Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh ---Lê xuân tiến Biến đổi trong đời sống vật chất, tinh thần của dân tộc mờng ở huyện lang chánh tỉnh thanh hóa từ năm 1945 đến năm 2009 Chuyên
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh
-Lê xuân tiến
Biến đổi trong đời sống vật chất, tinh thần của dân tộc mờng ở huyện lang chánh (tỉnh thanh hóa) từ năm 1945 đến năm 2009
Chuyên ngành: lịch sử Việt Nam
Mã số: 60.22.54
Luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử
Ngời hớng dẫn khoa học pgs.ts nguyễn quang hồng
Vinh, 2010
Trang 2lời cảm ơn
Để hoàn thành công trình nghiên cứu này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Quang Hồng đã tận tình hớng dẫn, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình làm đề tài Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các thầy giáo và những ngời làm khoa học thuộc chuyên ngành lịch sử Việt Nam trờng Đại học Vinh đã đọc và nhận xét góp ý để đề tài đợc hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn th viện tỉnh Thanh Hoá, trờng Đại học Hồng
Đức đã giúp tôi có đợc những tài liệu cần thiết trong quá trình nghiên cứu đề tài.
Ngoài ra tôi xin chân thành cảm ơn đến các phòng ban của UBND huyện Lang Chánh: Phòng Giáo dục, Phòng Văn hoá, Phòng Dân tộc, Phòng Thống kê, th viện, Phòng văn th lu trữ Huyện uỷ, Đảng uỷ, UBND các xã
Đồng Lơng, Quang Hiến, Giao An và các trờng học, trạm xá đóng trên địa bàn các xã.
Cảm ơn sự cộng tác giúp đỡ của đồng bào ngời dân tộc Mờng, đặc biệt là các già làng, trởng thôn, đã nhiệt tình giúp đỡ tôi về t liệu cũng nh những thông tin ngoài nguồn t liệu để tôi hoàn thành luạn văn này.
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này chắc chắn rằng
sẽ không tránh khỏi những thiếu sót rất mong nhận đợc sự góp ý của Hội đồng khoa học, tập thể cán bộ giáo viên Khoa lịch sử trờng Đại học Vinh, cũng nh gia đình, ngời thân, bạn bè để luận văn đợc hoàn thiện hơn.
Vinh, tháng 11 năm 2010
Tác giả
Lê Xuân Tiến
Trang 3mục lục
Trang
A MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề t iài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4
3 Nguồn t liệu và phơng páp nghiên cứu 5
4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 7
5 Đóng góp của luận văn 7
6 Cấu trúc luận văn 8
B Nội dung 9
Chơng 1 Khái quát đời sống vật chất, tinh thần của dân tộc Mờng ở huyện Lang Chánh (tỉnh Thanh Hoá) trớc năm 1945 9
1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên – xã hội 9
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 9
1.1.2 Địa hình đất đai 11
1.1.3 Thời tiết, khí hậu 12
1.1.4.Vài nét về thay đổi địa giới hành chính và dân c 14
1.2 Vài nét về đời sống vật chất của ngời Mờng ở huyện Lang Chánh trớc năm 1945 16
1.2.1 Nông ngiệp 16
1.2.2 Các ngành nghề thủ công truyền thống 25
1.2.3 Hoạt động buôn bán trao đổi 28
1.3 Vài nét về đời sống tinh thần của ngời mờng ở huyện Lang Chánh trớc năm 1945 29
1.3.1 Giáo dục, y tế 29
1.3.2 Tín ngỡng, tôn giáo 30
1.3.3 Phong tục, tập quán 31
1.3.4 Một số lễ hội 39
* Tiểu kết chơng 1 41
Chơng 2 Biến đổi trong đời sống vật chất của dân tộc Mờng ở Lang Chánh từ năm 1945 đến năm 2009 42
2.1 Những biến động lịch sử tác động đến đời sống kinh tế của cộng đồng ng-ời Mờng ở Lang Chánh 42
Trang 42.2 Những biến động trong đời sống vật chất của cộng đồng ngời Mờng ở
Lang Chánh từ năm 1945 đến năm 1985 47
2.2.1 Nông Nghiệp 47
2.2.2 Các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp 53
2.2.3 Hoạt động buôn bán trao đổi 55
2.2.4 Hoạt động săn bắt 57
2.2.5 Lâm nghiệp 58
2.3 Chuyển biến kinh tế của cộng đồng ngời Mờng ở Lang Chánh trong công cuộc đổi mới từ 1986 – 2009 60
2.3.1 Nguyên nhân dẫn đến chuyển biến 60
2.3.2 Những thay đổi căn bản trong đời sống vật chất của cộng đồng ngời M-ờng ở Lang Chánh từ năm 1986 đến năm 2009 61
2.3.2.1 Nông nghiệp 61
2.3.2.2 Các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp 76
2.3.2.3 Hoạt động buôn bán trao đổi 80
* Tiểu kết chơng 2 81
Chơng 3 Biến đổi trong đời sống tinh thần của ngời M-ờng ở huyện Lang Chánh từ năm 1945 đến 2009 82
3.1 Chuyển biến trong đời sống tinh thần 82
3.1.1 Chuyển biến trong giáo giục và y tế 82
3.1.1.1 Giáo dục 82
3.1.1.2 Y tế 87
3.1.2 Những thay đổi trong kiến trúc nhà của, làng bản 89
3.1.3 Những chuyển biến trong trạng phục, ẩm thực 92
3.1.3.1 Trạng phục 92
3.1.3.2 ẩm thực 94
3.2 Chuyển biến trong đời sống tinh thần 96
3.2.1 Tín ngỡng, tôn giáo 96
3.2.2 Một số lễ hội 99
3.2.3 Một số phong tục tập quán khác 100
*Tiểu kết chơng 3 101
C Kết luận 102
tài liệu tham khảo 105 phụ lục ảnh
Trang 5danh môc ch÷ c¸i viÕt t¾t
Trang 6Thổ Trong đó người Mường chiếm 33% Dân tộc Mường sở hữu một nền vănhoá phong phú v ài đậm đ bài ản sắc dân tộc thể hiện trong lịch sử, truyện kểvăn hoá dân gian, âm nhạc, trang phục… sau năm 1945 nhìn chung trên địa sau năm 1945 nhìn chung trên địabàn huyện Lanh Chánh chỉ có hai dân tộc sinh sống, đó là đồng bào ngời dântộc Mờng và đồng bào ngời Thái sinh sống Đồng bào ngời Mờng chủ yếu
định c ở vùng thấp, gần các sông, suối, còn đồng bào ngời Thái sinh sống ởvùng núi cao Từ khi đất nước thống nhất nhiều đồng b o miài ền xuôi lên lậpnghiệp, cư trú đan xen cùng với người Mường và ngời Thái, tuy nhiên chủ yếu
là sống định c gần với ngời Mờng , bởi vì ngời Kinh cũng định c ở vùng thấp,vì nơi đó thuận lợi cho việc giao lu trao đổi buôn bán của họ Trong qúa trìnhchung sống ấy người Mường luôn kế thừa, phát huy, gìn giữ những gía trịvăn hoá truyền thống tốt đẹp m thài ế hệ trước để lại, đồng thời tiếp thu nhữngyếu tố văn hoá của các dân tộc anh em trên địa b n cài ư trú để tạo ra những yếu
tố văn hoá mới Do đó, việc chọn đề t i “ài Biến đổi trong đời sống vật chất và
tinh thần của dân tộc Mường ở huyện Lang Chánh, (tỉnh Thanh Hoá) từ năm
1945 - 2009’’ nhằm nghiên cứu văn hoá truyền thống v nhài ững biến đổi biếnđổi trong đời sống vật chất và tinh thần trong qúa trình sinh sống cùng các dântộc khác
Thanh Hoá là một tỉnh có nhiều dân tộc anh em cùng c trú nh Mờng,Thái, Kinh, HMông, Thổ và mỗi dân tộc đều hình thành những bản sắc vănhoá riêng đã tạo thành một khu vực lịch sử - dân tộc học với một nền văn hoámiền Tây Thanh Hoá phong phú độc đáo và sáng tạo, vì thế công tác nghiêncứu về quá trình định c tổ chức làng bản, tìm hiểu về đời sống vật chất và tinhthần của các dân tộc này là một mảng đề tài đợc nhiều ngời quan tâm Tuynhiên đi sâu vào nghiên cứu về những biến đổi trong đời sống vật chất và tinhthần của dân tộc Mờng trên địa bàn huyện Làng Chánh, dới góc độ sử học còn
để lại nhiều khoảng trống, đặc biệt là một huyện miền núi ở Lang Chánh chỉ
mới đợc nhiều ngời biết đến trong những năm gần đây Đề tài “Những biến
đổi trong đời sống vật chất và tinh thần của ngời Mờng ở huyện Lanh Chánh(tỉnh Thanh Hoá) từ năm 1945 đến năm 2009” Hy vọng sẽ góp phần
bé nhỏ vào lấp dần khoảng trống ấy
Trang 7Trong quá trình nghiên cứu, su tầm tài liệu, điền dã và khảo sát ở cáclàng, bản có dân tộc ngời Mờng định c sinh sống trên địa bàn huyện LangChánh, đối chiếu với một số huyện khác ở miền tây tỉnh Thanh Hoá, đặc biệt
là các huyện có đông c dân ngời Mờng sinh sống nh Thạch Thành, Cẩm Thuỷ,Ngọc Lặc, chúng tôi thấy ngoài những đặc điểm chung về quá trình biến đổitrong đời sống vật chất và tinh thần của dân tộc Mờng, thì ở Lang Chánh cộng
đồng c dân ngời Mờng cũng có những nét khác biệt khá điển hình, vì vậy tôi
chọn đề tài “Biến đổi trong đời sống vật chất và tinh thần của ngời Mờng ở
huyện Lang Chánh (tỉnh Thanh Hoá) từ năm 1945 đến năm 2009” mong rằng
đa ra đợc một cái nhìn khách quan khoa học về quá trình chuyển biến của dântộc Mờng ở huyện Lang Chánh tỉnh Thanh Hoá
1.2 Về thực tiễn
Lang Chánh có điều kiện thuận lợi trong việc giao lu với các địa phơngkhác trong tỉnh và cã nớc thông qua quốc lộ 15A và đờng Hồ Chí Minh, vìLang Chánh chỉ cách đờng Hồ Chí Minh 17km về phía đông nam thông quatuyến đờng Hồ Chí Minh, Lang Chánh có thể giao lu với những vùng kinh tếtrọng điểm Bắc bộ, có đờng biên giới giáp nớc bạn Lào, vì vậy Lang Chánh trởthành điểm hẹn của các dòng ngời, từ nhiều vùng miền khác nhau di c đến ,mang theo những sắc thái văn hoá, những kinh nghiệm sản xuất đa dạng, hội tụ
về đây khai phá, lập nghiệp, sinh sống và cùng giao lu hoà nhập Tất cã những
điều đó tạo nên nét độc đáo của văn hoá Lang Chánh nói chung và c dân đồngbào Mờng nói riêng Vì thế, khi nghiên cứu về những biến đổi trong đời sống vậtchất và tinh thần của dân tộc Mờng huyện Lang Chánh không chỉ giúp ta hiểu
về sự thay đổi phong tục, tập quán của cộng đồng dân tộc ít người của huyệnLang Chánh trong thời kỳ hội nhập m còn cung cài ấp t i liài ệu cho các nh chài ứcnăng có cái nhìn to n diài ện về đời sống của người Mường v nhài ững đóng gópcủa họ từ sau đổi mới đến nay Để từ đó có chính sách hợp lý về việc phát triểnkinh tế, gìn giữ và phát huy bản sắc dân tộc của đồng bào nói chung và của dântộc Mờng trên địa bàn huyện nói riêng
