1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư duy lý luận của đội ngũ hiệu trưởng các trường tiểu học hiện nay - một số vấn đề lý luận và thực tiễn (qua thực tế ở tỉnh Thanh Hóa

114 590 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ thực trạng đã nêu ở trên và là một cán bộ giảng dạy của Học viện Quản lý giáo dục nên tác giả đã chọn đề tài: "Tư duy lý luận của đội ngũ hiệu trưởng các trường tiểu học hiện nay - M

Trang 1

Đại học quốc gia hà nội

Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị



Đỗ Thị Thanh Hương

Tư duy lý luận Của đội ngũ Hiệu trưởng các trường tiểu học hiện nay - một số vấn đề

lý luận và thực tiễn (qua thực tế ở tỉnh Thanh Hóa)

Luận văn thạc sĩ Triết học

Hà nội - 2009

Trang 2

Đại học quốc gia hà nội

Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị

-

Đỗ Thị Thanh Hương

Tư duy lý luận Của đội ngũ Hiệu trưởng các trường tiểu học hiện nay - một số vấn đề

lý luận và thực tiễn (qua thực tế ở tỉnh Thanh Hóa)

Luận văn thạc sĩ Triết học

Chuyên ngành: Triết học

Mã số: 60 22 80

Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS Hồ Trọng Hoài

Hà nội - 2009

Trang 3

Mục lục

Mở đầu 1

Chương 1 Tư duy lý luận và vai trò của tư duy lý luận đối với hoạt động quản lý của đội ngũ hiệu trưởng các trường tiểu học 7

1.1 Tư duy lý luận - khái niệm và đặc điểm 7

1.1.1 Tư duy lý luận 7

1.1.2 Một số đặc điểm cơ bản của tư duy lý luận 18

1.2 Thực chất hoạt động quản lý và vai trò của tư duy lý luận đối với hoạt động quản lý của hiệu trưởng các trường Tiểu học 22

1.2.1 Thực chất hoạt động quản lý của người hiệu trưởng tiểu học 22

1.2.2 Vai trò của tư duy lý luận đối với hoạt động quản lý của hiệu trưởng tiểu học 27

Chương 2 Thực trạng tư duy lý luận của đội ngũ hiệu trưởng các trường tiểu học ở Thanh Hoá hiện nay 31

2.1 Năng lực tư duy lý luận của đội ngũ Hiệu trưởng các trường tiểu học ở Thanh Hóa hiện nay - Ưu điểm và nguyên nhân 31

2.1.1 Ưu điểm 31

2.1.2 Nguyên nhân 41

2.2 Năng lực tư duy lý luận của đội ngũ Hiệu trưởng các trường tiểu học ở Thanh Hóa hiện nay - Hạn chế và nguyên nhân 42

2.2.1 Hạn chế 42

2.2.2 Nguyên nhân 49

Chương 3 Phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao trình độ tư duy lý luận cho đội ngũ Hiệu Trưởng các trường tiểu học ở Thanh Hoá hiện nay 59

3.1 Phương hướng 59

3.1.1 Mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng tư duy lý luận cho đội ngũ hiệu trưởng các trường tiểu học ở Thanh Hóa trong thời kỳ mới 65

Trang 4

3.1.2 Định hướng đổi mới nội dung đào tạo, bồi dưỡng để thực hiện nâng

cao tư duy lý luận cho đội ngũ các hiệu trưởng tiểu học 67

3.1.3 Định hướng đổi mới phương thức bồi dưỡng để thực hiện nâng cao tư duy lý luận cho đội ngũ các hiệu trưởng tiểu học 69

3.2 Một số giải pháp chủ yếu 69

3.2.1 Đề cao giáo dục và tự giáo dục 70

3.2.2 Cải thiện môi trường kinh tế xã hội 70

3.2.3 Tăng cường hoạt động thực tiễn 72

3.2.4 Đổi mới chương trình, nội dung, phương thức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ hiệu trưởng tiểu học cho phù hợp với nhu cầu thực tiễn và đặc điểm đối tượng 73

3.2.5 Tăng cường đào tạo và đào tạo lại nhằm nâng cao trình độ và rèn luyện phương pháp tư duy lý luận cho đội ngũ hiệu trưởng các trường tiểu học 74

3.2.6 Đổi mới công tác cán bộ của Ngành Giáo dục theo hướng sử dụng đúng người, đúng việc, khuyến khích đội ngũ cán bộ quản lý học tập, rèn luyện nâng cao trình độ văn hóa, trình độ tư duy lý luận 76

Kết luận 78

Danh mục tài liệu tham khảo 80

Phụ lục 86

Trang 5

Năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ quản lý trường học phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó có một yếu tố rất quan trọng mà lâu nay chưa được coi trọng đúng mức, nhất là đối với đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học,

đó là năng lực tư duy lý luận Bởi vì nhờ tư duy lý luận mà người quản lý có thể nắm bắt chính xác bản chất của các hiện tượng Đó là cơ sở để đưa ra các quyết định một cách chính xác và kịp thời

Hiện nay nhìn chung công tác quản lý giáo dục của các nhà trường đang còn nhiều bất cập, thậm chí là yếu kém Vì vậy, đã hạn chế nhiều đến sự tiến bộ của giáo dục và đào tạo, trước hết là về chất lượng dạy và học, và có khi còn là chỗ dựa cho tiêu cực nảy sinh Đối với bậc tiểu học thì những hạn chế này càng dễ nhận ra và càng đáng lưu tâm trước hết, vì đây là bậc học, nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, có số trường lớp và số học sinh rất đông đảo, và vì chất lượng và hiệu quả của giáo dục tiểu học liên quan đến hầu như mọi gia đình và tất cả cộng đồng xã hội Biểu hiện khá phổ biến ở bậc học này là: giáo điều, rập khuôn, đến mức cứng nhắc, không dám đổi mới, rụt rè trong sáng tạo, thiếu tầm nhìn rộng và lâu dài, hay lúng túng trước những phát sinh mới, thường hay dùng các biện pháp đối phó "ăn đong" hơn

là các giải pháp "đón đầu", ra quyết định quản lý giáo dục thường dựa vào

Trang 6

2

kinh nghiệm và uy quyền hơn là sự thông tuệ lý luận Những biểu hiện này suy cho cùng có nguyên nhân từ năng lực tư duy quản lý giáo dục còn thấp, vẫn nặng về tư duy kinh nghiệm, chưa đạt đến trình độ cao của tư duy lý luận

Mấy chục năm qua, ngành giáo dục và đào tạo đã rất chú ý bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý giáo dục cho đội ngũ cán bộ quản lý các trường học nói chung và các trường tiểu học nói riêng Ví dụ ở Thanh Hóa có 729 trường tiểu học với hơn 1750 cán bộ quản lý thì đã có 69% được đi học bồi dưỡng nghiệp

vụ quản lý giáo dục, trong đó hiệu trưởng gần như 100% Nhưng do nhiều nguyên nhân nên chất lượng và hiệu quả bồi dưỡng còn thấp, người học xong không phát huy được kết quả bồi dưỡng để nâng cao trình độ quản lý nhà trường Xét vào nội dung và phương pháp bồi dưỡng thì thấy có một thiếu sót kéo dài là: do quá nhấn mạnh yêu cầu bồi dưỡng thiết thực mà đã coi nhẹ yêu cầu bồi dưỡng tiềm năng, đặc biệt là tiềm năng trí tuệ; nội dung bồi dưỡng chưa coi trọng việc nâng cao trình độ tư duy lý luận, vì thế cả việc dạy và học chưa gắn nhiều với phần chuyên môn nghiệp vụ quản lý giáo dục, quản lý nhà trường tiểu học Bên cạnh đó, việc chọn cử cán bộ quản lý vẫn theo lối mòn

cũ "sống lâu lên lão làng", tức là quá coi trọng tiêu chí kinh nghiệm và sự

từng trải

Từ thực trạng đã nêu ở trên và là một cán bộ giảng dạy của Học viện

Quản lý giáo dục nên tác giả đã chọn đề tài: "Tư duy lý luận của đội ngũ

hiệu trưởng các trường tiểu học hiện nay - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" (Qua thực tế ở tỉnh Thanh Hoá) làm Luận văn Thạc sỹ của mình, với

mong muốn có được đóng phần vào sự đổi mới trong công tác quản lý nhà trường ở bậc học này của đất nước

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề trình độ lý luận và năng lực tư duy lý luận của người cán bộ lãnh đạo đã được nhiều tác giả nghiên cứu, đặc biệt là về mặt lý luận, với

Trang 7

Vấn đề tư duy cũng thu hút nhiều tác giả chọn làm đề tài nghiên cứu cho các luận văn Tiến sỹ, Thạc sỹ Trong đó:

- Nguyễn Đình Trãi: “Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán bộ giảng viên dạy lý luận Mác - Lênin ở các trường chính trị tỉnh” Luận án Tiến

sỹ Triết học

- Vũ Đình Chuyên: “Nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán

bộ quản lý, lãnh đạo cấp huyện ở nước ta hiện nay” (qua thực tế tỉnh Kiên

Giang) - Luận văn thạc sỹ Triết học, Hà Nội - 2000

- Vũ Ngọc Hoằng: “Nâng cao năng lực tư duy luận cho đội ngũ sĩ quan chỉ huy ở đồn biên phòng trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sỹ Triết

học, Hà nội - 2004

- Kiều Hồng Mai: “Nâng cao tư duy lý luận của cán bộ lãnh đạo cấp huyện trong tình hình hiện nay qua khảo sát ở tỉnh Hà Tây”, Luận văn thạc sỹ

Triết học

Trang 8

4

Các công trình này đã phân tích thực trạng, nguyên nhân và đã đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao tư duy lý luận với đối tượng, phạm vi mà tác giả khảo sát

Vấn đề năng lực quản lý của cán bộ quản lý giáo dục nói chung thì cũng đã được bàn thảo, giảng giải nhiều trong các trường lớp bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý giáo dục ở Trung ương cũng như ở các tỉnh, được chọn làm

đề tài nghiên cứu cho các luận văn Thạc sĩ, Tiến sỹ chuyên ngành quản lý giáo dục, liên quan đến đề tài của luận văn, phải kể đến những công trình sau:

