· Về lý luận: + Vận dụng có hệ thống những lý luận về sự phát triển kinh tế hộ gia đình nông dân miền núi trong bối cảnh nền kinh tế cả nước đang chuyển sang xây dựng và phát triển nền k
Trang 11. Lý do chọn đề tài
Kinh tế hộ nông dân một hình thức kinh tế cơ bản của nền sản xuất nông nghiệp. Cả về lý luận và thực tiễn đã chứng minh rằng, lịch sử phát triển của nền nông nghiệp thế giới cho đến nay, gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của KTHND.
Ở Việt Nam, trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc trước đây, hôm nay và cả mai sau, cho dù trải qua những thay đổi về thể chế, trải qua những thăng trầm như thế nào, thì KTHND đã, đang và sẽ tồn tại, phát triển cùng với sự phát triển của đất nước như một thực thể kinh tế không thể thiếu được ở nông thôn.
Thực tiễn đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp trong những năm qua, nhất là từ sau khi có Nghị quyết 10 của Bộ chính trị Đảng Cộng sản VN tới nay, KTHND được thừa nhận là đơn vị kinh tế tự chủ, được giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài, đã tạo cơ sở, điều kiện cần thiết cho KTHND chuyển nhanh sang phát triển sản xuất theo hướng kinh tế hàng hóa. Có thể nói, trong những năm qua, lực lượng góp phần quyết định tạo nên những thành tựu to lón trong nông nghiệp nói riêng, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước nói chung, làm biến đổi bộ mặt xã hội nông thôn theo hướng tích cực, không thể không kể đến vai trò của KTHND.
Cũng như các địa phương khác trong cả nước, ở tỉnh Ninh Thuận kinh tế nông nghiệp nông thôn hiện nay chủ yếu do KTHND đảm nhiệm. Sự cải thiện điều kiện kinh tế xã hội đã thúc đẩy KTHND phát triển nhanh chóng, tác động tích cực đến việc phát triển sản xuất hàng hoá, cải thiện đời sống của nông dân. Tuy nhiên, sự phát triển của KTHND ở các địa phương trong tỉnh không đều nhau, bên cạnh các huyện ven biển KTHND có nhiều khởi sắc, thì huyện miền núi Bác ái KTHND đang đứng trước nhiều khó khăn vướng mắc, nhiều vấn đề
Trang 2có tình trạng nông dân mất đất do có sự hoạt động tự phát của qui luật tập trung ruộng đất; tình trạng du canh du cư. Một số địa phương cấp xã chưa nhận thức đúng vị trí vại trò của KTHND trong việc phát triển kinh tế xã hội. Bản thân Kinh tế hộ do năng lực kinh tế yếu kém, thiếu vốn, thiếu kiến thức mang nặng tâm lý tiểu nông tự cấp tự, túc dẫn đến thu hẹp sản xuất cản trở việc chuyển nền nông nghiệp sang sản xuất hàng hóa. Tình hình kết cấu hạ tầng với tư cách là điều kiện chung cho sự phát triển KTHND còn rất thấp kém. Sự hỗ trợ và tác động của các ngành công nghiệp và dịch vụ liên quan đến các yếu tố đầu vào và đầu ra sản xuất của KTHND còn nhiều bất cập. Tình trạng nghèo đói còn khá phổ biến. Một số chính sách và cơ chế vĩ mô chưa hợp lý, chưa đồng bộ. Tất cả tình hình trên đang đặt ra những đòi hỏi bức xúc cả về lý luận và thực tiễn phải tháo gỡ những trở ngại, tìm ra những giải pháp hữu hiệu, phù hợp với thực tế địa phương nhằm tạo điều kiện thuận lợi để KTHND huyện Bác ái khắc phục tình trạng tự cấp tự ,túc, chuyển nhanh sang phát triển sản xuất theo hướng kinh tế
hàng hoá. Đề tài “ Định hướng phát triển kinh tế hộ gia đình nông dân huyện Bác Ái tỉnh Ninh Thuận trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường đến năm 2020 ” mà chúng tôi lựa chọn làm luận văn cao học là xuất phát từ đòi hỏi
Trang 3A.V.Chaianov, người sống cùng thời với Lênin, ông cho rằng, kinh tế nông hộ phát triển qua nhiều chế độ xã hội khác nhau và nó phát triển theo quy luật vận động riêng chứ không đi theo con đường Tư bản chủ nghĩa. Đặc biệt ông cũng có nhiều quan điểm tương đồng với Lênin về vấn đề hợp tác hóa trong nông nghiệp. Theo A.V.Chaianov, hợp tác xã chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó hỗ trợ cho kinh tế nông hộ phát triển.
Ở Việt Nam vấn đề nông hộ mới chỉ được đặt ra khi Đảng và Nhà nước thực hiện chính sách đổi mới. Khi nền kinh tế thực sự khủng hoảng, nền nông nghiệp trở nên trì trệ do ảnh hưởng của nhận thức sai lầm của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, thì việc củng cố và phát triển kinh tế nông hộ mới được đề cập. Từ đó đã có nhiều công trình đi vào nghiên cứu.
Hiển nhiên, mỗi quốc gia, mỗi vùng kinh tế tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, xã hội và lịch sử hình thành nên tập quán sản xuất của người nông dân, nhất là sản xuất ở từng hộ trong những mối quan hệ với cộng đồng, mà vấn đề nghiên cứu sẽ có những nét đặc thù riêng. Huyện Bác Ái tỉnh Ninh Thuận cũng vậy, nó có những đặc điểm về kinh tế xã hội, về tập quán sản xuất chủ yếu là của đồng bào dân tộc rất riêng; thậm chí sản xuất chỉ gắn với nương rẫy, nương rẫy vừa là yếu tố sản xuất đồng thời là nơi sinh sống của gia đình. Do đó, việc
chọn đề tài nghiên cứu “Định hướng phát triển kinh tế hộ gia đình nông dân huyện Bác Ái tỉnh Ninh Thuận trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường đến năm 2020” với kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần giải quyết
nhiều bức xúc đang đặt ra đối với kinh tế hộ gia đình ở nông thôn miền núi của tỉnh
Trang 43. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục tiêu: Phân tích thực trạng phát triển KTHND huyện Bác ái tỉnh Ninh Thuận, làm rõ những tồn tại, mâu thuẫn nảy sinh. Từ đó xác định quan điểm và đưa ra các giải pháp cơ bản nhằm tạo điều kiện thúc đẩy KTHND phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa trong thời gian tới.
Nhiệm vụ:
Trình bày có hệ thống một số lý luận cơ bản về khái niệm, đặc trưng, vai trò của KTHND trong tiến trình phát triển theo hướng kinh tế thị trường.
Tổng quan kinh nghiệm thực tiễn phát triển KTHND ở một số địa
phương.
Khảo sát, đánh giá thực trạng vận động và phát triển KTHND ở huyện Bác ái, tìm ra những thành tựu và hạn chế của nó.
Xác định các quan điểm, đưa ra những giải pháp cơ bản nhằm tiếp tục
phát triển KTHND có hiệu qủa trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đề tài lấy KTHND huyện miền núi Bác ái trong quá trình phát triển sản xuất theo hướng kinh tế hàng hóa làm đối tượng nghiên cứu.
Việc khảo sát, phân tích thực trạng phát triển KTHND Bác ái, lấy mốc từ năm 2000 đến nay làm giới hạn về thời gian.
Các giải pháp được đề xuất trong luận văn chủ yếu dựa trên góc độ kinh tế
chính trị, hướng vào các vấn đề cơ bản.
5. Phương pháp nghiên cứu của đề tài.
Đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận của phép biện chứng của C.Mác, các quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam về đường lối xây dựng và phát triển kinh tế; các chỉ tiêu Nghị quyết của Tỉnh đảng bộ, Huyện ủy về phát triển nông nghiệp nông thôn và nông thôn miền núi ở địa phương để nghiên cứu quá trình vận động, phát triển kinh tế hộ ở huyện Bác Ái;
Trang 5Phương pháp logic lịch sử để điều tra, khảo sát,phân tích, tổng hợp, đối chiếu và so sánh. Ngoài ra luận văn còn sử dụng phương pháp thống kê để dẫn dắt, chứng minh và làm sáng tỏ vấn đề. Mỗi một phương pháp hoặc có thể được vận dụng riêng lẻ hoặc được kết hợp để làm cho đề tài hoàn thành mục tiêu,
nhiệm vụ đã nêu trên.
Ý nghĩa nghiên cứu của luận án
· Về lý luận:
+ Vận dụng có hệ thống những lý luận về sự phát triển kinh tế hộ gia đình nông dân miền núi trong bối cảnh nền kinh tế cả nước đang chuyển sang xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường, mà trước hết là quá trình chuyển từ nền kinh tế tự cấp tự túc sang nền kinh tế hàng hóa vào quá trình tổ chức sản xuất kinh doanh ở huyệnBác Ái.
Trang 6Về phương diện thống kê, Liên Hiệp Quốc cho rằng: “Hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ”.
Tại cuộc thảo luận quốc tế về quản lý nông trại ở Hà Lan năm 1980, các nhà khoa học nhất trí rằng: “Hộ là một đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất, tái sản xuất, đến tiêu dùng và các hoạt động xã hội khác”.
Khi xét hộ gia đình với tư cách là một đơn vị kinh tế, Frank Ellis nêu định nghĩa: “Đó là hộ gia đình làm nông, có quyền kiếm kế sinh nhai từ những mảnh đất đai, sử dụng sức lao động gia đình để sản xuất”.
Những quan niệm về hộ trên đây chỉ đề cập đến chức năng sản xuất, tiêu dùng,… của hộ. Hay nói cách khác, xem hộ như một đơn vị kinh tế. Khía cạnh nhân chủng học của hộ chưa được đề cập.
