1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Định hướng phát triển kinh tế hộ nông dân huyện bác ái tỉnh ninh thuận trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường đến năm 2020

96 435 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 771,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

· Về lý luận: + Vận dụng có hệ thống những lý luận về sự phát triển kinh tế hộ gia đình nông dân miền núi trong bối cảnh nền kinh tế cả nước đang chuyển sang xây dựng và phát triển nền k

Trang 1

1.  Lý do chọn đề tài 

Kinh tế hộ nông dân ­ một hình thức kinh tế cơ bản của nền sản xuất nông nghiệp. Cả về lý luận và thực tiễn đã chứng minh rằng, lịch sử phát triển của nền nông nghiệp thế giới cho đến nay, gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của KTHND. 

Ở Việt Nam, trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc trước đây, hôm nay và cả mai sau,  cho dù  trải qua  những thay đổi  về  thể  chế,  trải  qua  những  thăng  trầm như thế nào, thì KTHND đã, đang và sẽ tồn tại, phát triển cùng với sự phát triển của đất nước như một thực thể kinh tế không thể thiếu được ở nông thôn. 

Thực  tiễn  đổi mới cơ  chế quản  lý  kinh  tế nông  nghiệp  trong những năm qua, nhất là từ sau khi có Nghị quyết 10 của Bộ chính trị Đảng Cộng sản VN tới nay, KTHND được thừa nhận là đơn vị kinh tế tự chủ, được giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài, đã tạo cơ sở, điều kiện cần thiết cho KTHND chuyển nhanh sang phát triển sản xuất theo hướng kinh tế hàng hóa. Có thể nói, trong những năm qua, lực lượng góp phần quyết định tạo nên những thành tựu to lón trong nông  nghiệp  nói  riêng,  thúc  đẩy  tăng  trưởng  kinh  tế  đất  nước  nói  chung,  làm biến đổi bộ mặt xã hội nông thôn theo hướng tích cực, không thể không kể đến vai trò của KTHND. 

Cũng như các địa phương khác trong cả nước, ở tỉnh Ninh Thuận kinh tế nông nghiệp nông thôn hiện nay chủ yếu  do KTHND đảm nhiệm. Sự cải thiện điều kiện kinh tế xã hội đã thúc đẩy KTHND phát triển nhanh chóng, tác động tích cực đến việc phát triển sản xuất hàng hoá, cải thiện đời sống của nông dân. Tuy  nhiên,  sự  phát  triển  của  KTHND  ở  các  địa  phương  trong  tỉnh  không đều nhau, bên cạnh các huyện ven biển KTHND có nhiều khởi sắc, thì huyện miền núi Bác ái KTHND đang đứng trước nhiều khó khăn vướng mắc, nhiều vấn đề 

Trang 2

có tình trạng nông dân mất đất do có sự hoạt động tự phát của qui luật tập trung ruộng đất; tình trạng du canh du cư. Một số địa phương cấp xã chưa nhận thức đúng  vị  trí  vại  trò  của  KTHND  trong  việc  phát  triển  kinh  tế  xã  hội.  Bản  thân Kinh tế hộ do năng lực kinh tế yếu kém, thiếu vốn, thiếu kiến thức mang nặng tâm lý tiểu nông tự cấp tự, túc dẫn đến thu hẹp sản xuất cản trở việc chuyển nền nông  nghiệp  sang  sản xuất  hàng  hóa.  Tình  hình  kết  cấu  hạ  tầng  với  tư  cách  là điều  kiện chung  cho sự  phát  triển  KTHND còn  rất thấp  kém.  Sự  hỗ  trợ  và tác động của các ngành công nghiệp và dịch vụ liên quan đến các yếu tố đầu vào và đầu ra  sản  xuất của KTHND  còn  nhiều  bất  cập.  Tình  trạng  nghèo đói  còn khá phổ biến. Một số chính sách và cơ chế vĩ mô chưa hợp lý, chưa đồng bộ. Tất cả tình hình trên đang đặt ra những đòi hỏi bức xúc cả về lý luận và thực tiễn phải tháo gỡ những trở ngại, tìm ra những giải pháp hữu hiệu, phù hợp với thực tế địa phương nhằm tạo điều kiện thuận lợi để KTHND huyện Bác ái khắc phục tình trạng tự cấp  tự ,túc,  chuyển  nhanh  sang phát  triển  sản  xuất  theo hướng  kinh  tế 

hàng hoá. Đề tài “ Định hướng phát triển kinh tế hộ gia đình nông dân huyện  Bác Ái tỉnh Ninh Thuận trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường đến  năm 2020 ”  mà chúng tôi lựa chọn làm luận văn cao học là xuất phát từ đòi hỏi 

Trang 3

A.V.Chaianov,  người  sống  cùng  thời  với  Lênin,  ông  cho  rằng,  kinh  tế nông hộ phát triển qua nhiều chế độ xã hội khác nhau và nó phát triển theo quy luật  vận  động  riêng  chứ  không  đi  theo  con  đường  Tư  bản  chủ  nghĩa.  Đặc  biệt ông cũng có nhiều quan điểm tương đồng với Lênin về vấn đề hợp tác hóa trong nông nghiệp. Theo A.V.Chaianov, hợp tác xã chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó hỗ trợ cho kinh tế nông hộ phát triển. 

Ở Việt Nam vấn đề nông hộ mới chỉ được đặt ra khi Đảng và Nhà nước thực hiện  chính  sách  đổi mới. Khi  nền  kinh  tế  thực sự  khủng  hoảng,  nền nông nghiệp  trở  nên  trì  trệ  do  ảnh  hưởng  của  nhận  thức  sai  lầm  của  nền  kinh  tế  kế hoạch hóa­ tập trung, thì việc củng cố và phát triển kinh tế nông hộ mới được đề cập. Từ đó đã có nhiều công trình đi vào nghiên cứu. 

Hiển  nhiên,  mỗi  quốc  gia,  mỗi  vùng  kinh  tế  tùy  thuộc  vào  điều  kiện  tự nhiên, xã hội và lịch sử hình thành nên tập quán sản xuất của người nông dân, nhất là sản xuất ở từng hộ trong những mối quan hệ với cộng đồng, mà vấn đề nghiên cứu sẽ có những nét đặc thù riêng. Huyện Bác Ái tỉnh Ninh Thuận cũng vậy, nó có những đặc điểm về kinh tế ­ xã hội, về tập quán sản xuất chủ yếu là của đồng bào dân tộc rất riêng; thậm chí sản xuất chỉ gắn với nương rẫy, nương rẫy vừa là yếu tố sản xuất đồng thời là nơi sinh sống của gia đình. Do đó, việc 

chọn đề tài nghiên cứu “Định hướng phát triển kinh tế hộ gia đình nông dân  huyện  Bác  Ái  tỉnh  Ninh  Thuận  trong  quá  trình  chuyển  sang  kinh  tế  thị  trường đến năm 2020” với kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần giải quyết 

nhiều bức xúc đang đặt ra đối với kinh tế hộ gia đình ở nông thôn miền núi của tỉnh

Trang 4

3.  Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 

Mục tiêu: Phân tích thực trạng phát triển KTHND huyện Bác ái tỉnh Ninh Thuận, làm rõ những tồn tại, mâu thuẫn nảy sinh. Từ đó xác định quan điểm và đưa ra các giải pháp cơ bản nhằm tạo điều kiện thúc đẩy KTHND phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa trong thời gian tới. 

Nhiệm vụ: 

­  Trình bày có hệ thống một số lý luận cơ bản về khái niệm, đặc trưng, vai trò của KTHND trong tiến trình phát triển theo hướng kinh tế thị trường. 

­  Tổng quan kinh nghiệm thực tiễn phát triển KTHND ở một số địa 

phương. 

­  Khảo sát, đánh giá thực trạng vận động và phát triển KTHND ở huyện Bác ái, tìm ra những thành tựu và hạn chế của nó. 

­  Xác định các quan điểm, đưa ra những giải pháp cơ bản nhằm tiếp tục 

phát triển KTHND có hiệu qủa trong thời gian tới. 

4.  Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. 

­  Đề tài lấy KTHND huyện miền núi Bác ái trong quá trình phát triển sản xuất theo hướng kinh tế hàng hóa làm đối tượng nghiên cứu. 

­  Việc khảo sát, phân tích thực trạng phát triển KTHND Bác ái, lấy mốc từ năm 2000 đến nay làm giới hạn về thời gian. 

­  Các giải pháp được đề xuất trong luận văn chủ yếu dựa trên góc độ kinh tế 

chính trị, hướng vào các vấn đề cơ bản. 

5.  Phương pháp nghiên cứu của đề tài. 

Đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận của phép biện chứng của C.Mác, các quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam về đường lối xây dựng và phát triển kinh tế; các chỉ tiêu Nghị quyết của Tỉnh đảng bộ, Huyện ủy về phát triển nông nghiệp nông thôn và nông thôn miền núi ở địa phương để nghiên cứu quá trình vận động, phát triển kinh tế hộ ở huyện Bác Ái;

Trang 5

Phương pháp logic­ lịch sử để điều tra, khảo sát,phân tích, tổng hợp, đối chiếu và so sánh. Ngoài ra luận văn còn sử dụng phương pháp thống kê để dẫn dắt, chứng minh và làm sáng tỏ vấn đề. Mỗi một phương pháp hoặc có thể được vận  dụng  riêng  lẻ  hoặc  được  kết  hợp  để  làm  cho  đề  tài  hoàn  thành  mục  tiêu, 

nhiệm vụ đã nêu trên. 

Ý nghĩa nghiên cứu của luận án

·  Về lý luận: 

+ Vận dụng có hệ thống những lý luận về sự phát triển kinh tế hộ gia đình nông  dân  miền  núi  trong  bối  cảnh  nền  kinh  tế  cả  nước  đang  chuyển  sang  xây dựng và  phát  triển  nền  kinh tế  thị  trường,  mà  trước  hết  là  quá trình  chuyển từ nền kinh tế tự cấp­ tự túc sang nền kinh tế hàng hóa vào quá trình tổ chức sản xuất kinh doanh ở huyệnBác Ái. 

Trang 6

Về phương diện thống kê, Liên Hiệp Quốc cho rằng: “Hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ”. 

Tại cuộc thảo luận quốc tế về quản lý nông trại ở Hà Lan năm 1980, các nhà khoa học nhất trí rằng: “Hộ là một đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất, tái sản xuất, đến tiêu dùng và các hoạt động xã hội khác”. 

Khi xét hộ gia đình với tư cách là một đơn vị kinh tế, Frank Ellis nêu định nghĩa: “Đó là hộ gia đình làm nông, có quyền kiếm kế sinh nhai từ những mảnh đất đai, sử dụng sức lao động gia đình để sản xuất”. 

Những quan niệm về hộ trên đây chỉ đề cập đến chức năng sản xuất, tiêu dùng,… của hộ. Hay nói cách khác, xem hộ như một đơn vị kinh tế. Khía cạnh nhân chủng học của hộ chưa được đề cập. 

