B GIÁO D C VÀ ÀO T O Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐÀO TẠO ẠOTR ƯỜNG ĐẠI HỌC VINH NG ĐẠI HỌC VINH I H C VINH ỌC VINH ---L£ THÞ H¶O GIỮ GÌN, PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN TH
Trang 1B GIÁO D C VÀ ÀO T O Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐÀO TẠO ẠO
TR ƯỜNG ĐẠI HỌC VINH NG ĐẠI HỌC VINH I H C VINH ỌC VINH
-L£ THÞ H¶O
GIỮ GÌN, PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA
TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC THÁI Ở HUYỆN
QÙY CHÂU, TỈNH NGHỆ AN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành: LL VÀ PPDH BỘ MÔN GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
M· sè: 60.14.10
LuËn v¨n th¹c sÜ khoa häc gi¸o dôc
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS GVCC §oµn Minh DuÖ
NghÖ An - 2013
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo,
cô giáo trong khoa Giáo dục Chính trị - Trường Đại học Vinh đã nhiệt tìnhgiúp đỡ, góp ý kiến
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS.GVCC
Đoàn Minh Duệ, người trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn cán bộ Ban dân tộc và miền núi tỉnh Nghệ An,phòng Văn hóa huyện Qùy Châu, Bảo tàng văn hóa huyện Qùy Châu, PhòngThống Kê huyện Qùy Châu, UBND xã Châu Tiến, Châu Hạnh, Châu Thuận.Cảm ơn sự cộng tác giúp đỡ của ông Lữ Khắc Bằng, ông Lê Trung Chính, bàLương Thị Thấu, bà Sầm Thị Bích
Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, anh chị, bạn bè đồng nghiệp đãkhích lệ, động viên tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Mặc dù cố gắng nhưng do năng lực nghiên cứu, nguồn tài liệu hạn chếnên chắc chắn luận văn không tránh khỏi những thiếu sót cần bổ sung, rấtmong nhận được sự đóng góp ý kiến chân thành của quý thầy cô và bạn đọc
Nghệ An, tháng 10 năm 2013
Tác giả
Lê Thị Hảo
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 4MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 5
B NỘI DUNG 11 Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIỮ GÌN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC THÁI 11
1.1 Một số khái niệm 111.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến các giá trị văn hóa truyền thống trong bốicảnh hiện nay 191.3 Tầm quan trọng của việc giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa truyềnthống của dân tộc Thái trong giai đoạn hiện nay 231.4 Đặc trưng văn hóa của dân tộc Thái 26
Chương 2 THỰC TRẠNG CỦA VIỆC GIỮ GÌN, PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC THÁI Ở HUYỆN QUỲ CHÂU, TỈNH NGHỆ AN 33
2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên- xã hội huyện Qùy Châu, tỉnh Nghệ An332.2 Một số giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Thái ở huyện Qùy Châu,tỉnh Nghệ An 412.3 Thực trạng giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộcThái ở huyện Qùy Châu, tỉnh Nghệ An 65
Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM GIỮ GÌN, PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC THÁI Ở HUYỆN QUỲ CHÂU, TỈNH NGHỆ AN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 82
3.1 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính sách của Nhà nước vềgiữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc 823.2 Một số giải pháp nhằm giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thốngcủa dân tộc Thái ở huyện Qùy Châu, tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay89
C KẾT LUẬN 100
D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
E PHỤ LỤC
Trang 5A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, việc phát triển kinh tế, văn hóa, xãhội phải luôn đi kèm với việc xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắcdân tộc Sở dĩ cần phải như vậy là vì nhằm để nước ta phát triển, không tụthậu so với thế giới, nhưng mặt khác là để không bị mất đi những giá trị đíchthực của văn hóa truyền thống
Với mục tiêu xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hoádân tộc, một vấn đề rất quan trọng đặt ra là giữ bản sắc văn hoá dân tộc tronghội nhập quốc tế Một bài học đắt giá của một số quốc gia trên thế giới trongquá trình hội nhập là không giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa vấn đề bảo
vệ các giá trị văn hóa truyền thống và tiếp thu các giá trị văn hóa mới Làquốc gia đi sau nhằm hòa chung trong không khí hòa nhập đó chúng ta phảinhìn nhận đúng đắn để có bước đi phù hợp, vừa hợp với xu thế vừa hợp vớicác điều kiện của quốc gia, dân tộc Chúng ta hội nhập nhưng không phảibằng mọi giá
Nước ta có 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc có nét truyền thống văn hoáriêng tạo nên nền văn Việt Nam đa dạng, phong phú, như Báo cáo Chính trịcủa Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
IV đã khẳng định nền văn hóa mới của nước ta: “Nền văn hóa ấy là sự kếthợp hài hòa những tinh hoa văn hóa có phong cách riêng của các dân tộc anh
em trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam” [3; 63]
Vấn đề dân tộc và các chính sách về dân tộc luôn được Đảng và Nhànước ta quan tâm, thực hiện nhằm thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc Đảng và Nhà nước ta khẳng định: Giải quyết vấn đề dân tộc
là nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam Từ đó đã hoạch định vànhất quán thực hiện đường lối theo nguyên tắc: bình đẳng, đoàn kết, tương trợ
và giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển
Trang 6Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở thì đến 2009 dân tộc Thái
có dân số 1.550.423 người, là dân tộc có dân số đứng thứ 3 tại Việt Nam.Trong đó, ở Nghệ An có 295.132 người, chiếm 10,1 % dân số toàn tỉnh và19,0 % tổng số người Thái tại Việt Nam chỉ đứng sau Sơn La là 572.441người, chiếm 36,9 % tổng số người Thái tại Việt Nam
Qùy Châu là huyện miền núi nằm ở Tây Bắc Nghệ An, với dân số53.910 người (2010), là một trong những nơi tụ cư chính và được coi là cáinôi của đồng bào Thái ở Tây Bắc Nghệ An Qùy Châu có 2 dân tộc sinh sốngchủ yếu là người Thái chiếm 74,43% dân số và người Kinh chiếm 25,27%dân số Là một huyện có truyền thống cách mạng lâu đời, suốt quá trình hìnhthành và phát triển của dân tộc, lịch sử đã chứng minh rằng chúng ta khôngthể phủ nhận công lao to lớn của đồng bào dân tộc Thái nơi đây
Cùng với xu hướng phát triển chung của đất nước, đồng bào dân tộcThái ở huyện Qùy Châu cũng có nhiều bước chuyển trên mọi mặt của đờisống, song không phải vì thế mà ý thức về vấn đề bản sắc của dân tộc mất đi,ngược lại họ luôn biết giữ gìn phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp củadân tộc mình và loại bỏ những yếu tố cổ hủ, lạc hậu, không phù hợp với hoàncảnh mới, đồng thời không ngừng giao lưu, tiếp thu tinh hoa văn hóa của cácdân tộc khác, làm phong phú thêm bản sắc của mình
Mặt khác, tự thân quá trình hội nhập cũng tạo ra nhiều thách đố Nhàngôn ngữ học Hoàng Tuệ nhận định rằng: Ở Việt Nam, vấn đề nổi bật hiệnnay không phải là sự tranh giành lãnh thổ hay xung khắc tôn giáo mà điềuhết sức quan trọng với Việt Nam là sự phát triển đời sống văn hóa- xã hội củacác dân tộc thiểu số, hay nhà nghiên cứu Lê Giáo Sỹ nhận định: “Ngôn ngữcác dân tộc thiểu số đang mất đi hàng ngày trước mắt chúng ta, mà điều cònnguy hại hơn, đáng tiếc hơn, rất nhiều ngôn ngữ nay chưa hề được nghiêncứu”[29; 88]
Trang 7Là một người con của dân tộc Thái Qùy Châu, tôi tự thấy mình phải cótrách nhiệm nghiên cứu và tìm ra các giải pháp để bảo tồn, phát huy các giá trị
văn hóa truyền thống của dân tộc mình Vì vậy, tôi chọn vấn đề “Giữ gìn,
phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Thái ở huyện Qùy Châu, tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài luận văn tốt cao
học thạc sỹ
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Là dân tộc có dân số đông thứ 3 trong 54 dân tộc anh em của đất nướcViệt Nam và dân tộc Thái có nhiều đặc trưng văn hóa, vì vậy đã thu hút đượcnhiều người nghiên cứu Có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều cuốn sách,báo, tạp chí đã viết về người Thái trên đất nước Việt Nam nói chung như:
Các dân tộc ít người ở Việt Nam (1978), Viện dân tộc học Việt Nam; Đặng Nghiêm Vạn (1997), Tư liệu về lịch sử và xã hội dân tộc Thái; Lê Ngọc Thắng (1990), Nghệ thuật trang phục người Thái, Nxb Văn hóa dân tộc; Cầm Trọng và Phan Hữu Dật (1995), Văn hóa Thái Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc; Cầm Trọng (1998), Văn hóa và lịch sử người Thái ở Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc; Ngô Đức Thịnh, Cầm Trọng (2003), Luật tục Thái ở Việt Nam,
Nxb Văn hóa dân tộc, Các công trình nghiên cứu trên ở nhiều góc độ khácnhau, giúp chúng ta hiểu về phong tục tập quán, nguồn gốc, lịch sử, hình tháikinh tế của người Thái
Trên địa bàn tỉnh Nghệ An đã có nhiều công trình, bài viết nghiên cứu
về dân tộc Thái: Nguyễn Đình Lộc (1993), Các dân tộc thiểu số ở Nghệ An, Nxb Nghệ An; Vi Văn An, Góp phần tìm hiểu hai nhóm Thái Đen và Thái Trắng ở miền Tây Nghệ An, Tạp chí Dân tộc học, số 4/2001; Trần Trí Dõi- M.Ferlus (2004), Giới thiệu về chữ Lai Pao của người Thái Tương Dương, Nghệ An, Nxb Nghệ An; Nguyễn Xuân Dung và Hồ Ngọc Thuyết (2001), Vài nét về đặc điểm đời sống văn hóa dân tộc Thái ở Nghệ An, Nxb Nghệ An; PGS.TS Đoàn Minh Duệ, Nguyễn Thị Minh (2009), Giữ gìn và phát huy giá
Trang 8trị văn hóa truyền thống của dân tộc Thái ở xã Cà Tạ, Kỳ Sơn, Nghệ An, Nxb Nghệ An; Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An (2002), Phát triển bền vững miền núi Nghệ An, Nxb Nông nghiệp; Quán Vi Miên (2011), Văn hóa Thái Nghệ
An, Nxb Lao Động Các công trình vừa nêu ở trên đã có đóng góp to lớn, giúp
cho chúng tôi hiểu sâu hơn về thực trạng các giá trị truyền thống văn hóa dântộc Thái nói chung và ở địa bàn huyện Qùy Châu nói riêng
Riêng ở huyện Qùy Châu cũng có nhiều công trình nghiên cứu liên
quan đến dân tộc Thái nói chung và văn hóa người Thái như: Lịch sử Đảng
