1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự biến đổi lối sống của dân tộc raglai ở huyện bác ái tỉnh ninh thuận trong quá trình đổi mới hiện nay

160 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự biến đổi lối sống của dân tộc raglai ở huyện bác ái tỉnh ninh thuận trong quá trình đổi mới hiện nay
Tác giả Nguyễn Văn Hạnh
Người hướng dẫn PGS.TS. Trịnh Doãn Chính
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 160
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN  NGUYỄN VĂN HẠNH SỰ BIẾN ĐỔI LỐI SỐNG CỦA DÂN TỘC RAGLAI Ở HUYỆN BÁC ÁI TỈNH NINH THUẬN TRONG QUÁ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



NGUYỄN VĂN HẠNH

SỰ BIẾN ĐỔI LỐI SỐNG CỦA DÂN TỘC RAGLAI

Ở HUYỆN BÁC ÁI TỈNH NINH THUẬN

TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



NGUYỄN VĂN HẠNH

SỰ BIẾN ĐỔI LỐI SỐNG CỦA DÂN TỘC RAGLAI

Ở HUYỆN BÁC ÁI TỈNH NINH THUẬN

TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI HIỆN NAY

Chuyên ngành: Triết học

Mã số: 60.22.80

LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS TRỊNH DOÃN CHÍNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình do tôi nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trịnh Doãn Chính Nội dung, kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực Các tài liệu sử dụng trong luận án đều

có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng

Người cam đoan

NGUYỄN VĂN HẠNH

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài 1

2.Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 3

3.Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài 7

4.Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 8

5.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 9

6.Kết cấu của luận văn 9

Chương 1: VẤN ĐỀ LỐI SỐNG, NỘI DUNG VÀ ĐẶC ĐIỂM LỐI SỐNG CỦA DÂN TỘC RAGLAI HUYỆN BÁC ÁI TỈNH NINH THUẬN 10

1.1.MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LỐI SỐNG 10

1.1.1.Khái niệm lối sống 10

1.1.2.Các lĩnh vực biểu hiện lối sống 17

1.1.3.Vai trò lối sống trong đời sống xã hội 19

1.2.Nội dung và đặc điểm lối sống của dân tộc Raglai ở huyên Bác Aí tỉnh Ninh Thuận 23

1.2.1.Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, văn hóa và con người góp phần hình thành lối sống dân tộc Raglai ở huyện Bác Ái tỉnh Ninh Thuận 23

1.2.2.Nội dung và đặc điểm lối sống của dân tộc Raglai ở huyện Bác Ái tỉnh Ninh Thuận 38

Kết luận chương 1 72

Chương 2: QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI VÀ SỰ BIẾN ĐỔI VỀ LỐI SỐNG CỦA DÂN TỘC RAGLAI Ở HUYỆN BÁC ÁI TỈNH NINH THUẬN HIỆN NAY 74

Trang 5

2.1.QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI Ở HUYỆN BÁC ÁI TỈNH

NINH THUẬN HIỆN NAY 74

2.1.1.Nội dung quá trình đổi mới ở huyện Bác Ái hiện nay 74

2.1.2.Đặc điểm quá trình đổi mới ở huyện Bác Ái 103

2.1.3 Sự tác động của quá trình đổi mới đến lối sống của dân tộc Raglai 117

2.2.PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN LỐI SỐNG CHO DÂN TỘC RAGLAI Ở HUYỆN BÁC ÁI TỈNH NINH THUẬN 135

2.2.1.Những phương hướng cơ bản để hoàn thiện lối sống cho dân tộc Raglai ở huyện Bác Ái trong giai đoạn hiện nay 135

2.2.2.Những giải pháp cơ bản để hoàn thiện lối sống cho dân tộc Raglai ở huyện Bác Ái trong giai đoạn hiện nay 138

Kết luận chương 2 143

KẾT LUẬN CHUNG 145

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 148

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quá trình phát triển của lịch sử xã hội loài người là những nấc đi lên, biểu hiện một phần qua sự biến đổi về lối sống Khi bàn về lối sống ở mỗi giai đoạn lịch sử nhất định có những quan điểm khác nhau Tuy nhiên nói đến lịch sử của nhân loại, lối sống của con người được biểu hiện khá rõ nét ở từng thời kỳ lịch sử, thông qua những hình thức hoạt động cơ bản sau: hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị - xã hội, hoạt động văn hóa, hoạt động trong sinh hoạt và hoạt động giao tiếp

Lối sống có liên quan và ảnh hưởng đến mục đích sống, mức sống và chất lượng sống; gắn liền với trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, chính trị,

xã hội của con người và với mối quan hệ các tầng lớp, giai cấp xã hội và các dân tộc, đồng thời cũng tác động trở lại đối với quá trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của dân tộc đó

Nhận thức được tầm quan trọng của lối sống, Đảng và Nhà nước ta sớm định hướng cho việc xây dựng và hoàn thiện lối sống tích cực được cụ

thể hóa thông qua các văn kiện của các kỳ Đại hội toàn quốc của Đảng Tại

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V, Đảng ta đã khẳng định: “Trong chặng

đường trước mắt, có những điều kiện khách quan và chủ quan cho phép chúng ta tạo ra một xã hội đẹp đẽ về lối sống, về quan hệ giữa người với

người” [33, tr.93] Tinh thần đó được tiếp tục khẳng định tại Hội nghị lần

thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (1998) với mục tiêu:

“Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân

tộc” là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Cương lĩnh xây dựng đất

nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Để xây dựng và phát triển con người Việt Nam toàn diện, đáp ứng đòi

hỏi cấp bách của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Văn kiện Đại hội lần

Trang 7

thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam, khẳng định: “Mọi hoạt động văn hóa

nhằm xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống có văn hóa, quan hệ hài hòa trong gia đình, cộng đồng và xã hội” [37, tr.114]

Đặc biệt tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta đã xác định:

“các đoàn thể và cộng đồng dân cư trong việc chăm lo xây dựng con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân; có tri thức, sức khỏe, lao động giỏi; sống có văn hóa, nghĩa tình; có tinh thần quốc tế chân chính Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là

tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách” [39, tr.76-77]

Ninh Thuận tỉnh thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, là vùng đất với nhiều dãy núi đâm ra biển Đông, có địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam Lãnh thổ tỉnh được bao bọc bởi ba mặt núi với ba dạng địa hình gồm núi, đồi gò bán sơn địa và đồng bằng ven biển Do cấu trúc đa dạng về địa hình, Ninh Thuận thực sự là nơi lựa chọn định cư của nhiều đồng bào dân tộc Trong đó chủ yếu là người Chăm, Raglai, Cơ Ho, Chu Ru điều này tạo sự giao thoa của nhiều luồng văn hóa và sự đa dạng

về lối sống

Bác Ái là một huyện miền núi thuộc tỉnh Ninh Thuận, dựa lưng vào cao nguyên Lâm Viên bao la hùng vĩ Nơi đây đã từng là căn cứ địa cách mạng và là nơi định cư lâu đời của người Raglai, trong đó người Raglai chiếm hơn 95% dân số Người Raglai có lịch sử hình thành lâu đời với sự đa dạng về lối sống, đặc biệt là lối sống truyền thống mang nhiều giá trị tích cực cần được giữ gìn và phát huy Tuy nhiên, do chịu sự tác động của công cuộc đổi mới và trực tiếp là thể chế kinh tế thị trường làm biến đổi lối sống của

Trang 8

đồng bào nơi đây Những biểu hiện của lối sống truyền thống tốt đẹp dần bị mai một, thay vào đó là những biểu hiện của lối sống thiếu văn hóa Điều này làm cho đời sống của dân tộc Raglai vừa phong phú vừa phức tạp, nhiều xu hướng mới nảy sinh trong lối sống và những đòi hỏi bức xúc cần giải quyết

Hòa cùng quyết tâm chung của cả nước, thực hiện thắng lợi Nghị

quyết trung ương Đảng khóa VIII về: “Xây dựng và phát triển nền văn hóa

Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Với tinh thần đó đồng bào dân tộc Raglai ở Ninh Thuận nói chung và huyện Bác Ái nói riêng ra sức thực hiện thành công nhiệm vụ của thời kỳ đổi mới Trong đó, việc hoàn thiện lối sống cho đồng bào dân tộc Raglai trở thành nhiệm vụ trọng tâm và cấp bách

hơn bao giờ hết Từ những khía cạnh trên, tôi chọn đề tài: “Sự biến đổi lối

sống của dân tộc Raglai ở huyện Bác Ái tỉnh Ninh Thuận trong quá trình đổi mới hiện nay” làm luận văn thạc sĩ triết học của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Lối sống và sự biến đổi lối sống là vấn đề xuyên suốt của mọi thời đại

Vì thế, nó đã thu hút sự quan tâm của rất nhiều học giả từ phương Tây cho đến cả phương Đông nghiên cứu Nghiên cứu về lối sống nói chung ở nước

ta đã có nhiều công trình và bài viết khác nhau Tuy nhiên, các các công trình nghiên cứu và bài viết chủ yếu tập trung nghiên cứu về lối sống mang tính tổng quát, một số tập trung nghiên cứu ở phương diện sử học, dân tộc học, văn hóa dân gian, nội dung của “Luật tục”, ý nghĩa các bài hát, sử thi, truyện kể của đồng bào các dân tộc Từ đó ta có thể khái quát công trình nghiên cứu trên theo ba hướng chính như sau:

Hướng nghiên cứu thứ nhất, đó là các công trình nghiên cứu những

vấn đề có tính lý luận chung về lối sống Phạm trù “lối sống” được đề cập bởi quan điểm của các nhà nghiên cứu thời Xô Viết, Chủ tịch Hồ Chí Minh

và các Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam Trong đó, sự biến đổi lối

Trang 9

sống là một tất yếu khách quan mà thực tiễn cuộc sống luôn đặt ra Trong bất

kỳ hoàn cảnh nào của quá trình cách mạng, ngay cả trong thời kỳ chiến tranh cũng cần được giải quyết Tuy nhiên, do hoàn cảnh đất nước trong chiến tranh việc chống chủ nghĩa thực dân kéo dài nên vấn đề này chưa có điều kiện để quan tâm nghiên cứu nhất là trên lĩnh vực lý luận

Một số cuốn sách liên quan của các tác giả người Liên xô được dịch

và tái bản như cuốn: “Cơ sở lý luận văn hóa Mác - Lênin” do

A.I.Ác-nôn-đốp (chủ biên), Trường Văn Hóa tại thành phố Hồ Chí Minh tái bản Tiếp

thu lý luận về xây dựng “Lối sống Xô Viết” của Liên Xô, vấn đề lối sống mới được chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa và phát huy Trong cuốn sách “Đời sống

mới” của Người dưới bút hiệu Tân Sinh được Ủy ban Trung ương vận động

đời sống mới xuất bản vào tháng 3-1947 Đây là cuốn sách được Người viết trong điều kiện đất nước đang kháng chiến chống Pháp xâm lược Ngay trong lời tựa Người cũng chỉ rõ tính cấp thiết của việc viết cuốn sách này