Giáo  sư T.G.Mc  Gee  (1989),  trường  đại  học British  Columbia,  khi  khảo sát  “kinh  tế  hộ  trong  quá  trình  phát  triển”  ở  một  số  nước  Châu  Á  đã  nêu  lên rằng: “Ở  các  nước  Châu Á  hầu hết  người ta  quan  niệm  hộ  là một  nhóm  người cùng huyết tộc, hay không cùng chung huyết tộc ở chung một mái nhà, ăn chung một mâm cơm và có chung một ngân quỹ”. Mc.Gee đã phân biệt sự khác nhau

Trang 7

giữa hộ và gia đình. Điểm khác nhau căn bản đó là gia đình là nhóm người cùng chung huyết  tộc. Gia đình hạt nhân một vợ một chồng và các con là đơn vị cơ bản của xã hội. Gia đình mở rộng gồm nhiều thế hệ khác nhau cùng chung sống trong một mái nhà đang trong quá trình giải thể. Như vậy, gia đình là một loại 

hộ cơ bản. 

Theo  A.V.Chaianov,  nhà  kinh  tế  nông  nghiệp  được  mệnh  danh  là  “Các Mác của nông dân” có quan điểm về kinh tế nông hộ như sau: “Khái niệm hộ, đặc biệt là trong đời sống nông thôn không phải bao giờ cũng tương đương với khái  niệm sinh học  làm  chỗ dựa  cho  nó mà nội dung  còn  có  thêm  cả một  loạt những phức tạp về đời sống kinh tế và đời sống gia đình”. 

Còn ở nước ta hiện nay, nhiều người đồng nhất khái niệm hộ và gia đình. Thực  ra,  đây  là  hai  khái  niệm  không  hoàn  toàn  đồng  nhất.  Qua  một  số  định nghĩa trên đây, ta thấy hộ và gia đình có những tiêu thức chung để nghiên cứu như cơ sở  hành chính, kinh tế, quan hệ huyết thống và hôn nhân, tình trạng cư trú,… Tuy vậy, gia đình thường được xem xét trong các mối quan hệ về xã hội, còn  hộ  là  một  đơn  vị  kinh  tế;  khi  xem  xét  bản  chất  kinh  tế  của  nó  trong  mối tương quan với các loại hình kinh tế  khác như kinh tế tập thể, kinh tế nhà nước 

và với các tổ chức kinh tế khác cũng như sự vận động của nó trong toàn bộ cơ chế quản lý kinh tế nói chung và cơ chế quản lý nông nghiệp nói riêng. Như vậy, gia đình được coi là hộ khi các thành viên có chung một cơ sở kinh tế. Ngược lại, hộ chỉ được coi là gia đình khi các thành viên của nó quan hệ huyết thống và hôn  nhân. 

Dựa  vào điều  kiện  thực  tế  của  nước ta,  nhất  là  trong  nông  nghiệp, nông thôn, chúng ta thấy rằng giữa hộ và gia đình không thể tách rời được với nhau bởi vì có rất ít hộ nông dân nào mà không dựa trên cơ sở gia đình, ngược lại có rất ít gia đình không có chung một cơ sở kinh tế. Do vậy, có thể dùng khái niệm 

hộ gia đình để biểu thị các thành viên của nó có cùng huyết tộc và quan hệ hôn

Trang 8

tế cơ sở của nền kinh tế nông nghiệp, hình thức đặc trưng của nó là kinh tế hộ gia đình (gọi tắt là kinh tế nông hộ). 

Như  vậy  kinh  tế  nông  hộ  là  một  hình  thức  kinh  tế  tự  chủ  (bao  gồm  cả nông,  lâm,  ngư  nghiệp),  dựa  trên  cơ  sở  sức  lao  động  của  gia  đình  là  chính  và quyền  sử  dụng  lâu  dài  phần  ruộng  đất  mà  họ  canh  tác  và  các  tư  liệu  sản  xuất khác. 

Ngày nay, ở nhiều nước còn sử dụng khái niệm nông trại gia đình để chỉ hình thức sản xuất kinh doanh nông nghiệp gia đình trong nền sản xuất hàng hóa 

và phân biệt nó với kinh tế tiểu nông ở mục tiêu sản xuất. Nếu kinh tế tiểu nông 

có quy mô nhỏ, năng suất và chất lượng hàng hóa thấp, tính chất tự cấp ­ tự túc cao thì ở nông trại gia đình có quy mô sản xuất lớn hơn, khả năng áp dụng khoa học kỹ  thuật  cao  hơn,  sản xuất phục  vụ  thị  trường  nhiều  hơn.  Thực  chất, nông 

dân là một tế bào xã hội, là một đơn vị sản xuất và tiêu dùng trong sinh hoạt. 

Hai là, nông hộ là đơn vị tái sản xuất chứa đựng các yếu tố hay các nguồn 

lực của quá trình tái sản xuất (lao động, đất đai, vốn, kỹ thuật,…), là đơn vị sản

Trang 9

nó có mối liên hệ chặt chẽ với các đơn vị khác và với hệ thống kinh tế quốc dân. Khai thác đầy đủ những khả năng và tiềm lực của nông hộ sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế quốc dân. 

Như đã nêu trên, nông hộ là tế bào kinh tế ­ xã hội, là hình thức tổ chức 

cơ sở của nông nghiệp ở nông thôn đã tồn tại từ lâu đời ở các nước nông nghiệp. Thành viên của nông hộ bao gồm chủ yếu là cha mẹ và con cái và có thể còn có 

cả ông bà và cháu chắt. 

Ba là, các thành viên trong nông hộ gắn bó với nhau chặt chẽ trước tiên 

bằng quan hệ hôn nhân và huyết thống. Về kinh tế, các thành viên trong nông hộ gắn  bó  với  nhau  trong quan hệ  sở  hữu  về tư liệu  sản  xuất,  quan  hệ quản  lý  và phân phối sản phẩm. Các thành viên có chung mục tiêu và lợi ích là thoát khỏi đói nghèo, phát triển kinh tế để ngày càng giàu có. 

Từ thống nhất về lợi ích đến thống nhất về hành động, các thành viên đều làm việc hết sức mình để có được thu nhập cao cho gia đình và cũng là cho mỗi người. Các thành viên trong gia đình nông dân từ trẻ đến già nếu có thể lao động được thì đều tham gia lao động không kể tuổi tác, người yếu làm việc nhẹ, người khỏe làm việc nặng. Do đó, việc phân công và hiệp tác lao động của nông hộ có nhiều ưu điểm mà các tổ chức sản xuất cơ sở khác không thể có được: đó là tính

Trang 10

tự  nguyện, tự  giác  cao  và  tận dụng  tối đa khả  năng  của  mỗi  người  và  mọi đều 

kiện có thể trong lao động. 

Bốn là, trong mỗi nông hộ thường là cha hay mẹ làm chủ hộ, vừa là người 

tổ  chức  phân  công  lao  động  vừa  trực  tiếp  lao  động.  Các  thành  viên  trong  gia đình  cùng  lao  động,  gần  gũi  nhau,  hiểu  nhau  về  khả  năng,  đặc  điểm  của  mỗi người nên tạo điều kiện cho việc phân công hợp tác được hợp lý. 

Mỗi nông hộ, trừ hộ làm thuê, đều sở hữu hoặc một bộ phận các tư liệu sản xuất như ruộng đất, trâu, bò, nông cụ, máy móc,… Các thành viên đã quen 

sử dụng nên hiểu được đặc tính của mỗi loại tư liệu sản xuất. 

Người chủ nông hộ vừa quản lý điều hành sản xuất vừa trực tiếp lao động nên mọi người trong hộ đều gắn bó chặt chẽ với nhau trong quá trình sản xuất. 

Từ  đó,  các  thông  tin được xử  lý  nhanh,  kịp  thời, các  quyết định điều  hành  sản 

xuất được đúng đắn, dứt khoát. 

Năm  là,  về  quan  hệ  phân  phối,  các  thành  viên  trong  nông  hộ  cùng  làm, 

cùng  ở,  cùng  ăn  do  chủ  hộ  là  cha  hay  mẹ  bố  trí  sắp  xếp.  Do  đó,  nếu  có  mâu thuẫn phát sinh trong phân phối thì cũng dễ giải quyết. 

Khi con cái trưởng thành tách ra lập hộ khác, cha mẹ có trách nhiệm phân chia  tài  sản  gia  đình  trên  cơ  sở  bàn  bạc  dân  chủ,  đây  cũng  chính  là  hình  thức phân phối lại vốn một cách tự giác. 

Chính vì những đặc điểm và ưu điểm nêu trên mà hộ nông dân tồn tại bền vững  lâu  dài  trong  lịch  sử  ở  mọi  quốc  gia  từ  những  nước  kém  phát  triển  đến những nước phát triển. 

Ở  nước  ta,  hộ nông  dân  là  tế bào  của  xã hội  ở  nông  thôn,  là  đơn  vị  sản xuất cơ  bản đã  tồn tại  hàng  nghìn năm  nay.  Hộ nông  dân  có thể  chuyên  trồng trọt, làm nghề rừng, chăn nuôi gia súc, gia cầm hoặc nuôi trồng thủy sản vì nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm cả lâm nghiệp và thủy sản

Trang 11

Hộ  nông  dân  còn  có  quan  hệ  trực  tiếp  với  tộc  họ  và  xóm  thôn.  Trường hợp di chuyển đến nơi khác thì tiếp tục quan hệ với xóm thôn tại nơi cư trú, đây 

là truyền thống và là phong tục, tập quán của nét văn hóa làng, xã. 

1.1.3 Những yếu tố tác động đến quá trình phát triển kinh tế nông hộ  1.1.3.1  Những yếu tố bên ngoài 

đã chứng minh ngược lại: kinh tế nông hộ không những đã đứng vững mà còn trở  thành  lực  lượng  sản  xuất  nông  nghiệp  chủ  yếu  của  các  nước  công  nghiệp phát triển, sản xuất có hiệu quả cao hơn xí nghiệp tư bản tập trung. 

Đến  khi  kinh  tế  nông  hộ  phát  triển  theo  hướng  tập  trung  hóa  sản  xuất, tăng quy mô và giảm số lượng trang trại, lại có người dự đoán là kinh tế nông hộ 

sẽ  không  còn nữa  và  sẽ  dẫn  đến  phân  cực.  Các nông  hộ nhỏ  sẽ phá  sản  và trở thành lao động làm thuê, còn các nông hộ quy mô lớn sẽ tập trung hết ruộng đất 

và hình thành các xí nghiệp nông nghiệp TBCN sử dụng lao động làm thuê và như vậy kinh tế nông hộ không còn tồn tại nữa. Nhưng thực tế đã diễn ra khác với  dự đoán  trên:  số  lượng  và quy  mô  của  nông  hộ  có  thay  đổi,  nhưng  cơ  cấu nông hộ nhỏ, vừa và lớn có một tỷ lệ nhất định

Trang 12

Bước  vào  thế  kỷ XXI, có  thể khẳng  định kinh  tế  nông  hộ  vẫn  tồn tại  và phát triển vì bản thân nó có những thế mạnh hơn hẳn các hình thức tổ chức nông nghiệp khác. Lý do cụ thể như sau: 

­  Trước hết, kinh tế nông hộ là hình thức sản xuất phù hợp với sản xuất nông  nghiệp  mà  đối  tượng  sản  xuất  là  sinh  vật.  Người  nông  dân  trực  tiếp  tác động  vào  quá  trình  sinh  trưởng  của  cây  trồng,  vật  nuôi  không  qua  trung  gian, luôn bám sát đồng ruộng, chuồng trại nên đạt hiệu quả cao trong sản xuất. 

­  Kinh tế nông hộ là một tổ chức sản xuất cá thể, không chỉ đơn độc một chủ trại mà là một tập thể lao động gọn nhẹ, có cả lao động chính và lao động phụ là các thành viên trong gia đình có quan hệ huyết thống, hoặc có thêm một ít lao động thuê, quản lý điều hành rất năng động, hiệu quả và hiệu suất sử dụng lao động cao hơn những tổ chức sản xuất khác trong nông nghiệp. 