bộ huyện Qùy Châu, Nxb Nghệ An, 2009; Đậu Tuấn Nam, Hệ thống các phi của người Thái ở Quỳ Châu, Nghệ An, Tạp chí Dân tộc học, số 16/2003; Nguyễn Thị Nuôi (2009), Đời sống văn hoá vật chất của người Thái ở huyện Quỳ Châu (Nghệ An), Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Đại học Vinh; Nguyễn Văn Mạnh (1990), Vài nét về tôn giáo tín ngưỡng của người Thái ở Quỳ Châu, Nghệ Tĩnh; Trần Văn Thức (2011), Địa chí huyện Qùy Châu tỉnh Nghệ An, Nxb Khoa học xã hội Đây là những nguồn tài liệu
có ý nghĩa dưới nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau về đời sống của đồngbào Thái ở huyện Qùy Châu, tỉnh Nghệ An Về cơ bản những công trình đãnêu tập trung nghiên cứu đời sống văn hóa của đồng bào Thái Do vậy, báocáo khoa học của đề tài một lần nữa hệ thống lại các giá trị văn hóa của ngườiThái ở Qùy Châu qua sự biến thiên của lịch sử trên cơ sở đó đề xuất giảinhằm giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Thái ở huyệnQùy Châu, tỉnh Nghệ An trong giai đoạn CNH, HĐH
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu một số truyền thống văn hóa và sự chuyển biến trong giaiđoạn hiện nay từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy các giátrị văn hóa của dân tộc ở huyện Qùy Châu, tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiệnnay
Trang 93.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Đưa ra cơ sở lý luận về giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa truyềnthống của dân tộc nói chung, dân tộc Thái nói riêng
- Khảo sát thực trạng về giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống củadân tộc Thái tại huyện Qùy Châu, tỉnh Nghệ An
- Đề xuất một số giải pháp nhằm giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóatruyền thống của dân tộc Thái ở huyện Qùy Châu, tỉnh Nghệ An trong giaiđoạn hiện nay
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Một số truyền thống văn hóa của dân tộc Thái ở huyện Qùy Châu, tỉnhNghệ An qua sự biến thiên của lịch sử
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu các giá trị văn hóa dân tộc Thái trên địa bànhuyện Qùy Châu, tỉnh Nghệ An như các phong tục cưới xin, lễ hội, chữ LaiTay
5 Phương pháp nghiên cứu
Ngoài phương pháp luận chủ nghĩa Mác- Lênin đề tài sử dụng một sốphương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
- Phương pháp lịch sử và logic
- Phương pháp mô tả, giải thích
- Phương pháp điều tra, phỏng vấn
- Phương pháp phân tích tổng hợp, so sánh
- Phương pháp quan sát, thu thập thông tin
6 Giả thuyết khoa học
Nếu các giải pháp mang tính khoa học và được áp dụng rộng rãi, thìnhững giá tri văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Thái ở huyện QùyChâu, tỉnh Nghệ An sẽ được giữ gìn và phát huy, góp phần vào việc làm chodân tộc Thái ở huyện Qùy Châu ngày càng hội nhập và phát triển
Trang 107 Đóng góp của luận văn
- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo chođộc giả, các bạn học viên, sinh viên chuyên ngành Chính trị
- Đề tài có ý nghĩa giáo dục lòng tự hào dân tộc, giữ gìn và phát huygiá trị truyền thống văn hóa của dân tộc, thấy được trách nhiệm của bản thânđối với những giá trị văn hóa đó
8 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụlục, nội dung của đề tài gồm 03 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận của việc giữ gìn, phát huy giá trị văn hóatruyền thống của dân tộc Thái
Chương 2 Thực trạng của việc giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóatruyền thống của dân tộc Thái ở huyện Qùy Châu, tỉnh Nghệ An
Chương 3 Quan điểm và một số giải pháp nhằm giữ gìn, phát huy cácgiá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Thái ở huyện Qùy Châu, tỉnh Nghệ
An trong giai đoạn hiện nay
Trang 11B NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIỮ GÌN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC THÁI 1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Văn hóa
Văn hoá là một khái niệm quen thuộc, nó gắn với tất cả các hình thứccộng đồng, tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội vì vậy mà trên thế giới hiệnnay có nhiều khái niệm về văn hoá được đưa ra Tuy nhiên về cơ bản đềuthống nhất coi văn hoá là những gì mà con người sáng tạo ra để hình thànhcác giá trị, các chuần mực xã hội trong quá trình lao động, trong hoạt độngthực tiễn Các giá trị chuần mực đó nó chi phối tất cả đời sống tâm lý, hành viđạo đức và các hoạt động thực tiễn diễn ra trong cuộc sống của con người
Tại lễ phát động Thập niên quốc tế phát triển văn hoá tại Pháp
(21/1/1998), Tổng Thư ký UNESCO đưa ra định nghĩa: Văn hoá phản ánh vàthể hiện một cách tổng quát, sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cánhân và cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ, cũng như đang diễn ra tronghiện tại, qua nhiều thế kỷ, nó đã cấu thành một hệ thống các giá trị, truyềnthống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa vào đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắcriêng của mình Quan điểm văn hoá của UNESSCO khẳng định, văn hoá có từlâu đời, xuyên suốt trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, chi phối,điều tiết xã hội loài người và là yếu tố đặc trưng là giá trị để phân biệt giữacác dân tộc khác nhau
Trong Tiếng Việt, văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ họcthức, lối sống Theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ phát triển của một giaiđoạn Trong khi theo nghĩa rộng, thì văn hóa bao gồm tất cả, từ những sảnphẩm tinh vi, hiện đại, cho đến tín ngưỡng, phong tục, lối sống
Trang 12Trong Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, do Nxb Đà Nẵng vàTrung tâm Từ điển học xuất bản năm 2004 đã khái quát khái niệm văn hóa rấttổng quát: Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần docon người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử.
Theo cách hiểu trên ta thấy rằng, văn hóa mang tính khái quát cao,mang tầm rộng lớn bao gồm mọi mặt của xã hội từ học vấn, văn minh, lịch
sử, khoa học…
Trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Trần Ngọc Thêm chorằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do conngười sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tácgiữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [33; 25]
Tác giả Lê Văn Hòa, trong nghiên cứu của mình đã khẳng định: “Vănhoá là khái niệm dùng để chỉ tổng thể những năng lực bản chất người trong tất
cả các dạng hoạt động của họ là tổng thể các hệ thống giá trị - cả giá trị vậtchất và giá trị tinh thần do con người sáng tạo ra trong hoạt động thực tiễn vàlịch sử xã hội của mình” [15; 13-14]
Điểm chung của các khái niệm trên đều khẳng định rằng văn hóa làhoạt động của con người nói chung trên hai lĩnh vực vật chất và tinh thần vàtạo ra các giá trị trên hai lĩnh vực đó Có nghĩa là văn hóa không chỉ là nhữngvật thể cụ thể hiện diện trước mắt con người như đền đài miếu vũ, lăng tẩm,thành quách, các tác phẩm nghệ thuật, ngôn ngữ, hàm chứa giá trị vật chất màcòn có cả những giá trị tinh thần vượt thời gian và không gian Con ngườihoạt động trong môi trường tự nhiên và xã hội với trí thông minh và đầu ócsáng tạo, đối cảnh sinh tình cho nên đã tạo ra được các công trình văn hóanhư văn học, nghệ thuật, hình thái cuộc sống, lối ứng xử, và đạo đức luân lýcủa con người
Trong cuốn sách Văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng Việt Nam dưới nhãnquan học giả L Cadiere, Giáo sư Đỗ Trinh Huệ cho biết, văn hóa là một khái
Trang 13niệm rộng, khó có thể đưa ra một khái niệm rõ ràng trong một định nghĩa trọnvẹn Cũng không thể dùng lối chiết tự như có người đã từng làm, dù dựa trên
cơ sở ngôn ngữ nào, dù dựa trên khái niệm phương Đông hay phương Tây, La
Mã hay Hy Lạp, Trung Hoa hay Ấn Độ… Có điều ai cũng cảm nhận đượcvăn hóa của dân tộc mình, của cộng đồng mình đang chung sống và của mình.Giáo sư Đỗ Trinh Huệ trích dẫn một định nghĩa được nhiều người quan tâm,bởi thấy nó quen thuộc, cho dù đọc nó lần đầu, tự nó như là một dạng thứccảm nhận: “Văn hóa như là “một toàn bộ phức tạp: nghệ thuật, luân lý, lề luật,phong tục và tất cả các khuynh hướng cũng như tập quán mà con người xétnhư là một thành phần xã hội đã tiếp nhận được” (E.Tylor, 1871) Ý chúng tôimuốn thêm là còn dự phóng cho tương lai Bởi lẽ, văn hóa không tĩnh màluôn động, giao thoa và chuyển biến.” [16; 78]
Từ những quan điểm trên, chúng ta có thể hiểu khái niệm văn hóa ở bacấp độ khác nhau:
- Văn hóa được coi là văn học nghệ thuật
- Văn hóa là lối sống bao gồm ngôn ngữ giao tiếp, ẩm thực, cách cư xử,đạo đức, truyền thống, đức tin… tức là giá trị tinh thần của một nhóm ngườihay của một dân tộc, một xã hội
- Văn hóa là tất cả những giá trị vật chất và tinh thần do con người sángtạo ra để phục vụ sự tồn tại và phát triển của con người
Có thể nói tất cả mọi hoạt động liên quan đến con người đều mang trong
đó gọi là văn hoá vì suy cho cùng thì mọi hoạt động chỉ có thể là hoạt độngvật chất hoặc là hoạt động tinh thần mà thôi Theo đó, chúng ta có thể phân rahoạt động văn hoá bao gồm hai lĩnh vực: văn hoá vật chất và văn hoá tinhthần Tuy nhiên, sự phân chia này chỉ mang tính tương đối Bởi vì chúng tồntại đan xen lẫn nhau, hoà quyện nhau, văn hoá vật chất là sự vật chất hoá cácgiá trị tinh thần và các giá trị văn hoá tinh thần không phải là nó chỉ tồn tạidưới dạng tinh thần thuần tuý mà nó được vật thể hoá dưới dạng vật chất
Trang 141.1.2 Giá trị văn hóa
Mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hoá riêng, bản sắc văn hoá thể hiện tậptrung ở truyền thống văn hoá và mỗi một nền văn hoá đều có những giá trịriêng của nó
Giá trị văn hoá : “là cái dùng để căn cứ vào đó mà xem xét, đánh giá,
so sánh nền văn hoá của dân tộc này với nền văn hoá của dân tộc khác, là cái
để xác định bản sắc văn hoá của một dân tộc, những nét đặc thù về truyềnthống, phong tục, tập quán, lối sống của một dân tộc trên nền tảng các giá trị
chân, thiện, ích, mỹ” [29; 19].
