4 TÓM TẮT NỘI DUNG ĐỀ TÀI Đề tài “Tìm hiểu khả năng thích ứng sinh kế với tình trạng hạn hán của các hộ nông dân xã Phước Trung, huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận” được nhóm nghiên cứu triể
Trang 11
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA/BỘ MÔN: ĐỊA LÝ
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
Sinh viên thực hiện:
Chủ nhiệm:Thiều Thị Mỹ Duyên Lớp 12608 Khóa học : 2012 - 2016
Thành viên: Nguyễn Thành Phúc Lớp 12608 Khóa học : 2012 - 2016
Người hướng dẫn: TS.Trương Thị Kim Chuyên
ThS Hồ Kim Thi
TP Hồ Chí Minh, tháng 3 năm 2016
Trang 22
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA/BỘ MÔN: ĐỊA LÝ
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
CẤP TRƯỜNG NĂM 2016
Tên công trình:
TÌM HIỂU KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG SINH KẾ VỚI TÌNH TRẠNG
HẠN HÁN CỦA CÁC HỘ NÔNG DÂN XÃ PHƯỚC TRUNG,
HUYỆN BÁC ÁI, TỈNH NINH THUẬN
Sinh viên thực hiện:
Chủ nhiệm:Thiều Thị Mỹ Duyên Lớp 12608 Khóa học : 2012 - 2016
Thành viên: Nguyễn Thành Phúc Lớp 12608 Khóa học : 2012 - 2016
Người hướng dẫn: TS Trương Thị Kim Chuyên
ThS Hồ Kim Thi
TP Hồ Chí Minh, tháng 3 năm 2016
Trang 33
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được đề tài này, chúng tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp
đỡ tận tình từ giáo viên hướng dẫn đã giúp chúng tôi định hướng và hỗ trợ về một số kiến thức chuyên môn cần thiết trong quá trình thực hiện
Trong suốt quá trình tiến hành khảo sát tại địa bàn nghiên cứu – xã Phước Trung, huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận, chúng tôi đã nhận được rất nhiều sự hỗ trợ, cung cấp những dữ liệu, thông tin để thực hiện đề tài Các anh chị cán bộ tại UBND xã Phước Trung, Hội Phụ nữ xã, các đại diện cơ quan ban ngành liên quan của huyện Bác Ái, đã hướng dẫn chúng tôi trong việc khảo sát cũng như cung cấp thông tin liên quan đến đề tài Chúng tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các cá nhân, tổ chức đã giúp đỡ, hỗ trợ cho chúng tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tuy nhiên, do những hạn chế về thời gian cũng như kiến thức của nhóm thực hiện
đề tài nên không tránh khỏi những thiếu sót Chúng tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp từ quý thầy cô và những ai quan tâm đến đề tài này để chúng tôi có được những kinh nghiệm cần thiết cho việc thực hiện những đề tài tiếp theo
Trang 44
TÓM TẮT NỘI DUNG ĐỀ TÀI
Đề tài “Tìm hiểu khả năng thích ứng sinh kế với tình trạng hạn hán của các hộ nông dân xã Phước Trung, huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận” được nhóm nghiên cứu triển khai thực hiện trong bối cảnh hạn hán đã và đang ảnh hưởng nặng nề đến hoạt động sản xuất cũng như đời sống của người dân tại chỗ Dựa trên các dữ liệu thứ cấp từ các công trình nghiên cứu liên quan và cơ quan ban ngành xã Phước Trung, huyện Bác Ái, đề tài còn thu thập các dữ liệu sơ cấp bằng khảo sát bảng hỏi, phỏng vấn nhanh và phỏng vấn sâu các tác nhân liên quan Trên cơ sở xác định những mục tiêu cụ thể: tìm hiểu thực trạng hạn hán tại xã Phước Trung, huyện Bác Ái, nhận diện thực trạng nguồn vốn sinh kế của hộ nông dân trên địa bàn, tìm hiểu các mô hình sinh kế thích ứng với tình hình hạn hán và đưa ra kết luận, kiến nghị một số giải pháp cần thiết cho thích ứng của hộ nông dân Kết quả nghiên cứu đã tổng hợp được những nội dung khái niệm cơ bản, từ đó xác định những tác nhân ảnh hưởng đến khả năng thích ứng sinh kế của hộ nông dân trong điều kiện hạn hán, thông qua 5 nguồn vốn sinh kế Vốn tự nhiên, diện tích đất trồng trọt giảm đáng kể do chất lượng đất xấu và chịu tác động nặng nề của tình trạng hạn hán Vốn vật chất, được chính quyền địa phương đầu tư cải thiện nên điều kiện đường xá, điện, nhà
ở, trường học, khá ổn định Vốn con người, hầu hết người dân bản địa là người Raglay,
có trình độ học vấn thấp Vốn xã hội, các lễ hội, phong tục được giữ lại khá ít, sự tương tác giữa các hộ với chính quyền, các hộ với nhau dần có những chuyển biến tốt hơn Vốn tài chính, sản xuất nông nghiệp khó khăn, thu nhập kinh tế bị đe dọa, công tác xóa nghèo chưa thực sự bền vững khi tỉ lệ hộ tái nghèo, xuất hiện hộ nghèo mới khá nhiều Trước thực trạng đó, chính quyền địa phương ra sức triển khai thực hiện nhiều chính sách hỗ trợ cách thức khắc phục, hạn chế ảnh hưởng của hạn hán, tạo điều kiện cho các hộ cải thiện thu nhập và đời sống
Việc đưa ra những kết luận về nguồn vốn sinh kế hộ nông dân tại địa phương trong bối cảnh hạn hán khắc nghiệt, là một điều cần thiết Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, đề tài vẫn chưa thực hiện được công cụ thảo luận nhóm để tăng tính chặt chẽ trong đánh giá khả năng thích ứng
Trang 55
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
UBND: Ủy ban Nhân dân
LHQ: Liên Hiệp Quốc
TBNN: Trung bình nhiều năm
NN: Nông nghiệp
ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long
LLLĐ: Lực lượng lao động
ĐTLĐ: Độ tuổi lao động
UNFCCC: Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu
DFID: Cơ quan Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh
IPCC: Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu
DTĐSX: Diện tích đất sản xuất
Trang 66
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2.MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI: 3
3.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 3
3.1 Phương pháp thu thập dữ liệu 3
3.1.1 Đối với dữ liệu thứ cấp 3
3.1.2 Đối với dữ liệu sơ cấp 4
3.2 Phương pháp xử lí và phân tích dữ liệu: 4
4.CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN 6
4.1 H n hán v ph n o i h n hán 6
4.2 Nông dân và hộ nông dân 8
4.3 Sinh v vốn sinh k 8
4.4 Th ch ứng sinh 9
5 TỔNG QUAN TƯ LIỆU 10
6.KHUNG NGHIÊN CỨU 13
7.NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 13
8.THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 14
PHẦN NỘI DUNG 15
CHƯƠNG 1: DIỄN BIẾN TÌNH TRẠNG HẠN HÁN VÀ ĐẶC ĐIỂM KT-XH CỦA HỘ NÔNG DÂN XÃ PHƯỚC TRUNG, HUYỆN BÁC ÁI 15
1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên huyện Bác Ái 15
1.1.1 Vị trí địa lý 15
1.1.2 Địa hình, địa chất 17
1.1.3 Khí hậu 17
1.1.4 Hệ thống sông ngòi và chế độ thủy văn 17
1.1.5 Tài nguyên thiên nhiên 18
1.2 Khái quát về điều kiện kinh tế - xã hội huyện Bác Ái 18
1.2.1 Tình hình phát triển kinh tế 18
1.2.2 Các hoạt động y tế, giáo dục 20
1.2.3 Đặc điểm dân cư và lao động 21
1.2.4 Cơ sở hạ tầng kĩ thuật 21
Trang 77
1.3 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội xã Phước Trung 21
1.3.1 Điều kiện tự nhiên 21
1.3.2 Điều kiện kinh tế, xã hội 22
1.3.3 Cơ sở hạ tầng 23
1.4 Đặc trưng hạn hán ở xã Phước Trung, huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận 23
1.4.1 Diễn biến của hạn hán tại xã Phước Trung 23
1.4.2 Hạn hán và vấn đề sản xuất nông nghiệp 24
CHƯƠNG 2: TÀI SẢN SINH KẾ 28
2.1 Giới thiệu chung về nhóm dân số khảo sát 28
2.2 Thực trạng tài sản sinh kế của hộ nông dân xã Phước Trung 29
2.2.1 Vốn tự nhiên 29
2.2.2 Vốn vật chất 32
2.2.3 Vốn con người 36
2.2.4 Vốn xã hội 40
2.2.5 Vốn tài chính 42
CHƯƠNG 3: HOẠT ĐỘNG SINH KẾ THÍCH ỨNG VỚI ĐIỀU KIỆN HẠN HÁN XÃ PHƯỚC TRUNG, HUYỆN BÁC ÁI 45
3.1 Hoạt động sinh kế của người dân xã Phước Trung, huyện Bác Ái 45
3.2 Chuyển đổi sinh kế và đa dạng các hoạt động sinh kế 46
3.2.1 Hoạt động nông nghiệp của người Raglay và chuyển đổi cơ cấu cây trồng 46