Giáo sư T.G.Mc Gee (1989), trường đại học British Columbia, khi khảo sát “kinh tế hộ trong quá trình phát triển” ở một số nước Châu Á đã nêu lên rằng: “Ở các nước Châu Á hầu hết người ta quan niệm hộ là một nhóm người cùng huyết tộc, hay không cùng chung huyết tộc ở chung một mái nhà, ăn chung một mâm cơm và có chung một ngân quỹ”. Mc.Gee đã phân biệt sự khác nhau
Trang 7giữa hộ và gia đình. Điểm khác nhau căn bản đó là gia đình là nhóm người cùng chung huyết tộc. Gia đình hạt nhân một vợ một chồng và các con là đơn vị cơ bản của xã hội. Gia đình mở rộng gồm nhiều thế hệ khác nhau cùng chung sống trong một mái nhà đang trong quá trình giải thể. Như vậy, gia đình là một loại
hộ cơ bản.
Theo A.V.Chaianov, nhà kinh tế nông nghiệp được mệnh danh là “Các Mác của nông dân” có quan điểm về kinh tế nông hộ như sau: “Khái niệm hộ, đặc biệt là trong đời sống nông thôn không phải bao giờ cũng tương đương với khái niệm sinh học làm chỗ dựa cho nó mà nội dung còn có thêm cả một loạt những phức tạp về đời sống kinh tế và đời sống gia đình”.
Còn ở nước ta hiện nay, nhiều người đồng nhất khái niệm hộ và gia đình. Thực ra, đây là hai khái niệm không hoàn toàn đồng nhất. Qua một số định nghĩa trên đây, ta thấy hộ và gia đình có những tiêu thức chung để nghiên cứu như cơ sở hành chính, kinh tế, quan hệ huyết thống và hôn nhân, tình trạng cư trú,… Tuy vậy, gia đình thường được xem xét trong các mối quan hệ về xã hội, còn hộ là một đơn vị kinh tế; khi xem xét bản chất kinh tế của nó trong mối tương quan với các loại hình kinh tế khác như kinh tế tập thể, kinh tế nhà nước
và với các tổ chức kinh tế khác cũng như sự vận động của nó trong toàn bộ cơ chế quản lý kinh tế nói chung và cơ chế quản lý nông nghiệp nói riêng. Như vậy, gia đình được coi là hộ khi các thành viên có chung một cơ sở kinh tế. Ngược lại, hộ chỉ được coi là gia đình khi các thành viên của nó quan hệ huyết thống và hôn nhân.
Dựa vào điều kiện thực tế của nước ta, nhất là trong nông nghiệp, nông thôn, chúng ta thấy rằng giữa hộ và gia đình không thể tách rời được với nhau bởi vì có rất ít hộ nông dân nào mà không dựa trên cơ sở gia đình, ngược lại có rất ít gia đình không có chung một cơ sở kinh tế. Do vậy, có thể dùng khái niệm
hộ gia đình để biểu thị các thành viên của nó có cùng huyết tộc và quan hệ hôn
Trang 8tế cơ sở của nền kinh tế nông nghiệp, hình thức đặc trưng của nó là kinh tế hộ gia đình (gọi tắt là kinh tế nông hộ).
Như vậy kinh tế nông hộ là một hình thức kinh tế tự chủ (bao gồm cả nông, lâm, ngư nghiệp), dựa trên cơ sở sức lao động của gia đình là chính và quyền sử dụng lâu dài phần ruộng đất mà họ canh tác và các tư liệu sản xuất khác.
Ngày nay, ở nhiều nước còn sử dụng khái niệm nông trại gia đình để chỉ hình thức sản xuất kinh doanh nông nghiệp gia đình trong nền sản xuất hàng hóa
và phân biệt nó với kinh tế tiểu nông ở mục tiêu sản xuất. Nếu kinh tế tiểu nông
có quy mô nhỏ, năng suất và chất lượng hàng hóa thấp, tính chất tự cấp tự túc cao thì ở nông trại gia đình có quy mô sản xuất lớn hơn, khả năng áp dụng khoa học kỹ thuật cao hơn, sản xuất phục vụ thị trường nhiều hơn. Thực chất, nông
dân là một tế bào xã hội, là một đơn vị sản xuất và tiêu dùng trong sinh hoạt.
Hai là, nông hộ là đơn vị tái sản xuất chứa đựng các yếu tố hay các nguồn
lực của quá trình tái sản xuất (lao động, đất đai, vốn, kỹ thuật,…), là đơn vị sản
Trang 9nó có mối liên hệ chặt chẽ với các đơn vị khác và với hệ thống kinh tế quốc dân. Khai thác đầy đủ những khả năng và tiềm lực của nông hộ sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế quốc dân.
Như đã nêu trên, nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức tổ chức
cơ sở của nông nghiệp ở nông thôn đã tồn tại từ lâu đời ở các nước nông nghiệp. Thành viên của nông hộ bao gồm chủ yếu là cha mẹ và con cái và có thể còn có
cả ông bà và cháu chắt.
Ba là, các thành viên trong nông hộ gắn bó với nhau chặt chẽ trước tiên
bằng quan hệ hôn nhân và huyết thống. Về kinh tế, các thành viên trong nông hộ gắn bó với nhau trong quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, quan hệ quản lý và phân phối sản phẩm. Các thành viên có chung mục tiêu và lợi ích là thoát khỏi đói nghèo, phát triển kinh tế để ngày càng giàu có.
Từ thống nhất về lợi ích đến thống nhất về hành động, các thành viên đều làm việc hết sức mình để có được thu nhập cao cho gia đình và cũng là cho mỗi người. Các thành viên trong gia đình nông dân từ trẻ đến già nếu có thể lao động được thì đều tham gia lao động không kể tuổi tác, người yếu làm việc nhẹ, người khỏe làm việc nặng. Do đó, việc phân công và hiệp tác lao động của nông hộ có nhiều ưu điểm mà các tổ chức sản xuất cơ sở khác không thể có được: đó là tính
Trang 10tự nguyện, tự giác cao và tận dụng tối đa khả năng của mỗi người và mọi đều
kiện có thể trong lao động.
Bốn là, trong mỗi nông hộ thường là cha hay mẹ làm chủ hộ, vừa là người
tổ chức phân công lao động vừa trực tiếp lao động. Các thành viên trong gia đình cùng lao động, gần gũi nhau, hiểu nhau về khả năng, đặc điểm của mỗi người nên tạo điều kiện cho việc phân công hợp tác được hợp lý.
Mỗi nông hộ, trừ hộ làm thuê, đều sở hữu hoặc một bộ phận các tư liệu sản xuất như ruộng đất, trâu, bò, nông cụ, máy móc,… Các thành viên đã quen
sử dụng nên hiểu được đặc tính của mỗi loại tư liệu sản xuất.
Người chủ nông hộ vừa quản lý điều hành sản xuất vừa trực tiếp lao động nên mọi người trong hộ đều gắn bó chặt chẽ với nhau trong quá trình sản xuất.
Từ đó, các thông tin được xử lý nhanh, kịp thời, các quyết định điều hành sản
xuất được đúng đắn, dứt khoát.
Năm là, về quan hệ phân phối, các thành viên trong nông hộ cùng làm,
cùng ở, cùng ăn do chủ hộ là cha hay mẹ bố trí sắp xếp. Do đó, nếu có mâu thuẫn phát sinh trong phân phối thì cũng dễ giải quyết.
Khi con cái trưởng thành tách ra lập hộ khác, cha mẹ có trách nhiệm phân chia tài sản gia đình trên cơ sở bàn bạc dân chủ, đây cũng chính là hình thức phân phối lại vốn một cách tự giác.
Chính vì những đặc điểm và ưu điểm nêu trên mà hộ nông dân tồn tại bền vững lâu dài trong lịch sử ở mọi quốc gia từ những nước kém phát triển đến những nước phát triển.
Ở nước ta, hộ nông dân là tế bào của xã hội ở nông thôn, là đơn vị sản xuất cơ bản đã tồn tại hàng nghìn năm nay. Hộ nông dân có thể chuyên trồng trọt, làm nghề rừng, chăn nuôi gia súc, gia cầm hoặc nuôi trồng thủy sản vì nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm cả lâm nghiệp và thủy sản
Trang 11Hộ nông dân còn có quan hệ trực tiếp với tộc họ và xóm thôn. Trường hợp di chuyển đến nơi khác thì tiếp tục quan hệ với xóm thôn tại nơi cư trú, đây
là truyền thống và là phong tục, tập quán của nét văn hóa làng, xã.
1.1.3 Những yếu tố tác động đến quá trình phát triển kinh tế nông hộ 1.1.3.1 Những yếu tố bên ngoài
đã chứng minh ngược lại: kinh tế nông hộ không những đã đứng vững mà còn trở thành lực lượng sản xuất nông nghiệp chủ yếu của các nước công nghiệp phát triển, sản xuất có hiệu quả cao hơn xí nghiệp tư bản tập trung.
Đến khi kinh tế nông hộ phát triển theo hướng tập trung hóa sản xuất, tăng quy mô và giảm số lượng trang trại, lại có người dự đoán là kinh tế nông hộ
sẽ không còn nữa và sẽ dẫn đến phân cực. Các nông hộ nhỏ sẽ phá sản và trở thành lao động làm thuê, còn các nông hộ quy mô lớn sẽ tập trung hết ruộng đất
và hình thành các xí nghiệp nông nghiệp TBCN sử dụng lao động làm thuê và như vậy kinh tế nông hộ không còn tồn tại nữa. Nhưng thực tế đã diễn ra khác với dự đoán trên: số lượng và quy mô của nông hộ có thay đổi, nhưng cơ cấu nông hộ nhỏ, vừa và lớn có một tỷ lệ nhất định
Trang 12Bước vào thế kỷ XXI, có thể khẳng định kinh tế nông hộ vẫn tồn tại và phát triển vì bản thân nó có những thế mạnh hơn hẳn các hình thức tổ chức nông nghiệp khác. Lý do cụ thể như sau:
Trước hết, kinh tế nông hộ là hình thức sản xuất phù hợp với sản xuất nông nghiệp mà đối tượng sản xuất là sinh vật. Người nông dân trực tiếp tác động vào quá trình sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi không qua trung gian, luôn bám sát đồng ruộng, chuồng trại nên đạt hiệu quả cao trong sản xuất.