- Nguyễn Minh Đức: “Hệ thống biện pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn mới”, luận văn

thạc sỹ Quản lý giáo dục, Hà Nội - 1999

- Lê Thị Mười: “Các biện pháp nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ quản lý các trường tiểu học quận Hai Bà Trưng”, luận văn thạc sỹ

Quản lý giáo dục, Hà Nội - 2003

- Trần Văn Hạnh: “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục trường tiểu học hiện nay ở tỉnh Thanh Hoá”, luận văn thạc sỹ Quản lý

giáo dục, Hà Nội - 2000

Các công trình nghiên cứu nói trên đã nghiên cứu các khía cạnh khác nhau và đã có một số kết quả trong việc nghiên cứu những điều kiện khách quan và chủ quan ảnh hưởng tới năng lực tư duy Tuy nhiên, vấn đề tư duy lý luận với tư cách là một phẩm chất của người hiệu trưởng trường tiểu học với

tư cách là một luận văn Thạc sỹ triết học, thì chưa có một tác giả nào đi sâu nghiên cứu Hơn nữa, việc đánh giá thực trạng tư duy lý luận và đề ra những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao tư duy lý luận cho đội ngũ hiệu trưởng trường tiểu học còn rất mới mẻ Vì vậy, với đề tài luận văn này tác giả hy vọng sẽ góp phần nhỏ bé của mình vào công tác xây dựng và phát triển đội ngũ hiệu trưởng tiểu học cũng là góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu đổi mới đất nước hiện nay

Trang 9

* Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Phân tích vai trò của tư duy lý luận trong hoạt động quản lý của người hiệu trưởng trường tiểu học

- Khảo sát thực trạng trình độ tư duy lý luận của đội ngũ hiệu trưởng trường tiểu học (qua thực tế của giáo dục Thanh Hóa)

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao trình độ tư duy lý luận cho đội ngũ hiệu trưởng các trường tiểu học, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo của đất nước trong giai đoạn hiện nay

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: Năng lực tư duy lý luận của đội ngũ hiệu trưởng tiểu học

- Phạm vi nghiên cứu: Năng lực tư duy lý luận của đội ngũ hiệu trưởng tiểu học của tỉnh Thanh Hóa, biểu hiện qua hoạt động quản lý trong những năm gần đây

5 Phương pháp nghiên cứu

- Luận văn vận dụng lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng ta về con người, về năng lực tư duy lý luận của người quản lý nói chung và đội ngũ hiệu trưởng tiểu học nói riêng Luận văn còn kế thừa kết quả nghiên cứu của tác giả đi trước về vấn đề này

Trang 10

6

- Luận văn sử dụng các tài liệu của cấp ủy Đảng, Chính quyền và các tài liệu liên quan đến đề tài của Ngành, Sở và kết quả khảo sát của tác giả ở các hiệu trưởng trên địa bàn Thanh Hóa

- Để hoàn thành luận văn này, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phân tích và tổng hợp, lịch sử và lôgic, cụ thể và trừu tượng, phương pháp hệ thống, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp thống kê và các phương pháp khác

Trang 11

7

6 Đóng góp của luận văn

- Góp phần làm sáng tỏ những yêu cầu phát triển năng lực tư duy lý luận cho cán bộ quản lý giáo dục cấp tiểu học, đặc biệt là cho hiệu trưởng các trường tiểu học trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá

- Bước đầu đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm bồi dưỡng nâng cao

tư duy lý luận chính trị cho hiệu trưởng các trường tiểu học trên địa bàn Thanh Hoá trong giai đoạn hiện nay

- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ công tác giảng dạy, học tập, nghiên cứu và tiến hành công tác quản lý của hiệu trưởng các trường tiểu học

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương, 6 tiết

Chương 1 Tư duy lý luận và vai trò của tư duy lý luận đối với hoạt động quản lý của đội ngũ hiệu trưởng các trường tiểu học

Chương 2 Thực trạng tư duy lý luận của đội ngũ hiệu trưởng các trường tiểu học ở Thanh Hoá hiện nay

Chương 3 Phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao trình độ tư duy lý luận cho đội ngũ hiệu trưởng các trường tiểu học ở Thanh Hoá hiện nay

Trang 12

8

Chương 1

Tư duy lý luận và vai trò của tư duy lý luận đối với hoạt động quản lý của đội ngũ Hiệu trưởng các trường tiểu học

1.1 Tư duy lý luận - khái niệm và đặc điểm

1.1.1 Tư duy lý luận

1.1.1.1 Khái niệm tư duy

Để xác định nội dung của khái niệm tư duy lý luận, nhằm phân tích vai trò của tư duy lý luận đối với hoạt động quản lý của đội ngũ hiệu trưởng các trường tiểu học, trước hết phải làm rõ nội dung khái niệm tư duy và tư duy lý luận

Tư duy là đối tượng nghiên của nhiều khoa học như: triết học, tâm lý học, sinh lý học thần kinh, ngôn ngữ học, lôgíc học Mỗi khoa học nghiên cứu tư duy ở một góc độ khác nhau Chẳng hạn, tâm lý học nghiên cứu tư duy trong mối quan hệ với hành vi của con người, sinh lý học thần kinh nghiên cứu tư duy trong mối quan hệ với hoạt động sinh lý của bộ não người Triết học nghiên cứu tư duy trong quá trình nhận thức với các mối quan hệ giữa tri thức và hiện thực, giữa chủ thể và khách thể

Trong lịch sử triết học, nhiều nhà triết học khi đề cập đến lý luận nhận thức cũng đã đề cập đến các cấp độ khác nhau của tư duy Chẳng hạn: Đê-mô-

crít (460 - 370 TCN) đã nêu ra 2 dạng nhận thức: "mờ tối" - nhận thức qua cảm giác là nền tảng cho nhận thức "trong sáng" - nhận thức thông qua lôgic,

phán đoán và trí tuệ Nhưng ông chưa thấy được sự chuyển hoá giữa chúng và cũng mới thấy sự khác nhau giữa chúng đơn thuần về mặt lượng Ông coi tư duy là hỗn hợp các nguyên tử trong cơ thể con người [48, tr.172-173]; Pla-tôn (427 - 347 TCN) cho rằng, mọi tri thức đều mang tính khái quát cao, đem lại chân lý và cơ sở cho khoa học, còn sản phẩm của kinh nghiệm, nhận thức cảm

Trang 13

9

tính chỉ là những kiến giải, tưởng tượng về các sự vật đơn nhất Theo ông, trong linh hồn con người đã chứa đựng tiềm tàng mọi tri thức, mọi sự có thể hiểu biết Vì vậy, ông xem phương pháp cơ bản của nhận thức là sự hồi tưởng, là sự liên kết các chân lý được hồi tưởng lại Chỉ có linh hồn trí tuệ mới có thể nhận biết chân lý; tri thức là cái có trước các sự vật cảm tính, nhận thức cảm tính có sau nhận thức lý tính và nhận thức không phải là sự phản ánh sự vật mà chỉ là sự hồi tưởng, là sự liên kết cái chân lý được hồi lại Chỉ

có linh hồn trí tuệ mới có thể nhận biết chân lý; tri thức là cái có trước các sự vật cảm tính, nhận thức cảm tính có sau nhận thức lý tính và nhận thức không phải là sự phản ánh sự vật mà chỉ là sự hồi tưởng lại những linh hồn đã trải qua trước khi nhập vào thể xác [48, tr.469] A-rit-xtốt (384 - 322 TCN), là người đầu tiên khám phá ra những quy luật cơ bản của lôgíc hình thức, đã khẳng định khả năng nhận thức thế giới của con người và coi quá trình nhận thức là sự khám phá chân lý đích thực về bản chất của sự vật Ông đề cao vai trò của nhận thức cảm tính, coi đó là giai đoạn đầu tiên và là điểm xuất phát của mọi quá trình nhận thức; tiếp theo là nhận thức kinh nghiệm, cao hơn là nhận thức nghệ thuật, và nhận thức khoa học là dạng cao nhất Ông đánh giá cao nhận thức lý tính với những thao tác tư duy như trừu tượng, khái quát hoá… Thế nhưng, ông lại thần thánh hóa nhận thức lý tính coi nó như một thuộc tính của linh hồn thượng đế [48, tr.8-9]

Lốc - cơ (1632 - 1704) coi kinh nghiệm là nguồn gốc duy nhất của mọi tri thức, ông hiểu kinh nghiệm không chỉ là khả năng nhận thức cảm tính mà

là cả bản thân lý tính Theo ông, giai đoạn đầu tiên của nhận thức kinh

nghiệm tạo ra "ý niệm giản đơn", sau đó là giai đoạn lý tính với các hoạt động

so sánh, phân tích… và kết quả là các phạm trù, khái niệm chung thể hiện

những đặc tính giống nhau của một nhóm sự vật tạo ra "ý niệm phức tạp", các

"ý niệm giản đơn" là các sản phẩm tự nhiên mang tính quy luật của các sự vật

Trang 14

10

tác động vào con người, còn "ý niệm phức tạp" lại là kết quả của hoạt động lý

tính chủ quan [48, tr.329-330] Béc-cơ-li (1685 - 1753) lại đặc biệt đề cao cảm giác, ông đồng nhất ý niệm của con người với cảm giác Các khái niệm trừu tượng được cấu thành bởi cảm giác, chúng là kết quả của sự so sánh và phân tích các cảm giác Với ông, cảm giác là điểm xuất phát và là dạng nhận thức cơ bản, cả thế giới chỉ là sự tổ hợp của các cảm giác [48, tr.30]

Phơ - bách (1804 - 1872) cho rằng, nhận thức là một quá trình gồm hai giai đoạn: nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính Ông nhấn mạnh bản chất sinh học của con người - chủ thể của nhận thức là con người nói chung với tư cách là sinh vật đau khổ có cảm giác, có tư duy, con người đó đứng ngoài xã hội phụ thuộc một cách thụ động vào giới tự nhiên Theo ông, lý tính có vai trò nối liền những cái rời rạc mà con người nhận thức được Ông cho rằng, con người đọc được quyển sách về tự nhiên là nhờ có tư duy Tư duy là giai đoạn cao của nhận thức [48, tr.450- 452] Hê-ghen (1770 - 1831) cho rằng, tư duy rộng hơn năng lực chủ quan thuần tuý Ông hiểu tư duy không chỉ là ý thức cá nhân của con người mà còn hiểu nó là ý niệm tuyệt đối sáng tạo ra thế giới và con người Theo ông, "tư duy cho nó" là ý niệm tuyệt đối tạo nên bản chất của toàn bộ hiện thực còn "tư duy cho nó" mới là tư duy đích thực, tư duy phát triển ở giai đoạn cao nhất, tư duy của mỗi con người phải hoạt động theo những quy luật chung của tư duy, tức "tư duy tự nó" [48, tr.230-232]