Kết quả nghiên cứu còn l nguài ồn t liệu đẻ các nhà chức năng l m t iài àiliệu tham khảo để xây dựng đời sống của dân tộc Mường ở huyện cũng nhưdân tộc khác nói chung phát triển cao hơn
Trang 8Với nguồn t i liài ệu sưu tập được sẽ l cài ơ sở bổ sung cho các cấp cácngh nh, các công trình nghiên cài ứu nội bộ của huyện Cũng như lịch sử Đảng
bộ huyện, lịch sử các l ng, lài ịch sử dân tộc Mường Qua đề t i sài ẽ giúp chomọi ngời hiểu sâu hơn về truyền thống văn hoá các dân tộc ở miền núi nóichung và dân tộc Mường nói riêng, và có thái độ tích cực trong việc gìn giữ,phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Vì vậy đề tài sẽ là nguồn tài liệu quan trọngtrong việc nghiên cứu, so sánh, đối chiếu khi biên soạn và giảng dạy chơngtrình lịch sử địa phơng ở các cấp học
Qua việc nghiên cứu “Biến đổi trong đời sống vật chất, tinh thần của
dân tộc Mờng ở huyện Lanh Chánh, (tỉnh Thanh Hoá) từ năm 1945 đến năm 2009” chúng tôi chỉ rõ những hạn chế, tồn tại cần khắc phục
Với những lý do trên tôi chọn đề t i ài Biến đổi trong đời s“ ống vật chất, tinh thần của dân tộc Mờng ở huyện Lang Chánh (tỉnh Thanh Hoá) từ năm
1945 đến năm 2009 ” l m Luài ận văn tốt nghiệp Cao học
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ngời Mờng là c dân sinh sống lâu đời ở vùng miền núi Thanh Hoá, kếthừa văn minh cổ truyền của cha ông, ngời Mờng đã có những đóng gópkhông nhỏ vào kho tàng văn hoá chung của dân tộc Ngời Mờng có nhiềuphong tục tập quán truyền thống tốt đẹp, văn hoá đa dạng Trong công cuộc
đổi mới sự chuyển đổi về kinh tế cũng đã dẫn đến những biến đổi về văn hoá,tuy nhiên ngời Mờng vẫn giữ đợc những phong tục tập quán riêng của mình,làm cho bản sắc văn hoá của ngời Mờng càng trở nên phong phú hơn
Trong công cuộc đổi mới đất nớc dới sự lãnh đạo của Đảng cộng sảnViệt Nam không còn là vấn đề mới mẽ đối với các nhà nghiên cứu, đặc biệt làcác nhà nghiên cứu lịch sử Trong chủ trơng đổi mới chung của đất nớc đã tác
động sâu rộng đến từng nghành, từng địa phơng trong cã nớc, chính vì vậy đã
có nhiều công trình nghiên cứu về công cuộc đổi mới ở Việt Nam
Nhng nghiên cứu về “ Biến đổi trong đời sống vật chất, tinh thần của
dân tộc Mờng ở huyện Lanh Chánh, (tỉnh Thanh Hoá) từ năm 1945 đến năm 2009” còn là một vấn đề mới mẽ, cha thu hút đợc sự quan tâm nghiên cứu cho
đến nay, chúng tôi đã tiếp cận đợc một số khía cạnh của vấn đề đổi mới nóichung trong cã nớc và ở Lang Chánh nói riêng
Trang 9- Trong cuốn “Lịch sử Việt Nam từ 1975 đến nay” do PGS TS Trần Bá
Đệ biên soạn (NXB Đại học quốc gia Hà Nội 1998) đã nêu lên nhiều thànhtựu, tiến bộ và hạn chế, khuyết điểm của đất nớc khi thực hiện đờng lối đổimới cho đến năm 1996
Trong cuốn “Đảng bộ và phong trào cách mạng Lang Chánh (1945
-1990) do Ban chấp hành Đảng bộ Lang Chánh nghiên cứu và biên soạn năm
1991, đã nói lên đặc điểm tự nhiên và quá trình đấu tranh của nhân dân LangChánh trong quá trình lịch sử
- Trong cuốn “ Đảng bộ, nhân dân Lang Chánh phát huy truyền thống
cách mạng đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới (1945 - 1998)” do Ban chấp hành
Đảng bộ Lang Chánh nghiên cứu và biên soạn năm 1999, đã đề cập đến vaitrò lãnh đạo của Đảng bộ huyện trong cách mạng và đẩy mạnh công cuộc đổimới của huyện Lang Chánh
- Trong cuốn “Lịch sử Đảng bộ, huyện Lang Chánh (1949-2004)” do
Ban chấp hành Đảng bộ Lang Chánh nghiên cứu và biên soạn năm 2005, cuốnsách đã nêu lên toàn bộ đặc điểm tự nhiên, truyền thống cách mạng, vai tròlãnh đạo của Đảng bộ trong cách mạng và công cuộc đổi mới của huyện LangChánh từ 1986 - 2004
- Gần đây là cuốn Địa chí huyện Lang Chánh“ ” (NXB từ điển báchkhoa Hà Nội 2010) cuốn sách đã nêu lên toàn bộ đặc điểm tự nhiên, địa bàndân c, truyền thống cách mạng, vai trò lãnh đạo của Đảng và những đặc điểm
về kinh tế và xã hội
Ngoài ra, còn một số báo cáo của ban chấp hành Đảng bộ huyện LangChánh, các phòng ban của UBND huyện, các xã, các trờng học, tổng kết đánhgiá và chỉ ra những thành tựu và những hạn chế
Nhìn chung, các tác phẩm và tài liệu nói trên đã làm sáng tỏ một sốvấn đề của huyện Lang Chánh Tuy nhiên cho đến nay, cha có một công trình
nào, hay bài viết nào nghiên cứu cụ thể về những “Biến đổi trong đời sống vật
chất, tinh thần của dân tộc Mờng ở huyện Lang Chánh từ 1945 đến năm
2009 ” Do đó, khi nghiên cứu về vấn đề này tôi hy vọng rằng sẽ đóng góp ítnhiều về mặt khoa học cũng nh thực tiễn, tìm hiểu về dân tộc Mờng của LangChánh nói riêng và Thanh Hoá nói chung
3 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu
3.1 Nguồn t liệu
Trang 10Đề tài Biến đổi trong đời sống vật chất, tinh thần“ của dân tộc ờng ở huyện Lang Chánh (tỉnh Thanh Hoá) từ 1945 đến năm 2009 ” đợcnghiên cứu bởi nguồn t liệu sau.
M Nguồn t liệu dân tộc học:
Vơng Anh: “Mo - Sử thi dân tộc Mờng”, NXB Văn hoá dân tộc, Hà Nội,
1997 Nguyễn Dơng Bình: “Tìm hiểu thành phần ngời Mọi Bi ở miền Tây tỉnh
Thanh Hoá , ” Tạp chí Dân tộc học, số 02, 1974 Mạc Đờng: “Các dân tộc
miền núi Bắc Trung Bộ”.
- Nguồn t liệu văn hoá:
Cao Sơn Hải: Tục ngữ Mờng Thanh Hoá, NXB, Văn hoá thông tin, Hà Nội, 2002 Minh Hiệu: Tục ngữ dân ca Mờng Thanh Hoá, NXB, Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 1999 Phan Thế Bình, Việt Nam phong tục - NXB văn hoá Trần Từ: Hoa văn Mờng, NXB Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 1978 Vơng Anh, Tiếp cận
với văn hoá Bản Mờng - NXB văn hoá dân tộc Nguyễn Văn Hảo- Lê Thị
Vinh, di sản văn hoá Xứ Thanh - NXB Thanh Niên.
- Sách Tham khảo:
Xuân Kỳ: Sách thuốc Mờng (tài liệu đánh máy) Vơng Anh: vùng luồng
thao thức (tài liệu đánh máy) và một số bài viết, bài nghiên cứu dăng tren các
tạp chí Dân tộc và miền núi, văn hoá Thanh Hoá
- Nguồn t liệu địa phơng:
Tôi đã tiến hành khảo sát, điền dã ở một số xã có đông c dân ngời ờng sinh sống nh xã Quang Hiến, Giao An, Đồng Lơng tìm hiểu một sốphong tục tập quán lễ hội ở các bản làng trong địa bàn huyện
M-Gặp gỡ trao đổi với một số ngời cao tuổi, có nhiều hiểu biết về cácphong tục tập quán nh : già làng, trởng bản, bí th Chi bộ thôn, nhờ họ cungcấp những thông tin cần thiết cho đề tài
- Về hiện vật : Tôi đã mục sở thị các nhà cửa, vật dụng, công cụ lao
động, phơng tiện đi lại, trang phục, đồ trang sức, ẩm thực của xa và nay để đốichiếu so sánh
3.2 Phơng pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này tôi sử dụng phơng pháp lôgíc và phơng pháplịch sử là chủ yếu bên cạnh đó tôi còn sử dụng phơng pháp tổng hợp, thống kê
Trang 11và phân loại t tiệu theo từng lĩnh vực, sau đó dùng phơng pháp phân tích đốichiếu, so sánh để sử lý số liệu.
4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tợng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu “Biến đổi trong đời sống vật chất, tinh
thần của dân tộc Mờng ở huyện Lang Chánh từ 1945 đến năm 2009 ”
4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Về không gian: Đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu những chuyển
biến trong đời sống vật chất, tinh thần, của ngời Mờng ở huyện Lang Chánh
Về thời gian: Đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu về biến đổi trong đời
sống vật chất, tinh thần của ngời Mờng ở huyện Lang Chánh từ năm 1945-2009
5 Đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách khá đầy đủ về đờisống vật chất và tinh thần, của ngời Mờng ở huyện Lang Chánh từ 1945 đếnnăm 2009
Kết quả nghiên cứu là một nguồn tài liệu bổ ích cho các nhà nghiên cứuhoạch định những chính sách hợp lý để bảo tồn và phát huy những giá trị vănhoá truyền thống của ngời Mờng ở huyện Lang Chánh
Là một giáo viên giảng dạy bộ môn lịch sử tôi nhân thấy hệ thống tàiliệu và kết quả nghiên cứu sẽ là công trình hữu ích phục vụ cho việc giảng dạylịch sử địa phơng, ở các trờng THPH, THCS, đồng thời luận văn góp phần hệthống hoá t liệu cho việc nghiên cứu, so sánh, đối chiếu khi biên soạn lịch sử
địa phơng
Luận văn đã dựng lại bức tranh toàn cảnh về kinh tế văn hoá xã hội củangời Mờng ở huyện Lang Chánh từ năm 1945 - 2009, qua đó nêu lên nhữngthành tựu và hạn chế cũng nh giáo dục lòng tự tự hào dân tộc tình cảm trântrọng và giữ gìn những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc Mờng nóiriêng và 54 dân tộc Việt Nam nói chung cho các thế hệ mai sau
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, tranh ảnh và phụ lụcnội dung chính của luận văn đợc chia làm 3 chơng:
Chơng 1: Khái quát đời sống vật chất và tinh thần của dân tộc Mờng
ở huyện Lang Chánh (tỉnh Thanh Hoá) trớc năm 1945
Trang 12Chơng 2: Biến đổi trong đời sống vật chất của dân tộc Mờng ở huyện Lang Chánh (tỉnh Thanh Hoá) từ năm 1945 đến năm 2009
Chơng 3: Biến đổi trong đời sống tinh thần của dân tộc Mờng ở huyện Lang Chánh (tỉnh Thanh Hoá) từ năm 1945 đến năm2009.
Trang 13b Nội dung Chơng 1 Khái quát đời sống vật chất, tinh thần của dân tộc
Mờng ở huyện Lang Chánh (tỉnh Thanh Hoá)
trớc năm 1945
1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên - xã hội
1.1.1 Điều kiện tự nhiên.
