1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đời sống sản xuất vật chất của đồng bào raglai ở xã phước đại, huyện bác ái, tỉnh ninh thuận trong bối cảnh đô thị hóa

41 982 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 587,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÁC GIẢ: Nguyễn Thị Kim Thanh CN Lưu Vĩ Phú Nguyễn Thị Chi Lê Nguyễn Hồng Ngọc Nguyễn Phương Yến Thảo Tính từ năm 2005 đến nay, các chương trình 134, 135 của Chính phủ đã đầu tư cho việc

Trang 1

TÁC GIẢ: Nguyễn Thị Kim Thanh (CN)

Lưu Vĩ Phú Nguyễn Thị Chi Lê Nguyễn Hồng Ngọc Nguyễn Phương Yến Thảo

Tính từ năm 2005 đến nay, các chương trình 134, 135 của Chính phủ đã đầu tư cho việc phát triển kết cấu hạ tầng, hỗ trợ sản xuất, hỗ trợ cho công tác khuyến nông, đầu

tư xây dựng các công trình thủy lợi như hồ Sông sắt, các hồ nhỏ, đường giao thông nhằm làm xoá đi phần nào những khó khăn thiếu thốn mà đồng bào dân tộc nơi này đã phải chịu đựng trong rất nhiều năm qua

Nhờ đó, tình hình sản xuất và đời sống vật chất của đồng bào Raglai đã được nâng lên rõ rệt Sự thay đổi này được thể hiện rõ nhất ở các mặt sau:

Nông nghiệp

Quá trình sản xuất ưồng trọt của đồng bào nơi này đã có nhiều thuận lợi hơn so với nhiều năm trước Bà con đã nhận được rất nhiều hỗ trợ của Nhà nước từ công tác khuyến nông, hỗ trợ phòng dịch, hỗ trợ nguồn vốn,

Tuy nhiên, việc chuyển đổi vật nuôi cây trồng phù hợp với lợi thế của từng vùng chưa được quy hoạch cụ thể Nhiều hộ còn thiếu đất sản xuất, nước tưới, nước sinh hoạt Tình trạng sang nhượng đất đai của bà con trở nên khá phổ biến

Bên canh đó, một số chương trình, kế hoạch phát ưiển kinh tế-xã hội đôi lúc chưa thật sự phù hợp, gây lãng phí cho nguồn đầu tư quốc gia

Dịch vụ

về y tế, công tác chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào đã được quan tâm hơn trước

Tại địa bàn xã Phước Đại đã có hẳn một cơ sở y tế địa phương đáp ứng cho nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của người dân

về giáo dục, ở địa phương đều có trường tiểu học và trung học cơ sở, có cả trường

mầm non, mẫu giáo, dù số lượng các ngôi trường ở nơi này là không nhiều

Tuy nhiên, kinh tế-xã hội của huyện phát triển còn rất chậm và thiếu bền vững Đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số có được nâng lên so với trước nhưng vẫn còn thấp, tỉ lệ hộ nghèo vẫn còn ở mức cao

Trang 2

Đe thúc đẩy sự phát triển sản xuấtvật chất của đồng bào dân tộc Raglai ở xã Phước Đại nói riêng và toàn huyện Bác Ái nói chung, cần thực hiện tốt một số nhiệm vụ:

• Nâng cao trách nhiệm và hiệu lực quản lý, điều hành của chính quyền trong việc phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng

• Thực hiện tốt công tác quy hoạch để phát triển trồng trọt và chăn nuôi phù hợp với lợi thế của vùng

• Hướng dẫn bà con cách sản xuất, cho vay vốn dài hạn với lãi suất thấp, hỗ trợ giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật cho bà con trong quá trình sản xuất Tiếp tục thực hiện tốtChương trình 135, Chương trình 134 Thực hiện tốt công tác quy hoạch đất sản xuất cho bà con Quan tâm xây dựng các công trình thủy lợi vừa và nhỏ để phục vụ nước tưới trong quá trình sản xuất Vận động bà con nâng cao tính tự lực trong phát triển sản xuất nhằm xóa đói, giảm nghèo

• Thường xuyên sơ, tổng kết để đánh giá việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm rút kinh nghiệm trong quá trình chỉ đạo tổ chức thực hiện, xác định những khuyết điểm để khắc phục, góp phần ổn định và phát triển bền vững kinh tế-xã hội trên địa bàn toàn xã Phước Đại, huyện Bác

Ái

Trang 3

MỤC LỤC

-ỳ Mở đầu _ _ _ 1

1 Sự cần thiết của đề tài 1

2 Lý do chọn đề tài 1

3 Đối tượng nghiên cứu 2

4 Mục tiêu nghiên cứu 2

5 Phương pháp nghiên cứu 2

Chươngl: Cơ sở lý luận 3

1.1 Sản xuất vật chất 3

1.1.1 Sản xuất vật chất là gì? 3

1.1.2 Sản xuất vật chất là cơ sở cho sự tiến bộ của xã hội 3

1.2

Đô thị ho á 4

1.2.1 Đô thị ho á là gì? 4

1.2.2 Quá trình đô thị ho á 4

1.2.2.1

Quá trình đô thị ho á trên thế giới 4

1.2.2.2

Quá trình đô thị ho á ở nước ta 7

1.3 Khả năng thích nghi 15

1.3.1 Khả năng thích nghi 15

1.3.2 Thích nghi xã hội 16

Chương 2: Bổi cảnh đô thỉ hóa ở xã Phước Đai, huyên Bác Ái, tỉnh Ni nh Thuạn 2.1 Vị trí địa lý 17

2.2 Điều kiện tự nhiên 18

2.3 Điều kiện văn hóa-xã hội 20

2.4 Tình hình đô thị hoá ở xã Phước Đại huyện Bác Ái tỉnh Ninh Thuận 21

Chương 3: Kết cấu các ngành kinh tế và sự biến đỗi của chúng trong quá trình đô thị hóa 24

3.1 Nông nghiệp 24

3.1.1 Trông trọt 24

3.1.2 Chăn nuôi 27

3.2 Lâm nghiệp 28

Trang 4

1 Sư cần thiết của đề tài

Trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia, đô thị luôn là nhân tố làm động lực thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và nâng cao trình độ nhận thức của mỗi cá nhân cũng như của toàn xã hội Đô thị hoá được xem là vấn đề hết sức quan trọng không chỉ riêng đối với Việt Nam Quá trình đô thị hóa song hành với quá ưình công nghiệp hóa ở nước ta đang từng ngày làm đổi thay diện mạo đất nước, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của cuộc sống hiện đại

Tuy nhiên, có một bất cập là việc phát triển các đô thị vừa và nhỏ (thị xã, thị trấn, hương trấn) chưa được chú ý nhiều ở Việt Nam Điều đó dẫn đến một hệ quả là trên thực

tế vẫn còn tồn tại một khỏ ang cách khá lớn ở các mặt về đời sống vật chất giữa vùng nông thôn và các thành thị

Ở đây chúng ta bắt gặp một loại hình đô thị hóa đặc biệt hơn, khi quá trình đô thị hóa được tiến hành ở các vùng dân tộc ít người, nơi còn đang có rất nhiều mặt hạn chế về tri thức, trình độ sản xuất lẫn sự khác biệt về phong tục tập quán Đa phần tồn tại các đồn