Mỗi dân tộc có những tiêu chuẩn giá trị văn hóa riêng của cộng đồng
đó mặc dù mục đích cuối cùng đều hướng tới một mục đích đó là các giá trị:chân- thiện- ích- mỹ, hướng tới sự hoàn thiện của các cá nhân, của cả cộngđồng Giá trị văn hóa là cái mà chúng ta có thể xem như là “mật mã di truyền
xã hội”, là cái cốt lõi, là những giá trị tiêu biểu của tất cả các thành viên sốngtrong cộng đồng đó được tích tích lũy qua quá trình hoạt động của họ Quátrình hoạt động ấy đã tạo nên những bản sắc riêng của cộng đồng đó
Không phải tất cả mọi yếu tố, sản phẩm của hoạt động cộng đồng, dântộc đều trở thành giá trị văn hóa, mà giá trị đó chỉ định hình trong một giaiđoạn đỉnh điểm của sự phát triển và đồng thời vì giá trị văn hóa ngoài tính dântộc thì nó còn bị tác động bởi tính lịch sử, tính nhân loại chi phối: “Văn hóaphát triển như một dòng sông chảy liên tục Trên lịch trình phát triển đó cónhững thời kỳ sôi động và một thời kỳ trong đó những giá trị tiêu biểu củadân tộc được định hình, hoặc là tư tưởng hoặc là văn học nghệ thuật phát triểnđến mức điển phạm: văn hóa dân tộc tìm ra hướng đi vững chắc cho tương lai.Đặc sắc văn hóa dân tộc hình thành, bộc lộ chính ở thời kỳ đó Càng về sau,
sự giao lưu văn hóa giữa các dân tộc càng thường xuyên, càng nhiều mặt Chođến thời cận đại, văn hóa phát triển có quy mô thế giới, văn hóa các dân tộcthâm nhập vào nhau Cho nên tìm dáng vẻ dân tộc trong văn hóa hiện đại
Trang 15không những là khó, và đồng thời ở một số mặt nào đó nhiều khi sắc thái dântộc không phải là cái nên đặc biệt hoan nghênh” [17; 150] Vì vậy, chúng tacần phải nhìn nhận, đánh giá các giá trị nói chung và giá trị văn hóa nói riêngđứng trên quan điểm duy vật biện chứng, vận động, phát triển.
1.1.3 Truyền thống
Nói đến truyền thống là chúng ta hình dung tính bề dày của khái niệm
đó Truyền thống mang tính xuyên suốt trong lịch sử Truyền thống tồn tạitrên tất cả các lĩnh vực: đạo đức, văn hoá, giáo dục,…Truyền thống tác độngmạnh mẽ tới sự phát triển của xã hội
Truyền thống theo tiếng Ấn- Âu là “tradion”, bắt nguồn từ tiếng Latinh
“tradere”, tradion có nghĩa là trao truyền, truyền đạt, luân chuyển, mang lại,trao lại
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Truyền thống là thói quen hình thành đã lâuđời trong lối sống và nếp nghĩ, được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác”[37; 1017]
Theo Từ điển Bách khoa Xô- Viết: “Truyền thống là những yếu tố của
di tồn văn hoá, xã hội, giai cấp và nhóm xã hội trong một quá trình lâu dài.Truyền thống được thể hiện trong chế định xã hội, chuẩn mực hạnh vi, các giátrị, tư tưởng, phong tục, tập quán và lối sống… Truyền thống tác động khốngchế đến mọi xã hội và tất cả mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội” [35; 1339]
Giáo sư Trần Văn Giàu cho rằng: “Truyền thống là những đức tính haynhững thói tục kéo dài nhiều thế hệ, nhiều thời kỳ lịch sử và hiện có nhiều tácdụng, tác dụng đó có thể tích cực, cũng có thể tiêu cực” [14; 50]
Giáo sư Trần Quốc Vượng lại khẳng định: “Truyền thống như là một
hệ thống tính cách, các thế ứng xử của một tập thể (một cộng đồng), đượchình thành trong lịch sử, trong một môi trường tự nhiên và nhân văn nhấtđịnh, trở nên ổn định, có thể định chế hoá bằng luật hay bằng lệ và được trao
Trang 16truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, để đảm bảo tính đồng nhất của mộtcộng đồng” [43; 28-29].
Giáo sư Vũ Khiêu nhấn mạnh: “Truyền thống là những thói quen lâuđời, đã được hình thành trong nếp sống, nếp suy nghĩ và hành động của dân
tộc ta” [19; 67].
Như vậy, từ những quan điểm trên chúng ta có thể khái quát: Truyềnthống là những yếu tố của di tồn văn hoá, xã hội thể hiện trong chuẩn mựchành vi, tư tưởng, phong tục tập quán, thói quen lối sống và cách ứng xử củacộng đồng người được hình thành trong lịch sử và đã trở nên ổn định, đượctruyền từ đời này sang đời khác và được lưu giữ lâu dài
Lịch sử cho thấy rằng truyền thống mang trong bản thân nó tính hai mặt rõ
rệt: Một là: truyền thống góp phần suy tôn, giữ gìn những giá trị quý giá, là cốt
cách, là nền tảng cho sự phát triển, cho sự vận động đi lên của cộng đồng dântộc Xét từ mặt này thì truyền thống mang ý nghĩa tích cực, góp phần tạo nênsức mạnh, là chỗ dựa không thể thiếu của dân tộc trên đường đi tới tương lai.Nhờ có truyền thống, con người lưu giữ, bảo tồn những thành tựu đã đạt đượccủa người đi trước, rút ngắn được thời gian, không phải mò mẫm từ đầu
Hai là: truyền thống đồng thời cũng còn là mảnh đất hết sức thuận lợi cho
sự dung dưỡng, duy trì và làm sống lại mặt bảo thủ, lạc hậu, lỗi thời khi màđiều kiện và hoàn cảnh lịch sử đã thay đổi Mặt này thể hiện trong tính chất ổnđịnh, bền vững, vì vậy nó tính bảo thủ và có sức ỳ lớn Mặt thứ hai này có tácdụng không nhỏ trong việc kìm hãm, níu kéo, làm chậm sự phát triển của mộtquốc gia, dân tộc nào đó, nhất là khi quốc gia, dân tộc này hạn chế giao lưuhoặc thi hành chính sách đóng cửa với thế giới bên ngoài vì các lý do khácnhau V.I.Lênin đã chỉ rõ: “Quá khứ níu chúng ta lại, nắm chặt lấy chúng tabằng trăm ngàn cánh tay và ngăn cản bước tiến của chúng ta hay buộc chúng taphải bước những bước chệch choạc như ngày nay chúng ta đang bước vậy”[20; 182]
Trang 171.1.4 Văn hóa truyền thống
Mỗi dân tộc dù ở trình độ văn minh cao hay thấp, dù đã phát triển hayđang phát triển thì cũng đều có những truyền thống đặc trưng của riêng mình
và do đó có hệ thống giá trị văn hoá truyền thống riêng của mình Hệ thốnggiá trị đó chính là sự kết tinh tất cả những gì tốt đẹp nhất qua các thời đại lịch
sử khác nhau của dân tộc để làm nên bản sắc riêng Nó được truyền lại chothế hệ sau và cùng với thời gian và sự biến thiên của lịch sử sẽ được bổ sungbằng các giá trị mới
Theo Giáo sư Trần Văn Giàu: “Giá trị truyền thống được biểu hiện lànhững cái tốt, bởi vì những cái tốt mới được gọi là giá trị Thậm chí khôngphải bất cứ cái gì tốt đều được gọi là giá trị; mà phải là cái tốt cơ bản, phổbiến có nhiều tác dụng tích cực cho đạo đức, cho sự hướng dẫn nhận định,đánh giá và dẫn dắt hành động của một dân tộc thì mới mang đầy đủ ý nghĩa
của khái niệm “giá trị truyền thống” [14; 132].
Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Truyền thống văn hoá là những giá trị
tương đối ổn định (những kinh nghiệm tập thể) thể hiện dưới những khuônmẫu xã hội được tích luỹ và tái tạo trong cộng đồng người qua không gian vàđược cố định hoá dưới những phong tục tập quán, nghi lễ, luật pháp, dư
luận…” [33; 133].
