứ không kín cổng cao tường như bây giờ Mọi người

có thể lắng nghe âm thanh cuộc sống của từng gia đình khác vọng vào nhà mình Tôi còn nhớ như in, những đêm thành phố mất điện tôi thường tỉnh giấc giữa

chừng, một phần do nóng bức, một phần vì nghe tiếng trẻ con khóc,

tiếng ru của những bà mẹ và đặc biệt là tiếng của những chiếc quạt

được làm từ nhiều chất liệu khác nhau Đó có thể là một chiếc quạt

nan, một miếng bìa các-tông, một chiếc mo cau

Sự cố mất điện thường xuyên trong những ngày ấy cùng với những

gì tôi thấy, nghe đã làm nảy sinh tứ thơ trong tôi

Tôi cứ nghĩ nếu như là thời bây giờ, điều hòa nhiệt độ, quạt máy,

quạt trần chạy vù vù suốt ngày thì chắc chẳng bao giờ nảy ra cái ý

hoặc tứ nào về bài thơ kiểu này Ấy thế nhưng đầu giường tôi lúc nào

cũng vẫn thủ một cái quạt nan vì rằng đôi khi ngồi quạt máy hay điều

hòa lại cảm thấy lạnh Có cái quạt nan vừa tiện, vừa “cơ động” lại có

thể khiển được gió theo cảm giác và “nhu cầu” của mình

Hãy nhận ra giá trị từ những điều rất nhỏ

Bài thơ được đăng lần đầu tiên trên báo Phụ Nữ rồi lần lượt một số

tờ báo khác Tôi không nhớ chính xác Gió từ tay mẹ được đưa vào

SGK năm nào, chỉ biết, sau khi con tôi đi học, rồi ngay cả sau này đến cháu tôi đi học kể lại rằng,

Quạt nan như láChớp chớp lay layQuạt nan mỏng dínhQuạt gió rất dàyGió từ ngọn cây

Có khi còn nghỉGió từ tay mẹThổi suốt đêm ngàyGió của ông trời

Có khi rét buốtGió mẹ, mẹ ơiLúc nào cũng mátQuạt nan như cánhChớp chớp lay lay

Mẹ đưa con bay

Em vào giấc ngủ

Trang 13

chúng nói với cô giáo đó là bài thơ của bố cháu, ông cháu, nhưng chính các thầy cô cũng không tin - mà cứ tưởng phải của một ai đó xa xôi lắm Thế mới vui!

Nhà thơ Vương Trọng và bạn ông

Bài thơ này đã được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc, gần đây nhất được một nhạc sĩ ở Ninh Bình phổ nhạc và được trao giải Nhì trong cuộc thi ca khúc viết về hạnh phúc gia đình đấy Tôi cũng được mời lên Nhà hát Lớn Hà Nội để nhận giải thưởng cùng nhạc sĩ đấy!

Gió từ tay mẹ không phải là một bài thơ xuất sắc nhưng nó đã được chọn in trong SGK Qua bài thơ người đọc hiểu được điều tôi muốn gửi gắm Đó là: giáo dục lòng biết ơn, cảm nhận tình cảmgiữa những người trong gia đình với nhau, nhận ra những giá trị từ những điều rất nhỏ như thế

Thầy dạy văn chứ không phải người bảo mẫu

Giúp cho người khác cảm, hiểu được văn chương là công việc vô cùng khó khăn Nhà thơ Vương Trọng “mách nước”: “Trước tiên muốn các em học sinh yêu thích bộ môn văn thì chính bản thân các thầy cô giáo giảng dạy văn phải là người yêu văn cái đã Phải tuyển chọn được những bài thơ hay, xứng đáng và có tính giáo dục Sau đó hãy tìm cách giúp cho học sinh có hứng thú và yêu môn mình giảng dạy