­  Kinh  tế  nông  hộ  tổ  chức  sản  xuất  hàng  hóa  với  quy  mô  trang  trại  đã từng bước trở thành lực lượng sản xuất nông sản hàng hóa chủ yếu cho xã hội. 

­  Kinh tế nông hộ bao gồm quy mô vừa và nhỏ khác với các xí nghiệp tập trung quy mô lớn nên có khả năng thích ứng cao trước những biến động của thị trường, có khả năng điều chỉnh một cách linh hoạt quy mô và cơ cấu sản xuất, 

cơ cấu sản phẩm nhằm đáp ứng kịp thời những thay đổi theo thị hiếu của người tiêu dùng, tạo ra lợi thế cạnh tranh với những cơ sở nông nghiệp quy mô lớn. 

­  Kinh tế nông hộ là thành phần kinh tế cá thể nhưng không đối lập với kinh tế hợp tác và kinh tế nhà nước mà nó có tính mềm dẻo, có khả năng dung nạp các  hình  thức  sở  hữu  khác  nhau  thông  qua các  hoạt động  kinh  tế đa dạng, liên  doanh,  liên  kết  giữa  trang  trại  gia  đình  với  các  tổ  chức  kinh  tế  hợp  tác,

Trang 13

người  nông  dân  sản  xuất  nông  nghiệp  nhất  là  những  hộ  sản  xuất  nhỏ  thường chịu nhiều sự tác động chi phối của Nhà nước nên nó gắn kết tương đối chặt chẽ với kinh tế nhà nước để tăng thêm năng lực sản xuất của nông hộ. 

­  Kinh tế nông hộ có khả năng tiếp thu nhiều trình độ khoa học và công nghệ  khác  nhau,  từ  thô  sơ  đến  hiện  đại,  phù  hợp  với  quy  mô,  yêu  cầu  và  khả năng sản xuất nên đạt mức chi phí sản xuất thấp và hiệu quả kinh tế cao trong sản  xuất  hàng  hóa.  Tuy quy mô  không  lớn  và phân  tán  nhưng  kinh  tế  nông  hộ không  cản  trở  mà  dung  nạp  được  hiện  đại  hóa  nông  nghiệp  với  mức  độ  ngày càng cao. 

Trong tương lai, kinh tế nông hộ trên thế giới sẽ tiếp tục phát huy các thế mạnh sẵn có trên các địa bàn quen thuộc cũng như trên các địa bàn mới và trong những điều kiện khác trước, đây cũng chính là ưu điểm đặc trưng của ngành sản xuất nông nghiệp. 

Ở các nước phát triển, số lượng nông hộ tiếp tục giảm nhưng quy mô tăng lên ở mức hợp lý. Vấn đề đặt ra là xác định quy mô tối ưu của nông hộ thích hợp cho từng vùng. 

Ở các nước đang phát triển, kinh tế nông hộ sẽ phát triển mạnh mẽ tương 

tự như các nước đã phát triển trong thời kỳ công nghiệp hóa nhưng với tốc độ nhanh hơn vì được kế thừa kinh nghiệm của các nước đi trước. 

Con  đường đi  từ  kinh  tế  tự  nhiên  lên  kinh  tế  hàng  hóa,  từ  sản  xuất  tiểu nông sang sản xuất với quy mô trang trại không phải là sản phẩm riêng của các nước tư bản mà là bước phát triển tất yếu của xã hội. 

Nhưng phát triển kinh tế nông hộ ở các nước đi theo định hướng XHCN như nước ta là vấn đề thực sự mới mẻ, chưa có trong lịch sử. Vì vậy, muốn bảo đảm thành công cần tham khảo kinh nghiệm các nước, kế thừa có chọn lọc kinh nghiệm các nước TBCN, đồng thời phát huy sáng tạo giải quyết vấn đề nảy sinh trong  điều  kiện  cụ thể  của  nước  ta  hiện  nay,  trong đó vai  trò  của Nhà  nước  và

Trang 14

·  Chính sách tác động trực tiếp bao gồm các chính sách sau: 

­  Chính sách hỗ trợ đầu vào cho sản xuất: Chính phủ cung cấp với giá rẻ 

hoặc có thể bán theo hình thức trợ giá, ứng trước thông qua các tổ chức tín dụng, các nhà đầu tư các loại vật tư như: phân bón, thuốc trừ sâu, hạt giống, máy móc thiết  bị,  nhiên  liệu…,  đẩy  mạnh  phát  triển  cơ  sở  hạ  tầng  nông  thôn  như  giao thông, thủy lợi. Mục tiêu của chính sách này là giúp nông dân chủ động, thuận lợi  trong  sản xuất,  đặc biệt  là đối với  hộ nghèo,  gặp  nhiều  khó  khăn  trong  sản xuất. Chính sách này có tác dụng tích cực là làm giảm chi phí sản xuất của nông dân và tăng sản lượng nông sản hàng hóa nhưng giá cả không đổi vì còn chịu tác động của thị trường thế giới. Do vậy, nông dân sẽ được hưởng lợi từ các chính sách trợ giá này. Có thể nêu lên một vài chính sách của Nhà nước như : Chính sách  trợ  giá,  trợ  cước  vận  chuyển  hàng  hóa phục  vụ  đồng bào  miền  núi,  vùng đồng  bào  dân  tộc  đặc  biệt  khó  khăn;  Quyết  định  số  134/2004­TTg  ngày 20/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính  sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn; Chương trình 135, chương trình giao thông nông thôn, Chương trình cho  vay  giải  quyết  việc  làm,  Chương  trình  dạy  nghề,  xuất  khẩu  lao  động, Chương trình tín dụng, Chương trình 661, Chính sách giao rừng khoán quản… 

­  Chính sách trợ giá đầu ra: đây cũng là chính sách nhằm tăng lợi ích của nông dân. Trên thực tế chính sách này được sử dụng rộng rãi ở các nước Châu

Trang 15

âu, Mỹ và  Nhật bản, ở Nhật  việc  thực  hiện  chính  sách  hỗ  trợ  đầu  ra  cho nông dân  được  tiến  hành  thông  qua  hợp  tác  xã.  Chính  sách  trợ  giá  đầu  ra  làm  cho nông dân hoàn toàn yên tâm vì dù trong hoàn cảnh nào họ vẫn bán được nông sản với giá ổn định, từ đó đảm bảo mức thu nhập cho nông dân, kích thích họ duy trì và phát triển sản xuất. 

­  Chính  sách  miễn  giảm  thuế  nông  nghiệp,  miễn  thu  thủy  lợi  phí  theo Nghị  định  143/2003/NĐ­CP  ngày  28/01/2003  của  Chính  phủ  quy  định  chi  tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi và Nghị định 154/2007/NĐ­CP ngày 15/10/2007 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 143/2003/NĐ­CP ngày 28/01/2003 cũng là một hình thức hỗ trợ của Nhà nước nhằm góp phần giảm nhẹ chi phí đầu vào cho nông dân sản xuất nông nghiệp

·  Một số chính sách tác động gián tiếp: 

­  Chính  sách  trợ  cấp  lương  thực,  thực  phẩm  cho  người  tiêu  dùng:  Tác 

dộng cơ bản của chính sách này là làm tăng cầu nội địa, người tiêu dùng sẽ được hưởng  lợi  từ  trợ  cấp.  Nông  dân  không  được  hưởng  lợi  nên  không  tăng  sản lượng. Thực hiện chính  sách  này người  thiệt hại  là người đóng thuế. Do đó có thể nói  chính  sách trợ  cấp  tiêu dùng về  lương  thực,  thực phẩm  ảnh  hưởng  tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp. 

­  Chính sách thuế nhập khẩu: chính sách này tác động cả sản lượng và giá 

cả trong nước theo hướng có lợi cho người sản xuất và thiệt hại cho người tiêu dùng vì phải tiêu thụ với giá cao hơn. Chính sách thuế nhập khẩu không đòi hỏi 

sự trợ cấp của Chính phủ mà còn tạo ra khoản thu cho ngân sách. Do đó nó là một công cụ điều tiết sắc bén, ảnh hưởng mạnh đến sản xuất trong nước

Trang 16

bé hơn mảnh ruộng cần thiết để nuôi gia đình họ. Cũng như người tiểu thủ công, người tiểu nông này là một người lao động, anh ta khác với người vô sản hiện đại ở chỗ anh ta sở hữu những tư liệu lao động”.[2,11] 

C.Mác  đã  nhận  xét  quá  trình  sản  xuất  của  tiểu  nông  như  sau:  “Mỗi  gia đình  nông  dân  riêng  lẻ,  gần  như  tự  túc  hoàn  toàn,  tự  mình  sản  xuất  ra  đại  bộ phận  những  cái  mình  tiêu  dùng.  Do  đó  họ  kiếm  cho  mình  những  tư  liệu  sinh hoạt  bằng  cách  trao  đổi  với  thiên  nhiên  nhiều  hơn  là  trao  đổi  với  xã  hội”.[16, 207­208] 

Như vậy, những nhận định trên đây đã cho rằng người tiểu nông là những người  lao  động,  không  sử  dụng  lao động  làm  thuê,  không  có  nhiều  ruộng  đất, sản xuất của họ mang tính tự cung tự cấp. Một nền kinh tế như vậy là đặc trưng của nền sản xuất nhỏ, cần phải phát triển lên sản xuất lớn ­  sản xuất hàng hóa, trước hết bằng cách cải tạo tiểu nông

Trang 17

Lúc đầu, khi nghiên cứu con đường công nghiệp hóa của nước Anh, Mác 

đã  đưa  ra  sự  tiên  đoán  rằng  giai  cấp  nông  dân  sẽ  bị  thủ  tiêu  cùng  với  sự phát triển của đại công nghiệp. Trong xã hội chỉ có hai giai cấp là tư sản và vô sản. Nông  nghiệp  cũng  sẽ  được  tổ chức  lại  thành  nền  đại  sản  xuất  như  trong  công nghiệp.  Trong  nông  nghiệp  cũng  sẽ  diễn  ra  quá  trình  tách  lao  động  ra  khỏi  tư liệu sản xuất, trước hết là ruộng đất và kết hợp chúng lại theo phương thức mới dựa trên sở hữu tư nhân TBCN và lao động làm thuê. 