Kinh tế nông hộ là một tổ chức sản xuất cá thể, không chỉ đơn độc một chủ trại mà là một tập thể lao động gọn nhẹ, có cả lao động chính và lao động phụ là các thành viên trong gia đình có quan hệ huyết thống, hoặc có thêm một ít lao động thuê, quản lý điều hành rất năng động, hiệu quả và hiệu suất sử dụng lao động cao hơn những tổ chức sản xuất khác trong nông nghiệp.
Kinh tế nông hộ tổ chức sản xuất hàng hóa với quy mô trang trại đã từng bước trở thành lực lượng sản xuất nông sản hàng hóa chủ yếu cho xã hội.
Kinh tế nông hộ bao gồm quy mô vừa và nhỏ khác với các xí nghiệp tập trung quy mô lớn nên có khả năng thích ứng cao trước những biến động của thị trường, có khả năng điều chỉnh một cách linh hoạt quy mô và cơ cấu sản xuất,
cơ cấu sản phẩm nhằm đáp ứng kịp thời những thay đổi theo thị hiếu của người tiêu dùng, tạo ra lợi thế cạnh tranh với những cơ sở nông nghiệp quy mô lớn.
Kinh tế nông hộ là thành phần kinh tế cá thể nhưng không đối lập với kinh tế hợp tác và kinh tế nhà nước mà nó có tính mềm dẻo, có khả năng dung nạp các hình thức sở hữu khác nhau thông qua các hoạt động kinh tế đa dạng, liên doanh, liên kết giữa trang trại gia đình với các tổ chức kinh tế hợp tác,
Trang 13người nông dân sản xuất nông nghiệp nhất là những hộ sản xuất nhỏ thường chịu nhiều sự tác động chi phối của Nhà nước nên nó gắn kết tương đối chặt chẽ với kinh tế nhà nước để tăng thêm năng lực sản xuất của nông hộ.
Kinh tế nông hộ có khả năng tiếp thu nhiều trình độ khoa học và công nghệ khác nhau, từ thô sơ đến hiện đại, phù hợp với quy mô, yêu cầu và khả năng sản xuất nên đạt mức chi phí sản xuất thấp và hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất hàng hóa. Tuy quy mô không lớn và phân tán nhưng kinh tế nông hộ không cản trở mà dung nạp được hiện đại hóa nông nghiệp với mức độ ngày càng cao.
Trong tương lai, kinh tế nông hộ trên thế giới sẽ tiếp tục phát huy các thế mạnh sẵn có trên các địa bàn quen thuộc cũng như trên các địa bàn mới và trong những điều kiện khác trước, đây cũng chính là ưu điểm đặc trưng của ngành sản xuất nông nghiệp.
Ở các nước phát triển, số lượng nông hộ tiếp tục giảm nhưng quy mô tăng lên ở mức hợp lý. Vấn đề đặt ra là xác định quy mô tối ưu của nông hộ thích hợp cho từng vùng.
Ở các nước đang phát triển, kinh tế nông hộ sẽ phát triển mạnh mẽ tương
tự như các nước đã phát triển trong thời kỳ công nghiệp hóa nhưng với tốc độ nhanh hơn vì được kế thừa kinh nghiệm của các nước đi trước.
Con đường đi từ kinh tế tự nhiên lên kinh tế hàng hóa, từ sản xuất tiểu nông sang sản xuất với quy mô trang trại không phải là sản phẩm riêng của các nước tư bản mà là bước phát triển tất yếu của xã hội.
Nhưng phát triển kinh tế nông hộ ở các nước đi theo định hướng XHCN như nước ta là vấn đề thực sự mới mẻ, chưa có trong lịch sử. Vì vậy, muốn bảo đảm thành công cần tham khảo kinh nghiệm các nước, kế thừa có chọn lọc kinh nghiệm các nước TBCN, đồng thời phát huy sáng tạo giải quyết vấn đề nảy sinh trong điều kiện cụ thể của nước ta hiện nay, trong đó vai trò của Nhà nước và
Trang 14· Chính sách tác động trực tiếp bao gồm các chính sách sau:
Chính sách hỗ trợ đầu vào cho sản xuất: Chính phủ cung cấp với giá rẻ
hoặc có thể bán theo hình thức trợ giá, ứng trước thông qua các tổ chức tín dụng, các nhà đầu tư các loại vật tư như: phân bón, thuốc trừ sâu, hạt giống, máy móc thiết bị, nhiên liệu…, đẩy mạnh phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn như giao thông, thủy lợi. Mục tiêu của chính sách này là giúp nông dân chủ động, thuận lợi trong sản xuất, đặc biệt là đối với hộ nghèo, gặp nhiều khó khăn trong sản xuất. Chính sách này có tác dụng tích cực là làm giảm chi phí sản xuất của nông dân và tăng sản lượng nông sản hàng hóa nhưng giá cả không đổi vì còn chịu tác động của thị trường thế giới. Do vậy, nông dân sẽ được hưởng lợi từ các chính sách trợ giá này. Có thể nêu lên một vài chính sách của Nhà nước như : Chính sách trợ giá, trợ cước vận chuyển hàng hóa phục vụ đồng bào miền núi, vùng đồng bào dân tộc đặc biệt khó khăn; Quyết định số 134/2004TTg ngày 20/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn; Chương trình 135, chương trình giao thông nông thôn, Chương trình cho vay giải quyết việc làm, Chương trình dạy nghề, xuất khẩu lao động, Chương trình tín dụng, Chương trình 661, Chính sách giao rừng khoán quản…
Chính sách trợ giá đầu ra: đây cũng là chính sách nhằm tăng lợi ích của nông dân. Trên thực tế chính sách này được sử dụng rộng rãi ở các nước Châu
Trang 15âu, Mỹ và Nhật bản, ở Nhật việc thực hiện chính sách hỗ trợ đầu ra cho nông dân được tiến hành thông qua hợp tác xã. Chính sách trợ giá đầu ra làm cho nông dân hoàn toàn yên tâm vì dù trong hoàn cảnh nào họ vẫn bán được nông sản với giá ổn định, từ đó đảm bảo mức thu nhập cho nông dân, kích thích họ duy trì và phát triển sản xuất.
Chính sách miễn giảm thuế nông nghiệp, miễn thu thủy lợi phí theo Nghị định 143/2003/NĐCP ngày 28/01/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi và Nghị định 154/2007/NĐCP ngày 15/10/2007 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 143/2003/NĐCP ngày 28/01/2003 cũng là một hình thức hỗ trợ của Nhà nước nhằm góp phần giảm nhẹ chi phí đầu vào cho nông dân sản xuất nông nghiệp
· Một số chính sách tác động gián tiếp:
Chính sách trợ cấp lương thực, thực phẩm cho người tiêu dùng: Tác
dộng cơ bản của chính sách này là làm tăng cầu nội địa, người tiêu dùng sẽ được hưởng lợi từ trợ cấp. Nông dân không được hưởng lợi nên không tăng sản lượng. Thực hiện chính sách này người thiệt hại là người đóng thuế. Do đó có thể nói chính sách trợ cấp tiêu dùng về lương thực, thực phẩm ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp.
Chính sách thuế nhập khẩu: chính sách này tác động cả sản lượng và giá
cả trong nước theo hướng có lợi cho người sản xuất và thiệt hại cho người tiêu dùng vì phải tiêu thụ với giá cao hơn. Chính sách thuế nhập khẩu không đòi hỏi
sự trợ cấp của Chính phủ mà còn tạo ra khoản thu cho ngân sách. Do đó nó là một công cụ điều tiết sắc bén, ảnh hưởng mạnh đến sản xuất trong nước
Trang 16bé hơn mảnh ruộng cần thiết để nuôi gia đình họ. Cũng như người tiểu thủ công, người tiểu nông này là một người lao động, anh ta khác với người vô sản hiện đại ở chỗ anh ta sở hữu những tư liệu lao động”.[2,11]
C.Mác đã nhận xét quá trình sản xuất của tiểu nông như sau: “Mỗi gia đình nông dân riêng lẻ, gần như tự túc hoàn toàn, tự mình sản xuất ra đại bộ phận những cái mình tiêu dùng. Do đó họ kiếm cho mình những tư liệu sinh hoạt bằng cách trao đổi với thiên nhiên nhiều hơn là trao đổi với xã hội”.[16, 207208]
Như vậy, những nhận định trên đây đã cho rằng người tiểu nông là những người lao động, không sử dụng lao động làm thuê, không có nhiều ruộng đất, sản xuất của họ mang tính tự cung tự cấp. Một nền kinh tế như vậy là đặc trưng của nền sản xuất nhỏ, cần phải phát triển lên sản xuất lớn sản xuất hàng hóa, trước hết bằng cách cải tạo tiểu nông
Trang 17Lúc đầu, khi nghiên cứu con đường công nghiệp hóa của nước Anh, Mác
đã đưa ra sự tiên đoán rằng giai cấp nông dân sẽ bị thủ tiêu cùng với sự phát triển của đại công nghiệp. Trong xã hội chỉ có hai giai cấp là tư sản và vô sản. Nông nghiệp cũng sẽ được tổ chức lại thành nền đại sản xuất như trong công nghiệp. Trong nông nghiệp cũng sẽ diễn ra quá trình tách lao động ra khỏi tư liệu sản xuất, trước hết là ruộng đất và kết hợp chúng lại theo phương thức mới dựa trên sở hữu tư nhân TBCN và lao động làm thuê.