Ông tâm sự: “Thơ văn cho thiếu nhi bao giờ cũng hàm chứa tính giáo dục, và được thể hiện một cách tinh tế để không gây cảm giác khô khan, giáo điều Giáo dục học sinh theo kiểu bắt chúng phải thế này, không được thế kia là trách nhiệm của các cô bảo mẫu, chứ không phải của thơ văn Làm thơ cho trẻ con cũng là một cách giúp các em tiếp cận với thế giới tự nhiên , bởi vậy xin đừng nói sai, nói ngược tự nhiên như một nhà thơ nào đó đã viết: con bọ ngựa ăn mầm cây non Tư duy của chúng là tư duy cụ thể và hay nhầm lẫn giữa bản chất và hiện tượng Giống như con tôi ngày nhỏ Tôi hỏi nó rằng cái lưng để làm gì Nó trả lời: lưng để gãi! Là bởi vì tôi hay nhờ nó gãi lưng mỗi khi ngứa ngáy Khi viết cho trẻ con tôi luôn ý thức một điều là mình phải đứng ở vị trí của chúng, nhìn bằng con mắt của chúng và cảm bằng cái cảm của chúng”

Ông lấy ví dụ: “Trong bài Chú thợ điện, tôi viết:

Quần áo chú xanh

Trời không xanh thế

Tuy nhiên, khi đem in vào SGK không hiểu sao người biên tập lại chữa thành:

Quần áo chú xanh

Màu xanh xanh thế

Tôi nghĩ với trẻ con, có nhiều màu xanh khác nhau nhưng không tìm ra từ để gọi màu đó như thế

nào nên : “Quần áo chú xanh/Trời không xanh thế” có vẻ hợp lý hơn đối với chúng Chắc có lẽ họ

sợ với bọn trẻ như vậy khó quá nên mới biên tập lại”

Tạo điều kiện cho học sinh tiếp xúc với tác giả

Trang 14

“Hiện nay hầu hết khi giảng văn về một tác phẩm nào đó phần về tác giả chỉ đi lướt qua rất nhanh chóng hoặc tự các em tìm hiểu đọc thêm - nhà thơ tâm sự - “Thế nên không ít học sinh chỉbiết đến tác phẩm mình đang đọc là gì chứ không biết tác giả viết ra bài thơ đó là ai, còn sống hay đã chết, hiện giờ cuộc sống họ ra sao Tôi nghĩ rằng, trong điều kiện có thể, ví như ở các thành phố chẳng hạn, nếu như tác giả các bài văn, bài thơ không xa trường học, thì nhà trường nên tạo điều kiện cho học sinh tiếp xúc với tác giả, ít ra cũng nói thêm đôi điều xung quanh tác phẩm được giảng dạy Trường hợp không có điều kiện làm được việc đó thì thầy giáo, cô giáo nên cập nhật tin tức để giới thiệu cho học sinh hiểu về tác giả của tác phẩm được giảng dạy.

“Tôi nghĩ rằng, biết thêm về tác giả cũng là một cách để học sinh hiểu thêm về tác phẩm” - nhà thơ Vương Trọng kết luận.

-

Gặp lại các nhà văn trong sách giáo khoa:Thứ Sáu, 23/05/2008 00:53 Nhà thơ Hữu Thỉnh tự bạch với “Sang

thu”

(TT&VH) - “Cuối bài thơ tôi đề là “Thu 1977” Đây là chìa khóa của

bài thơ mà rất nhiều người giảng về bài thơ này không hiểu hoặc

không chú ý”- nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam,

tác giả của bài thơ “Sang thu” trong SGK lớp 9 tâm sự Nếu như họ

lưu ý đến chữ “Thu 1977” thì sẽ hiểu được rằng đây là một trong

những mùa Thu đầu tiên của người lính vừa bước ra khỏi chiến

tranh và sự bình yên quý giá biết chừng nào

Nhà thơ trầm ngâm kể về thời khắc ông đặt bút viết bài thơ Năm 1977,

ông tham gia trại viết văn quân đội ở một làng ngoại ô Hà Nội (nay là

Khương Hạ, Thanh Xuân, Hà Nội) Đất nước ta lúc này vừa trải qua

chiến tranh, cuộc sống thanh bình đã trở lại Trong cái mơ hồ phảng

phất gió thu và lá thu đang ngả màu, nhà thơ đã trèo lên cây ổi chín

vàng trong cả một vườn ổi bạt ngàn ở nơi này Không có gì đặc hơn,

sánh hơn cái màu, cái mùi ổi chín vàng nhuốm trong cái nắng vàng của

mùa Thu Không gian cao vút, sâu thăm, yên tĩnh.