Tiếp đó với bút hiệu XYZ, Hồ Chí Minh viết quyển: “Sửa đổi lề lối làm

việc”, Nhà xuất bản Sự Thật in năm 1950 Đặc biệt “Di chúc” là tài sản tinh

thần vô giá, Người đã dành trọn 5 năm để hoàn thành nó, “Di chúc của chủ

tịch Hồ Chí Minh”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội, xuất bản năm

2004 Cả ba quyển này tuy chưa nêu lên được khái niệm “lối sống” nhưng đều đề cập đến tinh thần cơ bản của lối sống mới có văn hóa

Lối sống, trong các Văn kiện của Đảng thường xuyên được đề cập, cụ thể tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (1976) và lần thứ V (1981) Đặc biệt Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đại hội của đổi mới, lối sống lại một lần nữa được quan tâm và xác định là một trong những nhiệm vụ cấp

bách của công cuộc đổi mới Kế tiếp, ngày 16 tháng 7 năm 1998 tại Nghị

quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII:

“Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân

Trang 10

tộc” được thông qua Lối sống là chủ đề được nhấn mạnh xem là nội dung cấp bách trong quá trình xây dựng xã hội Tinh thần đó được toàn Đảng và toàn dân ta tiếp tục đưa vào những định hướng lớn tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, X và XI Từ đó, việc nghiên cứu về lối sống và sự biến đổi lối sống được thực hiện bằng nhiều công trình khoa học tiếp nối nhau

Hướng nghiên cứu thứ hai, đó là các đề tài nghiên cứu lối sống tập

trung chủ yếu lối sống ở đô thị, lối sống thanh niên và lối sống cộng đồng hiện nay dưới tác động của thời kỳ mở cửa, hội nhập quốc tế Sau đây xin

nêu một số tác giả và công trình tiêu biểu:“Lối sống trong đô thị hiện nay”,

do PGS.TS Lê Như Hoa (chủ biên), Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, Hà

Nội, xuất bản năm 1993; “Lối sống đô thị miền Trung, mấy vấn đề lý luận và

thực tiễn”, do PGS.TS Lê Như Hoa (chủ biên), Nhà xuất bản Văn hóa thông

tin, Hà Nội, xuất bản năm 1996; “Giáo trình lý luận văn hóa và đường lối

văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam”, do GS.Trần Văn Bình (chủ biên),

Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, xuất bản năm 2001; “Đạo đức, lối

sống và đời sống văn hóa thủ đô trong thời kỳ đẩy mạnh Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, do TS Nguyễn Viết Chức (chủ biên), Viện Văn hóa

và nhà xuất bản Văn Hóa thông Tin, Hà Nội, xuất bản năm 2001; “Xây dựng

lối sống mới trong điều kiện hiện nay”, do Phan Huy Kỳ, Nghiên cứu lý

luận, số 7, 1999; “Mấy suy nghĩ về xây dựng lối sống văn hóa cơ sở hiện

nay”, do Nguyễn Hữu Thức, Tạp chí Thông tin lý luận, số 8, 1999; “Mấy vấn

đề về lối sống trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa

xã hội”, do Lê Huy Ứng, xuất bản năm 1995; “Xã hội hóa lối sống và xây dựng lối sống trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN”, do Nguyễn

Chí Dũng, Tạp chí Sinh hoạt lý luận, số 5 năm 2000; “Giáo dục lối sống cho

thanh niên đô thị hiện nay”, do Cao Văn Định, Tạp chí Sinh hoạt lý luận, số

2, 2000; “Vấn đề đạo đức, lối sống cán bộ Đảng viên và một số giải pháp từ

Trang 11

cơ sở”, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 1, 2000; “Lối sống và tư duy của cộng đồng người Việt vùng Đông Nam Bộ trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế”, do PGS.TS Doãn Chính (chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị quốc

gia, Hà Nội, xuất bản năm 2013; Tạp chí Triết học, số 5-9-11, 2013; Lý luận Chính trị, số 7, 2013,… ngoài ra còn nhiều đề tài khoa học, luận văn thạc sĩ

và luận văn tiến sĩ khác Nhìn chung những công trình nêu trên có điểm chung là đi sâu lý giải bản chất khái niệm “lối sống”, chỉ ra lĩnh vực biểu hiện của lối sống, những đặc điểm của lối sống ở phạm vi rộng, bao quát

Hướng nghiên cứu thứ ba, đó là các công trình sách báo tập trung

phân tích nội dung, đặc điểm và xu hướng biến đổi về văn hóa truyền thống của dân tộc Raglai ở tỉnh Ninh Thuận, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Bình Thuận chịu tác động bởi văn hóa bên ngoài Các công trình nghiên cứu tiêu biểu

như sau: “Văn hóa Raglai những gì còn lại”, do GS.TSKH Phan Quốc Anh

(chủ biên), Nhà xuất bản Khoa học xã hội, xuất bản năm 2007 Đây là cuốn sách đã phản ánh toàn bộ những giá trị văn hóa truyền thống của người Raglai ở Ninh Thuận, đồng thời thể hiện nỗi trăn trở của tác giả trước xu thế phát triển và hội nhập làm cho kho tàng văn hóa phong phú của người

Raglai còn gì, mất những gì?; “Luật tục Raglai” (Song ngữ Việt - Raglai),

do Nguyễn Thế Sang, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, Hà Nội, xuất bản năm

2007, cuốn sách thể hiện đam mê tác giả đi tìm những giá trị văn hóa ẩn sâu trong các Luật tục cổ xưa của người Raglai, tác giả cuốn sách phần nào đã mang lại giá trị khoa học và giá trị thực tiễn cao góp phần phục vụ công tác quản lý và phát huy các giá trị truyền thống của cộng đồng các dân tộc

thiểu số; “Lễ tang của người Raglai cực Nam Trung Bộ”, Hải Liên, Nhà

xuất bản Văn hóa dân tộc, xuất bản năm 2010, đây là đề án nghiên cứu nhằm công bố và phổ biến tài sản văn hóa - văn nghệ dân gian các dân tộc Việt Nam trong đó có dân tộc Raglai; bên cạnh đó còn có nhiều cuốn sách

Trang 12

của nhiều tác giả nghiên cứu ở những góc độ khác nhau về văn hóa như:

“Luật tục Raglai những gì còn lại”, Phan Đăng Nhật (chủ biên), Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, Hà Nội, xuất bản năm 2007; “Mối quan hệ giữa Luật

tục Raglai và luật tục Chăm”, do Phan Đăng Nhật, Hội thảo quốc tế lần II

về “Văn Hóa và ngôn ngữ Raglai”, Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12 năm

2000; “Luật tục và công cuộc phát triển kinh tế xã hội Raglai”, Nguyễn Thế Sang, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, Hà Nội, xuất bản năm 2010; “Tri

thức dân gian của người Raglai”, Chamaliaqriya Tiẻnq - Trần Kiêm

Hoàng, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, Hà Nội, xuất bản năm 2011; “Văn

hóa Raglai”, do GS.TSKH Phan Quốc Anh, Nhà xuất bản Khoa học xã

hội, xuất bản năm 2012

Nhìn chung các công trình nêu trên chủ yếu làm rõ giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Raglai, một số luật tục lâu đời của người Raglai ở khu vực Duyên Hải Nam Trung Bộ Tuy nhiên, bàn về sự biến đổi lối sống dưới tác động của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đối với dân tộc Raglai ở huyện Bác Ái tỉnh Ninh Thuận là nội dung hoàn toàn mới chưa ai nghiên cứu Với tinh thần kế thừa những thành quả quý giá của các công trình nghiên cứu trước đó, luận văn cố gắng phân tích làm rõ những lối sống truyền thống tốt đẹp và chỉ ra nguyên nhân làm biến đổi lối sống đề từ

Trang 13

Nhiệm vụ:

Một là, làm rõ khái niệm lối sống, các lĩnh vực biểu hiện của lối sống

và vai trò của nó trong đời sống xã hội, từ đó thấy được nội dung, đặc điểm lối sống của người Raglai và tầm quan trọng trong việc giữ gìn, phát huy những lối sống truyền thống tốt đẹp của dân tộc Raglai dưới tác động cơ chế thị trường

Hai là, trình bày, phân tích chỉ ra những yếu tố làm biến đổi lối sống, thực trạng và xu hướng biến đổi làm cho đồng bào dân tộc Raglai được gì và mất những gì

Ba là, trên cơ sở đó nêu lên phương hướng chung, từ đó đề xuất những giải pháp chủ yếu để hoàn thiện lối sống tích cực cho dân tộc Raglai để có thể phù hợp với quá trình đổi mới ở nước ta hiện nay

Phạm vi nghiên cứu:

Chủ thể của sự biến đổi lối sống mà luận văn nghiên cứu không phải toàn bộ lối sống các thành phần dân tộc ở huyện Bác Ái tỉnh Ninh Thuận mà chỉ là lối sống dân tộc Raglai ở huyện Bác Ái - Ninh Thuận

Phạm vi về sự biến đổi lối sống rất rộng nên luận văn chỉ giới hạn ở những hình thức hoạt động cơ bản thường ngày gắn với đời sống vật chất và tinh thần của người Raglai Về mốc thời gian luận văn tập trung khảo sát từ giai đoạn đổi mới (1986) đến hiện nay, đặc biệt tập trung giai đoạn 2000 đến 2014

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở thế giới quan và

phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; các chủ trương, chính sách, của Đảng và nhà nước về việc giải quyết

xu hướng biến đổi lối sống của dân tộc Raglai ở Bác Ái tỉnh Ninh Thuận hiện nay

Trang 14

Phương pháp nghiên cứu: Luận văn chú trọng sử dụng các phương

pháp phân tích và tổng hợp, logic và lịch sử, so sánh và đối chiếu, phương pháp quy nạp và diễn dịch; thống kê, điều tra xã hội học để nghiên cứu và trình bày luận văn

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Ý nghĩa khoa học: Luận văn góp phần hệ thống hóa và làm rõ hơn các

quan niệm khác nhau từ trước tới nay về lối sống, vai trò của lối sống và biểu

hiện biến đổi lối sống ở dân tộc Raglai hiện nay

Ý nghĩa thực tiễn: Những đánh giá về thực trạng lối sống và những

phương hướng, giải pháp hoàn thiện lối sống cho dân tộc Raglai ở huyện Bác

Ái tỉnh Ninh Thuận mà luận văn đề xuất sẽ góp phần bổ sung và hoàn thiện chủ trương, chính sách của Đảng bộ và chính quyền huyện Bác Ái trong việc xây dựng lối sống đẹp, giàu tính văn hóa cho dân tộc Raglai ở Ninh Thuận trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay

Ngoài ra luận văn còn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu, cung cấp cơ sở lý luận cho đội ngũ lãnh đạo huyện Bác Ái trong quá trình xây dựng và hoàn thiện lối sống có văn hóa cho đồng bào dân tộc Raglai

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 2 chương, 4 tiết

Trang 15

Chương 1 VẤN ĐỀ LỐI SỐNG, NỘI DUNG VÀ ĐẶC ĐIỂM LỐI SỐNG CỦA DÂN TỘC RAGLAI HUYỆN BÁC ÁI TỈNH NINH THUẬN

1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LỐI SỐNG

1.1.1 Khái niệm lối sống

Để làm rõ nội dung và đặc điểm lối sống của dân tộc Raglai huyện Bác Ái tỉnh Ninh Thuận luận văn sẽ làm rõ một số vấn đề lý luận chung về lối sống, cơ sở lý thuyết cho việc tìm hiểu lối sống của dân tộc Raglai Lối sống là một hình thức biểu hiện của văn hóa Nói đến lối sống là nói đến cả khía cạnh văn minh của nhân loại và truyền thống một dân tộc, cả giá trị phổ quát và các giá trị phù hợp với điều kiện lịch sử của từng thời kỳ lịch sử nhất định Lối sống hiểu một cách chung nhất là tổng hợp những nét cơ bản, tiêu biểu, ổn định các hình thức hoạt động sống đặc trưng cho mỗi dân tộc, quốc gia, vùng địa lý, nhóm xã hội và cá nhân trong những điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội cụ thể Đó là cách thức hoạt động, ứng xử của chủ thể (cá nhân, tập thể) để đáp ứng nhu cầu sống, ăn, mặc, ở, đi lại, tái tạo giống nòi đến học tập, vui chơi, giao tiếp và thoả mãn nhu cầu trí tuệ, thẩm mỹ ; từ hoạt động kinh doanh, chính trị, văn hoá đến việc tổ chức đời sống

cá nhân, gia đình và xã hội

Lối sống người Việt Nam được hình thành do điều kiện địa lý, kinh tế, chính trị cùng với đó là đặc điểm tâm lý và văn hoá truyền thống của dân tộc Việt Nam quy định Vì vậy, lối sống của người Việt Nam chính là sự hoá thân của các đặc điểm truyền thống dân tộc, mang những nét riêng thể hiện bản sắc của con người và văn hoá Việt Nam

Lối sống là cách thức sống, phương thức sống của con người trong một chế độ xã hội nhất định Lối sống có nhiều nội dung và đặc điểm riêng,

Trang 16

quan hệ chặt chẽ với phương thức sản xuất của mỗi thời đại Đồng thời lối sống còn là thói quen có định hướng, là phương cách thể hiện tổng hợp tất cả các cấu trúc, nền văn hoá, đặc trưng văn hoá của một con người hay một cộng đồng Chính vì vậy, từ trước tới nay đã có nhiều nhà nghiên cứu bàn về lối sống, quan niệm về lối sống ở mỗi thời điểm có sự thay đổi và mang những đặc điểm và nội dung riêng biệt Vì vậy, về vấn đề lối sống của cộng đồng các dân tộc Việt Nam trước hết, chúng ta cần có thái độ khách quan trong việc đánh giá và tổng kết các quan niệm về lối sống trước đây, trên cơ

sở kế thừa có chọn lọc và xây dựng quan điểm khoa học về lối sống

Theo quan điểm của Unesco “lối sống” được đề cập đến thông qua định nghĩa về văn hóa như sau: “Tổng thể những nét đặc sắc về tinh thần, vật chất, tri thức và cảm xúc tiêu biểu cho một xã hội hay một tập đoàn xã hội và bao gồm nghệ thuật và văn học, những lối sống những quyền căn bản của con người, các hệ thống giá trị, các truyền thống và tín ngưỡng” [108, tr.12-13] Như vậy, đối với Unesco lối sống là một bộ phận cấu thành nên văn hóa và nó được đặt trong mối quan hệ biện chứng với các thành tố của văn hóa

Theo định nghĩa của các nhà nghiên cứu Liên Xô và các nước Xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu trước đây, họ đã đưa ra hơn 50 định nghĩa tiêu biểu về lối sống Trong đó các định nghĩa đều nhìn nhận lối sống gắn liền với hoạt động sống của con người Tác giả A.M.Ru Mi-an-tiep cho rằng “Lối sống xã hội chủ nghĩa” là: “Những hình thức hoạt động sống của con người vốn có của chủ nghĩa xã hội, được quy định bởi điều kiện sống của họ trong phạm vi

giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản” [03, tr 202] Hay trong cuốn “Lối

sống xã hội chủ nghĩa” của G.E.Gle-dơ-man, khẳng định rằng: “Lối sống là

một tổng thể, một hệ thống những đặc điểm chủ yếu nói lên hoạt động của các dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định” [96, tr.45]

Trang 17

Qua đây cho thấy các nhà nghiên cứu ở các nước xã hội chủ nghĩa thuộc Liên Xô cũ khi bàn về khái niệm “lối sống” thường nhấn mạnh vào tính chất xã hội chủ nghĩa và xác định tiêu chí của nó từ sự đối lập với lối sống tư sản

Dưới góc độ nghiên cứu của các nhà kinh điển Chủ nghĩa Mác - Lênin, lối sống là một trong những phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử, là phương thức sống, hoạt động sống gắn liền với một phương thức sản xuất nhất định

Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” C.Mác đã từng chỉ rõ mối quan hệ giữa

con người và điều kiện, hoàn cảnh sống bằng các khái niệm: phương thức sản

xuất, phương thức sinh sống C.Mác viết:“không nên nghiên cứu phương thức

sản xuất ấy đơn thuần theo khía cạnh nó là sự tái sản xuất ra đời sống thể xác của các cá nhân Mà hơn thế, nó là một phương thức hoạt động nhất định của những cá nhân ấy, một hình thức nhất định của hoạt động sống của họ, một phương thức sinh sống nhất định của họ” [63, tr 30]

Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định mỗi phương thức sản xuất tạo nên một cách sinh hoạt, cách sống tương ứng Ở không gian và thời gian xác định của từng dân tộc, từng vùng miền, từng cá nhân cụ thể sẽ hình thành nên lối sống riêng, nghĩa là không có lối sống cho mọi thời đại Từ mối quan

hệ, tác động qua lại giữa tồn tại xã hội với ý thức xã hội, đã hình thành nên lối sống cho từng cộng đồng vừa có nét tương đồng và khác biệt Do đó, trong cùng một phương thức sản xuất, có thể tồn tại nhiều lối sống khác nhau, thậm chí đối lập nhau

Tuy nhiên, lối sống ngoài sự tác động của phương thức sản xuất còn chịu sự ảnh hưởng nhiều yếu tố khác như: chính trị, văn hóa, tư tưởng Hơn nữa lối sống vừa mang tính phổ quát, vừa biểu hiện tính riêng, tính đặc thù

Ở đây C.Mác đặt lối sống trong quan hệ biện chứng với phương thức sản

Trang 18

xuất vật chất và trong sự thống nhất biện chứng giữa nhân tố khách quan với nhân tố chủ quan của đời sống xã hội

Lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc đến nhiều nội dung liên

quan đến lối sống Trong tác phẩm “Đời sống mới”, Hồ Chí Minh khẳng

định nội dung đời sống mới và thực hành đời sống mới khá chi tiết và dễ hiểu thông qua cách: ăn, mặc, ở, đi lại và làm việc Người nói: “Cách ăn mặc phải sạch sẽ, giản đơn, chất phác, chớ lướt thướt, xa xỉ, lòe loẹt Cách làm việc, phải siêng năng, có ngăn nắp, có tinh thần phụ trách, đã làm việc gì thì làm cho kỳ được, làm đến nơi đến chốn Chớ làm dối Cách ứng xử, đối với đồng bào thì nên thực hành, thân ái, sẵn lòng giúp đỡ ” [78, tr.117 ]

Trong tác phẩm “Đường cách mệnh”, Hồ Chí Minh đã nêu tư cách

một người cách mạng thể hiện qua phương thức ứng xử đối với bản thân mình, đối với người khác, đối với công việc Người chỉ rõ: “Tự mình phải: Cần kiệm Hòa mà không tư Cả quyết sửa lỗi mình Cẩn thận mà không nhút nhát Hay hỏi Nhẫn nại (chịu khó) Hay nghiên cứu, xem xét Vị công vọng

tư Không hiếu danh, không kiêu ngạo Nói thì phải làm Giữ chủ nghĩa cho vững Hy sinh Ít lòng tham muốn về vật chất Bí mật Đối với người: Với từng người thì khoan thứ Với đoàn thể thì nghiêm Có lòng bày vẽ cho người Trực mà không táo bạo Hay xem xét người Làm việc phải: xem xét hoàn cảnh kỹ càng Quyết đoán Dũng cảm Phục tùng đoàn thể” [75, tr.260]

Như vậy, lối sống theo Hồ Chí Minh là toàn bộ những hoạt động vật chất và tinh thần diễn ra xung quanh đời sống con người, nó là sản phẩm do chính con người tạo nên Điều này cho thấy Hồ Chí Minh nhìn nhận lối sống trong quan hệ biện chứng với văn hóa, chính văn hóa là mảnh đất cho lối sống biểu hiện Trong định nghĩa về văn hóa, Người viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những

Trang 19

công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng

Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa…” [76, tr.431]

Kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (1981) khái niệm “lối sống” được đề cập: “Trong chặng đường trước mắt, có những điều kiện khách quan

và chủ quan cho phép chúng ta tạo ra một xã hội đẹp đẽ về lối sống, về quan

hệ giữa người với người” [33, tr.93] Tiếp thu tinh thần của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V, tại Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng

khóa VIII (1998) chỉ rõ: “Xây dựng con người Việt Nam, có tinh thần yêu

nước, tự cường dân tộc, có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng; có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kỷ thuật, sáng tạo, năng suất cao vì lợi ích của bản thân,

gia đình, tập thể và xã hội” [40, tr.59]

Để khẳng định tầm quan trọng và tính cấp bách của việc xây dựng lối sống mới đáp ứng nhu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong giai đoạn mới, kế thừa tinh thần Hội nghị Trung ương Đảng khóa VIII, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, X, vấn đề lối sống tiếp

tục được nghiên cứu và nhìn nhận một cách nghiêm túc Đặc biệt tại Đại

hội Đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ XI (2011), vấn đề “lối sống” một

lần nữa được khẳng định:“Tập trung xây dựng đời sống, lối sống và môi

trường văn hóa lành mạnh; coi trọng văn hóa trong lãnh đạo, quản lý, văn hóa trong kinh doanh và văn hóa trong ứng xử Chú trọng xây dựng nhân cách con người Việt Nam về lý tưởng, trí tuệ, đạo đức, đời sống, thể chất, lòng tự tôn dân tộc, trách nhiệm xã hội, ý thức chấp hành pháp luật, nhất là

trong thế hệ trẻ” [39, tr.126]

Trang 20

Dưới góc nhìn của các nhà khoa học khi nghiên cứu về lối sống ở Việt Nam, cho thấy có ba giai đoạn tiếp cận và nghiên cứu rất cụ thể Giai đoạn từ

1970 về trước, lối sống được nghiên cứu dưới góc độ của chủ nghĩa duy vật lịch sử Giai đoạn thứ hai, từ thập niên 80 của thế kỉ XX, lối sống là đối tượng nghiên cứu của chuyên ngành chủ nghĩa cộng sản khoa học Và hiện nay lối sống là đối tượng nghiên cứu của xã hội học, văn hóa học

Từ các quan điểm trên về “lối sống”, khi định nghĩa “lối sống” cần

dựa vào các tiêu chí sau đây: Thứ nhất, lối sống là một phương thức sinh sống nhất định của con người mà mặt cơ bản là phương thức sản xuất Thứ hai, lối

sống phải được dựa trên mối quan hệ biện chứng giữa con người và hoàn cảnh sống và là dạng hoạt động sống tương đối ổn định của cá nhân và cộng đồng

Thứ ba, lối sống là một thực thể xã hội với hệ thống những chuẩn mực xã hội

của một cộng đồng nhất định mà cá nhân phải tuân theo Như vậy, chúng ta có định nghĩa lối sống như sau: Lối sống là tổng hòa những dạng hoạt động sống

ổn định của cộng đồng (dân tộc, giai cấp, nhóm xã hội ) và các cá nhân, được vận hành theo những chuẩn giá trị xã hội nào đó trong sự thống nhất với các điều kiện của một Hình thái kinh tế - xã hội nhất định

Để có cái nhìn khách quan và toàn diện hơn về lối sống, chúng ta cần làm rõ một số khái niệm liên quan như: lẽ sống, nếp sống, mức sống, phong

cách sống, lý tưởng sống Khái niệm “lẽ sống” hay còn gọi đạo lý sống, là

biểu hiện quan trọng của lối sống Lẽ sống được xem là mặt ý thức của lối sống, nó phản ánh mặt nhận thức của con người, nó đóng vai trò dẫn dắt,

định hướng, làm cho lối sống ổn định Về “mức sống” là khái niệm phản ánh

mặt chất của lối sống dựa trên chỉ số về sự đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần của cộng đồng Tuy nhiên, không nên gọi mức sống là mặt quyết định đối với lối sống Sống đẹp có văn hóa không phải là đầy đủ vật chất mà

là sống có ý nghĩa dưới sự dẫn dắt của lẽ sống cao đẹp Về “nếp sống” là

Trang 21

mặt ổn định của lối sống Đó là những hoạt động sống đã trở thành thói quen, thành phong tục, tập quán, thành quy ước của cộng đồng G.S Vũ Khiêu đã từng khẳng định: “Toàn bộ những thói quen hình thành trong cuộc sống hàng ngày, những thói quen đã trở thành nếp trong sản xuất, chiến đấu, trong quan hệ xã hội và trong sinh hoạt riêng tư của mỗi con người Những

thói quen ấy còn được gọi là tập quán” [50, tr.135] Về “phong cách sống”

là hình thức biểu hiện của lối sống thông qua hoạt động và những quan hệ xã hội làm nên nét riêng biệt trong cách thức, phong thái lối sống của các cá nhân và nhóm xã hội Về “lý tưởng sống” là mục đích tốt đẹp mà mỗi con người muốn hướng tới Người có lý tưởng sống cao đẹp là người luôn suy nghĩ và hành động để hoàn thiện mình hơn, giúp ích cho mình, cho gia đình

và xã hội, nó góp phần hoàn thiện lối sống Để đạt được khát vọng, mong muốn con người luôn tìm cho mình một lẽ sống hay đúng hơn là một lý tưởng Lý tưởng sống sẽ hướng dẫn con người vượt qua mọi chông gai và can đảm chấp nhận mọi nghịch cảnh, vì có một lý tưởng, một lẽ sống để theo đuổi và là niềm hạnh phúc lớn lao nhất của con người

Từ các quan điểm về lối sống cho thấy tầm quan trọng của việc định hình các chuẩn mực trong việc xây dựng lối sống có văn hóa Muốn làm được điều này cần có sự kết hợp nhiều yếu tố, và sự tác động tổng hợp hình thành nên lối sống có văn hóa theo những chuẩn mực đã định Do yếu tố lịch

sử để lại, ở Việt Nam hiện nay không chỉ có một lối sống - lối sống mới, mà còn tồn tại nhiều lối sống của chế độ cũ như: lối sống phong kiến, lối sống tiểu tư sản Vì vậy, xây dựng lối sống cho phù hợp công cuộc đổi mới hiện nay ở nước ta là yêu cầu hết sức cần thiết và cấp bách

Tóm lại, lối sống mới ở Việt Nam cũng đã trải qua một quá trình phát sinh, phát triển và hoàn thiện Quá trình đó gắn liền với cuộc đấu tranh lọc

bỏ những yếu tố lạc hậu và kế thừa, phát triển những yếu tố tiến bộ, tốt đẹp

Trang 22

của lối sống cũ, xây dựng lối sống mới văn minh, tiến bộ Lối sống mới là một mô hình lý tưởng mà chúng ta phấn đấu vươn tới Việc xây dựng lối sống mới phải đảm bảo sự thống nhất giữa tính nhân loại và tính dân tộc, giữa cái vật chất và cái tinh thần, tính kế thừa và tính đổi mới, phát triển; vừa mang bản sắc dân tộc, vừa tiếp thu tinh hoa nhân loại

1.1.2 Các lĩnh vực biểu hiện lối sống

Lối sống là phương diện đời sống của con người do đó nó được biểu hiện thông qua nhiều lĩnh vực, cụ thể là: Hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị - xã hội, hoạt động văn hóa - tinh thần, hoạt động sinh hoạt xã hội và hoạt động giao tiếp

Thứ nhất, lối sống thể hiện trong lĩnh vực hoạt động sản xuất vật chất:

Đây được coi là lĩnh vực đầu tiên biểu hiện của lối sống Ở bất kỳ xã hội nào, những hình thức hoạt động sống chủ yếu của con người đều là hoạt động lao động Lao động như là phương thức sinh sống, tính chất và trình độ của lao động quy định mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và xã hội Ăngghen viết: “ trước hết con người cần phải ăn, uống, ở và mặc, nghĩa là phải lao động, trước khi có thể đấu tranh để giành quyền thống trị, trước khi

có thể hoạt động chính trị, tôn giáo, triết học, ” [69, tr.166]

Tuy nhiên, nhu cầu của con người vô cùng phong phú, điều đó thúc đẩy sản xuất phát triển, muốn phát triển đòi hỏi con người luôn phải hoàn thiện, phát triển mạnh cả tinh thần, thái độ, trình độ, kỹ năng, nhân cách… cải tiến công cụ lao động, phát triển sản xuất và trên cơ sở đó hoàn thiện lối sống Bên cạnh đó, lối sống còn được biểu hiện ở một số lĩnh vực khác gắn với hoạt động sống của con người

Thứ hai, lối sống thể hiện trong lĩnh vực hoạt động chính trị - xã hội:

Đây là hoạt động mang yếu tố tinh thần của con người gắn từng giai đoạn lịch sử nhất định Hoạt động chính trị - xã hội thể hiện thái độ thực tiễn của

Trang 23

con người đối với các tổ chức chính trị - xã hội thông qua đường lối, chủ trương, chính sách pháp luật của Nhà nước Hay nói cách khác đó chính là ý thức chính trị, thái độ chính trị và hành vi chính trị của công dân

Thứ ba, lối sống biểu hiện trong hoạt động văn hóa tinh thần: Nó là

hoạt động không thể thiếu của con người cùng với hoạt động vật chất Hoạt động văn hóa tinh thần được thông qua và kết tinh trong các lĩnh vực như: tư tưởng, văn học, nghệ thuật, khoa học, giáo dục, tôn giáo, gắn bó chặt chẽ với nhau trong đời sống vật chất của con người

Thứ tư, lối sống trong hoạt động sinh hoạt: Đây là hình thức hoạt động

thường xuyên của con người, độc lập với hoạt động lao động sản xuất vật chất Hoạt động này thể hiện qua tất cả các hình thức hoạt động sống của xã hội con người như sinh đẻ, nuôi dưỡng, tái tạo sức lao động và là hoạt động chủ yếu diễn ra ở gia đình Tuy nhiên, khi sống trong xã hội hiện đại việc giải quyết những nhu cầu tối thiểu như: ăn, mặc, ở, vui chơi, giải trí là thói quen thường ngày gắn với văn hóa tiêu dùng, nó là biểu hiện của lối sống

Thứ năm, lối sống trong hoạt động giao tiếp: Đây là phương tiện cần

thiết cho con người trong quá trình hoạt động sống, mà trước hết và căn bản

là hoạt động lao động sản xuất, bao gồm cả sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần, là một lĩnh vực biểu hiện cơ bản của lối sống Bởi trước hết con người muốn tồn tại cần phải lao động, để thuận lợi quá trình lao động đòi hỏi con người phải giao tiếp Sau đó là các hoạt động giao tiếp khác của con người từ

cá nhân đến cộng đồng; từ gia đình đến xã hội Như vây, hoạt động giao tiếp không chỉ dừng lại ở giới hạn tiếp xúc trao đổi mà thông qua hoạt động giao tiếp để nâng cao giá trị văn hóa giữa người với người Trong một cộng đồng, hoạt động giao tiếp là cầu nối mọi người lại với nhau Để hoạt động này thực

sự có hiệu quả chúng ta cần xây dựng những tiêu chí cần thiết trong ứng xử,

có như vậy mới hình thành nên lối sống có văn hóa

Trang 24

Để thuận lợi cho quá trình nhận diện lối sống, người ta chia lối sống thành nhiều loại hình khác nhau, sau đây là một số cách phân loại lối sống

tiêu biểu: Cách thứ nhất, dựa vào hình thái kinh tế - xã hội ở mỗi giai đoạn

lịch sử nhất định được phân thành: lối sống phong kiến, lối sống tư bản chủ

nghĩa, lối sống xã hội chủ nghĩa Cách thứ hai, theo tiêu chí giai cấp phân

thành lối sống chủ nô, lối sống nô lệ, lối sống địa chủ, lối sống nông dân, lối

sống tư sản, lối sống tiểu tư sản, lối sống công nhân, lối sống trí thức Cách

thứ ba, theo lĩnh vực hoạt động có lối sống nông nghiệp, lối sống tiểu thủ

công nghiệp, lối sống công nghiệp Cách thứ tư, theo vùng lãnh thổ có lối sống nông thôn, lối sống đô thị, lối sống đồng bằng, lối sống miền núi Cách

thứ năm, theo tiêu chí tộc người có lối sống người Kinh, lối sống người Hoa,

lối sống người Khơme, lối sống người Chăm, lối sống người Raglai, Cách

thứ sáu, theo tiêu chí tôn giáo có lối sống công giáo, phật giáo, lối sống hồi

giáo, lối sống hòa hảo, lối sống tin lành, Cách thứ bảy, theo tiêu chí lứa

tuổi có lối sống thiếu niên, lối sống thanh niên, lối sống trung niên, lối sống

người cao tuổi Cách thứ tám, theo tiêu chí lãnh đạo, quản lý có lối sống cán

bộ, lối sống đảng viên, lối sống quần chúng Cách thứ chín, theo mức sống

và trình độ sống có lối sống quý tộc, lối sống bình dân, lối sống cao cấp, lối sống thứ cấp, lối sống thượng lưu, lối sống hạ lưu,