Sau này, chính ở nước Anh, dẫu rằng quá trình công nghiệp hóa diễn ra nhanh chóng cùng với sự tước đoạt và xóa bỏ kinh tế nông hộ một cách quyết liệt nhưng các nông trại gia đình vẫn tồn tại và tỏ rõ tính hiệu quả của nó so với các xí nghiệp nông nghiệp sử dụng lao động làm thuê. Vì vậy, Mác đã nhận thấy
dự đoán ban đầu của mình không thích hợp và khi viết quyển 3 Bộ tư bản, ông
đã rút ra kết luận: “Ngày nay ở nước Anh siêu công nghiệp… với thời gian cho đến nay đã khẳng định hình thức lãi nhất không phải là nông trại công nghiệp hóa mà là nông trại gia đình thực tế không dùng lao động làm thuê. Ở những nước còn giữ hình thức tư hữu, chia đất thành khoanh nhỏ, giá lúa mì rẻ hơn những nước có phương thức sản xuất TBCN”,[17, 125 126]. Như vậy, rõ ràng
là Mác đã thấy sự tồn tại khách quan của kinh tế nông hộ do tính hiệu quả của
nó và con đường đặc thù của nông nghiệp không giống như trong công nghiệp. Thế nhưng nếu không phát triển như trong công nghiệp, thì tiến tới xã hội hóa sản xuất, nông nghiệp cũng như các nông hộ sẽ như thế nào? Mác đã nhận thấy rằng đối với “nghề nông hợp lý” thì hoặc là phải có “bàn tay của người tiểu nông sống bằng lao động của mình” hoặc là phải có “sự kiểm soát của những người có liên kết với nhau”. Từ đó, để cải tạo nền kinh tế tiểu nông, chuyển nó lên sản xuất hàng hóa cần phải có sự liên kết giữa các nông hộ. Sự liên kết ấy như thế nào thì Mác và Ăngghen chưa dự tính hết được, nhưng khi nói về vấn đề
Trang 18cải tạo những người tiểu nông thì cả hai ông đều rất thận trọng. Theo Ăng ghen, cần phải để cho người nông dân tự suy nghĩ trên luống cày của họ. Việc đưa nông dân vào con đường hợp tác nhất thiết không phải bằng con đường cưỡng bức mà phải để cho họ tự nguyện: “Nhiệm vụ của chúng ta đối với người tiểu nông trước hết là phải hướng nền sản xuất cá nhân và chiếm hữu cá nhân của họ vào con đường hợp tác, không phải bằng cách cưỡng ép mà là bằng cách nêu gương cho họ và bằng cách xã hội giúp đỡ họ thực hiện việc ấy”,[2, 31]
Lênin đã có nhiều công lao trong việc phát triển những luận điểm của Mác Ăng ghen. Lúc đầu Lênin cho rằng nền kinh tế của chế độ mới sẽ không còn kinh tế hàng hóa. Giai cấp vô sản sau khi giành được chính quyền sẽ quản lý trực tiếp toàn bộ quá trình sản xuất và phân phối. Toàn xã hội sẽ như một công xưởng khổng lồ. Do vậy, trong Chính sách Cộng sản thời chiến, giai cấp công nhân Nga đã liên kết với bần cố nông, tước đoạt của địa chủ, Culắc và trung nông, là lực lượng sản xuất hàng hoá ở nông thôn. Chính sách trưng thu, trưng mua lương thực lúc đó thực chất là tước đoạt lương thực. Sau nội chiến, nông dân phản ứng gay gắt đối với chính sách trưng thu lương thực. Nông nghiệp và
cả nền kinh tế đã lâm vào tình trạng kiệt quệ. Lênin đã nhận rõ sai lầm của Chính sách Cộng sản thời chiến và thay đổi quan điểm của mình về kinh tế hàng
hóa, về kinh tế tiểu nông. Trong Chính sách Kinh tế mới, Lênin cho rằng phải
liên minh với nông dân, đặc biệt là tầng lớp trung nông. Chính sách thuế lương thực cho phép nông dân được tự do lưu thông sản phẩm nông nghiệp sau khi làm xong nghĩa vụ thuế cho Nhà nước, cho phép nông dân được làm chủ ruộng đất và các tư liệu sản xuất khác. Lênin chỉ rõ: “Bằng mọi cách phải khôi phục và phát triển kinh tế, trước hết là kinh tế nông dân…. Phải làm tất cả những gì có
được để khuyến khích kinh tế tiểu nông”.[12, 101103]. Và những gì mà Chính sách kinh tế mới đã làm để phát triển kinh tế nông dân thực chất là trao quyền
Trang 19là phải để cho người nông dân thực sự trở thành các “tiểu nghiệp chủ”.
V.I.Lênin cũng đã nêu lên một quan điểm mới về chế độ kinh tế hợp tác. Người quan niệm rằng hợp tác xã của hàng triệu người tiểu nông chính là “bước quá độ sang một chế độ mới bằng con đường đơn giản nhất, dễ tiếp thu nhất đối với nông dân”. Nhà nước cần khuyến khích các hộ nông dân để họ tự nguyện liên kết với nhau trong những hợp tác xã như một tất yếu kinh tế. Quyền lợi của các hợp tác xã phải gắn liền với quyền lợi của các xã viên. Lênin luôn nhấn mạnh bản chất tự nguyện, dân chủ, bình đẳng cùng có lợi của các hợp tác xã. Người đã từng phê phán gay gắt khuynh hướng dùng bạo lực để cưỡng bức nông dân. Người cho rằng trong nông nghiệp việc tổ chức các hợp tác xã tiêu thụ là
thích hợp nhất chứ không phải là các hợp tác xã sản xuất.
1.2.2 Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về xây dựng và phát triển kinh tế hộ nông dân trong quá trình hình thành thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN:
Từ cuối thập kỷ 70, đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX, trên thế giới đã diễn ra những biến đổi to lớn. Hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa đang lâm vào tình trạng khủng hoảng về đường lối chính trị và kinh tế, thêm vào đó là âm mưu
“diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc. Để thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, các nước xã hội chủ nghĩa thực hiện cải cách mở cửa. Ở nước ta cũng vậy, để đưa đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội, chúng
ta phải trải qua một quá trình tìm tòi, thủ nghiệm, đấu tranh tư tưởng và tổng kết thực tiễn rất gian khổ.
Qúa trình hình thành đường lối đổi mới của Đảng ta đã có những bước đột phá cục bộ về đổi mới tư duy kinh tế trước khi đổi mới toàn diện
Trang 20làm cho sản xuất “bung ra” là bước đột phá đầu tiên của quá trình đổi mới. Hội
nghị đã tập trung nhiều biện pháp để khắc phục những yếu kém trong quản lý kinh tế và cải tạo xã hội chủ nghĩa; đổi mới công tác kế hoạch hóa, kết hợp kế hoạch với thị trường; kết hợp ba lợi ích: nhà nước, tập thể, cá nhân người lao động.
Những chủ trương của Đảng đã nhanh chóng được nhân dân cả nước đón nhận và biến thành hành động cụ thể trong thực tiễn kinh tế: Kinh tế hộ gia đình
ở thành phố Hồ Chí Minh phát triển mạnh. Tỉnh Long An từ năm 1981 đã thực hiện thí điểm mô hình theo cơ chế “mua cao, bán cao” thay cho “mua cung, bán cấp”; bù giá vào lương. Trên cơ sở đó, ngày 13/01/1981, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị 100CT/TW về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp đã phát huy quyền làm chủ và tính tích cực trong sản xuất của mỗi người, mỗi gia đình, khuyến khích hơn nữa lợi ích thiết thực của người lao động, làm cho người lao động thực sự gắn bó với sản phẩm cuối cùng. “Khoán 100” đã bước đầu tạo ra một động lực mới trong sản xuất nông nghiệp.Quan điểm chỉ đạo về đường lối đổi mới kinh tế của Đảng tiếp tục củng cố và phát triển, tại Hội nghị TW8 Khóa
V (tháng 6/1985) bằng chủ trương dứt khoát xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, thực hiện cơ chế một phía; xóa bỏ chế độ cung cấp hiện vật theo giá thấp, chuyển mọi hoạt động sản xuất kinh doanh sang cơ chế hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Điểm quan trọng là Hội nghị đã thừa nhận sản xuất hàng hóa và các quy luật của sản xuất hàng hóa. Đối với nông nghiệp, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (tháng 4/1988) về tiếp tục đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, thực hiện việc khoán đến hộ, tạo động lực mới thúc đẩy nông nghiệp phát triển nhanh, toàn diện. Đảng khẳng định: kinh tế tập thể với nhiều hình thức đa dạng, mà nòng cốt là hợp tác xã, dựa trên sở hữu của các thành viên
Trang 21và sở hữu tập thể, liên kết rộng rãi người lao động, các hộ sản xuất – kinh doanh,….(Hội nghị TW 5 Khóa IX tháng 02/2002).
Như vậy, quan điểm đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển sản xuất nông nghiệp, chuyển nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trường vận động theo các quy luật kinh tế vốn có của nó; đặc biệt là việc phát triển nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất hoạt động sản xuất kinh doanh dưới nhiều thành phần kinh tế; trong nông nghiệp ngoài hình thức sở hữu tập thể, Đảng và Nhà nước chủ trương hình thành và phát triển kinh tế hộ gia đình, kinh tế tập trung theo hình thức sở hữu cá thể. Với quan điểm đổi mới trong những năm qua đã đưa nền kinh tế nước ta không chỉ thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế chính trị mà còn thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh, ổn định.
Nhà nước có chính sách khuyến khích hỗ trợ phát triển các trang trại, hộ sản xuất kinh doanh, trong nông nghiệp và ở khu vực nông thôn theo yêu cầu phát triển kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế. Tạo điều kiện thuận lợi để các trang trại và hộ sản xuất kinh doanh góp vốn phát triển theo hình thức hợp tác xã, công ty cổ phần hoặc trở thành doanh nghiệp tư nhân và các loại hình kinh doanh khác thích hợp.Nhận thức đầy đủ, tôn trọng và vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan của kinh tế thị trường, thông lệ quốc tế phù hợp với điều kiện phát triển của Việt Nam theo định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế.