Bài thơ bật lên từ đó, ngay khi nhà thơ còn ngồi trên cây ổi, những vần

thơ được “được làm trong đầu” chứ chưa đụng chạm gì đến giấy bút “Bài thơ hình thành rất nhanh và chính tôi cũng lấy rất làm tâm đắc nên thuộc lòng rồi “nhâm nhi” đọc suốt buổi không chán ”.

“Bỗng nhận ra hương ổi

Phả vào trong gió se”.

Nhà thơ đã đến với mùa Thu bằng cách ấy, bằng “hương ổi trong gió se” chứ không phải là bằng hình ảnh quen thuộc như vòm trời cao xanh, heo may phảng phất, hương cốm Giải thích cho sự “khác thường” này, nhà thơ Hữu Thỉnh cho biết: “Mùa Thu biểu hiện rất nhiều hình ảnh khi chuyển mùa Và tất cả những hình ảnh đẹp cũng đã được các nhà thơ cổ khai thác hết cả rồi Tôi không muốn lặp lại nữa nên giữa trời đất mênh mang, giữa cái khoảng khắc giao mùa kỳ lạ thì điều khiến cho tâm hồn tôi phải lay động, phải giật mình để nhận ra đó chính là hương ổi Với tôi, thậm chí là với nhiều người khác không làm thơ thì mùi hương đó gợi nhớ đến tuổi ấu thơ, gợi nhớ đến buổi chiều vàng với một dòng sông thanh bình, một con đò lững lờ trôi, những đàn trâu bò no cỏ giỡn đùa nhau và những đứa trẻ ẩn hiện trong triền ổi chín ven sông

Nó giống như mùi bờ bãi, mùi con trẻ Hương ổi tự nó xộc thẳng vào những miền thơ ấu thân thiết trong tâm hồn chúng ta Mùi hương đơn sơ ấy lại trở thành quý giá vì nó đã trở thành chiếc chìa khóa vàng mở thẳng vào tâm hồn mỗi người, có khi là cả một thế hệ ”.

Gửi gắm nhiều điều sâu lắng

“Bài thơ không chỉ báo cho người đọc biết thu đã trở trong cảnh sắc thiên nhiên mà còn ngay trong cuộc sống của con người, trong tâm hồn tôi và chắc với rất nhiều người yêu thu “Có đám mây mùa hạ/ Vắt nửa mình sang thu” Hai câu thơ này không hẳn nói về hiện tượng giao mùa như một số người hiểu và phân

tích Khi tôi viết bài thơ này tôi đã liên tưởng đến những đám mây mùa Hạ Đó là những đám mây tràn trọn vẹn vào mùa Thu Thế nhưng có gì ngăn cảm xúc của tôi lại theo chiều hướng đấy Mây mùa Hạ thường chứa nhiều màu sắc, thậm chí đầy giông bão tựa hồ những ước mơ khao khát của tuổi trẻ Những ước mơ khao khát ấy thường lấy đi rất nhiều sức lực của tuổi trẻ Tuy nhiên giữa mơ và thực là hai thế giới luôn đối lập nhau và chẳng phải ước mơ nào cũng trở thành hiện thực.