Qua xem xét một số quan điểm cơ bản về lý luận nhận thức trong lịch

sử triết học, ta thấy dù theo lập trường duy tâm hay duy vật, trong sự kế thừa lẫn nhau, các nhà triết học trước Mác đã đạt những thành quả nhất định trong việc phân định các giai đoạn nhận thức, khẳng định vai trò của cảm giác, của kinh nghiệm hoặc của lý tính tư duy Tuy nhiên, vẫn chưa có quan điểm nào giải quyết một cách đúng đắn về quá trình nhận thức, về mối quan hệ biện chứng giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính trên lập trường duy vật

Trang 15

11

biện chứng Vì vậy, mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng nhận thức triết học về

tư duy của các nhà triết học trước Mác vẫn còn hạn chế

Triết học duy vật biện chứng nghiên cứu tư duy trong mối quan hệ với thế giới khách quan thông qua hoạt động thực tiễn của con người Tư duy hình thức cao nhất của sự phản ánh tích cực hiện thực khách quan bởi con người Đó là trình độ phản ánh khái quát hóa, trừu tượng hóa và mang tính sáng tạo, hướng vào nhận thức bản chất, vào quy luật vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan Tư duy là quá trình con người so sánh các tài liệu thu nhận được từ cảm tính, phân tích, suy xét, luận chứng để rút ra các tri thức mới Tư duy diễn ra dưới các hình thức khái niệm, phán đoán, suy luận Kết quả của tư duy bao giờ cũng phản ánh khái quát các mối liên hệ cơ bản, phổ biến ở nhiều sự vật, hiện thực và được biểu đạt dưới dạng ngôn ngữ - vỏ vật chất của tư duy

Đó là quá trình suy nghĩ, tìm tòi, vận dụng, kết hợp các khái niệm, phạm trù theo các nguyên tắc, các quy luật của lôgic hình thức và lôgic biện chứng nhằm đạt đến chân lý

ở trình độ của tư duy thì sự vật hiện tượng được phản ánh khái quát dưới các hình thức khái niệm, phán đoán, suy lý, tức là được diễn đạt bằng ngôn ngữ, ra ngôn ngữ để có thể tiếp tục phát triển và lưu giữ

Tư duy chỉ phát sinh và phát triển trong hoạt động thực tiễn của con người và chỉ có thực tiễn mới là tiêu chuẩn kiểm tra sự đúng đắn của tư duy

Trình độ của tư duy biến đổi theo sự phát triển của kinh tế xã hội, và khác nhau giữa các cá thể con người, biến đổi theo thời gian đối với một cá thể con người

Nhìn chung căn cứ vào trình độ phản ánh thế giới hiện thực, người ta

có thể chia tư duy thành hai cấp độ là tư duy kinh nghiệm và tư duy lý luận

Trang 16

12

Tư duy kinh nghiệm là trình độ thấp của tư duy, đó là sự phản ánh về

sự vật, hiện tượng ở những biểu hiện bề ngoài Tư duy kinh nghiệm thường dừng lại ở việc mô tả sự vật, hiện tượng hoặc quá trình đơn nhất nào đó

1.1.1.2 Khái niệm tư duy lý luận

Sự xuất hiện của tư duy lý luận là do nhu cầu đòi hỏi của thực tiễn Hoạt động thực tiễn của con người càng ngày càng phong phú, đa dạng, nhu cầu con người ngày càng cao hơn đã kích thích nhận thức, đặt ra nhiều vấn đề mới phải nhận thức, khi tư duy kinh nghiệm không đáp ứng được những nhu cầu đòi hỏi của cuộc sống, tất yếu tư duy phải được nâng lên ở trình độ cao hơn

Tư duy lý luận là trình độ cao nhất của tư duy ở cấp độ này, thế giới hiện thực được nhận thức ở trình độ lý luận dưới dạng các khái niệm, phạm trù, quy luật, đóng vai trò phương pháp luận trong nhận thức khoa học và hoạt động thực tiễn Tư duy lý luận dựa trên các phương tiện, phạm trù, quy luật Các khái niệm, phạm trù, quy luật về một lĩnh vực nào đó được sắp xếp theo một trật tự lôgíc nhất định, hình thành một hệ thống lý luận, đóng vai trò

phương pháp luận trong nhận thức khoa học và hoạt động thực tiễn

Tư duy lý luận là hình thức cao nhất của tư duy, nó chính là quá trình

tiếp cận một cách sáng tạo, nắm bắt, nhận thức và tái hiện lại hiện thực khách quan Là hình thức cao nhất của tư duy, tư duy lý luận nắm bắt, vận dụng các khái niệm, phạm trù theo những nguyên tắc logic chặt chẽ nhằm đạt đến chân

lý Đương nhiên quá trình này không phải giản đơn, ngẫu nhiên, rời rạc mà là

có quy trình, có hệ thống cũng như mang tính chỉnh thể cao

Tư duy lý luận - có khả năng phản ánh khái quát, gián tiếp những thuộc

tính, mối liên hệ bên trong, bản chất của sự vật, hiện tượng Từ đó, các sự vật, hiện tượng ấy được phản ánh một cách chính xác, sâu sắc Hơn nữa, những sản phầm của tư duy lý luận (những tri thức, những quan điểm, quan niệm của

Trang 17

13

con người) phải đạt tới trình độ lý luận Thông qua những giả thuyết và lý thuyết với tư cách là những công cụ chủ yếu của tư duy lý luận, trên cơ sở đó,

tư duy lý luận nâng nhận thức của con người lên một trình độ cao hơn về chất;

nó không những nhận thức được thực chất của cái đã, đang có mà còn là cái

sẽ xảy ra, tức là những dự báo khoa học về sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan Đây chính là sức mạnh của tư duy lý luận, nên nó đem lại nhận thức sâu sắc, đầy đủ, hệ thống, mang tính chỉnh thể về quy luật, bản chất của hiện thực khách quan Hơn nữa, với tư duy lý luận, chủ thể tư duy mang đặc tính khoa học và sử dụng những tri thức lý luận lên hàng đầu, và sử dụng những tri thức đạt được như là công cụ, phương pháp khoa học để tìm tòi, phát hiện những mâu thuẫn và những vấn đề mới nảy sinh, trên cơ sở đưa ra những biện pháp, giải pháp mới để giải quyết Đây là điều mà tư duy thông thường không thể có được Tư duy lý luận còn có khả năng phê phán và tự phê một cách sâu sắc và triệt để Chính khả năng này, đã đảm bảo cho nhận thức của chúng ta thực sự phát huy để đạt tới một nỗ lực cao của ý chí nhằm nhận thức đúng bản chất của sự vật, hiện tượng Có thể thấy rằng, tư duy lý luận đã chuyển “cái” logic khách quan thành “cái” logic chủ quan, chuyển tất yếu hiện thực thành những quy luật của lý tính Hơn nữa, tư duy lý luận là hình thức tư duy mà nó biểu hiện gồm 2 mặt, nội dung và phương pháp, chúng thống nhất biện chứng với nhau Nội dung của tư duy lý luận bao gồm những hệ thống tri thức đã được khái quát hóa thành khái niệm, phạm trù về chúng Còn khi nói đến phương pháp tư duy là cách thức vận hành hay logic của khái niệm Sự vận dụng, kết hợp của các khái niệm đó với nhau Từ đó,

mà xuất hiện những tri thức khách quan chân chính khoa học

Tư duy lý luận, nếu xét về nội dung và cấu trúc có thể hiểu theo ba nghĩa sau:

Trang 18

14

Nghĩa thứ nhất: tư duy lý luận với tư cách là quá trình vận động để

khám phá, nắm bắt, tái tạo hiện thực Nếu xét kỹ hơn theo nghĩa này, tư duy chứa đựng trong nó bốn quá trình khác nhau:

+ Quá trình xâm nhập, tìm hiểu, nắm bắt hiện thực khách quan (hay quá trình thu thập thông tin)

+ Trên cơ sở có được những dữ liệu về thông tin vè sự vật, tư duy phân loại, so sánh, phân tích, tổng hợp Đây chính là quá trình xử lý thông tin của

tư duy lý luận

+ Trên cơ sở đã có những tri thức tổng hợp nhất định về sự vật, hiện tượng khách quan, tư duy lý luận sử dụng các thao tác tư duy trừu tượng hóa, khái quát hóa, hệ thống hóa, tích hợp hóa Đó chính là quá trình sáng tạo lại hiện thực khách quan dưới dạng tinh thần theo con đường khái quát hóa, trừu tượng hóa đi sâu vào nắm bắt quy luật bản chất của hiện thực khách quan

+ Khi đã có hình ảnh về hiện thực khách quan ở cấp độ bản chất của

nó, chủ thể tư duy sử dụng nó như là công cụ, phương tiện (phương pháp luận

và phương pháp) làm cho hoạt động thực tiễn của con người đạt được mục đích hiệu quả Đây chính là quá trình cải tạo hiện thực khách quan của tư duy

lý luận thông qua hoạt động thực tiễn của con người

Các quá trình này của tư duy không biệt lập tách rời nhau, mà chúng hòa quyện, đan xen, xâm nhập chuyển hóa, bổ sung và làm điều kiện, tiền đề cho nhau, từ đó tư duy lý luận tiến gần tới khách thể nghiên cứu

Nghĩa thứ 2: tư duy lý luận được hiểu như là phương pháp tư duy Đây

là cách nhìn nhận, đánh giá vốn có của tư duy trong quá trình phản ánh tái tạo hiện thực khách quan Tư duy lý luận hiểu theo nghĩa này được hiểu thông qua các cấp đối lập của nó: tư duy logic đối lập với tư duy phi lôgic, là tư duy khoa học đối lập với tư duy kinh nghiệm… Nhờ có tư duy lý luận mà chủ thể tác động khoa học rất coi trọng và biết sử dụng nó như một phương pháp để