- Điểm cực Bắc có vĩ độ 20017 thuộc địa phận bản Tiên xă Lâm Phú;
- Điểm cực Nam có vĩ độ 20000 tại đỉnh Bù Rinh cao 689m thuộc địaphận làng Bí Nghịu, xă Giao Thiện;
- Điểm cực Tây có kinh độ 104057 tại đỉnh Pu Sơ Lát, thuộc địa phậnbản Hằng, xă Yên Khơng;
- Điểm cực Đông có kinh độ 105018 thuộc địa phận làng Thung, xă
Đồng Lơng;
Có diện tích tự nhiên là 58.631,76 ha (chiếm 9,0% diện tích toàn tỉnh).Dân số là: 43.381 ngời, có 11 đơn vị hành chính (10 xã và 1 thị trấn) Bao gồmthị trấn Lang Chánh xã Đồng Lơng, Xã Tân phúc, Xă Giao An, xã GiaoThiện, xã Yên Khơng, xã Yên Thắng, xã Trí Nang xã Tam Văn, xã Lâm Phú,xã Quang Hiến Trung tâm huyện lỵ cách thành phố Thanh Hóa 101 km vềphía Tây, cách đô thị Ngọc Lặc (tơng lai là trung tâm các huyện miền núi phíatây Thanh Hóa) 16 Km về phía tây [24,26]
Phía Bắc giáp huyện Bá Thớc
Phía Nam giáp huyện Thờng Xuân với đờng địa giới chạy trên đờngchia nớc giữa hệ thống sông Âm và hệ thống sông Khao
Phía Đông giáp huyện Ngọc Lặc Với đờng địa giới gần trùng với thunglũng sông Âm
Phía Tây và Tây Bắc giáp huyện Quan Sơn
Phía Tây nam giáp huyện Sầm Tớ(Tỉnh Hủa Păn, nớc Cộng hoà dân chủnhân dân Lào) trên tuyến biên giới dài 7km và chạy trên khu vực núi cao 1000m
Trang 14Vị trí này đă mang lại cho Lang Chánh nhiều thuận lợi Địa bàn nằmtrọn trong vùng nhiệt đới nên có nguồn năng lợng mặt trời dồi dào Đấy là
động lực để hàng loạt quá trình tự nhiên diễn ra liên tục với cờng độ rất mạnh,bảo đảm sự sinh sôi nảy nở, phát triển của thế giới sinh vật, làm cho thiênnhiên Lang Chánh in đậm tính chất của thiên nhiên nhiệt đới gió mùa Nhờ vịtrí địa lý này Lang Chánh có điền kiện thuận lợi giao lu với các địa phơngkhác trong tỉnh và cả nớc thông qua quốc lộ 15A và đờng Hồ Chí Minh,khoảng cách từ thị trấn Lang Chánh với đờng Hồ Chí Minh là 17km thôngqua tuyến đờng này, Lang Chánh có thể giao lu thuận lợi với vùng kinh tếtrọng điểm Bắc Bộ, với cảng biển và khu kinh tế tổng hợp Nghi Sơn và cácvùng phát triển khác trong nớc Theo quốc lộ 15A, Lang chánh có thể giao lu
đợc với tỉnh Hoà Bình và các tỉnh tây bắc Bắc bộ Thị trấn Lang Chánh chỉcách quốc lộ 217 khoảng 25km về phía bắc theo quốc lộ 15A và 30km theotuyến đờng thị trấn Lang Chánh - Lâm Phú - Trung Hạ(huyện Quan Sơn).Lang Chánh có thể giao lu với nớc bạn Lào và các tỉnh ở phía Bắc và phía Tâytỉnh Thanh Hoá
Vị trí địa lý cũng làm cho vùng đất Lang Chánh trở thành điểm hẹn củacác dòng ngời từ nhiều vùng miền khác nhau, di c đến mang theo những sắcthái văn hoá, những kinh nghiệm sản xuất đa dạng, hội tụ về đây khai phá, lậpnghiệp, sinh sống và cùng giao lu, hòa nhập Tất cả những điều dó đã tạo nênnét độc đáo của văn hoá Lang Chánh và ngày nay, nó đang mở ra nhiều cơ hộicho huyện Lang Chánh khai thác những tiềm năng, lợi thế để phát triển kinh
tế - văn hoá - xã hội của địa phơng
1.1.2 Địa hình đất đai
* Địa Hình
Nhìn chung địa hình rất phức tạp, bị chia cắt nhiều Tổng quan địa hình
có hớng nghiêng dần từ Tây Bắc sang Đông Nam Độ cao trung bình 500
-700 m, cao nhất là đỉnh Bù Rinh (1.291m) Vì vậy, đặc điểm của địa hình vànhững khác biệt đặc thù của nó có tác động rất quan trọng đối với việc pháttriển và phân bố các hoạt động kinh tế - xã hội của huyện Lang Chánh[24,28]
Có thể chia làm hai vùng địa hình:
Vùng cao có diện tích 48.355,54 ha, chiếm 82,47% diện tích toànhuyện (gồm 7 đơn vị: Lâm Phú, Tam Văn, Trí Nang, Yên Thắng, Yên Khơng,
Trang 15Giao An và Giao Thiện) Độ cao trung bình từ 600 - 700 m có địa hình phứctạp, độ dốc thờng từ 80 trở lên, thuận lợi cho phát triển lâm nghiệp, cây lâunăm và cây công nghiệp hàng năm
Vùng thấp gồm 4 đơn vị (thị trấn Lang Chánh, Quang Hiến, Đồng
L-ơng, Tân Phúc) có diện tích 10.276,22 ha, chiếm 17,53% diện tích, độ caotrung bình từ 500 - 600 m, có độ dốc thấp hơn và nhiều thung lủng thuận lợicho phát triển cây lúa nớc, cây công nghiệp hàng năm
* Đất đai
Theo số liệu điều tra thổ nhỡng của tỉnh Thanh Hóa, huyện Lang Chánhvới diện tích điều tra 57.356,2 ha bao gồm các loại đất sử dụng vào Nôngnghiệp, Lâm nghiệp và có khả năng Nông - Lâm nghiệp, đợc phân cấp độ dốc
nh sau:
+ Đất có độ dốc cấp I nhỏ hơn 30 : 2.264,8 ha
+ Đất có độ dốc cấp II nhỏ hơn 3 - 80 : 3.131,6 ha
+ Đất có độ dốc cấp III nhỏ hơn 8 - 150 : 4.310,56 ha
+ Đất có độ dốc cấp IV nhỏ hơn 15 - 250 : 5.641,95 ha
+ Đất có độ dốc cấp V lớn hơn 250 : 42.007,29 ha [24,52]
Diện tích có độ dốc dới 150: 9.706,96 ha, chiếm 16,55% diện tích tựnhiên, là đất để phát triển Nông - Lâm nghiệp, thủy sản, xây dựng cơ sở hạtầng giao thông, thủy lợi xây dựng cơ bản, khu dân c đô thị nông thôn
Diện tích có độ dốc từ 150 - 250: Chiếm 9,62% diện tích tự nhiên, thíchhợp cho phát triển lâm nghiệp, cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả và thựchiện nông lâm kết hợp
Diện tích có độ dốc lớn hơn 250: 42.007,92ha, chiếm 71,64% diện tích
tự nhiên, thích hợp cho trồng cây lâm nghiệp (chủ yếu là rừng phòng hộ)
1.1.3 Thời tiết, khí hậu
Lang Chánh thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhng do điều kiện tựnhiên chi phối nên hình thành hai mùa khí hậu rỏ rệt Mùa ma từ tháng 4 - 9,còn lại là mùa khô Nhiều năm khô hạn, thủy văn ở một số khu vực biến đổithất thờng Nhiệt độ có ngày lên tới 340C, nhiệt độ trung bình là 240C, nhiệt độthấp nhất là 130C Lợng ma hàng năm trên 2000 mm nớc, Lang Chánh là trungtâm ma lớn nhất tỉnh Thanh Hoá Mùa ma nhiều kéo dài từ 5 đến 7 tháng vàchiếm trên 80% tổng lợng ma cả năm Lang Chánh ít có mùa khô gay gắtgiống các địa phơng khác, nhng lợng bốc hơi lên tới 1000 mm bình quân
Trang 16hàng năm có tới 70 - 80 ngày sơng mù và thờng tập trung vào tháng 1,2 và 3các cơn bảo ít đổ bộ lên Lang Chánh Trên các đỉnh núi cao trên 1000m cónăm đã xuất hiện ma tuyết và băng (năm 1973 tại xã Yên Khơng) [24,44].
Những đặc điểm trên đây của điều kiện khí hậu tạo điều kiện cho ngờidân có thể tiến hành các hoạt đông sản xuất quanh năm, có thể phát triển đợcmột nền nông - lâm nghiệp nhiệt đới với đặc điểm đa dạng cây trồng và vậtnuôi, làm đợc nhiều vụ trong năm, thực hiện đợc các biện pháp xen canh, gối
vụ, tăng vụ nhằm tăng năng xuất và sản lợng, trên một diện tích đất canh táchạn chế ở một huyện miền núi Tuy nhiên cờng độ của những trận ma nhiệt
đới rất mạnh, kéo dài và tập trung thúc đẩy quá trình sói mòn, rửa trôi diễn ramãnh liệt, thúc đẩy sự hình thành các trận lũ quét, lũ bùn đá, lũ ống gây thiệthại lớn cho sinh hoạt và sản xuất của con ngời Những ngày có sơng mù hạnchế tốc độ giao thông, giông tố lớn cũng gây ra nhiều thiệt hại đối với nhà cửa
và hoa màu Bởi vậy vấn đề đặt ra là cần phải làm tốt công tác dự báo thời tiết,xây dựng lịch sản xuất, bố trí cơ cấu mùa vụ, cơ cấu cây trồng, vật nuôi để tậndụng yếu tố thuận lợi và hạn chế tác đông tiêu cực của khí hậu
* Tài nguyên rừng, khoáng sản:
Rừng Lang Chánh phong phú về chủng loại thực vật với các loại cây
nh : Lim, Lát, Pơmu, Gội, Dổi, Vàng tâm, Quế ngoài hệ thực vật tự nhiên,Lang Chánh cũng có hệ thực vật hình thành do tác động của con ngời Đó là
hệ thống các rừng trồng(Luồng, Mỡ, bạch đàn, keo ) và cây trồng trong nôngnghiệp, trong vờn, trong các trang trại, trong các cơ quan, công sở và ven đờnggiao thông
Hệ động vật của Lang chánh khá phong phú và đa dạng, bao gồm cả
động vật trên cạn và dới nớc, cả động vật bản địa và động vật di c đến, cả
động vật tự nhiên và động vật do con ngời tạo ra các loại động vật ở LangChánh có tác dụng về nhiều mặt: Cung cấp thịt, làm thuốc, làm đò trang sức,làm cảnh và dể nghiên cứu khoa học [24,61]
Quần c động vật trên cạn: Lợn lòi, Hoảng, Cáo lửa, Thỏ rừng, Cày lon,Cày hơng, Sóc bụng xám, Sóc chân vàng, Gà rừng, Gà gô, Gõ kiến, Bìm bịp,Vẹt đậu xám, Trăn đất, Kỳ đà, Tắc kè
Quần c đông vật dới nớc: Lang Chánh có khoãng 200ha thuỷ vực
n-ớc ngọt, cha kể các thuỷ vực sông Trung bình các thuỷ vực ở đây có độtrong 0,3 đến 1.0m; động vật phù du: 4 - 10.104 con/m3; thực vật phù du: 1
Trang 17- 50.105 tế bào/m3 Quần c động vật các loài nớc ngọt : cá Chép, cá trôi, cáDiếc, cá Trê, cá Lăng
Nhìn chung nguồn động vật ở huyện Lanh Chánh đang bị giảm sútnghiêm trọng cã về trữ lợng lẩn chủng loại Nhiều loại động vật trớc đây rấtnhiều nhng nay không còn nữa, hoặc rất khó gặp nh: Voi, Tê Giác một sừng,công, Voọc khỉ măt đỏ Do đó cần có chiến lợc bảo tồn và quỹ gen động vật
* Sông ngòi, hồ đập