Định nghĩa khác về truyền thống văn hoá: “Nền văn hoá được truyềnlại được gọi là truyền thống văn hoá Như vậy, nó phản ánh được những thànhtựu con người tích tập được trong quá trình tìm hiểu, thực hiện và truyền bá ýnghĩa sâu lắng nhất của cuộc sống Đó chính là truyền thống theo nghĩa hàihoà của nó như là một hiện thân của trí tuệ” [7; 35]
Như vậy, ta thấy rằng truyền thống văn hoá là các giá trị do lịch sử đểlại, được thế hệ sau tiếp nối, khai thác và phát huy trong thời đại mới Khi đãhình thành, truyền thống mang tính bền vững và có chức năng định hướng,đánh giá và điều chỉnh hành vi của cá nhân và cộng đồng
Trang 18Khi nói đến giá trị truyền thống là nói đến những truyền thống nào đã
có sự đánh giá, đã được thẩm định nghiêm ngặt của thời gian, đã có sự chọnlọc, sự phân định và khẳng định ý nghĩa tích cực của chúng đối với cộng đồngtrong những giai đoạn lịch sử nhất định Tuy nhiên, do tính lịch sử của chúngnên các giá trị văn hóa và văn hóa truyền thống có tính hai mặt vì vậy yêu cầuchúng ta phải đứng trên quan điểm phát triển và tính biện chứng, phải nhìnnhận, đánh giá các giá trị một cách toàn vẹn Không được lý tưởng hóa giá trịtruyền thống văn hóa cũng như không được tuyệt đối hóa các hạn chế tiêucực Nếu lý tưởng hóa các giá trị truyền thống, xem chúng là bất biến, khuônmẫu, không thay đổi thì sẽ dẫn đến ý chí bảo thủ, bằng lòng với quá khứ,quay lưng lại với hiện tại, ngăn cản sự vận động và phát triển của xã hội Cònnếu phủ nhận một cách sạch trơn các giá trị văn hóa truyền thống, coi truyềnthống là nguyên nhân của sự lạc hậu, nghèo nàn của xã hội và hiện đại hóabằng con đường ngoại nhập các giá trị văn hóa bên ngoài thì sớm muộn cũng
tự đánh mất bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc, hủy hoại sức mạnh nộisinh, làm mất tính bền vững và ổn định của sự phát triển
Tính chất của văn hóa truyền thống: Văn hóa truyền thống tự thân nó
mang rất nhiều tính chất Với phạm vi luận văn, chúng tôi chỉ tập trung vàophân tích và làm rõ một số tính chất cơ bản sau:
- Tính giá trị
Văn hóa và văn hóa truyền thống hướng tới mục đích là các giá trị nhânbản, sự hoàn thiện của cá nhân, của cả xã hội Văn hóa truyền thống là tấmgương phản chiếu cho mọi hành động của các cá nhân trong cộng đồng đó soivào Nó là những nguyên lý mà các cá nhân, cộng đồng, dân tộc trong các giaiđoạn lịch sử dựa vào đó mà phân biệt đúng, sai, phải, trái nhằm định hìnhhướng hoạt động, nhằm hướng tới các giá trị: chân- thiện- ích- mỹ
- Tính ổn định
Những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc ta từ trước đến nay và
cả tương lai nữa là những giá trị đã có sự đánh giá, đã được thẩm định nghiêm
Trang 19ngặt của thời gian, đã có sự chọn lọc, sự phân định và khẳng định ý nghĩa tíchcực của chúng đối với dân tộc và nó là một thành tố ổn định của ý thức xã hộidưới các dạng: phong tục tập quán, nghi lễ, dư luận xã hội, pháp luật…
- Tính lưu truyền
Văn hóa phát triển như dòng sông chảy liên tục Các giá trị của văn hóatruyền thống được chuyển giao nối tiếp cùng với chiều dài của lịch sử dân tộc.Dưới thời đại mới truyền thống được bổ sung, được nâng lên tầm cao mới chophù hợp với thời đại
1.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến các giá trị văn hóa truyền thống trong bối cảnh hiện nay
1.2.1 Ảnh hưởng của cách mạng khoa học- công nghệ
Khoa học và công nghệ không chỉ có ý nghĩa lớn lao trong lĩnh vực sảnxuất vật chất, mà còn là cơ sở để xây dựng nền văn hóa tinh thần của chế độchủ nghĩa xã hội Sự nghiệp CNH, HĐH đất nước không phải chỉ là quá trìnhđổi mới về khoa học công nghệ, hiện đại hóa, thị trường hóa nền sản xuất xãhội mà còn là quá trình đổi mới về tâm lý, phong tục tập quán, lối sống thíchứng với tác phong mới Hiện nay, khoa học và công nghệ có vai trò to lớntrong việc hình thành nền “kinh tế tri thức” và “xã hội thông tin”, phát triểnhàm lượng trí tuệ cao trong sản xuất, dịch vụ và quản lý ở tất cả các quốc gia
Vì vậy, đầu tư cho khoa học và công nghệ là đầu tư cơ bản để phát triển kinh
tế, văn hóa, xã hội Cuộc chạy đua phát triển kinh tế- xã hội trên thế giới hiệnnay thực chất là cuộc chạy đua về khoa học và công nghệ, chạy đua nâng caochất lượng và hiệu quả lao động trên cơ sở hiện đại hóa nguồn nhân lực Hiệnnay, khoa học và công nghệ giữ vai trò then chốt trong việc phát triển lựclượng sản xuất hiện đại, bảo vệ tài nguyên và môi trường, nâng cao năng suất,chất lượng, hiệu quả, tốc độ phát triển kinh tế và sức cạnh tranh của nền kinh
tế Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên CNXH (Bổ sung, pháttriển năm 2010) nhấn mạnh: Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ có
Trang 20sức mạnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, gópphần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người ViệtNam Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triền khoa học và côngnghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư cho pháttriển Sự phát triền cùa khoa học và công nghệ ngày càng có ý nghĩa quyếtđịnh trong việc làm thay đổi nền sản xuất vật chất của xã hội.
Chúng ta thấy được KHCN tác động đến văn hóa theo các hướng sau:KHCN là một lĩnh vực trọng yếu của văn hóa
KHCN tăng cường khảo năng truyền dẫn, lan tỏa, khuyêchs tán văn hóatrong quá trình phát triển
KHCN làm thay đổi căn bản đời sống văn hóa của thế hệ trẻ hiện nay
so với văn hóa truyền thống của dân tộc
KHCN tạo ra bước nhảy vọt của ngành công nghiệp văn hóa
1.2.2 Tác động của kinh tế thị trường
Ngày nay, văn hóa cũng như các ngành kinh tế khác đều chịu sự tácđộng của các quy lật kinh tế thị trường, cơ bản là quy luật lợi nhuận
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ởnước ta, kinh tế và văn hóa gắn kết chặt chẽ với nhau, kinh tế không thể pháttriển bền vững nếu thiếu nền tảng văn hóa và văn hóa không phải là sản phẩmthụ động của kinh tế Do đó, phát triển văn hóa phải trên cơ sở kết hợp hàihòa với phát triển kinh tế
Kinh tế và văn hóa có mối quan hệ, tác động qua lại lẫn nhau Có thểkhái quát sự tác động của kinh tế đến văn hóa theo ba hướng sau:
- Tác động cùng chiều với sự phát triển văn hóa;
- Tác động ngược chiều với sự phát triển văn hóa;
- Tác động cùng chiều ở khía cạnh này, lĩnh vực này song lại tác độngngược chiều ở khía cạnh khác, lĩnh vực khác
Trang 21Văn hóa tác động đến kinh tế, về cơ bản, cũng theo ba hướng như vậy.
Sự tác động của văn hóa đến kinh tế, dù theo hướng nào thì cũng đều cho kếtquả tích cực, cho trước mắt, đặc biệt cho lâu dài Vì văn hóa, xét ở hàm nghĩa
cơ bản nhất của nó, là kết tinh của các hoạt động kinh tế và các hoạt động xãhội nói chung; nói cách khác là giá trị của các hoạt động đó
Nhiều lĩnh vực văn hóa (nếu không nói là tất cả) cũng tương tự như cácngành kinh tế, đều phải chịu sự tác động của các quy luật kinh tế thị trường,
cơ bản là quy luật lợi nhuận Và đây là thách thức hơn là cơ hội đối với vănhóa
Khi xác định mục tiêu, giải pháp phát triển văn hóa phải căn cứ vàhướng tới mục tiêu, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, để phát triển văn hóatrở thành động lực phát triển kinh tế - xã hội Còn khi xác định mục tiêu pháttriển kinh tế - xã hội phải đồng thời xác định mục tiêu văn hóa, hướng tới xãhội dân chủ, công bằng, văn minh, vì lợi ích chân chính và phẩm giá conngười, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực và thẩm mỹ ngày càng cao.Muốn vậy, phải có chính sách kinh tế trong văn hóa để gắn văn hóa với hoạtđộng kinh tế, khai thác tiềm năng kinh tế, tài chính hỗ trợ cho hoạt động vănhóa Đồng thời, xây dựng chính sách văn hóa trong kinh tế để chủ động đưacác yếu tố văn hóa thâm nhập vào các hoạt động kinh tế - xã hội
1.2.3 Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập quốc tế là điều kiện để các dân tộc hiểu biết lẫn nhau, bổ sung
và làm giàu cho nền văn hóa dân tộc mỗi nước Điều này rất phù hợp với quyluật vận động và phát triển của văn hóa Hội nhập kinh tế quốc tế là một xuthế, đòi hỏi chúng ta phải chủ động và tích cực hội nhập Đây là cơ hội đểchúng ta phát triển nhanh có hiệu quả, nhưng cũng là thách thức rất lớn vớinước ta trên nhiều mặt, trong đó có cả văn hóa Sự thâm nhập của văn hóa độchại, của sự lai căng văn hóa, của lối sống thực dụng và những tiêu cực kháccủa kinh tế thị trường, đã và đang ảnh hưởng, làm băng hoại những giá trị văn
Trang 22hóa truyền thống, ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững của đất nước Chủđộng tham gia hội nhập và giao lưu văn hóa với các quốc gia để xây dựngnhững giá trị mới của văn hóa Việt Nam, đồng thời góp phần bảo vệ bản sắcvăn hóa dân tộc là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi công dân Việt Nam.