Trang 19

15

phát hiện mâu thuẫn và những tình huống có vấn đề, biết tìm kiếm sáng tạo những phương pháp, biện pháp để giải quyết tình huống ấy

Nghĩa thứ 3: tư duy lý luận với tư cách là kết quả của quá trình tư duy,

những kết quả đã có, đã hình thành như là sản phẩm của trí tuệ cao có được

do sự tích lũy tri thức trong hoạt động hàng ngày của con người về hiện thực

ở đây, tư duy lý luận là cái được khái quát lên, hình thành lên từ kinh nghiệm Bởi thế nó có thể hiểu là cái đối lập, cái phủ định của tư duy kinh nghiệm trên một “tầng nấc”, trình độ cao hơn về chất so với tri thức kinh nghiệm

Tư duy kinh nghiệm thể hiện một cấp độ tư duy con người, nó cũng thể hiện năng lực trừu tượng hóa của trí tuệ con người tuy còn ở trình độ thấp, chủ yếu là duy cảm chứ chưa hẳn là duy lý Bằng tư duy kinh nghiệm, xuất phát từ thực tiễn cuộc sống, người ta có thể đúc rút ra được những kết luận khá chính xác về sự vật, hiện tượng riêng lẻ, song chưa thể khái quát được mối liên hệ cơ bản của các sự vật, hiện tượng Trình độ tư duy đó mới chỉ dừng lại ở sự mô tả những đặc điểm, thuộc tính, những mối quan hệ, liên hệ của các sự vật, hiện tượng hơn là đi sâu phân tích làm rõ bản chất, các quy luật của sự vật, hiện tượng ấy (tư duy kinh nghiệm là trình độ tư duy phản ánh

sự phát triển tinh thần, tư tưởng, văn hóa xã hội nông thôn cổ truyền Ví dụ: các kinh nghiệm trong lao động sản xuất; chống thiên tai, giặc ngoại xâm thể hiện trong ca dao, tục ngữ…)

Vì thế tư duy kinh nghiệm là tư duy tiền khoa học, tiền lý luận, mang tính chất tác động trực tiếp cải biến khách thể hiện thực

Tư duy kinh nghiệm là lối tư duy của những người ít am hiểu về lý luận khoa học Tư duy kinh nghiệm hướng vài cái cụ thể, biểu hiện cụ thể là trực quan, cảm tính, lẻ tẻ, vụn vặt Kết quả của nhận thức cũng chính là cái cụ thể, vẫn chưa vươn xa hơn cái cụ thể cảm tính, chưa phải là cái cụ thể trong tư duy theo đúng nghĩa khoa học

Trang 20

16

Vì tư duy kinh nghiệm mới chỉ dừng lại ở sự mô tả những đặc điểm riêng lẻ, các mối liên hệ bên ngoài, ngẫu nhiên nên tri thức kinh nghiệm rất hạn chế: hời hợt, vụn vặt, giản đơn, đơn nhất Nhưng lại được coi như cái phổ biến, cái chung, cái bản chất… Với lối tư duy, suy nghĩ chủ yếu bằng kinh nghiệm về cả nội dung và phương pháp Thể hiện như về phương pháp các thao tác tư duy chỉ dựa trên nếp nghĩ quen thuộc, những lối mòn hình thành một cách tự phát, vừa cứng nhắc, phi khoa học, phi logic Tư duy dừng lại ở trình độ đó, không những không thể nói tới sự sáng tạo mà còn dễ mắc sai lầm

Tư duy lý luận là tư duy dựa trên tri thức lý luận và phương pháp nhận thức khoa học thì bộc lộ những cái chung, cái bản chất của hiện thực khách quan Từ đó, chúng được phản ánh một cách chính xác và sâu sắc vấn đề, đồng thời, tri thức lý luận được hình thành trên cơ sở khái quát tri thức kinh nghiệm nhờ sức mạnh ở sự trừu tượng hóa và khái quát hóa của tư duy

Tư duy của chúng ta được khởi nguồn, phát sinh, phát triển trong quá trình thực tiễn lao động sản xuất Từ đó, con người mới đúc rút kinh nghiệm rồi hệ thống hóa, khái quát hóa thành lý luận Đến một chừng mực nhất định,

lý luận mới tách ra hoạt động tương đối độc lập, tuy nhiên chúng vẫn có mối liên hệ mật thiết với thực tiễn

Thực tế chứng minh rằng, tư duy lý luận ngày càng đóng vai trò trong

sự phát triển của các khoa học cũng như thực tiễn xã hội Sự ra đời và phát triển của các khoa học vẫn dựa trên cơ sở thực tiễn ngày càng phức tạp, sự tác động trở lại của các khoa học đối với thực tiễn ngày càng to lớn và chủ động

Ph Ăngghen đã chỉ rõ: “Một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận” [28, tr.489]

Như vậy, tư duy lý luận và thực tiễn sinh động đa dạng, phong phú đó

có một vòng khâu nối tiếp nhau: Thực tiễn - lý luận và lý luận - thực tiễn

Trang 21

17

Thực tiễn sẽ mù quáng tự phát, quanh co nếu không có lý luận dẫn đường Ngược lại, lý luận sẽ lạc hậu, bảo thủ, sáo rỗng, kinh nghiệm, mất đi tính khoa học nếu xa rời thực tiễn

Trên cơ sở gắn với thực tiễn, tư duy lý luận không những tư duy bằng tri thức lý luận mà còn tư duy bằng phương pháp khoa học Một phương pháp rất quan trọng của tư duy lý luận khoa học là từ trừu tượng đến cụ thể trong tư

duy Các Mác đã đánh giá rất cao khả năng trừu tượng hóa của tư duy: “…khi phân tích hình thái kinh tế, người ta không thể dùng kính hiển vi hay những phản ứng hóa học Sức trừu tượng hóa phải thay thế cho cả hai cái đó” [27,

tr.16] Tư duy lý luận khoa học chứa đựng trong nó khả năng trở thành phương pháp Bởi lẽ, lý luận là lập trường, quan điểm, nguyên lý, quy luật mà phương pháp là hệ thống những nguyên tắc chuẩn mực, yêu cầu, thao tác được rút ra từ những tri thức lý luận để điều chỉnh hoạt động của con người nhằm đạt được những mục đích nhất định

Nếu như trong tư duy kinh nghiệm, các phương pháp và thao tác logic được hình thành một cách tự phát, ngẫu nhiên, dựa trên những tri thức kinh nghiệm thì ở tư duy lý luận các phương pháp được hình thành trên những tri thức lý luận và được nhận thức, sử dụng một cách chủ động và tự giác

Nếu nhận thức lý luận bằng tư duy kinh nghiệm, chủ thể tư duy chỉ dừng lại ở trình độ kinh nghiệm thì không tránh khỏi thái độ tuyệt đối hóa kinh nghiệm và coi thường lý luận; sẽ rơi vào chủ nghĩa kinh nghiệm mà

“những người kinh nghiệm chủ nghĩa là những người vẫn còn là trừu tượng”

[19, tr.38]

Do đó, không thường xuyên trau dồi học tập, tích lũy tri thức và kinh nghiệm mới, thì đến một lúc nào đó, nguồn kinh nghiệm sẽ bị cạn kiệt hoặc trở nên mất giá trị trước những biến đổi Chính vì vậy, nhận thức lý luận bằng kinh nghiệm chứa đựng nguy cơ kìm hãm con người trong tình trạng lạc hậu,

Trang 22

mà không có sự chọn lọc, cân nhắc trước những điều kiện hoàn cảnh cụ thể ở thái cực này, người mang tư duy kinh nghiệm đã thiếu quan điểm lịch sử - cụ

thể, nhất định rơi vào bệnh “giáo điều kinh nghiệm” Người kinh nghiệm chủ

nghĩa thường tầm thường hóa lý luận, kinh nghiệm hóa lý luận, cố cắt xén,

“chế biến” lý luận cho phù hợp với kinh nghiệm của mình Và do đó, những người kinh nghiệm chủ nghĩa đã hạ thấp lý luận xuống trình độ kinh nghiệm, khó có thể tiếp thu được chủ nghĩa Mác - Lênin một cách thực chất, thấu đáo, khách quan, khoa học

Khác với tư duy kinh nghiệm, tư duy lý luận khoa học gắn liền với khả năng phê phán và tự phê phán, chính điều này đảm bảo cho nhận thức thực sự

là một hoạt động nỗ lực cao của lý trí Người có trình độ tư duy lý luận khoa học biết cách vượt qua giới hạn của kinh nghiệm, lấy sức mạnh của tư duy lý luận khoa học để nắm lấy thực chất, bản chất, quy luật vận động của sự vật, hiện tượng, tìm tòi cái tất yếu, những mối liên hệ mang tính quy luật, khi mà

tư duy kinh nghiệm không thể vượt xa hơn thì tư duy lý luận khoa học bắt đầu

tỏ là ưu thế vốn có của nó

Trang 23

19

Trong thời đại công nghệ thông tin, tư duy biện chứng vẫn còn nguyên giá trị, vẫn là đỉnh cao của trí tuệ nhân loại, tư duy đó đã được bổ sung, phát triển, hoàn thiện trong tình hình mới Thời đại ngày nay, đang đòi hỏi tư duy biện chứng duy vật cần hoàn thiện hơn nữa Đồng thời, cũng tạo ra những tiền

đề khách quan cho sự phát triển hoàn thiện phương pháp tư duy đó Song, điều quan trọng là mỗi chủ thể phải không ngừng đổi mới nâng cao năng lực trình độ tư duy của mình ngang tầm với thời đại mới

Cái cần cho ta hiện nay đó là tư duy lý luận biện chứng duy vật Mác-xít một loại hình tư duy được hình thành trên cơ sở đúc kết, chắt lọc những tri thức tinh túy nhất của khoa học và nó là sản phẩm kết tinh của tư duy nhân loại Bao chứa trong đó hạt nhân cơ bản và hợp lý của khoa học hiện đại là yếu tố duy vật và yếu tố biện chứng - mà hạt nhân của tư duy lý luận Mác-xít

là tư duy triết học Mác-xít

Lý luận Mác - Lênin là một minh chứng thuyết phục cho vai trò lý luận khoa học trong tiến trình lịch sử cũng như trong điều kiện hiện nay Do đó, để trình độ tư duy gắn với kết quả của việc rèn luyện năng lực tư duy, nên ta phải hiểu trình độ tư duy như là cấp độ ở những khả năng, hoạt động nhạy bén của những yếu tố tạo nên năng lực tư duy và năng lực liên kết sử dụng các yếu tố