3.2.3 Giải pháp di cư trong đối phó với hạn hạn 51
KẾT LUẬN 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
PHỤ LỤC 62
PHỤ LỤC 1: BẢNG KHẢO SÁT THÔNG TIN HỘ NÔNG DÂN TẠI XÃ PHƯỚC TRUNG 62
PHỤ LỤC 2: CÂU HỎI PHỎNG VẤN SÂU 66
PHỤ LỤC 3: HÌNH ẢNH KHẢO SÁT THỰC TẾ 67
Trang 88
DANH MỤC BẢNG BIỂU DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Giá trị sản xuất hiện hành và cơ cấu các ngành kinh tế huyện Bác Ái
Bảng1.2: Giá trị sản xuất và cơ cấu ngành Nông – Lâm nghiệp và Thủy sản huyện Bác
Ái (ĐVT : tỷ đồng)
Bảng1.3: Tóm tắt các chuỗi giá trị ưu tiên được lựa chọn trên địa bàn xã dự án
Bảng 2.1: Diện tích đất sản xuất trung bình của các hộ gia đình tại xã Phước Trung Bảng 2.2: Đánh giá của các hộ khảo sát về hệ thống đường giao thông và sử dụng điện Bảng 2.3: Hiện trạng nhà ở các hộ khảo sát tại 2 khu vực thôn Rã Trên – Rã Giữa và Tham Dú – Đồng Dày
Bảng 2.4: Cơ cấu dân số các hộ khảo sát
Bảng 2.5: Cơ cấu cấu dân số theo giới tính và trình độ học vấn các hộ khảo sát
Bảng 2.6: Khả năng ngôn ngữ các hộ khảo sát
Bảng 3.1: Hiện trạng trồng trọt trên địa bàn 04 thôn được phân chia thành 2 khu vực tại
Biểu đồ 2.1: Đánh giá của các hộ khảo sát Phước Trung về tình trạng hạn hán
Biểu đồ 2.2: Thể hiện sự thay đổi của các hộ khảo sát về diện tích đất sản xuất trước và sau hạn hán
Biểu đồ 2.3: Thể hiện diện chính sách các hộ tham gia khảo sát
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài
Từ năm 2014, nhiều tỉnh thành trên khắp Việt Nam đã phải hứng chịu những đợt hạn hán khá gay gắt Một phần nguyên nhân được cho là ảnh hưởng của hiện tượng El
20 năm trở lại đây và đặc biệt là Ninh Thuận - vốn thường được nhắc đến bởi thời tiết khô hạn nhất nước
Sản xuất nông nghiệp được xem là lĩnh vực kinh tế quan trọng của Việt Nam, vì thế trước những diễn biến phức tạp của thời tiết nắng hạn không chỉ gây thiệt hại về hoạt động sản xuất tại các địa phương mà còn kéo lùi tổng thu nhập trong nông nghiệp của cả nước Năm 2015, tỉnh Ninh Thuận, có 8/20 hồ chứa nước có mực nước dưới mực nước chết Tổng dung tích các hồ chứa trên toàn tỉnh chỉ còn lại 21,7/192.2 triệu m3, đạt 11,3%
trên tổng số 7 huyện bị ảnh hưởng trực tiếp từ hạn hán Tính đến tháng 5/2015, thiệt hại nông nghiệp được thống kê có 1.508 gia súc chết và 10.229 ha đất bị đang bỏ hoang vì
Sang đầu tháng 3/2016, UBND tỉnh Ninh Thuận đã công bố thiên tai hạn hán tại nhiều địa phương, trong đó có tất cả các xã của huyện Bác Ái Lượng nước tại 20
hồ chứa trên địa bàn tỉnh hiện còn 53,86/192,21 triệu m3, chỉ đạt 28% dung tích thiết kế
vẫn chưa kết thúc với mức độ khắc nghiệt ngày càng gia tăng
Nếu Ninh Thuận là tâm hạn của cả nước thì có thể nói xã Phước Trung, huyện Bác
Ái là tâm hạn của Ninh Thuận với những đợt nắng nóng lịch sử Theo thống kê sơ bộ đã
cáo người dân ngưng xuống giống để hạn chế thiệt hại dưới mức thấp nhất có thể Ngoài
ra, diện tích đất hoa màu cũng giảm đáng kể, nhiều hộ đã bỏ hoang đất rẫy Về chăn nuôi
Trang 11chỉ trong 6 tháng đầu năm 2015, tổng đàn gia súc đã chết 142 con do thiếu thức ăn, nước
đang phải đối mặt với tình trạng thiếu nước sinh hoạt do hệ thống hồ chứa nước, suối trên địa bàn xã đã dần trơ đáy khi mùa khô vẫn tiếp tục bắt đầu sớm hơn và kết thúc muộn hơn
Đặc biệt, xã Phước Trung là nơi sinh sống của hầu hết người dân tộc Raglay, chiếm tới 96% dân số toàn xã Đặc điểm kinh kế chủ yếu của địa phương là sản xuất nông nghiệp: trồng lúa, hoa màu và chăn nuôi gia súc (bò, trâu, dê, cừu, lợn đen) Thực trạng sản xuất tại địa phương khá lạc hậu với mức độ đầu tư cơ giới thấp và kĩ thuật chưa cao, thậm chí diện tích đất rẫy trồng hoa màu đều phụ thuộc vào “nước trời” Bản thân nền sản xuất nông nghiệp phụ thuộc đa phần vào điều kiện đất đai, nguồn nước nên trước diễn biến khắc nghiệt của đợt hạn hán từ năm 2014 đến nay, xã Phước Trung đã phải hứng chịu những thiệt hại nặng nề, thu nhập giảm mạnh và đời sống, sức khỏe của chính người dân địa phương bị đe dọa đáng kể
Trước những khó khăn đó, Nhà nước đã có những chính sách hỗ trợ cho người dân địa phương với nhiều chương trình khác nhau Về đầu tư cơ sở vật chất, hầu hết các tuyến đường, điện, nhà ở , trường học, trạm xá tại địa phương đã được hỗ trợ xây dựng kiên cố,
ổn định được đưa vào sử dụng Về sản xuất nông nghiệp, chính quyền địa phương cũng
đã có những chính sách hỗ trợ thiệt hại cây trồng, vật nuôi, mặt khác vẫn ra sức tìm giải pháp lâu dài cho các hộ nông dân trên địa bàn Bên cạnh đó còn nhiều chương trình hỗ trợ ngắn hạn như chở nước sinh hoạt, phát gạo cứu đói, Nhưng nhìn chung, hầu hết các giải pháp trên vẫn chưa giải quyết được tận gốc khó khăn mà địa phương đang gặp phải Điều
đó đã cho thấy tính thiếu bền vững trong các chính sách hỗ trợ, hay nói cách khác hỗ trợ chỉ mang tính tạm thời, ngắn hạn Điều đáng nói là hệ quả không đáng có sau các chương trình hỗ trợ tại địa phương là tâm lí phụ thuộc của người dân ngày càng tăng cao Chính vì vậy, tăng cường năng lực thích ứng với hạn hán để người dân thoát nghèo là vấn đề cấp bách và thiết thực để hướng đến sinh kế bền vững trong tương lai
6 Báo cáo tình hình hạn hán trên địa bàn xã Phước Trung
Trang 12Từ những lí do trên, nhóm nghiên cứu đã triển khai thực hiện đề tài “Tìm hiểu khả năng thích ứng sinh kế với tình trạng hạn hán của các hộ nông dân xã Phước Trung, huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận”
2.Mục tiêu của đề tài:
Mục tiêu tổng quát: Tìm hiểu khả năng thích ứng sinh kế với tình trạng hạn hán của các hộ nông dân xã Phước Trung, huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận
Mục tiêu cụ thể:
- Tìm hiểu thực trạng hạn hán tại xã Phước Trung, huyện Bác Ái
- Nhận diện thực trạng các nguồn vốn sinh kế7 của các hộ nông dân tại địa bàn nghiên cứu
- Tìm hiểu các mô hình sinh kế thích ứng với tình trạng hạn hán hiện nay của các hộ nông dân xã Phước Trung, huyện Bác Ái
- Kiến nghị một số giải pháp thích ứng với hạn hán của các hộ nông dân tại xã Phước Trung, huyện Bác Ái
3.Phương pháp nghiên cứu:
3.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
3.1.1 Đối với dữ liệu thứ cấp
- Các công trình nghiên cứu liên quan đến thích ứng sinh kế của cộng đồng tại các vùng chịu sự ảnh hưởng của thay đổi thời tiết
- Các tài liệu về tình hình hạn hán trong những năm gần đây, các giải pháp hiện có của chính quyền địa phương
- Số liệu thống kê từ Ủy ban Nhân dân xã Phước Trung thuộc huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận
- Các báo cáo về tình hình kinh tế, xã hội, sự thay đổi cơ cấu sản xuất của cộng đồng sống trong khu vực hạn hán
- Các dữ liệu từ website huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận,….và các bài báo, tạp chí liên quan
7 Còn gọi là tài sản sinh kế: vốn con người, vốn tự nhiên, vốn xã hội, vốn tài chình, vốn vật chất (theo Khung sinh kế bền vững của DFID, 2001)
Trang 133.1.2 Đối với dữ liệu sơ cấp
Phương pháp hảo sát thực địa: Nhóm tác giả tiến hành quan sát và mô tả lại
thực trạng hạn hán, nguồn vốn sinh kế của các hộ nông dân, cũng như các mô hình kinh tế thích ứng với hạn hán Các dữ liệu sẽ được ghi chép chi tiết, có ghi nhận bằng hình ảnh
Thời gian tiến hành khảo sát:
- Lần 1: Từ ngày 4 – 7/9/2015: Khảo sát sơ lược địa bàn nghiên cứu, thu thập thông
tin thứ cấp từ UBND xã Phước Trung, UBND huyện Bác Ái