Do lợng ma khá lớn nên Lang Chánh có mạng lới sống suối dày đặc.tổng chiều dài của 3 con sông chính (Sông Âm, sông Cảy, sông Sạo) và cácnhánh của chúng gần 600km Phần lớn các sông ở Lang Chánh đều ngắn vàdốc với độ dốc biến thiên từ 5,4 - 23,7%, lòng sông hẹp nớc chảy xiết, lắmgềnh thác, có tiềm năng thuỷ điện Các hệ thống sông Lang Chánh hàng nămvận chuyển ra biển 2,5 triệu tấn phù sa, cùng nhiều phù du sinh vật và cáckhoáng chất hoà tan trong nớc một điều đáng chú ý là trên mạng lới sông suốicủa Lang Chánh(nhất là suối nhỏ không có giá trị giao thông), nhân dân đãxây dựng các đập dâng nớc để lấy nớc phục vụ sản xuất và sinh hoạt Hiện naytoàn huyện Lang Chánh có 49 đập dâng nớc Hồ ở Lang Chánh rất hiếm hồ tựnhiên Tuy nhiên, ở xã Lâm Phú tại bản Chiềng Ngày có hồ Noóng Dạ, quanhnăm có nớc Toàn huyện Lang Chánh có 4 hồ nhân tạo loại nhỏ và vừa cungcấp nớc tới cho 41,5 ha đất canh tác [24,54]
1.1.4 Vài nét về thay đổi địa giới hành chính và dân c
* Địa giới hành chính
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nớc Việt Nam dân chủcộng hoà ra đời Chính quyền nhân dân từ trung ơng đến địa phơng đợc thànhlập Tại Lang Chánh dới chế độ củ là Châu Lang Chánh gồm các tổng, mờng.Sau cách mạng Châu Lang Chánh đợc đổi thành huyện Lang Chánh, khôngcòn đơn vị hành chính tổng mà là các xã trực thuộc huyện Sau một số lần sátnhập các xã huyện Lang Chánh gồm 6 xã: xã Đồng Lơng, xã Tân Phúc, xã LêLai, xã Giao An, xã Quyết Thắng, xã Yên Khơng Năm 1963 chính phủ quyết
định tách xã Lê Lai thành hai xã và lấy tên là xã Tam Văn và xã Lâm Phú
Đến năm 1966 chia tách xã Quyết Thắng thành hai xã là xã Trí Nang vàQuang Hiến
Từ ngày 05 tháng 7 năm 1977, huyện Lang Chánh hợp nhất với huyệnNgọc Lặc thành huyện Lơng Ngọc Các xã của huyện Lang Chánh trớc đây,
Trang 18chuyển thuộc huyện Lơng Ngọc Năm 1981 tách xã Yên Khơng th nhài hai xãlấy tên là Yên Khơng Và Yên Thắng, tách xã Giao An thành hai xã là xã giao
An và Giao Thiện nh vậy từ năm 1963 đến năm 1981, chính phủ đã có 3 lần
có quyết định chia tách xã ở Lang Chánh Từ 6 xã đợc thành lập sau cáchmạng Tháng Tám 1945 đến năm 1981 đợc chia thành 10 xã
Ngày 30 tháng 8 năm 1982 huyện Lang chánh đợc tái lập do tách huyệnLơng Ngọc thành hai huyện nh cũ Đến năm 1991 thị trấn Lang Chánh đợcthành lập và trở thành trung tâm huyện lị của huyện Lang chánh Đến nayLang Chánh bao gồm 01 thị trấn và 10 xã
Các đơn vị hành chính huyện lang chánh hiện nay:
03 Xã Yên Thắng 270803
Bản Bay, bản Vịn, bản Vặn, bản VầnNgoài, bản Vần Trong, bản Cơn, bảnPeo, bản Ngàm, bản Pốc, bản Tráng
10 Xã Quang Hiến 270810 Bản Quang Tiến (làng Giáng), bản
Trang 19Quang Lợi(làng Oi), bản QuangPhong(làng Phống), bản Quang Trung(làng Trùng), bản Quang Phú (làngBàn), bản Quang Hợp (làng Bang), bảnQuang Hoà (làng Chiếu), bản QuangThành (làng Tỉu), bản Quang Thắng(làng Giáng), bản Quang Tân (làng BànTời), bản Chiềng Ban
11 Xã Đồng Lơng 270811
Làng Cốc, làng Quắc, làng Chiềng Khạt,làng Cui, lànãnuốm, làng Cắm, làng Nê,làng Thung, làng Mốc, làng Quên, làngChỏng
Dân tộc Mờng là c dân bản địa sớm nhất, chung nguồn gốc chữ viết vớingời Kinh, địa bàn phân bố của ngời Mờng ở Thanh Hoá là vùng trung du vàvùng đồi núi thấp tập trung mật độ lớn ở các huyện : Thạch Thành, Cẩm Thuỷ,Ngọc Lặc, Lang Chánh, Bá Thớc Tại các địa bàn này ngời Mờng sống Xen kẽvới ngời Thái và ngời Kinh Vấn đề nguồn gốc của ngời Mờng và ngời Việt, ýkiến đại bộ phận các nhà khoa học cho rằng, đây là những bộ phận c dân bản
địa của Việt Nam mà tổ tiên trực tiếp của họ là ngời Lạc Việt, một trong cácchủ nhân của văn hoá Đông sơn
Ngời Mờng có mặt ở miền núi Thanh Hoá từ khi nào? Có ý kiến chorằng họ là c dân bản địa, có ý kiến cho rằng họ di c từ hoà Bình vào nếu đốichiếu với tên tự gọi của ngời Mờng là Mon, Mon Ha, Mọi Bi thì chúng ta thấy
bộ phận ngời Mờng tự gọi mình là Mọi Bi là di c từ Hoà Bình vào
Nghiên cứu về “Đặc điểm phân bố các tộc ngời ở miền núi Thanh
Hoá , ” Lê Sỷ Giáo có ý kiến: Bộ phận đáng kể của ng“ ời Mờng ở Thanh Hoá
là di c từ Hoà Bình vào, một số khác là những bộ phận ngời Thái và ngời Việt
Trang 20bị Mờng hoá, dĩ nhiên là không thể phủ nhận tính bản địa của một bộ phận ngời Mờng nh Kỷ yếu Đẻ đất Đẻ n“ ớc của Thanh Hoá đã chủ tr” ơng với”
sử thi "Đẻ đất, đẻ nớc" đợc lu truyền trong nhiều thế hệ, với các khúc dân ca
Xờng, với lễ tục Pôồn Pôông - hát múa quanh cây hoa, hội "Xéc bùa" với dàncồng chiêng do các cô gái Mờng biểu diễn Nh vậy c dân ngời Mờng hội tụ từ
ba nguồn gốc chính: Bộ phận ngời Mờng bản địa, bộ phận ngời Thái và ngờiViệt bị Mờng Hoá và ngời Mờng di c từ bên ngoài vào, đặc biệt là từ Hoà Bình
mà cụ thể là ngời Mờng Bi [5,27]
Về những nguyên nhân ngời Mọi Bi có mặt sinh sống ở vùng miền núi
Thanh Hoá nói chung, tác giả Nguyễn Dơng Bình cho biết: Một bộ phận ng“
-ời Mờng ở mờng bi bị lang đạo áp bức, bóc lột quá nặng nề nên đã r-ời bỏ quê hơng đến nơi khác làm ăn sinh sống Ngời Mọi Bi còn lu truyền lại một số câu truyện xung quanh việc rời bỏ quê hơng của mình Đồng bào mọi bi ở làng Giá thuộc xã Phú Xuân, huyện Quan Hoá còn nhớ, khi xa, hồi còn sống ở vùng Mờng Bi, nhà Lang đa trâu bò chia về cho các gia đình trong mờng để
họ phải trăn dắt cho nó Ngày lại ngày trôi đi trâu bò sinh đẻ ngày một nhiều Lang cũng không biết đàn trâu bò sinh sôi nảy nở đợc bao nhiêu Khi dân có việc, đem trâu bò trong số mới sinh sôi ra làm thịt, bọn Lang đạo hay biết đợc chuyện đó, chúng phạt vạ rất nặng Vì không lo nổi việc phạt vạ, sợ bị chung trừng phạt, nên nhiều gia đình phải trốn đi Khi sang đợc vùng đất mới, dân làng phải làm những cái mả giả để thờ cúng(vì đất thờ cúng cũ còn ở Mờng Bi)Từ đó họ đặt tên nơi mới đến là làng Giả ”
Ngày nay ngời Mờng có mặt hầu hết ở các vùng thấp của huyện LangChánh chủ yếu sinh sống ở các xã nh: Giao Thiện, Quang Hiến, Đồng Lơng,
đặc biệt là xã Giao An ngời Mờng chiếm đến 92,5% dân số của xã Có thể hìnhdung về mặt c trú của ngời Mờng là tộc ngời có mặt từ rất lâu đời Các mờngcủa ngời Mờng ở Lang Chánh là Mờng Chếch (nay thuộc xã Quang Hiến), M-ờng Khạt (nay thuộc xã Đồng Lơng), Mờng Nang (nay thuộc xã Giao An) M-ờng Chếch là một trong những mờng lớn ở Thanh Hoá
Dân tộc Thái ở miền núi Thanh Hoá chiếm 1/6 tổng số ngời Thái ở ViệtNam, tập trung ở các huyện: Quan Hoá, Thờng Xuân, Bá Thớc lang Chánh, NhXuân Ngời Thái ở lang Chánh chủ yếu tập trung ở các xã: Yên Khơng, YênThắng, Lâm phú, Trí Nang, Tam Văn Ngời Thái ở Thanh Hoa nổi bật lên hainhóm Thái, có tên tự gọi là Tày và Tày Dọ Ngời Thái ở Lang Chánh chủ yếu
Trang 21thuộc nhóm tự gọi là Tày, trớc đây các mờng của ngời Thái là: mờng Ngày, ờng Đôn (nay thuộc xã Lâm Phú), mờng Giao Lão (nay thuộc xã Giao thiện),mờng Đeng (nay thuộc xã Yên Khơng, Yên Thắng), mờng Bỏ (nay thuộc xã TríNang) Mờng Đeng Là một trong những Mờng lớn có thế lực về kinh tế và chínhtrị của ngời thái trớc đây ở Thanh Hoá [24,129].
m-Dân tộc Kinh có mặt ở Lang Chánh từ lâu đời trong lịch sử dân tộc, tuynhiên sự xuất hiện của ngời kinh chủ yếu là trong quá trình nhập c từ các địa ph-
ơng ở Bắc Bộ, Trung Bộ và một số huyện trong tỉnh Thanh Hoá quá trình nhập
c chủ yếu diền ra sau cách mạng Tháng Tám 1945 và nhất là sau khi hoà bình lậplại năm 1954, ngời Kinh chủ yếu định c ở thị trấn Lang Chánh
1.2 Vài nét về đời sống vật chất của ngời Mờng ở huyện Lang Chánh trớc năm 1945
1.2.1 Nông ngiệp
1.2.1.1 Trồng trọt
Khối c dân Việt - Mờng là cộng đông c dân đầu tiên chinh phục khaiphá vùng đất ven sông Âm của vùng đất Lang Chánh Những khu vực khôngthuận lợi cho việc canh tác lúa nớc, thì họ phát nơng làm rẩy, khai phá địa bàn
c trú và sống hoà đồng với thiên nhiên bên canh việc trồng lúa họ đã biếttrồng dâu nuôi tằm
Lang Chánh vốn là vùng đất giàu có về tài nguyên thiên nhiên, nhng dớithời kỳ thực dân nữa phong kiến các tầng lớp thổ ty lang đạo đã lợi dụng bóclột nhân dân sống trong các bản mờng Theo luật tục, mỗi làng bản phải làmkhông công cho Tạo mờng 3ha nơng rẩy và phải cắt cử nhân công phục vụ gia
đình Tạo mờng hàng ngày và các ngày lễ tết
Trớc năm 1945 đời sống của dân tộc Mờng ở huyện Lang Chánh là rấtkhó khăn Do đặc trng là một huyện miền núi, đồi núi nhiều và bị chia cắt đất
đai bằng phẳng để trồng cây lúa nớc không nhiều, hơn nữa do phong tục tậpquán lạc hậu nên ngời Mờng chủ yếu là làm nơng rẫy Canh tác nơng là phơngthức canh tác trên đất khô điển hình Ngời Mờng ở Lang Chánh nói riêng và
đồng bào dân tộc thiểu số trên cả nớc nói chung, đã bổ sung một nguồn lơngthực bổ sung đáng kể cho ngời và gia súc gia cầm Có rất nhiều giống lúa:Nếp hoa vàng, nếp lào, nếp cẩm và các giống lúa tẻ khác Các giống lúa này
có khả năng chịu hạn rất tốt tuy nhiên năng xuất thấp
Kĩ thuật gieo trồng lúa nơng có đặc điểm riêng Ngời ta đựng hạt giốngtrong một túi vải, hoặc dón treo bên hông, khi tra hạt chie cần đa tay vào bốc hạt
Trang 22giống rồi dùng ngón tay cái bắn hạt giống vào lổ thờng thì đàn ông chọc lổ, phụnữ tra hạt ngoài kĩ thuật chọc lổ, kinh nghiệm tra hạt giống cũng không kémphần quan trọng Để có năng xuất cao, nếu là đất tốt thì số lợng thóc giống travào mỏi lổ là từ 5 - 7 hạt ; còn đất không đợc tốt thì tra 9 - 10 hạt là phù hợpnhất.kỉ thuật nay đợc áp dụng cho cả lúa tẻ và lúa nếp [24,365].