đó với tư cách như những phương pháp tư duy khoa học Tuy nhiên, sự so sánh, phân biệt giữa trình độ tư duy lý luận và năng lực tư duy lý luận chỉ mang tính tương đối Năng lực tư duy thế nào nhất định sẽ thể hiện một trình

độ tư duy như thế đó Trình độ tư duy là nói đến mức độ đạt được về mặt phương pháp và mặt nội dung tư duy, để đạt đến trình độ tư duy lý luận cao đòi hỏi chủ thể không ngừng phấn đấu nâng cao năng lực tư duy lý luận Đồng thời, bên cạnh đó cũng có một số nhân tố ảnh hưởng đến trình độ tư duy

lý luận Trước hết phải nói đến sự tác động của cơ sở sinh học (tức những yếu

tố bẩm sinh) và trình độ học vấn ở mỗi người

Trang 24

20

Tóm lại, cái chúng ta cần hiện nay chính là tư duy lý luận biện chứng duy vật Tư duy đó đang ngày càng khẳng định, chứng minh cho vai trò to lớn của lý luận khoa học và cách mạng đối với tiến trình lịch sử nhân loại

1.1.2 Một số đặc điểm cơ bản của tư duy lý luận

Nếu xét theo lĩnh vực phản ánh, lĩnh vực nhận thức thì có nhiều loại hình tư duy: tư duy hình tượng, tư duy kỹ thuật, tư duy thực hành, tư duy lý thuyết Nếu xét theo mức độ nông sâu, rộng hẹp của quá trình và kết quả tư duy thì thường có 2 cấp độ: tư duy kinh nghiệm và tư duy lý luận, khác nhau

về chức năng, đối tượng, phương pháp Sau đây là đặc điểm cơ bản của tư duy

lý luận:

Thứ nhất: Tư duy lý luận phản ánh thế giới hiện thực một cách gián

tiếp, khái quát cao Tư duy là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, nảy sinh trên cơ sở nhận thức cảm tính Đặc trưng chung của tư duy là sự phản ánh khái quát, trừu tượng hoá Tư duy lý luận là trình độ cao của tư duy, nên tư duy lý luận có đặc điểm là phản ánh khái quát, trừu tượng cao khách thể hiện thực Nếu tư duy kinh nghiệm có đối tượng là những khách thể hiện thực riêng lẻ tồn tại trong không gian, thời gian với sự thống nhất giữa cái chung

và cái riêng, giữa đặc thù và phổ biến… thì tư duy lý luận có đối tượng là những khách thể trừu tượng, những khái niệm, những phạm trù, những quy luật Từ những cái trừu tượng, tư duy lý luận tiến hành tổng hợp, khái quát thành cái cụ thể trong tư duy Bởi thế, sản phẩm, kết quả mà tư duy lý luận có được là sự phản ánh khái quát, trừu tượng cao đối với khách thể hiện thực

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ:“Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử” [62, tr.497]

Trang 25

21

Tuy nhiên, do phản ánh khái quát và trừu tượng nên tư duy lý luận dễ

xa rời thực tế, dễ sa vào ảo tưởng Bởi vậy muốn xác định tính chân lý của các

tư tưởng thì lý luận phải gắn liền với thực tiễn

Thứ hai: Tư duy lý luận phản ánh một cách sâu sắc bản chất của sự vật

hiện tượng Tư duy kinh nghiệm do giới hạn phản ánh ở từng lĩnh vực, từng

sự kiện riêng lẻ nên tư duy kinh nghiệm thường dừng lại ở mô tả, phân loại các dữ liệu thu nhận được từ quan sát và thí nghiệm, tư duy kinh nghiệm tuy

đã mang tính trừu tượng và khái quát, song mới chỉ là bước đầu còn nhiều hạn chế Tư duy lý luận mang tính trừu tượng và khái quát cao, chủ yếu hướng vào phân tích, tổng hợp, khái quát chủ yếu tìm ra mối liên hệ bên trong quy định sự tồn tại, vận động, phát triển của các sự vật, hiện tượng, nên tư duy lý luận đem lại sự hiểu biết sâu sắc về bản chất, về tính quy luật của các sự vật khách quan Vì vậy, tư duy lý luận có khả năng đưa ra những dự báo khoa

học, định hướng cho hoạt động thực tiễn V.I.Lênin khẳng định: “Không có lý luận cách mạng thì không thể có phong trào cách mạng” [3, tr.30]

Thứ ba: Tư duy lý luận phản ánh sự vật hiện tượng trong tính chỉnh

thể, hệ thống Thế giới khách quan tồn tại rất đa dạng, phong phú nhưng bất

kỳ một sự vật, hiện tượng nào cũng tồn tại trong một chỉnh thể thống nhất giữa cái nên trong ổn định, bản chất, bị che đậy với cái bên ngoài phong phú, sinh động, ngẫu nhiên, hiện tượng Nhiệm vụ của tư duy lý luận không dừng lại ở nhận thức hiện tượng, bề ngoài mà phải đi sâu vào bản chất, gạt bỏ cái ngẫu nhiên, bề ngoài để nắm bắt cái tất yếu, cái quy luật Tư duy lý luận dựa trên các khái niệm, phạm trù, quy luật và bằng các thao tác tư duy Các khái niệm, phạm trù, quy luật của một lĩnh vực nào đó đựơc sắp xếp theo một trật

tự lôgíc nhất định Bằng cách đó, tư duy lý luận tái hiện lại quá trình hình thành và phát triển của khách thể nghiên cứu với toàn bộ các mặt và các quan

Trang 26

22

hệ tất yếu, bản chất, những quy luật vận động, phát triển của nó tạo thành một

hệ thống lý luận phản ánh đầy đủ hiện thực khách quan

Thứ tư: Tư duy lý luận có khả năng đưa ra các dự báo khoa học nhằm

điều chỉnh hành vi của con người trong hoạt động thực tiễn Tư duy lý luận cũng như tư duy nói chung đều có tính năng động, sáng tạo Bản chất của tư duy là sáng tạo Nhưng tính năng động, sáng tạo của tư duy lý luận không chỉ

là năng động, sáng tạo trong hiện thực, mà còn là và chủ yếu trên cơ sở những tri thức đã có, tư duy lý luận có khả năng tạo ra những mối liên hệ giữa các tri thức, sáng tạo ra những tri thức mới, dự báo về xu hướng vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng đã và đang diễn ra, nhờ những số liệu thu thập qua hoạt động thực tiễn Tư duy lý luận trên cơ sở phản ánh đúng quá khứ, hiện tại và với tất cả những yếu tố, những điều kiện đã biết tư duy lý luận thực hiện các thao tác theo quy luật của tư duy Chưa bao giờ con người lại cần đến dự báo khoa học của tương lai như ngày nay Có tư duy lý luận con người mới có khả năng phản ánh và dự báo đúng xu hướng vận động của hiện thực khách quan trong một khoảng thời gian dài, thậm chí rất dài và quy mô rất to lớn Vì vậy tư duy lý luận có chức năng dự báo, định hướng, dẫn đường cho

hoạt động thực tiễn Hồ Chí Minh nói: “Lý luận là đem lại thực tế trong lịch

sử, trong kinh nghiệm, trong cuộc sống tranh đấu, xem xét, so sánh thật kĩ lưỡng, rõ ràng làm thành kết luận Rồi đem nó chứng minh với thực tế Đó là

lý luận chân chính,lý luận như kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng

ta trong công việc thực tế’ [38, tr.8]

Tóm lại: Tư duy lý luận là cấp độ tư duy ở trình độ phản ánh các sự

vật, hiện tượng một cách khái quát, trừu tượng cao, nhưng sâu sắc, đầy đủ về mối liên hệ bản chất, tính tất yếu, tính quy luật của sự vật, hiện tượng Vì thế,

tư duy lý luận có vai trò rất to lớn trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, tư duy lý luận có khả năng phát hiện bản chất, quy luật Do đó, tư

Trang 27

23

duy lý luận có khả năng đưa ra các dự báo khoa học về xu hướng vận động và phát triển của chúng và vì vậy, phạm vi ứng dụng của nó cũng phổ biến rộng hơn nhiều so với tư duy kinh nghiệm Tư duy lý luận là đỉnh cao của tư duy con người, tư duy đó đang được phát triển trong thời đại ngày nay Khi xã hội loài người bước vào nên văn minh tin học, văn minh trí tuệ, khi tri thức khoa học đã thâm nhập vào mọi mặt của đời sống xã hội và đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, hàm lượng chất xám kết tinh trong sản phẩm của lao động chiếm tỉ lệ ngày càng cao… thì tư duy lý luận ngày càng có vị trí quan trọng đối với sự phát triển, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển (trong đó có Việt Nam) Thời đại ngày nay đang đặt ra thời cơ và thách thức để các nước này có thể rút ngắn khoảng cách so với các nước phát triển trên thế giới Vì vậy, việc phát triển tư duy lý luận, phát huy sức mạnh và vai trò của nó là yếu

tố quan trọng hàng đầu Ph ăngghen đã khẳng định: “Một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận” [30,

tr 489]

1.2 Thực chất của hoạt động quản lý và vai trò của tư duy lý luận đối với hoạt động quản lý của đội ngũ hiệu trưởng các trường tiểu học

1.2.1 Thực chất hoạt động quản lý của người hiệu trưởng tiểu học

Theo định nghĩa của từ điển Giáo dục: "Hiệu trưởng trường Tiểu học là thủ trưởng trường tiểu học, đại diện cho nhà nước về mặt pháp lý, có trách nhiệm và có thầm quyền cao nhất về mặt hành chính và mặt chuyên môn trong trường, chịu trách nhiệm trước phòng giáo dục và đào tạo về mặt tổ chức và quản lý toàn bộ hoạt động của Nhà trường"