- Lần 2: Từ ngày 6 – 13/11/2015: Tiến hành khảo sát bằng các công cụ bảng hỏi,
phỏng vấn sâu người dân tại địa bàn nghiên cứu
Phỏng vấn sâu: đề tài tiến hành phỏng vấn sâu đối với một số đối tượng liên quan
như sau:
(1) Chính quyền địa phương: Các đối tượng tiến hành phỏng vấn sâu cụ thể như sau:
- Cán bộ Hội Liên hiệp phụ nữ (1 cán bộ)
- Cán bộ xã tại địa bàn nghiên cứu (1 cán bộ)
- Trưởng thôn/ trưởng ấp (1 cán bộ)
(2) Hộ dân địa phương (6 hộ)
Bảng hỏi: Số lượng bảng hỏi khoảng 100 bảng, khảo sát các hộ nông dân được
chọn ngẫu nhiên tại địa bàn xã Phước Trung, huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận Nhằm thu thập các thông tin về diễn biến tình hình hạn hán, các nguồn vốn sinh kế, sự thay đổi trong các hoạt động kinh kế của các hộ nông dân tại xã Dữ liệu từ bảng hỏi sẽ được xử lí bằng công cụ SPSS 11.5
3.2 Phương pháp xử lí và phân tích dữ liệu:
- Đối với dữ liệu thứ cấp: Các dữ liệu sau khi thu thập được chọn lọc, sắp xếp phù
hợp theo mục tiêu, khung nghiên cứu
- Đối với dữ liệu sơ cấp:
Trang 14 Dữ liệu định lượng: Dữ liệu được xử lí bằng công cụ SPSS, chọn lọc phân tích theo khung nghiên cứu
Bảng tóm tắt các phương pháp, công cụ được sử dụng để thu thập và xử lí dữ
liệu và k t quả mong muốn đ t được:
- Dữ liệu sơ cấp: Thông tin từ phỏng vấn sâu các cán bộ, người dân địa phương về những diễn biến của hạn hán
Nhận diện được thực trạng hạn hán, những ảnh hưởng nhất định đến sản xuất, đời sống tại địa bàn nghiên cứu
- Biết được những ảnh hưởng của tình trạng hạn hán đến nguồn sinh
hán hiện nay của
- Dữ liệu thứ cấp: báo cáo của phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn xã Phước Trung, các chính sách hỗ trợ từ UBND xã
- Dữ liệu sơ cấp: bảng hỏi, phỏng vấn sâu
- Biết được các mô hình, chính sách phát triển, chính sách hỗ trợ đối với các hộ trên
Trang 154.Các khái niệm liên quan
“Biến đổi khí hậu là “những ảnh hưởng có hại của biến đổi khí hậu”, là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản
lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người”.(Theo công ước chung của LHQ về biến đổi khí hậu)
Theo Điều 1, điểm 2 của Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về Biến đổi Khí Hậu (UNFCCC) năm 1992, biến đổi khí hậu là sự biến đổi của khí hậu do hoạt động của con người gây ra một cách trực tiếp hoặc gián tiếp làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và do sự biến đổi tự nhiên của khí hậu quan sát được trong những thời kỳ có thể so sánh được (United Nations, 1992)
Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008, tr.6) định nghĩa biến đổi khí hậu “ là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình và/ hoặc sự dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỉ hoặc dài hơn
4.1 H n hán v ph n o i h n hán
các hộ nông dân
xã Phước Trung,
huyện Bác Ái
- Công cụ xử lí: SPSS, phương pháp thông kê địa bàn Thấy rõ sự
chuyển đổi mô hình
- Chỉ ra những khó khăn, hạn chế hiện tại
Trang 16Hạn hán là một trong nhiều biểu hiện của biến đổi khí hậu, là hiện tượng lượng mưa thiếu hụt nghiêm trọng kéo dài, làm giảm hàm lượng ẩm trong không khí và hàm lượng nước trong đất, làm suy kiệt dòng chảy sông suối, hạ thấp mực nước ao hồ, mực nước trong các tầng chứa nước dưới đất gây ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng của cây trồng, làm môi trường suy thoái gây đói nghèo dịch bệnh (Trung tâm khí tượng thủy văn quốc gia, 2011)
Hạn hán khí tượng: thường gắn liền với hiện tượng lượng mưa thông thường trong
khu vực giảm đáng kể, được thể hiện qua nhiệt độ (thường so sánh với nhiệt độ trung bình hoặc nhiệt độ bình thường) và thời gian khô hạn Các khái niệm về hạn hán khí tượng được đưa ra ở mỗi vùng cụ thể hoàn toàn khác nhau Ở Ấn Độ, người ta xem hạn hán khí tượng xuất hiện khi lượng mưa theo mùa ở một vùng nào đó thấp hơn 75% so với lượng mưa trung bình ở vùng đó trong một thời gian dài, Ở Philipin, một địa phương được coi là
sẽ có hạn hán khí tượng khi lượng mưa thấp hơn 40% so với mức trung bình của ba tháng liên tục Ở Việt Nam, qua các đợt hạn hán điển hình nhiều năm (1992-1993, 1997-1998, 6 tháng 2002, 11/2004 – 2/2005) lượng mưa và lượng nước thiếu hụt thường dưới 70% trung bình nhiều năm (TBNN) Tỉnh Ninh Thuận bị hán hán nặng nhất trong vòng 20 năm qua, chủ yếu là do mưa ít, lượng mưa trong 4 tháng ( từ tháng 11/2004 – 2/2005) chỉ bằng khoảng 41% TBNN (Bài tham luận kiến thức hạn hán, ban chỉ huy phòng chống lụt bão TP.HCM) Trong năm 2015, tỉnh Ninh Thuận kí quyết định công bố thiên tai hạn hán xảy
ra trên địa bàn tỉnh từ 1/1/2015 – 06/2015 ( Văn bản công bố thiên tai hạn hán của tỉnh Ninh Thuận 1/1/2015)
Hạn hán thủy văn: đánh dấu sự rút hết của lớp nước trên mặt đất (sông, hồ, suối và
các hồ chứa) và rơi vào mực nước ngầm Tần suất và mức độ của hạn hán thủy văn thường được xác định vào đường mực nước hoặc phạm vi lưu vực sông Nếu dòng chảy thực tế trong một khoảng thời gian nhất định nào đó thấp hơn ngưỡng của đường mực nước thì lúc đo hạn hán thủy văn xem như bắt đầu
Hạn hán nông nghiệp: xuất hiện khi không có đủ độ ẩm cho đất và lượng mưa
không đủ cung cấp cho mùa màng Loại hạn hán này chính là tác động tổng hợp của hạn hán khí tượng và hạn hán thủy văn đối với mùa màng, làm cho cây trồng không đủ độ ẩm
Trang 17để duy trì sự tăng trưởng sản lượng trung bình Ảnh hưởng của hạn hán nông nghiệp rất khó ước lượng vì tính phức tạp trong sự tăng trưởng cây trồng và khả năng xuất hiện các nhân tố khác như sâu bọ, cỏ dại, đất kém màu mỡ và giá cả thấp cũng ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và năng suất cây trồng
4.2 Nông dân và hộ nông dân
Nông dân là người hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp bao gồm các hoạt động trồng trọt và chăn nuôi, coi “nông nghiệp như một phương thức sinh nhai và một lối sống chứ không phải như một doanh nghiệp nhằm mục tiêu lợi nhuận”8 Đề cấp đến vấn đề sinh kế phải đề cập đến cấp độ hộ Bởi lẽ hoạt động kinh tế của hộ nông dân chủ yếu dựa vào lao động gia đình, các thành viên tham gia hoạt động kinh tế có quan hệ gắn bó với nhau về kinh tế và huyết thống9 Chính vì vậy, việc xác định thu nhập chính xác của từng thành viên trong hộ là khó thực hiện được bởi vì khả năng lao động của các thành viên trong hộ là khác nhau và trong quá trình sản xuất hoàn toàn theo phân công tự phát hoàn toàn không có các ghi chép để tính toán thu nhập của họ nên việc “ ước lượng thu nhập và lợi nhuận từ nông dân dễ có sự sai lệch và rất khó tránh khỏi”10
4.3 Sinh v vốn sinh k
Một sinh kế bao gồm các khả năng, tài sản và các hoạt động cung cấp phương tiện sống Một sinh kế bền vững vận động trong khuôn khổ một bối cảnh truyền thống và văn hóa thích nghi và đối phó với tổn thương, trong khi duy trì và tăng cường các tài sản và nguồn lực11
Vốn được Bourdieu đem ra phân tích và phân loại thành ba loại: vốn kinh tế, vốn văn hóa và vốn xã hội (Bourddieu,1986) Trải qua sự phát triển, các thảo luận về “vốn” ngày càng trở nên sôi nổi cùng với sự xuất hiện của các cách phân loại và định nghĩa mới Theo khung sinh kế bền vững của DFID năm loại vốn này được hiểu là:
Trang 18Vốn vật chất bao gồm cơ sở hạ tầng và các loại hàng hóa mà người sản xuất cần để
hậu thuẫn sinh kế
Vốn tài chính ngụ ý về các nguồn lực tài chính mà con người sử dụng để đạt được