Hội nhập kinh tế quốc tế tác động đến văn hóa theo hai xu hướng: Một mặt, nó "góp phần nâng cao trình độ tư duy khoa học của xã hội công nghiệp,
thể hiện ở việc phổ biến các giá trị văn hóa công nghệ, văn hóa thông tin cùngcác hoạt động và loại hình văn hóa mới phục vụ cho việc nâng cao đời sốngtinh thần của nhân dân và qua đó, góp phần làm giàu thêm, phong phú thêm
các giá trị văn hoá Việt Nam truyền thống Mặt khác, nó cũng đang đặt ra
trước dân tộc ta những thách thức lớn trong việc giữ gìn và phát huy nhữnggiá trị văn hoá truyền thống Về phương diện này, có thể nói, thách thức lớnnhất đối với Việt Nam là làm thế nào để nền văn hóa dân tộc vừa có thể tiếpthu được các giá trị thời đại, tinh hoa văn hoá nhân loại, vừa có thể giữ đượcbản sắc dân tộc vốn có; tiếp tục phát triển trong sự giao lưu với cộng đồng thếgiới mà không bị hoà tan, không bị nhấn chìm vào các nền văn hóa khác hoặctrở thành “cái bóng mờ” của dân tộc khác, nền văn hoá khác [27; 514]
Theo đó, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dântộc trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay là một yêu cầu tất yếu, một nhiệm vụnặng nề, cấp bách và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với chúng ta Kinhnghiệm của nhiều nước, cũng như của chính chúng ta đã chỉ ra rằng, khôngthể đánh đổi bằng mọi giá để có được sự tăng trưởng về kinh tế, cũng khôngthể để cho bản sắc văn hóa dân tộc bị mai một Để tiếp tục phát triển và khẳngđịnh mình trong quá trình toàn cầu hoá, ngoài nỗ lực tăng trưởng kinh tế, mộttrong những nhiệm vụ hết sức quan trọng của chúng ta là phải xây dựng vàphát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Đúng nhưĐảng ta đã khẳng định: “Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững,những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua
Trang 23lịch sử hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Đó là lòng yêunước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồnggắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái; khoan dung, trọngtình nghĩa, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động, sự tinh tế trong ứng
xử, tính giản dị trong lối sống Bản sắc văn hóa dân tộc còn đậm nét cả tronghình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo” [12; 57-57] Chính nhờ sứcmạnh của những giá trị truyền thống đó mà dân tộc ta đã vượt qua biết bao thửthách khắc nghiệt, chiến thắng thiên tai, địch hoạ để tồn tại và phát triển đượcnhư ngày nay Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc trước hết là bảo
vệ, kế thừa và phát triển những giá trị tinh thần cao đẹp đó
Giao lưu văn hóa là một vấn đề có tính quy luật trong quá trình tồn tại,phát triển của văn hóa dân tộc, đặc biệt trong hội nhập quốc tế với sự tác độngcủa các quá trình toàn cầu hóa như hiện nay Trong quá trình hội nhập quốc tế
về kinh tế và văn hóa, cùng với việc xuất hiện những loại hình văn hóa mangtính toàn cầu thì việc bảo tồn, phát triển và phát huy nhiều loại hình văn hóadân tộc là một phương châm rất quan trọng, có tầm ảnh hưởng sống còn đếntương lai phát triển của văn hóa Việt Nam
1.3 Tầm quan trọng của việc giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Thái trong giai đoạn hiện nay
Nói đến văn hoá là nói đến dân tộc, một dân tộc đánh mất truyền thốngvăn hoá và bản sắc dân tộc thì dân tộc ấy sẽ mất tất cả vì vậy mà Đảng và Nhànước ta luôn quan tâm đưa ra nhiều chủ trương, chính sách dân tộc nhằm thúcđẩy phát triển kinh tế, văn hóa, giữ gìn, phát huy các truyền thống văn hóadân tộc nhằm thực hiện thắng lợi công cuộc CNH, HĐH đất nước và truyềnthống văn hóa dân tộc Thái cũng không nằm ngoài sự nghiệp đó với mục đíchgóp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc,hòa nhập nhưng không hòa tan, góp phần củng cố, phát triển chính trị, xã hội,thực hiện thắng lợi công cuộc cách mạng của nước ta
Trang 24Kế thừa và phát huy là một nguyên tắc căn bản trong quy luật phát triểncủa mọi sự vật hiện tượng Mọi sự phát triển luôn là sự phủ định có kế thừa.Trong quá trình đó những mặt tích cực, tiến bộ được giữ lại, kế thừa và pháttriển trong sự ra đời của cái mới Đối với lĩnh vực văn hóa cũng vậy! Nhữngtinh hoa, truyền thống tốt đẹp luôn được giữ gìn và phát huy Tuy nhiên,truyền thống văn hóa của dân tộc là một mảng của kiến trúc thượng tầng,chúng không cứng nhắc, không thể là cùng một khuôn mẫu trong các thời đạikhác nhau Do vậy khi thời đại thay đổi thì chúng cũng phải thay đổi, bổ sungcho phù hợp với thời đại mới.
Việc kế thừa, phát huy phải mang tính chọn lọc, thiết thực, phù hợp vớiđiều kiện, thời đại Bởi vì không phải mọi truyền thống văn hóa đều phù hợpvới mọi thời đại và đều được các thành viên trong cộng đồng chấp nhận, pháthuy, không phải tất cả mọi giá trị văn hóa đều là nhân tố nội sinh để thúc đẩy
sự phát triển xã hội mà ngược lại Có những giá trị trong thời này là động lựcnhưng khi ở thời đại mới nó lại ngăn cản, kìm hãm sự vận động đi lên của xãhội Ngoài ra, chúng ta không thể ôm đồm kế thừa tất cả mọi nét văn hóa củadân tộc Thái từ thời xa xưa đến nay được mà kế thừa những nét văn hóa đặctrưng, dù đã trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử, sự kiểm chứng của thờigian nhưng những giá trị ấy vẫn giữ nguyên được những cái hay, tốt đẹp nhất
và trở thành những giá trị mà khi chúng ta nhìn vào đó có thể hình dung nó lànét đặc trưng của văn hóa Thái chứ không phải của dân tộc khác
Trải qua quá trình di cư, tụ cư nhóm người Thái đã di cư đến các vị tríđịa lý khác nhau để sinh sống: Lào, Thái Lan, Việt Nam… trong quá trình đónhóm người Thái đã giao lưu với biết bao luồng văn hóa, họ vừa tiếp thu vừagìn giữ những đặc trưng của họ, dù họ sinh sống ở các miền địa lý khác nhausong họ vẫn giữ được cái nét đặc trưng riêng của nhóm người Thái nói chungkhông thể lẫn với các dân tộc khác được Tuy nhiên, trong những năm gầnđây dưới sự tác động của nhiều nhân tố khác nhau đã làm cho kinh tế, văn
Trang 25hóa, xã hội của nhóm người Thái có nhiều biến đổi theo cả hai chiều Xuhướng toàn cầu hóa, quốc tế hóa, nền kinh tế thị trường (với những quy luậtcủa nó)… đã đi sâu vào tất cả mọi mặt của đời sống xã hội nói chung vànhóm người Thái ở huyện Qùy Châu, tỉnh Nghệ An cũng chịu sự tác động củacác nhân tố này Bên cạnh những mặt tốt đẹp, tiến bộ mà chúng đem lại thìmặt tiêu cực của chúng cũng làm ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống xã hội vàđặc biệt là ảnh hưởng tới các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Thái nơiđây Cùng với xu hướng chung đó, trên thực tế đã và đang diễn ra sự mai một
về bản sắc văn hóa dân tộc dưới sự tác động của nhiều nhân tố khác nhau, vàmột điều khá tệ hại hơn là tâm lý không thấy được cái hay cái đẹp, thânthương của dân tộc mình mà thờ ơ, chạy theo luồng văn hóa khác Nếu không
có ý thức giữ gìn, phát huy các truyền thống văn hóa dân tộc thì sẽ như Cầm
Trọng, Bản Mường- một cấu trúc xã hội truyền thống Thái, Báo cáo khoa học
trình bày tại Đại hội quốc tế Thái học lần thứ IV tại Chiềng Mai- Thái Lan,
1996 trang 144 đã khẳng định “Cứ thờ ơ như hiện nay thì văn hóa chắc chắn
sẽ bị chôn vùi vào quá khứ”
Giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Thái là
kế thừa những nét văn hóa có ý nghĩa tích cực thúc đẩy sự phát triển của cánhân và xã hội Vì vậy, nói giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thốngcủa dân tộc Thái ở Qùy Châu hiện nay thì trước hết phải xuất phát từ yêu cầuthực tế của từng địa phương mà lựa chọn để có thể đưa ra những phươnghướng và giải pháp khả thi trên thực tế
Trước tình hình đó các cấp, các ngành, chính quyền địa phương đã cónhiều chủ trương, chính sách nhằm giữ gìn, phát huy các truyền thống vănhóa của người Thái ở Qùy Châu và bước đầu đã có nhiều khả quan, song kếtquả vẫn chưa được như mong đợi, do vậy việc giữ gìn, phát huy các giá trịvăn hóa vẫn đứng trước nguy cơ mất dần bản sắc
Trang 26Vậy từ những truyền thống văn hóa dân tộc Thái ở huyện Qùy Châu thìcần được bảo tồn và giữ gìn, phát huy những giá trị nào trong giai đoạn hiệnnay? Như ở trên đã nói truyền thống văn hóa của người Thái thì rất nhiềusong không phải tất cả các truyền thống ấy đều là những giá trị tốt đẹp cả, phùhợp với thời đại nhất là trong giai đoạn hiện nay và chúng ta không thể thamlam, ôm đồm tất cả gia tài mà ông cha ta ngày xưa sáng tạo ra để đến tươnglai được mà điều quan trọng nhất là chúng ta phải xác định được những giá trịnào cần thiết và những truyền thống nào cần phải loại bỏ cho phù hợp vớithực tế Phải bảo tồn vì chúng là những tài sản vô giá nhưng dần bị mai mộtnếu không có những biện pháp thích hợp như chữ Thái Lai Tay, các điệu hátdân gian còn việc giữ gìn, phát huy thì tất cả các giá trị văn hóa truyền thống
là sản phẩm đặc trưng của người Thái còn phù hợp với thời đại thì cần phảigiữ gìn và phát huy, mặt khác những yếu tố cổ hủ, lạc hậu, ngăn cản sự pháttriển của xã hội thì cần phải loại bỏ
1.4 Đặc trưng văn hóa của dân tộc Thái
Mỗi dân tộc đều có nét văn hóa đặc trưng, không lẫn với bất kỳ đặctrưng dân tộc khác được Văn hóa của cộng đồng người Thái gồm có bốn nétđặc trưng cơ bản sau:
1.4.1 Đặc trưng hệ sinh thái nhân văn
Đặc trưng này thể hiện mối quan hệ giữa con người với môi trườngsống xung quanh trong cả tự nhiên và xã hội Khi nhắc đến đặc trưng nàyngười ta gọi nền văn hóa của người Thái là nền “văn hóa thung lũng” vì khácvới các dân tộc khác như người H’mông, Tày chọn cho dân tộc mình sinhsống, lập bản dựng mường ở những nơi có vị trí địa hình cao của đồi núi, hayngười Kinh thì sinh sống ở những nơi bằng phẳng, ở các đồng bằng phù samàu mỡ của các con sông thì người Thái lại chọn những thung lũng dưới chânđồi, bên vùng lưu vực của các con sông để sinh sống Đây chính là đặc trưng
Trang 27quan trọng làm nên tính khác biệt giữa nhóm cộng đồng người Thái với nhómdân tộc khác.