Yếu tố có tính quyết định đưa tập thể nhà trường đi đúng hướng, đạt được mục tiêu giáo dục đó là vai trò của người hiệu trưởng Bởi vì hiệu trưởng trường tiểu học là người điều hành quá trình sư phạm trong một nhà trường theo sự đổi mới khoa học giáo dục và khoa học quản lý giáo dục

Trang 28

24

Người liên kết sức mạnh cộng đồng và nhà trường thực hiện xã hội hoá giáo dục phát triển sự nghiệp giáo dục tiểu học, người khích lệ, cải tiến đổi mới phương pháp giáo dục và đào tạo Do đó một trong những yêu cầu quan trọng của người hiệu trưởng phải có trình độ chuyên môn vững vàng mới quản lý và chỉ đạo chuyên môn toàn diện ở tiểu học được Tuy nhiên, với trình độ chuyên môn không thôi thì chưa đủ để lãnh đạo nhà trường luôn vững mạnh

mà người hiệu trưởng cần phải có một tầm nhận thức với một tư duy chiến lược tốt Người hiệu trưởng không chỉ xử lý những tình huống trong hiện tại

mà phải dự báo được xu hướng phát triển, hay nói cách khác người hiệu trưởng phải biết phác thảo một viễn cảnh tương lai cho đơn vị mình Điều đó đòi hỏi người hiệu trưởng phải luôn đổi mới trong cách nghĩ, cách làm, luôn cập nhật với những vấn đề giáo dục và phải có năng lực tư duy lý luận

Có ý kiến cho rằng trong các năng lực quản lý cụ thể của người hiệu trưởng thì có 3 năng lực sau đây là cơ bản và quan trọng nhất:

- Năng lực chỉ đạo, tổ chức thực tiễn các hoạt động của nhà trường để nâng cao hiệu quả đào tạo

- Năng lực nắm bắt, xử lý thông tin để đưa ra các quyết định quản lý chính xác, kịp thời

- Năng lực tạo dựng và duy trì mối quan hệ hữu cơ "nhà trường - gia đình - xã hội" để phục vụ cho nhiệm vụ dạy tốt và học tốt của nhà trường

Ngày nay, trong bối cảnh mới của kinh tế xã hội và xu hướng phát triển tiến bộ của giáo dục và đào tạo thì năng lực quản lý của hiệu trưởng trường học, dù là ở bậc học thấp nhất, phải được nâng cao một cách thực sự, hướng vào yêu cầu đáp ứng đầy đủ và rất năng động, sáng tạo các chức năng quản lý

đã được qui định Về hình thức biểu hiện năng lực quản lý thường được thể hiện ra ở phong cách quản lý của người hiệu trưởng, đó là một sự tích hợp nhiều phong cách quản lý và lãnh đạo:

Trang 29

25

- Của một viên chức hành chính giỏi, biết quản lý hoạt động dạy và học

trong nhà trường bằng pháp luật

- Của một "vị tư lệnh học đường", biết chỉ huy đội ngũ thầy cô giáo và

học trò bằng việc ra lệnh, vừa nghiêm vừa sáng, nên không phải là cưỡng bức,

áp đặt, mà lại có hiệu quả

- Của một nhà sư phạm đàn anh, rất sắc sảo trong việc cố vấn sư phạm

cho cả người dạy và người học, cùng các gia đình

- Của một người lãnh đạo cao nhất đơn vị trường học, biết điều khiển

các thành viên bằng sự vận động, thuyết phục, giáo dục, bằng sự phát huy dân

chủ nội bộ, bằng chính tấm gương của "con chim đầu đàn"…

- Và có thể còn là phong cách của một nhà quản lý kinh tế giáo dục giỏi

thời hội nhập quốc tế

Hoạt động quản lý, do bản chất và yêu cầu của nó, đòi hỏi người quản

lý phải có năng lực tư duy tốt Năng lực tư duy tốt sẽ tạo điều kiện để nâng

cao chất lượng và hiệu quả của công tác quản lý Vậy trước hết cần hiểu về

bản chất của công tác quản lý:

Quản lý được coi là một nhu cầu xã hội tất yếu của mọi tổ chức Khái

niệm quản lý thường được hiểu "là tác động có tổ chức, có hướng đích của

chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra"

Các chức năng cơ bản của quản lý:

Thứ nhất: chức năng kế hoạch hóa: là chức năng cơ bản nhất của quản

lý, bao gồm xác định mục tiêu, xây dựng chương trình hành động… Tiền đề

của kế hoạch hóa là kết quả của dự báo, chẩn đoán

Thứ hai: chức năng tổ chức cấu trúc: nội dung của chức năng này là

thiết lập bộ máy quản lý, bao gồm hai tiến trình cơ bản là phân chia bộ phận

Trang 30

26

và tạo lập sự phối hợp giữa các bộ phận Phải xác định rõ vai trò, nhiệm vụ của từng bộ phận, từng người, và cơ chế phối - kết hợp trong bộ máy quản lý

Thứ ba: chức năng chỉ huy, điều hành Thực chất là xác lập quyền chỉ

huy và sự can thiệp của chủ thể quản lý đối với quá trình quản lý Bao gồm: chỉ huy, ra lệnh, động viên, theo dõi, giám sát, điều chỉnh… Đây là hoạt động trung tâm và thường xuyên, nên thường mang tính tác nghiệp

Thứ tư: kiểm tra, đánh giá Được coi là tai mắt của quản lý, cung cấp

những thông tin cập nhật để chỉ huy, điều hành Đây là một chức năng đặc thù của quản lý

Tuy rằng mỗi chức năng đều có tính độc lập tương đối, nhưng giữa chúng luôn có mối liên kết hữu cơ với nhau Quá trình quản lý là quá trình thực hiện các chức năng nói trên theo một trình tự nhất định

Năng lực quản lý được hiểu là năng lực vận hành các chức năng quản

lý, các phương pháp quản lý, các công cụ quản lý… để đạt được mục tiêu quản lý đã đề ra Có thể liệt kê cụ thể ra như: năng lực xác định mục tiêu quản lý; năng lực cụ thể hóa mục tiêu quản lý thành chương trình hành động, thành các phương án xây dựng điều kiện về tổ chức, về nguồn lực ; năng lực sử dụng con người, xây dựng bộ máy quản lý, tạo dựng động lực quản lý; năng lực nắm bắt và xử lý thông tin quản lý; năng lực sử dụng phối hợp các phương pháp quản lý (phương pháp tổ chức - hành chính, phương pháp kinh

tế, phương pháp tâm lý - giáo dục), sử dụng các công cụ quản lý (bằng kế hoạch, bằng pháp luật, bằng thi đua khen thưởng, bằng kiểm tra, kiểm soát, bằng đòn bẩy lợi ích kinh tế); năng lực kiểm tra đánh giá, tổng kết kinh nghiệm; năng lực ra quyết định quản lý, chỉ huy, điều hành; năng lực ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý Trong đó thì năng lực trung tâm là năng lực quản lý con người Năng lực khó đạt cấp độ cao là năng lực ra quyết định quản lý

Trang 31

27

Trình độ quản lý là biểu hiện định lượng của năng lực quản lý, là cấp

độ của năng lực quản lý, năng lực nào thì trình độ ấy Năng lực và trình độ quản lý không phải chỉ được đánh giá qua bằng cấp về nghiệp vụ quản lý, qua các chức vụ quản lý được bổ nhiệm, mà chủ yếu là qua hiệu quả thực tế của hoạt động quản lý, được người lao động và xã hội thừa nhận

Trường học là thiết chế cơ bản của giáo dục và đào tạo, là tổ chức cơ sở của hệ thống giáo dục quốc dân, là nơi trực tiếp giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ theo mục tiêu của nền giáo dục Việt Nam xã hội chủ nghĩa Hoạt động trung tâm quan trọng nhất và có tính đặc thù của nhà trường là dạy và học của thầy

rõ ràng

Trường học phổ thông là đơn vị sự nghiệp, được quản lý theo chế độ thủ trưởng, theo cơ cấu quản lý trực tuyến (không có cấp quản lý trung gian)

Trang 32

28

Thủ trưởng trường học là hiệu trưởng, được nhà nước bổ nhiệm, là người chịu trách nhiệm quản lý tất cả các hoạt động của nhà trường, trực tiếp bao quát và nắm bắt tất cả các chức năng quản lý trường học

Chức năng cơ bản và các nhiệm vụ quản lý trường học Cũng như các hoạt động quản lý kinh tế xã hội khác, hoạt động quản lý trường học phải thực hiện đầy đủ cả 4 chức năng cơ bản như đã nêu ở phần trên: kế hoạch hóa, tổ chức cấu trúc, chỉ huy điều hành, kiểm tra đánh giá Nhiệm vụ quản lý trường học là quản lý các hoạt động trong trường (hoạt động dạy và học, xây dựng đội ngũ, cơ sở vật chất, tài chính), trong đó trọng tâm là quản lý hoạt động dạy và học

Năng lực quản lý của hiệu trưởng chính là năng lực vận hành các chức năng quản lý, các phương pháp quản lý, các công cụ quản lý, được qui định cho quản lý trường học, để đạt được mục tiêu quản lý đã đề ra - chất lượng và hiệu quả giáo dục và đào tạo của nhà trường Trong rất nhiều năng lực quản lý

cụ thể của hiệu trưởng trường học thì năng lực trung tâm là năng lực quản lý con người trong hoạt động dạy và học

Như chúng ta đã biết hiệu trưởng tiểu học là đại diện của Nhà nước trong đơn vị, có nhiệm vụ thực thi các yêu cầu của Nhà nước, của cộng đồng đặt ra cho Nhà trường, vì vậy hiệu trưởng phải hành động xử lý thế nào để

đồng nghiệp, học trò, cha mẹ học sinh đều “khẩu phục - tâm phục” Hiệu

trưởng một nhà trường ngày nay đương nhiên là một nhà sư phạm, song bên cạnh vai trò này, còn phải là một nhà kinh tế, nhà hoạt động xã hội Hay nói

như Perter Drucker: “Hiệu trưởng vừa phải có phong cách làm việc của chỉ huy quân đội, lại có phong cách của một nhạc trưởng, phong cách của huấn luyện viên bóng đá”