các mục tiêu sinh kế của mình
Vốn xã hội là các nguồn lực xã hội mà con người sử dụng để theo đuổi các mục tiêu
sinh kế của mình, bao gồm quan hệ, mạng lưới, thành viên nhóm, niềm tin, sự phụ thuộc lẫn nhau và trao đổi cung cấp các mạng an ninh phi chính thống quan trọng
Vốn con người đại diện cho các kỹ năng, tri thức, khả năng làm việc và sức khỏe tốt,
tất cả cộng lại tạo thành những điều kiện giúp con người theo đuổi các chiến lược sinh kế khác nhau và đạt được các mục tiêu sinh kế Ở cấp độ hộ gia đình, vốn con người là số lượng và chất lượng lao động của hộ Loại vốn này khác nhau tùy thuộc vào kích cỡ của
hộ, trình độ giáo dục và kỹ năng nghề nghiệp, khả năng quản lý, tình trạng sức khỏe, tri thức về các cấu trúc sở hữu chính thống và phi chính thống (như các quyền, luật pháp, chuẩn mực, cấu trúc chính quyền, các thủ tục )
Vốn tự nhiên là tất cả những nguyên vật liệu tự nhiên để tạo dựng sinh kế Có rất
nhiều nguồn lực tạo thành vốn tự nhiên bao gồm cả các nguồn lực đất đai
4.4 Th ch ứng sinh
Thích ứng sinh kế là quá trình của sự linh động hoặc thay đổi trong các hoạt động sinh kế để tạo thu nhập Thích ứng sinh kế tích cực mang lại sự phồn thịnh nhưng sự thích ứng tiêu cực thường diễn ra khi người dân buộc phải đôi phó với những cú sốc để tồn tại12
Thích ứng tự phát (autonomous adaptation13): là những hoạt động thích ứng được thực hiện mang tính “phản xạ” nhằm đối phó với các tác động thực tế của bối cảnh đang diễn ra mà không có sự can thiệp chính sách Đó thường là điều chỉnh mang tính tạm thời
và thường diễn ra trong ngắn hạn
12 Susanna Davies and Naomi Hossain, 1997, p.5 dẫn lại theo Hồ Kim Thi, 2014, Thích ứng sinh kế của nông dân Khmer ở vùng ven đô quận Ô Môn, TP Cần Thơ,ĐH KHXH & NV TP.HCM Tr.15
13 http://www.ipcc.ch/pdf/glossary/ar4-wg2.pdf
Trang 19Thích ứng có kế hoạch (planned adaptation14): là những hoạt động thích ứng được lập kế hoạch và có sự cân nhắc thận trọng về nguồn lực trong bối cảnh đã được dự đoán trước Thích ứng có kế hoạch, thường là điều chỉnh mang tính chiến lược, chủ động để giải quyết các rủi ro theo cách đáp ứng tốt nhất các mục tiêu của xã hội và thường diễn ra trong dài hạn
Báo cáo của Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC - 2013), các nhóm người nghèo trên thế giới được đánh giá là đối tượng dễ bị tổn thương nhất trước tác động
của biến đổi khí hậu do đó việc thích ứng với biến đổi khí hậu được nhìn nhận là một ưu
điểm trong phát triển bền vững của nhân loại
Cùng nhận định đó trong báo cáo của Oxfam “Việt Nam Biến đổi khí hậu, sự thích ứng và người nghèo” phụ nữ và nam giới nghèo tại hai tỉnh Bến Tre và Quảng Trị hiện đã
và đang đối mặt với tác động của biến đổi khí hậu Hầu hết, người dân chưa được trang bị cho việc giảm nhẹ, hoặc thích ứng với các tác động này Người dân sẽ lâm vào tình trạng
dễ bị tổn thương vì các hiện tượng thời tiết khắc nghiệt gia tăng cả về mức độ và cường
độ Công tác phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro thiên tai giúp giảm mất mát về người và sinh kế của người dân
Trong “Quảng Trị sống chung với lũ” của Oxfam, kinh nghiệm ở Quảng Trị đã cho thấy việc người dân tham gia vào các chương trình quản lý rủi ro thiên tai tại địa phương
Trang 20có thể làm giảm bớt một cách rõ rệt ảnh hưởng của lũ lụt gây ra cho họ Điều này được xác nhận qua kinh nghiệm của Oxfam tại nhiều địa phương khác của Việt Nam nhằm
giảm thiểu mức độ tổn thương của cộng đồng đối với các tác động của thời tiết khắc
vụ mà hệ sinh thái tự nhiên mang lại Thực hiện các giải pháp sẽ giúp tăng cường khả năng thích ứng của người dân, đặc biệt những cộng đồng sinh sống phụ thuộc chủ yếu
vào khai thác va sử dụng tài nguyên thiên nhiên Đồng thời cũng nhấn mạnh đến những khả năng thích nghi sinh kế của người dân dựa vào điều kiện tự nhiên có sẵn trên địa bàn nhầm giảm nhẹ sự ảnh hương của biến đổi khí hậu đặc biệt là tình trạng thiếu nước Biến đổi khí hậu do con người gây ra trong tương lai sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ không chỉ về tính bất ổn của khí hậu mà còn về cường độ và tần suât xuất hiện và sẽ gây thiệt hại cho sự phát triển bền vững lâu dài của đất nước Những chiến lược thích nghi về biến đổi khí hậu trong nước là cần thiết và cần phải thay đổi quan niệm thích nghi từ bị động sang chủ động ra quyết định Trọng tâm nhất của những chọn lựa thích nghi là nhằm vào những lĩnh vực dễ bị ảnh hưởng nhất như tài nguyên nước, nông nghiệp, lâm nghiệp, những vùng ven biển, năng lượng, giao thông vận tải và y tế17
Hoạt động sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào các yếu tố tự nhiên như: đất đai, nguồn nước, khí hậu, chế độ thủy văn, nhiệt độ, độ ẩm nên sẽ là ngành bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi biến đổi khi hậu ở Việt Nam cụ thể là: nhiệt độ tăng, hạn hán (và thiếu nước tưới) sẽ ảnh hưởng đến sự phân bố của cây trồng, đặc biệt làm giảm năng suất,
17 Trần Thục và Lê Văn Thường (2001), Khí hậu, Biến đổi khí hậu và các biện pháp thích ứng
Trang 21cụ thể là năng suất lúa của vụ xuân có xu hướng giảm mạnh hơn so với năng suất lúa của
vụ mùa; năng suất ngô vụ đông có xu hướng tăng ở đồng bằng Bắc Bộ và giảm ở Trung
Bộ và Nam Bộ Ước tính rằng, năng suất lúa xuân ở vùng đồng bằng sông Hồng có thể
giảm 3,7% vào năm 2020 và giảm tới 16,5% vào năm 2070; năng suất lúa mùa sẽ giảm 1% vào năm 2020 và giảm 5% vào năm 2070 nếu không có các biện pháp ứng phó kịp thời và hiệu quả (Trần Thọ Đạt và Vũ Thị Hoài Thu, 201218)
Mất đất canh tác trong nông nghiệp và năng suất cây trồng suy giảm sẽ đặt ra những thách thức và đe dọa đến đời sống của nông dân, vấn đề xuất khẩu gạo và an ninh lương thực quốc gia đối với một quốc gia mà nông nghiệp đóng vai vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân như Việt Nam (Trần Thọ Đạt và Vũ Thị Hoài Thu (2013), Có thể nói hạn hán tác động lớn vào 03 tài nguyên: khí hậu, nước, đất đai đây là nền tảng cơ bản để
phát triển nông nghiệp, cụ thể như 02 ngành sản xuất chủ lực liên quan đến sinh kế của
người dân ĐBSCL là sản xuất nông nghiệp (trọng tâm là canh tác lúa gạo và trái cây) và nuôi trồng thủy sản (chính yếu là nuôi cá và tôm cả cho 3 nguồn nước ngọt, lợ, mặn), kể
cả một phần đánh bắt thủy sản tự nhiên nếu như cường độ và quy mô hạn hán gia tăng mạnh hơn nữa thì sẽ tác động đến phần đông sinh kế người dân19
hán ở các tỉnh miền Trung và chỉ ra đây cũng chính là lực cản cho phát triển kinh tế xã hội Hạn hán, thiếu nước đã tác động đến sa mạc hóa đất đai nghiêm trọng, chỉ riêng tỉnh Ninh Thuận hiện đã có tới 53.835 ha đất nông nghiệp thường xuyên khô hạn thiếu nước
Do khô hạn thiếu nước cùng các hoạt động thiếu hợp lý của con người mà diện tích hoang mạc các loại ở Ninh Thuận lên đến 41.021 ha (năm 2004) chiếm trên 12% diện tích tự nhiên của tỉnh, trong đó hoang mạc hóa do cát tăng nhanh từ 4.878 ha năm 2001 lên 9.103
ha năm 2004 Như vậy rõ ràng hạn hán, thiếu nước là vấn đề đặc biệt nghiêm trọng đối với Nam Trung Bộ, nó đã trở thành gánh nặng cản trở sự phát triển kinh tế, an sinh xã hội
và xóa đói giảm nghèo đối với các địa phương”
18 Tác động của biến đổi khí hậu đến tắng trưởng và phát triển ở Việt Nam và một số gợi ý chính sách
19 Lê Anh Tuấn, Hoàng Thị Thủy, Võ Văn Ngoan (2014), Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sinh kế người dân Đồng Bằng Sông Cửu Long