Sau này,  chính  ở  nước  Anh,  dẫu  rằng quá  trình  công  nghiệp hóa diễn  ra nhanh chóng cùng với  sự tước đoạt và xóa bỏ kinh tế nông hộ một cách quyết liệt nhưng các nông trại gia đình vẫn tồn tại và tỏ rõ tính hiệu quả của nó so với các xí nghiệp nông nghiệp sử dụng lao động làm thuê. Vì vậy, Mác đã nhận thấy 

dự đoán ban đầu của mình không thích hợp và khi viết quyển 3 Bộ tư bản, ông 

đã rút ra kết luận: “Ngày nay ở nước Anh siêu công nghiệp… với thời gian cho đến nay  đã  khẳng  định  hình  thức  lãi  nhất  không  phải  là  nông  trại  công  nghiệp hóa mà  là  nông  trại  gia  đình  thực  tế  không  dùng  lao  động  làm  thuê.  Ở  những nước  còn  giữ  hình  thức  tư  hữu,  chia  đất  thành  khoanh  nhỏ,  giá  lúa  mì  rẻ  hơn những nước có phương thức sản xuất TBCN”,[17, 125­ 126]. Như vậy, rõ ràng 

là Mác đã thấy sự tồn tại khách quan của kinh tế nông hộ do tính hiệu quả của 

nó và con đường đặc thù của  nông nghiệp không giống như trong công nghiệp. Thế nhưng nếu không phát triển như trong công nghiệp, thì tiến tới xã hội hóa sản xuất, nông nghiệp cũng như các nông hộ sẽ như thế nào? Mác đã nhận thấy rằng  đối  với  “nghề  nông  hợp  lý”  thì  hoặc  là  phải  có  “bàn  tay  của  người  tiểu nông  sống  bằng  lao  động  của  mình”  hoặc  là phải  có  “sự  kiểm  soát của những người có liên kết với nhau”. Từ đó, để cải tạo nền kinh tế tiểu nông, chuyển nó lên sản xuất hàng hóa cần phải có sự liên kết giữa các nông hộ. Sự liên kết ấy như thế nào thì Mác và Ăngghen chưa dự tính hết được, nhưng khi nói về vấn đề

Trang 18

cải tạo những người tiểu nông thì cả hai ông đều rất thận trọng. Theo Ăng ghen, cần  phải  để  cho  người  nông  dân  tự  suy  nghĩ  trên  luống  cày  của  họ.  Việc  đưa nông dân vào con đường hợp tác nhất thiết không phải bằng con đường cưỡng bức mà phải để  cho  họ  tự  nguyện:  “Nhiệm  vụ  của chúng  ta đối  với  người  tiểu nông trước hết là phải hướng nền sản xuất cá nhân và chiếm hữu cá nhân của họ vào  con  đường  hợp  tác,  không  phải  bằng  cách  cưỡng  ép  mà  là  bằng  cách  nêu gương cho họ và bằng cách xã hội giúp đỡ họ thực hiện việc ấy”,[2, 31] 

Lênin  đã  có  nhiều  công  lao  trong  việc  phát  triển  những  luận  điểm  của Mác­ Ăng ghen. Lúc đầu Lênin cho rằng nền kinh tế của chế độ mới sẽ không còn kinh tế hàng hóa. Giai cấp vô sản sau khi giành được chính quyền sẽ quản lý trực tiếp toàn bộ quá trình sản xuất và phân phối. Toàn xã hội sẽ như một công xưởng khổng  lồ. Do vậy,  trong  Chính  sách  Cộng  sản  thời  chiến,  giai  cấp  công nhân  Nga  đã  liên  kết  với bần  cố  nông,  tước  đoạt  của địa  chủ,  Cu­lắc  và  trung nông, là lực  lượng sản xuất hàng hoá ở nông thôn. Chính sách trưng thu, trưng mua  lương  thực  lúc đó  thực  chất  là tước đoạt  lương thực.  Sau  nội  chiến, nông dân phản ứng gay gắt đối với chính sách trưng thu lương thực. Nông nghiệp và 

cả  nền  kinh  tế  đã  lâm  vào  tình  trạng  kiệt  quệ.  Lênin  đã  nhận  rõ  sai  lầm  của Chính sách Cộng sản thời chiến và thay đổi quan điểm của mình về kinh tế hàng 

hóa,  về  kinh  tế  tiểu  nông.  Trong  Chính  sách Kinh tế mới, Lênin  cho  rằng phải 

liên minh với nông dân, đặc biệt là tầng lớp trung nông. Chính sách thuế lương thực  cho  phép  nông  dân  được  tự  do  lưu  thông  sản  phẩm  nông  nghiệp  sau  khi làm xong nghĩa vụ thuế cho Nhà nước, cho phép nông dân được làm chủ ruộng đất và các tư liệu sản xuất khác. Lênin chỉ rõ: “Bằng mọi cách phải khôi phục và phát triển kinh tế, trước hết là kinh tế nông dân…. Phải làm tất cả những gì có 

được để khuyến khích kinh tế tiểu nông”.[12, 101­103]. Và những gì mà Chính  sách kinh tế mới đã làm để phát triển kinh tế nông dân thực chất là trao quyền

Trang 19

là phải để cho người nông dân thực sự trở thành các “tiểu nghiệp chủ”. 

V.I.Lênin cũng đã nêu lên một quan điểm mới về chế độ kinh tế hợp tác. Người quan niệm rằng hợp tác xã của hàng triệu người tiểu nông chính là “bước quá độ sang một chế độ mới bằng con đường đơn giản nhất, dễ tiếp thu nhất đối với  nông  dân”.  Nhà  nước  cần  khuyến  khích  các  hộ  nông dân  để họ  tự  nguyện liên kết với nhau trong những hợp tác xã như một tất yếu kinh tế. Quyền lợi của các  hợp  tác  xã  phải  gắn  liền  với  quyền  lợi  của  các  xã  viên.  Lênin  luôn  nhấn mạnh  bản chất tự nguyện,  dân  chủ,  bình  đẳng  cùng  có lợi của các hợp  tác  xã. Người đã từng phê phán gay gắt khuynh hướng dùng bạo lực để cưỡng bức nông dân. Người cho rằng trong nông nghiệp việc tổ chức các hợp tác xã tiêu thụ là 

thích hợp nhất chứ không phải là các hợp tác xã sản xuất. 

1.2.2   Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về xây dựng và phát  triển kinh tế hộ nông  dân  trong  quá  trình  hình  thành  thể  chế   kinh tế thị  trường định hướng XHCN: 

Từ cuối thập kỷ 70, đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX, trên thế giới đã diễn ra những  biến đổi  to  lớn. Hệ  thống  các  nước  xã  hội  chủ nghĩa đang lâm  vào  tình trạng  khủng  hoảng  về  đường  lối  chính  trị  và  kinh  tế,  thêm  vào  đó  là  âm  mưu 

“diễn  biến  hòa  bình”  của  chủ  nghĩa  đế  quốc.  Để  thoát  khỏi  tình  trạng  khủng hoảng,  các  nước  xã hội  chủ nghĩa thực  hiện  cải  cách  mở  cửa.  Ở  nước  ta  cũng vậy, để đưa đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế ­ xã hội, chúng 

ta phải trải qua một quá trình tìm tòi, thủ nghiệm, đấu tranh tư tưởng và tổng kết thực tiễn rất gian khổ. 

Qúa trình hình thành đường lối đổi mới của Đảng ta đã có những bước đột phá cục bộ về đổi mới tư duy kinh tế trước khi đổi mới toàn diện

Trang 20

làm cho sản xuất “bung ra” là bước đột phá đầu tiên của quá trình đổi mới. Hội 

nghị đã  tập  trung  nhiều  biện  pháp  để  khắc  phục  những  yếu  kém  trong  quản  lý kinh tế và cải tạo xã hội chủ nghĩa; đổi mới công tác kế hoạch hóa, kết hợp kế hoạch  với thị  trường;  kết hợp  ba lợi ích:  nhà  nước, tập  thể,  cá  nhân  người  lao động. 

Những chủ trương của Đảng đã nhanh chóng được nhân dân cả nước đón nhận và biến thành hành động cụ thể trong thực tiễn kinh tế: Kinh tế hộ gia đình 

ở thành phố Hồ Chí Minh phát triển mạnh. Tỉnh Long An từ năm 1981 đã thực hiện thí điểm mô hình theo cơ chế “mua cao, bán cao” thay cho “mua cung, bán cấp”; bù giá vào lương. Trên cơ sở đó, ngày 13/01/1981, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị 100­CT/TW về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm  đến  nhóm  và  người  lao  động  trong  hợp  tác  xã  nông  nghiệp đã  phát  huy quyền  làm  chủ  và  tính  tích  cực  trong  sản  xuất  của  mỗi  người,  mỗi  gia  đình, khuyến khích hơn nữa lợi ích thiết thực của người lao động, làm cho người lao động thực sự gắn bó với sản phẩm cuối cùng. “Khoán 100” đã bước đầu tạo ra một động lực mới trong sản xuất nông nghiệp.Quan điểm chỉ đạo về đường lối đổi mới kinh tế của Đảng tiếp tục củng cố và phát triển, tại Hội nghị TW8 Khóa 

V (tháng 6/1985) bằng chủ trương dứt khoát xóa bỏ  cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp,  thực  hiện  cơ  chế  một phía; xóa  bỏ chế  độ  cung  cấp  hiện vật  theo  giá thấp,  chuyển  mọi  hoạt  động  sản  xuất  kinh  doanh  sang  cơ  chế  hạch  toán  kinh doanh  xã  hội  chủ  nghĩa.  Điểm  quan  trọng  là  Hội  nghị  đã  thừa  nhận  sản  xuất hàng  hóa  và  các  quy  luật  của  sản  xuất  hàng  hóa.  Đối  với  nông  nghiệp,  Nghị quyết  10  của  Bộ  Chính  trị  (tháng  4/1988)  về  tiếp  tục  đổi  mới  quản  lý  kinh  tế nông  nghiệp,  thực  hiện  việc  khoán  đến  hộ,  tạo  động  lực  mới  thúc  đẩy  nông nghiệp phát triển nhanh, toàn diện. Đảng khẳng định: kinh tế tập thể với nhiều hình thức đa dạng, mà nòng cốt là hợp tác xã, dựa trên sở hữu của các thành viên

Trang 21

và  sở  hữu  tập  thể,  liên  kết  rộng  rãi  người  lao  động,  các  hộ  sản  xuất  –  kinh doanh,….(Hội nghị TW 5 Khóa IX tháng 02/2002). 

Như vậy, quan điểm đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển sản xuất nông nghiệp, chuyển nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trường vận động theo các quy luật kinh tế vốn có của nó; đặc biệt là việc phát triển nhiều hình thức  sở hữu về tư liệu  sản  xuất  hoạt  động  sản  xuất  kinh  doanh  dưới  nhiều  thành  phần  kinh  tế; trong  nông  nghiệp  ngoài  hình  thức  sở  hữu  tập  thể,  Đảng  và  Nhà  nước  chủ trương hình thành và phát triển kinh tế hộ gia đình, kinh tế tập  trung theo hình thức  sở  hữu  cá  thể.  Với  quan  điểm đổi  mới  trong  những  năm  qua  đã  đưa  nền kinh tế nước ta  không chỉ thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế ­ chính trị mà còn thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh, ổn định. 

Nhà nước có chính sách khuyến khích hỗ trợ phát triển các trang trại, hộ sản  xuất  kinh  doanh,  trong  nông  nghiệp  và  ở khu  vực  nông  thôn  theo  yêu cầu phát triển kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế. Tạo điều kiện thuận lợi để các trang trại và hộ sản xuất kinh doanh góp vốn phát triển theo hình thức hợp tác  xã,  công  ty  cổ phần  hoặc  trở  thành  doanh  nghiệp  tư  nhân  và  các  loại  hình kinh doanh khác thích hợp.Nhận thức đầy đủ, tôn trọng và vận dụng đúng đắn các  quy  luật  khách  quan  của  kinh  tế  thị  trường,  thông  lệ  quốc  tế  phù  hợp  với điều  kiện  phát  triển  của  Việt  Nam  theo  định  hướng  xã  hội  chủ  nghĩa  của  nền kinh tế. 