1.2.2 Vai trò của tư duy lý luận đối với hoạt động quản lý của hiệu trưởng tiểu học

Trang 33

Một là, tư duy lý luận là cơ sở để nâng cao năng lực, trình độ hiểu biết

chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước của đội ngũ hiệu trưởng các trường tiểu học

Quá trình đổi mới đất nước đòi hỏi yêu cầu cao về trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý nói chung và tư duy lý luận nói riêng nâng lên một tầm cao nhất định đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đời sống xã hội Thực tế cho thấy người hiệu trưởng là người quản lý toàn bộ các hoạt động diễn ra trong một trường học bao gồm chuyên môn, về chính trị, tư tưởng, về tài chính, an ninh… Người hiệu trưởng tiểu học thường xuyên tiếp nhận những thông tin

về lý luận và thực tiễn Nếu trình độ tư duy lý luận thấp thì người hiệu trưởng tiểu học sẽ lúng túng, mò mẫm trong nhận thức cũng như trong việc triển khai, vận dụng chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và của Ngành vào điều kiện cụ thể của trường mình Đối với hiệu trưởng các trường tiểu học, để hoàn thành tốt chức năng của mình, trước hết họ phải nắm chắc bản chất cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như phương pháp luận biện chứng Mác - xít để nhận thức xem xét, đánh giá đúng đắn và xử lý những vấn đề mới của thực tiễn đặt ra một cách thực sự khoa học Trình độ tư duy lý luận thấp làm cho tầm nhìn, tầm suy nghĩ bị hạn

chế sẽ là con đường dẫn tới “lối suy nghĩ tự nhiên chủ nghĩa, tức là suy nghĩ sai” [1, tr.77] Đồng thời, người hiệu trưởng phải biết cách truyền đạt, phổ

biến, tuyên truyền, triển khai cho đối tượng quản lý của mình nắm bắt được cái cơ bản, nội dung quan trọng của vấn đề Từ đó, hoạt động quản lý mới đạt hiệu quả

Trang 34

30

Trình độ tư duy lý luận còn giúp người hiệu trưởng biết cách động viên, khuyến khích tổ chức, giáo dục, tuyên truyền, thuyết phục cán bộ giáo

viên trong trường đoàn kết “đồng lòng nhất trí”, xây dựng niềm tin vào

Đảng, Nhà nước xã hội chủ nghĩa

Giáo dục, thuyết phục, khuyến khích, động viên tập hợp cán bộ giáo viên trong nội bộ trường tiểu học có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với hoạt động quản lý Hiệu trưởng trường tiểu học phải luôn là người công tâm, liêm khiết, có uy tín cao; đồng thời, họ thực sự có trình độ tư duy lý luận, am hiểu thực tiễn sâu sắc Bởi vì, chỉ có tư duy lý luận, hiệu trưởng trường tiểu học mới biết ứng xử, biết giải thích, vận động, thuyết phục cán bộ giáo viên để học hiểu được chủ trương chính sách của Ngành

Có thể thấy rằng, công việc của hiệu trưởng khá phức tạp, đôi khi căng thẳng và nhiều áp lực Mỗi ngày hiệu trưởng phải giải quyết những vấn đề thực tế về giảng dạy, sinh hoạt và ứng xử phức tạp, giải quyết yêu cầu và mâu thuẫn từ phụ huynh và học sinh

Cả nước nói chung, Thanh Hóa nói riêng đang đặt cho hiệu trưởng tiểu học trách nhiệm lớn lao Tư duy lý luận của đội ngũ hiệu trưởng đang là vấn

đề có tính thời sự - cần được giải quyết trên cơ sở những giải pháp hợp lý, cụ thể

Hai là, tư duy lý luận giúp cho người hiệu trưởng tiểu học vận dụng

một cách sáng tạo lý luận, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và của Ngành vào thực tiễn trường học

Bằng tư duy lý luận người hiệu trưởng tiểu học nhìn nhận, giải quyết các vấn đề diễn ra ở đơn vị mình quản lý một cách khách quan, khoa học, biết lựa chọn những yếu tố, mối liên hệ mang tính bản chất, tính quy luật của sự vật hiện tượng Hằng ngày, hiệu trưởng tiểu học phải tiếp xúc và xử lý quan

hệ với hàng trăm người Vì vậy, nhờ có tư duy lý luận, thông qua phương

Trang 35

31

pháp biện chứng khoa học Mác-xít, người hiệu trưởng tiểu học đề ra chủ trương khoa học phù hợp với thực tiễn nơi mà họ đang trực tiếp quản lý Tư duy lý luận còn giúp người hiệu trưởng phát hiện ra những mâu thuẫn, những vấn đề mới và giải quyết hợp lý mâu thuẫn ấy Biết so sánh, kháI quát những vấn đề mang tính phổ biến cũng như phát huy những thế mạnh riêng có của địa phương mình Nhờ đó, hoạt động quản lý mới đi vào quỹ đạo, tạo thành một guồng máy hoạt động suôn sẻ và hiệu quả Trình độ tư duy lý luận còn thể hiện ở năng lực tổ chức thực tiễn, vận dụng những cái chung một cách hợp lý, đúng đắn vào những việc cụ thể, đưa lý luận vào cuộc sống một cách sáng tạo Người quản lý tốt không chỉ nhiệt tình mà cần những tri thức rất đa dạng ở nhiều lĩnh vực, không chỉ là những hiểu biết lý luận mà còn ở phương pháp tiếp cận thực tiễn, triển khai toàn bộ những “công đoạn” của hiện thực trên cơ sở hệ thống, một lý luận tiên tiến phát triển Vì vậy, đồng chí Nguyễn

Văn Linh đã lưu ý: “Lý luận không là việc bàn cãi giữa các nhà lý luận mà thực chất là giải quyết quan điểm và năng lực chỉ đạo thực tiễn” [23, tr.41]

Ba là, tư duy lý luận giúp người hiệu trưởng tiểu học tăng cường khả

năng tiếp nhận, xử lý thông tin một cách đúng đắn và ra những quyết định chính xác, khoa học, kịp thời

Trước sự phát triển như vũ bão của khoa học - công nghệ, đặc biệt là sự đột phá sâu rộng của thông tin đã tác động đến nhiều mặt, yếu tố của đời sống

xã hội Đứng trước tình hình đó, người hiệu trưởng tiểu học phải biết điều chỉnh mình để khắc phục tình trạng mò mẫm khi chưa có lý luận soi đường Đồng thời, người hiệu trưởng phải biết phân tích, xử lý thông tin, điều chỉnh,

bổ sung những quyết định quản lý đúng đắn, khoa học Chính khâu xử lý thông tin góp phần quan trọng để cải tạo thực tiễn hiệu quả, vì thực tiễn cung cấp những thông tin, dữ liệu để là “nguyên liệu” khái quát hóa thành lý luận

Trang 36

32

Bốn là, tư duy lý luận giúp hiệu trưởng tiểu học nâng cao khả năng tổ

chức thực tiễn, tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận

Khả năng phân tích, tổng hợp là biết rút ra những thông tin cơ bản, xây dựng bổ sung phát triển lý luận thì sự hỗ trợ của tư duy có ý nghĩa quan trọng Nhất là đặc điểm trong công việc của hiệu trưởng là họ không được đào tạo ra

để trở thành hiệu trưởng nên họ vừa làm vừa tích lũy kinh nghiệm trong quá trình công tác Khả năng này thể hiện trong định hướng công tác, tổng kết thực tiễn trên cơ sở phương pháp luận khoa học, rút ra những bài học kinh nghiệm, tiếp thu cái mới, tạo điều kiện cho cái mới, cái tích cực phát triển, giải quyết mâu thuẫn trên cơ sở tôn trọng quy luật khách quan và khoa học Thông qua sự đa dạng, phong phú của thực tiễn, của tập hợp những ngẫu nhiên để nhờ tư duy lý luận mà tổng hợp, khái quát để nắm bắt bản chất, từ đó đưa ra quyết định một cách đúng đắn, kịp thời

Với những nội dung trên vừa phân tích, một lần nữa thấy được tầm quan trọng của tư duy lý luận, nó là một trong những phương tiện quan trọng

để đảm bảo cho hoạt động quản lý của người hiệu trưởng nói chung, và hiệu trưởng tiểu học nói riêng đạt kết quả cao

Trang 37

33

Chương 2 Thực trạng tư duy lý luận của đội ngũ hiệu trưởng các trường Tiểu Học

ở Thanh Hoá hiện nay

2.1 Năng lực tư duy lý luận của đội ngũ hiệu trưởng các trường

tiểu học ở Thanh Hóa hiện nay - Ưu điểm và nguyên nhân

2.1.1 Ưu điểm

Năng lực tư duy lý luận là một trong những phạm trù quan trọng của nhận thức luận Đã có nhiều công trình, nhiều bài viết đề cập đến bản chất, cấu trúc và vai trò của năng lực tư duy lý luận hướng tới làm sâu sắc thêm lý luận nhận thức và là cơ sở lý luận cho việc nâng cao năng lực của tư duy lý luận

Khi bàn về phạm trù năng lực tư duy, có ý kiến cho rằng, “năng lực tư duy là tổng hợp những phẩm chất trí tuệ đáp ứng yêu cầu nhận thức thế giới

và đảm bảo cho hành động sáng tạo của con người” Năng lực đó “được biểu hiện ở khuynh hướng nhận thức và hành động, ở kết quả xử lý thông tin và nhất là kết quả hành động Phương pháp tiếp cận vấn đề khác nhau chính là biểu hiện khác nhau của năng lực tư duy” [44, tr.26] Trong quan điểm trên, vấn đề trung tâm, bản chất của năng lực tư duy là tổng hợp những phẩm chất trí tuệ và trên cơ sở phẩm chất trí tuệ và trên cơ sở phẩm chất trí tuệ mới có hành động sáng tạo

Năng lực của con người nói chung chỉ thể hiện ra trong hoạt động thực tiễn, cho nên muốn đánh giá loại năng lực nào của một con người thì phải thông qua hoạt động của đối tượng trong lĩnh vực đó Do đó, đánh giá năng lực tư duy lý luận của hiệu trưởng tiểu học thì phải đánh giá gián tiếp, thông qua những biểu hiện của sự tác động từ năng lực đó đối với hoạt động quản lý

Trang 38

34

trường học của hiệu trưởng Bởi năng lực tư duy lý luận luôn chi phối mọi hoạt động quản lý, tạo ra năng lực quản lý trường học cho người hiệu trưởng