Dụng cụ để tra hạt là một cây gậy, làm bằng tre hoặc gổ to bằng cổ taydài khoảng 1,5 - 2,0m, một đầu gậy đợc dẻo vót nhọn để chọc lỗ Chọc lỗ trahạt đi từ dới thấp lên cao, công đoạn thu hoạch cũng giống nh vậy
Ngoài cây lúa nơng còn có nhiều cây nông phẩm khác nh ngô sắn,
đậu, Trong hệ thống cây trồng của c dân ngời Mờng còn có các loại cây củ
nh củ mài, củ từ và các loại củ ăn đợc khác Bầu bí cũng là loài rau quả đặcbiệt mà con ngơi đã biết đến từ rất sớm và đã đi vào đời sống tín ngỡng tinhthần của nhiều c dân Bầu không chỉ để làm thức ăn mà quả bầu già còn đợcchế tạo thành đồ đựng(nớc, các loại hạt ) Ngoài ra ngời ta còn trồng xen canhcác loại rau cải, đậu đũa, Tuy nhiên các loại cây trồng trên cũng không đápứng thờng xuyên cho bữa ăn hàng ngày Do vậy, trong bữa ăn hàng ngày cầnphải dùng đến nguồn rau, măng từ rừng về chủ yếu thông qua công việc hái l-ợm
Đối với kinh tế nơng rẫy, năng xuất cây trồng thờng không ổn định, vìphơng thức canh tác hầu nh phụ thuộc vào tự nhiên Toàn bộ các công việc đ-
ợc thực hiện chủ yếu chỉ bằng sức lực con ngời vì phụ thuộc nhiều vào tựnhiên nên ngời Mờng cũng rất quan tâm đến lịch mà cụ thể là nông lịch, vìnhờ đó mà ngời nông dân có thể tính toán công việc làm sao cho luôn bảo
diền, chuẩn bị đất, ăn rằm tháng riêngTháng Hai 3 4 Làm cỏ lúa chiêm lần một, bón phân, trồng
bông, trồng sắn
Làm cỏ lúa chiêm lần hai, bón phân, làm cỏbông, làm cỏ sắn lần hai, phát rẩy, trồng cácloại lạc,vừng và rau mùa hè
Tháng T 5 6 Đan chài, đan đó đi câu, làm cỏ sắn lần hai,
Trang 23trỉa lúa rẩyTháng Năm 6 7 Gặt lúa chiêm, trỉa lúa rẩy, trồng ngô, làm
đất, cúng cơm mới, cúng hồn lúa
Tháng Bảy 8 9 Làm cỏ lúa mùa lần một, bón phân, làm cỏ
lúa rẩyTháng Tám 9 10 Làm cỏ lúa mùa lần hai, bón phân, đi sănTháng Chín 10 Một Gặt lúa rẩy, thu hoạch ngô, đi săn
Tháng Mời 11 Chạp Gặt lúa mùa, cúng cơm mới, đi săn, chuẩn
bị đất vụ chiêm xuânTháng Một 12 Giêng Gieo mạ chiêm xuân, đi săn
Tháng Chạp 1 2 Cấy lúa chiêm xuân, thu hoạch sắn và chuẩn
Các loài vật đợc nuôi nhằm đáp ứng nhu cầu sức kéo, một phần thịttrong khẩu phần ăn, phục vụ các nhu cầu tôn giáo trong gia đình và cộng đồng,chăn nuôi dù xuất hiện sớm và các vật nuôi dù có đa dạng đến mấy thì nó cũngchỉ mới dừng lại ở chổ là kinh tế bổ trợ của nông nghiệp trồng trọt và trớc hết
nó bổ trợ cho kinh tế trồng trọt Hình thức chăn nuôi chủ yếu là tha rông
Trong các loài vật nuôi, trâu, bò có vị trí quan trọng đặc biệt, trong hoạt
đông nông nghiệp trớc kia và kể cả hiện nay, đàn trâu, bò là trợ thủ đắc lựccủa con ngời Trong thực tế cho thấy, đối với c dân làm ruộng nớc, rỏ ràngnhất là ở khu vực thung lũng, thì gia đình nào có nhiều trâu thì có kinh tế kháhơn và bản thân số lợng đàn trâu của mỗi nhà cũng nói lên điều đó Xa kia gia
đình giàu có thờng có đàn trâu từ 10 - 20 con, thậm chí là từ 30 - 40 con.Ngoài thức ăn tự nhiên còn đợc cho ăn thêm muối để đảm bảo đủ chất Vàomùa cày cấy cho ăn thêm cỏ dự trữ, chuối thái nhỏ và ngô xay nếu chín để
đảm bảo sức kéo phục vụ cho nông nghiệp
Trang 24Kinh nghiệm trong việc chọn giống trâu cũng rất tỉ mỷ Một con trâukhoẽ, đẹp cần phải có răng bằng chân cao và to, đuôi dài ngang gối, sừng to,cong và đều đối xứng với nhau, đặc biệt cổ to và trán rộng Đó là tiêu chuẩnchính của một con trâu khỏe không bao giờ phản chủ.
Lợn là giống gia súc đợc đồng bào nuôi từ rất sớm, trớc đay chủ yếunuôi bằng hình thức thả rông, thả cỏ trong làng bản chứ không nhôt cố địnhtrong chuồng nh phần nhiều gia đình hiện nay Ngoài thức ăn tự kiếm đợc, lợn
đợc cho ăn cám ngày hai bữa sáng và tối Công việc này chủ yếu phụ nữ đảmnhiệm Lợn đợc nuôi để lấy thực phẩm dùng cho giổ tết, lể bái, cới hỏi, tangma ít khi trao đổi mua bán
Gà, vịt, ngan, ngỗng là những giống gia cầm đợc đồng bào nuôi từrất lâu đời, những giống vật nuôi này chủ yếu thả rông Gia cầm có địa bànchăn thả đa dạng hơn các giống vật nuôi khác Chẳng hạn nh ngan và vịt,ngoài nuôi ở vờn còn đợc thả dới ao, hồ, sông, suối; ngoài ra còn thả ngoàiruộng sau khi thu hoạch lúa xong Đây là nguồn thức ăn dầu chất dinh dỡng,
nó không chỉ cho thịt mà còn cho trứng để ăn hoặc bán Đặc biệt đây là nhuồnthực phẩm quan trọng dùng vào những dịp lễ tết, đám xa, tiếp đãi khách.những gia đình nào nuôi nhiều thì dùng dể trao đổi mua bán
Đồng bào ngời Mờng có tập quán nuôi chó, mèo Hầu hết các gia đình
đều nuôi hai loài vật này, có gia đình nuôi tới vài ba con chó họ nuôi chókhông có mục đích ăn thịt mà để giữ nhà, để đi săn, đi rừng, đi nơng, còn nuôimèo để băt chuột
Nghề nuôi cá đồng, cá ao cũng là một nghề phụ có từ lâu đời Họ không
có nhiều kinh nghiệm trong việc đào ao thả cá, song lại có nhiều kinh nghiệmnuôi cá ở ruộng trũng hoặc trên những triền ruộng bạc thang dồi dào nguồn nớc
1.2.1.3 Khai thác nguồn lợi tự nhiên
Ngoài hoạt động kinh tế chính là sản xuất nnông nghiệp, chăn nuôi,trong truyền thống đồng bào ngời Mờng Lang Chánh có những hoạt động kinh
tế phụ mang tính chất bổ trợ nh khai thác nguồn lợi tự nhiên Đó là khai thácnhững thứ có sẳn trong tự nhiên ở rừng, sông suối Đây là một hình thức kiếmsống nguyên thuỷ đầu tiên ở loài ngừơi Hình thức kiếm sống này tồn tại thờigian rất dài trong lịch sử và nó vẫn còn có giá trị đến ngày nay
Trang 25Hoạt động khai thác nguồn kinh tế tự nhiên của đồng bào Mờng ở LangChánh chủ yếu thông qua hình thức hoạt động khai thác lâm sản, săn bắt, háilợm và đáng cá.
Trớc năm 1945, diện tích rừng tự nhiên trên địa bàn huyện Lang Chánh
là rất lớn, vì toàn huyện có 90% diện tích đồi núi Do đó, nguồn lợi tự nhiênrừng rất phong phú, đa dạng, các loại thức ăn do săn bắt và hái lợm mang lạicho họ thống kê đợc bao gồm những loại sau: 1) Các loại cây, củ, quả có chấtbột; 2) rau rừng ; 3) Măng, mộc nhĩ, nấm; 4) Côn trùng; 5) Các loài động vật.Ngoài ra còn có các loại ốc, hến, trai, chuột, rắn, ba ba, rùa, tắc kè, ếch, vv
* Săn bắn và hái lợm
Trớc đây, săn bắn và hái lợm là một hình thức hoạt động khai thácnguồn lợi tự nhiên từ rừng khá phổ biến của đồng bào ở Lang Chánh nói riêng
và các dân tộc ít ngời ở Việt Nam nói chung
Trong xã hội truyền thống, đi săn là công việc chủ yếu cho nam giới họsăn bắt theo mùa, thờng tập trung vào mùa thu, mùa đông Đó là mùa hoa quảtrái cây trong rừng chín, và cũng là mùa lúa chín, vì việc đi săn còn có một lý
do đó là bảo vệ mùa màng
Theo luật tục, trớc đây cứ vào mùng 7 tháng giêng các làng bản của
ng-ời Mờng ở Lang Chánh tổ chức đi săn, gọi là lễ “ mở cửa rừng” lễ “ mở cửarừng” thông qua hình thức đi săn tập thể có ý nghĩa xua đuổi ma quỷ, thú dữ,những điềm xấu để cầu may cuộc sống bình an cho cộng đồng làng bản trongnăm mới
Ngời Mờng kiêng kị đi săn vào mùa xuân, vì đây là mùa sinh sản củathú rừng Thú rừng mùa này thờng gầy và yếu do giao phối để sinh đẻ nên thịt
bị hôi, nhảo và ăn không ngon Kiêng săn bắt vào mùa xuân còn có một ýnghĩa khác, đó là ý thức bảo vệ trong việc dự trữ nguồn động vật tự nhiên.Trong mùa săn thu - đông, để có hiệu quả nhất ngời ta thờng đi săn từ ngày 17
âm lịch cho đến cuối tháng Thời gian đi săn từ 6 đến 8 giờ tối, theo kinhnghiệm dân gian đây là lúc thú đi kiếm ăn, ngời Mờng xem đây là thời điểmthú ăn (tranh trăng) Nên đi săn vào khoãng thời gian này thì hay bắn đợc thú[24,413]
Sản phẩm săn đợc cung cấp thờng xuyên cho bữa ăn hàng ngày Vũ khí chủyếu dùng súng kíp, súng hoả mai, nỏ và các loại bẩy hầu nh gia đình nào cũng cómột vài khẩu súng dành cho đi săn Thú săn bắn đợc thờng là lợn rừng, gấu,
Trang 26hoảng, nai, khỉ, sơn dơng Nỏ đợc dùng phổ biến đẻ bắn chim, sóc, cầy, cáo.Ngời Mờng từ xa đến nay không dùng tên tẩm thuốc độc Ngời Mờng ở LangChánh có hai hình thức đi săn là săn tập thể và săn cá nhân
* Đánh bắt cá
Địa bàn Lang Chánh hội tụ các điều kiện thuận lợi của tự nhiên Ngờimờng là chủ nhân chính ở nơi đây sớm đợc thừa hởng nguồn thuỷ sản của cácdòng sông Âm, sông Sạo, sông Cảy, chính vì thế, họ đẫ tận dụng khai thácnguồn thức ăn tự nhiên này thông qua đánh bắt Ngoài các con sông chính ng-
ời Mờng còn đánh bắt cá ở suối, hồ, đập, đồng ruộng Ngời Mờng dùngchài, nơm, đó, lá cây rừng, câu để đánh bắt [2,27] Kĩ thuật đánh bắt của ngờiMờng rất khéo léo và thờng cho hiệu quả cao
Nhìn chung, nguồn thuỷ sản ở sông, suối, hồ, đầm, ao cực kỳ quantrọng trong đời sống thờng nhật của những c dân ở Lang Chánh hàng bao đờinay Nguồn thuỷ sản này không chỉ đáp ứng nhu cầu vật chất bảo đảm đờisống của con ngời, mà còn góp phần tạo nên những giá trị văn hoá ẩm thực
độc đáo và những giá trị văn hoá tinh thần ở các dân tộc vùng đất này
Theo sự phân công tự nhiên thì việc làm ra vải chủ yếu thuộc về nữ giới.Nam giới là ngời hổ trợ trong việc chế tác các các công cụ nh khung cửi, con
xe sợi để cho phái nữ làm ra sản phẩm này Nếp sống xa cho rằng, biết làmvải thì mới là phụ nữ Nhợc bằng không thì dù cho có chăm chỉ nhiều việckhác đến đâu, thì cũng bị xã hội cho là chây lời, thờng không ai muốn lấy làm
vợ Vải vóc là văn hoá kỹ thuật mà ngời sản xuất phải trải qua quá trình hiểubiết, một là trồng ra bông và biến bông thành vải, hai là biến vải thành các vậtliệu tiêu dùng nh quần, áo, váy, chăn, màn, giống bông đợc trồng để phục
Trang 27vụ nghề đệt có hai loại, loại cho bông màu trắng và loại cho bông màu hung