Bảo  đảm  tính  đồng  bộ  giữa  các  bộ  phận  cấu  thành  của  thể  chế  kinh  tế, giữa các yếu tố thị trường và các loại thị trường, giữa thể chế kinh tế với thể chế chính trị ­ xã hội, giữa Nhà nước thị trường và xã hội. Gắn kết hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hóa và bảo vệ môi trường (Nghị quyết VI, Khóa X)

Trang 22

Việt Nam, Hội nghị Trung  ương 7 Khóa X  đã ban hành Nghị quyết “Về nông  nghiệp, nông dân, nông thôn” để chỉ đạo lãnh vực này. 

1.3  Sự cần thiết khách quan và vai trò của việc phát triển kinh tế hộ  gia đình nông thôn trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường 

1.3.1 Sự cần thiết khách quan: 

Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất hình thành sớm nhất trong đời sống và hoạt động kinh tế của loài người; kinh tế hộ gia đình nông dân, với tư cách  là một  trong  những  hình  thức tổ chức  sản  xuất  trong  trong lĩnh  vực nông nghiệp­ vì vậy cũng được ra đời từ rất sớm, ở mỗi giai đoạn khác nhau vị trí của ngành nông nghiệp nói chung và kinh tế nông hộ nói riêng trong cơ cấu kinh tế của  mỗi quốc  gia  đều  có  vị  trí  quan  trọng:  cung  cấp  lương  thực,  thực phẩm  là nhu cầu tối cơ bản cho  con người, nguyên vật liệu cho công nghiệp, sản phẩm cho xuất khẩu…;  trong  những  thập  kỷ gần  đây KTHND trong  lĩnh vực bảo  vệ môi trường sinh thái cũng như KTHND gắn với các loại hình kinh tế khác đặc biệt là kinh tế hợp tác, kinh tế nhà nước đã và  đang được nhiều quốc gia quan tâm. 

Cùng  với  sự  phát  triển  của  LLSX  và  sự  phân  công  lao  động  xã  hội, KTHND đã có những biến đổi cơ bản về cách thức tổ chức sản xuất kinh doanh; 

“Hộ  tự  cấp­  tự túc” với quy mô  nhỏ, kỹ  thuật  canh  tác  lạc  hậu, đã  chuyển dần thành “ Hộ  sản xuất hàng hóa” với kỹ thuật và công nghệ ngày càng cao, hiện đại, vận động theo cơ chế thị trường; năng suất lao động, tỷ suất hàng hóa trong nông nghiệp nhờ đó đã có những bước tăng trưởng vượt bậc. Tại các nước phát triển, mặc dầu hộ sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp chỉ chiếm 5­7% tổng số 

hộ nhưng đã tạo ra một khối lượng nông sản đủ nhu cầu trong nước với mức tiêu dùng cao đồng thời có một phần để xuất khẩu

Trang 23

Những  thành  tựu  đó  là  kết  quả  của  nhiều  giải  pháp,  trong  đó  phát  triển KTHND trong quá trình chuyển sang theo cơ chế thị trường là giải pháp có tầm quan trọng hàng đầu. 

Quá  trình  phát  triển  kinh  tế  là  quá  trình  trải  qua  nhiều  phương  thức  tổ chức sản xuất, trải nghiệm  nhiều cơ chế quản lý, đến nay thì cơ chế thị trường là vấn đề đã và đang được hầu hết các quốc gia quan tâm, nó là một trong những nội dung để đánh giá trong việc mở rộng và tham gia các tổ chức kinh tế của thế giới. Việc phát triển KTHND cũng vậy, là quá trình lịch sử  trải qua nhiều giai đoạn,  ở  giai đoạn sơ  khai  của  sản  xuất  nông nghiệp,  con  người  hộ và  gia đình khi mới hình thành, hoạt động kinh tế chủ yếu lúc này là săn bắn, hái lượm, nuôi dưỡng những thú vật săn bắt được, sau đó tiến hành trồng trọt, chăn nuôi tự cấp 

­ tự túc. Cùng với sự phát triển của LLSX, phân công lao động xã hội phát triển, năng suất lao động tăng dần lên, sản xuất hàng hóa ra đời, các HND bắt đầu bán những sản phẩm dư thừa để trao đổi những sản phẩm cần thiết, thiếu; dần dần hộ nông  dân  chuyển  hẳn  sang  sản  xuất  những  sản  phẩm  có  lợi  thế  với  mục  đích cung cấp (bán) cho người khác và với số lượng lớn ( không phải đơn giản là sản phẩm dư thừa ) và được chi phối theo cơ chế thị trường. Các hộ gia đình căn cứ vào nhu cầu cụ thể của thị trường về các loại nông sản, hoặc thu nhận những tín hiệu của thị trường về chủng loại, chất lượng, số lượng và giá cả của từng loại nông sản để tiến hành sản xuất. Quá trình này đòi hỏi tất yếu phải có sự chuyển đổi trong nông nghiệp và nâng cao trình độ của kinh tế hộ gia đình theo cơ chế thị trường. 

Sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường phát triển càng cao thì sự phân công  lao  động  diễn  ra  ngày  càng  sâu,  rộng  và  vượt  ra  ngoài  phạm  vi  một  địa phương,  một  nước.  Sản  xuất  hàng  hóa  của  KTHND  vì  vậy  cũng  được  đặt  ra trong bối cảnh phân công và hợp tác quốc tế. Xuất phát từ mối tương quan trong hợp tác và cạnh tranh trên trường quốc tế , mỗi quốc gia đều nỗ lực phát huy lợi

Trang 24

thế của mình để xuất khẩu nông sản, thực hiện các biện pháp để bảo hộ nông sản ,  có  những  biện pháp  trực  tiếp,  những  biện pháp gián  tiếp, biện pháp  cơ  sở  và định hướng…với mục tiêu giành lấy hoặc chiếm lĩnh thị trường. Như vậy, quá trình phát triển KTHND trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trường ban đầu chỉ  là  những  hoạt  động  mang  tính  chất  riêng  lẻ,  tự  phát,  dần  dần  cùng  với  sự phát triển của cơ chế thị trường, giữa các hộ hình thành một sự liên kết hợp tác một cách có tổ chức từ thấp đến cao như các hiệp hội, các nghiệp đoàn và tiến đến có  sự  can thiệp  của  Nhà  nước  là  yếu tố  không  thể  thiếu được dù bất  cứ  ở mỗi chế độ xã hội nào. 

Vấn đề đặt ra là tại sao phát triển sản xuất hàng hóa, vận động theo cơ chế thị  trường, có  sự quản lý của nhà  nước  là  vấn  đề  có  tính  quy  luật  của  sự phát triển KTHND. Điều này có thể lý giải thông qua vai trò của KTHND trong nền kinh tế quốc dân nói chung và trong quá trình vận động chuyển sang cơ chế thị 

Lịch sử phát triển sản xuất hàng hóa đã trải qua giai đoạn đầu tiên là kinh 

tế tự nhiên sang kinh tế hàng hóa giản đơn trên quy mô hộ gia đình, tiếp theo là giai đoạn chuyển biến từ kinh tế hàng hóa giản đơn lên kinh tế thị trường với các hình thức tổ chức cao hơn như kinh tế trang trại hay hợp tác xã. 

Quy mô thị trường được mở rộng từ thị trường địa phương lên thị trường toàn quốc và vượt ra khỏi biên giới quốc gia và nó càng thúc đẩy sự phát triển mạnh  của  nền  sản  xuất  hàng  hóa.  Hoạt  động  của  thị  trường  diễn  ra  thông qua

Trang 25

Kinh tế nông hộ được coi là khâu trung gian có vai trò đặc biệt quan trọng trong giai đoạn chuyển biến từ kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hóa giản đơn lên kinh tế thị trường. Bước chuyển biến từ nền kinh tế tự nhiên sang nền kinh tế hàng hóa giản đơn trên quy mô hộ gia đình là một giai đoạn lịch sử mà nếu chưa trải qua thì không thể phát triển sản xuất hàng hóa quy mô lớn, thoát khỏi tình 

để  dành  hoặc  bị  lãng  phí  vào  những  công  việc  khác  không  được  sử  dụng  vào mục đích sản xuất tăng sản phẩm cho xã hội. Trong giai đoạn trước đây, chế độ kinh tế tập thể, hợp tác không  tích tụ vốn hiệu quả (một phần do cơ chế, phần khác do hiệu quả kinh tế chưa được xác lập rõ ràng) nên không huy động được vốn  trong  các  hộ  để  đưa  vào  sản  xuất  kinh  doanh.  Chỉ  từ  khi  đổi  mới  cơ  chế quản  lý  kinh  tế  nông  nghiệp,  hộ  nông  dân  trở  thành  đơn  vị  kinh  tế  tự  chủ  sản xuất kinh doanh­ với tính chất là một đơn vị hạch toán tự chủ, có khả năng thích ứng  cao  với  môi  trường  để  phát  triển  sản  xuất  kinh  doanh,  mặc  nhiên  kinh  tế nông hộ trở thành đơn vị tích tụ vốn. Cùng với sự phát triển của sản xuất kinh doanh, mức độ  tích  lũy  vốn  cao,  kinh  tế  nông hộ  càng  có điều  kiện  để chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển ngành nghề, mở rộng sản xuất kinh doanh. Nhờ vậy,  mặc  dù  những  năm  qua  tỷ  trọng  vốn  đầu  tư  của  Nhà  nước  có  xu  hướng giảm  nhưng  kinh  tế  nông  nghiệp  vẫn  phát  triển  ổn  định  với  tốc  độ  khá  cao. Nguyên nhân chính là nhờ sự tích tụ vốn của từng nông hộ

Trang 26

1.3.2.3  Kinh tế nông hộ là đơn vị cơ sở thực hiện phân công lao  động xã hội trong nông nghiệp, nông thôn. 

Trong nền kinh tế tự nhiên, sản xuất của nông hộ chủ yếu nhằm thỏa mãn nhu cầu thiết yếu của gia đình, chỉ có sản phẩm dư thừa mới trở thành hàng hóa nhưng phần nhiều mang tính chất ngẫu nhiên, lao động của nông hộ chưa thật sự trở thành lao động xã hội. Ngược lại, chuyển sang nền sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường, sản xuất của nông hộ chủ yếu cho thị trường, cho nhu cầu xã hội. Điều đó đòi hỏi phải phát triển kinh tế toàn diện, cả trồng trọt và chăn nuôi, để một  mặt  giải  quyết  vấn  đề  lương  thực,  thực  phẩm  cho  toàn  xã  hội;  mặt  khác, phải  đáp  ứng  nhu  cầu  nguồn  nguyên  liệu  cho  công  nghiệp  và  hàng  hóa  xuất khẩu. Như vậy, sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường đã phá vỡ cơ cấu kinh 

tế tự cấp tự túc và hình thành cơ cấu kinh tế mới ngay trong từng nông hộ. 

Với  tư  cách là  đơn  vị  cơ  sở  tích  tụ  vốn, kinh  tế hộ  có  điều  kiện  chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển dịch lao động. Kinh tế hộ trở thành đơn vị kinh tế cơ 

sở thực hiện sự phân công lao động xã hội. Thực tiễn phát triển kinh tế nông hộ thời  gian  qua  cho  thấy:  nhờ  tích  tụ  vốn  gia  đình  và  nhờ  huy  động  thêm  các nguồn  lực  khác,  nhiều  hộ  đã  phát  triển  sản  xuất  kinh  doanh  rất  đa  dạng:  kinh doanh nông – lâm ­ ngư nghiệp, mở mang các ngành nghề, kinh doanh tổng hợp. Phát huy lợi thế  so sánh đã xuất hiện những hộ chuyên sản xuất một loại hàng hóa cung cấp cho thị trường. Đó là biểu hiện cụ thể và sinh động của phân công lao động xã hội đã diễn ra từ đơn vị cơ sở (kinh tế nông hộ) và đó cũng là điều 

mà chúng ta mong đợi

Trang 27

1.3.2.4  Kinh tế nông hộ là đơn vị kinh tế cơ sở tiếp nhận khoa học kỹ  thuật, đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế. 