Bảo đảm tính đồng bộ giữa các bộ phận cấu thành của thể chế kinh tế, giữa các yếu tố thị trường và các loại thị trường, giữa thể chế kinh tế với thể chế chính trị xã hội, giữa Nhà nước thị trường và xã hội. Gắn kết hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hóa và bảo vệ môi trường (Nghị quyết VI, Khóa X)
Trang 22Việt Nam, Hội nghị Trung ương 7 Khóa X đã ban hành Nghị quyết “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn” để chỉ đạo lãnh vực này.
1.3 Sự cần thiết khách quan và vai trò của việc phát triển kinh tế hộ gia đình nông thôn trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường
1.3.1 Sự cần thiết khách quan:
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất hình thành sớm nhất trong đời sống và hoạt động kinh tế của loài người; kinh tế hộ gia đình nông dân, với tư cách là một trong những hình thức tổ chức sản xuất trong trong lĩnh vực nông nghiệp vì vậy cũng được ra đời từ rất sớm, ở mỗi giai đoạn khác nhau vị trí của ngành nông nghiệp nói chung và kinh tế nông hộ nói riêng trong cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia đều có vị trí quan trọng: cung cấp lương thực, thực phẩm là nhu cầu tối cơ bản cho con người, nguyên vật liệu cho công nghiệp, sản phẩm cho xuất khẩu…; trong những thập kỷ gần đây KTHND trong lĩnh vực bảo vệ môi trường sinh thái cũng như KTHND gắn với các loại hình kinh tế khác đặc biệt là kinh tế hợp tác, kinh tế nhà nước đã và đang được nhiều quốc gia quan tâm.
Cùng với sự phát triển của LLSX và sự phân công lao động xã hội, KTHND đã có những biến đổi cơ bản về cách thức tổ chức sản xuất kinh doanh;
“Hộ tự cấp tự túc” với quy mô nhỏ, kỹ thuật canh tác lạc hậu, đã chuyển dần thành “ Hộ sản xuất hàng hóa” với kỹ thuật và công nghệ ngày càng cao, hiện đại, vận động theo cơ chế thị trường; năng suất lao động, tỷ suất hàng hóa trong nông nghiệp nhờ đó đã có những bước tăng trưởng vượt bậc. Tại các nước phát triển, mặc dầu hộ sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp chỉ chiếm 57% tổng số
hộ nhưng đã tạo ra một khối lượng nông sản đủ nhu cầu trong nước với mức tiêu dùng cao đồng thời có một phần để xuất khẩu
Trang 23Những thành tựu đó là kết quả của nhiều giải pháp, trong đó phát triển KTHND trong quá trình chuyển sang theo cơ chế thị trường là giải pháp có tầm quan trọng hàng đầu.
Quá trình phát triển kinh tế là quá trình trải qua nhiều phương thức tổ chức sản xuất, trải nghiệm nhiều cơ chế quản lý, đến nay thì cơ chế thị trường là vấn đề đã và đang được hầu hết các quốc gia quan tâm, nó là một trong những nội dung để đánh giá trong việc mở rộng và tham gia các tổ chức kinh tế của thế giới. Việc phát triển KTHND cũng vậy, là quá trình lịch sử trải qua nhiều giai đoạn, ở giai đoạn sơ khai của sản xuất nông nghiệp, con người hộ và gia đình khi mới hình thành, hoạt động kinh tế chủ yếu lúc này là săn bắn, hái lượm, nuôi dưỡng những thú vật săn bắt được, sau đó tiến hành trồng trọt, chăn nuôi tự cấp
tự túc. Cùng với sự phát triển của LLSX, phân công lao động xã hội phát triển, năng suất lao động tăng dần lên, sản xuất hàng hóa ra đời, các HND bắt đầu bán những sản phẩm dư thừa để trao đổi những sản phẩm cần thiết, thiếu; dần dần hộ nông dân chuyển hẳn sang sản xuất những sản phẩm có lợi thế với mục đích cung cấp (bán) cho người khác và với số lượng lớn ( không phải đơn giản là sản phẩm dư thừa ) và được chi phối theo cơ chế thị trường. Các hộ gia đình căn cứ vào nhu cầu cụ thể của thị trường về các loại nông sản, hoặc thu nhận những tín hiệu của thị trường về chủng loại, chất lượng, số lượng và giá cả của từng loại nông sản để tiến hành sản xuất. Quá trình này đòi hỏi tất yếu phải có sự chuyển đổi trong nông nghiệp và nâng cao trình độ của kinh tế hộ gia đình theo cơ chế thị trường.
Sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường phát triển càng cao thì sự phân công lao động diễn ra ngày càng sâu, rộng và vượt ra ngoài phạm vi một địa phương, một nước. Sản xuất hàng hóa của KTHND vì vậy cũng được đặt ra trong bối cảnh phân công và hợp tác quốc tế. Xuất phát từ mối tương quan trong hợp tác và cạnh tranh trên trường quốc tế , mỗi quốc gia đều nỗ lực phát huy lợi
Trang 24thế của mình để xuất khẩu nông sản, thực hiện các biện pháp để bảo hộ nông sản , có những biện pháp trực tiếp, những biện pháp gián tiếp, biện pháp cơ sở và định hướng…với mục tiêu giành lấy hoặc chiếm lĩnh thị trường. Như vậy, quá trình phát triển KTHND trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trường ban đầu chỉ là những hoạt động mang tính chất riêng lẻ, tự phát, dần dần cùng với sự phát triển của cơ chế thị trường, giữa các hộ hình thành một sự liên kết hợp tác một cách có tổ chức từ thấp đến cao như các hiệp hội, các nghiệp đoàn và tiến đến có sự can thiệp của Nhà nước là yếu tố không thể thiếu được dù bất cứ ở mỗi chế độ xã hội nào.
Vấn đề đặt ra là tại sao phát triển sản xuất hàng hóa, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước là vấn đề có tính quy luật của sự phát triển KTHND. Điều này có thể lý giải thông qua vai trò của KTHND trong nền kinh tế quốc dân nói chung và trong quá trình vận động chuyển sang cơ chế thị
Lịch sử phát triển sản xuất hàng hóa đã trải qua giai đoạn đầu tiên là kinh
tế tự nhiên sang kinh tế hàng hóa giản đơn trên quy mô hộ gia đình, tiếp theo là giai đoạn chuyển biến từ kinh tế hàng hóa giản đơn lên kinh tế thị trường với các hình thức tổ chức cao hơn như kinh tế trang trại hay hợp tác xã.
Quy mô thị trường được mở rộng từ thị trường địa phương lên thị trường toàn quốc và vượt ra khỏi biên giới quốc gia và nó càng thúc đẩy sự phát triển mạnh của nền sản xuất hàng hóa. Hoạt động của thị trường diễn ra thông qua
Trang 25Kinh tế nông hộ được coi là khâu trung gian có vai trò đặc biệt quan trọng trong giai đoạn chuyển biến từ kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hóa giản đơn lên kinh tế thị trường. Bước chuyển biến từ nền kinh tế tự nhiên sang nền kinh tế hàng hóa giản đơn trên quy mô hộ gia đình là một giai đoạn lịch sử mà nếu chưa trải qua thì không thể phát triển sản xuất hàng hóa quy mô lớn, thoát khỏi tình
để dành hoặc bị lãng phí vào những công việc khác không được sử dụng vào mục đích sản xuất tăng sản phẩm cho xã hội. Trong giai đoạn trước đây, chế độ kinh tế tập thể, hợp tác không tích tụ vốn hiệu quả (một phần do cơ chế, phần khác do hiệu quả kinh tế chưa được xác lập rõ ràng) nên không huy động được vốn trong các hộ để đưa vào sản xuất kinh doanh. Chỉ từ khi đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp, hộ nông dân trở thành đơn vị kinh tế tự chủ sản xuất kinh doanh với tính chất là một đơn vị hạch toán tự chủ, có khả năng thích ứng cao với môi trường để phát triển sản xuất kinh doanh, mặc nhiên kinh tế nông hộ trở thành đơn vị tích tụ vốn. Cùng với sự phát triển của sản xuất kinh doanh, mức độ tích lũy vốn cao, kinh tế nông hộ càng có điều kiện để chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển ngành nghề, mở rộng sản xuất kinh doanh. Nhờ vậy, mặc dù những năm qua tỷ trọng vốn đầu tư của Nhà nước có xu hướng giảm nhưng kinh tế nông nghiệp vẫn phát triển ổn định với tốc độ khá cao. Nguyên nhân chính là nhờ sự tích tụ vốn của từng nông hộ
Trang 261.3.2.3 Kinh tế nông hộ là đơn vị cơ sở thực hiện phân công lao động xã hội trong nông nghiệp, nông thôn.
Trong nền kinh tế tự nhiên, sản xuất của nông hộ chủ yếu nhằm thỏa mãn nhu cầu thiết yếu của gia đình, chỉ có sản phẩm dư thừa mới trở thành hàng hóa nhưng phần nhiều mang tính chất ngẫu nhiên, lao động của nông hộ chưa thật sự trở thành lao động xã hội. Ngược lại, chuyển sang nền sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường, sản xuất của nông hộ chủ yếu cho thị trường, cho nhu cầu xã hội. Điều đó đòi hỏi phải phát triển kinh tế toàn diện, cả trồng trọt và chăn nuôi, để một mặt giải quyết vấn đề lương thực, thực phẩm cho toàn xã hội; mặt khác, phải đáp ứng nhu cầu nguồn nguyên liệu cho công nghiệp và hàng hóa xuất khẩu. Như vậy, sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường đã phá vỡ cơ cấu kinh
tế tự cấp tự túc và hình thành cơ cấu kinh tế mới ngay trong từng nông hộ.