Sang thu

Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se Sương chùng chình qua ngõHình như thu đã về

Sông được lúc dềnh dàngChim bắt đầu vội vã

Có đám mây mùa hạVắt nửa mình sang thu Vẫn còn bao nhiêu nắng

Đã vơi dần cơn mưa Sấm cũng bớt bất ngờTrên hàng cây đứng tuổi(Thu, 1977 )

Trang 15

Ðó giống như là một chân lý và con người phải biết ý thức được một điều rằng không thể đạt được hết những ước vọng tốt đẹp của mình, nhất là những ước vọng đó lại được sinh ra ở thời tuổi trẻ Sự dang dở, sự mất mát là một hiện thực chúng ta buộc phải chấp nhận trong cuộc sống của mình Ngay cả người lính cũng vậy Rất nhiều đồng đội của tôi đã nằm lại ở tuổi còn rất trẻ ở ngưỡng mùa đẹp nhất của cuộc đời Vì thế nên đám mây trong thơ ấy chỉ

“vắt nửa mình sang Thu” thôi Nửa còn lại đã trở thành ký ức” Hai câu cuối cùng: Sấm cũng bớt bất ngờ/ Trên hàng cây đứng tuổi Chủ thể bài thơ và cái kiêu hùng của mùa Thu đã toát lên chính là ở hai câu thơ này Đó là cốt cách của một người lính không chỉ là trong một buổi chiều mùa Thu mà là một buổi chiều hòa bình Có thể nó có vẻ ngang tàng “sấm cũng bớt bất ngờ” nhưng lại mang một vẻ đẹp dịu dàng, sâu lắng của mùa thu hòa bình Ở đây hàng cây đứng tuổi chính là chủ thể trữ tình trong bài thơ đã trải qua bao nhiêu gian nan vất vả, giờ đã vươn lên và không gì làm chúng run rẩy.

Nhiều người bỏ qua “chìa khóa” của bài thơ

Có một chi tiết mà các cô giáo và thầy giáo khi giảng về bài thơ Sang thu làm người sáng tác ra nó không hài lòng Nhà thơ Hữu Thỉnh tâm sự: “Cuối bài thơ tôi đề là “Thu 1977” Đây là chìa khóa của bài thơ mà rất nhiều người giảng về bài thơ này không hiểu hoặc không chú ý Nếu chú ý thì sẽ hiểu thêm được rằng đây là một trong những mùa Thu đầu tiên của người lính vừa bước ra khỏi chiến tranh Nếu như họ là lính trong thời chiến họ mới hiểu được rằng đôi lúc chúng tôi đã rất mong trên đầu không có tiếng máy bay dù chỉ để được đi tắm giặt, đi hái rau hoặc tranh thủ đọc vài trang sách, mà cũng không có Suốt ngày người lính trong thời chiến phải đối diện với tiếng súng nổ, tiếng bom rơi và tiếng động cơ phản lực Chính vì vậy mà có lúc nào đó không phải nghe những âm thanh ấy thì quả là quý giá vô cùng”.

Ông bày tỏ quan điểm: “Giảng văn thơ không nên chỉ phân tích trên văn bản, câu chữ mà hãy tìm hiểu sâu hơn cái tác giả muốn gửi gắm Nó có thể nằm ngay trên tựa đề bài thơ, câu đề từ, lời ghi chú, ngày tháng hay một lời đề tặng.

-

Nhà thơ Phan Thị Thanh NhànThứ Sáu, 11/06/2010 13:04

“Hương thầm” của “sự cực đoan đáng yêu”

(TT&VH) - Mới đây, nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn, tác giả của những câu thơ đi cùng năm

tháng: “Cửa sổ hai nhà cuối phố/ Chẳng hiểu vì sao không khép bao giờ”… vừa hoàn

thành chuỗi 63 bài viết là những giai thoại liên quan đến các nhà văn lớn.

Đó là các nhà văn như: Tô Hoài, Nguyễn Đình Thi, Tế Hanh, Dương Thị Xuân Quý, Vũ QuầnPhương, Bằng Việt, Hữu Thỉnh Những bài viết này được nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn tập

hợp in thành tập Chân dung văn học Phan Thị Thanh Nhàn - Sự cực đoan đáng yêu (NXB Hội

TT&VH đã có cuộc trò chuyện với bà xoay quanh cuốn sách này:

Công tâm + Vô tư = Sự cực đoan đáng yêu

Nhà thơ Hữu Thỉnh

Ngày đăng: 05/05/2021, 12:04

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w