Tóm lại, thông qua các hình thức hoạt động cơ bản của con người giúp chúng ta phân định được các lĩnh vực biểu hiện của lối sống Việc phân loại lối sống là cần thiết có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng giúp chúng ta nhận biết đặc điểm của từng đối tượng, từng nhóm xã hội, từ đó có cơ sở để xây dựng bộ tiêu chí quan trọng về lối sống

1.1.3 Vai trò của lối sống trong đời sống xã hội

Mỗi hình thái kinh tế - xã hội nhất định đều có những dấu ấn riêng Để

có thể nhận thấy sự khác biệt giữa các hình thái kinh tế - xã hội, điều đơn

Trang 25

giản nhất là dựa vào lối sống Bởi vì, lối sống là tổng hòa toàn bộ phương thức hoạt động sống của con người Trong đó con người là chủ thể làm nên

sự đa dạng và phong phú của lối sống Một khi đã hình thành lối sống chung cho toàn xã hội thì nó lại tác động trở lại mỗi cá nhân một cách khách quan

và có tính quy luật Đây chính là mối quan hệ giữa con người và lối sống, trong đó vai trò lối sống đối với đời sống xã hội được thể hiện trên nhiều phương diện khác nhau

Thứ nhất: Lối sống góp phần vào việc lựa chọn nhu cầu, xác định lợi

ích và hình thành mục đích hoạt động con người Đối với hoạt động sản xuất vật chất và đấu tranh cải tạo xã hội, lối sống có vai trò trực tiếp và quan trọng nhất Do nhu cầu của con người ngày càng cao, để đáp ứng nhu cầu vật chất con người tìm cách sản xuất ra của cải để thỏa mãn nhu cầu chính mình Việc thỏa mãn nhu cầu là giải quyết quan hệ về lợi ích, lợi ích càng lớn bao nhiêu thì đòi hỏi quá trình sản xuất phải đẩy mạnh

Việc giải quyết lợi ích cho con người là chính đáng, nhưng không phải mọi lợi ích đều có thể đáp ứng được, điều đó đòi hỏi cần xác định mục đích phù hợp Ở đây lối sống có tác dụng đưa đến cho con người thực hiện các mục tiêu mang lại lợi ích chung cho cộng đồng Xây dựng một xã hội bình đẳng, đòi hỏi cần phải có quá trình đấu tranh để cải tạo xã hội, loại bỏ những lợi ích của chủ nghĩa cá nhân, hình thành lợi ích mang tính cộng đồng

Lối sống của con người còn được biểu hiện dưới dạng phong tục, tập quán, thói quen, rất khó thay đổi Trong hoạt động thực tiễn, lối sống nó còn ảnh hưởng đến phương thức hoạt động sản xuất và cải tạo xã hội của con người Đặc biệt những tập quán, thói quen đã từng ăn sâu, bám rễ trong đời sống văn hóa của người dân phần nào đó bị lạc hậu và trở thành lực cản cho

sự phát triển xã hội Hồ Chí Minh, trong tác phẩm “Đạo đức Cách mạng” đã

xem truyền thống lạc hậu như kẻ địch to, Người viết: “Thói quen và truyền

Trang 26

thống lạc hậu cũng là kẻ địch to; nó ngấm ngầm ngăn trở cách mạng tiến bộ Chúng ta lại không thể trấn áp nó, mà phải cải tạo nó một cách rất cẩn thận, rất chịu khó, rất lâu dài” [84, tr.605 - 606]

Như vậy, lối sống được hình thành theo quy luật tự nhiên khách quan qua các điều kiện kinh tế - xã hội nhất định Mỗi hình thái kinh tế - xã hội quy định lối sống mang đặc trưng riêng Trong đó lối sống góp phần lựa chọn nhu cầu, xác định lợi ích và định hướng mục đích cho hoạt động của con người là hết sức cần thiết

Thứ hai: Lối sống góp phần tạo ra động cơ đúng đắn cho con người

hoạt động Trong cuộc sống nhu cầu của con người ngày càng đa dạng, để có hành động đúng đắn cần phải xác định được hành động vì mục đích, lợi ích

gì Lợi ích đạt được đó có phù hợp với lối sống tại thời điểm đó hay không Nếu hành động phù hợp với lối sống tích cực chung của cộng đồng thì đó là hành động có ích, nếu nó đi ngược lại với lối sống tích cực của xã hội đây chính

là mặt trái của lối sống

Hiện nay, khi chuyển qua nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, một số cá nhân và doanh nghiệp trong kinh doanh luôn đặt chữ tín lên hàng đầu Đây chính là biểu hiện mặt tích cực của cơ chế thị trường, hành vi trên do lối sống tích cực quy định Chỉ có lối sống vì cộng đồng mới tạo nên động cơ tốt đẹp Tuy nhiên, một số cá nhân, doanh nghiệp vì lợi nhuận trước mắt mà bất chấp thủ đoạn, không tính đến hậu quả, là biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân do lối sống đề cao vật chất, lối sống cá nhân tách khỏi cộng đồng tạo nên

Tóm lại, lối sống có vai trò quyết định trong việc hình thành động cơ của con người Lối sống còn góp phần định hướng cho con người đi đến những hành vi vì lợi ích tính tập thể; lợi ích tập thể và lợi ích cá nhân phải

Trang 27

được giải quyết cách hài hòa, đó chính là biểu hiện của lối sống mới xã hội chủ nghĩa

Thứ ba: Lối sống có vai trò định hướng cho việc hình thành phẩm chất

con người mới Do lối sống là một trong những biểu hiện của đạo đức, còn đạo đức là cái bản chất bên trong của lối sống, nên lối sống là sự khẳng định của đạo đức Nó cho thấy rằng đạo đức xã hội đã xác lập một cách cụ thể kết hợp với nhiều yếu tố khác trong đời sống xã hội Lối sống đề ra những quan niệm, quan điểm sống cụ thể phù hợp với sự phát triển của xã hội Từ đó, con người thể hiện những thái độ hành động trong lao động, trong giao tiếp, ứng xử một cách đúng đắn, tiến bộ Thí dụ, lối sống khoáng đạt, bao dung có ảnh hưởng tích cực đến tính chất mềm dẻo của tư duy; lối sống gian mạnh, xảo trá là cơ sở của lối tư duy lắt léo, quanh co; lối sống táo bạo có ảnh hưởng tốt đến hình thành tư duy đột phá, sáng tạo

Thứ tư : Lối sống tác động mạnh và tích cực tới hiện thực xã hội Các

cơ quan có chức năng giáo dục đạo đức, lối sống thông qua việc thiết lập và vận dụng những phẩm chất về lối sống của cộng đồng, hướng các thành viên

xã hội vươn tới những phẩm chất đó và tiếp tục tạo ra các giá trị mới Đồng thời xác lập các khuôn mẫu ứng xử mới, các giá trị chuẩn mực để quy định các hành vi của cá nhân phù hợp với đời sống đạo đức, phong tục tập quán của cộng đồng, nhằm đảm bảo cho cộng đồng ổn định và phát triển

Tóm lại, lối sống đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động sống của con người Giữa lối sống và hoạt động sống của con người có mối quan hệ biện chứng không thể tách rời Chúng ta cần phải xây dựng lối sống đẹp, tích cực, phù hợp với tiến bộ xã hội

Trang 28

1.2 NỘI DUNG VÀ ĐẶC ĐIỂM LỐI SỐNG CỦA DÂN TỘC RAGLAI Ở HUYỆN BÁC ÁI TỈNH NINH THUẬN

1.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, văn hóa và con người góp phần hình thành lối sống của dân tộc Raglai ở huyện Bác Ái tỉnh Ninh Thuận

Về điều kiện tự nhiên với việc hình thành lối sống của dân tộc Raglai huyện Bác Ái :

nơi có nhiều biến động cùng với dòng chảy lịch sử dân tộc Ngay cái tên

“Bác Ái” đã để lại cho người nghe nhiều điều suy ngẫm Một cái tên lạ mà quen, cũ mà mới, vậy “Bác Ái” có từ bao giờ ? Vì sao lại gọi cái tên rất thân

thương là “Bác Ái”?

Theo dòng chảy lịch sử, tại hội thảo khoa học về lịch sử Đảng bộ huyện Ninh Sơn, giai đoạn (1930 - 1954), đã giải thích rất cụ thể về địa danh Bác Ái Ngày xưa, vùng đất Bác Ái gọi là É Lâm thượng - É Lâm hạ và tương ứng sau này là Bác Ái Tây, Bác Ái Đông Những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trong phong trào vận động đồng bào dân tộc thiểu số theo cách mạng lập chiến khu để chống Pháp, để có mật danh cho chiến khu, các cán bộ ở É Lâm đã đặt tên cho vùng này là Bác Ái “Ông

Pa Tân A Sa Ba giải thích, đồng bào dân tộc thiểu số ở Bác Ái ăn lời Đảng, theo Bác Hồ làm cách mạng phải đặt tên vùng này là đất Bác Hồ thôi” [28, tr.8] Do đó có giả thiết đã lấy hai chữ: Bác của danh từ Bác Hồ, Ái của Nguyễn Ái Quốc để đặt tên cho chiến khu là Bác Ái

Theo Lịch sử Đảng bộ huyện Bác Ái, tập 1 (1930 - 1954) tại trang 62

có ghi: “ trong hội nghị cán bộ của tỉnh tại chiến khu 7, ngày 12 tháng 4 năm 1947 có chủ trương thành lập Phòng quốc dân thiểu số Ninh Thuận Dựa trên đặc điểm địa hình và thành phần các dân tộc; toàn tỉnh chia thành

Trang 29

năm phân phòng quốc dân thiểu số: Bác Ái, Hy Sinh, Tương Lai, Hạnh Phúc, An Phước” Như vậy, tên Bác Ái được xác định trong văn bản của ủy ban kháng chiến tỉnh Ninh Thuận Còn ai đặt tên, đặt từ bao giờ, ý nghĩa ra sao vẫn còn là một ẩn số

Tháng 10 năm 1950 tỉnh Ninh Thuận quyết định tách khu căn cứ Bác

Ái ra khỏi huyện An Phước, thành lập huyện căn cứ trực thuộc Tỉnh ủy Ninh Thuận Huyện Bác Ái được thành lập gồm 60 thôn, khoảng 5.500 dân trong

đó có 30 thôn xây dựng được chính quyền cách mạng Sau 1954 huyện Bác

Ái được củng cố và có lúc lại thành lập thành hai huyện Bác Ái Đông và Bác

Ái Tây Đến năm 2000 theo nghị định số 65/2000/NĐ-CP của thủ tướng Chính phủ, huyện Bác Ái được thành lập từ việc tách 9 xã của huyện Ninh Sơn cũ gồm: xã Phước Bình, Phước Hòa, Phước Tân, Phước Tiến, Phước Chính, Phước Đại, Phước Thắng, Phước Thành và Phước Trung Từ đó cho đến nay cái tên Bác Ái vẫn được giữ nguyên, với đặc thù là huyện miền núi

có khoảng 95% là dân tộc Raglai định cư sinh sống, ngoài ra còn có một số dân tộc thiểu số khác và người Kinh cùng sinh sống