Với tư cách là đơn vị cơ sở tích tụ vốn, kinh tế hộ có điều kiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển dịch lao động. Kinh tế hộ trở thành đơn vị kinh tế cơ
sở thực hiện sự phân công lao động xã hội. Thực tiễn phát triển kinh tế nông hộ thời gian qua cho thấy: nhờ tích tụ vốn gia đình và nhờ huy động thêm các nguồn lực khác, nhiều hộ đã phát triển sản xuất kinh doanh rất đa dạng: kinh doanh nông – lâm ngư nghiệp, mở mang các ngành nghề, kinh doanh tổng hợp. Phát huy lợi thế so sánh đã xuất hiện những hộ chuyên sản xuất một loại hàng hóa cung cấp cho thị trường. Đó là biểu hiện cụ thể và sinh động của phân công lao động xã hội đã diễn ra từ đơn vị cơ sở (kinh tế nông hộ) và đó cũng là điều
mà chúng ta mong đợi
Trang 271.3.2.4 Kinh tế nông hộ là đơn vị kinh tế cơ sở tiếp nhận khoa học kỹ thuật, đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế.
Kinh tế nông hộ sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường phải chú ý đến vấn đề lợi nhuận và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Điều đó buộc hộ phải tìm mọi biện pháp để tăng năng suất lao động để cạnh tranh thắng lợi.
Các chủ hộ một mặt phải sử dụng có hiệu quả những kinh nghiệm sản xuất lâu đời, mặt khác phải áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất kinh doanh. Ở đây động cơ lợi nhuận và lợi ích kinh tế là động lực thúc đẩy hộ áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất. Nó là một quá trình tự giác gắn với lợi ích thiết thân của từng hộ, khác với việc áp dụng kỹ thuật công nghệ trong chế độ kinh tế của hợp tác xã trước đây. Thông qua việc
áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất kinh doanh ở từng hộ, cùng đồng thời xảy ra quá trình sàng lọc và cải tiến kỹ thuật làm cho nó thật sự thích ứng và mang lại hiệu quả kinh tế cao. Như vậy, kinh tế hộ vừa là nơi lưu giữ những kinh nghiệm truyền thống, vừa là nơi tiếp nhận, ứng dụng phát triển và hoàn thiện thêm những công nghệ mới – là điều kiện vững chắc bảo đảm cho việc nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh của từng kinh
tế nông hộ.
1.3.2.5 Kinh tế nông hộ là đơn vị kinh tế cơ bản đáp ứng cung cầu của thị trường và đơn vị tiêu dùng xã hội.
Là đơn vị kinh tế tự chủ sản xuất kinh doanh hàng hóa, nông hộ phải căn
cứ vào nhu cầu của thị trường để lên phương án sản xuất kinh doanh: loại sản phẩm gì, khối lượng, chất lượng như thế nào, tiêu thụ ở đâu, giá cả bao nhiêu? Cần mua những vật tư gì cho sản xuất kinh doanh, hạch toán lỗ lãi,… Vô hình chung mỗi hộ thành một đơn vị cân đối cung cầu theo tiếng gọi của thị trường và
là một đơn vị tiêu dùng của xã hội
Trang 28Nhờ ưu thế của một đơn vị sản xuất quy mô nhỏ, tự tích lũy vốn, ứng dụng khoa học công nghệ và thực tiễn phân công lao động xã hội từ cơ sở nền kinh tế nông hộ cho phép nhanh chóng đáp ứng được nhu cầu thị trường và thích ứng được với mọi sự biến đổi mà cơ chế thị trường gây ra.
Kinh tế nông hộ dễ dàng tổ chức lại sản xuất, phân công lao động, bắt tay ngay vào sản xuất kinh doanh mặt hàng mà thị trường đang và sẽ có nhu cầu một cách nhanh chóng trong khi các đơn vị sản xuất lớn khó chuyển biến kịp. Vì vậy, kinh tế nông hộ có khả năng thích ứng cao với mọi nhu cầu của thị trường
mà ít có hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh nào ưu thế hơn.
Thực tế cho thấy, ở hầu khắp các quốc gia trên thế giới, kinh tế nông hộ đảm bảo hầu như toàn bộ lương thực, thực phẩm, rau quả tươi sống, một phần nông sản làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến,… Điều đó khẳng định vai trò quan trọng của kinh tế nông hộ trong việc đáp ứng nhanh quan hệ cung cầu trong nền kinh tế thị trường. Mặt khác, nông hộ lại tiêu thụ hàng công nghệ phẩm, dịch vụ của khu vực công nghiệp, thành thị. Như vậy, với tư cách là đơn
vị tiêu dùng xã hội, hàng triệu nông hộ trải rộng trên địa bàn nông thôn rộng lớn, thực sự là thị trường tiêu thụ thúc đẩy các ngành công nghiệp, dịch vụ, khu vực thành thị phát triển.
Từ những sự phân tích trên, có thể rút ra kết luận: Phát triển KTHND trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trường là một tất yếu khách quan, một đòi hỏi của sự phát triển xã hội nhưng sẽ là quá trình khó khăn, phức tạp, và rất cần đội ngũ lãnh đạo vĩ mô và vi mô đủ bản lĩnh và trí tuệ để ổn định chính trị và định hướng điều tiết về phát triển kinh tế đúng hướng
Trang 291.3.3 Thực tế phát triển kinh tế nông hộ ở một số tỉnh trong nước, bài học kinh nghiệm
1.3.3.1 Thực tế phát triển kinh tế nông hộ ở một số tỉnh trong nước
Hiện nay nước ta có trên 13 triệu hộ nông dân, lực lượng này là nền tảng của nền kinh tế, góp phần đảm bảo an ninh lương thực, giữ vững an ninh chính trị xã hội. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, việc xây dựng mô hình kinh tế hộ sản xuất nông nghiệp hàng hóa là rất cần thiết.
Kinh tế hộ nông dân đã có đóng góp lớn cho kinh tế nông nghiệp, sản xuất lúa gạo đạt tỷ suất hàng hóa khoảng trên 50%, cà phê 45%, cao su 85%, chè trên 60%, điều trên 90%. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận không nhỏ hộ gia đình đang loay hoay trong cảnh sản xuất tự cấp, tự túc, thậm chí còn nhiều hộ sản xuất tự nhiên, nhất là ở vùng núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Nền kinh
tế hàng hóa phát triển cũng đồng thời dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo. Về lương thực, thực phẩm tỷ lệ hộ nghèo cả nước là 28,9%, trong đó nông thôn là 35,7% (thấp nhất là vùng Đông Nam Bộ 22%, cao nhất là vùng Tây Bắc 68,7%). Hiện nay, cả nước vẫn còn trên 1 triệu hộ nghèo. Thực tế phát triển kinh tế hộ gia đình trên cả nước được thể hiện qua các mô hình tổ chức sản xuất kinh doanh
Trang 30Mô hình hộ nông dân chuyên canh nông nghiệp phù hợp và phổ biến ở gần các đô thị, doanh nghiệp (cao su, chè, cà phê, bông, mía đường hoặc xí nghiệp chế biến giấy). Mô hình kinh tế hộ loại này thường có quy mô lớn, khối lượng hàng hóa nhiều, cho thu nhập ổn định, đời sống người dân được cải thiện. Tuy nhiên, dễ gặp rủi ro do giá cả biến động theo thị trường, ảnh hưởng nhiều
bởi thời tiết, khí hậu.
Mô hình sản xuất lúa nước nuôi cá nước ngọt chăn nuôi gia cầm
Phát triển chủ yếu ở vùng Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long, các tỉnh vùng trũng trồng một vụ lúa không chắc ăn. Mô hình này thực sự
có hiệu quả. Doanh thu nhiều hộ hàng năm đạt hàng trăm triệu đồng, thu nhập đạt hàng chục triệu đồng. Đây là những nông hộ cung cấp lượng nông sản hàng hóa lớn cho xuất khẩu, tuy nhiên những vấn đề như dịch bệnh, giá cả bấp bênh
và thiếu thông tin về thị trường có ảnh hưởng lớn đến sự bền vững của mô hình.
Mô hình hộ liên kết chăn nuôi lợn theo phương thức bán công nghiệp thâm canh lúa, màu
Mô hình này đã và đang phát triển có hiệu quả ở Đồng bằng sông Hồng. Loại mô hình này cần có sự liên kết chặt chẽ giữa các hộ, giữa hộ với các chủ thể thu gom, chế biến, xuất khẩu. Để mô hình phát triển cần đảm bảo quy trình
kỹ thuật chăn nuôi, phòng trừ dịch bệnh, chuồng trại hiện đại; có giống lợn và giống lúa tốt. Bên cạnh đó các chủ hộ cũng cần xác định quy mô hợp lý, chủ
động nguồn thức ăn và nắm chắc thông tin thị trường tiêu thụ.
Mô hình sản xuất cây giống (cây trồng nông, lâm nghiệp), vật nuôi (lợn giống, gia cầm giống và các giống vật nuôi thủy đặc sản)
Đây là mô hình phát triển sản xuất giống cây trồng ở trung du miền núi (giống cà phê, cao su, chè, cây ăn quả các loại); giống vật nuôi ở Đồng bằng sông Cửu Long, Đồng bằng sông Hồng , ven biển (giống tôm, cua,
cá ba ba). Mô hình này rất hấp dẫn về các loại giống mới, đặc sản, giống
Trang 31sạch, có chất lượng và sản lượng cao, có giá trị trên thị trường trong nước và xuất khẩu. Mô hình này cho lãi cao nhưng chủ hộ phải có vốn lớn, nắm vững
khoa học và công nghệ , việc nhân rộng không dễ.
Mô hình nuôi bò sữa chế biến tiêu thụ tại chỗ
Mô hình này được phát triển ở ngoại thành Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh hoặc các vùng có khí hậu thuận lợi như Mộc Châu (Sơn La), Vĩnh Phúc, Lâm Đồng. Nếu chế biến và tiếp thị tốt, có trang thiết bị hiện đại, tổ chức quản
lý tốt, đảm bảo vệ sinh an toàn thì mô hình này sẽ đạt hiệu quả và phát triển bền vững. Tuy nhiên, hiện nay mô hình này đang gặp khó khăn do giá cả biến động
theo chiều không có lợi cho nông dân.