Kinh tế nông hộ sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường phải chú ý đến vấn đề lợi nhuận và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Điều đó buộc hộ phải tìm mọi biện pháp để tăng năng suất lao động để cạnh tranh thắng lợi. 

Các  chủ  hộ  một  mặt  phải  sử  dụng  có  hiệu  quả  những  kinh  nghiệm  sản xuất lâu đời, mặt khác phải áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất kinh doanh. Ở đây động cơ lợi nhuận và lợi ích kinh tế là động lực  thúc đẩy  hộ  áp  dụng tiến bộ  khoa  học,  công  nghệ  vào  sản xuất. Nó  là một quá trình tự giác gắn với lợi ích thiết thân của từng hộ, khác với việc áp dụng kỹ thuật công nghệ trong chế độ kinh tế của hợp tác xã trước đây. Thông qua việc 

áp dụng  tiến  bộ  khoa  học công  nghệ  vào sản  xuất kinh  doanh  ở  từng  hộ, cùng đồng thời xảy ra quá trình sàng lọc và cải tiến kỹ thuật làm cho nó thật sự thích ứng  và  mang  lại  hiệu  quả kinh  tế  cao.  Như  vậy,  kinh tế  hộ  vừa là  nơi  lưu  giữ những  kinh nghiệm  truyền  thống, vừa  là  nơi  tiếp  nhận, ứng  dụng phát  triển  và hoàn  thiện  thêm  những  công  nghệ  mới  –  là  điều  kiện  vững  chắc  bảo  đảm cho việc nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh của từng kinh 

tế nông hộ. 

1.3.2.5  Kinh tế nông hộ là đơn vị kinh tế cơ bản đáp ứng cung­ cầu  của thị trường và đơn vị tiêu dùng xã hội. 

Là đơn vị kinh tế tự chủ sản xuất kinh doanh hàng hóa, nông hộ phải căn 

cứ  vào  nhu cầu của thị trường  để lên phương  án  sản  xuất  kinh doanh: loại  sản phẩm gì, khối lượng, chất lượng như thế nào, tiêu thụ ở đâu, giá cả bao nhiêu? Cần mua những vật tư gì cho sản xuất kinh doanh, hạch toán lỗ lãi,… Vô hình chung mỗi hộ thành một đơn vị cân đối cung cầu theo tiếng gọi của thị trường và 

là một đơn vị tiêu dùng của xã hội

Trang 28

Nhờ  ưu  thế  của  một  đơn  vị  sản  xuất  quy  mô  nhỏ,  tự  tích  lũy  vốn,  ứng dụng khoa học công nghệ và thực tiễn phân công lao động xã hội từ cơ sở nền kinh tế nông hộ cho phép nhanh chóng đáp ứng được nhu cầu thị trường và thích ứng được với mọi sự biến đổi mà cơ chế thị trường gây ra. 

Kinh tế nông hộ dễ dàng tổ chức lại sản xuất, phân công lao động, bắt tay ngay  vào  sản  xuất  kinh  doanh  mặt  hàng  mà  thị  trường  đang  và  sẽ  có  nhu  cầu một cách nhanh chóng trong khi các đơn vị sản xuất lớn khó chuyển biến kịp. Vì vậy, kinh tế nông hộ có khả năng thích ứng cao với mọi nhu cầu của thị trường 

mà ít có hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh nào ưu thế hơn. 

Thực tế cho thấy, ở hầu khắp các quốc gia trên thế giới, kinh tế nông hộ đảm bảo hầu như toàn bộ lương thực, thực phẩm, rau quả tươi sống, một phần nông sản làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến,… Điều đó khẳng định vai trò quan trọng của kinh tế nông hộ trong việc đáp ứng nhanh quan hệ cung cầu trong  nền  kinh  tế  thị  trường.  Mặt  khác,  nông  hộ  lại  tiêu  thụ  hàng  công  nghệ phẩm, dịch vụ của khu vực công nghiệp, thành thị. Như vậy, với tư cách là đơn 

vị tiêu dùng xã hội, hàng triệu nông hộ trải rộng trên địa bàn nông thôn rộng lớn, thực sự là thị trường tiêu thụ thúc đẩy các ngành công nghiệp, dịch vụ, khu vực thành thị phát triển. 

Từ  những  sự  phân  tích  trên,  có  thể  rút  ra  kết  luận:  Phát  triển  KTHND trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trường là một tất yếu khách quan, một đòi hỏi của sự phát triển xã hội nhưng sẽ là quá trình khó khăn, phức tạp, và rất cần đội ngũ lãnh  đạo vĩ mô và vi mô đủ bản lĩnh và trí tuệ để ổn định chính trị và định hướng điều tiết về phát triển kinh tế đúng hướng

Trang 29

1.3.3  Thực tế phát triển kinh tế nông hộ ở một số tỉnh trong nước, bài  học kinh nghiệm 

1.3.3.1 Thực tế phát triển kinh tế nông hộ ở một số tỉnh trong nước 

Hiện nay nước ta có trên 13 triệu hộ nông dân, lực lượng này là nền tảng của nền kinh tế, góp phần đảm bảo an ninh lương thực, giữ vững an ninh chính trị  ­  xã  hội.  Trong  bối  cảnh  hội  nhập  kinh  tế  quốc  tế,  việc  xây  dựng  mô  hình kinh tế hộ sản xuất nông nghiệp hàng hóa là rất cần thiết. 

Kinh  tế  hộ  nông  dân  đã  có  đóng  góp  lớn  cho  kinh  tế  nông  nghiệp,  sản xuất lúa gạo đạt tỷ suất hàng hóa khoảng trên 50%, cà phê 45%, cao su 85%, chè trên  60%,  điều  trên  90%.  Tuy  nhiên,  vẫn  còn  một  bộ  phận  không  nhỏ  hộ  gia đình đang loay hoay trong cảnh sản xuất tự cấp, tự túc, thậm chí còn nhiều hộ sản xuất tự nhiên, nhất là ở vùng núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Nền kinh 

tế hàng hóa phát triển cũng đồng thời dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo. Về lương thực, thực phẩm tỷ lệ hộ nghèo cả nước là 28,9%, trong đó nông thôn là 35,7% (thấp nhất là vùng Đông Nam Bộ 22%, cao nhất là vùng Tây Bắc 68,7%). Hiện nay,  cả  nước  vẫn  còn  trên  1  triệu  hộ  nghèo.  Thực  tế  phát  triển  kinh  tế  hộ  gia đình trên  cả nước được  thể hiện  qua  các mô hình  tổ chức  sản xuất  kinh  doanh 

Trang 30

Mô  hình  hộ  nông  dân  chuyên  canh  nông  nghiệp  phù  hợp  và  phổ biến  ở gần  các  đô  thị,  doanh  nghiệp  (cao  su,  chè,  cà  phê,  bông,  mía  đường    hoặc  xí nghiệp chế biến giấy). Mô hình kinh tế hộ loại này thường có quy mô lớn, khối lượng hàng hóa nhiều, cho thu nhập ổn định, đời sống người dân được cải thiện. Tuy nhiên, dễ gặp rủi ro do giá cả biến động theo thị trường, ảnh hưởng nhiều 

bởi thời tiết, khí hậu. 

Mô hình sản xuất lúa nước ­ nuôi cá nước ngọt ­ chăn nuôi  gia cầm 

Phát triển chủ yếu ở vùng Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long, các tỉnh vùng trũng trồng một vụ lúa không chắc ăn. Mô hình này thực sự 

có hiệu quả. Doanh thu nhiều hộ hàng năm đạt hàng trăm triệu đồng, thu nhập đạt hàng chục triệu đồng. Đây là những nông hộ cung cấp lượng nông sản hàng hóa lớn cho xuất khẩu, tuy nhiên những vấn đề như dịch bệnh, giá cả bấp bênh 

và thiếu thông tin về thị trường  có ảnh hưởng lớn đến sự bền vững của mô hình. 

Mô hình hộ liên kết chăn nuôi lợn theo phương thức bán công nghiệp ­  thâm canh lúa, màu 

Mô hình này đã và đang phát triển có hiệu quả ở Đồng bằng sông Hồng. Loại mô hình này cần có sự liên kết chặt chẽ giữa các hộ, giữa hộ với các chủ thể thu gom, chế biến, xuất khẩu. Để mô hình phát triển cần đảm bảo quy trình 

kỹ thuật chăn nuôi, phòng trừ dịch bệnh, chuồng trại hiện đại; có giống lợn và giống  lúa  tốt.  Bên  cạnh đó  các  chủ  hộ  cũng  cần  xác  định  quy  mô  hợp  lý,  chủ 

động nguồn thức ăn và nắm chắc thông tin thị trường tiêu thụ. 

Mô hình sản xuất cây giống (cây trồng nông, lâm nghiệp), vật nuôi (lợn  giống, gia cầm giống và các giống  vật nuôi thủy đặc sản) 

Đây là mô  hình phát  triển  sản xuất  giống cây  trồng ở  trung du miền núi  (giống  cà  phê,  cao  su,  chè,  cây  ăn  quả  các  loại);  giống  vật  nuôi  ở Đồng bằng sông Cửu Long, Đồng bằng sông Hồng , ven biển (giống tôm, cua, 

cá  ba  ba).  Mô  hình  này  rất  hấp  dẫn  về  các  loại  giống  mới,  đặc  sản, giống

Trang 31

sạch,  có  chất  lượng  và  sản  lượng  cao,  có  giá  trị  trên  thị  trường  trong  nước  và xuất khẩu.  Mô hình  này  cho  lãi  cao  nhưng  chủ  hộ  phải  có  vốn lớn,  nắm  vững 

khoa học và công nghệ , việc nhân rộng không dễ. 

Mô hình nuôi bò sữa ­ chế biến ­ tiêu thụ tại chỗ 

Mô  hình  này  được  phát  triển  ở  ngoại  thành  Hà  Nội,  thành  phố  Hồ  Chí Minh hoặc các vùng có khí hậu thuận lợi như Mộc Châu (Sơn La), Vĩnh Phúc, Lâm Đồng. Nếu chế biến và tiếp thị tốt, có trang thiết bị hiện đại, tổ chức quản 

lý tốt, đảm bảo vệ sinh an toàn thì mô hình này sẽ đạt hiệu quả và phát triển bền vững. Tuy nhiên, hiện nay mô hình này đang gặp khó khăn do giá cả biến động 

theo chiều không có lợi cho nông dân. 

Mô hình chuyên canh rau, hoa, quả xuất khẩu  dịch vụ thương mại tại  nhà 

Mô hình này đang phát triển mạnh tại vùng ven thành phố Đà Lạt (Lâm Đồng), vùng  có  khí hậu  á nhiệt  đới: Sa  pa  (Lao Cai),  Lạng  Sơn,  Cao Bằng,  Tam  Đảo (Vĩnh  Phúc),  Lục Ngạn  (Bắc  Giang  ).    Để  mô  hình  này  phát  triển,  các  hộ  cần nâng  cao  hơn  nữa  chất  lượng,  hình  thức,  khả  năng  bảo quản  và uy  tín  trên  thị 

trường, cần chú ý đến thương hiệu. 