đỏ Bông không a đất ẩm thấp, nên đồng bào thờng trồng bông ở bãi nơngrộng lớn, khô hạn và có nắng chói chang Theo nông lịch truyền thống thì ng-
ời dân thờng trồng vào tháng 1-2 âm lịch và đến tháng 6-7 âm lịch là lúc quảbông nở rộ trên nơng thì hái về rồi phơi nắng cho ông nở hết cở và đa bôngvào máy cán quay tay để tách hột Tiếp đó, chị em đa bông vào khâu bật, cuốnbông thành từng đọt ngắn để kéo thành sợi trên guồng xa quay tay Sau đó, khibông thành sợi thì đa vào guồng cuốn thành từng con để đem hồ bằng cháogạo tẻ nấu loảng với độ nữa chín nữa sống rồi đem dăng trên sào phơi nắngcho sợi khô Tiếp đó là việc đa sợi cuốn vào suốt, dăng sợi, lắp go rồi đem vàokhung cởi để dệt thành vải Để tạo cho vải có màu, ngời ta dùng vỏ, củ, lá câyrừng để làm nguyên liệu màu Đây là một kinh nghiệm phong phú mang yếu
tố gia truyền Muốn nhuộm xanh thì dùng lá cây, nhuộm vàng thì dùng nghệ,nâu thì dùng củ nâu giã nhỏ rồi trộn bóp với nớc vôi, nớc tro thật nhuyễn,cho sợi vào nhuộm đều, đem phơi 2 đến 3 lần sẽ đợc nh ý [24.467]
Kinh nghiệm nhuộm màu dân gian Mờng đợc ghi vào thành ngữ để dễnhớ
Ví dụ:
Muốn đen nhuộm vỏMuốn đỏ nhuộm pang (vàng)Muốn vàng nhuộm nghệ
Nếu dệt vải trắng vải một màu thì chỉ cần một thoi dệt; còn dệt vải kẽsọc (hoặc thổ cẩm), thì cần nhiều thoi dể lấy sợi màu khác nhau
Ngoài mục đích đáp ứng nhu cầu mặc, còn dùng trong sinh hoạt hàngngày nh (chăn, gối, màn, túi đựng); đặc biệt vải cũng đợc sử dụng nhiều trongcới xin, ma chay Mỗi ngời Mờng đều có rất nhiều loại quần áo, mỗi đời ngời(nhất là phụ nữ) phải sử dụng hàng trăm mét vải Ngoài ra sản phẩm dệt trongxã hội ngời Mờng cổ truyền đợc coi nh một thứ của cải về mặt kinh tế Chiếccạp váy là một trong những sản phẩm có giá trị nhất của nghề dệt, là thơngphẩm, có thể bán để giải quyết một phần nào khó khăn cho gia đình
* Đan lát
Từ xa con ngời đã biết sử dụng những nguyên liệu có sẳn trong thiênnhiên để chế tác ra những vật dụng phục vụ trong cuộc sống của mình Hầuhết đàn ông ngời Mờng đều biết đan lát để giải quyết yêu cầu cấp thiết cho
Trang 28cuộc sống của gia đình Ngời Mờng có thể đan lồng mốt, lồng đôi, các sảnphẩm đợc làm từ các loại cây nh tre, luồng, nứa, vầu Nếu nh nghề đệt thuộc
về phái nữ thì nghề đan lát thì ngời đàn ông đảm nhiệm Nguyên liệu thờng
đ-ợc khai thác tại chổ ở vờn nhà hoặc trong rừng Trớc khi đan, ngoài việc chẻ,vót thành các nan, còn một số khâu kỹ thuật xử lý thanh nan, bền, đẹp hơn nhngâm vào nớc vôi hay gác trên gác bếp Các đồ thông dụng thờng dùng nhgùi, nong, nia, dần, sàng, rổ Ngời Mờng sống chủ yếu gần sông suối, vìvậy mà họ còn tạo ra những dụng cụ đánh bắt rất phong phú, độc đáo nh nơm,
lờ, giỏ, đó vv
1.2.3 Hoạt động buôn bán trao đổi
Lang Chánh là một huyện vùng cao, nền kinh tế hàng hoá phát triểnchậm và cha đồng đều, nhiều địa phơng sản xuất còn lạc hậu, điểm xuất phátcủa nền kinh tế còn tháp, cơ sở hạ tầng còn nghèo nàn, trình đọ dân trí chacao
Từ năm 1945 trở về trớc , nền kinh tế Lang Chánh về cơ bản là nền kinh
tế tiểu nông, mang tính tự cung tự cấp trong đó kinh tế nông nghiệp (trớc hết
là trồng trọt và canh tác nơng rẩy) kết hợp với hoạt động săn bắn hái lợm làchủ đạo, còn hoạt động buôn bán chợ búa cũng chỉ là thứ yếu có tính chất bổtrợ trong thời gian nông nhàn Tuy nhiên do nhu cầu thực tiễn, hoạt động buônbán và trao đổi hàng hoá dới nhiều hình thức ở tất cã các bản làng trên địa bànLang Chánh vẫn diễn ra thờng nhật
Địa bàn Lanh Chánh có vị trí địa lý, địa hình rất khó khăn và phúc tạp,vì vậy dẫn đến những hạn chế về giao lu, giao thơng nội vùng cũng nh ngoạivùng Khi đó đờng bộ cha phát triển thì sự liên hệ giữa các bản làng tronghuyện với nhau là những con đờng mòn men đồi và men khe suối Ngoàinhững con đờng mòm truyền thống, dòng sông Âm cũng góp phần quan trọng,trở thành một tuyến đờng thuỷ nối liền một dải dọc huyện Lang Chánh vàcũng đồng thời là con đờng thuỷ duy nhất để nhân dân một số bản làng vensông có thể đi lại giao lu, giao thơng với một số huyện nh Ngọc Lặc, ThọXuân
ở các bản làng bên cạnh việc trao đổi truyền thống vật đổi vật nganggiá Sản phẩm chủ yếu dùng để trao đổi và buôn bán chủ yếu là những sảnphẩm lơng thực họ tự làm ra nh lúa, ngô, sắn và những hàng lâm sản khaithác đợc ngay trong địa bàn sinh sống nh : măng, mộc nhĩ, nấm hơng, mật
Trang 29ong Trớc khi ngời kinh ở dới đồng bằng lên đây tiến hành giao lu, trao đổibuôn bán thì những sản phẩm này ngời ta chủ yếu dùng để trao đổi giữa cácgia đình với nhau, hay giữa bản nay với bản khá, mờng này với mờng khác.
Kể từ khi ngời Kinh lên đây, chủ yếu là vào đầu thế kỷ XX thì những sảnphẩm này thì ngời Kinh rất u chuộng Họ đi lẽ, hoặc đi thành tốp đi theo đờng
bộ hoặc đờng sông đến các bản làng đổi dầu, đèn, mắn, muối, cá khô để lấycác sản phẩm của địa phơng mang về
Nhìn chung hoạt đọng giao thơng của ngời Mờng ở huyện Lang Chánhnói riêng và của đồng bào trên toàn huyện Lang Chánh nói chung, chủ yếu làgiao lu buôn bán mang tính chất nội địa, với hình thức hàng đổi hàng và chủyếu cũng chỉ diễn ra ở những thôn , bản có điều kiện địa lý gần kề nhau dùrằng cũng đã có sự xuất hiện của ngời Kinh đến đây để giao lu trao đổi, buônbán nhng không đáng kể và cũng chỉ trong phạm vi những nơi có điều kiện đilại thuận lợi
1.3 Vài nét về đời sống tinh thần của ngời Mờng ở huyện Lang Chánh trớc năm 1945
1.3.1 Giáo dục, y tế
* Giáo dục
Trớc năm 1945 cã châu Lang Chánh chỉ có một trờng tiểu học, tại phốhuyện với ba lớp (từ lớp một đến lớp ba), chủ yếu là con của Lang đạo giầu cómới đợc đi học, vào thời điểm đó mổi làng chỉ có vài ngời biết đọc biết viết,còn lại đa số là mù chữ, có những làng ở xa trung tâm phố huyện còn cónhững thôn bản không có ngời nào biết đọc biết viết Nhìn chung trình độ dântrí của ngời Mờng ở huyện Lang Chánh là rất thấp, gần nh là mù chữ, quátrình giao tiếp, thông tin chủ yếu là ngôn ngữ địa phơng và nhìn nhận mọi thứbằng quan niệm, tập tục và những quy ớc trong làng bản [24,253]
* Y tế
Cuối năm 1930 đầu năm 1940, ở châu Lang Chánh có một nhà thơng domột thầy ký phụ trách, Nhà thơng đợc đặt ở trung tâm phố Lang Chánh ngàynay, chủ yếu là phục vụ cho gia đình của các Tri châu và các chức sắc bản -mờng châu Lang Ngoài ra hàng năm thầy Kỳ cũng có đến một số bản, làngthuận đờng đi để chủng đậu và tiêm phòng thổ tả cho nhân dân Vấn đề phòngbệnh và chữa bệnh của nhân dân ở Lang Chánh thời kỳ này chủ yếu là do kinhnghiệm “ thầy nhà, thuốc rừng” và trông mong vào cúng tế tình trạng hữu sinh
Trang 30vô dỡng, phổ biến, trể sinh ra thiếu sự chăm sóc khoa học nên tử vong cao,tuổi thọ trung bình rất thấp [24,253].
1.3.2 Tín ngỡng, tôn giáo
Trong xã hội ngời Mờng ở huyện Lang Chánh, trớc năm 1945, vẫn đangcòn duy trì một xã hội hoang sơ mọi vấn đề trong làng bản chủ yếu đợc giảiquyết bằng lệ làng, con ngời sinh sống với nhau hoà thuận trong các làng bản,duy trì cộng đồng của mình chủ yếu bằng những thiết chế và tập quán nguyênthuỷ sơ khai hoặc sơ kỳ phong kiến
Để duy trì trật tự, luật tục, lề thói mỗi thôn bản thờng có một già làng.Già làng là ngời có uy tín, tuổi tác, kinh nghiệm do dân bầu chứ không phải
do cha truyền con nối Đây là vị trí bao hàm ý vinh dự chứ không bao hàmquyền lợi đợc dân bản tôn kính, phục tùng một cách tự giác Nhiệm vụ của giàlàng bao gồm các công việc xã hội nhằm duy trì trật tự bản làng, chủ trì việccúng bái hàng năm, giải quyết những xích mích, bất hoà trong bản chỉ huyviệc di chuyển c trú, săn bắn hoặc mâu thuẩn các dân tộc Qua khảo sát trên
địa bàn các xã của huyện Lang Chánh chúng tôi thấy rằng đồng bào Mờng ở
đây không chịu ảnh hởng của Thiên chúa giáo Nét nổi bật đáng lu tâm là ngờiMờng ở huyện Lang Chánh cũng không theo đạo Phật Trên địa bàn các xã cóngời Mờng c trú chỉ có một ngôi chùa là chùa Mèo, nhng ngời Mờng lạikhông đi lễ chùa Từ kết quả khảo sát trên địa bàn huyện Lang Chánh chúngtôi cho rằng ngời Mờng chủ yếu chịu ảnh hởng của phong tục tập quán mangtính truyền thống Điều này khác với ngời Mờng ở một số huyện khác trên địabàn Thanh Hóa nh Cẩm Thủy, Thạch Thành, vẩn có một số ít ngời Mờngtheo đạo thiên Chúa hay đạo Phật
1.3.3 Phong tục, tập quán
Trải qua các thời kỳ lịch sử, đồng bào của ngời Mờng ở huyện LangChánh, luôn lu giữ, trao truyền di sản văn hoá truyền thống, trong đó có cácphong tục tập quán rất đa dạng, chứa đựng những giá trị truyền thống của dântộc mình Tong đó tiêu biểu nhất là ngày tết cổ truyền lễ cầu mùa Trongphong tục tập quán của ngời mờng ở huyện Lang Chánh gồm cã yếu tố vănhoá vật chất (ăn, mặc, nhà ở ) và văn hoá tinh thần (nh giao tiếp, hôn nhân,tang ma, lễ tục)
* Tập quán làm nhà
Trang 31Trong văn hoá vật chất, nhà cửa là một trong những dấu hiệu, mang tínhtộc ngời rỏ nét, tại các vùng của ngời Mờng, nhà sàn rất phổ biến Nhà sàn củangời Mờng trớc năm 1945 chủ yếu là nhà gác, cột chôn, đồ nghề chủ yếu đểlàm nhà là con dao cái rìu Trớc đây, gổ làm nhà sàn phải là các loại gổ tốt ,cólỏi nh dổi, vàng tâm xanh, và tốt nhất là mạy láy, đinh hơng , bù hơng, là loại gổbền tốt làm nhà chôn đợc lâu hơn so với các loại gổ khác Kiểu làm nhà gác cộtchôn phát triển và duy trì đến khoãng năm 60 của thế kỷ XIX.
