1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạt động đối ngoại nhân dân việt nam

78 63 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoạt Động Đối Ngoại Nhân Dân Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Khoa Học Xã Hội
Thể loại bài tiểu luận
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phát triển và cụ thể hóa nhiệm vụđối ngoại do Đại hội lần thứ VII đề ra, Hội nghị Trung ương lần thứ ba thángSáu 1992 nêu cụ thể nhiệm vụ mở rộng và đổi mới hoạt động đối ngoại nhândân p

Trang 1

PHẦN MỘT

HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN

GÓP PHẦN VÀO THẮNG LỢI CỦA

CÁCH MẠNG VIỆT NAM

NHỮNG QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG

ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN

Theo quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩaMác, quần chúng nhân dân làm ra lịch sử Lịch sử xã hội là lịch sử của conngười do chính con người tạo ra thông qua hoạt động tồn tại và chủ yếu là hoạtđộng sáng tạo của mình Quan hệ giữa các dân tộc, quốc gia bắt đầu từ sự traođổi sản phẩm thừa giữa các bộ lạc và trải qua các thời kỳ lịch sử mở rộng vềkhông gian và lĩnh vực (buôn bán, giao lưu hữu nghị, hiểu biết lẫn nhau và hòabình, giao lưu văn hóa…)

Trong một nước dân là gốc Đường lối chính trị và chính sách đối nội, đốingoại của chính phủ một nước có đáp ứng được nhu cầu, lợi ích và nguyệnvọng của nhân dân thì mới được nhân dân chấp nhận, thực hiện và mới có hiệuquả Thái độ của nhân dân có tác động quyết định đối với sự tồn tại và khả nănghoạt động của chính phủ

V.I Lênin từ nhận thức về vai trò của nhân dân ngày càng tăng trong lịch

sử đã đi đến kết luận về ảnh hưởng ngày càng mạnh mẽ của các dân tộc đối vớichính sách đối ngoại của các quốc gia Trong quá trình hoạt động cách mạng,Lênin rất coi trọng công tác vận động quốc tế ủng hộ cách mạng và nhân dânnước Nga, đặc biệt là vận động nhân dân, các cá nhân và tổ chức chính trị - xãhội các nước Sau Cách mạng tháng Mười 1917, Lênin đã cùng với Đảng vàNhà nước Xô viết, các đảng an hem ở các nước vận động phong trào nhân dânrộng lớn ủng hộ và bảo vệ chính quyền Xô viết Hoạt động đối ngoại nhân dân(ngoại giao nhân dân) của nước Nga Xô viết và sau đó là Liên Xô đã góp phầnquan trọng thực hiện các nguyên tắc đối ngoại của Nhà nước Xô viết, chủ yếu lànguyên tắc chủ nghĩa quốc tế vô sản và nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình giữacác nước có chế độ chính trị khác nhau

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng lập nền ngoại giao Việt Nam hiện đại,trong đó có công tác đối ngoại nhân dân

Khi tìm đường cứu nước và vận động thành lập Đảng Cộng sản ViệtNam, Nguyễn Ái Quốc đã từng bước hình thành và phát triển quan điểm,nguyên tắc và nội dung, phương thức công tác đối ngoại nhân dân và công tácđối ngoại của Đảng Con đường cứu nước “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”

đã đưa cách mạng nước ta hòa nhập vào trào lưu giải phóng của nhân loại: giải

Trang 2

phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người, đặt cách mạng nước tavào vị trí là một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới Nhờ vậy cáchmạng nước ta ngay từ đầu đã có khả năng kết hợp sức mạnh dân tộc với sứcmạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế, tạo cho mình sứcmạnh tổng hợp to lớn để giành thắng lợi Để khả năng này trở thành hiện thực,yếu tố quyết định là sự kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước chân chínhvới chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân trong đường lối, chính sách vàhoạt động đối ngoại.

Như vậy, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội chính là nguồn gốc, mụctiêu và nội dung cơ bản của nền ngoại giao Việt Nam hiện đại mà Chủ tịch HồChí Minh là người sáng lập và phát triển, trong đó có công tác đối ngoại nhândân

Trong những năm 1920, Người xác định và trực tiếp tổ chức thực hiệnhai quan điểm cơ bản về đối ngoại: một là, đoàn kết với giai cấp vô sản và cácdân tộc bị áp bức trên thế giới; hai là, gắn cách mạng ở thuộc địa với cách mạngcủa nhân dân lao động Pháp Hoạt động đối ngoại, vận động quốc tế lúc đó làhoạt động đối ngoại nhân dân Năm 1928 - 1929, khi ở Thái Lan Nguyễn ÁiQuốc đã đề ra nhiệm vụ “ngoại giao nhân dân” cho Việt kiều với khẩu hiệu

“Việt – Thái thân thiện” và làm cho người Thái Lan có cảm tình hơn nữa vớingười Việt Nam và cách mạng Việt Nam Người viết báo, viết sách, nói chuyện

về tình cảnh nước ta dưới chế độ thực dân Pháp, tổ chức vận động nhân dânnước Pháp và nhiều nước châu Âu, châu Á, châu Phi đồng tình và ủng hộ cuộcđấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam

Từ khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng và Chủ tịch Hồ ChíMinh luôn luôn chú trọng đẩy mạnh công tác đối ngoại, vận động quốc tế củaĐảng và nhân dân

Từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, nền ngoại giao hiện đại của ViệtNam hình thành một cách hoàn chỉnh, bao gồm công tác đối ngoại của Đảng,ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân, tạo nên sức mạnh tổng hợp trên mặttrận đối ngoại Với tư cách là người đứng đầu Đảng và Nhà nước, Chủ tịch HồChí Minh lãnh đạo và trực tiếp tiến hành công tác đối ngoại của Đảng, ngoạigiao nhà nước và công tác đối ngoại nhân dân phù hợp với những hoàn cảnh vàđối tượng cụ thể

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta rất coi trọng công tác đối ngoại nhândân và xác định công tác đối ngoại nhân dân là một bộ phận cấu thành của côngtác đối ngoại chung, hỗ trợ và phối hợp chặt chẽ với công tác đối ngoại củaĐảng và ngoại giao nhà nước trong việc thực hiện nhiệm vụ, đường lối, chínhsách đối ngoại của Đảng

Công tác đối ngoại nhân dân thực chất là công tác dân vận, vận động cácđối tượng là quần chúng nhân dân nước ta và quần chúng nhân dân nước ngoài

Trang 3

để thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hữu nghị và hợp táccủa nước ta Công tác về đối ngoại nhân dân có tiếng nói và tiến hành các biệnpháp về đối ngoại trên một số vấn đề và ở những nước, khu vực trong nhữnghoàn cảnh cụ thể mà công tác đối ngoại của Đảng và nhất là ngoại giao nhànước không có điều kiện làm hoặc nếu làm thì không thuận lợi như mongmuốn.

Lực lượng hoạt động của đối ngoại nhân dân bao gồm không phải chỉ cócác đoàn thể và tổ chức nhân dân, các tổ chức chính trị - xã hội, các hội nghềnghiệp, các doanh nghiệp và rộng ra là các tầng lớp nhân dân, mà cả các tổ chứccủa Đảng, cơ quan nhà nước các cấp và lực lượng vũ trang nhân dân (tiến hànhvới đối tượng và hình thức thích hợp); đồng thời có những tổ chức chính trị - xãhội có nhiệm vụ và chức năng chuyên về hoạt động đối ngoại nhân dân, đó làcác tổ chức hòa bình, hữu nghị, đoàn kết

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng tháng Mười hai 1986 đề

ra mục tiêu đối ngoại: giữ vững hòa bình, tranh thủ những điều kiện quốc tếthuận lợi để thực hiện công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệđất nước, góp phần tích cực vào sự nghiệp chung của nhân dân thế giới vì hòabình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII tháng Sáu 1991 nhấn mạnh: tíchcực và năng động thực hiện đường lối độc lập tự chủ, chính sách rộng mở đadạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại Phát triển và cụ thể hóa nhiệm vụđối ngoại do Đại hội lần thứ VII đề ra, Hội nghị Trung ương lần thứ ba thángSáu 1992 nêu cụ thể nhiệm vụ mở rộng và đổi mới hoạt động đối ngoại nhândân phối hợp với công tác đối ngoại của Đảng và ngoại giao nhà nước nhằm giữvững hòa bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện quốc tếthuận lợi cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, gópphần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độclập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, theo tinh thần “Việt Nam muốn là bạnvới tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập vàphát triển”

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII tháng Sáu 1996 nêu rõ: mở rộngquan hệ đối ngoại nhân dân, quan hệ với các tổ chức phi chính phủ, tranh thủ sựđồng tình và ủng hộ rộng rãi của nhân dân các nước, góp phần thúc đẩy xu thếhòa bình, hợp tác, phát triển

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX tháng Tư 2001 nhấn mạnh: mởrộng hơn nữa công tác đối ngoại nhân dân, tăng cường quan hệ song phương và

đa phương với các tổ chức phi chính phủ quốc gia và quốc tế, góp phần tăngcường sự hiểu biết lẫn nhau, quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa nhân dân ta vànhân dân các nước trong khu vực và trên thế giới

Hoạt động đối ngoại nhân dân nhằm:

Trang 4

- Làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ đất nước, con người Việt Nam, chính sách đối nội, đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, tranh thủ thiệncảm, sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân các nước đối với công cuộc đổi mới,

sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta Đồng thời, đấu tranhvới những quan điểm, ý đồ và hành động xấu của một số người và tổ chức nướcngoài đối với nước ta

- Tranh thủ sự giúp đỡ của nhân dân các nước trên thế giới, các

tổ chức phi chính phủ quốc gia và quốc tế về vốn, chuyển giao công nghệ, kinhnghiệm quản lý kinh tế và quản lý xã hội, đào tạo cán bộ…

- Làm cho nhân dân ta hiểu rõ đất nước và con người các nướckhác, tăng cường tình hữu nghị, mở rộng quan hệ hợp tác với nhân dân cácnước trên thế giới

Bày tỏ sự đoàn kết, ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của cácdân tộc vì hòa bình, độc lập, dân chủ, tiến bộ xã hội và giải quyết những vấn đề

có tính toàn cầu như loại trừ vũ khí hạt nhân và vũ khí giết người hàng loạtkhác, phòng chống bệnh hiểm nghèo, bảo vệ môi trường…

Tích cực góp phần duy trì và đổi mới hoạt động của các tổchức quốc tế mà nước ta là thành viên phù hợp với tình hình mới của thế giới1

SỰ ĐÓNG GÓP CỦA HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI

NHÂN DÂN VÀO THẮNG LỢI CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Trong thời kỳ Đảng lãnh đạo đấu tranh giành

chính quyền (1930 – 1945)

Chánh cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt của Đảng khi thành lập và Luận cương chính trị tháng Mười 1930 nêu rõ: Đảng phổ biến khẩu hiệu “Việt Nam

tự do” và đồng thời Đảng liên kết với những dân tộc bị áp bức và quần chúng

vô sản trên thế giới nhất là với quần chúng vô sản Pháp

Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên vận động quốc tế, tranhthủ tình hữu nghị, sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân nước Pháp, các nướcthuộc địa, phụ thuộc và nhân dân các nước khác, đặc biệt là Liên Xô, TrungQuốc, Ấn Độ đối với nhân dân ta, thông qua việc giới thiệu, thông tin về tìnhcảnh dân tộc ta bị đế quốc thực dân Pháp áp bức, bóc lột và về cuộc đấu tranhgiành độc lập của dân tộc ta Đồng thời, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh ủng hộ,

cổ vũ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân các nước thuộc địa, phụthuộc ở châu Á, châu Phi, và Mỹ La tinh

Sau Đại hội lần thứ I của Đảng tháng Ba 1935, Đảng và Chủ tịch Hồ ChíMinh gắn cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân ta với việc góp phần thực

1 Theo tinh thần Chỉ thị số 44 – CT/TW ngày 20 tháng Chín 1994 của Ban Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII)

Trang 5

hiện nhiệm vụ chung của nhân dân thế giới chống chủ nghĩa phát xít, chốngchiến tranh, ủng hộ Liên Xô và cách mạng Trung Quốc, ủng hộ Mặt trận nhândân Pháp và tranh thủ sự ủng hộ của mặt trận này đối với cuộc đấu tranh giảiphóng của nhân dân ta.

Trong thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ hai, Đảng và Chủ tịch Hồ ChíMinh thông qua Mặt trận Việt Minh tăng cường phối hợp cuộc đấu tranh giảiphóng của nhân dân Việt Nam với cuộc đấu tranh của nhân dân Lào và nhândân Campuchia, ủng hộ cuộc chiến đấu chống phát xít của nhân dân Liên Xô vànhân dân Trung Quốc, gắn cuộc đấu tranh của nhân dân ta chống Nhật – Phápvới cuộc chiến đấu của các lực lượng Đồng minh chống phát xít

Những hoạt động đối ngoại của Đảng và đối ngoại nhân dân trong thời kỳ

1930 – 1945 đã tranh thủ được sự ủng hộ và giúp đỡ của Quốc tế cộng sản, củaLiên Xô và cách mạng Trung Quốc đối với Đảng và cách mạng nước ta, tạođiều kiện thuận lợi cho thắng lợi vẻ vang của Cách mạng tháng Tám 1945

Thời kỳ sau Cách mạng tháng Tám (tháng Tám 1945 – tháng Mười hai 1946)

Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo chặt chẽ và cùng với chính quyền nhândân tiến hành hoạt động đối ngoại một cách chủ động và sáng tạo, góp phầnquyết định giữ vững nền độc lập mới giành được, đưa đất nước vượt qua nhữnglúc hiểm nguy “ngàn cân treo sợi tóc”

Thực hiện quyết nghị về đối ngoại của Hội nghị Tân Trào (ngày 13 đến

15 tháng Tám 1945) và chính sách đối ngoại của nước Việt Nam độc lập(Thông cáo ngày 3 tháng Mười 1945 của Chính phủ lâm thời nước Việt NamDân chủ Cộng hòa), Đảng và Chính phủ tiến hành các hoạt động bày tỏ thái độhữu nghị với các nước coi trọng nền độc lập của Việt Nam, hữu nghị và hợp táctrên cơ sở bình đẳng với các nước trong Đồng minh, tranh thủ sự giúp đỡ củacác nước thuộc địa và nhân dân Trung Hoa và Pháp, đoàn kết với nhân dân Lào

và nhân dân Campuchia, tranh thủ sự đồng tình của Liên Xô và ở mức độ nhấtđịnh của Mỹ chống lại mưu đồ Pháp trở lại Đông Dương và chính quyền TrungHoa Tưởng Giới Thạch định chiếm Việt Nam

Để hỗ trợ thực hiện chính sách đối với Mỹ và Trung Hoa qua con đườngđối ngoại nhân dân, hội Việt – Mỹ thân hữu và Hội Việt – Trung thân hữu đượcthành lập cuối tháng Tám và trong tháng Chín 1945

Trước tình hình thực dân Pháp xâm lấn Nam Bộ (từ ngày 23 tháng Chín1945) và quân Tưởng ở phía Bắc gây rối âm mưu lật đổ chính quyền cáchmạng, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần thực hiện chủ trương tập trungngọn lửa đấu tranh vào kẻ thù chính lúc này là thực dân Pháp xâm lăng, tránhxung đột với quân Tưởng, hòa hoãn, nhân nhượng có nguyên tắc nhằm làm thấtbại âm mưu lật đổ của chúng (Chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc” ngày 25 thángMười một 1945) Trong khi hòa hoãn với quân Tưởng, nhân dân ta tỏ rõ tinh

Trang 6

thần đoàn kết, tự lực tự cường, ra sức tăng gia sản xuất chống giặc đói và chốnggiặc dốt, đồng thời tiến hành những cuộc mít tinh, biểu tình tỏ rõ thái độ quyếtbảo vệ nền độc lập, tự do mới giành được để biểu dương thực lực.