Mô hình nông ­ lâm kết hợp 

Loại mô hình này được phát triển rộng rãi  ở vùng trung du và miền núi. Cây trồng gồm: Cây rừng, đỗ đậu, cây ăn quả, cây dược liệu, cây công nghiệp, cây đặc sản. Vật nuôi gồm trâu, bò, lợn, dê, gia cầm, chim, thú rừng  Hoạt động lâm  nghiệp  gồm:  Bảo  vệ,  khai  thác,  trồng,  sơ  chế,  chăm  sóc,  cải  tạo  rừng  Phương thức canh tác đặc trưng là canh tác trên đất dốc. 

Hiện nay, một số nơi đã xuất hiện các nghề như dịch vụ du lịch sinh thái, sản  xuất  chuyên  sâu  những  sản  phẩm là  đặc  sản  địa phương như  heo  rừng  lai,

Trang 32

năng ứng dụng KH&CN, hạ tầng cơ sở , và đôi khi còn bị động về thị trường. 

1.3.3.2 Bài học kinh nghiệm từ thực tế phát triển kinh tế nông hộ 

Qua thực tế phát triển kinh tế nông nghiệp trên thế giới, trong nước và ở địa phương có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm về củng cố, ổn định và phát triển kinh tế hộ gia đình nông dân ở nước ta như sau: 

Một  là,  xuất  phát  từ  đặc  điểm  của  sản  xuất  ngành  nông  nghiệp  là  mang tính chu kỳ, thời vụ chịu tác động bởi nhiều yếu tố, trong đó cơ bản nhất là yếu 

tố  tự  nhiên,  nó đòi  hỏi  tính  chủ  động  và  tự  chủ  cao  khác  với  tổ  chức sản xuất kinh doanh công nghiệp. Vì vậy mô hình kinh tế hộ gia đình, cao hơn là kinh tế trang trại trong nông nghiệp là hình thức phù hợp trong phát triển sản xuất nông nghiệp. Kinh tế hộ gia đình­  kinh tế trang trại chủ yếu  sử dụng lao động trong gia  đình,  trong  chừng  mực  nào  đó  nông  hộ  cũng  có  thuê  lao  động  nhưng  nó không thường xuyên  mà chỉ vào những lúc cao điểm của thời vụ. 

Hai  là,  kinh  tế  hộ  gia  đình  trong  nông  nghiệp  không  phải  là  hình  thức riêng có của xã hội nào, giai đoạn nào, nó ra đời, tồn tại trong giai đoạn tự cấp­ 

tự túc, và còn phù hợp, tác động tích cực trong nền sản xuất hàng hóa. 

Ba  là,  vấn đề liên  kết  và  hợp tác  trong  sản  xuất  nông nghiệp phải được coi trọng. Kinh tế nông hộ là những đơn vị kinh tế tự chủ và độc lập tương đối, tuy nhiên do đặc tính sản xuất chịu sự tác động của tự nhiên, cộng đồng, nhất là 

do hạn chế của bản thân kinh tế hộ, sự hợp tác, liên kết của các nông hộ trong sản xuất là không thể không có. 

Bốn  là, phải  có quy  hoạch,  kế  hoạch và  định  hướng phát  triển,cũng  như 

hỗ trợ của Nhà nước. Chính quyền các cấp, trong phạm vi lãnh thổ quản lý hành chính­ kinh tế và mối quan hệ với các vùng khác, phải xây dựng quy hoạch của cấp  mình  (bao  gồm  quy  hoạch  tổng  thể,  quy  hoạch  chi  tiết  ngành  và  sản phẩm…);  cần  có biện  pháp  cụ  thể,  hỗ  trợ  có  hiệu quả  về  giống  cây  trồng,  vật

Trang 33

nuôi,  thị  trường  đảm  bảo  ổn  định  cho  hộ  nông  dân  nói  chung  nhất  là  đối  với đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng. 

Tóm  lại  do đặc  điểm  của  sản  xuất  ngành  nông  nghiệp,  mà  hình  thức  tổ chức sản xuất phù hợp và hiệu quả nhất đó là kinh tế hộ gia đình nông dân. 

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều sự quan tâm về vấn 

đề nông hộ như chủ trương “bốn nhà” trong đó có nhà nông. Đặc biệt mới đây nhất Hội nghị Ban chấp hành Trung ương 7 Khóa X của Đảng đã ban hành Nghị quyết  “Tam  nông”  là  nông  nghiệp­  nông  thôn và  nông  dân,  trong  đó  coi  trọng thành phần kinh tế hộ gia đình và kinh tế trang trại

Trang 34

số  liệu  kiểm  tra  đến  cuối  năm  2008,  diện  tích  tự  nhiên  102.729,48  ha,  chiếm 30,57%  diện  tích  toàn  tỉnh,  trong  đó:  đất  lâm  nghiệp  81.231,01  ha,  chiếm 79,07%;  đất  nông  nghiệp  12.346,86  ha  chiếm  12,01%;  đất  phi  nông  nghiệp 5.277,41 ha chiếm 5,13%; đất chưa sử dụng 3.792,32ha chiếm 3,7%. 

Diện tích tự nhiên tuy lớn, nhưng chủ yếu là đất đồi núi, đất mặt nước và một phần đất bằng đã bị thoái hóa không còn sức sản xuất; lượng mưa phân phối theo mùa đã chi phối mạnh mẽ đến sản xuất nông nghiệp. Mùa mưa (vụ hè thu 

và vụ mùa) cây cối phát triển rất tốt là mùa sản xuất chính, ngược lại mùa khô (vụ đông xuân) cây cối khô cằn và phát triển rất kém. Vì vậy ngoài những diện tích đất  được  tưới bởi  các  công  trình  thủy  lợi,  còn  lại  hầu  hết  đất  chỉ  sản xuất được một vụ trong mùa mưa. Địa hình phức tạp bị chia cắt nhiều bởi các dãy núi cao, xen kẽ các sông, suối và các thung lũng nhỏ nên việc đi lại, giao lưu giữa các khu dân cư gặp rất nhiều khó khăn. Độ ẩm không khí là 76%; chỉ số ẩm ướt bình quân cả năm là 0,59. Tháng có độ ẩm tương đối thấp là  tháng 1, tháng 2;

Trang 35

tháng có độ ẩm tương đối cao là tháng 9, 10 và tháng 11. Chênh lệch giữa tháng khô  nhất  và  tháng  ẩm  nhất  khá  lớn  (xấp  xỉ  12­21%).  Lượng  nước  bốc  hơi  rất lớn,  trung  bình  từ  1.650­1.850mm,  trong  năm  có  tháng  lượng  bốc  hơi  trên 100mm/1tháng (lớn nhất vào các tháng 3 và tháng 4). Nằm ở vĩ độ thấp, huyện Bác Ái nhận được nhiều năng lượng bức xạ mặt trời và ít bị ảnh hưởng bởi gió mùa  Đông  Bắc, bởi  vậy  nhiệt  độ  không  khí trung  bình quanh  năm cao  (từ  27­ 27,8 o C),  chênh  lệch  nhiệt  độ  giữa  tháng  lạnh  nhất  và  tháng  nóng  nhất  chỉ  có 5,4 o C, nhiệt độ trung bình tối cao các tháng trong năm từ 30­35 o C, nhiệt độ tối thấp  trung  bình  tháng  trong  năm  từ  17­24,5 o C,  tổng  tích  ôn  tương  đối  cao (10.000­10.400 o C) và  phân bổ  tương đối đồng  đều  theo mùa, do  vậy cho  phép sản xuất trồng cây quanh năm. Đây là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển cây trồng  nhiệt  đới.  Tuy  nhiên  sản  xuất  nông  nghiệp  còn  chủ  yếu  dựa  vào  thiên nhiên; trình độ dân trí thấp, tập quán sản xuất lạc hậu; kết cấu hạ tầng phục vụ 

sản xuất và đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân còn nhiều khó khăn. 

+ Về tài nguyên đất: 

Đất đai được  hình thành chủ  yếu  trên đá  mẹ  Macmaaxit, Macmabajơ  và Macma  trung  tính,  đá trầm  tích đặc biệt  là  trầm  tích  đệ  tứ,  có  nguồn  gốc  sông biển. Trừ nhóm đất phù sa có độ phì khá, còn lại là đất nghèo dinh dưỡng. 

Tổng  hợp  diện  tích  các  loại đất  trên  bản  nông  hỏa  thổ  nhưỡng  1/50.000 toàn vùng có 7 nhóm đất gồm: Nhóm đất cát, nhóm đất mặn, nhóm đất phù sa, nhóm  đất  xám,  nhóm  đất  đỏ  vàng,  nhóm  đất  mùn  trên  núi  cao,  nhóm  đất  xói mòn từ sỏi đá và nhóm các loại đất khác. Mỗi một nhóm đất có tính chất lý hóa khác nhau và do đó hướng sử dụng chúng cũng khác nhau. 

Đặc điểm về đất ở Bác Ái hầu hết nằm trên sườn dốc do đó phù hợp cho việc phát triển trổng cây lâu năm, cây công nghiệp, cũng như chăn nuôi đàn gia súc hơn là trồng cây lương thực

Trang 36

Huyện Bác Ái là vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình với các đặc trưng là khô nóng, gió nhiều, lượng bốc hơi lớn (1650­1.850mm). 

­  Lượng  mưa:  lượng  mưa  trong  năm  từ  600­800mm  và  số  ngày  mưa khoảng từ 45­90 ngày/năm. Nhìn chung, lượng mưa năm có xu thế tăng dần từ thấp đến cao, từ Đông sang Tây. Mưa nhiều nhất là ở khu vực phía Tây và Tây 

Bắc (trung bình hàng năm khoảng 2.000mm). 

+ Đặc điểm về tài nguyên rừng: 

Diện  tích  đất  còn  rừng  tính  đến  cuối  năm  2008  là  81.231,01  ha,  chiếm 79,07% diện tích đất có rừng toàn tỉnh. Trữ lượng gỗ còn khoảng 8 ­ 9 triệu m 3 , hằng năm cho phép khai thác gỗ chính phẩm phục vụ cho xây dựng và dân dụng 

từ 2000 đến 3000 m 3 . 

Ngoài ra rừng ở Bác Ái đa dạng và phong phú, bao gồm nhiều loại rừng khác  nhau  và  phân  bố  trên  các  dãy  núi  cao,  núi  thấp  …  và  rừng  khộp  là  điều kiện  thuận  lợi  cho  việc  phát  triển  kinh  tế  hộ  trong  sản  xuất  lâm  nghiệp  kể  cả 

chính sách giao rừng khoán quản. 

+ Đặc điểm về tài nguyên nước:

·  Nước mặt: Huyện Bác Ái có 4 con sông chính, trong đó sông Cái là sông chính của tỉnh. Sông Cái dài 119km gồm 10 sông nhánh phân bố khắp các 

xã miền núi như Sông Sắt, Sông Trà Co, Sông Ông …. là tài nguyên quý giá cho việc ngăn đập xây dựng thủy điện, thủy lợi, xây dựng các hồ vừa lưu trữ và cung cấp nước cho thủy lợi và sinh hoạt, đồng thời là hệ thống hồ điện hóa để chỉnh các  dòng  lưu,  diện  tích  lưu  vực  của  Sông Cái  khoảng  3.000km 2 .  Ngoài  ra  còn các sông khác ngoài Sông Cái là Sông Trâu, Sông Bà Râu và Sông Quán Thẻ. 