1.4.2 Đặc trưng hệ thống kỹ thuật trong sản xuất và và trong cuộc sống
Người Thái trong quá trình lao động sản xuất và trong cuộc sống đãtích lũy được hệ thống kỹ thuật riêng trên cở sở điều kiện tự nhiên cho phép,gắn liền với nguồn tài nguyên, chủ yếu dựa vào tài nguyên sẵn có NgườiThái được biết đến với hệ thống thủy lợi “Mướng, phái, lái, lìn” đặc trưngtrong hoạt động sản xuất nông nghiệp lúa nước, đặc biệt hình ảnh cái “cọnnước” (guồng quay) là hình ảnh đầy nét sáng tạo, độc đáo Trong kỹ thuậtthiết kế xây dựng nhà cửa của người Thái không phải dùng đến một mẩu sắtnào trong thiết kế xây dựng Thay vào những cái đinh đóng là cả một hệthống dây chằng, buộc, thắt khá công phu và tinh xảo bằng lạt tre, giang, mây
và một số loại vỏ cây chuyên dụng Trong kỹ thuật nấu nướng của ngườiThái cũng vậy, nguyên liệu gắn với nguồn động, thực vật sẵn có, song với kỹthuật riêng họ lại làm nên những món ăn dân giã, đậm chất mà khi nhắc đến
nó người ta biết ngay là sản phẩm của người Thái như cơm lam, hò moọc,chẻo
1.4.3 Đặc trưng trong hệ thống thiết chế xã hội
Văn hóa Thái trong đặc trưng này thể hiện ở cơ cấu gia đình hạt nhânphụ hệ, phụ quyền và tổ chức bản mường
Gia đình hạt nhân là tế bào kinh tế- xã hội của người Thái, là mô hìnhgia đình phổ biến nhất của người Thái từ trước đến nay Nổi trội trong giađình người Thái là sự bảo lưu tàn dư mẫu hệ trong chế độ gia đình quyền cha,trong đó đặc biệt xem trọng chế độ quyền cậu Trong gia đình, quyền quyếtđịnh các vấn đề đều thuộc về người chồng, người cha nhưng vai trò của ngườiphụ nữ vẫn có chỗ đứng vững vàng trong gia đình Đây chính là ưu điểm của
xã hội Thái trong vấn đề bình đẳng nam nữ cần được kế thừa, phát huy
Trang 28Bản là một đơn vị tổ chức cư dân ổn định, có ranh giới đất đai ổn định,
là nơi tổ chức quản lý ruộng đất Theo truyền thống ngày xưa, Bản còn là tổ
chức đảm nhiệm chức năng văn hóa mang đầy đủ màu sắc dân tộc, mọi phong
tục tập quán, lối suy nghĩ, sinh hoạt về cơ bản đều thống nhất Bản là lực lượng
chính trong tất cả các công việc chung của cộng đồng như việc hiếu, việc hỉ, hỗ
trợ các hoạt động cho tất cả các thành viên trong bản Bản là một đơn vị quản
lý kinh tế xã hội dưới cấp Mường Đứng đầu Bản ngày xưa có là Tạo hoặc là Quán và giúp việc cho Tạo là Chá (còn gọi là Trưởng bản thì mãi sau này), họ
là những người biết chữ Thái và am hiểu các phong tục tập quán của tộc mình
Mường của người Thái bao gồm nhiều Bản hợp thành Là tổ chức chính
quyền mang đậm nét đặc trưng của người Thái ở nước ta Là tổ chức xã hộidựa trên quan hệ lãnh thổ và sở hữu, có đường ranh giới rõ rệt mang tên đất
mường Tổ chức xã hội của Mường theo mô hình vòng tròn đồng tâm Mỗi Mường có Châu Mường là người đứng đầu và cai quản chung, dưới Châu Mường là các Tạo, Quán cai quản các Bản, làm cho xã hội Thái ngày xưa vận
động theo một trật tự nhất định Từ sau ngày giải phóng, xã hội Thái hòachung cùng với chính quyền cả nước mới thiết lập theo chính quyền các cấp
từ trên xuống, làm cho cấu trúc Bản Mường của người Thái không còn nghĩanguyên gốc nhưng người Thái vẫn sử dụng Bản Mường (Ban Mương) làm têngọi đơn vị hành chính của địa phương
1.4.4 Đặc trưng về hệ thống tư tưởng và tri thức của dân tộc
Đặc trưng này thể hiện ở các nội dung ngôn ngữ, chữ viết, văn học, âmnhạc nghệ thuật, tôn giáo tín ngưỡng
Về ngôn ngữ: Người Thái có ngôn ngữ riêng, có chung cội nguồn với
ngôn ngữ của các nhóm Tày, Nùng, Lào, Lự, Bố Y, Sán Chay ở Việt Nam vàtiếng Lào, Thái Lan, tiếng Choang, tiếng Thái ở miền Nam Trung Quốc.Tiếng Thái có đặc điểm: là thứ tiếng có khá nhiều vùng thổ ngữ, có âm tiết vàthanh điệu Tiếng Thái có cấu trúc như mô típ cấu trúc của Tiếng Việt: Chủ
Trang 29ngữ- vị ngữ và các thành phần phụ: tân ngữ, bổ ngữ Tiếng Thái rất phongphú có thể biều hiện được mọi sắc thái tình cảm, sự vật, hiện tượng trong tựnhiên và xã hội.
Chữ viết: Dân tộc Thái là dân tộc có tiếng nói và sớm có chữ viết riêng.
Theo cuốn Quam Tô Mương (Kể chuyện Bản Mường) thì chữ Thái Đen dòngTạo Xuông, tạo Ngần ở đất Mường Lò (nay thuộc Văn Chấn, Thị xã Nghĩa Lộ,Yên Bái) đã có từ thế kỉ XI Tuy nhiên, do người Thái ở các vùng, miền khácnhau nên chữ Thái ngoài các đặc điểm chung thì mỗi vùng chữ Thái sẽ khácnhau chút ít Về cơ bản, chữ Thái có 2 loại: viết theo hàng ngang, đọc từ tráisang phải, từ trên xuống dưới, giống với chữ Thái ở Thái Lan, chữ Thái ở Lào.Đây là loại chữ Thái phổ biến ở phía Bắc nước ta gọi là chữ Lai- Xứ, còn loạichữ viết theo hàng dọc, đọc từ trên xuống dưới, từ phải qua trái, từ trang trước
ra trang sau gọi là Lai- Tay Loại chữ này phổ biến ở vùng phủ Qùy, Nghệ An
Văn học: Cùng với sự ra đời của chữ Thái, văn học người Thái chia
thành:
+ Văn học dân gian: Người Thái có một kho tàng văn học phong phú
với đầy đủ các loại hình văn học dân gian như: câu đố, tục ngữ, đồng dao,truyện cổ tích, truyện thần thoại, truyện thơ
- Những truyện kể về việc xuống Mường, khai phá đất đai, xây dựng Bản Mường Ý nghĩa và nội dung loại truyện này là giải thích được nguồn gốc
phi tín ngưỡng ban đầu, là những bài học đơn giải về nhận thức vũ trụ, conngười, nhận thức muôn loài, đồng thời cũng là những bài ca khẳng định sự cómặt của con người, bài ca lao động để chế ngự thiên nhiên và sức sống củacon người trên trái đất Đó là hình tượng nghệ thuật vừa hiện thực, vừa siêunhiên, có ý nghĩa giáo dục sâu sắc, có sức hấp dẫn mạnh mẽ, làm ta say mê tựhào
Trang 30- Tục ngữ, ca dao: Thường đúc kết những kinh nghiệm trong cuộc sống
cũng như trong lao động sản xuất, ca ngợi tính siêng năng, cần cù trong laođộng, chê bai, phê phán kẻ lười nhác
Ví dụ như: “Nằm hày bướn ha, đắm na bướn hốc”
Dịch nghĩa là : Trỉa nải tháng năm, cấy lúa tháng sáu
Hay câu: “ Khâu phai bờ dù năm phơ non, Mọn mon bờ dụ năm phơchạn” Dịch nghĩa: “Lúa bông không ở với kẻ hay nằm, Tơ tằm không ở với
kẻ lười nhác”
+ Văn học ghi chép thành văn: Bao gồm các tác phẩm về lịch sử xã hội
như tác phẩm Kể chuyện Bản Mường (Quam Tô Mương), các tác phẩm ghichép về luật lệ bản mường, các phong tục, tập quán của người Thái (Luật tụcThái ở Việt Nam); những tác phẩm văn học bằng thơ như tập thơ thiên tình caTiễn dặn người yêu (Xống chụ xon xao) Các tác phẩm này là tài sản vô giágóp phần to lớn, làm phong phú thêm kho tàng văn hóa Việt Nam
Âm nhạc- nghệ thuật:
Âm nhạc: Người Thái cũng rất thích ca hát, các làn điệu hát của người
Thái bao gồm: khắp, xuối, nhuôn, ọn Người Thái hát khi có cuộc vui, khiuống rượu cần, thi hát hai phe nam nữ, có nhiều người đến xem Nam nữ đếntuổi yêu đương thường dùng những làn điệu này để trao đổi tâm tư, tình cảmvới nhau những khi đi trên đường, gặp nhau bên suối, làm việc trên nươngrẫy, tại các lễ hội như “khắp bào xao” (hát giao duyên của thanh niên namnữ); “khắp xư” (ngâm thơ); “khắp xống khươi” (hát tiễn chàng rể); “khắp tỏnkhươi tỏn pợ” (hát đón rể, nàng dâu); “ khắp au phua, au mía” (hát lấy vợ lấychồng – hát trong đám cưới), xuối lấy củi, xuối uống rượu
Khi hát những làn điệu này, người Thái thường phối hợp với các nhạc
cụ như pì, sáo, tiêu Trong các lễ hội thường kết hợp chơi trống, chiêng, loong tạo thành âm thanh mang chất lễ hội của người Thái.