ấp, có khi chỉ có một xã, các khu vực hành chính không phân chia rõ ràng Tiến hành đô thị hóa ở các vùng miền này là một thử thách lớn đối với nhà nước ta Do vậy, việc tìm hiểu, nghiên cứu về đời sống sản xuất vật chất của đồng bào các dân tộc thiểu số ưong bối cảnh đô thị hóa là một đề tài nóng bỏng và mang tính thời sự

Là những sinh viên chuyên ngành úc học Khoa Đông phương học, lại được nhà trường tổ chức chuyến đi thực tế tại xã Phước Đại - một xã nghèo tại huyện miền núi Bác

Ái, tỉnh Ninh Thuận, chúng tôi đã có cơ hội được tìm hiểu về đời sống sản xuất vật chất của đồng bào dân tộc Raglai cũng như là các chính sách mà Chính phủ đã đưa ra để hỗ ượ cho tiến trình đô thị hóa tại nơi này Bởi vậy, đó là một cơ hội quý báu cho chúng tôi tìm hiểu thêm thông tin cũng như việc xúc tiến thực hiện đề tài này

2 Lí do chon đề tài

Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu, thu thập tài liệu, nhóm nghiên cứu chúng tôi nhận ra rằng các công trình nghiên cứu về đời sống sản xuất cơ sở vật chất của dân tộc Raglai là không nhiều, và đặc biệt các bài nghiên cứu về vấn đề trên nhưng đặt trong bối cảnh đô thị hóa ở đất nước ta hiện nay thì lại càng hiếm hoi hơn nữa

Do đó, chúng tôi quyết định chọn đề tài này để nghiên cứu nhằm mục đích bổ sung thêm cho nguồn ưi thức của mình Đồng thời, nhóm nghiên cứu chúng tôi hi vọng sẽ đóng góp thêm một phần nào thông tin cũng như các tài liệu nghiên cứu về đời sống sản xuất vật chất của dân tộc Raglai tại xã Phước Đại, huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận một cách khách quan và thiết thực nhất

3 Đối tương nghiên cửu

Trang 5

Đời sống sản xuất vật chất của đồng bào Raglai tại xã Phước Đại huyện Bác Ái tỉnh Ninh Thuận trong bối cảnh đô thị hóa

• Đưa ra những mặt còn hạn chế và đúc kết những bài học kinh nghiệm trong quá trình thực hiện đô thị hóa nông thôn và miền núi ở nước ta hiện nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Bài nghiên cứu này được tiến hành dựa trên các phương pháp nghiên cứu như sau:

Trang 6

1.1 Săn xuất vật chất

1.1.1 Sản xuất vật chất là gì?

Lĩnh vực sản xuất vật chất là tổng thể các ngành kinh tế quốc dân trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất, hoặc làm tăng thêm giá trị của cải đó trong lĩnh vực lưu thông Các ngành sản xuất vật chất chia thành hai nhóm: nhóm I bao gồm các ngành trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất như công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, xây dựng cơ bản và các ngành sản xuất vật chất khác; nhóm II bao gồm các ngành làm tăng thêm giá trị của sản phẩm các ngành thuộc nhóm I trong quá trình đưa sản phẩm đó đến người tiêu dùng như vận tải hàng hoá, bưu điện phục vụ sản xuất, thương nghiệp và ăn uống công cộng

1.1.2 Sản xuất vật chất là cơ sở cho sự tiến bộ của xã hội

Sản xuất hay sản xuất của cải vật chất là hoạt động chủ yếu ưong các hoạt động kinh tế của con người Sản xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sử dụng, hay để trao đổi trong thương mại

Hai mặt của nền sản xuất gồm: lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

* Lực lượng sản xuất gồm người lao động và tư liệu sản xuất, trong đó con người giữ vai trò quyết định

* Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất Quan hệ sản xuất gồm có:

(i) Quan hệ về sở hữu các tư liệu sản xuất, còn gọi tắt là quan hệ sở

hữu

(ii) Quan hệ về tổ chức, quản lý sản xuất còn gọi là quan hệ quản lý

(iii) Quan hệ về phân phối sản phẩm, còn gọi tắt là quan hệ phân

Quan hệ sản xuất phải thay đổi cho phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Tuy nhiên, quan hệ sản xuất không phải hoàn toàn thụ động, mà

có tác động trở lại lực lượng sản xuất Quan hệ sản xuất có thể tác động đến lực lượng sản xuất vỉ nó quy định mục đích của sản xuất, ảnh hưởng đến lợi ích và thái độ của

Trang 7

để xem xét một quan hệ sản xuất nhất định có phù hợp với tính chất và trình độ

1.2 Đô thị hoá

1.2.1 Đô thị hoá là gì?

Đô thị hóa là quá trình biến đổi về phân bố các lực lượng sản xuất, bố trí dân cư, những vùng không phải đô thị trở thành đô thị Tiền đề cơ bản của đô thị hóa là sự phát triển công nghiệp, thương mại, dịch vụ thu hút nhiều nhân lực từ nông thôn đến sinh sống

và làm việc, làm cho tỉ trọng dân cư ở các đô thị tăng nhanh Đô thị xuất hiện làm tăng sự phát triển giao thông với các vùng nông nghiệp xung quanh và các đô thị khác; phát triển văn hoá và sự phân công lao động theo lãnh thổ, tăng cường thành phần công nhân, tiểu thủ công, trí thức, thương nhân, kĩ thuật viên, vv Việc đô thị hóa nông thôn có ý nghĩa trực tiếp nâng cao đời sống vật chất và văn ho á tinh thần của nông dân, thúc đẩy sản xuất nông lâm nghiệp phát triển theo hướng chuyên môn hoá và hiện đại ho á, ngăn chặn việc di cư

tự phát, vô ké hoạch của nông dân vào đô thị lớn Đô thị hóa tăng nhanh số lượng các đô thị, kèm theo là sự cách biệt dần giữa con người với thiên nhiên, sự giảm sút của chất lượng môi trường sống Đô thị được đặc trưng bằng quy mô, mật độ và tính không đồng nhất là nhân tố quyết định chủ yếu của các loại hành vi ứng xử xã hội khác nhau Ở đô thị, ngày càng tăng các mối quan hệ của các nhóm dân cư, các phường hội tự nguyện và tính đa dạng của các chuẩn mực Ngày nay, quá trình đô thị hóa đang tăng nhanh, các nước có tỉ số dân

cư đô thị cao là Anh (91%), Ôxtrâylia (89%), Thuỵ Sĩ (87%), Đức (85%), Niu Zilân (85%), Pháp (78%), Nhật Bản (78%), Mĩ (77%) Dân số đô thị ở Việt Nam năm 1931 là 7,5%; 1954: 11%; 1975: 21,5%; 1979: 19,2%; 1989: 21,4% Cùng với đô thị hóa, cơ sở hạ tầng, như giao thông vận tải, điện, nước, thông tin liên lạc phát triển, cơ cấu xã hội cũng theo đó

mà phát triển Việc đô thị hóa nông thôn là một chính sách lớn có ý nghĩa chiến lược nên các nước đều thực hiện có kế hoạch và chủ động

1.2.2 Quá trình đô thị hoá

1.2.2.1 Quá trình đỏ thi hoá trên thế giới

Trong những năm vừa qua, người dân ở các nước đang phát ưiển di chuyển ồ ạt tới các thành phố với một tốc độ chưa từng thấy Như đã đề cập đến trong buổi học trước, chúng ta quan sát thấy điều đó trong thời điểm, khi các nước phát triển hiện nay luôn tăng tưởng, nhưng dân cư thành thị tăng lên với một tốc độ chậm hơn sự phát triển của các ngành và chắc chắn với một tốc độ chậm hơn các công việc đang được tạo ra trong khu vực sản xuất Tuy nhiên, hiện nay vấn đề này rất khác đối với các nước đang phát triển Ở các nước này chúng ta nhận thấy rằng dân cư ở các thành phố đang tăng lên với tỷ lệ nhanh hơn nhiều so với tăng trưởng trong khu vực sản xuất Vì thế ưong khi các mô hình phát ưiển kép như mô hình Lewis có thể được áp dụng rộng rãi trong giai

Trang 8

đoạn này — khi mà các nước phát triển hiện nay đã tăng trưởng, họ không thể giải thích được việc các nước đang phát triển lại gặp phải tình trạng thất nghiệp gay gắt ở đô thị Ngoại ưừ các mô hình phát triển kép (đã thừa nhận chỉ có hai khu vực kinh tế, khu vực sản xuất nông nghiệp truyền thống và khu vực sản xuất chế biến hiện đại), các nhà kinh tế hiện nay đã bắt đầu thừa nhận sự tồn tại cần thiết của khu vực thứ ba Cụ thể là khu vực không chính thức

• Khu vực phi chính thức (Informal Sector):

Khu vực này bao gồm các hoạt động không hoàn toàn là bất hợp pháp, nhưng thường không được sự chấp nhận của xã hội và hầu hết các hoạt động này đều không đăng

ký với nhà nước Chẳng hạn như: đứng đường, bán hàng rong, mài dao, viết thư, thu lượm đồng nát, đánh giày,

• Các đặc điểm của người lao động ưong khu vực phi chính thức: Phần lớn người lao động trong khu vực này:

1 Là các cư dân vừa mới chuyển từ vùng nông thôn tới

2 Họ ít được đào tạo hay không được đào tạo chính thức

3 Họ thường không có chuyên môn

4 Họ thiếu tiền vốn

Ket quả là, sản lượng và thu nhập ưong khu vực này vẫn rất thấp Đồng thời người lao động cũng không có bất cứ công việc ổn định nào, không có điều kiện lao động tốt hay tiền lương hưu cho tuổi già

Cho đến đầu những năm 1970, có thể nhận thấy ở các nước đang phát triển rằng khu vực phi chính thức không phải là một hiện tượng tạm thời hay nhất thời mà hiện tượng

đó sẽ còn tiếp tục tồn tại Vì thế nhận ra được các lợi ích và chi phí của khu vực phi chính thức là rất quan trọng

• Lợi ích của khu vực phi chính thức:

1 Nó thu hút một luồng lao động lớn từ các vùng nông thôn

2 Có thể mang lại chút thặng dư

3 Nguồn vốn thấp: So với khu vực sản xuất, khu vực phi chính thức này chỉ cần một lượng vốn rất nhỏ cho mỗi lao động

4 Nó đáp ứng một nhu cầu lớn về người lao động không chuyên và bán chuyên môn

5 Khu vực phi chính thức có thể dễ chấp nhận công nghệ thích hợp và sử dụng hiệu quả các nguồn lực địa phương

6 Có một vai trò quan trọng trong việc tái chế vật liệu sa thải

• Chi phí đối với xã hội:

1 Chủ yếu là các hậu quả về môi trường

2 Tăng tỷ lệ tội phạm

• Các đặc điểm di cư

1 Các đặc điểm nhân chủng học

Trang 9

• Các liên quan về chính sách:

1 Phải xem xét và giảm bớt việc quan tâm thiên lệch đối với các chính sách phát triển đô thị Các bất cân bằng giữa các cơ hội kinh tế ở vùng nông thôn và đô thị phải được giảm thiểu

2 Nhà hoạch định chính sách phải nhận thức được rằng việc tạo ra công ăn việc làm ở thành thị nhiều hơn có thể không phải là giải pháp để giải quyết vấn đề thất nghiệp

ở đô thị Mà nó có thể càng thúc đẩy quá trình di cư và làm tồi tệ thêm vấn đề thất nghiệp

ở các thành phố

3 Giáo dục phải được tổ chức lại và nên là ưu tiên hàng đầu của đất nước Quan trọng không phải là cung cấp hệ thống giáo dục chính qui, mà là quan tâm, chú trọng đến các công việc có hàm lượng chất xám cao hơn và việc đào tạo nghề

4 Mô hình của Todaro cũng đưa ra triển vọng tốt cho các vấn đề này thông qua các giải pháp được đề xuất ưong mô hình vi mô khuyến khích bằng giá (price incentive micro model)

5 Các chương trình phát triển vùng nông thôn nên được khuyến khích Các chính sách tập trung vào cả nguồn thu từ khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp đều phải được chú trọng

Nghiên cứu:

♦♦♦ Nen kỉnh tế Mexico:

Mexico là nước lớn thứ 3 ở Mỹ La-tinh Mexico nằm dưới ách thống trị của Tây Ban Nha khoảng 300 năm Đó là một đất nước có nguồn tài nguyên thiên nhiên và tiềm lực phát triển dồi dào Đây là nước lớn thứ 15 trên thế giới về kim ngạch thương mại Mexico cũng là nước xuất khẩu dầu lớn thứ 4 trên thế giới, có cơ sở công nghiệp vững chắc và được coi là một nước công nghiệp mới (Newly Industrialized Country ~ NIC) Mexico có đất đai nông nghiệp mầu mỡ, và là láng giềng với nước phát triển nhất thế giới (MỸ) Mặc dù có tất cả các điều kiện thuận lợi đó nhưng đất nước này vẫn tồn tại nhiều vấn đề lớn Họ bị tác động nặng nề bởi dân số tăng nhanh, cư dân sống đông ở thành thị (70% dân cư sống ở các thành phố), đói nghèo gia tăng, bất bình đẳng lớn trong thu nhập, tình ưạng thất nghiệp tràn lan và một gánh nặng nợ nước ngoài lớn Vấn đề là một đất nước với quá nhiều tiềm năng như vậy sẽ giải quyết những tình huống đó như thế nào

Sau Thế Chiến n, nền kinh tế Mexico đã tăng trưởng khá nhanh, có nhu cầu bên

ngoài lớn trong khi các nước khác trên thế giới vẫn đang khôi phục lại sau sự tàn phá của chiến tranh Đồng thời, nhu cầu trong nước cũng tăng mạnh bởi các chính sách thay thế nhập khẩu và hạn chế nhập khẩu trong nước Nen tảng công nghiệp trong nước được xây dựng trong suốt giai đoạn này Trong khoảng 30 năm, nền kinh tế trong nước chủ yếu được thúc đẩy bởi nền công nghiệp Trong những năm 1970, sau khi phát hiện ra một lượng lớn trữ lượng dầu và gas, Mexico đã thực hiện nhiều dự án đầu tư lớn được hậu thuẫn bởi các chi phí công đầu tư vào sản xuất dầu (họ có được các khoản vay tù các hãng cho vay quốc

tế và hy vọng trả nợ bằng thu nhập từ dầu) Đồng thời để giữ cho thu nhập từ dầu cao hơn,

họ mong muốn giữ đồng peso ở mức giá cao Tuy nhiên, đồng peso cao giá này làm giảm giá trị cán cân thương mại và sản xuất

Trang 10

trong nước cũng giảm Đầu tư khổng lồ trong xã hội mà không có sự tăng sản lượng thích đáng được tạo ra từ áp lực lạm phát và dần dần đất nước đã đi vào thời kỳ suy thoái IMF phải can thiệp và yêu cầu nước này phải thực hiện các biện pháp mạnh để làm giảm giá trị đồng tiền của họ Một khi đồng peso bị giảm giá, có một luồng đầu tư khổng lồ tràn vào trong nước và đất nước lại thậm chí rơi vào vấn đề khó giải quyết hơn Họ vẫn đang cố gắng để khôi phục lại đất nước sau tình trạng này

♦♦♦ Nước Ai Cập

Khi nghĩ đến Ai Cập, hiện lên tâm trí chúng ta là những kim tự tháp, những ông vua Ai Cập cổ và các xác ướp Đó là một đất nước có nền văn minh rực rỡ vào giai đoạn sớm nhất Đất nước đó cũng nằm ở vị trí chiến lược phía nam Địa Trung Hải và ở phía tây Biển Đỏ Mặc dù ngay từ đầu mảnh đất này đã bị xâm chiếm bởi con người, tuy nhiên, nó chưa bao giờ bị chiếm thành "thuộc địa" khi chúng ta xem xét nguồn gốc thuộc địa của các nước đang phát triển Lý do là 98% diện tích của đất nước này là sa mạc Mặc dù lưu vực sông Nilerất phì nhiêu và mặc dầu hết tất cả công việc trồng trọt là ở bên bờ sông Nile, nhưng sản lượng nông nghiệp vẫn không thể đủ đáp ứng nhu cầu của số lượng dân số ngày

càng tăng Chính vì vậy, nhập khẩu chính của đất nước này là lương thực, về các nguồn

tài nguyên khoáng sản, Ai Cập có dầu và gas Học sinh không phải đóng học phí cho đến trình độ đại học Tuy nhiên, nước này lại chịu ảnh hưởng nặng nề bởi tình trạng "chảy máu chất xám" Đơn giản là Ai Cập không đủ khả năng để giữ lại lực lượng lao động có tay nghề ở lại trong nước Cùng với vấn đề này, tỷ lệ tăng dân số tăng 2% cũng đang gây ra tình trạng thất nghiệp khó kiểm soát ở nước này Vì thế, vấn đề lớn nhất của Ai Cập vẫn

là giải quyết vấn đề thất nghiệp và đồng thời cũng cần phải giảm bớt tình trạng chảy máu chất xám

1.1.2.3 Quá trình đỏ thi hoá ở nước ta

• Quá trình đô thị hoá từ 1990 đến nay

Trong giai đoạn 1975 - 1990 đô thị ở nước ta hầu như không có biến động, phản ánh nền kinh tế còn trì trệ

Sau năm 1990 cùng với những chuyển biến tích cực về mặt kinh tế - xã hội, mạng

lưới đô thị quốc gia đã được mở rộng và phát triển, về số lượng đô thị, năm 1990 cả nước

mới có khoảng 500 đô thị lớn nhỏ, đến năm 2000 đã tăng lên 649 đô thị, và đến năm 2003

đã có 656 đô thị, trong đó có 4 thành phố loại I, 10 đô thị loại II, 13 đô thị loại ni, 59 đô thị loại IV, và 570 đô thị loại V Theo phân cấp quản lý, cả nước có 4 thành phố ưực thuộc Trung ương, 83 thành phố, thị xã thuộc tỉnh, còn lại là các thị trấn Trên địa bàn cả nước

đã và đang hình thành khoảng 82 khu công nghiệp tập trung, 22 đô thị mới và 18 khu kinh

tế cửa khẩu Đô thị hóa, công nghiệp hóa ở nước ta diễn ra mạnh nhất ở 3 vùng ưọng điểm phát triển kinh tế - xã hội Bắc, Trung, Nam, ở vùng duyên hải, kể cả ở các đảo lớn như Phú Quốc, Côn Đảo, Vân Đồn, Cát Bà, Ví dụ như huyện đảo Phú Quốc đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định là 1 ưong 14

Trang 11

khu vực ưọng điểm phát ưiển du lịch ưong toàn quốc, tỷ lệ dân số đô thị hiện nay dưới 40%, theo quy hoạch phát triển đến năm 2010 tỷ lệ dân số đô thị sẽ đạt 56 - 60%, đến năm

2020 sẽ là 80%, từ nay đến 2010 sẽ hình thành 2 khu công nghiệp Vì vậy tác động của đô thị hóa, công nghiệp hóa gây ô nhiễm môi trường không những đối với môi trường trong đất liền mà còn có tác động mạnh đối với môi trường vùng biển ven bờ Tăng trưởng dân

số đô thị từ 11,87 triệu người năm 1986 lên 18 triệu người năm 1999 và khoảng 20 ưiệu người năm 2002, nâng tỷ lệ đô thị hóa từ 19,3% năm 1986 lên 25,3% năm 2002 Tuy vậy,

đô thị ho á ở Việt Nam còn ở mức thấp so với khu vực và trên thế giới Ví dụ, tỷ lệ dân đô thị ở châu Á trung bình là 28%, châu Phi là 32%, Mỹ La Tinh là 68% Tăng trưởng kinh

tế hàng năm của các đô thị ở Việt Nam trung bình từ 12 - 15% Thu nhập đầu người tăng nhanh, tại các đô thị lớn đạt khoảng 1.000USD/năm và tại các đô thị trung bình đạt trên 500USD/năm Tăng trưởng không gian đô thị cũng đạt tỷ lệ đáng kể Năm 1999, đất đô thị chỉ chiếm 0,2% diện tích đất tự nhiên cả nước, đến năm 2000 đã tăng lên 0,35% và hiện nay (2003) con số này đạt xấp xỉ 1%

❖ Chiến lược phát triển đô thị đến năm 2020

Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt "Định hướng Quy hoạch tổng thể phát triển đô thị đến năm 2020" trong Quyết định số 10/1998/QĐ-TTg ngày 23-1-1998, trong đó xác định phương hướng xây dựng và phát triển các đô thị trên địa bàn cả nước và các vùng đặc trưng:

Mức tăng trưởng dân sổ dự báo:

• Năm 2010, dân số đô thị là 30,4 triệu người, chiếm 33% dân số cả

nước

• Năm 2020, dân số đô thị là 46 triệu người, chiếm 45% dân số cả

nước

Nhu cầu sử dụng đất đô thị:

• Năm 2020, diện tích đất đô thị là 460.000ha, chiếm 1,4% diện tích đất tự nhiên

cả nước, bình quân 100m2/người

Tổ chức không gian hệ thống đô thị:

• Mạng lưới đô thị cả nước được hình thành và phát triển trên cơ sở các đô thị trung tâm, gồm các thành phố trung tâm cấp quốc gia, cấp vùng, cấp tỉnh Các đô thị trung tâm các cấp được phân bố hợp lý trên 10 vùng đô thị hoá đặc trưng của cả nước

• Các đô thị trung tâm lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh phải được tổ chức thảnh các chùm đô thị, có vành đai xanh bảo vệ để hạn chế tối đa sự tập ưung dân số,

cơ sở kinh tế và phá vỡ cân bằng sinh thái, tránh sự hình thành các siêu đô thị

• Quy hoạch sử dụng đất đô thị đảm bảo các khu chức năng và cơ sở hạ tầng có quan hệ gắn bó

Trang 12

• Hình thành bộ mặt kiến ưúc hiện đại nhưng vẫn kế thừa, bảo vệ, tôn tạo và giữ gìn các di sản lịch sử văn hoá, phát triển nền kiến trúc đậm đà bản sắc dân tộc

Phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật:

• Ưu tiên phát triển, hiện đại hoá cơ sở hạ tầng các đô thị và các vùng kinh tế trọng điểm, tạo tiền đề phát triển các đô thị và đô thị hoá nông thôn

• Cải tạo và xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong các đô thị theo yêu cầu và mức độ phát triển của từng đô thị

Bảo vệ môi trường, cảnh quan thiên nhiên, giữ gìn cân bằng sinh thái

♦♦♦ Quy hoạch đô thị chưa phù hợp với yêu cầu bảo vệ môi trường

Quá trình đô thị ho á tương đối nhanh đã có những ảnh hưởng đáng kể đến môi trường và tài nguyên thiên nhiên, đến sự cân bằng sinh thái: tài nguyên đất bị khai thác triệt để để xây dựng đô thị, làm giảm diện tích cây xanh và mặt nước, gây ra úng ngập, cùng với nhu cầu nước phục vụ sinh hoạt, dịch vụ, sản xuất ngày càng tăng làm suy thoái nguồn tài nguyên nước; nhiều xí nghiệp, nhà máy gây ô nhiễm môi trường lớn trước đây nằm ở ngoại thành, nay đã lọt vào giữa các khu dân cư đông đúc; mở rộng không gian đô thị dẫn đến chiếm dụng đất nông nghiệp, ảnh hưởng đến vấn đề an toàn lương thực quốc gia và đến đời sống của nhân dân ngoại thành; sản xuất công nghiệp phát triển mạnh làm phát sinh một lượng lớn chất thải, trong đó chất thải nguy hại ngày càng gia tăng; bùng nổ giao thông cơ giới gây ô nhiễm môi trường không khí và tiếng ồn nghiêm trọng; đô thị hóa làm tăng dòng người di dân từ nông thôn ra thành thị, gây nên áp lực đáng kể về nhà ở và

vệ sinh môi trường, hình thành các khu nhà "ổ chuột" và khu nghèo đô thị

Một trong những nguyên nhân chính của tình trạng ô nhiễm môi trường tại các đô thị là các vấn đề môi trường chưa được đề cập đầy đủ và quan tâm đúng mức trong quy hoạch xây dựng đô thị Ngoài việc quy hoạch sử dụng đất và phân khu chức năng, các vấn

đề cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị, như hệ thống thoát nước, thu gom và xử lý rác, xử lý nước thải, giảm ô nhiễm không khí và tiếng ồn, chưa được chú ý đúng mức Mặc dù việc lập báo cáo đánh giá tác động môi trường cho các đồ án quy hoạch đô thị đã được quy định trong Luật Bảo vệ môi trường, nhưng công tác triển khai thực hiện cho đến nay vẫn còn chậm, chưa hiệu quả và chưa chứng tỏ được tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường ưong quy hoạch xây dựng đô thị

Trang 13

Một nguyên nhân khác dẫn đến việc các đô thị phải chịu sức ép môi trường ngày càng tăng là việc thiếu các biện pháp hữu hiệu trong chỉ đạo và quản lý quy hoạch xây dựng Tình trạng xây dựng lộn xộn tại các đô thị lớn là một vấn đề bức xúc đòi hỏi những biện pháp quản lý cấp bách và hiệu quả, nếu không cái giá phải trả cho việc giải quyết hậu quả môi trường sẽ là vô cùng lớn Công tác quản lý quy hoạch xây dựng là bước tiếp theo

và cụ thể hoá của công tác lập quy hoạch xây dựng đô thị, một yếu tố then chốt ưong việc xây dựng các đô thị bền vững và hoà hợp với môi trường

♦♦♦ Một số vẩn đề môi trường bức xúc trong quá trình đô thị hóa

> Gia tăns dân sổ đô thi và di dân từ nôns thôn vào đô thi: Nhìn

chung, dân số tăng chậm hoặc cân đối với sự phát triển sẽ góp phần quan trọng vào thúc đẩy nền kinh tế phát triển, cho phép tăng tích luỹ cả vốn, vật chất, kỹ thuật và nguồn nhân lực, tạo điều kiện phát triển việc làm và đem lại một môi trường sống trong sạch hơn

Bên cạnh vấn đề tăng tự nhiên còn có một nguyên nhân khác dẫn đến gia tăng dân

số đô thị là tăng cơ học hay di dân từ nông thôn vào đô thị Các nghiên cứu cho thấy có nhiều dạng di dân như nông thôn - nông thôn, thành thị - thành thị, nông thôn - thành thị

và thành thị - nông thôn, người di dân tự do thường có mong muốn và xu hướng chuyển theo hướng nông thôn - thành thị để tìm kiếm cơ hội công ăn việc làm, đặc biệt họ bị hấp dẫn bởi một số thành phố và khu công nghiệp lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nằng, Hạ Long,

Hiện tượng di dân tới các đô thị đã gây ra nhiều vấn đề phải giải quyết như nhà ở, dịch vụ, thông tin, giáo dục, chăm sóc y tế, cơ sở hạ tầng, việc làm, ô nhiễm môi trường, Trong điều kiện nền kinh tế chưa phát triển như hiện nay ở nước ta, vấn đề việc làm ở các vùng đô thị nổi lên khá gay gắt Hiện tượng thất nghiệp, thu nhập thấp tất yếu sẽ làm nảy sinh các hiện tượng xã hội tiêu cực khác, vấn đề dân số đô thị ở nước ta hiện nay và trong những năm tới sẽ vẫn còn là một thực trạng nan giải nếu như chương trình công nghiệp ho

á, hiện đại hoá và phát ưiển nông thôn không được thực hiện có hiệu quả

y "Xóm liều, xóm bui" - ung nhotcủa đô thi hiên đai:

Trong những năm gần đây, Đảng và Chính phủ đã rất quan tâm đến vấn đề nhà ở, đầu tư nhiều tỷ đồng cho xây dựng nhà ở mới tại các đô thị và khu công nghiệp Nhờ đó

đã giải quyết một phần rất quan trọng về nơi ở của người dân Tuy nhiên, tình hình nhà ở

đô thị vẫn đang rất căng thẳng trên tất cả các mặt: phát triển mới, cải tạo, mua bán, chuyển dịch và quản lý Nếu không có những giải pháp hiệu quả thì sự tác động của nhà ở sẽ ảnh hưởng ưực tiếp đến phát triển kinh tế - xã hội nói chung và đến sự phát ưiển đô thị Điều quan trọng hơn là khắc phục những hậu quả do sai lầm của chính sách nhà ở đô thị sẽ lâu dài và rất tốn kém Các nghiên cứu cho thấy nhà ở đô thị hàm chứa trong bản chất của nó một loạt các vấn đề mà cách giải quyết chỉ có thể đạt được bằng các chính sách lớn mang tầm vóc quốc gia

Trang 14

Diện tích nhà ở bình quân đầu người tại các đô thị nước ta còn quá thấp (5,4m2/người) Chất lượng nhà ở không bảo đảm, các điều kiện về hạ tầng, môi trường đều kém cỏi Nhà "ổ chuột" còn chiếm tỷ trọng đáng kể tại các đô thị Cung cầu mất cân đối nghiêm trọng, cộng với những tác động của chính sách không hợp lý, làm cho giá nhà ở quá cao so với thu nhập của nhân dân đô thị Từ khi xoá bỏ bao cấp, số lượng và chất lượng nhà ở do dân tự đầu tư tăng lên đáng kể Tuy nhiên, xây dựng nhà ở tự phát đã làm cho chính quyền các đô thị không kiểm soát được việc xây dựng theo quy hoạch, đã làm ảnh hưởng đến kiến trúc cảnh quan đô thị, môi trường sống Trước tình hình này, năm 1991 Bộ Xây dựng đã đề xuất và tổ chức chỉ đạo thực hiện mô hình đầu tư phát triển nhà ở theo dự

án nhằm tăng nhanh quỹ nhà ở với yêu cầu vừa đảm bảo đồng bộ về hệ thống hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội, vừa góp phần tạo dựng bộ mặt của các khu dân cư đô thị văn minh, hiện đại Điều này có thể nhận thấy dễ dàng qua các con số: giai đoạn 1991 - 1995 cả nước mới ưiển khai 98 dự án nhà ở mà phần lớn với quy mô dự án nhỏ thì đến giai đoạn 1996 -

2000 cả nước đã triển khai trên 800 dự án nhà ở và các khu đô thị mới và đến cuối năm

2002 cả nước đã có 1.100 dự án

Trong bối cảnh quá trình đô thị ho á diễn ra nhanh chóng cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, người nghèo và thu nhập thấp có rất ít điều kiện để có được một chỗ ở phù hợp vấn đề này trầm trọng hơn với sự ra đời của chính sách xo á dần bao cấp nhà ở (cuối 1992) Bức tranh đô thị đã trở nên đối lập thật sự giữa một bên là tốc độ phát ưiển ngày càng nhanh của quá trình đô thị hoá, tốc độ phát triển nhà không phải để ở tăng nhanh hơn tốc độ phát triển nhà ở; tốc độ hiện đại hoá nhanh càng mâu thuẫn với bức tranh

vô cùng ảm đạm của các dãy nhà lụp xụp "ổ chuột", nhà ưên và ven kênh rạch

Một tồn tại khác trong vấn đề nhà ở đô thị là sự tồn tại của các khu nhà ở không chính thức và một biến thái của nó là các "xóm liều, xóm bụi" Hai nguyên nhân chính của thực ưạng này là tốc độ đô thị hoá nhanh, dẫn đến nhập cư trái phép và giá đất đô thị quá cao, mà một số hộ dân không có điều kiện mua đất đã lấn chiếm đất công để ở Do tính chất này mà đa phần các khu nhà ở không chính thức có điều kiện nhà ở rất kém, diện tích

ở khoảng 2 - 4m2/người, nhà ở lụp xụp, tạm bợ, hệ thống hạ tầng kỹ thuật cũng như hạ tầng xã hội đều ở mức rất thấp Điều này dẫn đến môi trường trong các khu dân cư này bị

ô nhiễm nghiêm trọng và có thể coi đây là các khu nhà "ổ chuột" đô thị

Hà Nội đã từng có ba khu nhà ở không chính thức lớn hình thành từ những năm

90 của thế kỷ XX là khu chứa trọ Phúc Xá, khu bãi rác Thành Công, và khu "xóm liều" Thanh Nhàn với số lượng dân ở mỗi khu khoảng 400 người Ngoài ra Hà Nội còn có hơn

20 "xóm liều, xóm bụi" nhỏ, với mỗi xóm từ 5 - 10 hộ dân, nằm rải rác trong các quận, huyện khác trên các khu đất công hoặc ven sông, hồ, Với các đô thị miền Trung và miền Nam , ngoài các nguyên nhân nêu trên, còn có một nguyên nhân khác là hậu quả của chiến ưanh Thành phố Hồ Chí Minh đã từng có 67.000 căn nhà "ổ chuột" và trong đó có 24.000

hộ sống ven kênh rạch Tại thành phố Huế có 770 hộ với 4.483 nhân khẩu sống trên Thượng Thành và Eo Bàu trong khu Thành cổ với diện tích xây dựng trái phép là 31.500m2 Ngoài

ra, một số cộng đồng dân cư đô thị hình thành từ xa xưa, sinh sống hợp pháp, nhưng do đặc điểm định cư và sinh sống đặc biệt nên

Trang 15

cổ thể coi là những khu "ổ chuột" đô thị Đó là cộng đồng dân vạn đò, vạn chài ưên sông,

hồ, đầm, phá, mà điển hình là cộng đồng dân vạn đò trên sông Hương thành phố Huế,

có 941 hộ với 6.505 nhân khẩu sinh sống trong điều kiện vệ sinh môi trường rất kểm

> Chết vẫn chưa đươc yên thân:

Nghĩa trang và mai táng hiện đang là một vấn đề

nan giải ở hầu hết các đô thị và chưa được ổn định

Hiện tại ở nước ta có hai hình thức quỹ đất dành

cho mai táng, là đất nghĩa địa và đất nghĩa trang

Nghĩa địa là loại hình đất mai táng cố nguồn gốc

tự phát trong các nhóm dân cư Loại này không có

quy hoạch và thường nằm xen kẽ giữa các khu dân

cư và đất

Ậnh V [ Mi à phôi ỉiiiựhịâtlii HÍ ph$rt fi'ar.g

nông nghiệp Nghĩa trang là quỹ đất mai táng hình thành do nhu cầu được xác định của đô thị, cố quy hoạch và quản lý của các cơ quan chức năng Tại hầu hết các đô thị, tổng diện tích đất nghĩa địa lớn hơn nghĩa trang Tỷ lệ chiếm đất của các nghĩa trang trên tổng diện tích đất đô thị dao động từ 0,03% đến 8,4%, nhưng phần lớn các đô thị có tỷ lệ < 1%, nhỏ hơn so với tiêu chuẩn của các đô thị trên thế giới (tỷ lệ chiếm đất 1 - 1,2%) Trong hầu hết các đô thị, khoảng cách từ nghĩa trang đến khu dân cư gần nhất chỉ từ vài mét đến vài trăm mét Thậm chí tại nhiều đô thị, khu dân cư nằm tiếp giáp hoặc xen kẽ với nghĩa trang Theo kết quả khảo sát đối với 38 đô thị thì chỉ có 5 đô thị (chiếm 13%) có khoảng cách

>1.500m (đạt Tiêu chuẩn Việt Nam 4449-1987)

Việc lấn chiếm đất và chôn cất lộn xộn như vậy dẫn đến tình trạng lãng phí quỹ đất rất lớn và khi phát triển đô thị và giao thông thường gặp phải vấn đề rất nan giải là di chuyển và giải phóng mồ mả Việc quy hoạch các khu nghĩa trang còn chưa được quan tâm đúng mức, phần lớn các nghĩa trang được chọn từ các nghĩa địa đã có sẵn và mở rộng thêm, không quy hoạch phân lô và quy định cụ thể hướng đặt mộ cũng như việc bố trí dải cây xanh cách ly Hiện tại ở hầu hết các khu nghĩa trang, nghĩa địa, chưa có hệ thống thoát nước đảm bảo vệ sinh, việc thoát nước hoàn toàn dựa vào độ dốc địa hình tự nhiên thoát trực tiếp ra các ao hồ, ruộng trũng xung quanh Chưa có hệ thống mương bao để thu gom nước thải thấm từ xác chết phân hủy ra Ket quả khảo sát chất lượng nước mặt và nước ngầm trong khu vực nghĩa trang và dân cư xung quanh tại một số đô thị cho thấy: độ pH thường thiên về axít, hàm lượng coliform vượt tiêu chuẩn cho phép từ 20 - 4.000 lần, hàm lượng BOD và COD vượt từ 2 đến hơn 15 lần, hàm lượng N03 gấp 2-100 lần