Đối với Pháp, quân và dân ta anh dũng chiến đấu chống các cuộc tiếncông xâm lấn của quân Pháp ở Nam Bộ, đồng thời có thái độ đối xử đúng đắnvới kiều dân Pháp lương thiện tôn trọng nền độc lập của Việt Nam, quán triệtchính sách của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh phân rõ bạn thù, phân biệt nhândân Pháp với thực dân Pháp Nhiều cuộc mít tinh, diễu hành lớn đã diễn ranhằm ủng hộ Chính phủ ta đàm phán với Pháp và ký hiệp định Sơ bộ ngày 6tháng Ba 1946 để gạt nhanh quân Tưởng về nước, làm thất bại âm mưu pháhoại, lật đổ của họ và bọn phản động người Việt, có thời gian hòa hoãn để xâydựng lực lượng cách mạng Nhân dân ta cũng bày tỏ sự ủng hộ Chính phủ tađàm phán với Pháp ở Fontainebleau (Phôngtennơblô) (Pháp) từ đầu tháng Bảy

1946 và Chủ tịch Hồ Chí Minh ký với chính phủ Pháp Tạm ước 14 tháng Chín

1946 để có thêm thời gian chuẩn bị kháng chiến toàn quốc

Cùng với việc động viên sức mạnh đoàn kết của nhân dân góp phần thựchiện đường lối và chủ trương đối ngoại, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉđạo công tác đối ngoại nhân dân vận động quốc tế ủng hộ cuộc đấu tranh chínhnghĩa của nhân dân Việt Nam

Trong thời gian ở Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh và phái đoàn đàm pháncủa ta đã tiếp xúc rộng rãi với các tầng lớp nhân dân, các chính khách, trí thức,nhà báo, các đảng phái chính trị, đoàn thể quần chúng, tổ chức hữu nghị ở Pháp2

và nhiều nhà hoạt động chính trị, nhà báo của nhiều nước Tây Âu, Bắc Âu, Mỹ,các nước thuộc địa, nêu rõ ý chí độc lập, tự do và thống nhất của dân tộc ViệtNam, thiện chí hòa bình và hợp tác của nước Việt Nam với nước Pháp trên cơ

sở tôn trọng nền độc lập của Việt Nam, bày tỏ tình cảm hữu nghị của nhân dânViệt Nam với nhân dân Pháp và nhân dân các nước thuộc địa

Đồng thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần lên tiếng ủng hộ các dân tộcthuộc địa và phụ thuộc đang đấu tranh giành độc lập, đặc biệt là Trung Quốc,

Ấn Độ, Inđônêxia, các nước thuộc địa của Pháp, ủng hộ các lực lượng hòa bình,dân chủ và tiến bộ ở các nước Trên đường đi Pháp qua Ấn Độ, Chủ tịch Hồ ChíMinh đã tuyên bố tán thành sáng kiến của các nhà lãnh đạo Ấn Độ triệu tập mộtcuộc hội nghị liên Á chống chủ nghĩa thực dân (Hội nghị liên Á diễn ra cuốitháng Ba 1947)

Trong kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược (tháng Mười hai 1946 – tháng Bảy 1954)

2 Hội Pháp – Việt được thành lập tháng Sáu 1946, nhằm “giúp cho Việt Nam độc lập”, thành viên là đại diện nhiều đảng phái chính trị, nhà hoạt động chính trị, xã hội, trí thức, nhà báo có tiếng.

Trang 7

Công tác đối ngoại nhân dân có bước phát triển mới và đóng vai trò quan trọngtrong việc thực hiện đường lối, chính sách đối ngoại trong kháng chiến, trướchết là vẫn động quốc tế, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân các nướcđối với cuộc kháng chiến của nhân dân ta.

Công tác vận động quốc tế đã tập trung vào nội dung chủ yếu:

Một là, nêu cao tính chất chính nghĩa, nhân đạo và triển vọng nhất định

thắng lợi của cuộc kháng chiến của nhân dân Việt nam, vạch rõ tính chất phinghĩa, tàn bạo và triển vọng nhất định thất bại của cuộc chiến tranh xâm lượccủa thực dân Pháp

Hai là, làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ nhân dân Việt Nam giữ vững

đường lối độc lập tự chủ, tự lực tự cường đồng thời rất coi trọng đoàn kết quốc

tế Chủ tịch Hồ Chí Minh nói với nhân dân ta “lấy sức ta mà giải phóng cho ta”,giải thích với nhân dân ta và nhân dân thế giới: Việt Nam “làm bạn với tất cảmọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai” (trả lời một nhà báo Mỹtháng Chín 1947); “Chúng tôi bao giờ cũng trông cậy vào chúng tôi và vào cáicảm tình tích cực của các người dân chủ thế giới, trước hết của các người dânchủ Pháp” (trả lời một nhà báo Mỹ tháng Năm 1948)

Nhân dân ta coi sự ủng hộ và đoàn kết quốc tế là sự đóng góp to lớn vàocuộc kháng chiến của nhân dân ta và coi thắng lợi của Việt nam là một sự đónggóp tích cực vào thắng lợi chung của nhân dân thế giới

Ba là, khẳng định cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực

dân Pháp xâm lược để bảo vệ nền độc lập, tự do và giành lại hòa bình là một bộphận của cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dântộc, dân chủ và tiến bộ xã hội Thực dân Pháp gây chiến tranh xâm lược khôngchỉ Việt Nam mà cả Lào và Campuchia, xâm phạm lợi ích của nhân dân tiến bộPháp, của nhân dân các thuộc địa Pháp và nhân dân yêu chuộng hòa bình, công

lý trên toàn thế giới Vì vậy, nhân dân Việt Nam chung sức với nhân dân Lào vànhân dân Campuchia trong kháng chiến; nhân dân Việt Nam và nhân dân Pháp,nhân dân các nước thuộc địa Pháp và nhân dân thế giới ủng hộ lẫn nhau và đoànkết với nhau

Những năm đầu kháng chiến, nước ta bị bao vây, cô lập với thế giới bênngoài Công tác đối ngoại đã khắc phục khó khăn, vận động lập được cơ quanđại diện tại Băng Cốc (Thái Lan) và Rănggun (Mianma) vào tháng Tư 1947 vàtháng Hai 1948 Một số phái viên được cử đi một số nước châu Á, châu Âu và

11 phòng thông tin của Việt Nam được đặt ở 1 số nước châu Á và phương Tâytrong những năm 1947 – 19493 Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh cử một số cán

bộ đi vận động quốc tế ở một số nước như Liên Xô, các nước dân chủ nhân dân

ở Đông Âu, Trung Quốc (căn cứ Diên An) Tháng Hai 1948 Chủ tịch Hồ Chí

3 Các phòng thông tin được đặt ở Băng Cốc, Rănggun, Xingapo, Hồng Kông, Tân Đảo, Niu Đêli, Pari, Luân Đôn, Praha, Niu Yoóc

Trang 8

Minh gửi thư giao nhiệm vụ cho đoàn 10 cán bộ đi Thái Lan, Mianma (năm1948) và Trung Quốc (năm 1950) vận động nhân dân, lập quan hệ với một số tổchức quần chúng quốc tế và tổ chức quần chúng một số nước.

Đại biểu của nhân dân ta đã dự một số hội nghị quốc tế: Hội nghị liên Á

ở Niu Đêli, Ấn Độ tháng Ba 1947, Hội nghị Thanh niên dân chủ thế giới ởPraha, Tiệp Khắc tháng Hai 1948, Hội nghị nhân dân thế giới đấu tranh cho hòabình ở Pari, Pháp tháng Tư 1949, Hội nghị Liên hiệp công đoàn thế giới ởMilano, Italia tháng Sáu 1949…

Trong thời gian này, Ban Chấp hành Trung ương Đảng phân công đồngchí Hoàng Quốc Việt (Ủy viên thường vụ Trung Ương phụ trách công tác dânvận và mặt trận) và đồng chí Xuân Thủy (phụ trách ban mặt trận) chỉ đạo hoạtđộng đối ngoại nhân dân

Đầu năm 1950, nước ta giành thắng lợi lớn về chính trị, ngoại giao:hưởng ứng Tuyên bố ngày 14 tháng Giêng 1950 của Chính phủ ta, Trung Quốc,Liên Xô, các nước dân chủ nhân dân Đông Âu, Mông Cổ và Cộng hòa Dân chủNhân dân Triều Tiên lần lượt công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với nướcViệt Nam Dân chủ Cộng hòa Công tác đối ngoại nhân dân đã góp phần vàothắng lợi đó và có thêm điều kiện để phát triển sâu rộng Các hội nghị với cácnước xã hội chủ nghĩa bắt đầu được thành lập Một số cán bộ được cử đi côngtác ở bộ phận thường trực của các tổ chức dân chủ quốc tế (thanh niên, sinhviên, công đoàn…) Nhiều đoàn đại biểu nhân dân đi thăm các nước bạn vàtham dự các hội nghị quốc tế

Trong tình hình phong trào hòa bình thế giới phát triển mạnh mẽ, Đảng

và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương cử đoàn đại biểu Việt Nam dự Đại hộithành lập thế giới và thành lập Ủy ban bảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam,gắn cuộc kháng chiến của nhân dân ta với phong trào hòa bình thế giới, tăngthêm sức mạnh cho nhân dân ta Ủy ban bảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam

đã ra mắt ngày 19 tháng Mười một 1950 trong Đại hội thành lập tại Việt Bắc4

Chiến thắng Biên giới cuối năm 1950 tạo điều kiện rất thuận lợi cho hoạtđộng đối ngoại chung của nước ta Công tác đối ngoại nhân dân nhận được sựgiúp đỡ tích cực của các tổ chức quần chúng của Liên Xô, Trung Quốc, cácnước dân chủ nhân dân và các tổ chức dân chủ quốc tế

Chủ tịch Hồ Chí Minh không những thường xuyên chỉ đạo mà còn đíchthân làm công tác đối ngoại nhân dân, vận động quốc tế Người đã có những lờikêu gọi nhân dân Pháp và các nước, gửi thư tới tổng thống Pháp, Mỹ và chínhphủ các nước trên thế giới, những cuộc trả lời phỏng vấn báo chí… nhằm làm

rõ chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, cô lập cao độ thực dân phản động Pháp

và bọn can thiệp Mỹ, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ ở mức cao nhất có thể đượccủa nhân dân các nước, đặc biệt là nhân dân Pháp Người kêu gọi, động viên và

4 Tháng Năm 1988, Ủy ban bảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam đổi tên là Ủy ban hòa bình Việt Nam

Trang 9

cảm ơn nhân dân Pháp đấu tranh cho hòa bình ở Việt Nam, phản đối âm mưu vàhành động chiến tranh của Chính phủ Pháp ở Đông Dương để cứu lấy tínhmạng của thanh niên hai nước và tình thân thiện giữa hai dân tộc Việt – Pháp(Thư gửi nhân dân Pháp ngày 25 tháng Năm 1947) Người cũng chú ý tranh thủnhững người tiến bộ Mỹ và nhân dân Mỹ.

Hoạt động đối ngoại nhân dân đã đóng góp tích cực vào những thắng lợi

to lớn về đối ngoại phối hợp và phục vụ cho mặt trận quân sự và mặt trận chínhtrị (ba mặt trận đấu tranh bảo đảm kháng chiến thành công Cùng với ba mặttrận đoàn kết toàn dân trong nước, đã hình thành mặt trận đoàn kết nhân dânViệt – Lào – Campuchia đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược và mặt trậnnhân dân thế giới ủng hộ và đoàn kết với nhân dân Việt Nam (ba tầng mặt trận)

Tiếp theo những hành động giúp đỡ lẫn nhau và phối hợp trong xây dựnglực lượng và chiến đấu của nhân dân ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia, Hộinghị nhân dân ba nước ngày 11 tháng Ba 1951 ở Việt Bắc đã chính thức thànhlập một mặt trận đoàn kết, liên minh Việt – Lào – Campuchia trên cơ sở tựnguyện, bình đẳng, tương trợ và hợp tác, tôn trọng quyền tự quyết, chủ quyền

và lợi ích chính đáng của nhau

Phong trào đấu tranh của nhân dân Pháp đòi Chính phủ Pháp chấm dứt

“cuộc chiến tranh bẩn thỉu” đã nổi ra rất sớm, phát triển nhanh và mạnh, thúcđẩy sự hình thành trên thực tế mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết với nhân dânViệt Nam Nội dung và hình thức đấu tranh rất phong phú: biểu tình đòi Chínhphủ Pháp chấm dứt chiến tranh, đình công không sản xuất, bốc dỡ vũ khí vàphương tiện chiến tranh đưa sang Đông Dương, vứt vũ khí xuống biển… Sauchuyển thăm Việt Bắc của đồng chí Lêo Phighe, Ủy viên Trung ương Đảngcộng sản Pháp, phong trào phản chiến ở Pháp phát triển ngày càng sâu rộng.Trong thời gian Hội nghị Giơnevơ giữa năm 1954 nhân dân Pháp đấu tranh đòichính phủ Pháp phải đàm phán thật sự và sớm ký hiệp định đình chiến ở ĐôngDương

Trong mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ và đoàn kết với Việt Nam, nhândân các nước xã hội chủ nghĩa, nhất là Liên Xô và Trung Quốc, là lực lượngnòng cốt Bên cạnh sự ủng hộ mạnh mẽ về tinh thần và chính trị, nhân dân cácnước này đã dành cho nhân dân Việt Nam sựu giúp đỡ to lớn và quý báu về vậtchất

Nhân dân các nước đang đấu tranh giải phóng dân tộc, nhất là các nướcthuộc địa của Pháp, các nước mới giành được độc lập dân tộc, các lực lượnghòa bình, dân chủ trên thế giới, kể cả một bộ phần nhân dân Mỹ, đã đồng tình,ủng hộ nhân dân ta kháng chiến Mặt khác, phong trào giải phóng dân tộc rộnglớn của nhân dân các nước châu Á, Phi, Mỹ La tinh chống chủ nghĩa thực dân

cũ và chủ nghĩa thực dân mới trong thời gian nhân dân ta kháng chiến là nguồn

cổ vũ và sự hỗ trợ quốc tế to lớn đối với nhân dân ta

Trang 10

Nhiều cuộc biểu tình, mít tinh và hội nghị quốc tế của các lực lượng và tổchức hòa bình, dân chủ đã thực sự là những cuộc biểu dương lực lượng ủng hộnhân dân ta Các đại hội hòa bình thế giới đều có nghị quyết ủng hộ Việt Nam.Đại hội Công đoàn thế giới lần thứ ba vào tháng Mười 1953 ở Viên quyết địnhlấy ngày 19 tháng Mười hai 1953 làm “Ngày đoàn kết với nhân dân Việt Namanh dũng và đấu tranh đòi chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam”5

Trong khi tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ quốc tế, Đảng, Chính phủ vàChủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên lãnh đạo các hoạt động của nhân dân tatham gia cuộc đấu tranh chung của thế giới và các tổ chức dân chủ quốc tế, bày

tỏ sự ủng hộ và đoàn kết của nhân dân ta đối với các cuộc đấu tranh giải phóngdân tộc (như ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân Inđônêxia chống thực dân HàLan, cuộc chiến đấu của nhân dân Triều Tiên chống Mỹ, phong trào đấu tranhgiải phóng của nhân dân các nước thuộc địa Pháp, cuộc đấu tranh chống Mỹcủa nhân dân Goatêmala…)

Tóm lại, hoạt động đối ngoại nhân dân đã góp phần phát huy tính chínhnghĩa, tinh thần anh dũng và các bước thắng lợi của cuộc kháng chiến của nhândân ta, vận động được phong trào nhân dân thế giới, trước hết là nhân dân Pháp,đồng tình và ủng hộ mạnh mẽ nhân dân ta kháng chiến Thắng lợi Điện BiênPhủ tháng Năm 1954 và việc ký kết Hiệp định Giơnevơ tháng Bảy 1954 đượcnhân dân thế giới yêu chuộng hòa bình và công lý, nhân dân các nước thuộc địa

và phụ thuộc chào mừng như thắng lợi của chính mình Các phong trào giảiphóng dân tộc được thắng lợi của nhân dân Việt Nam cổ vũ, tăng thêm lòng tintrong đấu tranh, vì nhân dân Việt Nam đã chứng tỏ: một dân tộc nhỏ đã chiếnthắng một đế quốc to, mở đầu sự phá sản của hệ thống thuộc địa trên thế giới

Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

(tháng Bảy 1954 – tháng Tư 1975)

Đường lối và những kinh nghiệm hoạt động đối ngoại nhân dân và vận độngquốc tế trong kháng chiến chống Pháp đã được vận dụng và phát triển lên trình

độ cao trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

Hoạt động đối ngoại nhân dân đã góp phần tăng cường mặt trận đấu tranhngoại giao phục vụ kháng chiến thành công Hoạt động đối ngoại và vận độngquốc tế ngày càng phát triển cả về bề rộng và chiều sâu, trải qua các giai đoạn

từ đấu tranh đòi thi hành đúng Hiệp định Giơnevơ (1954 – 1956), đấu tranhchính trị và đấu tranh chính trị kết hợp với hoạt động du kích tự vệ ở miền Nam(1957 – 1960), đồng khởi và đấu tranh làm thất bại chiến lược “chiến tranh đặcbiệt” (1960 – 1964) đến đấu tranh chống “chiến lược chiến tranh cục bộ” ởmiền Nam và chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân ở miền Bắc(1965 – 1969), làm thất bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” và tiến hành

5 Liên hiệp Công đoàn thế giới lúc đó có gần 89 triệu đoàn viên ở 79 nước

Trang 11

“vừa đánh vừa đàm” (1969 – 1972) và cuối cùng giải phóng hoàn toàn miềnNam (tháng Giêng 1973 – tháng Tư 1975)

Thắng lợi có ý nghĩa lịch sử của mặt trận đấu tranh ngoại giao là sự hìnhthành trên thực tế mặt trận nhân dân thế giới rộng lớn ủng hộ nhân dân ViệtNam chống Mỹ, cứu nước Khi cuộc chiến đấu kiên cường của nhân dân tachứng tỏ sẽ đi đến thắng lợi cuối cùng, mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ nhândân Việt Nam lại càng phát triển sâu rộng và mạnh mẽ Nhìn lại lịch sử thế giớichưa có một cuộc đấu tranh của một dân tộc nào được sự ủng hộ quốc tế rộngrãi và mạnh mẽ như cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ViệtNam; chưa bao giờ số phận của một dân tộc nhỏ và số phận của nhân dân thếgiới lại gắn chặt với nhau như vậy

Nội dung, phương pháp và hình thức vận động quốc tế và đấu tranh ngoạigiao rất phong phú

Về nội dung, công tác vận động quốc tế nhằm:

- Nêu cao ngọn cờ độc lập, hòa bình và nhân đạo, làm rõ nhân dân ViệtNam kháng chiến không có mục đích nào khác là bảo vệ độc lập, tự do và thốngnhất đất nước, vì vậy Việt Nam tuy là một nước nhỏ, nghèo nàn và lạc hậunhưng quyết đánh và đánh thắng cuộc chiến tranh tàn bạo của đế quốc xâm lược

Mỹ Nhân dân Việt Nam không chống nhân dân Mỹ mà chỉ mong muốn chiếntranh sớm chấm dứt để nhân dân hai nước giảm được mất mát, đau thương vàsống hòa bình, hữu nghị với nhau

- Khẳng định nhân dân ta ở cả hai miền đều có nhiệm vụ kháng chiếnchống Mỹ, cứu nước; đề cao cuộc chiến đấu của quân và dân miền Nam

- Nêu cao thiện chí sẵn sang đàm phán để chấm dứt chiến tranh, lập lạihòa bình nhưng là hòa bình trong độc lập, tự do, chứ không phải là thứ hòa bìnhgiả dối của Mỹ

- Nêu rõ nhân dân Việt Nam kháng chiến cũng vì lợi ích chung của nhândân thế giới là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội

Nội dung vận động quốc tế nhằm nêu cao chính nghĩa chống phi chínhnghĩa, nhân nghĩa chống bạo tàn, đã góp phần động viên được lương tri củanhân loại đứng về phía nhân dân Việt Nam

Về phương pháp đấu tranh, thắng lợi ngoại giao trong kháng chiến chống

Mỹ, cứu nước bắt nguồn từ hai chủ trương lớn:

- Một là, đấu tranh ngoại giao kết hợp với đấu tranh quân sự và đấu tranhchính trị, ba mặt trận này tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn đưa đến khángchiến thành công

- Hai là, kết hợp chặt chẽ “ba binh chủng” đối ngoại: ngoại giao nhànước, đối ngoại của Đảng và đối ngoại nhân dân, kết hợp đấu tranh tại bàn đàmphán với vận động quốc tế và đấu tranh dư luận, kết hợp công tác đối ngoại củamiền Bắc và công tác đối ngoại của miền Nam

Trang 12

Về hình thức, bên cạnh việc ra bản tin, sách báo, phát thanh, phim ảnh,chú trọng vận động cá nhân, gặp mặt và hội thảo, hội nghị (ở nước ngoài và ởnước ta), dùng “người thật việc thật” (tố cáo tội ác của Mỹ - ngụy giới thiệuchiến thắng của ta…), sử dụng các diễn đàn nhân dân quốc tế và ở một số nước,quan hệ giữa các tổ chức quần chúng, hội hữu nghị, tổ chức nhân đạo, và quan

hệ kết nghĩa địa phương giữa nước ta với một số nước…

Trong bối cảnh tình hình thế giới rất phức tạp, gây ra nhiều khó khăn chonhân dân ta, đặc biệt là mâu thuẫn Xô – Trung sâu sắc và bất đồng nghiêmtrọng trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, công tác đối ngoại nhândân đã cùng với công tác đối ngoại của Đảng và ngoại giao nhà nước khắc phụckhó khăn, phát huy tự lực tự cường và đoàn kết quốc tế, tranh thủ đến mức cóthể tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ về chính trị và giúp đỡ về vật chất củanhân loại tiến bộ, góp phần kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh củathời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế, đưa công cuộc khángchiến chống Mỹ, cứu nước đến toàn thắng

Mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ nhân dân Việt Nam chống Mỹ, cứunước đã hình thành trên thực tế từng bước, bắt đầu phát triển sâu rộng khi chiếnlược chiến tranh đặc biệt của Mỹ thất bại (1963 – 1964), đã cổ vũ mạnh mẽ mặttrận đoàn kết trong nước của nhân dân Việt Nam và mặt trận đoàn kết Việt –Lào – Campuchia

Nhiều lực lượng khác nhau ở nhiều nước trên thế giới năm châu từ ngườidân bình thường đến các nhà hoạt động chính trị, nghị sĩ, trí thức, nhà báo, từcác tổ chức quần chúng, tổ chức xã hội đến các đảng phái chính trị và cả một sốchính phủ đã lên án Mỹ xâm lược và ủng hộ, đoàn kết với nhân dân Việt Namvới một tinh thần bền bỉ, lòng mong mỏi và niềm tin vào thắng lợi cuối cùngcủa nhân dân Việt Nam

Hình thức ủng hộ và đoàn kết rất phong phú: mít tinh, biểu tình, bản tin,sách báo, phát thanh, nói chuyện, hội thảo, quyên góp ủng hộ về vật chất, lập racác ủy ban đoàn kết với Việt Nam ở nhiều nước, tự thiêu để phản đối chiếntranh xâm lược của Mỹ (10 vụ); tự nguyện làm công tác thông tin, vận độngủng hộ Việt Nam; gửi thư tình nguyện đến Việt Nam để chiến đấu chống Mỹ

(6 Nhân dân ta bày tỏ lòng cảm ơn và khẳng định tự mình chiến đấu, đổ máu

để giành độc lập và thống nhất, không muốn cuộc chiến tranh lan rộng.)

Mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ nhân dân ta bao gồm trước hết mặttrận đoàn kết Việt – Lào – Campuchia Cùng với sự đoàn kết chiến đấu, quan hệhữu nghị, đoàn kết và hợp tác giữa nhân dân ba nước phát triển, đánh dấu bằngHội nghị nhân dân Đông Dương ở Phnôm Pênh tháng Ba 1965 và Hội nghị cấpcao của nhân dân ba nước Đông Dương cuối tháng Tư 1970

Mặt trận bao gồm lực lượng nòng cốt là nhân dân Liên Xô, nhân dânTrung Quốc và nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa khác Nhân dân các nước

Trang 13

này bày tỏ tinh thần đoàn kết và dành sự ủng hộ về tinh thần và chính trị, sựgiúp đỡ về vật chất to lớn của từng nước cho nhân dân ta.

Sự ủng hộ, đoàn kết và giúp đỡ quý báu đó không chỉ làm tăng thêm sứcmạnh về tinh thần và vật chất của nhân dân ta mà còn là động lực thúc đẩy sựủng hộ, đoàn kết với nhân dân ta của các đảng cộng sản và công nhân trên thếgiới, của các lực lượng đấu tranh vì độc lập dân tộc và nhân dân các nước Á,Phi, Mỹ La tinh, các lực lượng hòa bình, dân chủ, tiến bộ và nhân dân ở cácnước tư bản chủ nghĩa ở Tây Âu, Bắc Âu, Bắc Mỹ, châu Á – Thái Bình Dương

Hòa đồng hòa bình thế giới, Tổ chức đoàn kết nhân dân Á – Phi, các tổchức dân chủ quốc tế (công đoàn, phụ nữ, thanh niên, sinh viên, nàh báo, luậtgia…) đã tổ chức nhiều hoạt động rộng lớn lên án đế quốc Mỹ xâm lược, bày tỏđoàn kết với nhân dân Việt Nam Các hội nghị của các tổ chức này đều có nghịquyết ủng hộ Việt Nam Đáng kể có các Đại hội hòa bình thế giới kể từ Đại hộiHenxinki tháng Bảy 1965; các Đại hội đoàn kết nhân dân Á – Phi tháng Sáu1966; cuộc gặp gỡ của thanh niên và sinh viên tháng Tám 1969 ở Henxinki “vìthắng lợi cuối cùng của nhân dân Việt Nam”

Bầu bạn quốc tế đã đến Việt Nam để trực tiếp bày tỏ sự ủng hộ và đoànkết với nhân dân ta Ủy ban công đoàn quốc tế đoàn kết với lao động và nhândân Việt Nam họp ở Hà Nội tháng Mười 1963 Hội nghị đoàn kết quốc tế vớiViệt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược và bảo vệ hòa bình vào cuối tháng Mườimột 1964 ở Hà Nội đã quyết định lấy ngày 20 tháng Mười hai – ngày thành lậpMặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam – làm ngày đoàn kết của nhândân thế giới ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam (7 Hội nghị có sựtham dự của 64 đại biểu từ 52 nước và 12 tổ chức quốc tế) Nhiều người bạn đãđến Việt Nam trực tiếp giúp đỡ về y tế, chăm sóc người bị thương, đem viện trợnhân đạo đến nhân dân ta

Cùng với sự ủng hộ, đoàn kết với nhân dân Việt Nam, ở nhiều nước đãdiễn ra các hoạt động lên án tội ác của Mỹ Đặc biệt là tòa án quốc tế BéctơranRútsen (Bertrand Russell) thành lập tháng Mười một 1966 đã tổ chức hai phiên

xử tháng Năm 1967 ở Xtốckhôm và tháng Mười một 1967 ở Côpenhaghen, kếttội Mỹ đã phạm tội ác chiến tranh, tội ác xâm lược và tội ác diệt chủng

Trong phong trào nhân dân thế giới ủng hộ, đoàn kết với Việt Nam,phong trào nhân dân Mỹ đòi Chính phủ Mỹ chấm dứt chiến tranh và tội ác ởViệt Nam có một vị trí rất quan trọng Phong trào nhen nhóm vào cuối chiếntranh đặc biệt ở miền Nam Việt Nam cuối năm 1963, khi sự thất bại của Mỹ đã

lộ rõ và Mỹ phải chuẩn bị cho bước leo thang chiến tranh – chiến tranh cục bộ ởmiền Nam và chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miềnBắc Việt Nam Phong trào phát triển với quy mô ngày càng rộng lớn và kéo dàitrong nhiều năm

Trang 14

Có tài liệu viết về chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam đã nhậnđịnh: quan tài binh sĩ Mỹ đưa về nước Mỹ và người thất nghiệp ở Mỹ ngàycàng nhiều (ngược lại với chính sách “vừa súng vừa bơ”) thì người Mỹ xuốngđường biểu tình ngày càng đông; tội ác của Mỹ ngày càng chồng chất thì tấmlòng của nhân dân Mỹ càng xích gần nhân dân Việt Nam.

Phong trào phản chiến của nhân dân Mỹ làm rung động nước Mỹ, thực sự

là một phong trào nhân dân chưa từng có trong lịch sử nước Mỹ Báo chí Mỹgọi đó là “cuộc chiến tranh ở trong nước Mỹ” Phong trào bao gồm nhiều tầnglớp thanh niên, sinh viên, phụ nữ, công nhân, trí thức, nhà báo, chức sắc tôngiáo… Phong trào phản chiến kết hợp với các phong trào người da đen, phongtrào phụ nữ, phong trào sinh viên

Các hình thức đấu tranh rất phong phú: phổ biến là hội thảo về tội ácchiến tranh, đòi rút quân Mỹ về nước và biểu tình, tuần hành đòi chấm dứtchiến tranh ở Việt Nam Trong một số trường hợp đã nổ ra bạo động để phảnđối chiến tranh Có hình thức độc đáo như đốt thẻ quân dịch, trốn quân dịch, bỏ

ra nước ngoài để không phải đi lính, đòi bãi bỏ chế độ quân dịch và đặc biệt là

đã xảy ra 8 vụ tự thiêu

Phong trào nhân dân thế giới ủng hộ, đoàn kết với nhân dân Việt Namchống Mỹ, cứu nước là một phong trào quốc tế rộng lớn và mạnh mẽ hiếm cótrong lịch sử thế giới Từ phong trào này “một thế hệ Việt Nam” đã ra đời ởnhiều nước; ngày nay không ít người trong “thế hệ Việt Nam” giữ cương vị lãnhđạo ở chính phủ, cơ quan chính quyền, tổ chức chính trị, xã hội, viện nghiêncứu khoa học… và vẫn giữ thiện cảm với nhân dân Việt Nam

Đáp lại sự ủng hộ chí tình của nhân dân thế giới, nhân dân Việt Namkhông quên làm nghĩa vụ quốc tế trong khi kháng chiến Bản thân cuộc chiếnđấu của nhân dân ta đã là sự đóng góp thiết thực và tích cực vào cuộc đấu tranhchung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xãhội Sự hình thành trên thực tế mặt trận nhân dân thế giới chống đế quốc Mỹ vàủng hộ nhân dân Việt Nam – chính là bước phát triển mới của cuộc đấu tranhchung của nhân dân thế giới Ở nhiều nước, phong trào đoàn kết với Việt Nam

đã thực sự là một sự tập hợp lực lượng đấu tranh cho độc lập dân tộc, dân chủ

và tiến bộ xã hội

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định: “Dân tộc Việt Nam ta đang tiếnhành cuộc kháng chiến vĩ đại nhất trong lịch sử của mình Vì độc lập, tự do của

Tổ quốc, vì lợi ích của phe xã hội chủ nghĩa, của các dân tộc bị áp bức và của

cả loài người tiến bộ” (8 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CHính trị quốc gia, HàNội, 2000, t.12, tr.373) (Lời kêu gọi nhân ngày 20 tháng Bảy 1968) Người căndặn: “Phải nêu cao tinh thần quốc tế vô sản, giữ gìn và phát triển tình hữu nghịvới các nước xã hội chủ nghĩa anh em; hết lòng ủng hộ phong trào giải phóngcủa các dân tộc; đoàn kết với giai cấp công nhân và nhân dân toàn thế giới trong

Trang 15

cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc do Mỹ cầm đầu, đấu tranh cho hòabình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội” (9 Như trên, t.11, tr.234)

(Báo cáo tại Hội nghị chính trị đặc biệt, Hà Nội ngày 27 tháng Ba 1964)