Năng lực tư duy lý luận của hiệu trưởng tiểu học được thể hiện chủ yếu

ở năng lực tiếp thu lý luận, đương lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên, năng lực tìm tòi, phát hiện những vấn

đề mới trong thực tiễn ở địa bàn phụ trách, năng lực vận dụng linh hoạt, sáng tạo lý luận, đường lối, chỉ thị, mệnh lệnh để xây dựng phương hướng chương trình, kế hoạch phù hợp, năng lực tổng kết thực tiễn rút ra bài học để góp phần xây dựng, bổ sung cho đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước, của Ngành và năng lực xử lý tình huống, dự báo về sự phát triển ở đơn vị Đây chính là tiêu chí để đánh giá ưu điểm và hạn chế tư duy lý luận của đội ngũ hiệu trưởng

Theo tiêu chí trên, đội ngũ hiệu trưởng tiểu học ở Thanh Hóa hiện nay

có những ưu điểm về năng lực tư duy lý luận chủ yếu sau:

Thứ nhất, một bộ phận hiệu trưởng tiểu học có sự nhận thức vấn đề ở

tầm khái quát

Điều đó giúp cho đội ngũ này xác lập tri thức đúng đắn về đối tượng

Để đưa ra được các quyết sách về một vấn đề, một đối tượng nào đó, cần phải hiểu nó trong trạng thái hiện tại cũng như xu hướng vận động, phát triển chung của nó trong tương lai Đây được xem như sự nhận diện vấn đề Các chính sách đưa ra chỉ hiệu quả nếu như chúng ta nhận thức đúng bản chất của vấn đề Việc nhận diện mơ hồ vấn đề sẽ dẫn đến việc đưa ra các quyết sách kém hiệu quả, thậm chí có hại

Đặc biệt đội ngũ này đã biết phân tích bối cảnh chung tác động đến vấn

đề cần giải quyết Nếu như việc nhận thức bản chất vấn đề chỉ liên quan đến phạm vi, lĩnh vực mà chủ thể phụ trách thì việc phân tích bối cảnh chung vượt

ra ngoài phạm vi đó Mỗi vấn đề nào đó cần giải quyết luôn nằm trong bối

Trang 39

ở Thanh Hóa luôn đặt ra nhiều thách thức cho từng nhà trường cũng như cho việc chỉ đạo của các cấp quản lý giáo dục Rất khó có một mô hình chung, một cách làm chung cho mọi nhà trường Hơn nữa, trong các tiêu chí của trường chuẩn quốc gia thì các tiêu chí thuộc về yếu tố chủ quan là quan trọng nhất, có vai trò quyết định Bởi thế nếu từng nhà trường không thực sự nỗ lực, không tạo ra được nội lực mạnh mẽ thì không thể phát triển tiến bộ theo hướng trường chuẩn quốc gia được Mỗi nhà trường đều có những đặc điểm riêng, những điểm mạnh và điểm yếu riêng nên phải có phương hướng phấn đấu và lộ trình thích hợp, không thể dập khuôn Chỉ có tập thể sư phạm, đứng đầu là người hiệu trưởng, mới có thể tạo dựng được yếu tố chủ quan này Qua nhiều năm xây dựng trường chuẩn quốc gia, ở lúc này lúc khác, nơi này nơi khác, do sức ép của địa phương và cũng do bệnh thành tích nên đã có hiện tượng phấn đấu giả, công nhận non, không thực chất Do đó đã xuất hiện một

số ít trường không giữ được được phẩm cấp sau một thời gian được công nhận Xem xét lại ở những trường được công nhận một cách thực chất thì chính người hiệu trưởng đã làm tốt vai trò một “kiến trúc sư” giỏi, một “đạo diễn” tài năng Không sốt ruột, không chạy theo thành tích, với cách nhìn nhận khái quát, đội ngũ hiệu trưởng ở các nhà trường này đã đánh giá đúng tình hình nhà trường, đưa ra các giải pháp rất trúng, hướng vào việc tập trung

Trang 40

36

sức của toàn trường xây dựng thật tốt các điều kiện chủ quan, phấn đấu thực chất cho chất lượng giáo dục toàn diện theo hướng của trường chuẩn quốc

gia Hai năm học gần đây tuy tốc độ công nhận trường chuẩn quốc gia có bị

chậm lại, nhưng chất lượng các trường được công nhận đi vào thực chất hơn Cho đến cuối năm học 2008-2009 ở Thanh Hóa đã có 384/727 trường tiểu học được công nhận trường chuẩn quốc gia (trong đó mức độ 2 là 13), chiếm tỷ lệ 52,82% (so với năm học trước là 50,3%) Ngay các trường đã được công nhận cũng luôn tự kiểm tra lại mình theo chuẩn Có đến 45/110 trường đã được công nhận trên 5 năm đang ở trong diện đề nghị cấp trên kiểm tra lại Về mặt này thì Thanh Hóa không mạnh bằng nhiều tỉnh khác, nhưng không vì thế mà

cứ làm ào ào để lấy thành tích, mặc dù bây giờ việc công nhận trường chuẩn quốc gia đã được Bộ phân cấp cho ủy ban nhân dân tỉnh Phương hướng các năm tới đương nhiên là phải đẩy mạnh, nhưng phải thực chất Theo định hướng đó thì vai trò người hiệu trưởng lại càng quan trọng, mà cái phẩm chất quyết định sự thành công của hiệu trưởng trong nhiệm vụ này chính là nhận thức ở tầm khái quát

Quản lý trường học cần mang tính sáng tạo, không thể rập khuôn mà cần phải thay đổi cho phù hợp với điều kiện thực tế Phải biến đổi tiến bộ theo

sự phát triển của kinh tế xã hội, của khoa học - công nghệ Vì vậy trong tác nghiệp hàng ngày một số hiệu trưởng đã biết cách sử dụng năng lực này để xử

lý thông tin Trong số 105 lượt hiệu trưởng mà tác giả khảo sát thì đã có 20% (ứng với 21 lượt đối tượng) coi trọng yêu cầu nghiên cứu tìm hiểu cơ sở khoa học và thực tiễn của quản lý, xác định mức độ khả thi tại trường mình nhằm tạo ra sự thông suốt về nhận thức 15,5% (ứng với 16 lượt) tổ chức thực hiện

có bài bản khoa học, chu đáo kiểm soát được tiến trình triển khai, dự đoán đúng diễn biến và kết quả 6,6% (ứng với 7 lượt) điểm nào chưa thông suốt

Ngày đăng: 24/03/2015, 09:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ph. Ăngghen (1971), Biện chứng tự nhiên, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện chứng tự nhiên
Tác giả: Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1971
2. Ph. ănghen (1984), Chống Đuyrinh, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chống Đuyrinh
Tác giả: Ph. ănghen
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1984
3. Hoàng Chí Bảo (1998), “Từ tư duy kinh nghiệm đến tư duy lý luận”, Tạp chí Thông tin lý luận, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ tư duy kinh nghiệm đến tư duy lý luận”, "Tạp chí Thông tin lý luận
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 1998
4. Đặng Quốc Bảo (1998), “Đào tạo bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục thế kỷ XXI”, Tạp chí Thế giới mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục thế kỷ XXI”, "Tạp chí Thế giới mới
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Năm: 1998
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (1998), Tài liệu huấn luyện chương trình bồi dưỡng hiệu trưởng trường tiểu học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu huấn luyện chương trình bồi dưỡng hiệu trưởng trường tiểu học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1998
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2000), Điều lệ trường tiểu học, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ trường tiểu học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2000
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2000), Chiến lược phát triển giáo dục 2001- 2010, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2000
8. Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Mỹ Lộc (1996), Đại cương về khoa học quản lý, Trường Cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương về khoa học quản lý
Tác giả: Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Mỹ Lộc
Nhà XB: Trường Cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo
Năm: 1996
9. Phạm Đình Đạt (1993), Vai trò của lý luận đối với quá trình đổi mới xã hội ta hiện nay, Luận văn thạc sỹ triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của lý luận đối với quá trình đổi mới xã hội ta hiện nay
Tác giả: Phạm Đình Đạt
Nhà XB: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 1993
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1987
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 2001
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 2001
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2006
15. Giải pháp bồi dưỡng cán bộ quản lý các trường phổ thông (2008), Kỷ yếu Hội thảo khoa học của Học viện Quản lý Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp bồi dưỡng cán bộ quản lý các trường phổ thông
Tác giả: Giải pháp bồi dưỡng cán bộ quản lý các trường phổ thông
Năm: 2008
16. Tiến Hải (1989), “Năng lực lãnh đạo”, Tạp chí Cộng sản, (10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng lực lãnh đạo
Tác giả: Tiến Hải
Nhà XB: Tạp chí Cộng sản
Năm: 1989
17. Dương Phú Hiệp (1987), “Quán triệt tư duy biện chứng là nội dung quan trọng của việc đổi mới tư duy”, Tạp chí Triết học, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quán triệt tư duy biện chứng là nội dung quan trọng của việc đổi mới tư duy”," Tạp chí Triết học
Tác giả: Dương Phú Hiệp
Năm: 1987
18. Vũ Hiền (2002), Báo cáo đề dẫn “Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh, huyện”, Tạp chí Cộng sản, (1), tr.38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh, huyện”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Vũ Hiền
Năm: 2002
19. Hồ Chí Minh với vấn đề cán bộ (1995), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh với vấn đề cán bộ
Tác giả: Hồ Chí Minh với vấn đề cán bộ
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1995
20. Học viện Quản lý Giáo dục (2007), Kỷ yếu Hội thảo khoa học Triết lý Giáo dục Việt Nam (2007), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội thảo khoa học Triết lý Giáo dục Việt Nam
Tác giả: Học viện Quản lý Giáo dục (2007), Kỷ yếu Hội thảo khoa học Triết lý Giáo dục Việt Nam
Năm: 2007
23. Nguyễn Hải Khoát (1983), “Năng lực tổ chức và rèn luyện năng lực tổ chức”, Tạp chí cộng sản, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng lực tổ chức và rèn luyện năng lực tổ chức”, "Tạp chí cộng sản
Tác giả: Nguyễn Hải Khoát
Năm: 1983

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm