1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lối sống của thanh niên xã bắc ruộng huyện tánh linh tỉnh bình thuận trong quá trình đô thị hóa

134 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lối sống của thanh niên xã Bắc Ruộng huyện Tánh Linh - tỉnh Bình Thuận trong quá trình đô thị hóa
Tác giả Đỗ Thị Kiếm Hồng
Người hướng dẫn TS. Văn Thị Ngọc Lan
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Xã hội học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 2,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 2 mô tả đặc điểm địa bàn nghiên cứu và mẫu nghiên cứu, tiếp theo nêu lên những thay đổi, thích nghi, thái độ ứng xử của thanh niên thông qua các hoạt động sống liên quan vấn đề la

Trang 1

-* -

ĐỖ THỊ KIẾM HỒNG

LỐI SỐNG CỦA THANH NIÊN XÃ BẮC RUỘNG HUYỆN TÁNH LINH - TỈNH BÌNH THUẬN TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HOÁ

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Xã hội học

Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUÔC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA XÃ HỘI HỌC -* -

ĐỖ THỊ KIẾM HỒNG

LỐI SỐNG CỦA THANH NIÊN XÃ BẮC RUỘNG

HUYỆN TÁNH LINH - TỈNH BÌNH THUẬN

TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HOÁ

Trang 3

nhiệt tình của thầy cô giáo trong khoa, gia đình, đồng nghiệp và bạn bè Tác giả trân trọng và xin bày tỏ lòng tri ân đến:

- Khoa Xã hội học - Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn thành phố

Hồ Chí Minh đã tạo thuận lợi cho tác giả hoàn thành chương trình cao học và bảo

vệ luận văn

- TS Văn Thị Ngọc Lan - người hướng dẫn khoa học đã đưa ra những góp ý sâu sắc cho tác giả

- Các bạn thanh niên, các Cô, Chú đã nhiệt tình trả lời phỏng vấn

- Tổ chức lãnh đạo địa phương xã Bắc Ruộng – huyện Tánh Linh – tỉnh Bình Thuận, đã cung cấp những số liệu, thông tin liên quan đến đề tài

- Gia đình và bạn bè đã động viên và hỗ trợ cho tác giả trong quá trình thực hiện luận văn

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng

dẫn của TS Văn Thị Ngọc Lan

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai

công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Đỗ Thị Kiếm Hồng

Trang 5

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 4

3 Mục tiêu nghiên cứu 4

4 Nhiệm vụnghiên cứu 5

5 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn 5

6 Kết cấu của luận văn 5

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN 6

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 7

1.2 Cách tiếp cận và lý thuyết nghiên cứu 20

1.3 Những khái niệm chính 25

1.4 Câu hỏi nghiên cứu 32

1.5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 32

CHƯƠNG II:LỐI SỐNG CỦA THANH NIÊN XÃ BẮC RUỘNG, HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA 2.1.Đặc điểm về địa bàn nghiên cứu và mẫu nghiên cứu 36

2.1.1 Đặc điểm về địa bàn nghiên cứu 36

2.1.2 Đặc điểm về nhân khẩu xã hội của thanh niên trong mẫu nghiên cứu 41 2.2 Lối sống của thanh niên xã Bắc Ruộng 46

2.2.1 Thay đổi và thích ứng trong hoạt động lao động sản xuất 46

2.2.2 Thái độ ứng xử và mong muốn trong hoạt động học tập 57

2.2.3 Tiếp thu và hòa nhập trong lĩnh vực vui chơi, giải trí 64

2.2.4 Giao tiếp, ứng xử trong gia đình dòng họ 72

2.2.5 Một số quan niệm sống liên quan đến kết hôn, gia đình 76

2.3 Các yếu tố tác động đến lối sống của thanh niên 83

2.3.1 Gia đình và sự giáo dục của gia đình 84

2.3.2 Nhà trường và giáo dục học đường 87

2.3.3 Mối quan hệ bạn bè và tổ chức xã hội 90

2.3.4 Truyền thông hiện đại và internet 93

PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 103

PHỤ LỤC 107

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

SAVY :Survey Assessment of Vietnamese Youth: Điều tra Quốc gia về Vị

thành niên và Thanh niên Việt Nam

THPT : Trung học phổ thông

THCS : Trung học cơ sở

UBND : Uỷ ban nhân dân

UNESCO : United Nations Educational Scientific and Cultural Organization: Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc

VAC : Vườn ao chuồng

CHXHCN : Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa

Trang 7

Bảng 2.1: Đặc điểm nhân khẩu xã hội của thanh niên trong mẫu nghiên cứu 42

Bảng 2.2: Đặc điểm nhân khẩu xã hội của những người lớn tuổi và cán bộ 45

Bảng 2.3: Việc làm của thanh niên trong mẫu khảo sát 47

Bảng 2.4: So sánh việc làm trước năm 2000 và hiện nay 56

Bảng 2.5: Kết quả học tập của thanh niên 58

Bảng 2.6: Tuổi kết hôntrung bình lần đầu 81

Hộp 1: 48

Hộp 2: 50

Hộp 3: 51

Hộp 4: 56

Hộp 5: 64

Hộp 6: 67

Hộp 7: 68

Hộp 8: 69

Hộp 9: 70

Hộp10: 71

Hộp11: 81

Trang 8

Phần nội dung được chia thành 2 chương, mỗi chương thể hiện các khía cạnh của đề tài đi từ đặc điểm địa bàn nghiên cứu cho đến thực trạng lối sống của khách thể nghiên cứu và các yếu tố tác động đến lối sống của khách thể nghiên cứu Trong đó chương 1 trình bày về Cơ sở lý luận và phương pháp luận của đề tài, tổng quan tình hình nghiên cứu, trình bày sơ lược các lý thuyết làm cơ sở cho cuộc nghiên cứu; những khái niệm chính, câu hỏi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu được áp dụng trong đề tài

Chương 2 mô tả đặc điểm địa bàn nghiên cứu và mẫu nghiên cứu, tiếp theo nêu lên những thay đổi, thích nghi, thái độ ứng xử của thanh niên thông qua các hoạt động sống liên quan vấn đề lao động việc làm, học tập, vui chơi giải trí, vấn đề giao tiếp trong gia đình, dòng họ và một số quan niệm sống của thanh niên hiện nay.Phần này cũng chỉ ra sự khác biệt trong các hoạt động sống, quan niệm sống của thanh niên hiện nay so với thế hệ thanh niên trước đó.Trong phần này cũng nêu lên một số yếu tố tác động đến lối sống thanh niên

Phần kết luận, tổng hợp vắn tắt về thực trạng lối sống thanh niên tại địa bàn.Qua đó, nêu lên một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện lối sống thanh niên ngày một tốt hơn

Trang 10

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, với sự hội nhập nền kinh tế chung của khu vực và thế giới, sự phát triển của khoa học và công nghệ nhằm mục tiêu thúc đẩy sự phát triển kinh tế, nước ta đã trải qua các công cuộc đổi mới và cải cách kinh tế, từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đất nước đang bước vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của thông tin và tri thức, của thị trường và hội nhập quốc tế.Cụ thể là quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đã đi vào các lĩnh vực kinh

tế làm cho đất nước thay da đổi thịt từ thành thị đến từng vùng miền ở nông thôn

Do có một giai đoạn lịch sử đặc biệt nên nông thôn Việt Nam trước kia có khoảng cách rất lớn với sự phát triển của đô thị Tuy nhiên trong thời gian gần đây, dưới sự tác động của quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, đời sống

xã hội ở các vùng nông thôn đang dần thu hẹp khoảng cách với đô thị Trong đó, quá trình đô thị hóa mang yếu tố rất quan trọng, ảnh hưởng đến quan hệ sản xuất tại nông thôn Nếu như trước kia, ở nông thôn nền sản xuất nông nghiệp mang tính độc canh về cây lúa, hoa màu, thì nay đang dần trở thành nền sản xuất hàng hóa đa ngành nghề Chính từ đó, lối sống văn minh đô thị với những mặt tích cực và cả tiêu cực đã du nhập rất nhanh vào xã hội nông thôn, tác động rất lớn tới những giá trị văn hóa truyền thống lâu đời, cũng như phong tục tập quán nông thôn Việt Nam.Trong đó một bộ phận đáng kể là thế hệ trẻ cũng chịu tác động bởi các yếu tố này làm thay đổi bức tranh nông thôn một cách rõ rệt

Quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa hiện nay đã đem lại rất nhiều thành tựu cho đất nước nói chung và ở các vùng nông thôn nói riêng, mặt tích cực của nó được biểu hiện bằng sự phát triển của nông thôn với nền sản xuất đang tiếp cận với

cơ giới hóa, đời sống vật chất, tinh thần được nâng cao rõ rệt Nhà tranh vách đất nhường chỗ cho nhà xây bằng gạch ngói khang trang hơn, đẹp hơn, đường sá được tráng nhựa, bê tông sạch sẽ thuận tiện trong việc giao thương, đi lại của người dân

Trang 11

Thanh niên nông thôn trước kia chỉ biết quanh quẩn trong làng xã khi làm đồng về, nay có cơ hội mở rộng tầm nhìn, có nhiều sự lựa chọn để giải trí hơn, mối quan hệ

xã hội cũng vươn ra khỏi lũy tre làng

Thông qua quá trình đô thị hóa, thanh niên nông thôn ngày nay có cơ hội tiếp xúc với cuộc sống văn minh đô thị một cách dễ dàng, qua các phương tiện truyền thông đại chúng, từ những người đô thị, những người ở nông thôn đi làm ăn, đi học

về v.v Từ đó họ có thể tiếp thu, sàng lọc ra những cái hay của cuộc sống văn minh đô thị,áp dụng vào đời sống xã hội nông thôn nhằm xây dựng mô hình kinh tế nông thôn phù hợp với xu thế phát triển chung của đất nước, làm giàu cho chính bản thân mình và sẻ chia cho cộng đồng, góp phần xây dựng môi trường lành mạnh, văn minh ở nông thôn

Tuy nhiên, chính sự phát triển nhanh chóng đó làm phát sinh những xu hướng tiêu cực rất đáng ngại, từ ảnh hưởng của nếp sống đô thị, bên cạnh những cái hay cái đẹp thì những cái xấu cũng đi theo, xâm nhập vào đời sống xã hội nông thôn

mà ảnh hưởng nhất là đối với giới trẻ, làm cho những nét đẹp truyền thống nông thôn, gia đình, họ hàng, làng xóm láng giềng cũng bị mai một, tổn hại.Cấu trúc xã hội nông thôn bị xáo trộn nhanh chóng.Những mâu thuẫn mới bắt đầu nảy sinh giữa những thế hệ do sự tiếp thu những giá trị của cuộc sống hiện đại của hai thế

hệ này tỉ lệ nghịch với nhau, giới trẻ càng háo hức, nhanh nhạy với cái mới của cuộc sống văn minh đô thị bao nhiêu thì thế hệ người lớn tuổi càng cố gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống bấy nhiêu Điều này khiến cho khoảng cách giữa các thế hệ ngày càng rộng, do không tìm được tiếng nói chung với thế hệ đi trước, nhiều thanh niên phản ứng lại với những điều họ cho là cũ kỹ và lạc hậu