Thực hiện đường lối của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đại biểu Mặttrận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, tổ chức chính trị - xã hội, văn hóa… củanước ta đã đóng góp tích cực vào hoạt động của thế giới, Tổ chức đoàn kếtnhân dân Á – Phi và các tổ chức dân chủ quốc tế Công tác đối ngoại nhân dân

đã cùng với công tác đối ngoại của Đảng góp phần gìn giữ và phát triển tìnhhữu nghị với các nước xã hội chủ nghĩa, từng bước khôi phục quan hệ bìnhthường giữa Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa, từng bướckhắc phục cuộc khủng hoảng của phong trào giải phóng dân tộc (đặc biệt là củanhân dân Cuba, Palextin, Angiêri …)

Thắng lợi của hoạt động đối ngoại nhân dân trong kháng chiến chống

Mỹ, cứu nước không tách rời sự lãnh đạo chặt chẽ của Đảng Cùng với việc đề

ra phương hướng, nhiệm vụ công tác đối ngoại nhân dân, Đảng và Chủ tịch HồChí Minh rất chú trọng mặt tổ chức Có thời gian Ban hoạt động quốc tế hoặcBan công tác quốc tế được lập ra để giúp Ban Bí thư chỉ đạo công tác đối ngoạichung Có thời gian để chỉ đạo riêng công tác ngoại giao nhân dân, Ban Bí thưthành lập Ban công tác quốc tế nhân dân (từ tháng hai 1963 đến tháng Tư 1968)

và Ban Quốc tế nhân dân (từ tháng Tám 1974 đến 1976)

Trong kháng chiến chống Mỹ, Ủy ban đoàn kết châu Á của Việt Namđược thành lập tháng Mười 1956 (đầu năm 1958 đổi thành Ủy ban đoàn kếtnhân dân Á – Phi và tháng Tám 1984 đổi thành Ủy ban đoàn kết, hợp tác Á –Phi – Mỹ La tinh) Để giúp chỉ đạo trực tiếp Ủy ban bảo vệ hòa bình thế giới,

Ủy ban đoàn kết nhân dân Á – Phi, Hội Quốc tế ngữ bảo vệ hòa bình, các hộinghị và ủy ban đoàn kết song phương, tháng Tư 1968 Ban Bí thư thành lậpĐảng đoàn các tổ chức đoàn kết, hữu nghị Đây là bước chuẩn bị cho việc hìnhthành một tổ chức chính trị - xã hội chuyên trách công tác đối ngoại nhân dântrên các lĩnh vực hòa bình, đoàn kết, hữu nghị và vận động viện trợ nhân dân

Thời kỳ từ sau khi thống nhất đất nước,

xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cả đất nước đến nay.

Trang 16

cô lập nước ta về chính trị sau khi chúng ta giúp nhân dân Campuchia thoátkhỏi chế độ diệt chủng Pôn Pốt.

Công tác đối ngoại nhân dân đã góp phần thực hiện nhiệm vụ đối ngoại

do Đại hội lần thứ IV của Đảng tháng Mười hai 1976 và Đại hội lần thứ V tháng

Ba 1982 đề ra: tranh thủ những điều kiện quốc tế thuận lợi để khắc phục hậuquả chiến tranh và tình trạng trì trệ khủng hoảng về kinh tế - xã hội, củng cốquốc phòng, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòabình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội

Trong mấy năm đầu sau khi thống nhất đất nước, việc duy trì và pháttriển quan hệ với bạn bè ở các nước độc lập dân tộc và các nước phương Tây đãủng hộ nhân dân ta trong kháng chiến chống Mỹ chưa được quan tâm đúngmức Công tác đối ngoại nhân dân đã góp phần khắc phục thiếu sót đó, từngbước mở rộng quan hệ với nhân dân Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa Đông

Âu và một số nước độc lập dân tộc, với thế giới, Tổ chức đoàn kết nhân dân Á– Phi và các tổ chức dân chủ quốc tế

Để thống nhất và tăng cường các tổ chức chuyên trách hoạt động hòabình, đoàn kết, hữu nghị, Ban Bí thư đã quyết định thành lập Ủy ban Việt Namđoàn kết, hữu nghị với nhân dân các nước ngày 29 tháng Giêng 1977 (10.Tháng Năm 1989 đổi tên là Liên hiệp các tổ chức hòa bình, đoàn kết, hữu nghịViệt Nam)

Từ khi đường lối mới được triển khai thực hiện đến nay

Sau Đại hội lần thứ VI của Đảng tháng Mười hai 1986, hoạt động đối ngoại bắtđầu chuyển theo hướng rộng mở Công tác đối ngoại nhân dân đã góp phần tíchcực vào việc bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc (bình thường hóa chínhthức từ tháng Mười một 1991), tăng cường mối quan hệ đoàn kết đặc biệt vớinhân dân Lào, giữ vững quan hệ hữu nghị với nhân dân Campuchia, duy trìquan hệ với nhân dân Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu trong khicác nước này lâm vào khủng hoảng, mở rộng một bước quan hệ với nhân dânmột số nước Á, Phi, Bắc Âu, Tây Âu, Nhật Bản và Mỹ Công tác đối ngoạinhân dân cũng đã góp phần duy trì hoạt động của các tổ chức dân chủ quốc tế

Sau Đại hội lần thứ VII của Đảng tháng Sáu 1991, công tác đối ngoạinhân dân đã nhận được sự chỉ đạo chặt chẽ: Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hànhTrung ương tháng Sáu 1992 nêu rõ nhiệm vụ công tác đối ngoại nhân dân vàBan Bí thư ra chỉ thị về đổi mới và mở rộng công tác đối ngoại nhân dân (Chỉthị số 44/CT – TW ngày 20 tháng Chín 1994)

Hoạt động đối ngoại của các đoàn thể nhân dân, tổ chức chính trị - xã hội đượcđẩy mạnh Riêng về các tổ chức chuyên trách trong hoạt động đối ngoại nhândân, đầu năm 1992 Liên hiệp các tổ chức hòa bình, đoàn kết, hữu nghị ViệtNam được tách ra khỏi Ban Đối ngoại Trung ương thành một tổ chức chính trị -

Trang 17

xã hội độc lập do Ban Bí thư chỉ đạo và Chính phủ quản lý (Quyết định số22/QĐ – TW ngày 10 tháng Giêng 1992) (11 Đầu tháng Chín 1994, Liên hiệpcác tổ chức hòa bình, đoàn kết, hữu nghị Việt Nam được đổi tên thành Liên hiệpcác tổ chức hữu nghị Việt Nam).

Theo Chỉ thị số 27/CT-TW ngày 27 tháng Bảy 1993 của Ban Bí thư, Liênhiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam có nhiệm vụ:

- Góp phần tích cực mở rộng quan hệ đoàn kết, hợp tác và hữu nghị, sựgiao lưu kinh tế, văn hóa và khoa học – kyc thuật giữa nhân dân ta với các nướctrên thế giới Tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của nhân dân thế giới đốivới sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước của nhân dân ta

- Bày tỏ sự đoàn kết, ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân cácnước, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòabình, độc lập dân tộc, dân chủ, tiến bộ xã hội và giải quyết những vấn đề có tínhchất toàn cầu như bảo vệ môi trường, phòng chống một số căn bệnh nguy hiểm

Tiếp tục góp phần duy trì và đổi mới các tổ chức dân chủ quốc tế đấutranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, tiến bộ xã hội phù hợp với tình hìnhmới của thế giới và điều kiện thực tế của ta

- Làm đầu mối vận động, điều phối viện trợ của các tổ chức hòa bình,đoàn kết, hữu nghị, các tổ chức nhân đạo, từ thiện, các tổ chức phi chính phủ và

cá nhân ở các nước trên thế giới nhằm góp phần vào công cuộc phát triển kinh

tế - xã hội của đất nước

Từ sau Đại hội lần thứ VII của Đảng, công tác đối ngoại đã có bước pháttriển mạnh, góp phần tích cực gìn giữ hòa bình, phá thế bị bao vây, cấm vận, cảithiện và nâng cao vị thế của nước ta trên thế giới, tạo môi trường thuận lợi chocông cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, đóng góp tích cực vào sự nghiệp chungcủa nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.Công tác đối ngoại nhân dân được đổi mới và mở rộng một bước, góp phầnkhôi phục và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác nhiều mặt với Trung Quốc;tăng cường quan hệ hữu nghị, đoàn kết đặc biệt với Lào và xây dựng quan hệtốt với Campuchia; phát triển quan hệ với các nước trong khu vực, trở thànhthành viên đầy đủ của tổ chức ASEAN; củng cố quan hệ truyền thống với nhiềunước, từng bước đổi mới quan hệ hữu nghị với Liên bang Nga, các nước trongCộng đồng các quốc gia độc lập và các nước Đông Âu; mở rộng quan hệ vớicác nước công nghiệp phát triển, bình thường hóa quan hệ với Mỹ; thiết lập và

mở rộng quan hệ với nhiều nước Nam Á, Nam Thái Bình Dương, Trung Đông,châu Phi và Mỹ La tinh; mở rộng quan hệ với Phong trào không liên kết, các tổchức quốc tế và khu vực

Từ sau Đại hội lần thứ VIII tháng Sáu 1996 và Đại hội lần thứ IX tháng

Tư 2001 của Đảng, hoạt động đối ngoại của nước ta mở rộng thêm và đạt đượcnhững thành tựu quan trọng, góp phần nâng cao vị thế quốc tế của nước ta

Trang 18

Công tác đối ngoại nhân dân có bước phát triển mạnh hơn trước, được đổi mớimột cách tích cực về nội dung, phương thức hoạt động và về tổ chức.

Đại hội lần thứ IX của Đảng đã đánh giá, các đoàn rtheer nhân dân, các

tổ chức chính trị xã hội, tổ chức bảo vệ hòa bình thế giới và các hội hữu nghị đã

mở rộng hoạt động đối ngoại cả về phương thức, quy mô và địa bàn, góp phầntích cực vào thắng lợi ngoại giao của nước ta

Trong quá trình hoạt động, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Namcũng đã phát triển khá nhanh: giữa năm 1993 có 37 tổ chức thành viên ở trungương và có 20 tổ chức liên hiệp các tổ chức hữu nghị ở tỉnh, thành phố; đầunăm 2001 đã có gần 50 tổ chức thành viên ở trung ương và 20 tổ chức liên hiệp

Quan hệ với bạn bè cũ đã ủng hộ nhân dân ta trong hai cuộc kháng chiếnđược duy trì và tăng cường Quan hệ với bạn bè mới được xây dựng và mởrộng Hoạt động đối ngoại nhân dân đã hướng tập trung vào các nước lánggiềng và ở khu vực Đông Nam Á (đặc biệt là Lào, Campuchia, Trung Quốc vàcác nước ASEAN), các nước có quan hệ truyền thống (như Cuba, Ấn Độ, Cộnghòa Dân chủ nhân dân Triều Tiên…), các nước đang phát triển ở Á, Phi và Mỹ

La tinh Quan hệ với nhân dân Nhật Bản, Mỹ và nước tư bản chủ nghĩa pháttriển ở Bắc Âu, Tây Âu, Nam Thái Bình Dương được mở rộng thêm Quan hệhữu nghị nhân dân với Liên bang Nga và các nước thuộc Liên Xô cũ và Đông

Âu được khôi phục

- Hai là, qua những hoạt động vì hòa bình, hữu nghị, đoàn kết và hợp tác,nhân dân ta đã bày tỏ sự đoàn kết, ủng hộ đối với cuộc đấu tranh của nhân dâncác nước vì hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội, đặc biệt là nhân dânCuba, Palextin, Irắc, Libi, Triều Tiên, Nam Tư, tham gia giải quyết những vấn

đề có tính toàn cầu như loại trừ vũ khí hạt nhân, xóa đói giảm nghèo, bảo vệmôi trường… Công tác đối ngoại nhân dân cũng đã góp phần tích cực duy trì vàđổi mới hoạt động của các tổ chức quốc tế mà nước ta là thành viên, nhất là thếgiới, Tổ chức đoàn kết nhân dân Á – Phi, các tổ chức dân chủ quốc tế (12 Việt

Trang 19

Nam đã đăng cai tổ chức một số hội nghị của thế giới, Tổ chức đoàn kết nhândân Á – Phi, Hội quốc tế ngữ châu Á…)

- Ba là, công tác đối ngoại nhân dân đã vận động tranh thủ sự giúp đỡ củanhân dân các nước trên thế giới về vốn, chuyển giao công nghệ, kinh nghiệmquản lý kinh tế, xã hội, đào tạo cán bộ Nhân dân ta nhận được sự giúp đỡ củanhân dân nhiều nước, chủ yếu qua các tổ chức phi chính phủ nước ngoài và mộtphần qua các tổ chức hòa bình, đoàn kết, hữu nghị của một số nước Số tổ chứcphi chính phủ nước ngoài hoạt động ở nước ta tăng từ 125 nước năm 1991 lên

485 tổ chức vào đầu năm 2002 Giá trị viện trợ phi chính phủ tăng từ 25 triệuđôla Mỹ năm 1990 lên 80 triệu hàng năm từ 1996 đến 2001

Viện trợ phi chính phủ có giá trị về tiền không lớn nhưng có ý nghĩa vàhiệu quả không nhỏ đối với việc phát triển ở nhiều cộng đồng địa phương (nhất

là nông thôn) trên các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, thủy lợi nhỏ, ngành thủcông, thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo, phát triển nguồn nhân lực,tạo công ăn việc làm, giải quyết một số vấn đề xã hội, y tế, giáo dục, văn hóa…

và khắc phục hậu quả thiên tai

Việc quản lý hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài cónhiều vấn đề phức tạp: một phần ba số tổ chức có tính chất tôn giáo và một số

có ý đồ xấu về chính trị; do đó, có nơi có lúc có thiếu sót, sơ hở ảnh hưởng đếnkết quả sử dụng viện trợ chưa đảm bảo chặt chẽ về mặt an ninh

MỘT SỐ KINH NGHIỆM VỀ HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI

Công tác đối ngoại nhân dân có thể và cần đi trước một bước hoặc đi đầu trongviệc vận động quốc tế, góp phần thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ đối ngoại củaĐảng và Nhà nước, nhất là khi đất nước ở trong tình thế khó khăn, bị các thếlực thù địch bao vây, cô lập; có thể mở đường cho quan hệ đối ngoại của Đảng

và quan hệ ngoại giao nhà nước

Công tác đối ngoại nhân dân có tiếng nói và hành động mà công tác đốingoại của Đảng và nhất là ngoại giao nhà nước không làm hoặc nếu làm thìkhông thuận lợi hoặc không có hiệu quả cao, như bày tỏ sự đồng tình và ủng hộđối với cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân một số nước, phản đối và lên

án hành động của các thế lực bên ngoài can thiệp vào công việc nội bộ của nước

ta hoặc nước khác

Trang 20

Lợi thế của công tác đối ngoại nhân dân còn ở chỗ có sức mạnh nhân dânlàm hậu thuẫn, có thể sử dụng cả lỹ lẽ và tình cảm để thuyết phục, tranh thủ sựủng hộ quốc tế; vận động dư luận nhân dân ta và nhân dân các nước lên tiếngphản đối âm mưu hành động thù địch của các thế lực thù địch bên ngoài.

Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước của nhân dân ta trước đây cũngnhư trong thời kỳ đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa hiện nay phù hợp với xu thế phát triển của thời đại.Chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ độnghội nhập kinh tế quốc tế và khu vực phù hợp với quá trình toàn cầu hóa, khuvực hóa, với xu thế hòa bình, hợp tác để phát triển Trong công cuộc đổi mớinhân dân ta đã đạt được những thành tựu rất quan trọng Đó là những thuận lợirất cơ bản để đẩy mạnh công tác đối ngoại nhân dân, phục vụ tích cực sự nghiệpxây dựng và bảo vệ đất nước, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dântộc, dân chủ và tiến bộ xã hội của nhân dân thế giới

2 Hoạt động đối ngoại nhân dân phải nắm vững đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hữu nghị và hợp tác với các nước, thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ

Công tác đối ngoại nhân dân phải góp phần tích cực bảo đảm lợi ích dân tộcchân chính, giữ vững độc lập tự chủ, tự lực, tự cường, phát huy sức mạnh bêntrong để xây dựng và bảo vệ đất nước Không ỷ lại vào bên ngoài mà dựa vàosức mạnh của nhân dân và đất nước mình thì công tác đối ngoại nhân dân mớitranh thủ sự đồng tình và ủng hộ quốc tế rộng rãi, góp phần tăng thêm sức mạnhcủa đất nước

Đa dạng hóa quan hệ nhân dân về nội dung là hoạt động vì hòa bình,đoàn kết, hữu nghị và hợp tác phải thông qua và bao gồm nhiều mặt: ủng hộ lẫnnhau về chính trị, giao lưu văn hóa nghệ thuật, thể thao, du lịch hữu nghị, giúp

đỡ lẫn nhau về vật chất (viện trợ nhân dân), trao đổi khoa học – công nghệ, giúp

đỡ nhau về kinh nghiệm quản lý kinh tế, quản lý xã hội, đào tạo cán bộ…

Về phương thức hoạt động, cần đa dạng hóa, sử dụng từ các hình thứcrộng rãi như mít tinh, họp mặt, liên hoan hữu nghị, văn nghệ, thi đấu thể thao…đến các hình thức đi vào chiều sâu như hội thảo, hội nghị, tiếp xúc cá nhân…

Đa dạng hóa đối tượng quan hệ là tranh thủ các tổ chức, cá nhân có thểtranh thủ được thuộc các xu hướng chính trị, tầng lớp xã hội khác nhau; từ tổchức chính trị đến tổ chức khoa học, văn hóa, xã hội, nghề nghiệp; từ người dânbình thường đến các nhà hoạt động chính trị; duy trì, thắt chặt quan hệ với bạn

bè cũ và chủ động xây dựng quan hệ với các đối tác mới, bạn bè mới Trong khi

đa dạng hóa đối tượng quan hệ, cần đặc biệt chú trọng thế hệ trẻ

Trang 21

Cần đa phương hóa quân hệ đối ngoại nhân dân theo mục tiêu, nhiệm vụđối ngoại của Đảng và Nhà nước từng thời kỳ, tập trung hoạt động vào các địabàn trọng điểm, đồng thời mở rộng hoạt động ở các địa bàn khác.

Để góp phần tích cực thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đadạng hóa, đa phương hóa quan hệ, các tổ chức tham gia công tác đối ngoại nhândân phải làm tốt công tác nghiên cứu, trao đổi thông tin, kinh nghiệm

3 Hoạt động đối ngoại nhân dân phải phát huy tính chủ động, sáng tạo, năng động và linh hoạt, giữ vững nguyên tắc, thực hiện tốt các phương châm về đối ngoại.

Công tác đối ngoại nhân dân mang tính quần chúng nhân dân rộng rãi, có thểchủ động và sáng tạo, năng động và linh hoạt vận dụng sách lược trong khi mởrộng quan hệ Tuy vậy, cần phải chọn lọc, không phải thiết lập và mở rộng quan

hệ với bất cứ đối tượng nào, trên bất cứ lĩnh vực nào và với bất cứ hình thứcnào

Điều cơ bản là phải giữ vững nguyên tắc vì độc lập, thống nhất và chủnghĩa xã hội, bảo đảm các nguyên tắc quan hệ đối ngoại: tôn trọng độc lập, chủquyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau,không dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực; bình đẳng và cùng có lợi, giải quyếtbất đồng và tranh chấp bằng thương lượng hòa bình, phản đối mọi âm mưu vàhành động gây sức ép, áp đặt và cường quyền; bảo đảm góp phần phát triểnkinh tế - xã hội của nước ta, bảo vệ sản xuất, tài nguyên, môi trường và an ninhquốc gia, giữ gìn và phát huy truyền thống, bản sắc tốt đẹp của văn hóa dân tộc

Đồng thời, cần phải nghiêm chỉnh chấp hành kỷ luật của Đảng, thi hànhpháp luật của Nhà nước, tuân thủ sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhànước

Công tác đối ngoại nhân dân trong khi xử lý các mối quan hệ, phải vậndụng đúng đắn các phương châm về đối ngoại

Thực hiện phương châm kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước chânchính với tinh thần quốc tế cao cả, kết hợp nhiệm vụ dân tộc và nghĩa vụ quốc

tế, kết hợp sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế, hoạt động đối ngoạinhân dân phải cố gắng vừa tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ quốc tế vừa bày tỏ

sự ủng hộ đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân các nước, góp phầnvào sự nghiệp chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ

và tiến bộ xã hội

Thực hiện phương châm nắm vững hai mặt hợp tác và đấu tranh trongquan hệ đối ngoại, công tác đối ngoại nhân dân cần thuyết phục, giải quyết sựhiểu lầm và bất đồng của các đối tác để tăng cường hữu nghị và hợp tác; phải cócách đấu tranh thích hợp với các đối tác lợi dụng các vấn đề gọi là nhân quyền,dân chủ, tôn giáo, dân tộc để thực hiện ý đồ xấu đối với nhân dân ta, kiên quyết

Trang 22

bảo vệ lợi ích dân tộc, chủ quyền của nước ta Đồng thời, cần giữ bí mật quốcgia, góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh Khi vận động viện trợ của các tổchức phi chính phủ nước ngoài, không vì lợi ích vật chất mà quên lợi ích chínhtrị, danh dự quốc gia.

4 Hoạt động đối ngoại nhân dân cần biết vận dụng sức mạnh tổng hợp để

mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động

Công tác đối ngoại nhân dân cần gắn các nội dung hoạt động hòa bình, đoànkết, hữu nghị và vận động viện trợ phi chính phủ với nhau để nâng cao hiệu quảcủa từng hoạt động và của hoạt động chung Đồng thời, kết hợp các hoạt độngmang tính chính trị, văn hóa, xã hội và các hoạt động hỗ trợ, thúc đẩy quan hệ

về kinh tế, khoa học, kỹ thuật với nhau

Yếu tố rất quan trọng để tạo sức mạnh tổng hợp là sự phối hợp thườngxuyên và chặt chẽ hoạt động đối ngoại của các đoàn thể nhân dân, các tổ chứcchính trị - xã hội, hội nghề nghiệp với hoạt động của các tổ chức chuyên tráchcông tác đối ngoại nhân dân tập hợp trong Liên hiệp các tổ chức hữu nghị ViệtNam, dưới sự thống nhất lãnh đạo của Đảng và quản lý Nhà nước

Đồng thời, công tác đối ngoại nhân dân phải tranh thủ được sự hỗ trợ củacông tác đối ngoại của Đảng và ngoại giao nhà nước để tăng thêm sức mạnhcho mình và sức mạnh của công tác đối ngoại nói chung, góp phần thực hiện sựkết hợp chính trị đối ngoại với kinh tế đối ngoại, đối ngoại với an ninh, quốcphòng

5 Để đổi mới, mở rộng và nâng cao hiệu quả quan hệ, cần đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ đối ngoại nhân dân và phổ biến đường lối, chính sách đối ngoại cho nhân dân

Tiêu chuẩn cán bộ đối ngoại nhân dân cần đạt được để áp ứng yêu cầu ngàycàng cao của công tác đối ngoại nhân dân là lòng yêu nước và trung thành vớichủ nghĩa xã hội, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức và phẩm chất tốt, có

ý thức tổ chức kỷ luật, nắm vững tình hình, nhiệm vụ của đất nước và đườnglối, chính sách đối ngoại, có năng lực nghiệp vụ đối ngoại chung và đối ngoạinhân dân, có phong cách đúng đắn, có trình độ ngoại ngữ sử dụng được trongcông tác

Trong các hình thức bồi dưỡng và đào tạo, chú ý hình thức rút kinhnghiệm công tác, tổng kết hoạt động từng thời gian, rèn luyện trong thực tế

Quan hệ đối ngoại của nước ta mở rộng, nhân dân ta tham gia hoạt độngđối ngoại, tiếp xúc với người nước ngoài ngày càng nhiều Việc thông tin, phổbiến, giáo dục cho nhân dân hiểu biết về đường lối, chính sách và công tác đốingoại, về thái độc tiếp xúc với người nước ngoài là cần thiết để góp phần bảođảm thắng lợi của công tác đối ngoại chung và công tác đối ngoại nhân dân

Trang 23

PHẦN HAI

PHONG TRÀO HÒA BÌNH

-CHIẾN TRANH VÀ HÒA BÌNH – VẤN ĐỀ HÀNG ĐẦU

CỦA MỌI THỜI ĐẠI

Chiến tranh và hòa bình gắn với lịch sử nhân loại

Trong lịch sử xã hội loài người, chiến tranh và hòa bình kế tiếp nhau, thời gian

có chiến tranh nhiều hơn thời gian có hòa bình Hai tác giả Will và Durant trongmột công trình nghiên cứu năm 1968 ước tính trong khoảng 3421 năm trước đó,thế giới chỉ có 268 năm không có chiến tranh Nhưng trong những năm thánghòa bình ngắn ngủi đó, con người ở nơi này nơi khác vẫn phải chuẩn bị chochiến tranh (1 Có tài liệu cho biết: trong khoảng 5.164 năm (kể từ 3200 nămtrước công nguyên đến năm 1964 sau công nguyên) lịch sử nhân loại đã có14.513 cuộc chiến tranh lớn nhỏ, trung bình mỗi năm có 2,8 cuộc chiến tranh)

Trên thực tế, trong hai thế kỷ XIX và XX đã xảy ra bốn cuộc chiến tranhlớn: cuộc chiến tranh xâm chiếm các nước ở Á, Phi, Mỹ Latinh làm thuộc địacủa các nước tư bản chủ nghĩa châu Âu trong thể kỷ XIX, hai cuộc chiến tranhthế giới và cuộc chiến tranh lạnh trong thế kỷ XX Từ sau Chiến tranh thế giớithứ hai đến năm 1990 đã xảy ra 140 cuộc chiến tranh cục bộ lớn nhỏ ở khắp cácchâu

Khi chiến tranh lạnh kết thúc, vào thập kỷ cuối của thế kỷ XX, nguy cơchiến tranh thế giới bị đẩy lùi, ở nơi này nơi khác trên thế giới, mọi người đãnghĩ tới một thời kỳ nhân loại được sống trong hòa bình Nhưng bức tranh hòabình và chiến tranh trên thế giới vẫn là những mảng màu sáng, tối xem nhau.Xung đột vũ trang, chiến tranh cục bộ, tranh chấp sắc tộc, tôn giáo, lãnh thổ,khủng bố tiếp tục diễn ra Số lượng các cuộc xung đột vũ trang tăng và đã xảy

ra khoảng 45 cuộc; có các cuộc chiến tranh lớn như chiến tranh vụng Vịnh năm

1991, cuộc chiến tranh của các nước NATO, đứng đầu là Mỹ, tấn công Nam Tưnăm 1999

Sản xuất vũ khí không ngừng tăng, chi phí quân sự trên thế giới khoảng

900 tỷ đôla Mỹ hàng năm Từ hai quả bom nguyên tử Mỹ ném xuống Hirôsima

và Nagaxaki (Nhật Bản) nay đã có hàng vạn bom và đầu đạn hạt nhân (chưa kểcác vũ khí giết người hàng loạt khác) Từ hai đến năm nước có vũ khí hạt nhân

và khoảng 20 nước có khả năng sản xuất vũ khí hạt nhân

Như vậy, ngày nay chiến tranh và hòa bình vẫn là mối quan tâm hàng đầucủa nhân dân thế giới Hòa bình vẫn là mục tiêu cao cả của thời đại

Nguồn gốc chiến tranh

Mỗi cuộc chiến tranh đều có nguyên nhân cụ thể riêng nhưng nguyên nhân sâu

xa nhất là xung đột lợi ích giữa tập đoàn cầm quyền một nước có tham vọng

Trang 24

bành trướng, áp đặt với các dân tộc khác bảo vệ độc lập chủ quyền của mình,hoặc là tranh giành lợi ích giữa những tập đoàn cầm quyền với nhau Ví dụ nhưcuộc Đông chinh của Alếchxan Makêđônia từ năm 334 đến năm 30 trước côngnguyên, cuộc Tây chinh của quân Mông Cổ thế kỷ XII từ Trung Quốc tới tận bờĐịa Trung Hải, cuộc chiến tranh Anh – Pháp 100 năm thế kỷ XIX – thế kỷ XX,cuộc chiến tranh của Napôlêông nước Pháp xâm chiếm châu Âu đầu thế kỷXIX…

Nguyên nhân chiến tranh còn có thể là các mâu thuẩn sắc tộc, dân tộc,tôn giáo, lãnh thổ, nhưng trong thời kỳ đế quốc chủ nghĩa, cái gốc của chiếntranh là chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa tư bản Bốn cuộc chiến tranh thế giới từthế kỷ XIX đến nay đều do chủ nghĩa đế quốc gây ra nhằm mục đích cuối cùng

là thống trị thế giới, bóc lột các dân tộc, chiếm đoạt siêu lợi nhuận tư bản Cáccuộc xung đột vũ trang do mâu thuẫn sắc tộc, dân tộc, tôn giáo, lãnh thổ hiệnnay ở một số nước đang phát triển đều ít nhiều có tác động của các thế lực bênngoài, có bàn tay của chủ nghĩa đế quốc

Đế quốc Mỹ trong vòng 200 năm kể từ khi thành lập nước Mỹ đã tiếnhành khoảng 70 cuộc chiến tranh, cướp đi quyền sống của hàng chục triệungười dân nước khác Ngày nay, ngân sách quốc phòng hằng năm của Mỹkhoảng trên 320 tỷ đôla, chiếm 36% chi phí quân sự trên thế giới Mỹ là nướcbán vũ khí lớn nhất Chạy đua vũ trang của Mỹ dẫn đến chạy đua vũ trang thếgiới, gánh nặng chi phí quân sự đè nặng lên đầu các nước đang phát triển(chiếm trung bình 25% tổng số chi phí quân sự trên thế giới) Sau vụ khủng bốngày 11 tháng Chín 2001 ở Mỹ, chính quyền Mỹ dùng chiêu bài chống khủng

bố quốc tế để tiến hành chiến tranh ở Ápganixtan, chuẩn bị tiến công Irắc, xúctiến thiết lập hệ thống phòng thủ tên lửa, đưa ra học thuyết quân sự đánh đònphủ đầu, mở rộng sự có mặt về quân sự ở nhiều khu vực, thực hiện chính sáchcan thiệp và áp đặt đối với các dân tộc

Trước tình hình đó, nhân dân các nước mà nòng cốt là giai cấp công nhân

và nhân dân lao động, các lực lượng hòa bình độc lập dân tộc, dân chủ và tiến

bộ nâng cao cảnh giác, đẩy mạnh cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc,dân chủ và tiến bộ xã hội Quá trình phát triển của tình hình thế giới trước vàđặc biệt là sau Chiến tranh thế giới thứ hai chứng tỏ các mục tiêu đấu tranh liênquan chặt chẽ đến nhau Đấu tranh giành và bảo vệ độc lập dân tộc, chống chủnghĩa đế quốc, thực dân, chống chiến tranh xâm lược và sự áp đặt từ bên ngoàiđồng thời là đấu tranh bảo vệ hòa bình, hòa bình trong độc lập, tự do và pháttriển Những cuộc đấu tranh đó đều mang tính chính nghĩa, cách mạng Đấutranh đòi thủ tiêu vũ khí hạt nhân và các vũ khí giết người hàng loạt khác khôngnhững nhằm bảo vệ hòa bình thế giới mà còn nhằm bảo vệ sự sống còn củanhân loại

PHONG TRÀO HÒA BÌNH THẾ GIỚI

Trang 25

Các hoạt động hòa bình trước Chiến tranh thế giới thứ hai

Lịch sử phát triển của nhân loại gắn với chiến tranh đồng thời gắn với nhữnghoạt động chống chiến tranh vì hòa bình Cuộc đấu tranh vì hòa bình, chốngchiến tranh đã phát triển từ những hoạt động của cá nhân, các nhóm ngườithành phong trào hòa bình quốc gia, khu vực và liên khu vực nhưng đến trướcChiến tranh thế giới thứ hai chưa trở thành một phong trào rộng lớn trên phạm

vi toàn thế giới

Các tổ chức hòa bình ra đời ở nhiều nước và khu vực làm nòng cốt chophong trào hòa bình Các tôn giáo lớn có những điều răn hòa bình, nhân ái vàcũng có những hoạt động hòa bình; các tổ chức tôn giáo hoạt động hòa bình có

từ thế kỷ XVI – XVII

Đến thế kỷ XIX, các tổ chức hoạt động hòa bình mang tính xã hội đã xuấthiện ở một số nước Có tổ chức tồn tại đến nay và có ảnh hưởng khá lớn nhưAmerican Peace Society thành lập 1828 ở Mỹ, New England Non-ResistanceSociety thành lập năm 1838 ở Anh với tư tưởng bất bạo động được Lép Tônstôi

ở nước Nga phát triển và ảnh hưởng khá mạnh tới Mahatma Gandi ở Ấn Độ, tổchức Universal Peace Congress ra đời đầu những năm 1840, một trong những

tổ chức mang tính liên quốc gia đầu tiên, tiền thân của tổ chức InternationalPeace Bureau thành lập năm 1892 có trụ sở tại Giơnevơ, Thụy Sĩ hiện nay Cótài liệu cho biết, vào năm 1900 ở Tây – Bắc Âu và Mỹ có khoảng 425 tổ chứchòa bình, phần lớn mang tính chất hòa bình chủ nghĩa

Đầu thế kỷ XX, phong trào phụ nữa đấu tranh vì hòa bình và quyền bìnhđẳng của phụ nữ đã dẫn tới việc thành lập hai tổ chức quốc tế của phụ nữ Hộinghị phụ nữ xã hội quốc tế thành lập năm 1915, do bà Clara Zetkin, đảng viênĐảng Xã hội Đức khởi xướng, là tiền thân của Liên đoàn Phụ nữ dân chủ quốc

tế sau này Hội nghị phụ nữ La Hay tổ chức năm 1915, tiền thân của Liên đoànphụ nữ quốc tế vì hòa bình và tự do (WVPE) hiện nay, có trụ sở ở Giơnevơ.Quốc tế ngữ ra đời và được coi là thứ ngôn ngữ của hòa bình và hi vọng Năm

1921 Tổ chức Quốc tế ngữ vì hòa bình (PACO) được thành lập và được cácnước xã hội chủ nghĩa duy trì cho đến những năm 1990

Cách mạng tháng Mười Nga thắng lợi mở ra một kỷ nguyên mới chocuộc đấu tranh vì hòa bình Tuyên ngôn đầu tiên của Chính phủ nước Nga Xôviết là Tuyên ngôn hòa bình đã được nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giớiđón nhận và ủng hộ rộng rãi Phong trào hòa bình ở nhiều nước đã chống lạicuộc chiến tranh của 14 nước đế quốc, tư bản nhằm bao vây và tiêu diệt nướcNga Xô viết – nhà nước công nông đầu tiên trong lịch sử loài người

Trước sự xuất hiện của chủ nghĩa phát xít và nguy cơ có chiến tranh, năm

1935 Quốc tế Cộng sản ra đời kêu gọi nhân dân các nước đấu tranh chống chủnghĩa phát xít và chống chiến tranh, đòi tự do, dân chủ, hòa bình và cải thiệnđời sống được nhân dân nhiều nước hưởng ứng rộng rãi Nhiều trí thức tiến bộ

Trang 26

cũng tham gia các hoạt động hòa bình, kêu gọi hành động chống phát xít Một

số tổ chức chống phát xít ra đời đáng chú ý là tổ chức Peace Pledge Union đượcthành lập năm 1936, có nhiều nhà khoa học nổi tiếng tham gia như Anhstanh,Béctơran Rátsen

Phong trào đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình sau Chiến tranh thế giới thứ hai

Chiến tranh thế giới thứ hai đã gây thiệt hại và hậu quả vô cùng nặng nề: gần 60triệu người chết (Liên Xô hơn 20 triệu), 90 triệu người bị thương, hơn 100thành phố và 7.000 làng mạc bị phá hủy, 110 triệu người bị động viên vào quânđội Nhân loại chưa hết kinh hoàng bởi chiến tranh thì nguy cơ một cuộc chiếntranh mới xuất hiện mà nếu xảy ra thì hậu quả không thể lường trước được bởilần này vũ khí hạt nhân sẽ được sử dụng Đồng thời, cuộc chiến tranh lạnh kéotheo cuộc chạy đua vũ trang do chủ nghĩa đế quốc đứng đầu là Mỹ gây ra nhằmchống Liên Xô, chống chủ nghĩa xã hội, ngăn chặn và đàn áp phong trào giảiphóng dân tộc và phong trào dân sinh, dân chủ của giai cấp công nhân ở cácnước tư bản chủ nghĩa thường xuyên đe dọa nghiêm trọng hòa bình thế giới và

Các hình thức hoạt động hòa bình phong phú diễn ra liên tục và sôi nổi,

từ xuống đường, lấy chữ ký, tổ chức hội nghị, đưa kiến nghị tại các diễn đànLiên hợp quốc với hàng trăm triệu người tham gia, có lúc thành cao trào nhưphong trào chống vũ khí hạt nhân, phong trào ủng hộ, đoàn kết với các dân tộc

bị áp bức và xâm lược, đấu tranh vì độc lập và hòa bình Lời kêu gọi lấy chữ kýđòi chấm dứt chạy đua vũ trang của thế giới ở Stốckhôm 1950, của Hội nghịthế giới chống bom A – H được tổ chức hằng năm ở Nhật Bản từ năm 1955 đếnnay đã được hàng trăm triệu người ký tên hưởng ứng Đông đảo mọi tầng lớpnhân dân các nước tham gia hoạt động hòa bình đã xuống đường biểu tình, đếntrụ sở Liên hợp quốc đưa kiến nghị, đã tổ chức các hội nghị, diễn đàn về hòabình, trong đó có nhiều nhân vật nổi tiếng nhưu Anhstanh, Giuliô Quyri, Picasô,Béctơran Rútsen, Olốp Panne, Luthơ Kinh, Linút Paolinh và hàng trăm nhàkhoa học được giải thưởng Nôben khác

Điểm nổi bật của phong trào hòa bình thế giới sau Chiến tranh thế giớithứ hai là sự ra đời của các tổ chức hòa bình, các tổ chức dân chủ chịu ảnhhưởng của các đảng cộng sản và công nhân, các phong trào giải phóng dân tộc,các đảng cách mạng và tiến bộ có chung mục tiêu là hòa bình, độc lập dân tộc,dân chủ và tiến bộ xã hội thế giới, Tạp chí Những vấn đề hòa bình và chủ

Trang 27

nghĩa xã hội (ra đời năm 1957), các tổ chức dân chủ quốc tế (như Liên đoànphụ nữ dân chủ quốc tế, Công đoàn thế giới, Liên đoàn thanh niên dân chủ thếgiới, Liên hiệp thanh niên thế giới), Tổ chức đoàn kết nhân dân Á – Phi, các tổchức tôn giáo nhưu CPC (Ki tô giáo vì hòa bình), ABCP (Phật giáo châu Á vìhòa bình)… đã trở thành lực lượng nòng cốt trong phong trào hòa bình thế giới.thế giới được coi là tổ chức chính trị - xã hội chuyên về hoạt động hòa bình, có

160 tổ chức thành viên là Ủy ban hoặc các nước và nhiều tổ chức quốc tế

Về hoạt động, đã có sự phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức hòa bình vàgiữa các quốc gia trên những vấn đề chung như chống chạy đua vũ trang, nhất

là vũ khí hạt nhân, đoàn kết với phong trào giải phóng dân tộc Nổi bật là phongtrào nhân dân thế giới rộng lớn ủng hộ, đoàn kết với nhân dân Việt Nam khángchiến chống đế quốc Mỹ xâm lược Sự phối hợp hành động đó đã có ảnh hưởnglớn, đóng góp tích cực vào thắng lợi của phong trào hòa bình, đẩy lùi nguy cơchiến tranh thế giới mới, hỗ trợ các dân tộc trong cuộc đấu tranh giành độc lập

Các Viện, Trung tâm nghiên cứu hòa bình được thành lập để nghiên cứu

và thông tin về những vấn đề liên quan đến hòa bình và chiến tranh, giúp Liênhợp quốc, các chính phủ, các tổ chức hòa bình định hướng hoạt động như: Việnnghiên cứu hòa bình Thụy Điển, Viện nghiên cứu hòa bình Viên, Hiệp hội quốc

tế các Trung tâm nghiên cứu hòa bình với hàng trăm tổ chức thành viên ở cáctrường đại học trên khắp thế giới Các cơ sở nghiên cứu trên đã có nhiều đónggóp vào việc phân tích, đánh giá tình hình quốc tế liên quan đến hòa bình, đềxuất các sáng kiến về hoạt động hòa bình

Các tổ chưc hòa bình ra đời từ trước Chiến tranh thế giới thứ hai vẫn tồntại và phát triển trong điều kiện mới Có những tổ chức mới xuất hiện như Hòabình xanh đã trờ thành một lực lượng có ảnh hưởng trong đời sống chính trị củamột số nước như Đảng Xanh có nguồn gốc từ phong trào Hòa bình xanh ởCộng hòa Liên bang Đức đã tham gia cầm quyền

Duy trì hòa bình và an ninh quốc tế là mục tiêu hàng đầu trong bốn mụctiêu của Liên hợp quốc, và Hội đồng bảo an Liên hợp quốc đảm nhiệm tráchnhiệm này Liên hợp quốc được chính thức thành lập ngày 24 tháng Mười 1945nhằm tạo ra một thiết chế toàn cầu bảo đảm một nền hòa bình lâu dài và mộttrật tự thế giới bền vững Liên hợp quốc ra đời đánh dấu bước phát triển mớicủa cuộc đấu tranh vì hòa bình của nhân loại, tạo ra một diễn đàn toàn cầu vềhòa bình, là nơi đưa ra những sáng kiến hòa bình mang tính toàn cầu như Tuyên

bố năm 1986 – năm quốc tế hòa bình, năm 2000 – năm văn hóa hòa bình, là chỗdựa pháp lý cho các dân tộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xãhội

Qua hoạt động của Hội đồng bảo an, Ủy ban giải trừ quân bị và an ninhquốc tế, việc cử các đội quân giữ gìn hòa bình đến các nơi xung đột, Liên hợpquốc nhìn chung đã có đóng góp tích cực vào các hoạt động hòa bình trên thế

Trang 28

giới Tuy nhiên, những thế lực nước lớn đóng vai trò quyết định đã và đang sửdụng Liên hợp quốc như một công cụ toàn cầu để thực hiện chính sách canthiệp và áp đặt hoặc bất chấp Liên hợp quốc để rảnh tay thực hiện chính sách

đó Cho nên, trong nhiều trường hợp Liên hợp quốc hành động ngược lại mụctiêu của mình Việc dân chủ hóa, làm cho Liên hợp quốc thực sự phục vụ chohòa bình là một đòi hỏi của nhân dân thế giới

NỘI DUNG CỦA HỌA ĐỘNG HÒA BÌNH NGÀY NAY

Từ rất lâu đã tồn tại quan niệm cho rằng hòa bình là không có chiến tranh Theonghĩa đó, nếu hòa bình là không có chiến tranh, thì mọi nỗ lực đều tập trung vàochống chiến tranh, ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh để bảo vệ hòa bình Có quanđiểm chống chiến tranh bằng mọi cách và không kể cuộc chiến tranh đó là chiếntranh chính nghĩa chống xâm lược, bảo vệ độc lập, tự do hay là chiến tranh phinghĩa xâm lược, nô dịch các dân tộc khác Có quan điểm lại chỉ muốn hòa bìnhcho nước mình trong khi đi gây chiến tranh ở nơi khác, muốn giải quyết cáctranh chấp bằng ưu thế sức mạnh quân sự của mình, đế quốc Mỹ là một điểnhình

Cùng với những thay đổi sâu sắc trên thế giới, nhiều vấn đề vượt ra khỏicác biên giới quốc gia, trở thành những vấn đề toàn cầu, tác động đến hòa bình

ở các nước và hòa bình thế giới Những vấn đề như nghèo đói, thất nghiệp, ônhiễm môi trường, nguy cơ cạn kiệt tài nguyên, chế độ độc tài, phân biệt chủngtộc, chính sách đối ngoại cường quyền về chính trị,… cũng tác động đến hòabình, ổn định và an ninh trong mỗi nước và trên thế giới Vì vậy, ngày nay quânđiểm về hòa bình rộng hơn và mang tính tổng hợp Đó là hòa bình không phảichỉ là không có chiến tranh mà hòa bình còn là không có những nhân tố có thểgây ra mất ổn định và an ninh

Hoạt động hòa bình ngày nay bao gồm những nội dung sau:

Hòa bình với đấu tranh giải trừ quân bị

Khi đề cập chiến tranh, người ta nói đến việc xây dựng quân đội, chiến lượcquân sự và sản xuất vũ khí, thiết bị quân sự Những việc đó thường gắn với sựphát triển kinh tế, xã hội và khoa học kỹ thuật Loài người từ đánh nhau bằnggậy gộc, đá sỏi nay đã có trong tay các loại vũ khí hủy diệt Từ chạy đua vũtrang giữa hai kẻ thù đến chạy đua vũ trang giữa các liên minh quân sự và đếnchạy đua vũ trang trên phạm vi thế giới Do đó, nội dung hàng đầu của bảo vệhòa bình là đấu tranh giải trừ quân bị Các hoạt động đòi giải trừ quân bị diễn ratrên các diễn đàn quốc tế, khu vực và các nước trên thế giới Nội dung là thủtiêu hoàn toàn vũ khí hạt nhân và các vũ khí giết người hàng loạt khác; cấmtoàn bộ các cuộc thử hạt nhân, các nước có vũ khí hạt nhân không sử dụng vũkhí hạt nhân trước tiên trong các cuộc xung đột, không đe dọa sử dụng các vũkhí hạt nhân, xây dựng và mở rộng các khu vực không có vũ khí hạt nhân, cấmphát triển và sản xuất vũ khí thông thường có kỹ thuật cao và mìn sát thương;

Trang 29

phi quân sự hóa các đại dương và không gian vũ trụ; rút các lực lượng và căn

cứ quân sự ở nước ngoài, giải tán các liên minh quân sự; giảm ngân sách quân

sự và cấm buôn bán vũ khí; đấu tranh chống các chính sách dùng sức mạnhquân sự để áp đặt và thống trị; giải trừ quân bị để phát triển kinh tế - xã hội

Nội dung và khẩu hiệu đấu tranh trên có khả năng tập hợp lực lượng rấtlớn, có lúc lên đến hàng tỷ người hưởng ứng như Lời kêu gọi chấm dứt chạyđua vũ khí hạt nhân do thế giới đưa ra trong những năm 50 của thế kỷ XX Vấn

đề vũ khí hạt nhân hiện nay vẫn luôn là một vấn đề nhạy cảm nhất trong phongtrào đấu tranh vì hòa bình trên thế giới

Hòa bình và đoàn kết

Đoàn kết với các hoạt động chống chiến tranh xâm lược để bảo vệ hòa bình làmột yêu cầu khách quan, và trong lịch sử phát triển của loài người đã diễn ranhiều hoạt động đoàn kết như vậy Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, đoàn kếttrở thành một nội dung hoạt động hòa bình quan trọng, là cơ sở của các hoạtđộng hòa bình và có hiệu quả to lớn như phong trào đoàn kết chống chủ nghĩathực dân, thủ tiêu chế độ thuộc địa trong những năm 1950 và 1960; phong tràonhân dân thế giới ủng hộ nhân dân Việt Nam kháng chiến chống Mỹ cứu nướcnhững năm 1960 và 1970; phong trào đoàn kết với nhân dân Palextin, Cuba…Đoàn kết quốc tế vì hòa bình trở thành phương châm hoạt động chung củaphong trào hòa bình thế giới