20 Tài nguyên nước mùa cạn Nam Trung Bộ (Phú Yên-Bình Thuận ) và nguy cơ hạn hán, sa mạc hóa
Trang 22Ninh Thuận đang đối mặt với đợt hạn hán gay gắt nhất trong 10 năm trở lại đây Thiếu trầm trọng nguồn nước dẫn tới sản xuất, chăn nuôi, sinh hoạt… của người dân trên khắp các địa bàn bị ảnh hưởng nghiêm trọng Người dân ở thôn, xã thuộc các huyện Phước Trung, Thuận Bắc, Ninh Hải, Ninh Sơn, Bác Ái… tận dụng lượng nước kiệt còn lại ít ỏi trên các giếng, ao hồ để sử dụng cho sinh hoạt Trong đó xã Phước Trung, huyện Bác Ái nơi thiếu nước sinh hoạt trầm trong nhất, đồng thời các diện tích lúa và hoa màu gieo trồng vụ Đông Xuân có nguy cơ thiệt hại hoàn toàn21
6.Khung nghiên cứu
7.Nội dung nghiên cứu
Để thể hiện các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, nội dung của đề tài gồm các phần chính sau đây:
Phần mở đầu: sẽ bao gồm lí do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, khung
nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước, một số khái niệm liên quan
trợ
Tài sản sinh kế
Hoạt động sinh kế
Kết quả thích ứng
Trang 23Chương 1: Diễn biến tình trạng hạn hán và đặc điểm kinh tế, xã hội của hộ nông dân
xã Phước Trung, huyện Bác Ái
Chương 2: Tài sản sinh kế trong thích ứng hạn hán của hộ nông dân xã Phước Trung Chương 3: Các hoạt động sinh kế thích ứng với hạn hán của các hộ nông dân xã Phước Trung
Phần kết luận
8.Thời gian nghiên cứu
- Thời gian của dữ liệu nghiên cứu: để xem xét sự thay đổi trong các hoạt động nông nghiệp thích ứng với hạn hán, nghiên cứu này sẽ tìm hiểu trong mốc thời gian 5 năm (2010-2015)
- Thời gian thực hiện nghiên cứu: từ tháng 8 năm 2015 đến tháng 3 năm 2016
Trang 2415
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: DIỄN BIẾN TÌNH TRẠNG HẠN HÁN VÀ ĐẶC ĐIỂM KT-XH CỦA
HỘ NÔNG DÂN XÃ PHƯỚC TRUNG, HUYỆN BÁC ÁI
1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên huyện Bác Ái
1.1.1 Vị trí địa lý
Bác Ái là huyện miền núi, nằm phía Tây Bắc của tỉnh Ninh Thuận Phía Đông giáp huyện Ninh Hải, huyện Thuận Bắc Phía Tây giáp huyện Lạc Dương, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng Phía Nam giáp huyện Ninh Sơn và thành phố Phan Rang Phía Bắc giáp huyện Khánh Vĩnh, huyện Khánh Sơn và thành phố Cam Ranh
Toàn huyện Bác Ái có 9 đơn vị hành chính cấp xã, gồm xã Phước Đại, Phước Thành, Phước Chính, Phước Trung, Phước Thắng, Phước Tiến, Phước Tân, Phước Hòa và Phước Bình
Trang 2516
Hình 1.1: Bản đồ hành chính huyện Bác Ái
Nguồn: http://www.edoninhthuan.gov.vn/
Trang 2617
1.1.2 Địa hình, địa chất
Địa hình đồi núi chiếm phần lớn diện tích toàn huyện Ranh giới với tỉnh Khánh Hòa về phía Đông Bắc là núi Ma Nai, có đỉnh cao 1.637 m; ranh giới với huyện Thuận Bắc là núi Tà Năng, đỉnh cao 1.451 m; phía Tây là Núi Chuẩn, ranh giới với huyện Ninh Sơn, có đỉnh cao 1.645 m; trong địa bàn huyện có núi Ya Bô, đỉnh cao 1.220 m Nhìn chung, địa hình huyện Bác Ái thấp dần theo hướng Tây Bắc – Đông Nam và bị chia cắt mạnh bởi đồi núi
Diện tích tự nhiên của huyện Bác Ái là 102.729,48 ha, chiếm 30,57% diện tích toàn tỉnh Trong ha đó, đất lâm nghiệp 81.795 chiếm 79,6%; đất nông nghiệp 12.650 ha chiếm 13,3% Tuy diện tích đất tự nhiên tương đối lớn, nhưng phần lớn là đất đồi núi và đất đã
bị thoái hóa, nghèo dinh dưỡng.22
1.1.3 Khí hậu
Huyện Bác Ái mang đặc điểm khí hậu chung tỉnh Ninh Thuận Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa điển hình với đặc trưng khô nóng, gió mạnh, bốc hơi mạnh, nhiệt độ trung bình
C Khí hậu được chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài
từ tháng 9 đến tháng 11, mùa khô kéo dài từ tháng 12 đền tháng 8 năm sau
Huyện Bác Ái có lượng mưa trung bình khoảng 1000 – 1200 mm nhưng chỉ tập trung vào 3 tháng trong năm, lượng bốc hơi cao nên nhìn chung, điều kiện khá khó khăn
1.1.4 Hệ thống sông ngòi và chế độ thủy văn
Hệ thống sông ngòi, suối trên địa bàn huyện khá dày Với những cong sông tiêu biểu như:
- Sông Cái: Bắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên, chảy theo hướng Tây Nam xuống Đông Nam Bác Ái rồi nhập vào sông Dinh
- Sông Trà Co: Bắt nguồn từ phía tây dãy núi Marai, chiều dài sông chính 25km, diện tích lưu vực 154km2
22 Theo Báo cáo của huyện Bác Ái về Kết quả thực hiện Nghị quyết 30a của Chính Phủ, giai đoạn 2009 - 2015
Trang 2718
- Sông Sắt: bắt nguồn từ dãy núi Hà Lá Thượng, chiều dài sông chính 32km, diện tích lưu vực 411km2
Ngoài ra, trên địa bàn huyện còn có sông Rớ, sông Ma Lâm, Đặc điểm chung của
hệ thống sông ngòi tại huyện Bác Ái là ngắn, có độ dốc lớn, do đó dễ gây lũ cục bộ vào mùa mưa và khô hạn vào mùa khô
Huyện còn chủ trương xây dựng các hồ chứa nước có dung tích tương đối lớn như:
hồ Phước Trung
1.1.5 Tài nguyên thiên nhiên
Huyện Bác Ái có nguồn tài nguyên động thực vật khá phong phú và đa dạng Về thực vật, đây là khu vực tập trung nhiều loại gỗ quý, có giá trị như: Trắc, Cẩm Lai, Xét
về thảo dược thì có Sâm nam, Sa nhân, Trầm hương, Về động vật thì có nai, heo rừng, khỉ, và nhiều loài chim khác Khu vực tập trung chủ yếu của những loài này là Vườn quốc gia Phước Bình
1.2 Khái quát về điều kiện kinh t - xã hội huyện Bác Ái
1.2.1 Tình hình phát triển kinh tế
Trong những năm qua huyện Bác Ái đã phát huy thế mạnh trong nông nghiệp và xác định chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng lấy sản xuất hàng hóa là then chốt, nhằm nâng cao năng suất, cải thiện thu nhập, hướng đến xóa nghèo trên toàn huyện Với hỗ trợ vốn chính từ Nghị quyết 30a của Chính Phủ, nông dân còn được hỗ trợ những kĩ thuật cần thiết để tăng hiệu quả hoạt động nông nghiệp.Tập trung sản xuất các giống cây trồng phụ hợp với điều kiện đất đai khí hậu và hạn chế sản xuất giống cây hiệu quả thấp như lúa nương Tuy vậy, việc chuyển đổi cơ cấu cây trộng vật nuôi còn chậm, trình độ thâm canh còn hạn chế, người dân thiếu chủ động trong việc đầu về giống và vật tư nông nghiệp nên năng suất cây trồng thấp, giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp tăng dần qua các năm nhưng chưa cao, nhưng đây lại là nguồn chính trong nguồn thu nhập của toàn huyện
Trang 28(Tỷ đồng)
Tỷ lệ
%
Tốc độ tăng BQ (%/năm)
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Bác Ái năm 2012
Giá trị sản xuất của toàn huyện năm 2010 đạt 323,76 tỷ đồng tăng lên 551,63 tỷ đồng trong năm 2012, tỷ lệ tăng bình quân 31,2%/năm Trong đó thu nhập từ Nông nghiệp có tỷ lệ cao nhất chiếm 52,6% năm 2010 và giảm xuống 47,2% năm 2012 Năm
2010 giá trị sản xuất ngành NN đạt 170,43 tỷ đồng tăng lên 260,13 tỷ đồng trong năm
2012, tốc độ tăng bình quân 24,3% /năm.Giá trị sản xuất của ngành thương mại - dịch vụ năm 2012 đạt 115,82 tỷ đồng, chiếm 21% tổng giá trị sản xuất của huyện, tốc độ tăng bình quân 18,9%/năm
Do trình độ dân trí và xuất phát điểm về kinh tế - xã hội thấp, cơ sở hạ tầng đầu tư chưa đồng bộ, phương thức sản xuất còn mang tính tự cung tự cấp, tập quán canh tác lạc hậu chủ yếu quảng canh nên hiệu quả hoạt động kinh tế trên địa bàn toàn huyện còn gặp nhiều hạn chế Tỷ lệ hộ nghèo có giảm qua các năm nhưng vẫn còn ở mức khá cao Tỷ lệ nghèo bình quân toàn huyện năm 2012 là 46,12% hộ nghèo (giảm 8,92% so với năm 2011), nghèo đói tập trung chủ yếu ở nhóm người dân tộc thiểu số (chiếm khoảng 99,35% tổng số hộ nghèo của toàn huyện) Theo thống kê, năm 2013, huyện Bác Ái có 651 hộ thoát nghèo nhưng cũng có đến 185 hộ nghèo mới, trong đó có 66 hộ tái nghèo Điều này cho thấy, công tác xóa đói giảm nghèo ở huyện Bác Ái thiếu tính bền vững
Trang 29Nguồn: Chi Cục Thống kê tỉnh Ninh Thuận
Giá trị sản xuất hiện hành của ngành Nông - Lâm nghiệp và Thủy sản huyện Bác
Ái dao động từ 188,81 tỷ - 294,37 tỷ đồng và có xu hướng tăng dần qua các năm, tính đến năm 2012 Trồng trọt là ngành có giá trị sản xuất hiện hành cao nhất, tăng từ 122,79 -170,5 tỷ đồng chiếm tỷ lệ 65, 3 -72 % tổng giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp, chăn nuôi chiếm tỷ thấp 29,2% Đến cuối năm 2014, giá trị sản xuất ngành nông, lâm, thủy sản đạt 257 tỷ đồng, có dấu hiệu giảm nhẹ so với năm 2012 Và còn tiếp tục giảm trong 9 tháng đầu năm 201523 Nguyên nhân chính dẫn đến là do thời tiết hạn hán kéo dài, ảnh hưởng đến nguồn nước tưới cũng như khả năng sinh trưởng của cây trồng, dẫn đến sản lượng và diện tích cây trồng đề giảm
1.2.2 Các hoạt động y tế, giáo dục
Về giáo dục:
Đến cuối năm 2014, tổng số học sinh các cấp huy động được trên toàn huyện đạt 7.026 học sinh, tăng 5,9% so với đầu năm học 2013 Xét về phổ cập giáo dục mầm non 5 tuổi chỉ đạt 8/9 xã, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi đạt 9/9 xã trên toàn huyện Đây
là dấu hiệu đáng mừng đối với giáo dục huyện Bác Ái sau những nỗ lực cải thiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, về đội ngũ giáo viên.24
Về y tế:
23 Theo kết quả báo cáo Tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2014 và 9 tháng đầu năm 2015
24 Theo kết quả báo cáo Tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2014
Trang 3021
Năm 2014, huyện Bác Ái đã triển khai hiệu quả những chương trình phát triển cụ thể trong lĩnh vực y tế Về phòng chống các dịch bệnh như sởi, tay chân miệng, sốt xuất huyết, được chú trọng và thực hiện chặt chẽ để hạn chế nguy cơ phát sinh Bên cạnh đó, sức khỏe phụ nữ sinh sản cũng như trẻ em được chú trọng nhiều hơn Đối với phụ nữ, huyện chủ trương tổ chức chiến dịch tăng cường dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản trên
9 xã, sử dụng biện pháp tránh thai, sinh con theo kế hoạch Đối với trẻ em thì số trẻ suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi giảm 2,37% so với năm 2013, trẻ dưới 1 tuổi được tiêm phòng mở
1.2.3 Đặc điểm dân cư và lao động
Tính đến năm 2014 toàn huyện có 6.536 hộ với 28.486 nhân khẩu, chủ yếu là đồng bào dân tộc Raglai (chiếm trên 90%) Ngoài ra còn có các dân tộc như Kinh, Chăm,
Với những chủ trương kế hoạch thực hiện cụ thể trong phát triển nông nghiệp nhằm cải thiện điều kiện kinh tế người dân của huyện Bác Ái đã làm tỷ lệ nghèo giảm liên tục trong những năm qua Năm 2012, tỉ lệ hộ nghèo giảm từ 5 -7%, đến năm 2014, tiếp tục giảm thêm 8,27% Hiện tại, tính đến cuối năm 2014, tỉ lệ hộ nghèo toàn huyện ở mức 29,83%
1.2.4 Cơ sở hạ tầng kĩ thuật
Toàn huyện đã có 98% đường giao thông đến trung tâm xã, 58% đường giao thông đến thôn được rải nhựa hoặc cấp phối; 50% thôn có công trình nước sinh hoạt tập trung; 100% xã, thôn có điện lưới quốc gia và 100% hộ dân sử dụng điện lưới quốc gia
1.3 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh t , xã hội xã Phước Trung
1.3.1 Điều kiện tự nhiên
Phước Trung là một xã miền núi phía Đông Nam của huyện Bác Ái Phía Tây Bắc giáp xã Phước Chính; phía Tây Nam giáp xã Mỹ Sơn; phía Đông Bắc giáp xã Phước Thành; phía Đông giáp xã Phước Kháng và xã Bắc Phong, huyện Thuận Bắc; phía Nam
25 Theo kết quả báo cáo Tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2014
Trang 311.3.2 Điều kiện kinh tế, xã hội
Dân số xã Phước Trung, tính đến tháng 6/2015, có 2.549 khẩu, trong đó 96% là người dân tộc Raglay, có 131 hộ nghèo và 84 cận nghèo Kinh tế xã hầu hết phụ thuộc vào hoạt động sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, bắt đầu từ năm 2014 đến nay, dưới tác động của hạn hán kéo dài, nguồn nước trên địa bàn dần cạn kiệt kèm theo nắng nóng, ít mưa, điều đó đã ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình sản xuất nông nghiệp của xã và đời sống của người dân địa phương
Theo báo cáo năm 2012 của UBND xã Phước Trung, tổng diện tích gieo trồng toàn
xã đạt 1.660 ha và sản lượng lương thực đạt 2.954 tấn Chăn nuôi đã trở thành ngành kinh
tế mũi nhọn của xã, tổng đàn gia súc có sừng được duy trì và phát triển ổn định trên 3.400 con Trong đó, đàn trâu bò hơn 2.000 con; đàn dê, cừu có 991 con; đàn heo 399 con; bình quân mỗi hộ có 3-4 con gia súc chăn thả, cải thiện kinh tế gia đình Bên cạnh đó, UBND
xã đã giao cho cộng đồng dân cư 4 thôn nhận khoán bảo vệ 3.253 ha rừng nhằm tạo thêm thu nhập và cải thiện tình trạng bảo vệ rừng
Nhưng từ đầu năm 2014, tình trạng hạn hán trên địa bàn xã Phước Trung có diễn biến phức tạp hơn Hai công trình hồ chứa nước, 5 đập thủy lợi nhằm cung cấp nước cho địa bàn 2 xã Phước Trung, Phước Nhơn đã cạn nguồn nước Điều này đã gây nhiều khó khăn cho các hoạt động sản xuất nông nghiệp Vụ Đông Xuân năm 2015, toàn xã xuống giống 53,4 ha cây trồng các loại, do thiếu nước đã khiến nhiều diện tích mất trắng Thống
kê sơ bộ cho biết từ đầu năm 2015, đã có 30 ha lúa, 10 ha bắp của đồng bào Raglai ở 2 thôn Tham Dú, Đồng Dày của xã Phước Trung bị chết khô; gần 3.000 con cừu, hơn 2.000
con bò có nguy cơ chết đói vì không còn cỏ ăn, nước uống
Trang 3223
1.3.3 Cơ sở hạ tầng
Về hệ thống đường nối liền giữa các thôn và giữa các thôn với những khu sản xuất phần lớn đã được bê tông hóa dưới sự hỗ trợ của Nhà nước trong một số chính sách phát triển khác nhau Ngoài ra, Chính quyền địa phương còn hỗ trợ xây dựng được các sân phơi hỗ trợ việc thu hoạch nông sản ở các thôn
Hầu hết các hộ trên địa bàn xã đều được tiếp cận với hệ thống lưới điện quốc gia Tuy nhiên vẫn còn một số hộ do mới thực hiện di dời, chưa đủ điều kiện đăng kí sử dụng điện như quy định của Nhà nước Từ cuối năm 2015, nhà máy nước xã Phước Trung đi vào hoạt động và cung cấp nước, nhưng khu vực được tiếp cận hệ thống nước sạch còn hạn chế Tính đến đầu tháng 3/2016, trên địa bàn xã đã có 150 hộ có nước sạch
Trên địa bàn toàn xã Phước Trung hiện có 1 trường mầm non, 2 trường tiểu học ( Trường Tiểu học Phước Trung A và B) và trường Trung học cơ sở Phước Trung Tại khu vực trung tâm, trạm Y tế xã được đầu tư khá chu đáo về cơ sở vật chất nhằm tạo điều kiện thuận lợi trong việc khám và chữa bệnh cho người dân tại địa phương
1.4 Đặc trưng h n hán ở xã Phước Trung, huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận
1.4.1 Diễn biến của hạn hán tại xã Phước Trung
Phước Trung là xã có điều kiện tự nhiên khô hạn nhất tỉnh Ninh Thuận Bao quanh khu vực xã chủ yếu là đồi núi, tạo nên địa hình lòng chảo Lượng mưa nhận được rất thấp
và diễn ra trong thời gian khoảng 2 đến 3 tháng/năm nên nắng hạn là khí hậu đặc trưng của xã Trước năm 2013, nguồn nước tại các sông suối, hồ chứa nước trong địa phương
và khu vực lân cận vẫn có khả năng đáp ứng được nhu cầu sản xuất và sử dụng của người dân trong xã Nhưng từ năm 2014 đến nay, tình trạng hạn hán tại xã Phước Trung nói riêng và toàn huyện Bác Ái nói chung diễn biến khá phức tạp
Năm 2014 được coi là giai đoạn đầu của đợt hạn hán tại Ninh Thuận Thời tiết, thủy văn khu vực có những thay đổi nhất định Lượng mưa tại xã Phước Trung giảm nhẹ so với mọi năm Tuy nhiên, vào năm 2014, người dân vẫn tận dụng nguồn nước tại chỗ trong sản xuất nông nghiệp Nhưng năng suất cây trồng giảm