Thứ hai: Về vị trí địa lý, huyện Bác Ái nằm phía tây tỉnh Ninh Thuận,

với tọa độ địa lý cụ thể: vĩ độ, vĩ độ Bắc từ 110 39‟ 11‟‟ (cực Nam) đến

12010‟05‟‟ (cực Bắc); kinh độ, kinh độ Đông từ 108039‟54‟‟(cực Tây) đến

10903‟46‟‟ (cực Đông) Phía Bắc giáp huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa; phía Nam giáp huyện Ninh Sơn và thành phố Phan Rang - Tháp Chàm; phía Đông giáp thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa và phía Tây giáp huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng

Huyện Bác Ái có tuyến đường quốc lộ 27B từ Khành Hòa đi Lâm Đồng chạy qua, tiếp giáp với thành phố Cam Ranh, cách thành phố Nha Trang 90

km và thành phố Đà Lạt 100 km Nằm trong tam giác kinh tế phát triển Đà Lạt

- Phan Rang - Khánh Hòa khá thuận lợi trong phát triển kinh tế, văn hóa Bên

Trang 30

cạnh đó huyện Bác Ái từng là chiến khu cách mạng đã được nhà nước phong tặng đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang trong hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc Đây cũng là vùng đầu nguồn của một số con sông lớn trong tỉnh, có khả năng xây dựng các hồ chứa nước tưới tiêu cho phát triển sản xuất

Vì vậy, huyện Bác Ái có vị trí khá quan trọng về phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường và quốc phòng an ninh cho toàn tỉnh Ninh Thuận

Thứ ba: huyện Bác Ái với địa hình, địa mạo khá đa dạng, địa hình

thấp dần theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, phía Đông Bắc khống chế bởi đỉnh núi cao ở ranh giới tỉnh Khánh Hòa là núi Ma Nai (1.637m), ở ranh giới huyện Thuận Bắc là núi Tà Năng (1.451m), lùi sâu vào là núi Ya bô (1.220m), phía tây trên đường ranh giới huyện Ninh Sơn là núi Chuẩn (1.645m) từ đó thể chia ra các dạng địa hình chính như sau: Địa hình tương đối bằng phẳng chiếm 4,4% diện tích toàn huyện, phân bố ở các xã phía Nam của huyện: Phước Chính, Phước Trung, Phước Đại, Phước Tân Địa hình đồi núi thấp, bằng thoải ít chia cắt: độ dốc cấp 1, 2 là những vùng đất tương đối bằng phẳng, có diện tích chiếm 19% diện tích toàn huyện Địa hình đồi hoặc núi thấp, có diện tích chiếm 6% diện tích toàn huyện Địa hình đồi núi trung bình và cao, gồm những dãy núi có độ cao trên 1000 (m), tập trung ở phía Bắc và phía Tây của huyện, dạng địa hình này có diện tích chiếm 70,6% diện tích toàn huyện

Tất cả các xã trong huyện đều là huyện miền núi và địa hình rất phức tạp, chủ yếu là đồi núi cao, dốc, mức độ chia cắt lớn; giao thông đi lại khó khăn và khả năng khai thác các nguồn tài nguyên đất vào sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi vốn đầu tư lớn Những vùng đất bằng có khả năng sản xuất nông nghiệp phân bố dọc tuyến đường 27B và các tuyến đường liên xã thuận lợi cho việc khai thác sản xuất nông nghiệp

Trang 31

chiếm tỉ lệ nhỏ Với địa hình, địa mạo như vậy phần nào tác động đến lối sống của đồng bào Raglai

Thứ tư: Huyện Bác Ái là địa hình chuyển tiếp giữa đồng bằng duyên

hải với địa hình núi và cao nguyên Đà Lạt Vùng núi phía Tây của huyện giáp với tỉnh Lâm Đồng, chịu ảnh hưởng khá sâu sắc bởi khí hậu nhiệt đới

ẩm - gió mùa cao nguyên Lượng mưa trung bình 1000 - 1500 mm, nhiệt độ trung bình 25 - 280c, độ ẩm khoảng 70 - 80 %, số giờ nắng 2600 - 2900 giờ, đặc điểm khí hậu có thể phân ra hai tiểu vùng khí hậu như sau: Tiểu vùng khí hậu núi thấp phía Tây, gồm hai xã Phước Bình và Phước Hòa với khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, hơi thiếu ẩm Lượng mưa trung bình 1500 - 2000 mm, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mưa tập trung chủ yếu vào tháng 7, nhiệt

độ trung bình 22 - 250

c Bên cạnh đó, tiểu vùng khí hậu trung du và đồng bằng phía Đông gồm 7 xã còn lại Khí hậu nhiệt đới - gió mùa, bán khô hạn, nhiệt độ trung bình 270c, lượng mưa trung bình 800 - 1000 mm Mùa mưa tập trung chủ yếu vào ba tháng, từ tháng 9 đến tháng 11, mùa khô từ tháng

12 đến tháng 8 với khí hậu đặc trưng là nắng nóng khô hạn, khắc nghiệt

Do khí hậu đa dạng và liên tục thay đổi, nền nhiệt cao đều trong năm, không có mùa lạnh, đây là điều kiện thuận lợi cho phát triển cây trồng, vật nuôi nguồn gốc nhiệt đới, góp phần thâm canh tăng vụ Tuy nhiên, do mùa khô kéo dài, lại nắng nóng, tốc độ gió khá lớn, nên khô hạn xảy ra thường xuyên làm cho việc trồng trọt, chăn nuôi và sinh hoạt của người dân rơi vào cảnh thiếu nước một cách trầm trọng Điều này tác động lớn đến lối sống của người dân, chủ yếu vẫn là dân tộc Raglai, giải pháp hợp lý nhất cần xây dựng các công trình thủy lợi, kiên cố hóa kênh mương, bố trí cơ cấu cây trồng và mùa vụ hợp lý

Thứ năm: Huyện Bác Ái với hệ thống sông suối trên địa bàn phân bổ

khá đồng đều về không gian Các sông chính trên địa bàn như: sông Cái,

Trang 32

bắt nguồn từ tỉnh Khánh Hòa chảy theo hướng Nam qua huyện Ninh Sơn, thành phố Phan Rang - Tháp Chàm rồi đổ ra biển Đông Đây là con sông lớn nhất tỉnh Ninh Thuận, sông có chiều dài 119 km, tổng diện tích lưu vực

3000 km2, nguồn nước dồi dào là nguồn cung cấp chủ yếu cho sản xuất nông nghiệp

Sông Sắt là sông lớn thứ hai trong huyện, là sông nhánh chính của sông Cái, có chiều dài 32 km, diện tích lưu vực 411 km2 Sông chảy theo hướng Đông - Tây rồi đổ vào sông Cái Bên cạnh đó, sông Trà Co là sông nhánh của sông Cái, chiều dài sông 25 km, diên tích lưu vực 154 km2 Sông chảy theo hướng Bắc - Nam rồi đổ vào sông Sắt trước khi gặp sông Cái Trên sông Trà Co đã xây đập Trà Co có khả năng tưới tiêu khoảng 45 ha Trong những năm tới sẽ nâng cấp xây hồ chứa với diện tích tưới tiêu thiết kế 1.230 m3/246 (ha) lúa, góp phần mở rộng diện tích đất trồng lúa, cây hoa màu, cây công nghiệp cho vùng Đồng thời những nhánh sông chạy qua địa bàn huyện đã và đang được đầu tư xây dựng các hồ thủy lợi lớn, có khản năng cung cấp nước để mở rộng diện tích canh tác như hồ Sông Sắt, Trà Co, Phước Nhơn, Cho Mo, Thành Sơn, Ô Căm Hiện nay, đang triển khai dự án công trình thủy lời đập Tân Mỹ thuộc các xã Phước Thắng, Phước Tiến Với

sự quan tâm đầu tự đúng mức sẽ góp phần cho người dân nơi đây phần nào

đỡ bị động, lệ thuộc vào thời tiết trong sản xuất

Thứ sáu: Về tài nguyên đất, theo kết quả chương trình điều tra bổ

sung, chỉnh lý xây dựng bản đồ đất tỷ lệ 1/50.000 của tỉnh Ninh Thuận, do Phân viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp Miền Nam thực hiện năm

2004 Toàn huyện Bác Ái hiện có 6 nhóm đất với 10 đơn vị đất (không kể nhóm đất khác gồm: đất ở, đất chuyên dùng, đất suối )

Trong đó nhóm đất phù sa chiếm 1,52% diện tích toàn huyện, đây là nhóm đất phân bố ở địa hình cao, ven sông, gần khu dân cư, có điều kiện

Trang 33

tưới tiêu tương đối chủ động Là một loại đất có khả năng thích hợp khá cao nhiều loại cây trồng cận nhiệt đới, cây hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày

Nhóm đất xám bạc màu chiếm 1,12% diện tích toàn huyện Với hai thành phần đất là đất xám có tầng loang lổ và đất xám glay Đây là loại thích nghi với chuyên canh cây lúa nước hoặc luận canh lúa nước xen với cây trồng hạn hán hàng năm Đồng thời loại đất này có thể trồng cây lâu năm, tùy theo vị trí địa hình và điều kiện thoát thủy mùa mưa Hiện nay, hầu như đất xám glay là đất ruộng lúa, là loại đất có mức thích hợp cao đối với chuyên canh lúa nước và các cây trồng cạn hàng năm Tuy nhiên, khó khăn của vùng là thiếu nước ngọt vào mùa khô, giải pháp tốt nhất là phải đầu tự thủy lợi nhằm chủ động trong quá trình sử dụng nguồn nước

Nhóm đất đỏ và xám nâu vùng bán khô hạn, một mặt có hàm lượng dinh dưỡng thấp, mặt khác phân bổ trên địa hình đồi núi thấp, ít dốc Hiện nay, phần lớn diện tích đất đỏ là đất rừng tái sinh hoặc đất cây lùm bụi xen

cỏ dại với địa hình ít dốc thuận lợi cho canh tác nông nghiệp Riêng diện tích đất xám nâu vùng bán khô hạn là đất cây lùm bụi xen cỏ dại, đang được đồng bào Raglai sử dụng cho chăn thả mục súc (dê, cừu, bò), còn lại một phần nhỏ diện tích chừng 15 - 20% là đất nông nghiệp chủ yếu khai thác nương rẫy vào mùa mưa