Mô hình chuyên canh rau, hoa, quả xuất khẩu dịch vụ thương mại tại nhà
Mô hình này đang phát triển mạnh tại vùng ven thành phố Đà Lạt (Lâm Đồng), vùng có khí hậu á nhiệt đới: Sa pa (Lao Cai), Lạng Sơn, Cao Bằng, Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Lục Ngạn (Bắc Giang ). Để mô hình này phát triển, các hộ cần nâng cao hơn nữa chất lượng, hình thức, khả năng bảo quản và uy tín trên thị
trường, cần chú ý đến thương hiệu.
Mô hình nông lâm kết hợp
Loại mô hình này được phát triển rộng rãi ở vùng trung du và miền núi. Cây trồng gồm: Cây rừng, đỗ đậu, cây ăn quả, cây dược liệu, cây công nghiệp, cây đặc sản. Vật nuôi gồm trâu, bò, lợn, dê, gia cầm, chim, thú rừng Hoạt động lâm nghiệp gồm: Bảo vệ, khai thác, trồng, sơ chế, chăm sóc, cải tạo rừng Phương thức canh tác đặc trưng là canh tác trên đất dốc.
Hiện nay, một số nơi đã xuất hiện các nghề như dịch vụ du lịch sinh thái, sản xuất chuyên sâu những sản phẩm là đặc sản địa phương như heo rừng lai,
Trang 32năng ứng dụng KH&CN, hạ tầng cơ sở , và đôi khi còn bị động về thị trường.
1.3.3.2 Bài học kinh nghiệm từ thực tế phát triển kinh tế nông hộ
Qua thực tế phát triển kinh tế nông nghiệp trên thế giới, trong nước và ở địa phương có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm về củng cố, ổn định và phát triển kinh tế hộ gia đình nông dân ở nước ta như sau:
Một là, xuất phát từ đặc điểm của sản xuất ngành nông nghiệp là mang tính chu kỳ, thời vụ chịu tác động bởi nhiều yếu tố, trong đó cơ bản nhất là yếu
tố tự nhiên, nó đòi hỏi tính chủ động và tự chủ cao khác với tổ chức sản xuất kinh doanh công nghiệp. Vì vậy mô hình kinh tế hộ gia đình, cao hơn là kinh tế trang trại trong nông nghiệp là hình thức phù hợp trong phát triển sản xuất nông nghiệp. Kinh tế hộ gia đình kinh tế trang trại chủ yếu sử dụng lao động trong gia đình, trong chừng mực nào đó nông hộ cũng có thuê lao động nhưng nó không thường xuyên mà chỉ vào những lúc cao điểm của thời vụ.
Hai là, kinh tế hộ gia đình trong nông nghiệp không phải là hình thức riêng có của xã hội nào, giai đoạn nào, nó ra đời, tồn tại trong giai đoạn tự cấp
tự túc, và còn phù hợp, tác động tích cực trong nền sản xuất hàng hóa.
Ba là, vấn đề liên kết và hợp tác trong sản xuất nông nghiệp phải được coi trọng. Kinh tế nông hộ là những đơn vị kinh tế tự chủ và độc lập tương đối, tuy nhiên do đặc tính sản xuất chịu sự tác động của tự nhiên, cộng đồng, nhất là
do hạn chế của bản thân kinh tế hộ, sự hợp tác, liên kết của các nông hộ trong sản xuất là không thể không có.
Bốn là, phải có quy hoạch, kế hoạch và định hướng phát triển,cũng như
hỗ trợ của Nhà nước. Chính quyền các cấp, trong phạm vi lãnh thổ quản lý hành chính kinh tế và mối quan hệ với các vùng khác, phải xây dựng quy hoạch của cấp mình (bao gồm quy hoạch tổng thể, quy hoạch chi tiết ngành và sản phẩm…); cần có biện pháp cụ thể, hỗ trợ có hiệu quả về giống cây trồng, vật
Trang 33nuôi, thị trường đảm bảo ổn định cho hộ nông dân nói chung nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng.
Tóm lại do đặc điểm của sản xuất ngành nông nghiệp, mà hình thức tổ chức sản xuất phù hợp và hiệu quả nhất đó là kinh tế hộ gia đình nông dân.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều sự quan tâm về vấn
đề nông hộ như chủ trương “bốn nhà” trong đó có nhà nông. Đặc biệt mới đây nhất Hội nghị Ban chấp hành Trung ương 7 Khóa X của Đảng đã ban hành Nghị quyết “Tam nông” là nông nghiệp nông thôn và nông dân, trong đó coi trọng thành phần kinh tế hộ gia đình và kinh tế trang trại
Trang 34số liệu kiểm tra đến cuối năm 2008, diện tích tự nhiên 102.729,48 ha, chiếm 30,57% diện tích toàn tỉnh, trong đó: đất lâm nghiệp 81.231,01 ha, chiếm 79,07%; đất nông nghiệp 12.346,86 ha chiếm 12,01%; đất phi nông nghiệp 5.277,41 ha chiếm 5,13%; đất chưa sử dụng 3.792,32ha chiếm 3,7%.
Diện tích tự nhiên tuy lớn, nhưng chủ yếu là đất đồi núi, đất mặt nước và một phần đất bằng đã bị thoái hóa không còn sức sản xuất; lượng mưa phân phối theo mùa đã chi phối mạnh mẽ đến sản xuất nông nghiệp. Mùa mưa (vụ hè thu
và vụ mùa) cây cối phát triển rất tốt là mùa sản xuất chính, ngược lại mùa khô (vụ đông xuân) cây cối khô cằn và phát triển rất kém. Vì vậy ngoài những diện tích đất được tưới bởi các công trình thủy lợi, còn lại hầu hết đất chỉ sản xuất được một vụ trong mùa mưa. Địa hình phức tạp bị chia cắt nhiều bởi các dãy núi cao, xen kẽ các sông, suối và các thung lũng nhỏ nên việc đi lại, giao lưu giữa các khu dân cư gặp rất nhiều khó khăn. Độ ẩm không khí là 76%; chỉ số ẩm ướt bình quân cả năm là 0,59. Tháng có độ ẩm tương đối thấp là tháng 1, tháng 2;
Trang 35tháng có độ ẩm tương đối cao là tháng 9, 10 và tháng 11. Chênh lệch giữa tháng khô nhất và tháng ẩm nhất khá lớn (xấp xỉ 1221%). Lượng nước bốc hơi rất lớn, trung bình từ 1.6501.850mm, trong năm có tháng lượng bốc hơi trên 100mm/1tháng (lớn nhất vào các tháng 3 và tháng 4). Nằm ở vĩ độ thấp, huyện Bác Ái nhận được nhiều năng lượng bức xạ mặt trời và ít bị ảnh hưởng bởi gió mùa Đông Bắc, bởi vậy nhiệt độ không khí trung bình quanh năm cao (từ 27 27,8 o C), chênh lệch nhiệt độ giữa tháng lạnh nhất và tháng nóng nhất chỉ có 5,4 o C, nhiệt độ trung bình tối cao các tháng trong năm từ 3035 o C, nhiệt độ tối thấp trung bình tháng trong năm từ 1724,5 o C, tổng tích ôn tương đối cao (10.00010.400 o C) và phân bổ tương đối đồng đều theo mùa, do vậy cho phép sản xuất trồng cây quanh năm. Đây là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển cây trồng nhiệt đới. Tuy nhiên sản xuất nông nghiệp còn chủ yếu dựa vào thiên nhiên; trình độ dân trí thấp, tập quán sản xuất lạc hậu; kết cấu hạ tầng phục vụ
sản xuất và đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân còn nhiều khó khăn.
+ Về tài nguyên đất:
Đất đai được hình thành chủ yếu trên đá mẹ Macmaaxit, Macmabajơ và Macma trung tính, đá trầm tích đặc biệt là trầm tích đệ tứ, có nguồn gốc sông biển. Trừ nhóm đất phù sa có độ phì khá, còn lại là đất nghèo dinh dưỡng.
Tổng hợp diện tích các loại đất trên bản nông hỏa thổ nhưỡng 1/50.000 toàn vùng có 7 nhóm đất gồm: Nhóm đất cát, nhóm đất mặn, nhóm đất phù sa, nhóm đất xám, nhóm đất đỏ vàng, nhóm đất mùn trên núi cao, nhóm đất xói mòn từ sỏi đá và nhóm các loại đất khác. Mỗi một nhóm đất có tính chất lý hóa khác nhau và do đó hướng sử dụng chúng cũng khác nhau.
Đặc điểm về đất ở Bác Ái hầu hết nằm trên sườn dốc do đó phù hợp cho việc phát triển trổng cây lâu năm, cây công nghiệp, cũng như chăn nuôi đàn gia súc hơn là trồng cây lương thực
Trang 36Huyện Bác Ái là vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình với các đặc trưng là khô nóng, gió nhiều, lượng bốc hơi lớn (16501.850mm).
Lượng mưa: lượng mưa trong năm từ 600800mm và số ngày mưa khoảng từ 4590 ngày/năm. Nhìn chung, lượng mưa năm có xu thế tăng dần từ thấp đến cao, từ Đông sang Tây. Mưa nhiều nhất là ở khu vực phía Tây và Tây
Bắc (trung bình hàng năm khoảng 2.000mm).
+ Đặc điểm về tài nguyên rừng:
Diện tích đất còn rừng tính đến cuối năm 2008 là 81.231,01 ha, chiếm 79,07% diện tích đất có rừng toàn tỉnh. Trữ lượng gỗ còn khoảng 8 9 triệu m 3 , hằng năm cho phép khai thác gỗ chính phẩm phục vụ cho xây dựng và dân dụng
từ 2000 đến 3000 m 3 .