Các nội dung hoạt động đoàn kết vì hòa bình là: ủng hộ nhân dân cácnước đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội; giảiquyết các xung đột bằng biện pháp hòa bình; xác định rõ trách nhiệm của Liênhợp quốc đối với các xung đột khu vực, chống lại sự can thiệp của Hội đồngbảo an Liên hợp quốc trái với Hiến chương Liên hợp quốc chống lại sự canthiệp và áp đặt của bên ngoài; phối hợp hoạt động hòa bình với Phong tràokhông liên kết

Hòa bình và phát triển

Trước đây, vấn đề hòa bình thường bị tách khỏi vấn đề phát triển Hiện nay, vấn

đề phát triển ngày càng có tính quyết định bảo đảm có một nền hòa bình lâu dài

và bền vững Quan niệm “hòa bình là phát triển” được đưa ra và xác định tạidiễn đàn Liên hợp quốc và nhiều diễn đàn khác Thực tế lịch sử đã chứng minhrằng, tình trạng kém phát triển, nghèo đói là một trong những nguồn gốc của sựmất ổn định, của chiến tranh Sự mất ổn định ở các nước lạc hậu và nghèo đóidẫn đến làm mất ổn định cả các nước khác Một dân tộc không có ổn định và anninh thì các dân tộc khác cũng mất ổn định và an ninh

Đấu tranh cho sự phát triển bền vững về kinh tế, tiến bộ xã hội và côngbằng xã hội, tiến tới xóa bỏ đói nghèo, bệnh tật, nợ nước ngoài và giảm chi phí

Trang 30

quân sự để dành cho phát triển kinh tế - xã hội, chống việc giảm chi tiêu chonhu cầu xã hội và giảm viện trợ phát triển; chống cấm vận và phong tỏa; thúcđẩy hợp tác Nam – Nam, Bắc – Nam; xây dựng một trật tự kinh tế quốc tế mớitrên cơ sở bình đẳng và cùng có lợi; ủng hộ các tổ chức phi chính phủ hoạt động

vì nhân đạo và phát triển… cũng là nội dung quan trọng của hoạt động hòabình

Hòa bình và giải quyết các vấn đề toàn cầu

Nhân loại có những vấn đề chung phải giải quyết như nạn nghèo đói, bệnh tậthiểm nghèo, chủ nghĩa khủng bố quốc tế, các tội phạm quốc tế, nợ nần nướcngoài, sựu hủy hoại môi trường sinh thái, nguy cơ cạn kiệt tài nguyên thiênnhiên… Giải quyết những vấn đề đó nhằm bảo vệ sự sống còn của nhân loại và

có quan hệ mật thiết đến nội dung cuộc đấu tranh chung của nhân loại vì hòabình

Hoạt động bảo vệ môi trường liên quan đến hòa bình trước hết là đầutranh trong các vấn đề không thử, không phổ biến vũ khí hạt nhân, xử lý chấtthải hạt nhân và tai nạn hạt nhân, đồng thời đấu tranh chống sự xuống cấp vàhủy hoại môi trường; đòi các nước phát triển phải chịu trách nhiệm chính trongviệc bảo vệ môi trường, không lợi dụng vấn đề môi trường để gây xung đột và

áp đặt đối với các nước khác

Hòa bình và vấn đề quyền con người

Bảo vệ hòa bình chính là bảo vệ con người, bởi con người là trung tâm của sựphát triển Quyền được sống trong hòa bình là quyền cơ bản đầu tiên của conngười Bảo vệ hòa bình là bảo vệ quyền tự do cơ bản của con người, sự khôngchia cắt giữa các quyền chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa, giữa quyền conngười với quyền dân tộc tự quyết và quyền phát triển; đấu tranh chống chủnghĩa phân biệt chủng tộc, sắc tộc và tôn giáo, chủ nghĩa đân tộc cực đoan vàhằn thù dân tộc; thúc đẩy việc giáo dục vì hòa bình, khoan dung và các hoạtđộng văn hóa hòa bình chống lại bạo lực, ngăn ngừa và giải quyết các cuộcxung đột thông qua các giải pháp hòa bình

Hòa bình và vấn đề dân chủ hóa Liêp hợp quốc và các thiết chế quốc tế

Trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay, mặt tiêu cực trực tiếp tác động đến đờisống vật chất và tinh thần của con người, nhất là những người lao động ngàycàng nghiêm trọng Nạn thất nghiệp ngày càng tăng, khoảng cách giàu nghèotrong từng nước, kể cả các nước phát triển, và giữa các nước phát triển và cácnước đang phát triển ngày càng khó khăn Vì vậy ngày càng có nhiều tổ chức,nhiều người lên tiếng phản đối toàn cầu hóa và thương mại tự do tư bản chủnghĩa, như các cuộc biểu tình trước hội nghị cấp bộ trưởng của Tổ chức Thương

Trang 31

mại thế giới ở Xiatơn, Mỹ năm 1999, ở Napoli, Italia năm 2001, hội nghị củaNgân hàng Thế giới ở Praha năm 2002…

Phong trào đấu tranh chống mặt tiêu cực của toàn cầu hóa lôi cuốn cáclực lượng đấu tranh vì dân sinh, dân chủ, công bằng và tiến bộ xã hội và cảnhững lực lượng, phong trào đấu tranh vì hòa bình

PHONG TRÀO HÒA BÌNH Ở VIỆT NAM

Nhân dân ta cso truyền thống đấu tranh vì hòa bình

Đất nước ta trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, có lịch sử chốngngoại xâm oanh liệt nhưng cũng phải chịu nhiều hậu quả nặng nề của chiếntranh Vì vậy, nhân dân ta rất khát khao hòa bình và đấu tranh vì hòa bình làmột truyền thống hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam Toàn dân chống xâmlược, xây dựng và bảo vệ đất nước là để giành lại và giữ gìn hòa bình, hòa bìnhtrong độc lập, tự do và hạnh phúc Truyền thống chống xâm lược là “Giắc đếnnhà đàn bà cũng đánh” nhưng thấm đậm tính nhân văn cao cả, tinh thần hòahiếu, thân thiện: “Lấy chí nhân thay cường bạo”

Cuộc đấu tranh vì hòa bình và phong trào bảo vệ hòa bình thế giới củaViệt Nam từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay luôn luôn gắn với tiếntrình cách mạng của nước ta do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, làphong trào mang tính nhân dân rộng rãi, là sự phối hợp chặt chẽ giữa hoạt độngđối ngoại nhân dân với ngoại giao nhà nước và công tác đối ngoại của Đảng

Các hoạt động hòa bình trong nửa thế kỷ qua ở Việt Nam đã phát huytruyền thống yêu hòa bình của dân tộc và theo sự chỉ đạo của tư tưởng của Chủtịch Hồ Chí Minh về hòa bình

Tư tưởng Hồ Chí Minh về hòa bình

Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong Hội thảo “Năm mươi năm ngành ngoại giaoViệt Nam” tháng Chín 2000 đã nêu rõ:

- Hòa bình là một tư tưởng lớn của ngoại giao Hồ Chí Minh Trong suốthai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược, Hồ Chí Minh luônluôn giương cao ngọn cờ hòa bình, đối lập với chính sách hiếu chiến của kẻđịch Trước mỗi bước ngoặt hiểm nghèo ở thời điểm mong manh giữa hòa bìnhhay chiến tranh, Người nêu cao thiện chí đàm phán hòa bình để giải quyết xungđột, tránh chiến tranh

- Tư tưởng hòa bình của Hồ Chí Minh xuất phát từ lợi ích của dân tộcViệt Nam Khi đã có chính quyền rồi thì phải có hòa bình để thực hiện các mụctiêu của cách mạng: phát triền đất nước giàu mạnh, bồi bổ sức dân, bảo đảmcho nhân dân an cư lạc nghiệp, có đời sống ấm no, hạnh phúc

- Tư tưởng hòa bình của Người còn xuất phát từ tinh thần nhân đạo quốc

tế, tránh “huynh đệ tương tàn”, vì lợi ích của hòa bình thế giới, có nguồn gốc

Trang 32

trong truyền thống nhân nghĩa của Việt Nam Người kêu gọi Chính phủ và nhândân Pháp ngày 10 tháng Một 1947: “Chúng rồi muốn hòa bình ngay để máungười Pháp và Việt ngừng chảy Những dòng máu đó chúng tôi đều quý nhưnhau.” (2 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.5,

tr.19.) Năm 1964, khi chính quyền Mỹ tiến hành cuộc “ chiến tranh đặc biệt”tàn khốc miền Nam Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói với những người bạnMỹ: “Chẳng những chúng tôi đau xót vì đồng bào miền Nam chúng tôi phảigian khổ hy sinh, mà chúng tôi cũng thương xót cho các bà mẹ và các người vợ

Mỹ đã mất con, mất chồng trong cuộc chiến tranh phi nghĩa ở miền Nam ViệtNam do bọn quân phiệt Mỹ tiến hành.” (3 Như trên, t.11, tr 275)

- Đồng thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh kiên trì nguyên tắc hòa bình độc lập,

tự do và thống nhất quốc gia Khi cuộc tiếp xúc giữa Người với đại diện Cao ủyPháp tháng Năm 1947 không đem lại kết quả do những đòi hỏi ngang ngượccủa nhà cầm quyền thực dân Pháp ở Đông Dương, Người đã khẳngđịnh:”Chúng tôi muốn hòa bình Chúng tôi muốn nước chúng tôi độc lập vàthống nhất trong Liên hiệp Pháp Bọn quân phiệt thực dân đã bắt buộc chúng tôi

phải tiếp tục chiến đấu, chúng tôi sẽ tiếp tục chiến đấu đến cùng…”Thà chết chứ không chịu làm nô lệ” (4 Như trên, t.5, tr.129) Trong cuộc chiến tranhViệt Nam, khi giới cầm quyền Mỹ miệng nói hòa bình nhưng hành động mởrộng cuộc chiến tranh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bác bỏ hòa bình kiểu Mỹ (5

Theo Tuần báo quốc tế, ngày 15 tháng Chín 2000)

Cùng với những ý kiến trên đây, có thể thấy thêm: tư tưởng về hòa bìnhcủa Chủ tịch Hồ Chí Minh là tinh thần đoàn kết quốc tế “bốn phương vô sảnđều là an hem”, gắn cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do và hòa bình ở Việt Namvới cuộc đấu tranh vì hòa bình thế giới Trong thư gửi Đại hội thành lập Ủy banbảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam tháng Mười một 1950, Người nêu rõ:

“Mấy năm nay, Việt Nam ta đang ra sức kháng chiến, quân và dân ta đang rasức đánh bọn đế quốc Pháp và bọn can thiệp Mỹ Thế là chúng ta đang chặt cáigốc chiến tranh đế quốc, đang giúp sức bảo vệ hòa bình, đang góp một phần lựclượng với hơn 500 triệu chiến sĩ hòa bình ở Liên Xô, Trung Quốc và các nước

khác để bảo vệ hòa bình thế giới Vậy nhiệm vụ của chúng ta là đoàn kết rộng rãi và chặt chẽ toàn dân Việt Nam, để kháng chiến lâu dài, để đánh tan bọn thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ Tôi chắc rằng Hội nghị hòa bình sẽ gắng

làm trọn nhiệm vụ cao cả ấy (6 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốcgia, Hà Nội, 2000, t.6, tr.123)

Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về mối quan hệ khăng khít giữaphong trào hòa bình ở Việt Nam và phong trào hòa bình thế giới, thể hiện mốiquan hệ chặt chẽ giữa cách mạng Việt nam và cách mạng thế giới, đã trở thànhđộng lực cho các hoạt động của phong trào hòa bình Việt Nam

Trang 33

Trong thực tiễn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành nhiều công sức theo dõi

và chỉ đạo các hoạt động của Ủy ban bảo về hòa bình thế giới của Việt Nam.Người đã trực tiếp chỉ đạo nhiều đoàn Việt Nam đi dự các Hội nghị hòa bìnhquốc tế và tiếp các đoàn hòa bình quốc tế thăm Việt Nam Ngay sau Đại hộithành lập Ủy ban bảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam, một đoàn đại biếu cáctầng lớp nhân dân Việt Nam đi Bắc Kinh dự Hội nghị hòa bình châu Á đã đượcNgười gặp và căn dặn: đi dự hội nghị là để giới thiệu Việt Nam cho bạn bè quốc

tế hiểu Việt Nam, ủng hộ hòa bình ở Việt Nam Người còn quan tâm đếnphương thức hoạt động hòa bình Trong Bao cáo tồn tại Hội nghị lần thứ tư BanChấp hành Trung ương (khóa II) cuối tháng Giêng 1953, khi nhận định vềphong trào hòa bình, Người đã nói: “Mấy năm nay chúng ta có làm, nhưng đãmắc khuyết điểm là có bề rộng không có bề sâu, hình thức hơn là thực tế, vìthường chỉ khoán trắng cho một số cán bộ phụ trách, còn những cán bộ khác thì

ít quan tâm đến Năm nay chúng ta phải làm thiết thực hơn, phải làm cho nhândân ta hiểu rằng: ủng hộ hòa bình thế giới có quan hệ mật thiết với phát triểnkháng chiến của ta.” (7 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập,Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, t.14, tr.28)

Ủy ban hòa bình Việt Nam và cuộc đấu tranh vì hòa bình của nhân dân ta

Năm 1950, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta đang trên đà thắnglợi, phong trào hòa bình thế giới phát triển mạnh, thế giới được thành lập tháng

Tư 1949 cùng với hàng loạt tổ chức hòa bình khác ở nhiều nước Trong bốicảnh đó, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trương thành lập Ủy ban bảo vệhòa bình thế giới của Việt Nam

Ngày 25 tháng Sáu 1950 Chủ tịch Tôn Đức Thắng, Chủ tịch Liên Việt lúc

đó được chỉ định làm Trưởng ban vận động thành lập Ủy ban bảo vệ hòa bìnhthế giới của Việt Nam Ngày 19 tháng Mười một 1950 tại chiến khu Việt Bắc,Đại hội thành lập Ủy ban bảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam đã được tiếnhành Đại hội đã suy tôn Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Chiến sĩ Hòa bình số một.Nhiều đồng chí lãnh đạo đảng, nhà nước cùng các nhân sĩ nổi tiếng đã tham giaĐoàn Chủ tịch như: Tôn Đức Thắng, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp,Nguyễn Chí Thanh… Cùng với đại biểu Việt Nam, đại biểu kháng chiến Lào vàkháng chiến Campuchia đã tham dự Đại hội Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thưchúc mừng thế giới cũng đã gửi điện mừng Bác sĩ Lê Đình Thám được bầu làChủ tịch Ủy ban bảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam Chủ tịch Ủy ban về saulần lượt là các bộ trưởng Phan Anh, Phan Hiền và hiện nay là Phó chủ tịchQuốc hội khóa X, đồng chí Vũ Đình Cự Tham gia Ủy ban hòa bình có đại diệnnhiều tổ chức quần chúng, chính trị - xã hội, một số nhân sĩ, trí thức và đại diệncác tầng lớp nhân dân Việt Nam

Sự ra đời của Ủy ban bảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam là một sựkiện quan trọng của phong trào hòa bình ở Việt Nam Đó là một trong những tổ

Trang 34

chức chính trị - xã hội lớn đầu tiên được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủtrương thành lập để hoạt động trong lĩnh vực đối ngoại nhân dân, gắn liền với

sự nghiệp bảo vệ hòa bình, độc lập và tự do ở Việt Nam với phong trào bảo vệhòa bình thế giới

Trong hơn 50 năm hoạt động và trưởng thành, Ủy ban hòa bình Việt Nam

đã thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về hòa bình, có nhiều đónggóp vào sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta và sự phát triển của phong tràohòa bình thế giới

Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp

Việt Nam được coi là một trong những nước tham gia sáng lập thế giới ViệtNam đã cử đoàn đại biểu tham dự Đại hội thành lập thế giới tại Pari tháng Tư

1949, gồm 11 người, chủ yếu là Việt kiều tại Pháp và các nước Tây Âu (8.Trong đoàn đại biểu có hai giáo sư Phạm Huy Thông và Lê Văn Thiêm)

Ủy ban bảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam đã góp phần động viênnhân dân ta ở trong nước và kiều bào ta, đặc biệt ở Pháp, góp công sức khángchiến thắng lợi và bảo vệ hòa bình thế giới Các hoạt động đấu tranh vì hòa bìnhkhông chỉ diễn ra tại chiến khu cách mạng mà còn ở các vùng bị tạm chiếm.Các Ủy ban bảo vệ hòa bình thế giới của các thành phố Hải Phòng, NamĐịnh… và phong trào hòa bình Sài Gòn – Chợ Lớn đã có nhiều hoạt động vìhòa bình Các cuộc biểu tình chống can thiệp của Mỹ của thanh niên sinh viênSài Gòn đã diễn ra, do phong trào hòa bình lãnh đạo Năm 1951, hưởng ứng Lờikêu gọi Xtốckhôm đòi chấm dứt chạy đua vũ trang, hủy bỏ vũ khí hạt nhân, Ủyban bảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam đã phát động và lấy được 5 triệu chữ

ký Cũng năm đó, Ủy ban đã cử đoàn đại biểu các tầng lớp nhân dân tham giaHội nghị hòa bình châu Á đầu tiên ở Băc Kinh, góp phần làm cho bạn bè hiểu

rõ tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và ủng hộ nhândân ta Ủy ban đã phối hợp chặt chẽ với phong trào hòa bình Pháp và các phongtrào hòa bình các nước đẩy mạnh phong trào đòi chấm dứt cuộc chiến tranh phinghĩa do thực dân Pháp tiến hành và lập lại hòa bình ở Việt Nam

Trong khi qaun hệ ngoại giao chính thức của nước ta với các nước cònhẹp, các đại biểu Ủy ban hòa bình Việt Nam đã phối hợp chặt chẽ với các tổchức hòa bình ở các nước xã hội chủ nghĩa và các nước Tây Âu sử dụng diễnđàn của thế giới để nêu cao sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân Việt Nam,tranh thủ sự ủng hộ của phong trào hòa bình thế giới, nâng cao vị trí của ViệtNam trên trường quốc tế Đại hội hòa bình thế giới ở Viên, Áo năm 1951 raquyết định đòi “Hòa bình ở Việt Nam! Rút quân đội nước ngoài ra khỏi ViệtNam!” Hội nghị hòa bình châu Á – Thái Bình Dương đầu tháng Mười hai 1952

ở Bắc Kinh, Trung Quốc đòi chính phủ ở các nước đang tiến hành chiến tranh ởTriều Tiên, Việt Nam, Lào, Campuchia, Mã Lai… phải chấm dứt chiến tranh

Trang 35

Năm 1953, Đại hội hòa bình Việt Nam lần thứ hai đã họp tại Việt Bắcnhằm quán triệt tình hình nhiệm vụ mới, đề ra kế hoạch hoạt động vì hòa bình ởngoài nước và trong nước phục vụ cho giai đoạn cuối của cuộc kháng chiếnchống Pháp.

Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

Ngay sau khi miền Bắc được giải phóng (năm 1954), Ủy ban bảo vệ hòa bìnhthế giới của Việt Nam đã đề ra nhiệm vụ góp phần xây dựng miền Bắc và đấutranh hòa bình thống nhất đất nước Các hoạt động hòa bình hợp pháp trong các

đô thị miền Nam đã phát triển mạnh mẽ, mặc dù bị Mỹ - Diệm đàn áp dã man,nhất là phong trào hòa bình ở Sài Gòn – Chợ Lớn, với sự tham gia của nhiềunhân sĩ, trí thức nổi tiếng như luật sư Nguyễn Hữu Thọ, các giáo sư BửuDưỡng, Phạm Huy Thông…

Ủy ban phát động và thu được 5 triệu chữ ký hưởng ứng Tuyên bố Béclinđòi năm nước lớn ký Công ước hòa bình (1955), tham gia Hội nghị thế giớichống bom A-H đầu tiên ở Nhật Bản (tháng Tám 1955), bày tỏ sự nhiệt tình củanhân dân ta ủng hộ các sáng kiến hòa bình của các nước xã hội chủ nghĩa, đoànkết với các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, ủng hộ Năm nguyên tắc cùng tồntại hòa bình, tăng cường hữu nghị, hợp tác với nhân dân các nước Ủy ban đãtích cực góp phần mở rộng phong trào hòa bình, đoàn kết, hữu nghị trong cácnước Á – Phi Đáng chú ý là Ủy ban đã tham gia thành lập Tổ chức đoàn kếtnhân dân Á – Phi (AAPSO) tháng Giêng 1958, Ủy ban đoàn kết châu Á củaViệt Nam tháng Mười 1956 (đổi thành Ủy ban đoàn kết nhân dân Á – Phi củaViệt Nam tháng Giêng 1958) và Hội quốc tế ngữ bảo vệ hòa bình của Việt Namtháng Hai 1956

Trong khi Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm ra sức phá hoại Hiệp địnhGiơnevơ, Ủy ban bảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam đã tổ chức Đại hộinhân dân Việt Nam bảo vệ hòa bình lần thứ ba, với gần một nghìn đại biểu tham

dự, để quán triệt tình hình nhiệm vụ mới, góp phần đẩy mạnh cuộc đấu tranhhòa bình thống nhất đất nước, xây dựng miền Bắc, bảo vệ hòa bình thế giới

Vào đầu những năm 1960, các hoạt động của Ủy ban đã góp phần giữ gìn

sự đoàn kết của các phong trào hòa bình trong hệ thống các nước xã hội chủnghĩa, chống tư tưởng khuynh xét lại, củng cố quan điểm chống đế quốc trongphong trào hòa bình thế giới Khi Mỹ đẩy mạnh chiến tranh xâm lược ở miềnNam năm 1962, Ủy ban đã tổ chức Đại hội hòa bình lần thứ tư, quán triệt nhiệm

vụ đẩy mạnh phong trào hòa bình, đánh thắng chiến tranh đặc biệt của Mỹ ởmiền Nam Ủy ban đã phối hợp với các đoàn thể quần chúng vận động quốc tế,tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ rộng rãi của nhân dân các nước đối với cuộcđấu tranh chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, từng bước góp phần vận động

Trang 36

hình thành trên thực tế mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ nhân dân Việt Namchống đế quốc Mỹ xâm lược.

thế giới đã tổ chức nhiều hoạt động đoàn kết với Việt Nam, coi đoàn kếtvới Việt Nam là nhiệm vụ hàng đầu của phong trào hòa bình thế giới Các đạihội của Hội đồng đều có nghị quyết ủng hộ, đoàn kết với nhân dân Việt Nam

Ủy ban bảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam đã cử đại biểu tiếp xúc vớiđại diện phong trào hòa bình Mỹ, tạo điều kiện cho việc vận động nhân dân tiến

bộ Mỹ ủng hộ nhân dân Việt Nam, hình thành trong phong trào phản chiến đòiChính phủ Mỹ chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược và tội ác ở Việt Nam

Thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội trong cả nước

và bảo vệ tổ quốc

Uỷ ban bảo vệ hoà bình thế giới của Việt Nam tham gia tích cực côngcuộc xây dựng và bảo vệ đất nước cũng như phong trào hoà bình thế giới, gópphần nêu cao chính sách đối ngoại hoà bình của Việt Nam Uỷ ban đã tranh thủđược nhiều dự án viện trợ nhân đạo khắc phục hạu quả chiến tranh và khôi phụckinh tế của các tổ chức hoà bình và tổ chức phi chính phủ nước ngoài; từ năm

1972 đến 1978 đã vận động được khoảng 30 triệu đô la, kịp thời vận động pháttriển hoà bình thế giới và một số nước lên tiếng ủng hộ nhân dân Việt Namtrong cuộc chiến tranh biên giới phía Tây Nam và biên giới phía Bắc

Bước vào thời kỳ đổi mới của đất nước, tháng Năm 1988 Uỷ ban bảo vệhoà bình thế giới của Việt Nam đã đổi tên thành Uỷ ban hoà bình Việt Nam.Cũng trong năm đó, Uỷ ban đã phát động chiến dịch lấy chữ kí hưởng ứngTuyên bố Hiroosima và Nagaxaki đòi thủ tiêu vũ khí hạt nhân và đã thu đượchơn 30 triệu chữ kí Từ đó, hoạt động này đã được tiến hành hàng năm

Uỷ ban đã mở rộng từng bước nội dung, phương hướng hoạt động và tổchức: kết hợp hoạt động hoà bình với hoạt động hữu nghị, đoàn kết và vận độngviện trợ nhân dân; huy động sự tham gia rộng rãi của quần chúng trong các hoạtđộng hoà bình Cùng với vc giữ vững quan hệ với Hội đồng Hoà bình thế giới

và các ủy ban hoà bình quốc gia thuộc Hội đồng Hoà bình thế giới, hưởng ứngtích cực các tuyên bố liên quan đến hoà bình của Liên hợp quốc như tuyên bốnăm 1986 – Năm quốc tế hoà bình, Thập kỷ hoà bình 1986 – 1996, năm 2000 –Năm văn hoá hoà bình

Uỷ ban hoà bình Việt Nam đã góp phần củng cố Uỷ ban hoà bình ở địaphương (Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh), phối hợp đưacác hoạt động hoà bình xuống cơ sở, tổ chức nhiều hoạ động quần chúng vì hoàbình: lấy chữ ky, chạy phong trào vì hoà bình, đua xe vì hoà bình, giao lưu tiếnghát hoà bình, môi trường vì hoà bình và giáo dục văn hoá hoà bình

Uỷ ban hoà bình Việt Nam đã cùng với ub 10 – 80 vận động tổ chứcLàng hoà bình Đức viện trợ khoảng 3 – 4 triệu DM xây dựng hệ thống gồm 11làng hoà bình ở cá địa phương để chữa bệnh và nuôi dưỡng các nạn nhân chất

Trang 37

độc da cam, nhất là trẻ em Uỷ ban đã vận động các tổ chức cựu chiến binh vìhoà bình và các tổ chức hoà bình nhiều nước đóng góp xây dựng Làng hữu nghịVân Canh từ năm 1994 do hội cưu chiến binh Việt Nam quản lý, trị giá 2 triệuUSD để nuôi dưỡng các đối tượng chính sách bị nhiễm chất độc da cam khôngnơi nương tựa Trong nhiều năm, Uỷ ban đã vận động tặng gần 100 triệu đồnglàm học bổng cho 600 học sinh nghèo vượt khó của nhiều trường ở nông thôn

và miền núi và có nhiều đóng góp vào các hoạt động nhân đạo, từ thiện khác

Trải qua hơn 50 năm hoạt động liên tục, Uỷ ban hoà bình Việt Nam đãhoàn thành tốt nhiệm vụ của một tổ chức chính trị - xã hội có chức năng chủyếu là hoạt động đối ngoại nhân dân đa phương vì hoà bình dưới ánh sang cử tưtưởng Hồ Chí Minh, sự lãnh đạo trực tiếp của ban Chấp hành Trung ương Đảng

Uỷ ban đã góp phần vào việc vận động nhân dân ta giữ gìn hoà bình của đấtnước và làm cho nhân dân thế giới hiểu biết, yêu mến, ủng hộ và giúp đõ nhândân ta, đóng góp vào việc nâng cao vị trí của Việt Nam trong cộng đồng quốc

tế Uỷ ban có quan hệ với hàng trăm tổ chức và phong trào hoà bình quốc tế vàquốc gia

Bạn bè quốc tế đánh giá cao vị trí và vai trò của Uỷ ban hoà bình ViệtNam trong phong trào hoà bình thế giới Trong những năm Hội đồng Hoà bìnhthế giới gặp khó khăn về đường lối, tổ chức và tài chính do tác động của khủnghoảng và sưh tan dã của Liên Xô, sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở cácnước Đông Âu, Uỷ ban hoà bình Việt Nam đã cùng với phong trào hoà bình ởnhiều nước tích cực duy trì và củng cố Hội đồng hoà bình thế giới, giữ vữngmục tiêu bảo vệ hoà bình, chống đế quốc, thực dân, bảo vệ những giá trị hoàbình chân chính

MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG NHIỆM VỤ CỦA PHONG TRÀO HOÀBÌNH Ở VIỆT NAM

Báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ IX của Đảng nêu ra nhận định:

“Trong một vài thập kỷ tới, ít có khả năng xảy ra chiến tranh thế giới Nhưngchiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, tôn giáo, chạy đưa vũtrang, hoạt động can thiệp lật đổ, khủng bố còn xảy ra ở nhiều nơi với tính chấtphức tạp ngày càng gia tăng Hoà bình, hợp tác và phát triển là xu thế lớn, phảnánh đòi hỏi, bức xúc của các quốc gia, dân tộc Cuộc đấu tranh vì hoà bình, độclập dân tộc, dân chủ, dân sinh, tiến bộ và công bằng xã hội sẽ có những bướctiến mới”9

Báo cáo chính trị đề ra nhiệm vụ đối ngoại trong thời gian tới: “Tiếp tụcgiữ vững môi trường hoà bình và tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi để đẩymạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xâydựng và bảo vệ tổ quốc, bảo đảm độc lập và chủ quyền quốc gia, đồng thời góp

9 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

2001, tr 65 - 66.

Trang 38

phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độclập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”10.

Nhiệm vụ đối ngoại do Đại hội IX đề ra là định hướng cho nhiệm vụ củaphong trào hoà bình và Uỷ ban hoà bình Việt Nam trong những năm sắp tới

Cụ thể, Uỷ ban hoà bình Việt Nam có nhiệm vụ:

- Phát huy truyền thống yêu hoà bình của dann tộc trong nhân dân ta, họctập và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về hoà bình để tăng cường các hoạtđộng hoà bình của nhân dân, đóng góp vào việc tạo ra và giữ vững môi trườnghoà bình, ổn định để thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh côngnghiệp hoá, hiện đại hoá, đất nước, xây dựng và bảo vệ nước Việt Nam hoàbình, dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh; góp phần tíchcực vào phong trào hoà bình thế giới

- Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, làm cho hoạt động

vì hoà bình trở thành phong trào quần chúng rộng rãi, thiết thực phục vụ sựnghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước và sự nghiệp hoà bình thế giới Tăngcường hoạt động hoà bình ở cơ sở Gắn các hoạt động vì hoà bình với các hoạtđộng đoàn kết, hữu nghị của các Uỷ ban đoàn kết và hữu nghị, các đoàn thểnhân dân, tổ chức xã hội,…gắn các hoạt động vì hoà bình với hoạt động trnhthủ viện trợ nhân dân; đưa nội dung hoà bình vào các hoạt động văn hoá, giáodục, nghệ thuật, du lịch

Gắn hoạt động vì hoà bình trong nước với hoạt động chung của nhân dânthế giới vì hoà bình, đòi giải trừ quân bị, nhất là vũ khí hạt nhân và các vũ khígiết người hàng loạt khác, chấm dứt chạy đua vũ trang, chống xâm lược và canthiệp, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh thế giới, giải quyết các xung đột khu vựcbẳng biện pháp hoà bình, thúc đẩy xu thế hoà bình, hợp tác và phát triển, giảiquyết các vấn đề toàn cầu, dân chủ hoá Liên hợp quốc và các quan hệ quốc tế…Tăng cường quan hệ phối hợp, đoàn kết với phong trào hoà bình thế giới, các tổchức và lực lược hoà bình các nước, chú ý mở rộng quan hệ hợp tác vì hoà bìnhvới nhân dân các nước láng giềng và các nước trong khu vực

- Kiện toàn Uỷ ban hoà bình Việt Nam về tổ chức, cán bộ và cơ sở vậtchất để làm nòng cốt cho các hoạt động hoà bình ở trong nước và ngoài nước;tăng cường công tác thông tin, nghiên cứu vì hoà bình; tăng cường quan hệ phốihợp giữa Uỷ ban hoà bình Việt Nam với các Uỷ ban hoà bình một số tỉnh, thànhphố

10 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

2001, tr 119 – 120.

Ngày đăng: 01/05/2021, 00:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w