Nhóm đất đỏ vàng chiếm 69,88% toàn huyện là nhóm đất có diện tích lớn hơn cả Với hai loại đất tiêu biểu: đất đỏ vàng trên đá sét biến chất và đất vàng đỏ trên đá mác ma axít Hiện nay, phần lớn nhóm đất đỏ vàng là đất rừng tái sinh, rừng trồng hoặc đất cây lùm bụi xen cỏ dại, đất nương rẫy quảng canh Nhìn chung trong điều kiện có rừng cây che phủ, đất đỏ trên đá sét và đá biến chất có hàm lượng dinh dưỡng khá cao Tuy nhiên, ở đây hầu hết là đất tầng mỏng, lại phân bổ trên những dạng đồi núi khá dốc, nên ít được sử dụng cho sản xuất nông nghiệp Ngoài ra, nơi đây còn có nhiều

Trang 34

nhóm đất khác như: đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ, đất xói mòn trơ sỏi

đá và các nhóm đất khác

Thứ bảy: Tài nguyên nước, chủ yếu tập trung trên các hệ thống sông

suối cung cấp cho sản xuất và sinh hoạt Huyện Bác Ái là nơi bắt nguồn của sông Cái và nhiều con suối lớn, nên nơi đây được xác định là vùng thượng nguồn Với các sông suối chính: Suối Đa Mây, Ông, Gia Bê, Chà Panh, Rô; Sông Trà Co và Sông Sắt Đặc điểm các con sông suối trong huyện là ngắn

và có độ dốc lớn, thường gây ra lũ về mùa mưa và thiếu nước về mùa khô cho nên cần phải có biện pháp công trình tưới tiêu phục vụ cho sản suất nông nghiệp và cấp nước sinh hoạt về mùa khô

Hiện nay, trên một số đoạn sông suối trong huyện đã xây dựng các đập dâng để lấy nước tưới, phục vụ sản xuất nông nghiệp như: Đập Trà Vin, Ma Lâm, Chà Đung, Ma Rớ, Ma Ty, Ô Căm, Cây Sung, Việc khai thác phục

vụ sản xuất nông nghiệp cho các xã vùng thượng lưu bị hạn chế do địa hình các vùng canh tác ven sông cao, địa hình không bằng phẳng Do đó, nước sông suối là nguồn nước chính dùng cho sinh hoạt hàng ngày của đồng bào dân tộc Raglai, Coho, Churu

Do cấu tạo địa hình nên nơi đây có nhiều lưu vực sông, suối có thể xây dựng các hồ chứa nước để mở rộng diện tích cây trồng Các hồ hiện nay đã được xây dựng là: hồ Sông Sắt (diện tích lưu vực 137 km2

, tổng dung tích 68,5 triệu m3), hồ Trà Co (diện tích lưu vực 94 km2, tổng diện tích 10,098 triệu m3), hồ Cho Mo (diện tích lưu vực 77 km2, tổng dung tích 8,795 triệu m3) Theo phương án quy hoạch thủy lợi của tỉnh đã được phê duyệt một số hồ chuẩn bị đầu tư có diện tích lưu vực và dung tích lớn như:

hồ Sông Cái (diện tích lưu vực 750 km2, tổng dung tích 219,28 triệu m3), đập Tân Mỹ (diện tích lưu vực 243 km2

, tổng dung tích 3 triệu m3), hồ Ô Căm (diện tích lưu vực 32,7 km2

, tổng dung tích 8,57 triệu m3) Vì vậy, nếu

Trang 35

đầu tư thích đáng về thủy lợi sẽ khai thác nguồn nước mặt để mở rộng diện tích đất nông nghiệp, cung cấp nước cho sinh hoạt, sản xuất công nghiệp và cải tạo môi trường,

Tuy nhiên, năng lực tưới tiêu các hồ đập hiện tại chưa được khai thác đúng mức vì hệ thống kênh nội đồng chưa hoàn chỉnh và một số hồ đập đã xuống cấp, hư hại không đảm bảo được nhiệm vụ thiết kế, nay cần phải sửa chữa, nâng cấp để nâng cao hiệu quả sử dụng

Về nước ngầm, theo các kết quả nghiên cứu thăm dò của nghành địa chất thủy văn, chương trình UNICEF, đánh giá cho thấy: trữ lượng nước ngầm ít, tồn tại đưới dạng khe nứt và lỗ hổng trong đới phong hóa, ở vùng đồi núi mực nước ngầm sâu Nhìn chung, việc khai thác nước ngầm ở huyện Bác Ái gặp nhiều khó khăn và chưa đáp ứng đủ cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của người dân

Là huyện được xem đầu nguồn sinh thủy của các hồ thủy điện, công trình thủy lợi, sự biến đổi khí hậu đã làm thay đổi quy luật phân phối dòng chảy Trong vòng 10 đến 15 năm trở lại đây, các ghi nhận cho thấy tổng lượng nước mà các con sông không thay đổi nhiều, nhưng dòng chảy năm, dòng chảy mùa lại có những thay đổi đáng kể Khoảng cách chênh lệch về lượng dòng chảy giữa mù lũ và mùa cạn, giữa tháng lũ và tháng không có lũ

có xu hướng tăng dần Do đó tình trạng lũ lụt quá dư thừa nước, hạn hán nghiêm trọng thiếu nước xuất hiện ngày càng nhiều, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến lối sống người dân

Thứ tám: Về tài nguyên rừng, huyện Bác Ái là huyện có diện tích đất

lâm nghiệp lớn nhất tỉnh, chiếm 43,90% tổng diện tích đất lâm nghiệp toàn tỉnh Ninh Thuận Diện tích đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện năm 2010 là 81.798,51 ha, trong đó diện tích đất có rừng tự nhiên là 63.412,67 ha, chiếm 77,65 % diện tích đất lâm nghiệp Độ che phủ rừng chiếm 62,48%,

Trang 36

nơi đây có rừng gỗ lá rộng, rừng hỗn giao, rừng lá kim khá đa dạng Với diện tích đất rừng trồng chiếm 0,94% tổng diện tích đất lâm nghiệp và chiếm 0,75% tổng diện tích đất tự nhiên Tuy nhiên, rừng của huyện chủ yếu là rừng phòng hộ, rừng đặc dụng chiếm 85,25% diện tích đất lâm nghiệp Vì vây, trong tương lai nơi đây cần có biện pháp bảo vệ, chăm sóc rừng hợp lý nhằm nâng cao độ che phủ rừng và bảo vệ vùng đầu nguồn với hai con sông lớn sông Sắt và sông Cái

Theo báo cáo mới nhất của Sở tài nguyên mội trường tỉnh Ninh Thuận, trên địa bàn huyện Bác Ái không có loại khoáng sản nào đáng kể Hiện tại các loại tài nguyên khoáng sản đang và sẽ được khai thác chủ yếu: đất sét, đá, cát xây dựng và vật liệu san lấp Tuy nhiên, do biến đổi khí hậu

đã tác động không nhỏ đến vùng đất và con người nơi đây Để phát triển bền vững trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa chống biến đổi khí hậu, thiên tai đòi hỏi nâng cao ý thức của cả cộng đồng dân cư Chính quyền cần kết hợp với người dân khai thác hiệu quả các nguồn tài nguyên, đặc biệt tài nguyên rừng, cần có các nghiên cứu tổ chức sản xuất thích ứng với những thách thức của sự biến đổi khí hậu hiện nay

Tóm lại, điều kiện về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên nơi đây khá phong phú và đa dạng, đó là món quá mà tạo hóa đã ban cho người dân Đồng bào Raglai sinh ra và lớn lên đều dựa vào tài nguyên thiên nhiên ban tặng, do đó yếu tố tự nhiên đóng vai trò quyết định trong việc hình thành lối sống Đề gìn giữ và phát huy lối sống truyền thống tốt đẹp đòi hỏi đồng bào phải bảo vệ và khai thác một cách hợp lý các nguồn tài nguyên sẵn có

Điều kiện kinh tế - xã hội với việc hình thành lối sống của người Raglai huyện Bác Ái :

Huyện Bác Ái nơi đất rộng người thưa, là mảnh đất định cư lâu đời của đồng bào các dân tộc như: Raglai, Cơ Ho, Chu Ru Trong hai cuộc kháng chiến

Trang 37

thần thánh chống giặc ngoại xâm, đồng bào nơi đây đã đấu tranh kiên cường vì độc lập tự do xây dựng huyện Bác Ái thành căn cứ địa cách mạng kiên trung, bất khuất

Nhìn trên bản đồ hành chính tỉnh Ninh Thuận, Bác Ái là huyện vùng núi cao nằm phía Tây Bắc, với diện tích tự nhiên khoảng 103.090,16 ha, chiếm 30,35% diện tích toàn tỉnh Lịch sử ra đời của huyện Bác Ái cho đến nay là cả một quá trình phức tạp, tách đi, nhập lại nhiều lần Thời pháp thuộc Bác Ái gọi chung là É Lâm, đầu thế kỷ XX vùng đất này chủ yếu là người dân tộc Raglai và một vài mé núi là người Chu Ru, Cơ Ho sinh sống Người kinh, đến tận những năm 40 của thế kỷ XX mới xuất hiện, mà chủ yếu là cán

bộ hoạt động cách mạng và một số người Kinh lên đây để buôn bán

Theo giả thiết của một số nhà khảo cổ học trong và ngoài nước có nêu: vào giai đoạn hậu kỳ đồ đá mới, cách đây khoảng 2500 năm, ở nhiều vùng trên bán đảo Đông Dương và các hải đảo ở Đông Nam Á đã hình thành những tộc người có tiếng nói, văn hóa gần giống nhau, nhất là về kết cấu gia đình mẫu hệ Đến thời đại kim khí ở Đông Nam Á, các nhóm tộc người trên

đã tách thành các dân tộc khác nhau có trình độ phát triển không đồng đều Trong đó có người Raglai là một tộc người riêng biệt đã xuất hiện ở miền Nam nước ta từ lâu đời

Trước năm 1945, đời sống kinh tế dân tộc Raglai thuộc loại hình nông nghiệp du canh du cư theo rẫy, săn bắt và hái lượm giữ vai trò quan trọng trong đời sống gia đình Hình thái kinh tế - xã hội biến đổi rất chậm, thậm chí trước năm 1945 xã hội người Raglai vẫn còn là một xã hội nguyên thủy đang trong quá trình tan rã, chưa hình thành giai cấp, chủ yếu mô hình công

xã nông thôn

Trong thập niên sáu mươi của thế kỷ XX, đồng bào Raglai đã có những ứng dụng mới về kỹ thuật vào trong sản xuất nông nghiệp Diện tích

Trang 38

nương rẫy được mở rộng, giống cây trồng trên rẫy cũng tăng lên, có nơi đã khai phá thung lũng để phát triển cây lúa nước Chăn nuôi và các nghề thủ công truyền thống như: rèn, đan lát, đều phát triển Thời kỳ này, đồng bào Raglai ở huyện Bác Ái đã tiếp nhận một số nghề thủ công mới từ đồng bằng đưa lên như nghề chế biến bông, dệt vải, ép mía nấu đường, chế biến bột giấy và sản xuất giấy

Có thể nói, giai đoạn trước đổi mới huyện Bác Ái vẫn là một vùng đất còn giữ được chất nguyên sơ của núi rừng Phương thức sản xuất lạc hậu mang tính tự cung tự cấp, lối sống mang đậm dấu ấn của người miền ngược