Trớc năm 1945 kiểu làm nhà sàn rất đơn giản, từ cây cột đến các loại xàdọc, xà ngang, gỗ khang làm sàn đều dùng gỗ tròn Trớc đây đầu nhà sàn vàphên thng đều dùng bằng luồng, nứa còn mái nhà dùng nứa và tranh, cọ đểlợp Đến lúc nhà kê tảng mới bắt đầu thuê thợ xẽ một hai loại vật liệu, nh xẽkhang hoặc có vật liệu thì xẽ ván, xẽ gổ làm đố để thng và đóng cửa cái, cửasổ
Nhà của ngời Mờng trớc đây thờng làm ở các thung lũng, ngời Mờngthờng ở gần sông, suối nên hớng nhà thờng nhìn ra sông, suối, hoặc nhìnxuống chân đồi Ngời Mờng khi làm nhà thì ít phải san đồi, vì ngời Mờng th-ờng ở dới thấp, không nh ngời Thái, mà chỉ đắp nền nơi đất ở là nơi cao ráothoáng mát, có thế hớng đẹp Thông thoáng, phía trớc nhà quay theo hớngnam và gé đông là tốt nhất
Một số các quy định sinh hoạt trong nhà sàn nh sau:
Gian thứ hai tình từ bên ngoài vào thờng dùng thờ tổ tiên, gian ngoài đểtiếp khách, nơi sinh hoạt uống nớc và giao tiếp, trò chuyện, gian trong phía d-
ới để làm bếp nấu, phía trên để cho vợ, chồng, con cái ngủ, nếu đông con thìngủ tiếp vào các gian còn lại, nơi ngủ không đóng buồng Các cặp vợ chồng
đều có chổ ngủ theo qui định
Nhà sàn trớc đây thờng có hai cầu thang, cầu thang đầu nhà ngoài dànhcho khách là nam giới, khách là nữ cũng có thể lên cầu thang này nhng tế nhịhơn thì đi cầu thang sau Trớc khi lên nhà nếu chân bẩn thì phải rửa chân sạch
sẽ, vì cạnh cầu thang thờng có máng đựng nớc và một cái gáo Trong nhà sànthờng đắp hai bếp, bếp trong dành cho nấu ăn hong quần áo, bếp này cũng lànơi sởi ấm của các thành viên nữ, bếp ngoài dành cho nam giới, khách đếnchơi hay bố con, anh em bàn công việc thờng là quanh bếp lửa này Bếp ngoài
để đun nớc hay nấu thức ăn khi bếp trong bận, bếp nào cũng vậy đều tuân thủtheo quy định là phải đặt chiều quai nồi hay vòi ấm theo chiều dọc ngôi nhà
Trang 32Cây cột bên cạnh bếp nhà trong là một cây cột thiêng (cùng với cột ma nhà)khi dựng nhà, cột bếp này chỉ dựng sau cột ma nhà các hạt giống quý vẫn đợctreo trên đầu của cột bếp Ngời lạ và khách đến nhà chỉ đợc ngồi chơi, nóichuyện, ngủ ở gian ngoài, nếu là đàn bà thì ở gian trong Khi nằm ngủ thì phảinằm theo chiều ngang của ngôi nhà, đầu quay về hớng tiền Ngời ta rất kiêngnếu ai đó không hiểu tập quán năm theo chiều dọc của ngôi nhà, bởi lẽ chỉ cóngời chết mới đặt dọc nh vậy [24,37].
* Trang phục
Quá trình sinh sống lâu đời trên một miền đất núi rừng luôn phải chốngchọi với thiên nhiên và thú dữ, đã tạo nên sự hoà hợp của một số nét của đờisống, sắc thái văn hoá của ngời Thái và Mờg ở Lang Chánh, trong đó trangphục Thái Mờng là rỏ ràng nhất Vùng tiếp giáp với ngời Mờng thì phụ nữThái ăn mặc giống phụ nữ Mờng, mà tiêu biểu nhất là chiếc cạp váy có trangtrí hoa văn Phụ nữ Mờng, thân mặc áo khóm, đầu váy thêu nhiều thứ hoa văn
đẹp, tai đeo hoa bạc, cổ và tay đeo hoa bạc, tóc búi gọn phía sau Y phục tronglao động truyền thống là áo nâu [15,41]
*Tập quán ăn uống
Ngời Mờng trớc đây cũng có các món ăn tơng tự nh ngời Thái, nhngkhái niệm trong mâm cm gọi là “cơm băng, cơm bòi” (cơm măng,cơm muối).Ngời Mờng thờng có các món: cơm đồ, cơm nấu, cá hấp, cháo gừng gà rang,thịt rang, cá kho, cá gỏi, cá muối, thờng có các món ăn nh thân cây chuối nấuvới củ kiệu (gọi là nhút) Các món ăn thờn là rau không hay nấu với thịt giốngngời Thái, nên it gọi là cơm canh Ngời Mờng thờng it chế biến rợu cần, rợusiêu mà thờng dùng rợu nấu [13,21]
đi mòi ông mo đến để gọi vía cho ngời mất, ngời Mờng gọi là vía tróm (gọihồn ngời chết vào quan tài) Khi đó con cháu có mặt đông đủ để nhìn mặt ng-
ời chết lần cuối cùng Gọi vía ngời chết xong thì chốt quan tài, đồng thời chọn
Trang 33giờ tốt để phát hiệu có ngời chết cho làng trên xóm dới biết từ đó con cháumới đợc khóc [12,21].
Phát hiệu ngời chết ngày xa thờng dùng bằng thuốc tự chế, cho vào mộtống sắt nh súng kíp nhng ngắn, ngời Mờng gọi là chọ Sau khi báo hiệu thìlàng đến, đầu tiên là những ngời có trách nhiệm trong làng nh thủ chòm, chùmlàng Khi ngời có trách nhiệm đến gia đình dọn mâm trầu cau, nớc trắng rabáo cáo, đồng thời làm việc tang Thờng việc chính của làng là đào huyệt,phát đờng, đốt than và chuẩn bị vật liệu phụ cho việc làm nhà mồ, con cháu,dâu, rể, thì lấy đá làm cột chày cột nhà mồ, riêng họ hàng thì phân công nhau
đi mời, báo dâu gia tới cùng phúng viếng chia buồn, đồ phúng viếng thờng bỏvào mân 4 chân hoặc bỏ vào sọt Dâu gia của con cái cũng đợc phân chia contrai con gái Nếu con trai thờng đồ phúng bằng lợn khoảng 10-15 kg, dâu giacon gái thờng bằng vịt
- Đa tang
Sau khi đa ma “đi chơi” về nhà ông mo mời ma “ăn cơm” lần cuối vàlàm thủ tục đa ma Ngời ta tổ chức buộc đòn (đòn đợc làm từ hai cây đòn tochắc) buộc vào theo quan tài rồi đa xuống cửa sổ giữa nhà (ngời Mờng gọi làcửa cái) Khi đa xuống cửa con trai cả hoặc con trai thứ làm nhiệm vụ bịtmiệng đòn trớc rồi thứ tự con cháu ngồi dới quan tài để khiêng xác ngời chết
đi qua, luật tục quy định ngồi 3 lần: 2 lần đầu quay mặt đi lần cuối quay mặtvào nhà Họ ngồi trên đầu có giải lụa, ngời Mờng gọi là “ngủ đờng” Trongquá trình đa ma từ nhà ra mộ phải qua ba trạm Trạm đợc làm bốn cột luồng
và hai đòn ngang gác quan tài lên cúng cho ngời chết ăn cơm, trạm cuối cùng
đợc làm ở khu gần nghĩa địa Khi đa vào đến nghĩa địa, cho hạ huyệt bằng bốn
đoạn sào luồng gác vào quan tài và hai dây giữ quan tài Sau khi thăng bằng,
họ cho nới dây buộc đòn và từ từ hạ quan tài xuống sau khi hạ huyệt, tiếnhành chồng cột chày, dựng nhà mồ Dựng nhà mồ xong, mọi ngời trong nghĩa
địa ra hết, ông mo tiến hành cúng lấp cửa mã, bàn giao ngời chết cho chúanghĩa địa, mọi ngời đa tang ra về giữa chân tay ở giếng làng trớc cửa giếnglàng, ông mo dựng hai cây quéng cui (họ cây móc) cho mọi ngời luồn qua,mục đích là lột đi đen đủi và phiền muộn cho con ngời và dụng cụ
Nếu là thi hài đợc chôn trớc thì sau khi mo xong làm thủ tục đa đón ợng trng có áo quan và linh hồn ngời chết, hình thúc đa ma nh trên
t Tục làm giổ
Trang 34Ngời Mờng chỉ làm giổ một lần vào tháng thứ 11 sau khi mất Khi làmgiổ mời ông mo đến cúng, con cháu gần xa đến để ông mo tháo tang kể từ đó,con cháu mới đợc vui chơi ca hát, không còn kiêng khen nữa.
- Đồ tang
Việc mặc đồ tang lễ của bà con họ hàng thân thuộc của ngời chết cónguồn gốc từ rất xa xa Việc mặc đồ tang của ngời sống có nhiều ý kiến giảithích khác nhau Có ngời cho rằng làm nh vậy là để hoá trang làm cho ngờichết không nhận ra đợc con cháu Đa số các ý kiến cho đó là nhằm biểu lộ sự
đau xót của ngời sống đối với ngời chết Sau này, việc mặc đồ tang đó đợcphong tục hoá , dần dần nghi thức bắt buộc Về màu tang, lấy màu trắng là đểbiểu thị cho màu tang, đau thơng chết chóc
Đồ tang của con trai : Phổ biến là màu trắng, áo thụng dài màu trắng.
trong thời gian làm ma, một số nơi ngời con trai còn đội mủ rơm, thắt lngbằng rơm hay dây chuối Quần áo tang chỉ may một lần mà thôi Nếu trongthời gian mãn tang thì áo rách thì cũng không may lại, hoặc khi mãn tang mà
áo vẫn cha rách cũng thôi Quần áo tang này khi ở trong nhà có thể cởi ra đợc,nhng khi đi ra ngoài bao giờ cũng phải mặc đồ tang lễ
Đồ tang của con gái và vợ : Con gái và vợ ngời chết thì trong thời giian
làm ma mặc đồ trắng, nhng khi làm ma xong thì nhuộm màu xanh lơ
Đồ tang của con rể : Các chàng rể trong khi làm ma cũng nh thời gian
chịu tang không phải mặc quần áo tang nhng lại phải chích khăn tang Riêngngời con rể cã lúc làm ma thì phải thắt thêm một chiếc khăn piêu hay khăn đỏ
ở thắt lng, lúc làm cơm dâng lên cho bố mẹ, thì phải mặc áo dài đen
Đồ tang của anh em, chú bác : Những ngời này cũng phải chịu tang.