Trang 16

Ar»h V- 2- 71» í y 3íi dĩ^"f! B»^*» civ í* +1(1*1 V* i*vẠ< Ạ?i *íh-ỉ'*'li H ị N4i i+u 10 f> s•y» (1 ặ3 6-

- 199$

Hguởn đẽ- tá* KHCM Ữ7.11

> "Lá phổi"của đô thi bi tàn phá:

Tại các vùng đô thị hóa nhanh, bộ khung bảo vệ môi trường là những vành đai xanh không được quy hoạch và bảo vệ Chỉ tiêu đất để trồng cây xanh trong các đô thị quá thấp, trung bình mói đạt 0,5m2/nguời Tại hai thành phố lởn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, con số này cũng không quá 2m2/người, chỉ bằng 1/10 chỉ tiêu cây xanh của các thành phố tiên tiến trên thế giới Một số di sản văn hóa, lịch sử và một số di tích, vùng cây xanh bảo vệ môi trường đang bị vi phạm, tàn phá nặng

Hệ thống không gian xanh - lá phổi của đô thị - hầu như chưa được chú ý và các

cơ quan quản lý chưa hoạch định chính sách đối với vấn đề này Quan niệm về vấn đề cây xanh bảo vệ môi trường chỉ đơn thuần là trồng cây trên đường phố để che nắng Chọn cây trồng hết sức tùy tiện không có ỷ tưởng đặc trưng, gâỵ nên tình trạng các đô thị ngoài Bắc như thành phổ Thái Nguyên, Bắc Ninh, Việt Trì, Hải Phồng, có một số loại cây giống nhau như: xà cừ, phượng, sữa, tử vi tàu, Các đô thị loại III kể từ Quảng Nam trở vào cũng vậy: viết, dầu nước, trứng cá, không tạo được nét đặc trưng cây xanh gây ấn tượng của mỗi

đô thị

Công viên để vui chơi giải trí hầu nhu rất ít Diện tích các công viên chức năng cũng rất hạn hẹp (0,5 - 4ha) và chỉ là nơi nghi ngơi thư giãn ngắm cảnh như các vườn hoa

ở Huế, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Hưng Yên Các khu công nghiệp chưa có khoảng cách ly

vệ sinh Trong khu công nghiệp, theo tính chất ngành, thường quy định dành 10 - 15% quỹ đất cho trồng cây để làm mát, chổng bụi khói độc hại và làm nơi giải trí cho công nhân, nhưng thực tế ở nhiều khu công nghiệp còn thiếu đất cây xanh Trồng cây ở nhiều đô thị

có nguồn gốc từ Chương trình 327, cây xanh là những loài cây cải tạo đất, phát ưiển rất nhanh, nhung không đẹp và không phù hợp với cảnh quan đô thị nhu: bạch đàn, tràm bông vàng, keo tai tượng, (Thái Nguyên, Bắc Ninh)

❖ Giao thông đô thị và môi trường

Tốc độ phát triển hệ thống hạ tầng giao thông đô thị thấp hơn rất nhiều so với tốc

độ đô thị hoá và tốc độ gia tăng phương tiện giao thông cơ giới Diện tích đất giao thông

Trang 17

không đồng đều, thông số kỹ thuật tuyến đường rất thấp, hành lang đường luôn bị lấn chiếm Theo số liệu thống kê, tại các đô thị lớn, các chỉ tiêu về hạ tầng giao thông cũng rất thấp, chỉ đáp ứng được khoảng 35 - 40% so với nhu cầu cần thiết, như: tại Hà Nội, diện tích đất giao thông khoảng 7,8%, mật độ đường đạt 3,89km/km2; tại thành phố Hồ Chí Minh diện tích đất giao thông khoảng 7,5%, mật độ đường đạt 3,88km/km2 Các chỉ tiêu giao thông tại các đô thị loại thấp hơn cũng nhỏ hơn nhiều so với yêu cầu cần thiết Diện tích các điểm đồ xe đạt 25% song chưa có quy hoạch cụ thể Mật độ đường chính đạt 40%, mật độ của đường liên khu vực, phân khu vực thấp nhất chỉ đạt 20 - 30% so với yêu cầu Một số hậu quả chính của hiện trạng giao thông đô thị yếu kém là:

> Tai nan giao thông: Tình hình tai nạn giao thông ở nước ta, đặc biệt trong khu vực

đô thị hết sức nghiêm trọng, thuộc vào nhóm cao nhất thế giới Tuy chỉ số về số

vụ tai nạn giao thông/10.000 phương tiện không cao hơn nhiều so với các nước khác trong khu vực, song chỉ số người chết/tổng số người bị thương là đặc biệt cao

mà nguyên nhân chính là do phương tiện chủ đạo trong giao thông đô thị là xe hai bánh

> Ùn tắc giao thông: ùn tắc giao thông trong các đô thị đang và ngày càng trở nên

bức xúc, đặc biệt tại các đô thị vừa và lớn Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đang phải gánh chịu những hậu quả nặng nề do ùn tắc giao thông gây ra

> 0 nhiễm không khí và tiếng ồn: Gia tăng phương tiện giao thông cơ giới tại các đô

thị ưong những năm qua đã làm gia tăng ô nhiễm bụi, khí thải và tiếng ồn do các hoạt động giao thông gây ra ùn tắc giao thông, phố hóa quốc lộ, tỉnh lộ, hoạt động xây dựng hạ tầng và khu dân cư góp phần làm gia tăng mức độ ô nhiễm Ô nhiễm tiếng ồn giao thông và các ảnh hưởng tới sức khỏe người dân đô thị lớn hơn nhiều

so với các đô thị khác trên thế giới Theo kết quả nghiên cứu giá ưị mức ồn tăng

từ 2 - 5dBA do cấu trúc nhà ống, liền kề, bám dọc theo các tuyến đường Sự bố trí không hợp lý các khu chức năng trong đô thị làm nghiêm trọng thêm ô nhiễm tiếng

ồn, nhất là đối với trường học, bệnh viện, công sở, và khu dân cư Giá trị tiếng ồn vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1 - 15dBA

Các giải pháp quy hoạch phòng ngừa và giảm thiểu ô nhiễm

• Cần tiếp tục thực hiện những tiêu chí đô thị phát triển bền vững đã đề ra trong Định hướng quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị quốc gia và đồng thời tiến hành nghiên cứu thực hiện cụ thể một số chương trình như: Chương trình quốc gia về bảo vệ môi trường cảnh quan thiên nhiên, giữ gìn cân bằng sinh thái đô thị; thực hiện mở rộng, nâng cấp và xây dựng mới hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị, vừa đáp ứng nhu cầu về khối lượng, chất lượng phục vụ, vừa đảm bảo các yêu cầu bảo vệ môi trường, nói chung và môi trường đô thị nói riêng

• Tiến hành lập quy hoạch bảo vệ môi trường các vùng đô thị hoá bao gồm: bảo

vệ hệ sinh thái và cảnh quan đô thị; cải tạo các khu nhà "ổ chuột" và khu nghèo đô thị; hình thảnh vành đai xanh và không gian mở cho các thành phố, đặc biệt là thành phố lớn, thành phố có khai thác khoáng sản; cấp thoát

Trang 18

nước và vệ sinh môi trường; quản lý chất thải rắn đô thị; quy hoạch nghĩa trang đô thị; bảo

vệ môi trường không khí đô thị; cải thiện công tác quản lý môi trường đô thị

• Lồng ghép những vấn đề môi trường vào công tác quy hoạch, gồm có quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch vùng, quy hoạch chung và quy hoạch chi tiết đô thị