Ngoài ra rừng ở Bác Ái đa dạng và phong phú, bao gồm nhiều loại rừng khác nhau và phân bố trên các dãy núi cao, núi thấp … và rừng khộp là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế hộ trong sản xuất lâm nghiệp kể cả
chính sách giao rừng khoán quản.
+ Đặc điểm về tài nguyên nước:
· Nước mặt: Huyện Bác Ái có 4 con sông chính, trong đó sông Cái là sông chính của tỉnh. Sông Cái dài 119km gồm 10 sông nhánh phân bố khắp các
xã miền núi như Sông Sắt, Sông Trà Co, Sông Ông …. là tài nguyên quý giá cho việc ngăn đập xây dựng thủy điện, thủy lợi, xây dựng các hồ vừa lưu trữ và cung cấp nước cho thủy lợi và sinh hoạt, đồng thời là hệ thống hồ điện hóa để chỉnh các dòng lưu, diện tích lưu vực của Sông Cái khoảng 3.000km 2 . Ngoài ra còn các sông khác ngoài Sông Cái là Sông Trâu, Sông Bà Râu và Sông Quán Thẻ.
Sông ngòi có lưu vực nhỏ, sông hẹp, dốc, vùng đầu nguồn chủ yếu là rừng thưa, rừng nghèo nên nguồn nước không được phong phú. Việc khai thác nguồn nước mặt phục vụ sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt cho các xã vùng thượng
Trang 37lưu bị hạn chế do địa hình các vùng đất canh tác ven sông cao, không bằng phẳng. Hiện nay trên các sông suối ở miền núi đã và đang xây dựng một số công trình thủy lợi như đập Cà Tiêu, đập ChàVin, đập Trà Co, … để cung cấp nước tưới và nước sinh hoạt. Tuy đã xây dựng được một số công trình thủy lợi nhưng
do lượng mưa ít, lượng bốc hơi nhiều nên các công trình trên vẫn chưa thể cung cấp đủ nước sinh hoạt và nước sản xuất của nhân dân trong vùng. Do vậy, gần đây được sự quan tâm của Chính Phủ, tỉnh đang xây dựng một số công trình thủy lợi quan trọng khác như hồ Sông Sắt ( sức chứa 65 triệu m 3 nước), hồ Tân
Mỹ, và các đập thủy lợi nhỏ khác như đập Tà Lóc, đập Bà Rơ…
*Nước ngầm:
Theo kết quả thăm dò của ngành địa chất thủy văn, chương trình UNICEF đánh giá cho thấy: Trữ lượng nước ngầm trong ít, tồn tại dưới dạng khe nứt và
lổ hỏng trong đới phong hóa. Ở vùng đồi núi nước ngầm sâu (quan sát các giếng nước đào sâu 15 20m về mùa khô đều cạn, kiệt). Nhìn chung việc khai thác nước ngầm gặp nhiều khó khăn. Nguồn nước ngầm không đủ để đáp ứng cho sản xuất và sinh hoạt.
Với lợi thế về hệ thống hồ chứa nước và kênh mương thủy lợi cùng với địa thế đất tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nuôi trồng cá nước ngọt với quy mô nhỏ và vừa trên diện rộng phù hợp với mô hình của kinh tế hộ gia đình; hệ thống các con sông, con suối chảy qua các sườn đồi tạo ra những con thác là một trong những lợi thế cho việc phát triển du lịch nhất là du lịch sinh
thái.
2.1.2/ Đặc điểm về kinh tế
Sản xuất chủ yếu là nông nghiệp; trong nông nghiệp cây trồng chính là trồng lúa và bắp địa phương phụ thuộc vào tự nhiên, năng suất thấp, sản lượng bình quân chưa đạt được 1tấn/ha, chi phí cao
Trang 38Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp có chú trọng nhưng chưa được phát triển, chủ yếu là tập quán sản xuất của nông dân còn quá lạc hậu, chưa quen với việc tổ chức sản xuất công nghiệp; thủ công nghiệp mang tính riêng lẻ, quy mô gia đình là chính.
Về thương mại – dịch vụ: sau khi hệ thống thương nghiệp nhà nước tan
rã, các hợp tác xã mua bán giải thể, mạng lưới thương mại và dịch vụ chủ yếu do
tư thương đảm nhận, nó đã tạo ra được bước đầu thói quen mua bán và giao lưu hàng hóa đối với nông dân; mặt khác nó cũng là sức nặng đè lên vai nông dân như hiện tượng vay nặng lãi, bán sản phẩm non, bán khấu trừ nợ,…
Hệ thống kết cấu hạ tầng:
+ Hệ thống đường giao thông: trên địa bàn huyện có quốc lộ 27B dài
52km (có 46 km đi qua huyện), là tuyến đường huyết mạch quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội và giao lưu hàng hóa đã bị xuống cấp trầm trọng, hiện đang được Bộ giao thông vận tải cho nâng cấp, sữa chữa. Đối với các tuyến đường giao thông từ huyện đến các xã cơ bản được xây dựng nhưng chủ yếu bằng đường cấp phối sỏi đỏ (101km/123km tổng chiều các tuyến đường tòan huyện). Hệ thống cầu cống chưa hòan thiện vào mùa mưa thường bị sình lầy, xói
lở đi lại hết sức khó khăn và bị chia cắt khi có mưa lũ xảy ra. Hiện nay còn 2 xã chưa có đường ôtô đến trung tâm huyện, phải đi nhờ qua địa bàn huyện bạn.
+ Công trình thủy lợi: Trên địa bàn huyện có 01 công trình thủy lợi lớn và
02 công trình vừa, trong đó có công trình hồ chứa nước sông Sắt (năng lực tưới theo thiết kế 3.800ha) đã hòan thành hệ thống đập và kênh chính nhưng thiếu kênh mương cấp 2 và cấp 3 nên dù đã được đưa vào sử dụng nhưng chưa phát huy hết hiệu quả; còn lại 2 công trình đang thi công chủ yếu phục vụ tưới vùng
hạ lưu, trên địa bàn huyện hưởng lợi từ công trình này không nhiều. Có 7/9 xã
đã có công trình đập dâng nhỏ, một số được xây dựng trước năm 2000 hiện đã xuống cấp, số còn lại mới được đầu tư xây dựng. Tuy nhiên do nguồn vốn có
Trang 39hạn, trong khi đó nhu cầu kiên cố hóa kênh mưong lớn, nên hiện nay còn một số tuyến kênh mương và công trình chưa được đầu tư, vì vậy diện tích đất sử dụng nước tưới còn rất hạn chế (728ha, chiếm 7,2% diện tích đất nông nghiệp tòan huyện), chỉ đáp ứng một phần nhu cầu tưới và không đủ nước phục vụ cho những tháng mùa khô.
+ Công trình nước sinh họat: đến nay huyện chỉ có một công trình nước
sinh họat tự chảy với quy mô vừa, chỉ đủ phục vụ cho khu vực trung tâm của 2
xã Phước Đại và Phước Thắng. Ngòai ra công trình cấp nước sinh họat cho nhân dân đã được xây dựng ở 7/9 xã còn lại, các công trình này là hệ thống tự chảy (chỉ qua xử lý lọc thô) và được xây dựng kết hợp với các công trình đập dâng thủy lợi nhỏ của xã nên chỉ mới đáp ứng cho khỏang 50% hộ dân; chất lượng nước không đảm bảo đặc biệt là vào mùa mưa lũ do lấy trực tiếp từ sông suối.
+ Hệ thống điện lưới quốc gia: đã được đầu tư 9/9 xã nhưng chủ yếu tập
trung ở các thôn trung tâm, còn một số cụm dân sống xa trung tâm và thôn hiện vẫn chưa có điện (thôn Gia É, Bố Lang – xã Phước Bình, dân cư khu vực Ô Căm – xã Phước Trung, thông Đá Trắng, suối Rua Cao – xã Phước tân, thôn Tà Lọt – xã Phước Hòa, thôn Ma Dú – xã Phước Thành).
+ Các chợ Trung tâm: hiện nay tòan huyện có 2/9 xã đã xây dựng chợ
trung tâm nhưng chỉ có chợ Phước Đại (là trung tâm huyện) đi vào họat động, việc giao lưu mua bán hàng hóa tại các chợ còn nhỏ, lẻ, sức mua chưa cao.
+ Về trường học: hệ thống cơ sở vật chất các trường tiểu học cơ bản đáp
ứng được nhu cầu dạy và học; riêng đối với bậc trung học cơ sở chỉ có 05/09 xã
có trường, đang học nhờ trường tiểu học; có một trường THCS Dân tộc nội trú được xây dựng từ năm 1998 nhưng mới chỉ tập trung xây dựng cơ sở vật chất bảo đảm cho phòng học, các công trình như khu hiệu bộ, phòng chức năng, tường rào khuôn viên trường, nhà ở giáo viên chưa được đầu tư đồng bộ
Trang 40Nhìn chung bức tranh về kinh tế của nông thôn ở huyện Bác Ái còn quá nhiều khó khăn; đời sống nhân dân còn quá nghèo. Mới đây huyện Bác Ái (là huyện miền núi với hơn 95% là đồng báo dân tộc) được Nhà nước xếp vào trong
62 huyện nghèo của cả nước và thuộc diện được hỗ trợ để giảm nghèo nhanh và phát triển bền vững ( theo Nghị quyết 30a/2008/NQCP ngày 27/12/2008 của Chính phủ). Sự phát triển kinh tế của huyện được thể hiện qua các chỉ tiêu và biểu cơ cấu ngành kinh tế như sau:
Tổng giá trị sản xuất năm 2008 đạt 118,95 tỷ đồng (theo giá cố định năm 1994); tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 11,04% so với năm 2001.
Công nghiệp – Xây dựng(%) 20,17 47,61 30,89 /
Thương mại DV(%) 36,4 39,58 22,90
19,95
Nguồn: Báo cáo kinh tế xã hội năm 2008 của tỉnh, huyện và thành phố thuộc tỉnh.