Trang 31Nghệ thuật: Thể hiện ở các họa tiết hoa văn trong điêu khắc, đan lát,
thêu thùa và điệu múa Người Thái rất khéo léo trong việc tạo ra các họa tiếthoa văn trên các sản phẩm điêu khắc, đan lát, thêu thùa trên vải Các hoa vănthường là hình kỷ hà, các con vật, cây cối, chim muông Với đôi tay khéo léo
họ hoàn toàn tự do trong việc thực hiện các đường viền cong để tạo ra cácđường tròn, uốn lượn, làm cho họa tiết trang trí của người Thái thêm phần đẹpmuôn hình, muôn vẻ xứng đáng làm nền cho sự đóng góp của văn hóa cộngđồng tộc người vào hội họa Việt Nam nói chung Người Thái được biết đến vớicác điệu múa xòe, múa sạp Dường như múa xòe đã trở thành một trong nhữngbiểu hiện đặc trưng văn hóa cụ thể, thật sự đậm đà bản sắc dân tộc Thái
Tín ngưỡng, tôn giáo: Người Thái có tín ngưỡng dân gian, đa thần, họ
không theo một tôn giáo nghiêm ngặt nào như đạo Thiên chúa, đạo Hồi, đạoPhật Tín ngưỡng của họ chưa phát triển thành tôn giáo riêng nhưng họ cũngkhông chịu ảnh hưởng hay du nhập vào mình các tôn giáo khác Người Tháithường thờ thần, ông bà tổ tiên, thần sông, thần núi, thần đất, thờ thần mườngtrời (xơ then), thờ những người có công trong xây bản dựng mường…
Trên đây là bốn đặc trưng cơ bản nhất văn hóa của tộc người Thái ởnước ta Nền văn hóa Thái không phải là nền văn hóa khép kín, đứng im, tựthỏa mãn mà nó luôn vận động, biến đổi nên các đặc trưng đó cũng phải luônvận động, phù hợp với các xu thế của xã hội và sự vận động này bao gồm cả sựgiao lưu, giao thoa, tiếp xúc với các nền văn hóa khác ảnh hưởng từ bên ngoài.Chính sự giao lưu đó góp phần khẳng định các giá trị nào là xứng đáng là đặctrưng, nếu quá trình giao lưu, tiếp xúc có sự chọn lọc hiệu quả thì sẽ làm chocác giá trị văn hóa, các đặc trưng văn hóa Thái được bổ sung, làm mới làm nênvăn hóa Thái phong phú hơn, rực rỡ hơn Ngược lại, nếu thỏa mãn với những
gì đã có hoặc quá trình giao lưu, tiếp xúc mà không chọn lọc thì các giá trị vănhóa đặc trưng sẽ có nguy có biến mất nếu không có biện pháp khắc phục kịpthời Lúc đó, con người còn nhưng văn hóa đã mất
Trang 32Cùng với quá trình đi lên của đất nước, nền văn hóa nước ta nói chung
và nền văn hóa Thái nói riêng đang bước vào quá trình hội nhập, hòa chung các
xu thế phát triển của nhân loại Trong quá trình đó yêu cầu chúng ta phải cóbản lĩnh để giữ gìn bản sắc văn hóa của chúng ta nếu không thì chính chúng ta
đã tự đánh mất đất nước
Kết luận chương 1
Mỗi dân tộc đều có nét truyền thống văn hóa riêng, nước ta có hơn 50dân tộc anh em, mỗi một dân tộc là một sợi chỉ màu dệt thành tấm thảm sắcmàu rực rỡ của văn hóa Việt Nam và chúng ta mỗi công dân Việt Nam luôn
tự hào về điều đó Văn hóa dân tộc Thái ở Việt Nam là một sợ chỉ màu rực rỡvới những đặc trưng riêng mang đậm tính nhân văn đã góp phần làm lung linhsắc màu văn hóa Việt Nam Cùng với các xu hướng vận động và phát triểncủa lịch sử nhân loại, các giá trị văn hóa truyền thống cũng ít nhiều có nhiềubiến chuyển Một mặt, các xu hướng đó tạo điều kiện thúc đẩy cho tất cả mặtkinh tế, văn hóa, xã hội phát triển mạnh mẽ, nhưng đồng thời nó cũng tạo rathách thức to lớn đối với đất nước chúng ta đặc biệt là vấn đề văn hóa Tronggiai đoạn hiện nay, truyền thống văn hóa dân tộc Thái nói chung ở nước ta vàcủa dân tộc Thái ở huyện Qùy Châu, tỉnh Nghệ An nói riêng có nhiều vấn đềbất cập cần được đặc biệt lưu ý, nếu không có biện pháp kịp thời chắc chắnrằng những giá trị văn hóa tốt đẹp mang đậm bản sắc sẽ dần bị lãng quên
Trang 33Chương 2 THỰC TRẠNG CỦA VIỆC GIỮ GÌN, PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN
HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC THÁI
Ở HUYỆN QUỲ CHÂU, TỈNH NGHỆ AN 2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên- xã hội huyện Qùy Châu, tỉnh Nghệ An
2.1.1 Điều kiện tự nhiên huyện Quỳ Châu
2.1.1.1 Về vị trí địa lý
Qùy Châu là một huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Nghệ
An, cách thành phố Vinh 145 km Qùy Châu có diện tích tự nhiên là105.765,63ha chiếm khoảng 10% tổng diện tích toàn tỉnh Nghệ An Có toạ độđịa lý: 19006’–19047’ vĩ độ Bắc, 105054’ – 1050 17’ kinh độ Đông Qùy Châu
có địa giới hành chính như sau:
Phía Tây và Tây Bắc giáp huyện Quế Phong
Phía Tây Nam Giáp huyện Tương Dương
Phía Bắc và Đông Bắc tiếp giáp huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hoá.Phía Đông giáp huyện Nghĩa Đàn
Phía Nam và Đông Nam giáp huyện Quỳ Hợp và Con Cuông
2.1.1.2 Về địa hình
Diện tích của huyện Qùy Châu không lớn song khá phức tạp bởi đồinúi chiếm tới 3/4 diện tích tự nhiên Là một thung lũng nằm trong thềm lụcđịa cổ, có hoạt động núi lửa nên địa hình Qùy Châu rất phức tạp Đặc điểmđịa hình huyện Qùy Châu được thể hiện qua các yếu tố: độ cao, độ dốc và một
số địa hình tiêu biểu
Trang 34Vùng đất này tập trung chủ yếu các dãy núi loại thấp chạy theo hướngTây Bắc - Đông Nam Địa hình núi ở Qùy Châu chủ yếu là núi trung bình vànúi thấp, núi cao chiếm tỷ lệ không đáng kể Địa hình có độ cao >1.000mphân bố ở khu vực Tây Nam Qùy Châu, phần giáp với huyện Tương Dương,thuộc khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Huống và một khu nhỏ ở phía Bắc QùyChâu Núi Pù Xén có đỉnh Pù Cô Lô cao nhất Qùy Châu (1.124m) Ngoài racòn có các đỉnh núi khác (đỉnh Pù Huống: 1.056m; Pu Khạng: 1.085m, PùQuan: 1.000m) Những dãy núi này thường có các sườn dốc rất lớn, và bị nhiềudòng chảy chia cắt Độ dốc lớn nhất hầu hết nằm ở thượng nguồn hai hệ thốngsông suối Nậm Gươm và Nậm Huống thuộc hai xã Châu Hoàn và Diên Lãm.
2.1.1.3 Khí hậu
Qùy Châu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới bán cầu Bắc, ô gió mùachâu Á, tiểu khí hậu Bắc Trung Bộ với đặc điểm chung là nhiệt đới ẩm giómùa, có hai mùa: mùa nóng (mưa nhiều) từ tháng 4 đến tháng 10 và mùa lạnh(mưa ít) từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau; xen giữa hai mùa chuyển tiếp: lạnhsang nóng (tương ứng mùa xuân ở vùng ôn đới) và nóng sang lạnh (tương ứngmùa thu ở vùng ôn đới)
Mùa hạ chịu tác động mạnh mẽ của gió mùa Tây Nam bị biến tính rấtkhô và nóng, mùa đông chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc lạnh, có mưaphùn Qùy Châu cũng đồng thời chịu ảnh hưởng trực tiếp của thời tiết miềnTây Bắc Nghệ An nên có những đặc trưng riêng về các yếu tố thời tiết Rétđến sớm và mùa khô hanh thường kéo dài
2.1.1.4 Hệ thống sông ngòi
Ở Qùy Châu có hai sông chính là sông Hiếu và sông Hạt:
- Sông Hiếu là phụ lưu cấp I của sông Cả, chiếm 18% lưu vực sông Cả.Sông Hiếu bắt nguồn từ vùng núi Pù Hoạt thuộc huyện Quế Phong tỉnh Nghệ
An gồm có 5 phụ lưu chính là Nậm Hạt, Nậm Quang, Nậm Cườm, NậmChạng, Nậm Tôn Sông Hiếu chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, đến
Trang 35huyện Nghĩa Đàn đổi hướng Đông Bắc – Tây Nam và đổ vào bờ trái của sông
Cả tại Đào Giàng Tại Qùy Châu, sông Hiếu chảy xuyên suốt theo hướng TâyBắc - Đông Nam và có diện tích lưu vực trong địa phận là 2.470km2, tổnglượng nước 2.13km3, ứng với lưu lượng trung bình năm 71,6 m3/s, môđundòng chảy trung bình năm 44,3 l/s/km2.
Đoạn sông Hiếu chảy qua huyện Qùy Châu khá dốc, nhiều thác, ghềnhnhỏ: thác Đũa, thác Tạt Ngoi, khe Nậm Pông khá đẹp, có nguồn cá lớn và có khả
năng làm thủy điện phục vụ cho sản xuất và đời sống của đồng bào nơi đây.
- Sông Hạt
Sông Hạt là một nhánh lớn của sông Hiếu, bắt nguồn từ dãy núi cao củahuyên Thường Xuân- Thanh Hóa đổ vào sông Hiếu tại xã Châu Tiến- QùyChâu Sông Hạt có chiều dài 23km, diện tích lưu vực 20km2, lưu lượng dòngchảy trung bình 2,85m3/s, độ dốc trung bình 0,03% Sông Hạt có vai trò cungcấp nước tưới cho vùng lúa trọng điểm của huyện ở các xã Châu Tiến, ChâuBính
Qùy Châu còn có hàng chục sông suối nhỏ khác nhau trong hệ thốngsông Hiếu tạo thành hệ thống cấp nước tự nhiên cho sản xuất và sinh hoạt củanhân dân
2.1.1.5 Thổ nhưỡng, tài nguyên khoáng sản
- Đất lâm nghiệp có diện tích 76.189,99ha
- Đất chưa sử dụng có 21.400,68ha, chiếm 20,23% tổng diện tích
- Đất phi nông nghiệp có 2.520,08ha, chiếm 2,38% tổng diện tích tựnhiên
Trang 36Tài nguyên khoáng sản
Quỳ Châu là huyện miền núi giàu tài nguyên khoáng sản: chủng loạiphong phú, có nhiều loại quý hiếm:
- Đá quý Rubi: Tại xã Châu Bình đá quý phân bổ trên diện tích khoảng400ha nhưng chưa được khảo sát kỹ và đánh giá về chất lượng và trữ lượng
- Vàng: Theo đánh giá sơ bộ mỏ vàng gốc Tà Sỏi có trữ lượng khoảng
8 tấn (chiếm 40% trữ lượng vàng toàn tỉnh) Riêng vùng trung tâm huyện đãđánh giá sơ bộ có trữ lượng khoảng 2,6 tấn, chất lượng tốt Ngoài ra còn cóvàng sa khoáng trên sông Hiếu, đoạn chảy qua Châu Tiến, Châu Hạnh, KheTằn tại Châu Hội và trên sông Quàng đoạn chảy qua Châu Thắng
- Ăngtimon tại bản Tà Sỏi, xã Châu Hạnh có trữ lượng khoảng 40ha
- Đá xây dựng tại các xã Châu Hạnh, Châu Tiến, Châu Bình, diện tích758ha
- Sét nguyên liệu làm đồ sứ tại xã Châu Hạnh Loại tài nguyên này ởQuỳ Châu có khả năng cung cấp nhu cầu cho các huyện khác trong tỉnh
- Quặng Bauxit tại khe Bấn, xã Châu Hạnh, diện tích khoảng 2,9ha
- Quặng sắt tại xã Châu Bình và Châu Hội [31; 21]
Động, thực vật tự nhiên
- Về thực vật
Diện tích rừng của Quỳ Châu đứng thứ 4 sau Tương Dương, ConCuông và Quế Phong nhưng độ che phủ đứng đầu tỉnh Nghệ An: năm 2009 là74% Rừng ở Quỳ Châu có nhiều gỗ quý: sa mu, trai, lim, sến, nghiến, táu,dổi… Các loại cây dược liệu có: hoài sơn, thiên niên kiện, sa nhân… Quế làđặc sản của Quỳ Châu (Nhất quế Quỳ, nhì quế Thanh)
Quỳ Châu có nguồn thực vật, động vật phong phú và đa dạng Thực vậtrừng có 84 họ, hơn 500 loài, trong đó gần 400 loài có giá trị kinh tế cao và cóđầy đủ đặc trưng của rừng nhiệt đới
Trang 37Trong tổng diện tích đất có rừng ở Quỳ Châu là 65.456,61 ha rừng tựnhiên; 5.323,70 ha rừng trồng; 5.409,68 ha rừng khoanh nuôi, phục hồi.