• Thực hiện một cách có hiệu quả việc đánh giá tác động môi trường cho các đồ

án quy hoạch đô thị ở các cấp quốc gia, vùng, thành phố và thị xã

• Thực hiện các quy định về quy hoạch và cải tạo nâng cấp kỹ thuật hạ tầng và dịch vụ cho khu vực nghèo của đô thị

• Xây dựng một hệ thống đô thị không còn nhà "ổ chuột" vào năm 2020 thông qua các chương trình cụ thể

• Tập trung vốn đầu tư, nâng cao năng lực quản lý, khai thác đô thị phù hợp với điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội cần quan tâm tới các yếu tố liên vùng, liên tỉnh hoặc liên đô thị trong việc nghiên cứu các quy hoạch chuyên ngành hạ tầng đô thị, nhất là đối với các lĩnh vực cấp nước, quản lý chất thải rắn, nghĩa trang,

• Rà soát, xây dựng và ban hành các quy trình kỹ thuật, quy phạm, tiêu chuẩn trong các lĩnh vực hạ tầng kỹ thuật đô thị

• Quản lý chặt chẽ các dự án đầu tư: cần theo đúng các thủ tục về đánh giá tác động môi trường, bảo vệ cảnh quan thiên nhiên và cảnh quan kiến ưúc, kể từ khâu lập luận chứng, thiết kế, đến thi công và vận hành

• Quản lý tốt giao thông vận tải và trật tự đô thị của lực lượng sản xuất hay không

là ở chỗ nó có thể thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, cải thiện đời sống nhân dân và tạo điều kiện thực hiện công bằng xã hội hay không Trong xã hội có giai cấp, mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất biểu hiện thành mâu thuẫn giữa các giai cấp đối kháng Mâu thuẫn này tất yểu dẫn đến đấu tranh giai cấp, nổ ra cách mạng xã hội thay thế quan hệ sản xuất cũ, lạc hậu bằng quan hệ sản xuất mới tiến bộ hơn, ra đời phương thức sản xuất cao hơn trong lịch sử Lịch sử loài người đã trải qua các phương thức sản xuất: công xã nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và đang quá độ lên phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội Như vậy sản xuất vật chất là cơ sở cho sự tiến bộ của xã hội!

- Nhờ có khả năng thích nghi mà con người có thể hòa nhập vào cái chung của

sự đổi mới, sự phát triển xã hội Nhờ khả năng thích nghi mà con người không chịu đầu hàng số phận dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào Người có khả năng thích nghi luôn muốn tìm tòi, sáng tạo, linh hoạt trong suy nghĩ, trong hành động để vươn lên cải tạo cuộc sống, cải tạo xã hội

Trang 19

- Khả năng thích nghi không phải tự nhiên mà có, đó là kết quả của ý chí và nghị lực, kết quả của rèn luyện Vì vậy việc rèn luyện ý chí và nghị lực, rèn luyện khả năng thích nghi là vô cùng quan trọng đôí với mỗi con người Điều đó góp phần vào sự phát triển bền vững của cá nhân và xã hội

- Khả năng thích nghi có quan hệ chặt chẽ với tính linh hoạt và sáng tạo, điều

đó làm cho khả năng thích nghi mang tính tích cực (trái với thích nghi thụ động) để hướng tới sự phát ưiển bền vững

Ví dụ về sự thích nghi chính là quá trình biến đổi gene của hệ động thực vật trên Trái Đất Trải qua kỷ Băng hà, dưới sự thay đổi nhiệt độ và khí hậu Trái Đất, môi trường thực hiện một cuộc thanh lọc cực lớn, những sinh vật có thể biến đổi về hình dáng cơ thể cũng như cấu trúc gene để phù hợp với điều kiện sống biến đổi Chỉ có những sinh thể có khả năng thích nghi cao mới có thể tiếp tục tồn tại

1.3.2 Thích nghỉ xã hội:

Quá trình thích ứng diễn ra một cách chủ động và tích cực của con người với điều kiện của môi trường xã hội mới Nội dung của thích nghi xã hội là những phù hợp, tương ứng về mục đích, định hướng giá trị, về mức sống, lối sống và phương thức hoạt động của các cá nhân đối với nhóm, tập đoàn và môi trường xã hội của mình Thích nghi xã hội yêu cầu mỗi cá nhân của nhóm rèn luyện ý thức hoà nhập với các chuẩn mực, phong tục, tập quán, các giá trị của nhóm và tuân theo một cách có chủ định và tự động

Một ví dụ điển hình về thích nghi xã hội chính là bối cảnh Việt nam gia nhập vào WTO Ở xuất phát điểm rất thấp so với các nước khác, nền kinh tế vẫn dựa nhiều vào nông nghiệp, Việt Nam hệt như một con cá nhỏ bị lấy khỏi chậu thuỷ tinh đặt ra ngoài biển lớn Nếu muốn tồn tại, Việt Nam cần phải đưa ra những chính sách thích hợp cùng với những thay đổi để làm vững manh nền kinh tế, đương cự lại làn sóng hàng hoá nước ngoài tràn vào Việt Nam, biến Việt Nam thành thị trường, sân sau của các nền kinh tế hùng manh Bên canh đó, chúng ta có thể đạp lên con sóng lớn, để nâng tầm vóc của nền kinh tế quốc gia bay cao, bay xa Để làm được những điều này, cần có những yêu cầu lớn

về sự thích nghi của các doanh nghiệp Việt Nam Liệu họ có thể làm quen với những thay đổi ngoại cảnh, những khó khăn bất trắc sẽ gặp phải trong bối cảnh thị trường trong nước bị lấn át bởi dòng chảy hang hoá ngoại thuế thấp đánh vào thị hiếu thích đồ ngoại của người tiêu dùng? Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng thích nghi của các nhà doanh nghiệp trong nước

Trang 20

Chương 2: Bối cảnh đô thị hóa ở xã Phước Đạỉ, huyện Bác Ái,

tình Ninh Thuận

2.1 Vị trí địa lý

Huyện Bác Ái mới được tái thành lập từ 01/01/2001 theo Nghị định số 65/2000/NĐ-CP của Chính phủ ra ngày 06/11/2000 về việc điều chỉnh địa giới hành chính

huyện Ninh Sơn để tái thành lập huyện Bác Ái Huyện Bác Ái nằm về phía Bắc tỉnh Ninh

Thuận, có độ cao so với mặt biển từ 200 - 1.500m Độ cao thấp dần từ Bắc xuống Nam và

từ Đông sang Tây Huyện Bác Ái cố ranh giới hành chính như sau:

- Phía Bắc giáp tỉnh Khánh Hoà và tỉnh Lâm Đồng

- Phía Nam giáp huyện Ninh Sơn

- Phía lầy giáp tỉnh Lâm Đồng

- Phía Đông giáp tỉnh Khánh Hoà, huyện Ninh Hải

Huyện Bác Ái có vị trí đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ môi trường,

là nguồn thủy sinh cho các sông suối của tỉnh Ninh Thuận Bác Ái trước mắt cũng như lâu

dầi bảo vệ được rừng, sử dụng đất hợp lý là yêu cầu cấp bách đối vói huyện Huyện Bác

Ái bao gồm các huyện: Phước Đại, Phước Chính, Phước Thắng, Phước Thành, Phước Tân,

Phước nến, Phước Hòa, Phước Bình, Phước Trung

Ngày đăng: 04/03/2017, 17:29

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w