Trang 3324
Trong năm 2015, trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận đã có 8/20 hồ chứa có dung tích dưới mực nước chết Tổng dung tích hồ chứa chỉ đạt 11,3%, trong khi năm 2014 là 33,7% Toàn tỉnh có 6/7 huyện, 31/47 xã chịu ảnh hưởng trực tiếp từ hạn hán Riêng xã Phước Trung có 2 hồ chứa nước, hồ Phước Trung ở khu vực thôn Rã Trên – Rã Giữa, hồ Phước Nhơn ở khu vực thôn Tham Dú – Đồng Dày Tuy nhiên, vào mùa khô, mực nước cả 2 hồ đều cạn dần và không đáp ứng được nhu cầu tưới tiêu cũng như sinh hoạt của người dân Trong mùa mưa kéo dài từ tháng 9 đến tháng 11 năm 2015, xã Phước Trung chỉ nhận được khoảng 3 – 4 đợt mưa, nhưng lượng mưa rất thấp
Đến đầu tháng 3/2016, UBND tỉnh Ninh Thuận đã công bố thiên tai hạn hán trên địa bàn toàn huyện Bác Ái, huyện Thuận Nam và gần 20 xã phân bố trong các huyện còn lại26 Hạn hán đến sớm hơn 1 tháng so với quy luật hằng năm và cường độ ảnh hưởng mạnh hơn Theo nhiều người dân tại địa phương cho biết thì đây là đợt hạn hán lớn nhất
và dài nhất từ trước đến nay
1.4.2 Hạn hán và vấn đề sản xuất nông nghiệp
Tình trạng hạn hán nặng nề từ đầu năm 2014 đến cuối 2015 đã gây không ít thiệt hại
về kinh tế, cũng như ảnh hưởng nhất định đến đời sống của người dân Với điều kiện khô hạn, Phước Trung thường sản xuất những loại cây hoa màu ngắn hạn và có khả năng chịu được hạn Lúa nước chỉ có thể trồng khu vực gần suối, hồ chứa nước Nhưng đối với điều kiện hạn hán hiện tại, sản xuất nông nghiệp tại địa phương giảm cả mùa vụ và năng suất, thậm chí cây trồng chết và đất đai bỏ hoang
Phương thức canh tác của người dân tại xã Phước Trung chưa phát triển, được chia thành 2 khu vực chính: khu vực gần nguồn nước tưới như suối, hồ chứa nước thì người dân trồng lúa; còn những khu vực đồi núi xa nguồn nước tưới thì việc sản xuất hầu hết phụ thuộc vào lượng mưa hằng năm Những giống hoa màu được ưu tiên với đặc tính chịu hạn cao như bắp lai, bo bo Nhưng do tình trạng cạn nước tại suối, hồ chứa nước trong địa phương và lượng mưa giảm rõ rệt trong 2 năm vừa qua thì mùa vụ tại địa phương có xu hướng bị ảnh hưởng theo Cụ thể là lúa giảm từ 2 vụ xuống 1 vụ, hoa màu (
26 UBND tỉnh Ninh Thuận, 4/3/2016, Quyết định về việc công bố thiên tai ( hạn hán) xảy ra từ ngày 1/3/2016 tại một số địa phương trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận
Trang 3425
bắp, bo bo) chỉ có thể trồng được 1 vụ hoặc bỏ hoang Sản lượng trồng trọt tại địa phương
đã giảm đi đáng kể trong 2 năm qua
Trồng trọt
Sản xuất nông nghiệp đóng vai trò quan trọng đối với đời sống sinh kế của người dân, đặc biệt là người đồng bào tại tỉnh Ninh Thuận.Trong đó huyện Bác Ái là một huyện miền núi, thuộc diện nghèo của tỉnh và được ưu tiên nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp27, cùng với đặc thù về phát triển nông nghiệp và tập quán canh tác từ lâu đời của cộng đồng người Raglay huyện Bác Ái Tuy nhiên, nhìn chung toàn huyện có địa hình đồi núi bị chia cắt mạnh, chia các xã thành nhiều vùng nhỏ, tạo thành các tiểu vùng thời tiết, khí hậu khác nhau, đặc biệt là lượng mưa có sự khác nhau lớn tạo đặc thù về loại cây trồng tại mỗi xã
Chính vì thế năm 2013, UBND tỉnh phê duyệt 8 kế hoạch nâng cấp chuỗi giá trị (cho các chuỗi bò, cừu, dê, heo đen, nho, táo, tỏi, chuối) Trong tám chuỗi chiến lược của tỉnh, huyện Bác Ái có 3 chuỗi chính là chuỗi bò, heo đen, chuối Và bổ sung thêm hai chuỗi giá trị là đậu xanh và bắp để hỗ trợ nhóm đối tượng nghèo nhất của dự án trên địa bàn huyện Bác Ái
Bảng 1.3: Tóm tắt các chuỗi giá trị ưu tiên được lựa chọn trên địa bàn xã dự án
Stt Tên các xã Tên các chuỗi ưu tiên được lựa chọn Chuỗi đã được
nghiên cứu
Chuỗi được can thiệp năm 2013 v 2014
1 Xã Phước Thắng Lúa, Bắp, Heo đen, Bò Bò, Heo đen Bò, lúa, bắp
2 Xã Phước Chính Lúa,Heo đen, Bò, Gà Bò, Heo đen Bò, Heo đen, gà, lúa
3 Xã Phước Đại Lúa, Trâu, Bò, Heo đen Bò, Heo đen Bò, Lúa
4 Xã Phước Tân Lúa, Bắp, bò, chuối Bò, chuối Bò, Bắp
5 Xã Phước Tiến Lúa, Bắp, chuối, Heo đen, Bò Bò, Heo đen,
chuối Bò, Heo đen
6 Xã Phước Hòa Bò, Heo đen, Bắp, Lúa Bò, Heo đen Bò, Bắp, Lúa
7 Xã Phước Bình Bắp, chuối, Bò, Lúa Bò, chuối Bắp, chuối, Bò, Lúa
8 Xã Phước Trung
Lúa, Bắp, Bò, Heo đen, dê, cừu (lưu ý:
đa dạng chăn nuôi, có ý đồ chuyển dich
cơ cấu nông nghiệp)
Bò, Heo đen, dê, cừu Bò, Bắp, Lúa
9
9 Xã Phước Thành Bò, Heo đen, chuối, lúa, bắp Bò, Heo đen,
chuối Bò, Lúa, Bắp Nguồn: Ban Hỗ trợ Kinh doanh Nông nghiệp năm 2013
27 Ban Hỗ trợ Kinh doanh Nông nghiệp, 2014 Báo Cáo kết quả thực hiện nâng cấp chuỗi giá trị thuộc Dự án Hỗ trợ Tam nông tỉnh Ninh Thuận trên địa bàn huyện Bác Ái, 2014, UBND huyện Bác Ái
Trang 3526
Như hầu hết các huyện đồi núi trên cả nước lúa, bắp, chuối vẫn là cây trồng đặc thù chung của huyện Bác Ái Và ở xã Phước Trung lúa, bắp là cây trồng chủ lực nhưng có thể trong tương lai sẽ có sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng và nông nghiệp để phù hợp với tình hình
Tổng diện tích gieo trồng toàn xã 1149,41 ha trong đó vụ:
- Đông – Xuân: Diện tích gieo trồng 244,6 ha Bao gồm: Lúa 186,8 ha đạt sản lượng 560,4 tấn; bắp lai 24,1 ha đạt sản lượng 120,5 tấn; bắp địa phương 30,2
ha đạt sản lượng 90,6 tấn; đậu xanh 3,5 ha đạt sản lượng 8,75 tấn Nhưng tình hình lưu lượng nước tại 02 (hồ Phước Trung và hồ Phước Nhơn) đang cạn kiệt, không đảm bảo đủ nước cho sản xuất vụ Đông – Xuân Tổng diện tích thiệt hại: 39,9 ha; (38,8 ha lúa; 1,1 ha hoa màu), năng suất thu hoạch vụ Đông xuân rất thấp Do nắng hạn kéo dài một số diện tích không chủ động nguồn nước bị bỏ hoang không gieo trồng được chiếm 55.5 ha
- Hè thu: UBND xã đã chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất và khuyến cáo cho các hộ dân không gieo trồng vụ hè thu năm 2014 nhưng hộ dân vẫn tiến hành xuống giống28, với diện tích gieo trồng 305,31 ha (Trong đó: Lúa 21,3 ha đạt sản lượng 63,9 tấn; bắp lai 10,5 ha đạt sản lượng 40,2 tấn; bắp địa phương 139,16 ha đạt sản lượng 347,9 tấn; đậu xanh 28,95ha đạt sản lượng 31,8 tấn; Mè 105.4 ha đạt sản lượng 52,7 tấn)
- Vụ mùa: Diện tích gieo trồng 599,5 ha (Lúa 163,65 ha ; bắp lai 147.4 ha; bắp địa phương 113,25 ha, cây thực phẩm 175,2 ha) Thời tiết nắng hạn thất thường, mưa xuống chậm nên xuống giống trễ so với lịch thời vụ Bên cạnh đó, tình trạng hạn hán còn gây thiệt hại 200,35 ha (trong đó 6,5 ha lúa; 26,47 ha bắp lai; 64,38 ha bắp địa phương; 103 ha bo bo) sản lượng vụ mùa đạt lúa 550,025 tấn; bắp lai đạt 483,72 tấn; bắp địa phương đạt 122,175 tấn; cây thực phẩm đạt 144,4 tấn (Báo cáo 2015)
28 Báo cáo tình hình hạn hán xã Phước Trung năm 2015
Trang 3627
Chăn nuôi
nhưng với đặc thù riêng biệt xã Phước Trung là nơi có tính đa dạng nhất trong chuỗi vật nuôi được lựa chọn với 4 loại vật nuôi là: bò, heo đen, dê, cừu trên cho trung bình toàn huyện chỉ có loại bò và heo đen được lựa chọn để triên khai thực hiện Sự lựa chọn trên không những làm tăng tính đa dạng trong sản phẩm chăn nuôi tại xã Phước Trung mà còn
là lựa chọn cần thiết với điều kiện thời tiết đặc thù tại khu vực khô hạn nhất tỉnh này Tình hình chăn nuôi ở xã Phước Trung có dấu hiệu phát triển về số lượng vật nuôi với giống nuôi phổ biến trên địa bàn là bò, trâu, dê, cừu, lợn đen Tính đến năm 2013, tổng đàn gia súc khoảng 5.200 con; đến đầu năm 2015, số lượng gia súc tăng thêm 1.000 con, đưa tổng đàn gia súc lên khoảng 6.200 con, trong đó đàn bò có 2.549 con, dê – cừu