Sự ra đời của các loại hình dịch vụ vui chơi giải trí hiện đại như: các điểm Internet, game, karaoke, nhà hàng, khách sạn, quán nhậu vv…các loại hình dịch

vụ nhạy cảm này đã thu hút một số lượng đáng kể thanh niên nông thôn tham gia,

và rất dễ sinh ra những thói hư tật xấu, gây mất an ninh - trật tự cho xóm làng Mặt khác, một sốthanh thiếu niênvới trình độ học vấn thấp, không nghề nghiệp thích ăn xài, đua đòi dẫn đến hành vi phạm pháp như trộm cắp, cướp giật từ những tài sản có

Trang 12

giá trị nhỏ đến giá trị cao nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân Nhất là ở lứa tuổi thanh thiếu niên nông thôn, một bộ phận dân cư không còn đất sản xuất, chưa

có việc làm ổn định hay đang thất nghiệp cũng dễ dẫn tới những hậu quả tiêu cực như Ông Bà xưa đã nói: "nhàn cư vi bất thiện" khiến tình hình vi phạm pháp luật của thanh niên nông thôn có chiều hướng ngày càng gia tăng.Do đó, thanh niên, đặc biệt là thanh niên ở vùng nông thôn đang đối mặt với những thách thức lớn Nếu không được chuẩn bị về kỹ năng, kiến thức họ sẽ trở nên tụt hậu, từ đó trở nên hoang mang, mất phương hướng không có ý chí phấn đấu và dễ rơi vào các

tệ nạn xã hội(Đặng Cảnh Khanh, 2006)

Từ góc độ gia đình, nhiều bậc cha mẹ chỉ lo kiếm tiến, thiếu quan tâm hoặc

“khoáng trắng” việc học, giáo dục cho nhà trường (Trần Đức Châm, 2002).Một số quan niệm sống cũ "cha mẹ sinh con trời sinh tính" vẫn còn tồn tại trong một số gia đình ảnh hưởng đến việc giáo dục con cái.Có gia đình trình độ học vấn của bố

mẹ và người thân thấp, cho nên cũng phần nào hạn chế khả năng dạy và giáo dục con cái (Trần Đức Châm, 2002).Ở gốc độ nhà trường, hệ thống giáo dục nước ta lại quá chú trọng vào việc trang bị kiến thức, ít quan tâm đến dạy các kỹ năng sống, ứng xử, tự điều chỉnh bản thân trước tình trạng gia tăng áp lực, sự biến đổi mau lẹ của những tình huống xung đột(Phạm Hồng Tung, 2011) Bên cạnh đó, cácchính sách đối với thanh, thiếu niên hiện nay vẫn còn nhiều bất cập Các tổ chức đoàn thể xã hội chưa có sự phối hợp đồng bộ và quan tâm đúng mức.Còn không ít vấn đề đưa ra nhưng chưa được thực hiện Các điều kiện vật chất của xã hội dành cho sự nghiệp đào tạo, giáo dục thế hệ trẻ còn quá ít ỏi…(Trần Đức Châm, 2002)

Như vậy, lối sống của thế hệ trẻ ngày nay rất cần được toàn thể gia đình, nhà trường và xã hội quan tâm.Việc nâng cao nhận thức, lối sống và nhân cách của thanh thiếu niên đồng nghĩa với việc phát triển nguồn nhân lực cho hiện tại và tương lai(Đặng Cảnh Khanh, 2006) Nhất là lối sống của thanh niên tại một địa bàn đang trong quá trình đô thị hoá có sự thay đổi như thế nào.Thanh niên, lớp người trẻ họ đang và sẽ thích ứng ra sao khi điều kiện sống thay đổi Qua các hoạt

Trang 13

động sống hàng ngày như lao động, học tập, vui chơi giải trí, giao thiệp, họ ứng

xử, họ tiếp nhận và có những lựa chọn sống ra sao, quan niệm sống của họ thay đổi như thế nào so với thế hệ trước đó.Hơn thế, trong bối cảnh xã hội ngày càng phát triển theo hướng công nghiệp, đô thị, sự bùng nổ công nghệ thông tin và hội nhập văn hóa giải trí; vậy, yếu tố nào góp phần hình thành nhân cách sống của giới trẻ

và tác động mạnh đến lối sống của họ.Xuất phát từ thực trạng trên thúc đẩy tác giả

mong muốn thực hiện đề tài “Lối sống của thanh niênxãBắc Ruộng - Huyện Tánh

Linh - Tỉnh Bình Thuận trong quá trình đô thị hoá”

2 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Lối sống của thanh niên xã Bắc Ruộng – huyện Tánh Linh – tỉnh Bình Thuận trong quá trình đô thị hoá

Khách thể nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu là thanh niên nam nữ trong độ tuổi từ 16 - 30 của xã Bắc Ruộng - Huyện Tánh Linh - Tỉnh Bình Thuận Tác giả chọn nhóm tuổi này theoLuật thanh niên số 53/2005/QH11 được Quốc hội khóa XI thông qua đã quy định tại Điều 1 thì “thanh niên là công dân Việt Nam từ đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi” Đây cũng là điều được ghi nhận tại Điều 1, mục 2 của Điều lệ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (2007).Ngoài ra, đề tài phỏng vấn sâu một số người trong độ tuổi từ 55 trở lên để làm rõ hơn lối sống của thanh niên hiện nay so với thế hệ thanh niên trước đây Đề tài cũng phỏng vấn sâu một số cán bộ đại diện cho chính quyền địa phương

3 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung

Đề tài muốn tìm hiểu sâu hơn những thay đổi trong lối sống của thanh niên và

sự thích ứng của họ với hoàn cảnh sốngtheo chiều hướng phát triển đô thị hóa

Mục tiêu cụ thể

- Tìm hiểu về thái độ ứng xử, những thay đổi, thích nghi thông qua các hoạt động sống, các quan niệm sống, giao tiếp của thanh niên với các điều kiện sống

Trang 14

- Chỉ ra những thay đổi trong lối sống của thanh niên hiện nay so với thế hệ thanh niên trước

- Phân tích những tác động của bối cảnh sống để tìm hiểu những quan điểm cá nhân, sự đánh giá về hoàn cảnh, về lối sống của thanh niên

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được những mục tiêu nêu trên, đề tài có những nhiệm vụ sau:

- Xây dựng cơ sở luận và phương pháp luận phục vụ cho nghiên cứu đề tài

- Thu thập các số liệu sẵn có liên quan đến đề tài

- Thực hiện phỏng vấn sâu để thu thập các thông tin sơ cấp

- Xử lý các thông tin định tính thu thập được bằng phương phápnhóm các vấn đề

5 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn

Về mặt lý luận, nghiên cứu nhằm thực hiện một số kiểm định giả thuyết rút ra

từ các lý thuyết liên quan đến lối sống thanh niên.Ngoài ra, kết quả nghiên cứu có thể góp phần làm phong phú thêm những áp dụng của các lý thuyết xã hội học với những chủ đề quen thuộc trên một địa bàn mới

Về mặt thực tiễn, nghiên cứu chỉ ra những đặc trưng về lối sống của thanh niên ở nông thôn, có thể trở thành cơ sở để đưa ra những khuyến nghị nhằm xây dựng lối sống của thanh niên ở địa bàn nghiên cứu phù hợp với tiến trình đổi mới của đất nước Đồng thời cũng có thể làm tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu khác có liên quan đến vấn đề này

6 Kết cấu luận văn

Luận văn được chia làm 3 phần, bao gồm phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận và khuyến nghị

Phần mở đầu, tác giả trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và khách thể nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn

Phần nội dung được chia thành 2 chương, trong đó chương 1 trình bày về Cơ

sở lý luận và phương pháp luận của đề tài, Chương 2 mô tả thực trạng lối sống của

Trang 15

thanh niên và quá trình thích ứng của họ đối với địa bàn đang có sự tác động của quá trình đô thị hóa Qua đó nêu lên các yếu tố tác động đến lối sống thanh niên tại địa bàn nghiên cứu

Cuối cùng là phần kết luận là những nhận định tổng kết dựa trên thông tin thu thập được và đề xuất một số khuyến nghị nhằm hỗ trợ cho thanh niên thích nghi với điều kiện kinh tế - xã hội đang thay đổi

Ngoài ba phần chính nêu trên, luận văn còn có các phần phụ khác như danh mục bảng biểu; danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục

Trang 16

PHẦN 2: NỘI DUNG

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN

Trong chương này, trước hết tác giả trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu, trình bày sơ lược các lý thuyết làm cơ sở cho cuộc nghiên cứu; những khái niệm chính, câu hỏi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu được áp dụng trong đề tài

1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu

Trong những năm gần đây Việt Nam đã có sự quan tâm nhiều hơn đối với thanh thiếu niên, đặc biệt là sau Hội nghị quốc tế về Dân số và phát triển ở Cairo năm 1994 (Lindahl, 1995) Cho đến nay có rất nhiều công trình nghiên cứu, các báo cáo, các sách, báo nói về thanh niên, nổi bậc lên một số vấn đề liên quan đến lối sống thanh niênqua cáchoạt động sống khác nhau

Những nghiên cứu về lao động sản xuất

Việc làm và những khía cạnh liên quan đến hoạt động lao động, sản xuất của thanh niên,thể hiện lối sống của thanh niên Bởi lối sống được xem là phương thức sản xuất nói lên cái chung trong một hình thái kinh tế xã hội nhất định Cái chung

ấy tất nhiên biểu hiện cái riêng trong lối sống của mỗi giai cấp, mỗi tấng lớp, mỗi tập đoàn xã hội và mỗi cá nhân Nói đếnlối sống phải nói đến tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người, trong những lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội và cá nhân, là hoạt động lao động, hoạt động sinh hoạt gia đình, hoạt động xã hội chính trị, hoạt động văn hóa tinh thần trong đó hoạt động lao động là cơ bản nhất Hiện nay nhiều nghiên cứu đề cập đến vấn đề lao động, việc làm và nhu cầu việc làm cũng như công tác hướng nghiệp, dạy nghề cho thanh niên

Qua những thông tin và phân tích số liệu định lượng, các nghiên cứu đều làm nổi bậc thực trạng việc làm của thanh niên, những thuận lợi và khó khăn về nhu cầu việc làm mà thanh niên phải đối mặt khi điều kiện sống thay đổi (Trần Thị Anh Thư, 2010; Nguyễn Quang Giải, 2013).Có thể thấy, sự phát triển kinh tế làm gia tăng mức độ đô thị hóa,đặc biệt những vùng ven đô thị có biến chuyển rõ nét trên hầu hết các lĩnh vực đời sống.Nhu cầu vệc làm đặt ra đối với những người trong độ tuổi lao động là thực sự cần thiết để phục vụ cho nhu cầu sống, sinh hoạt

Trang 17

không chỉ cho bản thân họ mà còn cho gia đình và xã hội Thanh niên và hơn hết là thanh niên dân tộc thiểu số gặp không ít khó khăn trong vấn đề tìm việc và thích nghi với môi trường sống.Nghiên cứu còn cho biết các yếu tác động đến vấn đề lao động việc làm và học nghề của thanh niên Tác giả nhấn mạnh các yếu tố như gia đình, bạn bè và tổ chức xã hội ảnh hưởng, tác động đến vần đề việc làm và nhu cầu việc làm của thanh niên trong quá trình đô thị hóa (Trần Thị Anh Thư, 2010) Ngoài nghiên cứu việc làm và nhu cầu việc làm của thanh niên vùng ven đô, trong đó, có nghiên cứu phân tích sâu về cơ cấu việc làm, thu nhập và bất bình đẳng thu nhập từ việc làm của thanh niên thuộc địa bàn thành phố Từ đó, nghiên cứu nêu lên những thuận lợi, khó khăn trong quá trình chuyển đổi và mức độ hài lòng đối với việc làm hiện nay của thanh niên.Ngoài ra, nghiên cứu cũng đề cập đến hiệu quả của mạng lưới xã hội trong vấn đề tiếp cận việc làm của thanh niên(Nguyễn Quang Giải, 2013).Các nghiên cứu này hướng đến việc phân tích về

sự thay đổi định hướng giá trị việc làm, nghề nghiệp của thanh niên trước cuộc sống đang có nhiều chuyển động và đưa ra những khuyến nghị chính sách thích hợp nhằm phát huy và sử dụng có hiệu quả về nguồn lực lao động trẻ thanh niên đáp ứng hiệu quả nhu cầu xã hội(Trần Thị Anh Thư, 2010; Nguyễn Quang Giải, 2013)

Liên quan đến lao động sản xuất thì không thể không nhắc đến việc đào tạo nguồn nhân lực trẻ.Nghiên cứu đề cập trực tiếp đến thực trạng giáo dục, lao động hướng nghiệp, dạy nghề và việc làm cho thanh niên các quận mới TP.Hồ Chí Minh cùng việc tổ chức việc làm cho thanh niên các quận mới với mục đích giúp cho các quận mới ứng dụng các mô hình giáo dục dạy nghề, tạo khả năng giải quyết việc làm cho thanh niên(Trần Đình Thêm, 2001-2005)

Các nghiên cứu được nêu trên cho chúng ta thấy thực trạng việc làm, nhu cầu việc làm và công tác đào tạo, dạy nghề cho thanh niên ở những địa bàn khác nhau Nhưng nhìn chung các địa bàn đó đều trong quá trình đô thị hóa nên vấn đề lao động, việc làm của thanh niên rất được quan tâm Với xu thế hội nhập thì quá trình

Trang 18

đô thị hóa không chỉ diễn ra ở những vùng ven, vùng đô thị mà còn lan rộng ở khắp nơi trong cả nước

Cũng theo dòng chảy đó, thanh thiếu niên Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thử thách nhằm thích ứng với môi trường kinh tế xã hội đang ngày một biến chuyển Tuy ở lứa tuổi đang có nhiều biến đổi, việc làm được thanh thiếu niên xem

là vấn đề bức xúc và quan trọng nhất có ảnh hưởng đến tương lai của họ Thanh thiếu niên coi việc làm là yếu tố hàng đầu và không có sự khác biệt nhiều giữa các nhóm lứa tuổi, giữa nam và nữ, hay vùng cư trú thành thị - nông thôn Thanh thiếu niên nông thôn thường làm những công việc giản đơn, không cần trình độ cao, ít được tiếp cận với thông tin và vì vậy họ thiếu kiến thức về sức khỏe, về kỹ năng sống Tỷ lệ học nghề của thanh thiếu niên còn thấp do cơ hội đào tạo hạn chế, chi phí đào tạo cũng như quan niệm rằng học nghề không kiếm được nhiều tiền và không vẻ vang bằng đi học đại học (SAVY, 2003)

Ngoài ra chúng ta cũng nhận thấy những bất cập trong việc học nghề và đào tạo nghề cho thanh niên, hơn hết là thanh niên ở những vùng nông thôn Sau khi được đào tạo nghề, phần lớn thanh niên khó xin việc làm hoặc làm việc theo mùa

vụ hết mùa vụ lại đôn đáo tìm việc Lý do phương thức đào tạo chưa đáp ứng nhu cầu thị trường lao động và đặc thù nhu cầu việc làm ở từng địa phương Nhất là ngành nghề đào tạo chưa đáp ứng được nhu cầu việc làm cho đông đảo thanh niên, chưa chú trọng đến tính chất công việc lâu dài, có tính định hướng Do đó về lâu dài sẽ làm mất cân bằng lao động giữa các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp1

Liên quan đến vấn đề việc làm của thanh niên nước ta hiện nay có ba vấn đề đặc biệt quan tâm: chất lượng nguồn nhân lực lao động tuổi thanh niên rất thấp, không đáp ứng yêu cầu khách quan của thị trường lao động trong nước và quốc tế;

tỷ lệ thanh niên thất nghiệp khá cao; thu nhập bình quân của người lao động trong

độ tuổi thanh niên thấp Điều này gắn liền với việc phần lớn lao động thanh niên

1 http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130416/bat-cap-dao-tao-nghe-cho-thanh-nien-nong-thon.aspx

Trang 19

chỉ là lao động phổ thông tay nghề thấp Vấn đề công ăn việc làm là một trong những vấn đề quan trọng nhất góp phần định hướng lối sống của thanh niên Việt Nam hiện nay (Phạm Hồng Tung, 2011)

Về phương pháp, những công trình nghiên cứu xung quanh vấn đề lao động, việc làm của thanh niên chủ yếu sử dụng phương pháp định lượng có kết hợp với định tính (Trần Thị Anh Thư, 2010; Nguyễn Quang Giải, 2013) hoặc nghiên cứu định lượng (SAVY, 2003) Những công trình nghiên cứu trên đây là những công trình lớn, phạm vi trong cả nước(SAVY, 2003; Phạm Hồng Tung, 2011) và những công trình vùng ven đô thị(Trần Thị Anh Thư, 2010) hoặc đô thị (Nguyễn Quang Giải, 2013) đã cho thấy được thực trạng lao động, việc làm của thanh niên hiện nay Thanh niên gặp không ít khó khăn trong vấn đề tìm việc và học nghề Do vậy,

họ khó thích ứng với điều kiện sống thay đổi, nhất là những vùng nông thôn đang bước vào đô thị hóa Có thể nói việc làm và các vấn đề liên quan đến lao động, việc làm là tiêu chí hàng đầu chi phối lối sống của thanh niên hiện nay.Vì đặc trưng cơ bản của lối sống cần coi trọng các hoạt động lao động nhằm sản xuất ra mọi của cải vật chất và tinh thần Bởi lẽ đây là hoạt động chủ yếu có tính sống còn đối với đời sống con người và là hoạt động sáng tạo nhờ sự kết hợp hài hòa giữa hoạt động cơ bắp và trí tuệ (Huỳnh Khái Vinh, 2001)

Những nghiên cứu liên quan đến học tập

Các nghiên cứu về vấn đề học tập của thanh niên khẳng định vai trò của giáo dục trong lối sống thanh thiếu niên.Cụ thể là vai trò của nhà trường trong việc dạy kiến thức và giáo dục nhân cách, đạo đức cho thanh niên Ở nhà trường thanh niên không chỉ học kiến thức mà còn học từ những tấm gương của thầy, cô, học từ bạn

bè Quá trình học ở nhà trường là hành trang cho thanh niên bước vào đời, tạo dựng cuộc sống.Từ xưa cha ông ta đã có truyền thống hiếu học, cho đến hôm nay thế hệ trẻ đang được hưởng thụ một nền giáo dục hiện đại, có chất lượng cao hơn nhiều so với các thế hệ thanh niên Việt Nam trước đó Theo Nghị quyết Trung ương 4 năm 1993 và Nghị quyết Trung ương 7 năm 2008 của Trung ương Đảng cũng đã khẳng định: “Thanh niên ngày nay có trình độ học vấn cao hơn các thế hệ

Trang 20

trước” Do đó, những thành tựu về giáo dục rất đáng kích lệ cho thấy tỷ lệ đi học

và biết chữ cao cũng như thái độ tích cực của thanh thiếu niên đối với thầy cô và trường lớp Môi trường giáo dục đã trở nên thuận lợi và mang tính hỗ trợ hơn đối với thanh thiếu niên đặc biệt là nữ giới trong những năm gần đây, học sinh có cơ hội “được có tiếng nói” tại trường lớp và giáo viên khen học sinh khi học sinh học tốt (SAVY, 2003) Một số ít học sinh cho rằng chương trình học quá nặng mặc dù

tỷ lệ học thêm ngoài giờ rất cao (SAVY, 2003)

Trên thực tế thì hiệu quả và chất lượng giáo dục nước ta còn nhiều bất cập.Thực chất tuyệt đại đa số dân chúng cũng như thanh niên Việt Nam chỉ có trình độ giáo dục trung học cơ sở (Phạm Hồng Tung, 2011).Số học sinh bỏ học rất đông, lên đến hàng trăm nghìn em mỗi năm, trong đó bỏ học nhiều nhất là bậc trung học cơ sở đến trung học phổ thông (Phạm Hồng Tung, 2011) Lý do khiến một số thanh niên không được đến trường hoặc phải bỏ học là vì gia đình không có khả năng chi trả các chi phí liên quan đến học tập hoặc phải làm việc cho gia đình

Ở một mức độ nào đó, hệ thống giáo dục chưa thể đáp ứng hết nhu cầu học hành cho tất cả thanh thiếu niên Việt Nam.Điều này sẽ tác động đến tỷ lệ bỏ học và cũng làm cho phần đông thanh thiếu niên chỉ đạt học vấn cao nhất ở cấp trung học cơ sở.Vì vậy thanh thiếu niên sẽ tái mù chữ khi bỏ học sớm.Đại đa số thanh thiếu niên muốn vào đại học mặc dù thực tế chỉ có một số rất ít có thể tiếp tục ở cấp học này.Tỷ lệ mong muốn học đại học cao có thể dẫn đến nhiều họcsinh cảm thấy thất vọng khi không thể đạt được nguyện vọng của mình và tạo ra sự cạnh tranh ngày càng lớn để vào đại học.Tuy nhiên, mong muốn học đại học cũng là động lực giúp thanh niên phấn đấu học tập (SAVY, 2003)

Ngoài ra, với trình độ học vấn thấp thanh niên chỉ có thể học những nghề giản đơn, như lao động nông nghiệp, công nhân đảm nhận những công việc giản đơn Trình độ học vấn thấp không cho phép họ tự học, tự đào tạo để có thể gia nhập vào đội ngũ nhân lực chất lượng cao, đủ sức đảm nhiệm những công việc phức tạp, đòi hỏi một trình độ chuyên môn tương đối cao trở lên và luôn luôn đổi mới Và do thu nhập thấp nên họ không thể đầu tư cho việc tự đào tạo và cũng không có thời gian

Trang 21

cho việc này, bởi nếu có thì họ cũng buộc phải làm thêm để kiếm những nguồn thu nhập phụ Đây cũng là nguyên nhân chính của tình trạng lao động di dân tự phát vào các thành phố lớn ở nhiều vùng nông thôn hiện nay (Phạm Hồng Tung, 2011) Nước ta có cơ cấu dân số trẻ, nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú Nhưng nguồn lực con người và nguồn lực trí tuệ vẫn là những nguồn lực quyết định cho

sự phát triển của đất nước Quá trình đào tạo của nước ta còn nhiều bất cập dẫn đến tình trạng “thừa thầy thiếu thợ”, không ít sinh viên ra trường chưa có việc làm hoặc làm trái với ngành mình đã học Do đó,thanh niên mong muốn có một tay nghề giỏi với điều kiện đó phải là một nghề nghiệp qua đào tạo, đặc biệt là đào tạo chính quy ở bậc đại học(Đặng Cảnh Khanh, 2006) Bên cạnh đó, tác giả cũng bày

tỏ quan điểm cần phải hướng việc học tập các nghề kỹ thuật vào lao động chân tay cho các thanh thiếu niên ngay từ giai đoạn còn ngồi ở nhà trường phổ thông, phải chuẩn bị để họ sẵn sàng về nhận thức và tâm lý cho việc học tập và đào tạo nghề ngay sau khi tốt nghiệp phổ thông

Tuy vậy, giáo dục đã tạo điều kiện cho thanh niênđược tiếp xúc với các phương tiện học tập hiện đại hơn, trường lớp khang trang hơn Họ có thể học tập, sáng tạo, nâng cao kiến thức, rèn luyện kỹ năng của mình Thanh niên là lứa tuổi đang trưởng thành nên quá trình học tập của họ không tránh khỏi những tác động bởi hoàn cảnh gia đình, bởi môi trường sống xung quanh Nhiều khảo sát xã hội học cho thấy, ở nước ta nói chung và khu vực vùng miền trong nước nói riêng, học vấn được xem là một trong những giá trị cao nhất trong thang giá trị hiện nay của thanh thiếu niên (Đặng Cảnh Khanh, 2006).Không chỉ riêng ở Việt Nam mà ở tất

cả các nước trên thế giới, nhà trường và giáo dục học đường đã và vẫn luôn luôn là một trong những yếu tố tác động quan trọng nhất đối với quá trình phát triển nhân cách, hội nhập xã hội và định hướng lối sống thanh niên(Phạm Hồng Tung, 2011) Không ai ngoài tuổi trẻ và tuổi trẻ có tri thức đột phá được tình trạng hiện nay vì chính các bạn là người mang mầm móng cho sự thay đổi(Nguyễn Thị Oanh, 2001)

Những nghiên cứu về văn hóa tinh thần

Trang 22

Các lĩnh vực hoạt động văn hóa tinh thần của thanh niên luôn được quan tâm bởi lẽ thông qua việc lựa chọn hình thức giải trí và tác động của chúng đối với lối sống và văn hóa giới trẻ.Các phương tiện truyền thông đại chúng trong nước, đặc biệt là truyền hình đang có ảnh hưởng nhiều nhất tới thái độ và mức độ hội nhập với thế giới bên ngoài của thế hệ thanh niên Việt Nam.Tính lựa chọn cũng như năng lực hội nhập quốc tế đã được nâng cao đáng kể và coi đó như một xu hướng tích cực trong lối sống của thế hệ thanh niên hiện nay(Phạm Hồng Tung, 2011)

Có rất nhiều nghiên cứu về hoạt động vui chơi giải trí của thanh niên, phần lớn các nghiên cứu về nhu cầu giải trí và việc sử dụng thời gian rỗi của thanh niên.Đối với nhu cầu giải trí của thanh niên, có sự khác biệt giữa nam và nữ với mức độ tham gia các hoạt động giải trí như xem truyền hình, nghe đài, xem băng đĩa hình, đọc sách báo, sử dụng internet, tập thể dục thể thao, gặp gỡ bạn bè Số nữ thanh niên chưa bao giờ tham gia các hoạt động giải trí này cũng cao hơn nhiều so với nam thanh niên.Nữ thanh niên thường có xu hướng chọn loại hình giải trí mang tính thụ động, gần nhà, ít tốn kém còn nam thanh niên chọn hình thức giải trí mang tính chủ động, tham gia các hoạt động bên ngoài gia đình.Nghiên cứu cho thấy tác động của trình độ học vấn và độ tuổi đến việc lựa chọn các loại hình giải trí là khá rõ nét.Đối với thanh niên, những người có trình độ học vấn thấp là nhóm chưa thể đạt được độ chín chắn trong khi lựa chọn và đây là nhóm mà xã hội cần

có sự hướng dẫn, điều chỉnh về nhu cầu giải trí nhiều nhất.Nghiên cứu nêu rõ nhu cầu giải trí của thanh niên chưa được đáp ứng thỏa đáng.Nguyên nhân khách quan bao gồm hoạt động không hấp dẫn, không có địa điểm tổ chức, hoạt động ở xa nơi sống.Nguyên nhân chủ quan là không đủ kinh phí, không có nhiều thời gian rỗi, không có bạn cùng tham gia Các hoạt động thể thao hay văn hóa văn nghệ được tổ chức theo phong trào, phát triển vào dịp lễ tết, hội hè nên không thường xuyên Vì vậy đã không thu hút được thanh niên tham gia một cách rộng rãi Tác giả còn cho rằng đời sống văn hóa tinh thần của thanh niên hiện nay tăng về số lượng, tần suất, khả năng tiếp cận các loại hình giải trí phong phú và đa dạng hơn so với trước đây, nhưng chủ yếu diễn ra trong khu vực gia đình, thông qua các phương tiện truyền

Trang 23

thông đại chúng Còn ở phạm vi thiết chế văn hóa cộng đồng rất hạn chế, các loại hình giải trí mang tính chủ động, cao cấp vẫn chưa được thanh niên lựa chọn Đây

có thể một phần do sở thích cá nhân nhưng cũng có thể do đời sống kinh tế còn thấp Bên cạnh những loại hình vui chơi giải trí tích cực, lành mạnh vẫn còn tồn tại những loại hình giải trí tiêu cực như đua xe, cờ bạc, nhậu rượu bia vẫn được thanh

niên tham gia(Lê Thị Hương Xuân, 2012) Nghiên cứu cho chúng ta biết được các

loại hình giải trí hiện nay thanh niên thường lựa chọn tham gia cũng như những khó khăn về kinh phí, về thời gian, về địa điểm và sự hỗ trợ từ phía xã hội Tuy nhiên nhu cầu giải trí của thanh niên hiện nay có sự khác nhau ở mỗi vùng thuộc khu vực nông thôn

Ngoài ra, có nghiên cứu khẳng định nhu cầu giải trí của thanh niên phụ thuộc vào sự đáp ứng mới, ổn định dần và trở thành khuôn mẫu giải trí.Khuôn mẫu giải trí của thanh niên được quy định trước hết bởi số lượng thời gian dành cho hoạt động giải trí và sự phân bố của thời gian rỗi đó Nghiên cứu đưa ra các cấp độ giải trí của thanh niên: (1) Giải trí cấp ngày của thanh niên hiện nay là những hoạt động giải trí tại chỗ (trong gia đình hoặc ở những nơi gần cư trú), hầu như không đòi hỏi chi phí vì khả năng kinh phí của thanh niên còn khiêm tốn (2) Giải trí cấp tuần thường là những hoạt động tập thể, giao tiếp, tương tác, ít có những hoạt động cá nhân (3) Giải trí cấp năm là khoảng thời gian mà người lao động được nghỉ ngơi dài ngày sau một năm lao động Tất cả mọi người đều sắp xếp thời gian cho một

kỳ nghỉ dài ngày.Nghiên cứu cũng cho rằng việc đưa ra khuôn mẫu giải trí của thanh niên hiện nay còn quá chung chung vì lứa tuổi thanh niên bao gồm nhiều thành phần như thanh niên nông thôn, thanh niên thành thị, thanh niên công nhân, thanh niên học sinh - sinh viên và mỗi thành phần thanh niên có sự lựa chọn các loại hình giải trí khác nhau phù hợp từng hoàn cảnh cụ thể(Đinh Thị Vân Chi, 2003) Nghiên cứu có những đóng góp nhất định trong việc đưa ra những cấp độ giải trí cũng như những loại hình giải trí hiện nay của thanh niên

Nhu cầu giải trí của thanh niên có sự khác nhau giữa các khu vực, giữa nam

và nữ, giữa các nhóm nghề nghiệp, thu nhập và trình độ học vấn Cuộc điều tra cơ

Trang 24

bản về thực trạng bình đẳng giới và tác động của chính sách đối với phụ nữ, nam giới nhằm phục vụ cho công tác hoạch định chính sách ở Việt Nam do Khoa học

xã hội Việt Nam tiến hành cho thấy có sự khác biệt trong việc sử dụng thời gian rỗi của hai giới ở các hoạt động như đọc sách báo, tập thể dục hoặc thể thao, ăn uống với bạn bè, đi chơi xa Bên cạnh đó cũng có sự khác biệt về mức độ tham gia theo dân tộc, theo khu vực nông thôn hoặc đô thị, theo mức sống, nghề nghiệp, học vấn(Hà Thị Minh Khương, 2007) Nghiên cứu còn chỉ ra việc sử dụng thời gian rỗi không chỉ tùy thuộc vào nhu cầu cá nhân mà còn chịu tác động bởi nhiều yếu tố như môi trường sống, điều kiện kinh tế cá nhân.Nghiên cứu chỉ rõ cần xem xét kỹ hơn các hoạt động giải trí trong thời gian rỗi như sự lựa chọn cũng như quyền quyết định các lĩnh vực giải trí của mỗi giới

Mặt trái của cơ chế thị trường cùng với sự xuất hiện ngày càng nhiều các loại hình giải trí tiềm ẩn nhiều nguy cơ thiếu lành mạnh đã tác động không nhỏ đến tâm

lý, gieo vào thế hệ trẻ những quan niệm sống lệch lạc.Vì thế, công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho thanh niên đã trở thành vấn đề cấp thiết hơn lúc nào hết Trong khi các hoạt động giải trí do địa phương, đoàn thể tổ chức chưa phong phú

và thu hút thì giới trẻ tự tìm vui qua cà phê, nhậu nhẹt, game online hay tụ tập trên các trang mạng giờ đã về tới nông thôn Những môn chơi mới như hip hop, thể thao mạo hiểm cũng đã về tới các tỉnh, huyện, một bộ phận thanh niên nông thôn

đã nhanh chóng tiếp cận cuộc sống hiện đại nhưng tất cả vẫn còn lẻ tẻ2

Những nghiên cứu về ý thức sống, ý thức pháp luật

Trong những năm gần đây hiện tượng vi phạm pháp luật ở lứa tuổi thanh thiếu niên ngày càng nhiều, phạm vi ngày càng mở rộng diễn ra không chỉ ở các khu đô thị lớn mà còn cả những vùng nông thôn Nguyên nhân không phải ngẫu nhiên, một sự khao khát muốn biến đổi, muốn vượt ra ngoài những khuôn khổ cứng nhắc, một sự thiếu hụt những kinh nghiệm sống, kèm theo những bồng bột của tuổi trẻ…tất cả tạo hình tâm lý đặc thù khiến tuổi trẻ và sự sai lệch, cái tích

2 http://tuoitre.vn/Nhip-song-tre/303089/thanh-nien-nong-thon-giai-tri-the-nao.html

Trang 25

cực và cái tiêu cực luôn kề cận nhau, đan xen vào nhau trong cuộc sống của thanh thiếu niên, làm cho những người lớn tuổi luôn phải nhìn nhận họ với cặp mắt “khi giận, khi thương” là vì vậy (Đặng Cảnh Khanh, 2006) Đây cũng là những nguyên nhân bắt nguồn từ tâm sinh lý lứa tuổi Ở một góc độ khác thì những sai lệch trong phạm vi các hoạt động về kinh tế, trong văn hóa, trong định hướng lao động việc làm,trong nhận thức pháp luật của thanh niên có thể là nguyên nhân dẫn đến những sai phạm về pháp luật và gia tăng các tệ nạn xã hội Hiện nay tình trạng thanh, thiếu niên vi phạm pháp luật ngày một gia tăng.Nguyên nhân của tội phạm thanh thiếu niên là tác động từ môi trường sống và những nguyên nhân nảy sinh từ tâm

lý bản thân các em phạm tội Tác giả nêu lên bamôi trường sống chủ yếu: thứ nhất

là gia đình là môi trường sống, giáo dục có nhiều tác động đến thanh thiếu niên, để làm cho các em tiến bộ hoặc ngược lại làm cho các em hư hỏng, thậm chí trở thành

kẻ phạm tội Phân tích cho thấy nhiều gia đình hiện nay chưa nhận thức rõ điều đó Chính vì vậy, nhiều gia đình vô hình chung đã cung cấp cho xã hội những đứa trẻ thiếu phẩm chất, tội phạm, gây tác động xấu đến đời sống xã hội Ngoài yếu tố gia đình tác giả còn phân tích nhà trường là môi trường xã hội hóa thứ hai trong quá trình hình thành nhân cách, phẩm chất và năng lực của thanh thiếu niên Thanh thiếu niên bỏ học sớm là một thiệt thòi lớn cho họ, gia đình và xã hội đồng thời cũng là những tiền đề dẫn tới những hành vi tiêu cực, phạm tội Những vấn đề về rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống…không được chú ý giáo dục hoặc bị coi nhẹ.Kiến thức pháp luật chưa đưa vào giảng dạy trong chương trình cho thanh thiếu niên, do đó họ chưa thấy quyền và nghĩa vụ của mình đối với xã hội.Tác giả cũng cho rằng, thanh thiếu niên hiện nay bị ảnh hưởng bởi phong cách, lối sống…thị trường.Từ nông thôn đến thành thị xung quanh các trường học mọc lên nhiều hàng quán để “phục vụ” học sinh Trong đó, có đủ các loại hàng hóa, văn hóa phẩm có nội dung xấu, tốt Mặt khác sự tiếp xúc sớm với đồng tiền đã làm cho các em dễ đi vào con đường phạm pháp một khi gia đình không có điều kiện đáp ứng bằng bạn bè Hơn nữa xây dựng môi trường sống trong sạch cho các em

là một vấn đề đặt ra không kém phần quan trọng; sự giáo dục các em ở gia đình,

Trang 26

nhà trường thì giáo dục còn là cả một quá trình mang tính xã hội, hiểu theo nghĩa rộng nhất của nó(Trần Đức Châm, 2002)

Các nghiên cứu đã cho thấy thực trạng vi phạm pháp luật của thanh niên, biểu hiện lối sống và ý thức pháp luật, sự hiểu biết về pháp luật của một bộ phận thanh thiếu niên hiện nay Các nguyên nhân chính là môi trường giáo dục của gia đình, nhà trường, cộng đồng xã hội và nguyên nhân tâm sinh lý bản thân.Thể hiện trào lưu lối sống của một bộ phận thanh niên, tác giảnêu lên lối hành xử hung bạo cũng

là một trong những xu hướng lối sống, lối ứng xử tiêu cực nguy hiểm nhất của thanh niên hiện nay Ngoài những hành vi hung bạo như trên thì xu hướng sống liều lĩnh, bất chấp kỷ cương pháp luật điển hình nhất là những loại biểu hiện mang tính “đời thường” là tình trạng vi phạm luật lệ giao thông tràn lan của thanh niên ở

cả thành thị và nông thôn, góp phần làm cho mỗi năm có hàng chục người bị chết hoặc bị thương Điều này gây lên phản ứng của xã hội một cách mạnh mẽ về lối sống của một bộ phận trong thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay(Phạm Hồng Tung, 2011)

Trước tình trạng thanh thiếu niên phạm pháp ngày càng nhiều về số lượng và càng phức tạp về tính chất, các cơ quan chức năng đã có rất nhiều nỗ lực trong việc cùng nhau phối kết hợp để nghiên cứu, khảo sát, triển khai và thực hiện rất nhiều chương trình nhằm tuyên truyền, phổ biến, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật cho lớp trẻ Trong số đó có không ít những hoạt động đã mang lại kết quả hết sức tích cực, được xã hội ghi nhận Tuy nhiên, nội dung và hình thức của công tác giáo dục đạo đức, ý thức chấp hành pháp luật vẫn chưa có ảnh hưởng sâu sắc đến nếp sống, nếp nghĩ của giới trẻ.Hiệu quả của công tác giáo dục ý thức chấp hành pháp luật cho lớp trẻ vẫn chưa cao.Những hình thức giáo dục chưa phù hợp với đặc điểm tâm lý của giới trẻ Do đặc điểm của tâm lý lứa tuổi, thanh thiếu niên có xu hướng muốn bứt phá khỏi những gì mang tính chất khuôn mẫu, áp đặt, mệnh lệnh

Vì thế, nội quy, quy tắc, khẩu hiệu, lời răn đe, bài giảng thuyết trình mang tính giáo huấn… thường là ít có hiệu quả đối với thanh niên Trong khi đó, một bức ảnh đầy biểu cảm lại có thể khiến hàng triệu bạn trẻ lặng người xúc động; một bài

Trang 27

hát phù hợp với tâm lý tuổi thanh xuân và với thời đại các em đang sống lại có thể hướng hàng triệu người nghe đến bao điều tốt đẹp, một hoạt động thiết thực vì cộng đồng lại có thể khơi dậy một cách mạnh mẽ tình yêu đất nước, tình yêu thiên nhiên, tình yêu con người, tâm lý sẻ chia, cống hiến; một tấm gương lao động chân chính lại có thể nuôi dưỡng trong tâm hồn các em thái độ trân trọng các giá trị của lao động… Có thể nói, những bài học đạo đức nhẹ nhàng, chân thực, gần gũi, không “đao to búa lớn”, có tác động rất mạnh mẽ tới trái tim của giới trẻ Nếu những bài học đó được chuyển tải bằng những hình thức ngắn gọn, biểu cảm, vui tươi, hóm hỉnh, hài hước, hiện đại phù hợp với giới trẻ hiện nay thì hiệu quả của công tác giáo dục đạo đức sẽ được nâng cao và công tác giáo dục ý thức chấp hành pháp luật cho thanh thiếu niên sẽ đạt được những kết quả hết sức tích cực Tiến hành giáo dục đạo đức, ý thức chấp hành pháp luật cho thanh niên bằng nhiều hình thức phong phú, sinh động, hấp dẫn, nhất là những hình thức tiếp cận được đến đa

số thanh niên; thông qua những phong trào, những việc làm thiết thực, có ý nghĩa3

Ngoài ra,tác phẩm mang tính lý luận nêu lên đường lối, chính sách đối với

thanh niên, thanh niên và lối sống mới, những lời dạy bồi dưỡng, rèn luyện ý chí, đạo đức cho thế hệ thanh niên như “không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền”,sống trong hòa bình, hội nhập thanh niên cần làm những gì (Hồ Chí Minh, 1970) Với diễn biến phát triển trong nước và trên thế giới hiện nay, nghiên cứu đề cập những vấn đề cơ bản của lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội; mối quan hệ giữa lối sống đạo đức và phát triển văn hóa con người; sự tác động của các nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội tới lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội; việc kế thừa và phát huy nếp sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội truyền thống Trong đó, tác phong công nghiệp, ý thức pháp luật, ý thức về cá nhân và về tư cách công dân, ý thức về

sở hữu trong đó kể cả sở hữu tư nhân, đã làm thay đổi cách nghĩ, cách làm, cách tổ chức đến mức mà nếp sống tình nghĩa cộng đồng tiểu nông chỉ còn giới hạn chủ yếu trong sinh hoạt thường nhật hay hoạt động cộng đồng của lớp người 60, 70

3 hop-voi-dac-diem-tam-ly-cua-gioi-tre-52/

Trang 28

http://dkdnpy.vn/index.php/vi/news/Nghien-cuu-Trao-doi/Giao-duc-thanh-nien-Can-nhung-hinh-thuc-phu-tuổi trở lên Lối sống đô thị đã định hình khá rõ ở thanh niên.Sự thống nhất giữa cái đặc sắc của thuần phong mỹ tục với cái hiện đại có thể thành hiện thực.Cái chuẩn mực này sẽ hạn chế tối đa được tình trạng lai căng, sự xâm nhập của các yếu

tố ngoại lai.Cái hiện đại sẽ phát triển trên nền tảng bản sắc dân tộc.Đây là mức độ định hình cơ bản nhất của đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa(Huỳnh Khái Vinh, 2001)

Các nghiên cứu trên chủ yếusử dụngphương pháp định lượng; có nghiên cứu dùng phương pháp định lượng có kết hợp định tính Trên cơ sởnghiên cứu lý luậnđến nghiên cứu thực nghiệm(Đặng Cảnh Khanh, 2006; Phạm Hồng Tung, 2011;Huỳnh Khái Vinh, 2001; Trần Đức Châm, 2002); lối sống của thanh niên được nhìn nhận dưới góc độ tâm lý học (Nguyễn Thị Oanh, 2001); những lý luận

về đạo đức, lối sống mới của thanh niên (Hồ Chí Minh, 1970) Có đề tài tập trung nghiên cứu về thanh niên hoặc thanh niên và lối sống thanh niên; tuy nhiên, cũng

có nghiên cứu về lối sống, chuẩn mực đạo đức, văn hóa con người nói chung và trong đó có đề cập đến thanh niên

Tóm lại, các nghiên cứu được đề cập trên đây đã tìm hiểu rất nhiều vềthanh niên, về các hoạt động sống vật chất cũng như hoạt động sống văn hóa tinh thần của thanh niên Các công trình nghiên cứu không chỉ dừng lại ở việc chỉ các hoạt động sống, các lựa chọn sống mà còn chỉ ra những khó khăn, những thách thức thanh niên phải đối mặt trong điều kiện đất nước đang thay đổi theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa, hội nhập quốc tế Cũng có công trình nghiên cứu đề cập đến những yếu tố của môi trường kinh tế - xã hội trong giai đoạn đổi mới ảnh hưởng đến thanh niên Thông qua đó phần nào phản ánh được lối sống của thanh niên hiện nay.Không như các ngiên cứu định lượng với dung lượng mẫu lớn khác,

đề tài chỉ dùng phương pháp nghiên cứu định tính dựa trên các chỉ báo mà các tác giả đưa ra Đề tài tập trung vào thái độ ứng xử, thích nghi, thay đổi của thanh niên qua các hoạt động sống, giao tiếp với gia đình bạn bè, họ hàng và các quan niệm sống trong điều kiện phát triển của xã hội.Hơn hết,phần lớn các công trình nghiên cứu về thanh niên chủ yếu được tiến hành trên cả nước hoặc tại các địa bàn khác

Trang 29

nhau mà chưa có đề tài nào được nghiên cứu chuyên sâu tại một địa bàn thuộc huyện miền núi đang trong quá trình đô thị hóanhư huyện Tánh Linh - tỉnh Bình Thuận Nhưng dù ở phương diện nào thì các đề tài nghiên cứu ở trên là nguồn tư liệu rất quý giá cho tác giả có thể học hỏi và tiếp thu một cách có cơ sở để có thể hoàn thiện tốt hơn đề tài nghiên cứu của mình

1.2 Cách tiếp cận và lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu

Có nhiều hướng tiếp cận khác nhau khi nghiên cứu các vấn đề xã hội Có nhà

xã hội học xem xét chúng ở tầm vĩ mô, nhà xã hội học khác lại đánh giá chúng ở tầm vi mô và đưa ra những dự báo xác thực cho ngành khoa học xã hội Nhưng dù

ở góc độ nào, các vấn đề xã hội luôn chịu sư tác động bởi các yếu tố chủ quan và

khách quan Với đề tài “Lối sống của thanh niênxãBắc Ruộng - Huyện Tánh Linh -

Tỉnh Bình Thuận trong quá trình đô thị hoá”, có nhiệm vụnêu lên thực trạngvà cố

gắnggiải thích về những xu hướng biến đổi lối sống của thanh niên trong quá trình

đô thị hóa, tác giả dựa trên một số quan điểm sau để làm cơ sở lý luận cho việc giải thích các vấn đề trong quá trình nghiên cứu của đề tài

Cách tiếp cận lối sống

“Lối sống như là tổng hòa các dạng hoạt động sống điển hình đối với một xã hội nhất định, được xem xét thống nhất với điều kiện của các dạng hoạt động sống” (Theo những chỉ báo về lối sống của xã hội Xô Viết, tác giả G.E Batughiu,A.D Malinki)

Như vậy lối sống được hiểu trên các phương diện về đặc điểm của các hoạt động sống khác nhau và điều kiện của các hoạt động sống.Các phương diện trên là những đặc tính về mức độ hoạt động của các chủ thể khác nhau trong các lĩnh vực hoạt động cụ thể Điều này đặc biệt nhấn mạnh đến việc nghiên cứu các định hướng giá trị và các dạng hoạt động khi cho rằng nếu chỉ nghiên cứu những ứng

xử của con người thông qua vẻ bề ngoài thì không thể nắm bắt được động cơ của con người và khó có thể dự báo được các xu hướng hành động Do vậy, nghiên cứu lối sống có ý nghĩa rất lớn vì lối sống chính là nhân tố tạo nên ứng xử của con người thông qua việc họ phản ánh và xử lý những điều kiện sống

Trang 30

Ngoài ra, lối sống còn chịu sự chi phối của phương thức sản xuất và toàn bộ điều kiện sống của con người cũng như các yếu tố khách quan và chủ quan,.Nhưng

sự chi phối này không chỉ là sản phẩm thụ động mà nó còn gắn liền với toàn bộ hệ thống giá trị, tinh thần của con người với tổng thể các quan hệ vật chất - tinh thần,

cá nhân - xã hội Như vậy lối sống bao hàm mọi mặt của đời sống con người Nó phụ thuộc vào thái độ và sự lựa chọn khác nhau của cá nhân, cộng đồng và xã hội Lối sống là một cơ cấu phẩm chất nhất định của hoạt động sống hàng ngày của con người Hoạt động sống hàng ngày của con người như thế nào thì chính bản thân họ cũng như vậy Như vậy, lối sống phản ánh hoạt động sống của con người, nó trả lời các câu hỏi, con người làm gì, làm như thế nào?

Hoạt động sống của con người chịu ảnh hưởng bởi những điều kiện khách quan và chủ quan Điều kiện khách quan là các điều kiện về kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường tự nhiên.Điều kiện chủ quan có thể là các điều kiện về tâm lý xã hội, tình trạng chung của ý thức con người, thái độ với môi trường xung quanh Hoạt động sống của con người không thể tách rời hai yếu tố trên, trái lại chúng tác động, chi phối và ảnh hưởng đến các hoạt động sống của người này hay người khác Khi nghiên cứu cần đặt nó trong mối tương quan với điều kiện chủ quan và khách quan có tác động đến lối sống của con người một cách cụ thể để phân tích những tác động của bối cảnh sống và để tìm hiểu những quan điểm cá nhân, sự đánh giá về hoàn cảnh, về cuộc sống của chính họ Có thể hiểu: “Lối sống là cách thức cá nhân tham gia vào các quan hệ xã hội bằng những hoạt động của mình Và sự lựa chọn

đó được xác định trên cơ sở con người biết đánh giá hoạt động sống của mình trong tương quan với điều kiện sống” (Trần Thị Kim Xuyến, 2000)

Quan điểm trên chỉ ra rằng, khi nghiên cứu các dạng hoạt động sống của con người, cần một lúc sử dụng cả hai hướng tiếp cận khách quan là tìm các yếu tố tác động tới các hoạt động đó từ phía những điều kiện kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội của xã hội rộng lớn; và tiếp cận chủ quan, bao gồm các yếu tố như kiến thức, quan niệm, thái độ, động cơ của chính chủ thể các hoạt động

Trang 31

Luận văn vận dụng cách tiếp cận trên để tìm hiểu bối cảnh xã hội, cụ thể hơn điều kiện kinh tế, văn hóa xã hội chi phối đến lối sống của thanh niên Tìm hiểu những thay đổi trong hoạt động sống bao gồm các hoạt động sản xuất vật chất và các hoạt động văn hóa tinh thần, các hoạt động xã hội khác và quan niệm sống, ứng

xử của khách thể nghiên cứu

Dựa theo cách tiếp cận lối sống, luận văn hướng tới việc tìm hiểu thanh niên hiện nay sống như thế nào? Thanh niên sống, làm việc, học tập, giải trí ra sao khi điều kiện sống đang thay đổi.Hiện tại thanh niên có nhiều phương tiện để tiếp cận với các điều kiện học tập, các dịch vụ vui chơi giải trí đa dạng và phong phú hơn các thế hệ trước Họ cũng có nhiều điều kiện để phát huy khả năng lao động, học tập và sáng tạo Vì họ là thế hệ trẻ của hiện tại, là sản phẩm đích thực của thời đại

mà họ đang sống.Vì vậy họ là lớp người vô cùng năng động, tích cực trong việc chuẩn bị hành trang cho tương lai của bản thân mình và của quốc gia, dân tộc.Bên cạnh những gì họ tiếp nhận từ sự giáo dục của thế hệ trước thì họ cũng có một phong cách sống của riêng mình.Ngoài việc ảnh hưởng của thế hệ đi trước trong cộng đồng, gia đình hay quốc gia - dân tộc, trong thời đại toàn cầu hóa, họ còn chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố văn hóa, tri thức, kinh nghiệm, giá trị từ các cộng đồng và cá nhân khác trên thế giới Do vậy, việc xử lý và thích ứng với những điều kiện sống là thể hiện lối sống của thanh niên hiện nay

Trong luận văn này, tác giả quan tâm đến lối sống của thanh niên ở vùng nông thôn đang có những bước chuyển theo lối sống đô thị Hướng tiếp cận trên là một định hướng quan trọng trong nghiên cứu của đề tài.Qua đó không chỉ phát họa thực trạng về điều kiện sống của thanh niên mà còn xem xét tới những định hướng giá trị, quan niệm sống, cách ứng xử, ý thức trong các hoạt động sống của họ

Hướng tiếp cận dựa theo lý thuyết xã hội hóa

Mỗi một con người sinh ra và lớn lên đều trải qua quá trình quá độ mà chúng

ta có thể tiếp nhận được nền văn hóa của xã hội trong đó chúng ta đã được sinh ra, quá trình mà nhờ nó chúng ta đạt được những đặc trưng xã hội của bản thân, học được cách suy nghĩ và ứng xử được coi là thích hợp trong xã hội của chúng ta

Trang 32

được gọi là quá trình xã hội hóa Khi cá nhân thông qua xã hội hóa, chấp nhận những quy tắc và đòi hỏi tạo dựng nền văn hóa xã hội mà họ đang sống, sử dụng chúng để quy định hành vi của mình, chúng ta nói họ đã tiếp thu được các quy luật văn hóa của xã hội

Theo Fichter thì “Xã hội hóa là quá trình tương tác giữa người này với người

khác, kết quả là một sự chấp nhận những khuôn mẫu hành động và thích nghi với những khuôn mẫu hành động đó”(Tony Bilton, Kenvin Bonnett, Philip Jones, Ken

Sheard, Michelle Stanworth và Andrew Webster, 1987) Môi trường xã hội hóa là

nơi cá nhân có thể thực hiện thuận lợi các tương tác xã hội của mình nhằm mục đích thu nhận và tái tạo kinh nghiệm xã hội

Thanh niên là lứa tuổi đang trưởng thành về mặt nhân cách, phát triển về trí tuệ, học hỏi và tiếp thu nhanh nên quá trình xã hội hóa là quá trình quan trọng mà thông qua đó họ hình thành cho mình một cách sống phù hợp để thích ứng với sự phát triển của xã hội Cụ thể sự phát triển của nền kinh tế thị trường đang dần chi phối đời sống người dân nông thôn, làm cho con người trở nên sống thực dụng hơn.Mọi hoạt động sống chạy theo cơ chế này, các thiết chế gia đình, nhà trường

và các tổ chức xã hội cũng không nằm ngoài guồng máy đó Có nhiều cách nhìn nhận,phân tích về các môi trường xã hội hóa theo các nhóm xã hội nơi các cá nhân thực hiện các hoạt động sống của mình, trong đó ba môi trường chính là gia đình, nhà trường và xã hội

Gia đình là môi trường xã hội hóa quan trọng nhất vì hầu hết các cá nhân đều sinh ra và lớn lên trong gia đình mà mỗi gia đình có một tiểu văn hóa riêng Tiểu văn hóa này được xây dựng trên nền tảng của văn hóa chung nhưng với đặc thù riêng của từng gia đình như nền giáo dục gia đình, truyền thống gia đình, lối sống gia đình…Những kinh nghiệm sống, các quy tắc ứng xử, các giá trị đầu tiên của mỗi cá nhân nhận được chính là từ các thành viên trong gia đình Từ đó hình thành nên đặc điểm nhân cách riêng của mỗi người

Như vậy, gia đình là môi trường xã hội hóa đầu tiên của thanh niên khi nghiên cứu về lối sống của họ, đề tài xem đây là môi trường định hình về nhân

Trang 33

cách, có ảnh hưởng trực tiếp đến việc phát triển nhân cách, đến suy nghĩ và hành động của thanh niên Thông qua môi trường này định hướng cho đề tài phân tích mối quan hệ giữa thanh niên với cha mẹ và với bà con họ hàng để thấy được tầm ảnh hưởng của gia đình đến lối sống của thanh niên hiện nay

Ngoài gia đình, nhà trường là nơi thanh niên được tiếp nhận những kiến thức

về xã hội, về tự nhiên đầu tiên thông qua các bài học, các mối quan hệ thầy cô, bạn

bè Thầy, cô giáo sẽ là người hướng dẫn khuyến khích các hành vi đúng hoặc điều chỉnh, xử phạt các hành vi sai trái và cung cấp các kiến thức văn hóa chủ yếu làm nền tảng cho cuộc sống sau này của mỗi người

Xã hội là môi trường quan trọng thứ hai sau gia đình góp phần hình thành nhân cách của cá nhân Quá trình hoàn thiện nhân cách này được thực hiện thông qua hoạt động giao tiếp, trao đổi với các thành viên trong xã hội, tại đây các cá nhân tiếp tục hoàn thiện những kiến thức khoa học, kỹ năng lao động, tiếp tục thu nhận và sáng tạo các quy tắc ứng xử, những kinh nghiệm xã hội Con người sẽ phát triển như thế nào trong môi trường xã hội để trở thành chính nó Hurrelmann thì cho rằng tác động qua lại giữa quá trình phát triển của cá nhân và quá trình phát triển của xã hội là điểm tựa của hướng tiếp cận xã hội hoá Ông viết: “Qúa trình phát triển nhân cách trong tuổi thanh niên được quy định bởi bối cảnh xã hội và sinh thái Cái bối cảnh đó được chủ quan hoá và được chế biến bởi chủ thể thanh niên Theo ý nghĩa đó, bối cảnh đó có tác động đến cá nhân thanh niên, đồng thời chính cá nhân thanh niên cũng ảnh hưởng đến bối cảnh, làm cho cả hai tác nhân cùng thay đổi và được tạo thành” (dẫn theo Phạm Hồng Tung, 2011)

Trong độ tuổi này thanh niên có một nhận thức và sự hiểu biết nhất định Nghiên cứu lối sống thanh niên tại một địa bàn đang có nhiều biến chuyển về kinh

tế, về văn hóa - xã hội, thông qua môi trường xã hội hướng đề tài đi vào phân tích những yếu tố tích cực và cả những yếu tố tiêu cực mà thanh niên có thể nhận được

từ sự phát triển này mang lại qua việc học hỏi và tiếp thu các mối quan hệ bạn bè, các đồng nghiệp, truyền thông hiện đại

Trang 34

Nghiên cứu về lối sống thanh niên nông thôn, theo cách tiếp cận này hướng

đề tài đến việc làm rõ thanh niên sẽ phát triển như thế nào trong ba môi trường xã hội hóa cơ bản này Qua đó thanh niên có thể học hỏi, thu nhận được những gì và thể hiện trong lối sống của họ

1.3 Các khái niệm liên quan

Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài nghiên cứu

Trong bộ từ điển Oxford giải thích mục từ “youth” (thanh niên) như sau: “ Là

người trẻ tuổi, trong giai đoạn giữa tuổi thơ ấu và tuổi người lớn, hăng hái, nhiệt tình hoặc thiếu kinh nghiệm hoặc chỉ những đặc trưng khác của độ tuổi này Khi

được dùng ở dạng số nhiều thì từ này chỉ tập hợp những người trẻ tuổi”

Trong các văn bản pháp lý Việt Nam hiện hành, thuật ngữ “thanh niên” được hiểu như sau: Theo Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam đến năm 2010 do Thủ tướng Chính Phủ ký phê duyệt kèm theo Quyết định số 70/2003/QĐ - TTg ngày 29 - 4 - 2003 thì “thanh niên nước ta” được cho là gồm những người Việt Nam trong độ tuổi từ 15 đến 34 Hai năm sau, Luật thanh niên số 53/2005/QH11 được Quốc hội khóa XI thông qua đã quy định tại Điều 1 thì “thanh niên là công dân Việt Nam từ đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi”.Đây cũng là điều được ghi nhận tại Điều 1, mục 2 của Điều lệ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (2007).Có thể thấy trong các văn bản pháp lý quan trọng nhất về thanh niên Việt Nam, nội hàm của thuật ngữ này cũng không được quy định nhất quán.Sự thiếu nhất quán này có thể bắt nguồn từ cơ sở lịch sử, nền văn hóa, chính trị của mỗi quốc gia dân tộc ở các thời điểm khác nhau.Ngoài ra sự khác biệt này cũng xuất phát từ quan điểm về sự trưởng thành ở mặt thể chất sinh học, xã hội, khả năng tự chịu trách nhiệm của bản thân trước pháp luật và gánh vác các vai trò xã hội.Vì

Trang 35

vậy việc quy định về độ tuổi thanh niên và mức tuổi thấp nhất được coi là thành niên cũng rất khác nhau ở các nước trên thế giới Việc chọn nhóm tuổi quy ước cho độ tuổi thanh niên còn tùy thộc vào mục tiêu của các cuộc khảo sát Báo cáo phát triển thế giới (2007) cho rằng thanh niên là những người từ 12 - 24 tuổi Theo báo cáo về “ Thực trạng phát triển thanh niên Philippines, các chương trình và chính sách” (2000) quy ước thanh niên có độ tuổi từ 15 - 30 Báo cáo kết quả nghiên cứu thanh niên Thái Lan (2008), đối tượng của cuộc khảo sát là những người từ 15 - 24 tuổi Một nghiên cứu khác, cuộc điều tra Quốc gia vị thành niên

và thanh niên Việt Nam năm 2005, thuật ngữ thanh thiếu niên dùng để chỉ những người từ 14 - 25 tuổi Lý do cuộc điều tra chọn nhóm tuổi này vì họ cho rằng đây

là “nhóm có thể đại diện trung thực nhất cho thanh thiếu niên Việt Nam”, “14 tuổi trở lên có thể tham gia trả lời những câu hỏi nhạy cảm”… Theo kết quả điều tra biến động dân số ngày 1-4-2006 của Tổng cục Thống kê chia nhóm xã hội - dân cư thanh niên thành các tiểu nhóm theo các độ tuổi 15-19, 20-24 và 25-29 Trong nghiên cứu “Xã hội học thanh niên” ( Đặng Cảnh Khanh, 2006), giới hạn độ tuổi

thanh niên được tính từ 15 đến 34

Thanh niên với ý nghĩa là một nhóm hay một lực lượng xã hội đặc thù, trước

hết chúng ta cần hiểu một số khía cạnh cơ bản như sau:

Thứ nhất thanh niên phải được quan niệm như một độ tuổi, một giai đoạn phát triển đặc biệt của đời người

Thứ hai thuật ngữ thanh niên cũng thường được dùng để chỉ một cá thể người đang trong độ tuổi thanh niên.Đồng thời nó cũng được dùng để chỉ một nhóm xã hội, một lớp người hay một lực lượng chính trị xã hội mà điểm cốt yếu nhất là đang trong độ tuổi thanh niên

Với ý nghĩa là một nhóm xã hội, dân cư khái niệm thanh niên được hiểu như

sau: “Thanh niên là một nhóm xã hội – dân cư bao gồm tất cả những thành viên

trong một xã hội cụ thể đang ở trong độ tuổi thanh niên”

Nghiên cứu về “Lối sống của thanh niên xã Bắc Ruộng - Huyện Tánh Linh -

Tỉnh Bình Thuận trong quá trình đô thị hoá”, đề tài chọn độ tuổi từ 16 - 30 làm

Trang 36

nhóm khảo sát một mặt phù hợp với quy định về độ tuổi thanh niên trong Luật

thanh niêncủa Việt Nam và ghi nhận của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí

Minh; mặt khác vì những lý do sau:

• 16 tuổi là độ tuổi cả nam và nữ bước vào tuổi dậy thì, bắt đầu giai đoạn quá

độ để bước vào tuổi người lớn Đây cũng là giai đoạn giáo dục kết hợp với tự giáo dục để mỗi người có thể chủ động tham gia vào các tương tác cá nhân và xã hội

• 16- 30 là nhóm tuổi có thể chuẩn bị hành trang cho mình bằng học vấn, nghề nghiệp, lựa chọn văn hóa và thử nghiệm, quan niệm sống, lối sống trên cơ sở định

hình những hệ giá trị của riêng mình

• Ở nông thôn đây là nhóm đối tượng trong độ tuổi có cơ hội tiếp cận và nhận

sự hỗ trợ từ các chương trình của Đoàn thanh niên và của chính quyền địa phương

• 16 - 30 là nhóm tuổi được sinh ra và trưởng thành trong giai đoạn đất nước hoàn toàn thống nhất

- Văn hóa

Theo UNESCO “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tinh thần, vật chất, tri thức và xúc cảm của mỗi xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng ngoài văn học và nghệ thuật, cả các phong cách sống, các lối chung sống, các hệ thống giá trị, các truyền thống và đức tin”

Để nghiên cứu về lối sống của con người thì phải đặt trong mối liên hệ về văn hóa nhất định Bởi lẽ lối sống là một đơn vị hợp thành của văn hóa Ngược lại, thông qua lối sống của con người mà các thông điệp, chuẩn mực và các giá trị văn

hóa mới được nhận diện và phân tích với những chiều cạnh đầy đủ nhất

- Lối sống

Cho đến nay có rất nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học Việt Nam và nước ngoài về lối sống, dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau.Các nghiên

cứu đã có những đề xuất khác nhau về lối sống

Trong tiếng việt, thông thường thuật ngữ “lối sống” được dùng để mô tả và kèm theo đó là sự đánh giá về một hay một loại hoạt động sống, lối sống nào đó như “lối sống hiện đại”, “lối sống thành thị”, “lối sống nông thôn”, “lối sống lành

Trang 37

mạnh”…Một số thuật ngữ khác gần gũi như “lẽ sống”, “cách sống”, “nếp sống”,

“phong cách sống”, “phương thức sống”…Theo nhà khoa học nước ngoài

Đôbơrianốp thì “Lối sống là sinh hoạt cá nhân, chủ quan hóa của hệ thống những

quan hệ xã hội, của toàn bộ tổng thể những điều kiện sống, thể hiện trong hoạt động của con người”(V Đôbơrianốp, 1985) Daxêpin cho rằng: “Lối sống là tập hợp những hình thức hoạt động của con người trong một thể thống nhất với môi trường hoạt động của xã hội và cá nhân” (dẫn theo Nguyễn Thị Ánh Hồng, 2005)

Một số nhà khoa học Việt Nam định nghĩa: “Lối sống là một phạm trù xã hội học,

khái quát toàn bộ hoạt động sống của dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các

cá nhân trong những điều kiện của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định, và biểu hiện trên các lĩnh vực của đời sống: trong lao động và hưởng thụ, trong quan hệ giữa người với người, trong sinh hoạt tinh thần và văn hóa” (Trần Văn Bính và

cộng sự, 1997) Định nghĩa của nhóm tác giả: “ Lối sống là những cách suy nghĩ,

kỹ năng ứng xử (cách nghĩ, nếp sinh hoạt, thói quen, phong cách học tập, làm việc, giao tiếp, ứng xử…) tạo nên cái riêng của mỗi cá nhân hay một nhóm người nào đó”(Trần Kiều, Vũ Trọng Rỹ, Hà Nhật Thăng và Lưu Thu Thủy, 2001) Khái quát

hơn, lối sống không phải toàn bộ hoạt động sống của con người đều được coi là lối sống mà chỉ những hoạt động sống và phương thức tiến hành hoạt động sống nào lặp đi lặp lại, có tầm ảnh hưởng mạnh và độ phổ biến cao trong đa số cá thể của một nhóm, một cộng đồng người hay trong toàn xã hội thì mới được coi là lối sống

và biểu hiện của lối sống

“Lối sống của con người là các chiều cạnh chủ quan của văn hóa, là quá trình hiện thực hóa các giá trị văn hóa thông qua hoạt động sống của con người Lối sống bao gồm tất cả những hoạt động sống và phương thức tiến hành các hoạt động sống được một bộ phận lớn hoặc toàn thể nhóm hay cộng đồng người chấp nhận và thực hành trong một khoảng thời gian tương đối ổn định, đặt trong mối tương tác biện chứng của các điều kiện sống hiện hữu và trong các mối liên hệ

lịch sử của chúng” ( Phạm Hồng Tung, 2011)

Trang 38

Một khía cạnh khác là lối sống chịu sự quy định của phương thức sản xuất xã hội và toàn bộ những điều kiện sống của con người Tuy nhiên ngoài sản xuất vật chất con người còn có các hoạt động khác như hoạt động chính trị, xã hội, văn hóa, hoạt động sinh hoạt…Như vậy phạm vi của lối sống có thể tương ứng với phạm vi của hình thái kinh tế – xã hội nhất định Hình thái kinh tế - xã hội gắn với hoạt động mọi mặt của con người nhưng nó là hiện thực khách quan độc lập với ý thức

và tình cảm con người Trong khi đó, lối sống lại phản ánh hoạt động của chủ thể như nhận thức, tình cảm, động cơ, hành động xã hội, khuôn mẫu ứng xử, thể chế

xã hội và toàn bộ mối liên hệ giữa chúng cũng như hệ thống vận hành mối liên hệ

đó theo một bảng giá trị xã hội nhất định

Lối sống của con người là kết quả hoạt động và tổ chức của con người trong quá trình thích nghi và biến đổi hoàn cảnh sống mà con người vừa là sản phẩm của hoàn cảnh, vừa là chủ thể sáng tạo ra hoàn cảnh sống của chính nó Tác động của phương thức sản xuất (và những điều kiện sống khác) đối với lối sống bao giờ cũng phải thông qua các hoạt động của chủ thể và mang dấu ấn khúc xạ bởi các chủ thể.Lối sống là biểu hiện của cái xã hội trong cái cá nhân, cho nên nó có tính linh hoạt và cơ động cao Lối sống phản ánh mối liên hệ biện chứng giữa cái phổ biến với cái đặc thù và cái đơn nhất, cho nên nội dung và phạm vi của nó rộng lớn

và đa tầng, đa nghĩa (Huỳnh Khái Vinh, 2011)

- Lối sống thanh niên

Lối sống là những giá trị văn hóa, những mô hình và phương thức ứng xử được đa số cá thể của một cộng đồng người xác định nào đó chấp nhận và hiện thực hóa trong hoạt động sống hàng ngày của họ Trong số đó có cả những giá trị, những truyền thống và những cách ứng xử được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, nhưng cũng bao gồm cả những giá trị ngoại sinh, cách ứng xử và những biểu

tượng ngoại nhập

Khi nghiên cứu về lối sống của thanh niên Việt Nam trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế như hiện nay cần chú ý đến những tác động và ảnh hưởng của những giá trị văn hóa, phương thức ứng xử truyền thống

Trang 39

đối với các nhóm thanh niên Đặc biệt là ảnh hưởng của các giá trị và phương thức ứng xử văn hóa từ bên ngoài đối với các nhóm thanh niên Đồng thời, cần phải đặt tất cả những khảo sát và phân tích đó trong mối liên hệ ba chiều: chiều dọc nhằm khám phá tác động của những yếu tố đó và sự hiện thực hóa các tác động đó trong từng tiểu nhóm thanh niên Việt Nam được phân chia theo độ tuổi; chiều phẳng ngang nhằm tiếp cận và khám phá tác động của các yếu tố văn hóa truyền thống và các yếu tố hiện đại đối với mỗi tiểu nhóm thanh niên chia theo địa bàn cư trú, nghề nghiệp, sắc tộc hay tôn giáo; chiều sâu nhằm khám phá mối liên hệ giữa những biến đổi của hệ giá trị văn hóa với những biến đổi bề mặt của lối ứng xử, của lối phục trang, ngôn ngữ… của thanh niên Trên cơ sở của ba cách tiếp cận đó sẽ cho phép nhận diện và đánh giá xu hướng và mức độ biến đổi lối sống của thanh niên Việt Nam nói chung và thanh niên nông thôn nói riêng trong bối cảnh công nghiệp

hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế như hiện nay

Do giới hạn của đề tài, lối sống trong đề tài được hiểu là những thay đổi, thích nghi, những quan niệm, mong muốn, thái độ ứng xử, tiếp thu trong các hoạt động sống hàng ngày của thanh niên tại một địa bàn nông thôn đang có sự tác động của quá trình đô thị hóa Như vậy, lối sống được biểu hiện qua các vấn đề về lao động sản xuất, học tập, vui chơi giải trí, ý thức sống,giao tiếp và các quan niệm sống liên quan đến gia đình, hôn nhân Trong đó:

Lao động sản xuất: bao gồm nhận định về việc làm và quá trình thích ứng trong công việc của thanh niên, về thu nhập, những thuận lợi và khó khăn trong công việc và học nghề của thanh niên

Hoạt động học tập: là hành vi sống, ứng xử trong môi trường học tập và mong muốn trong học tập hướng nghiệp

Vui chơi giải trí: trong luận văn này được hiểu làviệc thanh niên tiếp thuvà lựa chọn các hình thứcvui chơi giải trí trong thời gian rỗi như đi du lịch, chơi thể thao, đi uống cà phê với bạn bè, nghe đài, xem ti vi, đọc sách, báo, truy cập

internet, gặp gỡ, giao lưu với nhiều bạn bè đồng nghiệp,

Trang 40

Ý thức sống:được thể hiện trong các hoạt động như tham gia giao thông, cờ bạc, đánh nhau, gây rối trật tự công cộng,…

Lĩnh vực giao tiếp: bao gồm thái độ, ứng xử với cha mẹ và với bà con, dòng

có tên là tốc độ đô thị hóa

Theo tác giả Bernd Hamm, khái niệm đô thị hóa được dùng theo 3 nghĩa thứ nhất là sự tăng trưởng quá mức trung bình số những người dân sống ở đô thị so với toàn bộ dân cư ở một nước hay một lục địa Thứ hai là sự tăng trưởng về dân cư và/hoặc diện tích của từng thành phố riêng Thứ ba là sự mở rộng văn hóa và lối

sang các xã hội đô thị - công nghiệp và thị dân (Đình Quang, 2005)

Theo John J Macionis, trong cuốn sách giáo khoa Sociology xuất bản tại Mỹ năm 1980, cho rằng: “Đô thị hóa không chỉ thay đổi sự phân bố dân cư trong xã

hội mà còn chuyển thể (transform) nhiều kiểu mẫu (patterns) của đời sống xã hội”

Ngày đăng: 26/04/2021, 23:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Cát Chí Hoa (2009), Từ nông thôn mới đến đất nước mới, NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ nông thôn mới đến đất nước mới
Tác giả: Cát Chí Hoa
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2009
3. Chu Hữu Quý (2011), Con đường công nghiệp hoá – hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường công nghiệp hoá – hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn
Tác giả: Chu Hữu Quý
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
5. Đình Quang (2005), Đời sống văn hóa đô thị và khu công nghiệp Việt Nam, NXB.VHTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống văn hóa đô thị và khu công nghiệp Việt Nam
Tác giả: Đình Quang
Nhà XB: NXB.VHTT Hà Nội
Năm: 2005
6. Đặng Cảnh Khanh(2006), Xã hội học thanh niên, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học thanh niên
Tác giả: Đặng Cảnh Khanh
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
7. Đinh Thị Vân Chi (2003), Nhu cầu giải trí của thanh niên hiện nay, NXB Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu giải trí của thanh niên hiện nay
Tác giả: Đinh Thị Vân Chi
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 2003
8. Huỳnh Khái Vinh (chủ biên)(2011), Một số vấn đề về lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội, NXB Chính trị Quốc Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội
Tác giả: Huỳnh Khái Vinh (chủ biên)
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc Hà Nội
Năm: 2011
9. G.Endruweit và G. Trommsdorff (2002), Từ điển Xã hội học, NXB Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Xã hội học
Tác giả: G.Endruweit và G. Trommsdorff
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2002
10. John J.Macionis (2004), Xã hội học, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học
Tác giả: John J.Macionis
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2004
11. Lê Ngọc Hùng (2002), Lịch sử và lý thuyết xã hội học, NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử và lý thuyết xã hội học
Tác giả: Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2002
12. Lê Ngọc Văn (2011), Gia đình và biến đổi gia đình ở Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình và biến đổi gia đình ở Việt Nam
Tác giả: Lê Ngọc Văn
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2011
13. Mai Huy Bích(2009), Giáo trình xã hội học gia đình, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình xã hội học gia đình
Tác giả: Mai Huy Bích
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2009
14. Nguyễn Ngọc Long – Nguyễn Hữu Vui đồng chủ biên (2007), Giáo trình Triết học Mác – Lênin, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội.15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Triết học Mác – Lênin
Tác giả: Nguyễn Ngọc Long – Nguyễn Hữu Vui đồng chủ biên
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội. 15
Năm: 2007
16. Nguyễn Hữu Dũng, Giải quyết vấn đề lao động và việc làm trong quá trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, Tạp chí Lý luận chính trị, số 8/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết vấn đề lao động và việc làm trong quá trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
17. Nguyễn Sinh Cúc, Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động nông thôn, Tạp chí Lý luận chính trị, số 9/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động nông thôn
18. Nguyễn Thị Oanh (2001), Thanh niên-Lối sống, NXB trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh niên-Lối sống
Tác giả: Nguyễn Thị Oanh
Nhà XB: NXB trẻ
Năm: 2001
19. Phạm Tất Dong – TS. Lê Ngọc Hùng (Đồng chủ biên) Phạm Văn Quyết – Nguyễn Quý Thanh – Hoàng Bá Thịnh (2001), Xã hội học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học
Tác giả: Phạm Tất Dong – TS. Lê Ngọc Hùng (Đồng chủ biên) Phạm Văn Quyết – Nguyễn Quý Thanh – Hoàng Bá Thịnh
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
20. Phạm Hồng Tung (2011), Thanh niên và lối sống của thanh niênViệt Nam trong quá trình đổi và hội nhập quốc tế, NXB Chính trị Quốc gia sự thật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh niên và lối sống của thanh niênViệt Nam trong quá trình đổi và hội nhập quốc tế
Tác giả: Phạm Hồng Tung
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia sự thật Hà Nội
Năm: 2011
21. Phạm Văn Quyết – Nguyễn Quý Thanh (2001), Phương pháp nghiên cứu xã hội học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu xã hội học
Tác giả: Phạm Văn Quyết – Nguyễn Quý Thanh
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
22. Trần Hữu Quang (2010), Tập tài liệu Xã hội học pháp quyền, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập tài liệu Xã hội học pháp quyền
Tác giả: Trần Hữu Quang
Năm: 2010
23. Thanh niên Việt Nam: Tóm tắt một số chỉ số thống kê từ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009. Hà Nội, tháng 5 năm 2011.(059(1)325.11 TH107N K1 wa48245) có thể tham khảo tại:http://Vietnam.unfpa.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tóm tắt một số chỉ số thống kê từ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w