- Về động vật
Ở Quỳ Châu động vật rừng khá phong phú, nhiều loại động vật quýhiếm: gấu khỉ, hươu, nai, voi, bò tót,… Ngoài ra còn có các loài động vật thuỷsinh Trước đây, rừng Quỳ Châu là một trong những nơi giàu động vật quýhiếm Hiện nay, đa dạng sinh học giảm sút nhiều, một số loài có nguy cơtuyệt chủng cao (voi, bò tót,…) do mất rừng và nạn săn bắn trái phép
2.1.2 Hệ thống hành chính
Hiện nay, hệ thống hành chính của huyện Quỳ Châu gồm: 1 thị trấn và
11 xã Do vị trí địa lí phức tạp như trên nên Quỳ Châu được chia thành 4vùng, có những đặc điểm sinh thái, kinh tế khác nhau:
+ Vùng 1 (vùng trên) gồm 4 xã: xã Châu Tiến, xã Châu Bính, xã ChâuThuận, xã Châu Thắng với tổng diện tích tự nhiên là 24.930 ha, dân số trên1,4 vạn người, đây là vùng trồng lúa lớn nhất của huyện
+ Vùng 2 (vùng trung tâm) gồm 1 xã và 1 thị trấn, đó là: xã Châu Hạnh
và thị trấn Quỳ Châu Có tổng diện tích là 13.957 ha, dân số trên 1 vạn người
+ Vùng 3 (vùng dưới) gồm 3 xã: Châu Hội, Châu Bình, Châu Nga.Tổng diện tích tự nhiên là 33.179ha, dân số trên 1,6 vạn người
+ Vùng 4 (vùng trong) gồm 3 xã: Châu Phong, Châu Hoàn và DiênLãm Có tổng diện tích tự nhiên là 35.614ha, dân số trên 1 vạn người
2.1.3 Dân cư và sự phân bố dân cư
Quỳ Châu là huyện có diện tích rộng 1.057,65 km2 chiếm 6,4% tổngdiện tích của tỉnh Nghệ An, với diện tích đó Quỳ Châu đứng thứ 6 sau cáchuyện: Tương Dương, Kỳ Sơn, Quế Phong, Con Cuông, Thanh Chương Dân
số của huyện năm 2010 là 53.910 người, chiếm 1,8% tổng dân số toàn tỉnh,đứng thứ 19 trong tổng số 20 đơn vị hành chính của tỉnh Nghệ An Mật độ dân
số của Quỳ Châu thấp hơn mức trung bình của tỉnh Năm 2009 mật độ dân số
Trang 38trung bình của tỉnh là 177 người/km2 trong khi đó ở Quỳ Châu là 49,8người/km2 Quỳ Châu là một trong những nơi tụ cư chính và được coi là cái nôicủa đồng bào dân tộc Thái ở Tây Bắc Nghệ An Hai dân tộc sinh sống chủ yếu
ở Quỳ Châu là người Thái chiếm 74,43% dân số và người Kinh là 25,27% dân
số Những đơn vị có tỷ lệ người Kinh cao là thị trấn Tân Lạc: 78,4%, ChâuBình: 44,9%, Châu Tiến: 30,8% dân số Ngoài ra, ở Qùy Châu còn có các dântộc anh em khác sinh sống như: Tày, Mường, Thổ, Khơ Mú, Gia Rai
Bảng 1: Các dân tộc ở huyện Qùy Châu năm 2009
Nguồn: Phòng Thống Kê huyện Qùy Châu, tháng 4 năm 2009.
Dân số ở huyện Quỳ Châu phân bố không đồng đều giữa các vùng, cáckhu vực, giữa thành thị và nông thôn Vùng trung tâm là vùng có mật độ dân
số cao nhất (năm 1995 là 74,1 người/km2, năm 2009 là 84,3 người/km2).Khoảng cách chênh lệch nhau về phân bố dân cư giữa các vùng là 2,8 lần Sựphân bố dân cư không đồng đều về mật độ dân cư ở Quỳ Châu gây ra nhiềukhó khăn về nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiênnhiên và nguồn lao động Những nơi có điều kiện về tự nhiên thì mật độ dân
số lại thấp: Diên Lãm 16 người/km2, Châu Nga 19 người/km2 Những nơi tài
Trang 39nguyên đã được khai thác gần hết thì dân cư lại tập trung tương đối đông:Châu Tiến 321 người/km2 các ngành công nghiệp, dịch vụ, xây dựng chưaphát triển nhưng dân số tập trung mật độ rất cao tại thị trấn Tân Lạc: 2.778người/km2 Điều này gây lãng phí nguồn nhân lực, việc làm, nảy sinh nhiều tệnạn xã hội…
2.1.4 Dân tộc Thái ở huyện Qùy Châu
Qua các di chỉ Khảo cổ học, Dân tộc học, tài liệu của chữ Thái cổ…cho thấy Quỳ Châu là quê hương lâu đời của người Thái Kết luận này cũng
đồng nhất với quan điểm của Viện Dân tộc học trong cuốn Các dân tộc ít thiểu số ở Việt Nam (1978) và cuốn Sổ tay các dân tộc Việt Nam (1999) Các
tài liệu cho rằng sự có mặt của dân tộc Thái ở vùng núi Nghệ An nói chung và
ở Quỳ Châu nói riêng rõ nhất là vào thời Trần và thời thuộc Minh khoảng từthế kỷ XIII đến thế kỷ XV Sử cũ đã ghi vào thời thuộc Minh có Cầm Quýlàm tri châu Ngọc Ma, khi Lê Lợi đem quân vào Nghệ An, Cầm Quý đã đemtoàn bộ dân binh gia nhập nghĩa quân Từ thế kỷ XIV trở đi vùng phủ Quỳtiếp tục tiếp nhận sự chuyển cư từ Tây Bắc, Thanh Hoá, Lào sang Các cuộcchuyển cư này kéo dài đến tận thế kỷ XVIII- XIX làm cho vùng đất này trởthành trung tâm của người Thái ở miền Tây Nghệ An
Người Thái ở Quỳ Châu không gọi Thái Đen, Thái Trắng như ở TâyBắc mà người Thái chỉ phân biệt theo các nhóm địa phương với những căn cứ
về nguồn gốc lịch sử của họ Khi chúng tôi khảo sát một số người Thái ởhuyện Quỳ Châu về tên gọi phân theo Thái Đen hay Thái Trắng thì ít ngườibiết được, còn hỏi theo nhóm thì lại nhận thức rõ Tay Mương hay Tay Thánh.Theo cách gọi đó người Thái ở Quỳ Châu được chia thành ba nhóm:
- Nhóm Tày Mường hay còn gọi là Tay Chiêng, Tay Dọ và chủ yếu làThái Trắng, có mặt sớm nhất so với các nhóm Thái khác ở vùng miền TâyNghệ An Các nguồn tài liệu cho thấy nhóm dân cư này đã lập bản, dựngmường tại vùng đường 7 vào khoảng thế kỷ XIII- XIV
Trang 40Ở vùng Quỳ Châu cũ, nhóm Tày Mường đã đến lập bản, tạo mườngđầu tiên tại Mường Tôn (Mường Noọc- Châu Kim, Quế Phong) Ngoài ra,còn có hai trung tâm khác là Kim Tiến tức là Châu Bính, Châu Tiến ở huyệnQuỳ Châu và vùng Khủn Tinh tức là ở Châu Quang, Châu Thái, Châu Lý,Châu Đình của huyện Quỳ Hợp.
- Nhóm Tay Mười: có nguồn gốc tại Mường Muổi, một vùng trung tâmcủa người Thái Đen ở Tây Bắc thuộc xã Chiềng Pấc, xã Thuận Châu, tỉnh Sơn
La, di cư đến Nghệ An muộn hơn vào khoảng nửa đầu thế kỷ XV Bộ phậndân cư này buộc phải chuyển vào Thanh Hoá, Nghệ An cư trú vì Lê Lợi khiđem quân lên chinh phạt Đèo Cát Hãn một chủ đất ở Mường Muổi đã cùngvới Kha Lại (bầy tôi phản nghịch của Ai Lao), chống đối, quấy nhiễu dânchúng vùng biên giới Mùa xuân năm Nhâm Tý 1432, Lê Lợi phải thân chinhđánh châu Ninh Viễn, Kha Lại chết, Đèo Cát Hãn lẩn trốn, nhà vua đạt châuNinh Viễn là châu Phục Lễ nay là tỉnh Lai Châu Sau khi bình định được họĐèo, nhà vua đem tù binh về dâng ở thái miếu và quyết định cho di dời một
bộ phận cư dân ở Mường Muổi vào Thanh Hoá, Nghệ An Nhóm MườngMuổi khi vào Nghệ An, vẫn tự gọi mình theo tên quê hương cũ, nhưng do tiếpxúc cách phát âm của các cư dân quanh vùng nên Muồi đọc lệch là Mười
- Nhóm Tay Thánh còn được gọi là Man Thanh hay Tay Nhại, chủ yếu
là Thái Đen, sống xen kẽ với nhóm Tay Mường Theo Đặng Nghiêm Vạn:
“nhóm Tay Thánh gồm hai bộ phận Thái (một nhóm Thái Đen) Mường Thanhxưa thuộc châu Ninh Biên, phủ Gia Hưng, tỉnh Hưng Hoá (nay thuộc ĐiệnBiên- Lai Châu) Nhóm này di cư vào Nghệ An muộn hơn, cách ngày naykhoảng 200- 300 năm, phần đông họ đi qua đất Lào rồi mới vào Nghệ An”[42; 27] Một số khác có đi qua hoặc từ vùng Thanh Hoá vào Nghệ An Vìnhóm này di cư đến muộn hơn nên phải sống xen ghép với nhóm Tay Dọ đã
di cư đến từ trước đó Lúc đầu họ có địa vị thấp hơn trong xã hội, là dân “ngụ