có 3.236 con, heo đen 376 con, trâu 56 con
Bên cạnh đó, chăn nuôi tại xã Phước Trung hiện nay cũng gặp những khó khăn nhất định về bệnh dịch, thiếu nguồn thức ăn, nước uống, đã gây những thiệt hạ đáng kể Chỉ trong 6 tháng đầu năm 2015, đàn gia súc xã Phước Trung đã thiệt hại về số lượng 102 con ( trong đó có 17 con bò và 85 con cừu) và cả chất lượng vật nuôi do diễn biến hạn hán nặng nề Nguồn thức ăn dần khan hiếm, hầu hết các hộ chăn nuôi phải dẫn đàn gia súc đi tìm thức ăn tại các khu vực đất rẫy, khá xa khu dân cư hoặc phải mua rơm từ các địa phương lân cận để đảm bảo hiệu quả vật nuôi
Hoạt động chăn nuôi tại xã Phước Trung đã nhận được nhiều sự hỗ trợ cả về cơ sở vật chất, kĩ thuật và vốn trong việc đẩy mạnh quy mô và chất lượng đàn gia súc Điển hình là Chương trình Tam nông đã hỗ trợ xây dựng chuồng trại ( năm 2014, xây dựng 40 chuồng bò), nhiều buổi tập huấn trong kế hoạch triển khai của chương trình Nông thôn mới và Tam nông, và hỗ trợ giống vật nuôi cho các hộ nghèo Ngoài ra, dưới sự tác động ngày càng nghiêm trọng của hạn hán, Chính quyền địa phương đã có những biện pháp hỗ trợ kịp thời để khắc phục hậu quả, cụ thể là đền bù tiền cho các hộ có vật nuôi bị chết do hạn
29 Bảng tóm tắt các chuỗi giá trị ưu tiên được lựa chọn trên địa bàn xã dự án
Trang 3728
CHƯƠNG 2: TÀI SẢN SINH KẾ
2.1 Giới thiệu chung về nhóm dân số khảo sát
Nhóm nghiên cứu thực hiện đợt khảo sát vào tháng 11 năm 2015 trên địa bàn 4 thôn thuộc xã Phước Trung: Rã Trên, Rã Giữa, Tham Dú và Đồng Dày Cuộc điều tra được tiến hành trên 100 hộ nông dân trên tổng số 473 nhân khẩu, trong đó tất cả các hộ đều là người Raglay
Trong quá trình xử lí, nhóm nghiên cứu phân thành hai nhóm khu vực chính: Rã Trên – Rã Giữa và Tham Dú – Đồng Dày Xét về vị trí phân bố cũng như sự khác biệt về điều kiện tự nhiên, cụ thể thôn Tham Dú và thôn Đồng Dày khô hạn, nằm xa nguồn nước
và hồ chứa nước dung tích nhỏ hơn khu vực Rã Trên, Rã Giữa Bên cạnh đó, hoạt động kinh tế hiện nay chiếm phần lớn tại khu vực thôn Tham Dú – Đồng Dày là chăn nuôi và làm thuê ( bao gồm cả chăn thuê và đi làm cà phê, công trình, )
Về giới tính, nữ chiếm tỷ lệ cao hơn nhưng không chênh lệch quá lớn giữa giới tính nam (44,6%) và nữ (55,4%) Người Raglay theo chế độ mẫu hệ, con trai phải ở rễ nên người dân có xu hướng thích sinh con gái hơn
Về trình độ học vấn trung bình các hộ khảo sát thấp Tỷ lệ mù chữ chiếm hơn 30%,
tỷ lệ người học cấp 3, cao đẳng, đại học rất ít Đây là mức đáng lo ngại về chất lượng lao động
Cơ cấu dân số theo độ tuổi các hộ tham gia khảo sát trẻ, dân số trong độ tuổi lao động cao Bên cạnh đó, tỷ lệ trẻ dưới 14 tuổi theo khảo sát tại 4 thôn khá cao, đạt xấp xỉ 25%.Đây là lực lượng lao động dồi dào trong tương lai gần, nhưng đứng trước những khó khăn trong hoạt động kinh tế địa phương và có nguy cơ trở thành áp lực việc làm
Nghề nghiệp các hộ khảo sát chủ yếu là nông nghiệp Trong đó bao gồm trồng trọt ( trồng lúa và hoa màu) và chăn nuôi ( bò, trâu, dê, cừu, lợn đen) Bên cạnh đó, tỷ lệ làm thuê tính đến năm 2013 có dấu hiệu tăng đáng kể Đặc biệt tại địa phương, lượm phân cũng được xem là một nghề đem lại thu nhập cho kinh tế hộ
Trang 38Trong phần vốn tự nhiên, đề tài tập trung phân tích về sự phân bổ đất đai trung bình trên mỗi hộ trong địa bàn khảo sát Qua đó, tìm hiểu đánh giá về mức độ hạn hán và chất lượng của đất sản xuất đã thay đổi diện tích đất sản xuất như thế nào trong các hộ tham gia khảo sát
Biểu đồ 2.1: Đánh giá của các hộ khảo sát Phước Trung về tình tr ng h n hán
Nguồn: Kết quả điều tra, tháng 11/2015
Theo khảo sát hộ nông dân tại các thôn, đa số đều đánh giá đợt hạn hán năm 2014,
2015 ở mức rất nghiệm trọng và nghiêm trọng, chiếm tới 87% và chỉ có một số ít hộ cho
Ít nghiêm trọng
Trang 3930
rằng ít nghiêm trọng Trước thực tế trồng trọt khó khăn, những hoạt động kinh tế thay thế
là chăn nuôi, làm thuê và đặc biệt lượm phân bò cũng được coi là một nghề kiếm sống tại địa phương Tính đến thời điểm hiện tại, diện tích đất sản xuất đã có sự thay đổi lớn
Bảng 2.1: Diện t ch đất sản xuất trung bình của các hộ gia đình t i xã Phước Trung
Đơn vị: m2 Diện tích đất sản xuất
trước 2013
Diện tích đất sản xuất hiện tại ( 2015) Trung bình/ hộ 7701,70 4010,31
Nguồn: Kết quả điều tra, tháng 11/2015
Theo thống kê trên, trước năm 2013 diện tích đất sản xuất trung bình trên hộ đạt hơn
nghiệt kéo dài, không đảm bảo nguồn nước tưới tiêu đã ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất
và gây không ít thiệt hại trong cả trồng trọt và chăn nuôi, vì thế một số người dân tại địa phương có xu hướng ngưng sản xuất để hạn chế thua lỗ
Biểu đồ 2.2: Thể hiện sự thay đổi của các hộ khảo sát về diện t ch đất sản xuất
trước và sau h n hán
Nguồn: Kết quả điều tra, tháng 11/2015
Biểu đồ trên đã phản ánh rõ nét sự thay đổi về diện tích đất sản trên địa bàn xã Nếu xét về diện tích đất sản xuất trước khi hạn hán, sản xuất có diện tích từ 5.001 đến 20.000
Diện tích đất sản xuất
2015
Trang 4031
chiếm tỉ lệ lớn, trong đó số lượng hộ có đất bỏ hoang lên tới
27 hộ Khi được hỏi tại sao hộ lại bỏ hoàn toàn diện tích đất sản xuất thì chị C.T.Y ( 34 tuổi, thôn Rã Trên) cho biết: “Bo bo nó lên nửa chừng rồi chết thì biết trồng cái gì cho sống mà không bỏ hoang” Được biết cây bo bo, bắp lai là một trong những cây có khả năng chịu hạn tốt
Chị C.H ( 28 tuổi, thôn Rã Giữa), cho biết thêm: “Đất rẫy mới gieo bắp, trời không cho mưa nên nó chết hết, rồi cứ để hoang chỉ mong cho có cỏ mà bò ăn” Đây không phải trường hợp duy nhất tại 4 thôn, mà còn khá nhiều hộ khác cũng gặp tình trạng tương tự Hiện tại, đất sản xuất tại có thể phân thành 3 dạng: giữ nguyên diện tích đất trồng, bỏ hoang một phần – sản xuất một phần và bỏ hoang hoàn toàn
Tình trạng đất sản xuất bỏ hoang hoàn toàn hiện nay tại địa phương có khoảng 27 hộ ( kết quả khảo sát tháng 11/ 2015 của nhóm nghiên cứu) Đây là hồi chuông báo động về mức nguy hại từ diễn biến phức tạp thời tiết, đã gây ra nhiều bất lợi buộc người dân phải ngưng hoạt động sản xuất Diện tích đất sản xuất giảm, tạo nhiều bấp bênh trong việc làm
và thu nhập kinh tế hộ
Tình trạng bỏ hoang một phần – sản xuất một phần chiếm tỉ lệ lớn Đa số các hộ giữ lại đất trồng lúa và phần nhỏ hoa màu Diện tích đất trồng lúa phân bố gần nguồn nước (hồ, suối), cung cấp nước vào mùa mưa Tuy nhiên, người trồng lúa tại địa phương hiện nay chỉ làm được 1 vụ Vì lượng mưa giảm, lượng nước không đảm bảo thực hiện 2 vụ/ năm Phần diện tích đất còn lại trồng hoa màu, thường phân bố gần khu vực nguồn nước Đây là cách tốt nhất để giúp người dân giảm thiểu thiệt hại về nguồn vốn phải bỏ ra cho sản xuất trồng trọt, vì đã có không ít hộ dân vay vốn hoặc mua chịu giống, phân bón nhưng cây trồng bị mất trắng hoặc năng suất giảm đáng kể Vào giai đoạn cao điểm của mùa khô năm 2015, chính quyền địa phương cũng ra chủ trương kêu gọi người dân ngưng xuống giống vụ Hè thu để tránh thiệt hại xảy ra31
Còn riêng về diện tích đất sản xuất được giữ nguyên chiếm tỷ lệ khá nhỏ Điều này phụ thuộc lớn vào vị trí phân bố đất đai của người dân và tư liệu sản xuất hộ Điều kiện tự
31 Theo báo cáo tình hình hạn hán trên địa bàn xã Phước Trung, năm 2015