Sông ngòi có lưu vực nhỏ, sông hẹp, dốc, vùng đầu nguồn chủ yếu là rừng thưa, rừng nghèo nên nguồn nước không được phong phú. Việc khai thác nguồn nước mặt  phục  vụ  sản xuất  nông  nghiệp  và  sinh  hoạt cho  các  xã  vùng thượng

Trang 37

lưu  bị  hạn  chế  do  địa  hình  các  vùng  đất  canh  tác  ven  sông  cao,  không  bằng phẳng. Hiện nay trên các sông suối ở miền núi đã và đang xây dựng một số công trình thủy lợi như đập Cà Tiêu, đập ChàVin, đập Trà Co, … để cung cấp nước tưới và nước sinh hoạt. Tuy đã xây dựng được một số công trình thủy lợi nhưng 

do lượng mưa ít, lượng bốc hơi nhiều nên các công trình trên vẫn chưa thể cung cấp đủ nước sinh hoạt và nước sản xuất của nhân dân trong vùng. Do vậy, gần đây  được  sự  quan  tâm  của  Chính  Phủ,  tỉnh  đang  xây  dựng  một  số  công  trình thủy lợi quan trọng khác như hồ Sông Sắt ( sức chứa 65 triệu m 3 nước), hồ Tân 

Mỹ, và các đập thủy lợi nhỏ khác như đập Tà Lóc, đập Bà Rơ… 

*Nước ngầm: 

Theo kết quả thăm dò của ngành địa chất thủy văn, chương trình UNICEF đánh giá cho thấy: Trữ lượng nước ngầm trong ít, tồn tại dưới dạng khe nứt và 

lổ hỏng trong đới phong hóa. Ở vùng đồi núi nước ngầm sâu (quan sát các giếng nước đào  sâu  15  ­  20m  về  mùa  khô đều  cạn,  kiệt).  Nhìn  chung  việc  khai  thác nước  ngầm  gặp  nhiều  khó  khăn.  Nguồn  nước  ngầm  không  đủ  để đáp  ứng  cho sản xuất và sinh hoạt. 

Với lợi thế về hệ thống hồ chứa nước và kênh mương thủy lợi cùng với địa  thế  đất  tạo điều  kiện thuận lợi cho  việc  phát  triển  nuôi  trồng  cá  nước  ngọt với quy mô nhỏ và vừa trên diện rộng phù hợp với mô hình của kinh tế hộ gia đình; hệ thống các con sông, con suối chảy qua các sườn đồi tạo ra những con thác  là  một trong  những  lợi  thế cho  việc phát  triển du  lịch  nhất  là du  lịch  sinh 

thái. 

2.1.2/ Đặc điểm về kinh tế 

Sản  xuất  chủ  yếu  là  nông  nghiệp;  trong  nông  nghiệp  cây  trồng  chính  là trồng lúa và bắp địa phương phụ thuộc vào tự nhiên, năng suất thấp, sản lượng bình quân chưa đạt được 1tấn/ha, chi phí cao

Trang 38

Công  nghiệp,  tiểu  thủ  công  nghiệp  có  chú  trọng  nhưng  chưa  được  phát triển, chủ yếu là tập quán sản xuất của nông dân còn quá lạc hậu, chưa quen với việc tổ chức sản xuất công nghiệp; thủ công nghiệp mang tính riêng lẻ, quy mô gia đình là chính. 

Về thương mại –  dịch  vụ:  sau  khi  hệ  thống  thương  nghiệp  nhà  nước  tan 

rã, các hợp tác xã mua bán giải thể, mạng lưới thương mại và dịch vụ chủ yếu do 

tư thương đảm nhận, nó đã tạo ra được bước đầu thói quen mua bán và giao lưu hàng hóa đối với nông dân; mặt khác nó cũng là sức nặng đè lên vai nông dân như hiện tượng vay nặng lãi, bán sản phẩm non, bán khấu trừ nợ,… 

Hệ thống kết cấu hạ tầng: 

+  Hệ  thống  đường  giao  thông:  trên  địa  bàn  huyện  có  quốc  lộ  27B  dài 

52km  (có  46  km  đi  qua  huyện),  là  tuyến  đường  huyết  mạch  quan  trọng  trong phát triển kinh tế ­ xã hội và giao lưu hàng hóa đã bị xuống cấp trầm trọng, hiện đang  được  Bộ  giao  thông  vận  tải  cho  nâng  cấp,  sữa  chữa.  Đối  với  các  tuyến đường  giao  thông  từ  huyện  đến  các  xã  cơ  bản  được  xây  dựng  nhưng  chủ  yếu bằng  đường  cấp  phối  sỏi  đỏ  (101km/123km  tổng  chiều  các  tuyến  đường  tòan huyện). Hệ thống cầu cống chưa hòan thiện vào mùa mưa thường bị sình lầy, xói 

lở đi lại hết sức khó khăn và bị chia cắt khi có mưa lũ xảy ra. Hiện nay còn 2 xã chưa có đường ôtô đến trung tâm huyện, phải đi nhờ qua địa bàn huyện bạn. 

+ Công trình thủy lợi: Trên địa bàn huyện có 01 công trình thủy lợi lớn và 

02 công trình vừa, trong đó có công trình hồ chứa nước sông Sắt (năng lực tưới theo  thiết  kế  3.800ha)  đã  hòan  thành  hệ  thống  đập  và  kênh  chính  nhưng  thiếu kênh mương cấp 2 và cấp 3 nên dù đã được đưa vào sử dụng nhưng chưa phát huy hết hiệu quả; còn lại 2 công trình đang thi công chủ yếu phục vụ tưới vùng 

hạ lưu, trên địa bàn huyện hưởng lợi từ công trình này không nhiều. Có 7/9 xã 

đã có công trình đập dâng nhỏ, một số được xây dựng trước năm 2000 hiện đã xuống  cấp,  số còn  lại  mới  được đầu  tư  xây  dựng.  Tuy  nhiên  do  nguồn  vốn  có

Trang 39

hạn, trong khi đó nhu cầu kiên cố hóa kênh mưong lớn, nên hiện nay còn một số tuyến kênh mương và công trình chưa được đầu tư, vì vậy diện tích đất sử dụng nước  tưới  còn  rất  hạn  chế  (728ha,  chiếm  7,2%  diện  tích  đất  nông  nghiệp  tòan huyện),  chỉ  đáp  ứng  một  phần  nhu  cầu  tưới  và  không  đủ  nước  phục  vụ  cho những tháng mùa khô. 

+  Công trình nước sinh họat: đến nay huyện chỉ có một công trình nước 

sinh họat tự chảy với quy mô vừa, chỉ đủ phục vụ cho khu vực trung tâm của 2 

xã Phước Đại và Phước Thắng. Ngòai ra công trình cấp nước sinh họat cho nhân dân đã được xây dựng ở 7/9 xã còn lại, các công trình này là hệ thống tự chảy (chỉ  qua xử  lý  lọc  thô)  và được xây dựng kết  hợp  với  các  công  trình  đập dâng thủy lợi nhỏ  của  xã nên  chỉ  mới  đáp  ứng cho  khỏang 50%  hộ  dân;  chất  lượng nước không đảm bảo đặc biệt là vào mùa mưa lũ do lấy trực tiếp từ sông suối. 

+ Hệ thống điện lưới quốc gia: đã được đầu tư 9/9 xã nhưng chủ yếu tập 

trung ở các thôn trung tâm, còn một số cụm dân sống xa trung tâm và thôn hiện vẫn  chưa  có  điện  (thôn  Gia  É,  Bố  Lang  –  xã  Phước  Bình,  dân  cư  khu  vực  Ô Căm – xã Phước Trung, thông Đá Trắng, suối Rua Cao – xã Phước tân, thôn Tà Lọt – xã Phước Hòa, thôn Ma Dú – xã Phước Thành). 

+  Các  chợ  Trung  tâm:  hiện  nay  tòan  huyện  có  2/9  xã  đã  xây  dựng  chợ 

trung  tâm nhưng chỉ có chợ Phước Đại (là trung tâm huyện) đi vào họat động, việc giao lưu mua bán hàng hóa tại các chợ còn nhỏ, lẻ, sức mua chưa cao. 

+ Về trường học: hệ thống cơ sở vật chất các trường tiểu học cơ bản đáp 

ứng được nhu cầu dạy và học; riêng đối với bậc trung học cơ sở chỉ có 05/09 xã 

có trường, đang học nhờ trường tiểu học; có một trường THCS Dân tộc nội trú được xây dựng  từ  năm 1998 nhưng mới  chỉ  tập  trung  xây dựng  cơ  sở  vật  chất bảo  đảm  cho  phòng  học,  các  công  trình  như  khu  hiệu  bộ,  phòng  chức  năng, tường rào khuôn viên trường, nhà ở giáo viên chưa được đầu tư đồng bộ

Trang 40

Nhìn chung bức tranh về kinh tế của nông thôn ở huyện Bác Ái còn quá nhiều  khó khăn; đời  sống  nhân  dân  còn quá  nghèo. Mới đây  huyện Bác  Ái  (là huyện miền núi với hơn 95% là đồng báo dân tộc) được Nhà nước xếp vào trong 

62 huyện nghèo của cả nước và thuộc diện được hỗ trợ để giảm nghèo nhanh và phát  triển  bền  vững  (  theo  Nghị  quyết  30a/2008/NQ­CP  ngày  27/12/2008  của Chính  phủ).  Sự  phát  triển  kinh tế  của  huyện  được thể  hiện qua các  chỉ  tiêu  và biểu cơ cấu ngành kinh tế như sau: 

Tổng giá trị sản xuất năm 2008 đạt 118,95 tỷ đồng (theo giá cố định năm 1994); tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 11,04% so với năm 2001. 

Công nghiệp – Xây dựng(%) 20,17 47,61 30,89 / 

Thương mại ­ DV(%) 36,4 39,58 22,90 

19,95 

Nguồn:     Báo cáo kinh tế ­ xã hội năm 2008 của tỉnh, huyện và thành phố thuộc tỉnh.

Ngày đăng: 16/08/2014, 18:26

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 01  Cơ cấu kinh tế năm 2008  Theo ngành kinh tế - Định hướng phát triển kinh  tế hộ nông dân huyện bác ái tỉnh ninh thuận trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường đến năm 2020
Bảng 01 Cơ cấu kinh tế năm 2008  Theo ngành kinh tế (Trang 40)
Bảng 02:  Thống kê dân số và lao động huyện Bác Ái - Định hướng phát triển kinh  tế hộ nông dân huyện bác ái tỉnh ninh thuận trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường đến năm 2020
Bảng 02   Thống kê dân số và lao động huyện Bác Ái (Trang 42)
Bảng 03 :  Dân số, nhà ở và đất sản xuất: - Định hướng phát triển kinh  tế hộ nông dân huyện bác ái tỉnh ninh thuận trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường đến năm 2020
Bảng 03   Dân số, nhà ở và đất sản xuất: (Trang 46)
Bảng 04:  Năng lực kinh tế của các loại hộ  Chỉ - Định hướng phát triển kinh  tế hộ nông dân huyện bác ái tỉnh ninh thuận trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường đến năm 2020
Bảng 04   Năng lực kinh tế của các loại hộ  Chỉ (Trang 47)
Bảng 05:  Thu nhập bình quân năm 2008 - Định hướng phát triển kinh  tế hộ nông dân huyện bác ái tỉnh ninh thuận trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường đến năm 2020
Bảng 05   Thu nhập bình quân năm 2008 (Trang 50)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w