Từ khi tiến hành đổi mới đến nay, đời sống kinh tế - xã hội của đồng bào Bác Ái có bước chuyển biến đáng kể Về kinh tế, đã có sự dịch chuyển

từ nền kinh tế tự cung tự cấp sang nền kinh tế hàng hóa Trong cơ cấu ngành tính theo giá trị sản xuất nền kinh tế của huyện có chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng và giảm tỷ trọng các ngành nông

- lâm - ngư nghiệp và thương mại - dịch vụ Điều này góp phần làm thay đổi

tư duy trong sản xuất của bà con

Công tác định canh định cư ngày càng đi vào nề nếp, bà con đã tiến hành thâm canh trên rẫy, phát triển loại hình ruộng khô, khai hoang mở rộng diện tích ruộng nước Trong sản xuất đồng bào đã dùng sức kéo trâu, bò để cày bừa, biết ủ phân chuồng và phân xanh để chăm bón cho cây trồng Ngành chăn nuôi gia cầm, gia súc được quan tâm, đặc biệt là chăn nuôi trâu,

bò, dê, cừu rất phát triển

Các ngành nghề thủ công như: nghề làm đá, gạch, ngói, sớm được hình thành Các hoạt động lâm nghiệp, trồng và tu bổ rừng, thu hái và sơ chế lâm sản được chú trọng Xây dựng kinh tế rừng, tăng nhanh các giống cây trồng mới và mở rông thêm diện tích cây công nghiệp như: bông, mía, cà phê, hồ tiêu, đào lộn hột, đem lai hiệu quả kinh tế cao, nhờ đó bộ mặt thôn

Trang 39

bản được thay đổi; những làng mới, nhà cửa, đường sá, khang trang được xây dựng

Cơ sở hạ tầng từng bước được đầu tư, trong đó kết cấu hạ tầng như: bệnh viện, trạm y tế, trường học, công trình thủy lợi tiếp tục được nâng cấp Đời sống vật chất của đồng bào ngày một cải thiện, việc mua sắm xe máy, đài rađiô, đài catsette, tivi ngày một nhiều

Về dân số và mật độ dân cư, kết quả thống kê của huyện đầu năm 2001 dân số toàn huyện Bác Ái có 18.765 người Năm 2003 trên toàn tỉnh Ninh Thuận có 50.381 người cư trú ở 87 thôn trên 24 xã thuộc 4 huyện của tỉnh được phân bổ như sau: huyện Bác Ái là 17.572 người Raglai cư trú ở 9 xã 33 thôn, huyện Ninh Sơn là 9.901 người Raglai cư trú ở 6 xã 15 thôn, huyện Ninh Hải là 18.760 người Raglai cư trú ở 2 xã 22 thôn và huyện Ninh Phước

là 4.148 người Raglai cư trú ở 3 xã 8 thôn

Bảng 1:DÂN SỐ RAGLLAI TOÀN TỈNH NINH THUẬN

( Số liệu điều tra toàn tỉnh năm 2003)

Số thôn

Số khẩu Số hộ

Số hộ kinh

Tỷ lệ người Raglai (%)

Đầu năm 2005 dân số toàn huyện Bác Aí là 21.103 người, đến năm

2010 là 24.863 người Dân tộc Raglai vốn ít học, tỷ lệ mù chữ cao so với các vùng lân cận; tỷ lệ tăng dân số thuộc địa bàn tăng cao nhất của tỉnh, công tác dân số kế hoạch hóa gia đình còn là nội dung mới mẻ đối với bà con

Trang 40

Qua bảng số liệu cho thấy người Raglai phân bố tập trung ở bốn huyện của tỉnh, trong đó tập trung phần đông là ở huyện Ninh Hải và huyện Bác Ái

Do điều kiện kinh tế - xã hội chậm phát triển nên lối sống nơi đây mang đặc trưng riêng Lối sống của người Raglai, mang dấu ấn của nền kinh tế nông nghiệp nương rẫy chậm chuyển đổi với nhiều tập tục canh tác lạc hậu gắn với thiên nhiên

Điều kiện văn hóa và con người hình thành lối sống dân tộc Raglai huyện Bác Ái:

Raglai là một trong năm tộc người thuộc ngữ hệ Malayo - Polinesien (Nam đảo) ở Việt Nam Tên tộc người này được các tài liệu phiên âm và dùng các ký tự khác nhau như: Raglai, Radlai, Oranglai, Roglai, Rắclây,…người Raglai cư trú ở vùng núi cao, dọc triền đông cuối dãy Trường Sơn ở các tỉnh cực Nam Trung Bộ Điều kiện giao thông đi lại khó khăn nên văn hóa truyền thống người Raglai chưa được nghiên cứu nhiều Người Raglai chưa có chữ viết nên tư liệu thành văn cổ hầu như không có Những tài liệu nghiên cứu về văn hóa Raglai trong và ngoài nước với số lượng rất ít và mang tính điều tra, chưa có tính chiều sâu trong việc nghiên cứu văn hóa

Hiện nay, các nhà nghiên cứu khoa học vẫn chưa thống nhất nguồn gốc tộc người của cư dân thuộc nhóm ngôn ngữ Malayo - Polinesien ở Việt Nam (gồm Chăm, Raglai, Churu, Êđê, Giarai) Có hai luận thuyết đáng chú

ý Một luận thuyết cho rằng các tộc người này đều có nguồn gốc hải đảo Đông Nam Á Các nhà khoa học Nga cũng cho rằng các dân tộc Nam đảo di

cư từ các đảo vùng biển nam Trung Quốc xuống Đông Nam Á Luận thuyết thứ hai cho rằng các dân tộc đều di cư theo đường bộ từ nam Trung Quốc qua Việt Nam, Lào, rồi từ đó di cư ra hải đảo

Ngày đăng: 04/05/2021, 23:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2001), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb. Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb. Văn học
Năm: 2001
2. Phan Quốc Anh (2007), Văn hóa Raglai những gì còn lại, Nxb. Văn hóa Dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Raglai những gì còn lại
Tác giả: Phan Quốc Anh
Nhà XB: Nxb. Văn hóa Dân tộc
Năm: 2007
4. Toàn Ánh (1992), Nếp cũ làng xã Việt Nam, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nếp cũ làng xã Việt Nam
Tác giả: Toàn Ánh
Nhà XB: Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1992
5. Ph.Ăngghen (2004), Biện chứng của tự nhiên, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện chứng của tự nhiên
Tác giả: Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2004
6. Bộ văn hóa, thể thao và du lịch cục văn hóa cơ sở (2008), Văn bản của Đảng và nhà nước về nếp sống văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản của Đảng và nhà nước về nếp sống văn hóa
Tác giả: Bộ văn hóa, thể thao và du lịch cục văn hóa cơ sở
Năm: 2008
7. Huỳnh Công Bá (2012), Cội nguồn và bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb. Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cội nguồn và bản sắc văn hóa Việt Nam
Tác giả: Huỳnh Công Bá
Nhà XB: Nxb. Thuận Hóa
Năm: 2012
8. Hoàng Chí Bảo (2000), “Triết lý Hồ Chí Minh về phát triển xã hội”, Thông tin lý luận, (9), tr. 8-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết lý Hồ Chí Minh về phát triển xã hội
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 2000
9. Phan Xuân Biên, Phan An, Phan Văn Dốp, Võ Công Nguyên, Nguyễn Văn Huệ (1998), Văn hóa và xã hội người Raglai ở Việt Nam, Nxb.Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và xã hội người Raglai ở Việt Nam
Tác giả: Phan Xuân Biên, Phan An, Phan Văn Dốp, Võ Công Nguyên, Nguyễn Văn Huệ
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
Năm: 1998
10. Trần Văn Bình (Chủ biên), (1995): Văn hóa xã hội chủ nghĩa, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa xã hội chủ nghĩa
Tác giả: Trần Văn Bình (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1995
12. Doãn Chính (2000), “Quan điểm của khổng tử về giáo dục và đào tạo con người”, Triết học, tr. 39-40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm của khổng tử về giáo dục và đào tạo con người”
Tác giả: Doãn Chính
Năm: 2000
13. PGS.TS. Doãn Chính (chủ biên), (2013), Lối sống và tư duy của cộng đồng người Việt vùng Đông Nam Bộ trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lối sống và tư duy của cộng đồng người Việt vùng Đông Nam Bộ trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế
Tác giả: PGS.TS. Doãn Chính (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2013
14. Chamaliaqriya Tiẻnq - Trần Kiêm Hoàng (2011), Tri thức dân gian của người Raglai, NXB. Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tri thức dân gian của người Raglai
Tác giả: Chamaliaqriya Tiẻnq - Trần Kiêm Hoàng
Nhà XB: NXB. Văn hóa dân tộc
Năm: 2011
16. Lê Khắc Cương - Phan Văn Dốp, Nguyễn Văn Huệ, Phan Xuân Viên (2011), Truyện cổ Raglai, Nxb. Văn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện cổ Raglai
Tác giả: Lê Khắc Cương - Phan Văn Dốp, Nguyễn Văn Huệ, Phan Xuân Viên
Nhà XB: Nxb. Văn hóa dân tộc
Năm: 2011
19. Phan Hữu Dật, Ngô Đức Thịnh, Lê Ngọc Thắng, Nguyễn Xuân Độ (1998), Sắc thái văn hóa địa phương và tộc người trong chiến lược phát triển đất nước, Nxb. KHXH, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sắc thái văn hóa địa phương và tộc người trong chiến lược phát triển đất nước
Tác giả: Phan Hữu Dật, Ngô Đức Thịnh, Lê Ngọc Thắng, Nguyễn Xuân Độ
Nhà XB: Nxb. KHXH
Năm: 1998
20. Hồ Tuyết Dung, Văn hóa thẩm mỹ với việc xây dựng lối sống cho thanh niên đô thị hiện nay, nghiên cứu lý luận,(1), tr.24-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa thẩm mỹ với việc xây dựng lối sống cho thanh niên đô thị hiện nay
21. Nguyễn Chí Dũng (2000), Xã hội học lối sống và vấn đề xây dựng lối sống trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sinh hoạt lý luận, (5), tr.36-40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học lối sống và vấn đề xây dựng lối sống trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Tác giả: Nguyễn Chí Dũng
Năm: 2000
22. Mạc Đường (Chủ biên), (1985), Những vấn đề dân tộc ở Lâm Đồng, Sở văn hóa - Thông tin tỉnh Lâm Đồng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề dân tộc ở Lâm Đồng
Tác giả: Mạc Đường (Chủ biên)
Năm: 1985
23. Nguyễn Khoa Điềm (Chủ biên),(2002), Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Tác giả: Nguyễn Khoa Điềm (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2002
24. Phạm Văn Đồng (1994), Văn hóa và đổi mới, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và đổi mới
Tác giả: Phạm Văn Đồng
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1994
25. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Bác Ái, Bác Ái 55 mùa xuân, 2005, tài liệu lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bác Ái 55 mùa xuân

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w