Ngời chết không có con trai thì anh và em trai phải thay thế và cũng phải làm
đầy đủ mọi nghĩa vụ giống nh những ngời con trai Một số ngời cũng mặc đồtang giống nh ngời con trai đa số thì chỉ chích khăn trắng
Đồ tang của bà con họ hàng xa : Không có quy định cụ thể về đồ tang,
nhng trong tang tế cũng có một số ngời mặc đồ tang, đa số thì chỉ chích khăn.Trong thời gian chịu tang, tuỳ theo tình cảm của ngời sống đối với ngời chết
mà ngời ta để tang dài hay ngắn [24,673]
Thời gian để tang
Thời gian chịu tang tuỳ theo mức độ gần gũi về huyết thống và tình cảmcủa ngời sống đối với ngời chết Theo quy định, cha mẹ không bao giờ để tang
Trang 35cho con cái Anh không để tang cho em, ngời lớn tuổi không để tang cho ngời
ít tuổi
Con cái trong nhà: Con dâu, vợ, em của ngời chết, thì phải để tang chongời chết 3 năm Đây là thời gian bắt buộc nhng cũng tuỳ theo điều kiện màngời ta rút ngắn thời gian chịu tang lại Các chàng rể, nhất là rể cã theo quy
định cũng phải để tang cho bố mẹ vợ 3 năm
Đối với những ngời thân trong nội tộc của ngời chết, bao gồm anh emchú bác, cháu chắt của ngời chết thì phải để tang cho ngời chết từ 6 tháng đếnmột năm [24,674]
Nhìn tổng quát, tập tục tang ma của dân tộc Mờng ở Lang Chánh trớccách mạng Tháng Tám năm 1945 là một hiện tợng xã hội phổ biến, một loạihình văn hoá tôn giáo, một phơng diện quan trọng trong đời sống xã hội dotính chất phổ biến, sự gắn bó với cuộc sống của con ngời và sự bảo lu lâu dàitrong lịch sử, tập quán tang ma củ dân tộc Mờng không chỉ là nơi hội tụ củacác quan niệm về tôn giáo ma còn là chổ tập trung, là tấm gơng phản ánh khá
đầy đủ mọi sinh hoạt của con ngời và hoạt động của xã hội, cũng nh tập quántang ma của các c dân nông nghiệp
* Sinh đẻ
Theo tục xa, những ngời phụ nữ Mờng khi mang thai đợc kiêng khemrất kỹ, không mang vác nặng, không đi núi xa, khi đi lại thận trọng, thơng chỉ
đi lại ở nhà và làm những công việc nhẹ Ngời chồng chuẩn bị cho ngời vợ
tr-ớc ngày sinh một bếp lửa và chuẩn bị nhiều củi khô cho vợ sởi khi đẻ có mẹchồng hoặc những phụ nữ thân cận giúp đỡ Nếu khó đẻ thì nhờ bà mo đếnlàm phép Sinh đẻ kiểu nh vậy rất nguy hiểm Sau khi thai nhi ra đời thì dùnglách nứa để cắt rốn, thông thờng rất nguy hiểm đối với cã mẹ lẫn con.Thờigian khoảng một tháng đầu sau khi sinh ngời ta kiêng không để ngời lạ vào.Sau khi sinh sản sản phụ nằm, nghồi đều phải gần bếp lửa, dùng lá đắp lêntrán lên bụng để lu thông khí huyết, ngời mẹ phải ăn uống kiêng khem, ăncơm lam, uống nớc lá lam trong ống nứa, chứ không phải trong nồi trong ấmkiêng các loại cá trắm, chép, thịt chó, mẽ chua trong nhiều tháng Con trai 7ngày, con gái 9 ngày thì làm cổ vía Thông thờng cổ có một bát gạo một batmuối, một con gà luộc một đĩa xôi, một quả trứng luộc và một chiếc áo hoặckhăn của trẻ đã từng mặc, đặt bên mâm lễ Mâm đợc đặt riêng ở cửa nhàngoài, cạnh bàn thờ tổ tiên, cạnh bàn thờ tổ tiên đẻ cúng [24,675]
Trang 36* Hôn nhân
Ngời Mờng quan niệm hôn nhân không phải là niềm vui riêng của đôitrai gái mà đây là niềm vui chung của cã dòng họ, làng xóm, nên khi tổ chứchôn nhân mời toàn thể dòng họ (nếu có khả năng) Nếu không đủ khả năng thìmời đại diện dòng họ và anh em thân cận trong làng, bản Những thành phầnkhông thể thiếu là: Đại diện dòng họ hai bên trai, gái; đại diện bên ngoại bốchồng; đại diện bên ngoại mẹ chồng Những thành phần này là những ngời amhiểu phong tục cới, cùng nghồi mâm cơm để trò chuyện (ngời Mờng gọi làbông cú môống) Gồm có ba hình thức cới: cới vợ chạy theo, cới vợ ăn hỏi và
ở rể
- Cới vợ chạy theo:
Hai bên trai gái yêu nhau, khi hiểu nhau và đồng ý với nhau, thì hẹnngày hẹn tháng cô gái theo ngời yêu về nhà chồng Nhà trai chỉ cần ít trầu cau
bỏ vào trong hông xôi hoặc luống giã gạo, sáng mai bố mẹ thấy vắng con sẽ
đến kiểm tra hai nơi đó, nếu có trầu cau thì biết con gái đã chạy theo chồng
mẹ cô gái tiếp lời, nhận lời Thông thờng trớc đay phải chờ ba năm có khi còn
5 năm mới đợc xin tổ chức đám cới Thời gian chờ đợi thực tế là thời gianthăm dò tính nết của hai bên trai gái Nếu trong thời gian đó hoặc sớm hơn,nếu không thuận con gái đến nhà trai báo tin và trả lại lễ vật
- Tục ở rể:
Đây là trờng hợp nhà gái neo đơn, không có con trai; do nhà gái chủ
động lên tiếng trớc Những chàng trai làng biết tin về tha chuyện với bố mẹ vàdòng họ Nếu đồng ý, bố mẹ bên nhà gái chủ động tổ chức đón chàng rể vềnuôi Trong lễ đón nhận rể mới cũng tổ chức bình thờng nh nêu trên [24,646]
- Việc tổ chức cới:
Trang 37Nhà gái cùng nhà trai chọn ngày lành tháng tốt (ngời Mờng gọi là
“ngay léng, khàng tột”) Sau khi thoả thuận xong hai bên tuỳ thuộc vào khảnăng của mình để tổ chức đám cới cho cô dâu chú rể
Nhà trai : Chuẩn bị đầy đủ những đồ lễ do nhà gái gợi ý, gồm có một con lợn,bánh lá, trầu cau, rợu, gạo và tiền mặt, xanh đồng, bạc trắng.Tất cã những đồ
lễ đợc đem sang nhà gái trớc một đêm, ngời mờng gọi là “nạp tái” ngời Kinhgọi là nạp tài, trong lễ nạp tài, ông mơ dẫn đầu nhà trai có đại diện dòng họ,
đại diện bên ngoại chú rể, mẹ chú rể và một vài cô gái
Hôm sau đi đón dâu số lợng đông hơn vì phải có lực lợng đi nhận vàkhênh đồ gồm: chăn màn, chiếu đệm do nhà gái sắm cho cô dâu Đoàn đón dâucủa ngời Mờng thờng đem theo chiếc cồng, ngời xách cồng đi đầu để thỉnhthoảng đánh một tiếng cồng báo hiệu, nếu ai đó đang đi trên trục đờng đoàn rớcdâu đang đi ngang qua sẽ tự tránh để cho cô dâu chú rể gặp điềm lành
Khi rớc dâu về nhà thì cô dâu vào nhà phải quỳ lậy ông bà, bố mẹ, anhchị em trong nhà, cô dâu nghồi và lạy ba lạy Việc lạy là để giới thiệu với tổtiên trong gia đình là có thêm ngời mới, khẩu mới về sinh hoạt nhà trai sữasoạn làm vía gồm con gà, chai rợu, bát đũa, áo cô dâu và sau khi ông mơ khấnxong, cô dâu lạy bốn lạy Xong mâm vía là mâm riêng cho hai vợ chồng trẻ,gồm hai quả trứng luộc và một con gà luộc chặt sẵn gọi là mâm se duyên tiếptheo mâm thứ ba là mời ông bà anh em trong dòng tộc nghồi vào để cô dâuchào Các món quà nhà trai tặng cho cô dâu đều đợc bày vào mâm này
Nhà gái: Chuẩn bị chăn, màn, gối, đệm để tổ chức lễ vu quy, ngời ờng gọi là “khẹch con cáy” Mời dòng họ bên nhà gái, nội ngoại con gái, khemộng thông gia và bạn bè thân thiết tuỳ theo khả năng
M-Nhà gái cũng bày mâm vía để chú rể lạy gia tiên, mâm vía cũng có
gà,r-ợu, áo chú rể; cúng xong chú rể lạy gia tiên Mâm xe duyên để cặp vợ chồngtrẻ cùng ăn, mâm chào bố, mẹ, dòng tộc nhà gái, quà tặng cho chú rể cũng đ-
ợc bày vào mâm chào Những quà tặng sau khi chú rể lạy xong đợc một ngờithay mặt nhà gái kiểm, rồi giao lại cho đại diện nhà trai khi ba mâm làm lễ đãxong thì bắt đầu dọn cổ và mời khách xa gần
1.3.4 Một số lễ hội
* Lễ năm mới
Đón tết Nguyên đán của ngời Mờng theo âm lịch ngời Việt Vào đêm
30 đánh cồng mời hồn vía tổ tiên về giờng thờ trong ngày tết của ngời Mờng
Trang 38món cá không thể thiếu, gồm các loại thịt, bánh chng, bánh lá, sôi các loạithực phẩm xắm tết đều bày mỗi ít vào mâm cúng và mời thầy cúng đến cúng.Nhằm thông báo với tổ tiên những gì đã diễn ra trong một năm qua và cầukhấn tổ tiên phù hộ sang năm mới con cháu, luôn gặp điều lành, làm ruộng,làm nơng rẩy, chăn nuôi gia súc, gia cầm không bị trắc trở, hứa hẹn với tổ tiênnếu năm sau mọi việc đợc nh ý sẽ làm tết to hơn
* Lễ cúng thần đất
Lễ này thờng mở đầu làm nơng rẩy, khai phá ruộng nớc, chọn đất làmnhà dựng nhà, bắt đầu mùa gặt Mâm cúng gồm: Một chai rợu, một con gà,xôi, trầu cau
Nếu làm nơg rẩy khai phá ruộng thì cầu khấn các thần linh phù hộ chomùa màng tốt tơi, không bị sâu bọ, chim chuột phá hoại, ngời làm ruộng nơngkhông bị tai nạn, cầu thu hoạch lúa ngô đầy nhà
Nếu cúng trớc khi thu hoạch mùa màng thì ngời cúng phải chọn cắt một
số bông lúa tốt (5 - 7 - 9 bông) bày vào cạnh mâm cúng gồm rợu , gà, xôi, trầucau
Ngời cúng cầu khấn đã đến mùa, xin đợc thu hoạch, cầu thời tiết không
ma, chim chuột thú rừng đừng quấy phá (vì thờng khi gặp hơng lúa, nhất làcác loại lúa thơm, chim thu bắt đợc mùi thờng kéo đến) Những bông lúa cắt
đầu tiên đem về treo trên xà nhà để cầu cho vụ sau tơi tốt
Nếu cúng chọn đất làm nhà thì cầu khấn các thần linh, phù hộ cho giachủ và những ngời tham gia dựng nhà không bị tai nạn, ngời nhà yên ấm,không ốm đau, của cải nhiều, con cháu sinh sôi nảy nở, không bị thiên tai hoảhoạn, nuôi trâu, bò và gia cầm đầy chuồng [24,718]
*Lễ cúng cơm mới
Lễ này thờng tổ chức sau khi gặt hái xong và chỉ tổ chức nội bộ gia
đình, không mời khách Gia đình phải chuẩn bị cá và một số thức ăn khác đủ
để gia đình dùng Trong hông đồ xôi chọn ba hòn đá suối bằng quả đào rửasạch cho vào đáy hông tợng chng cho hạt chắc nảy, khi xôi chín đổ ra quạtkhông đợc nếm trớc khi cúng Dọn mâm cúng mời tổ tiên, cầu tổ tiên phù hộmùa sau bội thu cúng xong, gia đình dọn cơm cùng ăn Ngời Mờng quanniệm bữa cơm này các thứ đều phải thừa thì sang mùa sau mới làm ăn phát đạt
và ngời nào trong gia đình nắm gặp hòn đá thì mùa mới gặp may
* Tiểu kết chơng 1
Trang 39Từ khi định c đến vùng đất Lang Chánh, các thế hệ c dân ngời Mờng đãchung lng đấu cật, chặt cây rừng, làm rẩy, gieo trồng lúa, hoa màu, chăn nuôigia súc gia cầm để sinh sống họ còn săn bắt, hái lợm, đánh bắt thuỷ sản ởcác sông, suối, hồ, đập.
Đồng bào Mờng khai thác cây rừng làm nhà cữa, lấy lá cây, cũ, quả đểlàm thuốc chữa bệnh, vợt qua mọi khó khăn - Đời sống vật chất tuy nghèo khónhng tinh thần đoàn kết , ý thức vợt khó, tinh thần lao động cần cù đã giúp ng-
ời Mờng vợt qua mọi khó khăn
Đời sống tinh thần của ngời Mờng Ngày càng phong phú và đa dạng,vừa giữ gìn những nét văn hoá truyền thống, vùa tiếp thu tiếp biến văn hoá,văn minh của ngời Việt để làm thay đổi đời sống và tinh thần của mình
Trang 40Chơng 2 Biến đổi trong đời sống vật chất của dân tộc Mờng
Sau khi tuyên bố xoá bỏ chính quyền củ tỉnh Thanh Hoá đã huy động lựclợng tự vệ từ Thọ Xuân hành quân lên Lang Chánh, kết hợp với quần chúngnhân dân địa phơng, tiến về châu lỵ Lang Chánh, tuyên bố xoá bỏ chínhquyền cũ, thiết lập chính quyền mới, từ huyện đến xã Chính quyền mới gọi là
Uỷ ban nhân cách mạng lâm thời huyện Lang Chánh
Từ tháng 8 năm 1948, ông Lê Xuân Biêng - Thẩm phán toà án nhân dânhuyện đợc cử làm Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến - Hành chính huyện LangChánh Từ đây chính quyền Lang Chánh từng bớc đi vào ổn định, bộ máy nhànớc vận hành đồng bộ, theo đúng đờng lối lãnh đạo, chủ trơng chính sách lãnh
đợc chuyển thành uỷ ban hành chính
Hoà bình lập lại cha lâu bọn phản động ở Lang Chánh đã liên lạc vớinhững tên trùm phản động ở miền Tây để tổ chức lại phỉ, xúi dục nhân dântrốn thuế nông nghiệp, đôt phá kho tàng, lừa mị nhân dân di c sang Lào, tổchức ám sát cán bộ, bộ đội Uỷ ban hành chính từ xã đến huyện đợc thành lập
và củng cố để cùng với lực lợng quân đội, công an và dân quân du kích, đậptan mọi âm mu thâm độc của các thế lực thù địch, giữ vững an ninh, chính trị
ở địa phơng, từng bớc nâng cao đời sống cho nhân dân
Đối với Lang Chánh thực hiện Nghị quyết của Đại hội biểu tỉnh lần thứ
V, các huyện miền núi phía Tây tập trung vào việc cũng cố hệ thống tổ chức