1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐẢNG LÃNH ĐẠO HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2011

85 497 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 724,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm thế kỉ XXI hoạt động đối ngoại nhân dân của Đảng đã có sự thay đổi mới, nhiều hoạt động đối ngoại nhân dân được phát triển hơn cả về chiều rộng và chiều sâu, Đường lối đ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA LỊCH SỬ

************

NGUYỄN THỊ THẢO

ĐẢNG LÃNH ĐẠO HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN TỪ NĂM 1991

ĐẾN NĂM 2011

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học Th.s TRẦN THỊ THU HÀ

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian nghiên cứu và hoàn thành khóa luận, em đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ quý báu của các thầy, cô giáo trong khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 và sự động viên của gia đình, bạn bè Em xin chân thành cảm ơn

Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến cô giáo, Th.s Trần Thị Thu Hà đã tận tình hướng dẫn em suốt thời gian qua để em hoàn thành khóa luận

Do thời gian và trình độ nhận thức còn hạn chế, mặc dù đã rất cố gắng nhưng những vẫn đề em trình bày trong khóa luận cũng không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, em kính mong nhận được sự chỉ bảo tận tình của các thầy, cô giáo và sự đóng góp ý kiến của các bạn để khóa luận của em có thể hoàn thiện hơn nữa

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 4 tháng 5 năm 2015

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Thảo

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những vấn đề tôi trình bày trong khóa luận là kết quả nghiên cứu của bản thân tôi, được sự hướng dẫn tận tình của cô giáo Trần Thị Thu Hà, không trùng với kết quả của các công tình nghiên cứu khác

Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm!

Hà Nội, ngày 4 tháng 5 năm 2015

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Thảo

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

APEC : Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương ASEAN : Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á

ARF : Diễn đàn khu vực ASEAN

AU : Liên minh Châu Phi

BCHTƯ : Ban Chấp hành Trung ương

TCPCPNN : Tổ chức phi chính phủ nước ngoài

PACCOM : Ban Điều phối viện trợ nhân dân

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 3

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 4

5 Đóng góp của khóa luận 5

6 Bố cục của khóa luận 5

NỘI DUNG 7

Chương 1 ĐẢNG LÃNH ĐẠO HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2001 7

1.1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN CỦA ĐẢNG 7

1.1.1 Cơ sở lý luận 7

1.1.1.1 Chủ nghĩa Mác – Lênin 7

1.1.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh 8

1.1.2 Cơ sở thực tiễn 12

1.1.2.1 Bối cảnh quốc tế 12

1.1.2.2 Bối cảnh trong nước 15

1.2 QUAN ĐIỂM CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VỀ ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2001 16

1.2.1 Quan điểm chủ trương của Đảng về đối ngoại và đối ngoại nhân dân 16

1.2.2 Đổi mới cơ cấu tổ chức và hoạt động đối ngoại nhân dân 20

1.3 ĐẢNG LÃNH ĐẠO HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2001 25

1.3.1 Phong trào hòa bình 25

Trang 6

1.3.2 Phong trào đoàn kết nhân dân Á – Phi – Mỹ Latinh 27

1.3.3 Hoạt động hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân các nước 29

1.3.4 Công tác vận động phi chính phủ nước ngoài 31

Chương 2 ĐẢNG LÃNH ĐẠO HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2011 36

2.1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ 36

2.1.1 Bối cảnh quốc tế 36

2.1.2 Bối cảnh trong nước 37

2.2 TIẾP TỤC ĐỔI MỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN PHỤC VỤ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ (2001 – 2011) 39

2.2.1 Bước phát triển mới trong quan điểm, chủ trương của Đảng về đối ngoại và đối ngoại nhân dân 39

2.2.2 Hoàn thiện một bước cơ cấu bộ máy hoạt động đối ngoại nhân dân 43

2.3 MỞ RỘNG VÀ ĐA DẠNG HÓA HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN GIAI ĐOẠN (2001 – 2011) 47

2.3.1 Phong trào hòa bình, đoàn kết và vấn đề chất độc da cam (điôxin) 47

2.3.1.1 Phong trào hòa bình 47

2.3.1.2 Phong trào đoàn kết nhân dân Á – Phi – Mỹ Latinh 48

2.3.1.3 Vấn đề chất độc da cam (điôxin) 49

2.3.2 Hoạt động hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân các nước 52

2.3.3 Công tác vận động viện trợ phi chính phủ nước ngoài 58

Trang 7

2.3.4 Công tác đối ngoại tôn giáo, nhân quyền 62

Chương 3 NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM 67

3.1 NHẬN XÉT 67

3.1.1 Ưu điểm 67

3.1.2 Hạn chế 70

3.2 MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM 71

KẾT LUẬN 75

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong quá trình hình thành và phát triển của mỗi quốc gia, nhân tố quốc tế luôn giữ một vai trò quan trọng Không một quốc gia nào có thể tồn tại và phát triển được nếu không có quan hệ với thế giới bên ngoài

Đầu thập niên 90 đến những năm đầu của thế kỷ XXI, kinh tế tri thức ngày càng phát triển, cuộc cách mạng khoa học và công nghiệp có những bước phát triển nhảy vọt, thúc đẩy xã hội hóa vật chất phát triển, đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế, phát triển nhiều ngành kinh tế mới Cải cách và mở cửa xuất hiện như một trào lưu tại nhiều nước trên thế giới Toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập quốc tế mang lại cơ hội cho nhiều nước và khu vực, đồng thời cũng đặt ra những thách thức gay gắt đối với tất cả các nước, nhất là những nước đang và kém phát triển

Trong lịch sử quan hệ quốc tế của Việt Nam, ta đã tiến hành các hoạt động ngoại giao dưới nhiều hình thức khác nhau Trong đó, đối ngoại nhân dân là bộ phận cấu thành quan trọng của mặt trận ngoại giao nước nhà, góp phần thực hiện nhiệm vụ, đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, phục vụ sự nghiệp cách mạng Việt Nam Trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc, công tác đối ngoại nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng đã tạo nên mặt trận đoàn kết rộng rãi chưa từng có của nhân dân thế giới ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân ta, đóng góp

to lớn vào thắng lợi cuối cùng của sự nghiệp thống nhất đất nước Bước sang những

năm đầu thế kỉ XXI, tình hình thế giới có những diễn biến hết sức phức tạp, khó lường và xuất hiện những yếu tố bất lợi cho cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội Các thế lực thù địch gia tăng chính sách cường quyền, áp đặt, can thiệp thô bạo vào chủ quyền của các quốc gia – dân tộc, sự bùng phát của các cuộc xung đột sắc tộc, tôn giáo, chủ nghĩa khủng bố, nhiều quốc gia rơi vào tình trạng mất ổn định chính trị, khủng hoảng kinh

tế - xã hội Hậu quả tiêu cực của toàn cầu hóa dẫn tới tình trạng bất bình đẳng, phân hóa giàu nghèo trên thế giới và trong phạm vi các quốc gia ngày càng sâu sắc Ở

Trang 9

trong nước các thế lực thù địch ráo riết thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” và tăng cường chống phá cách mạng Việt Nam bằng nhiều phương thức, kể cả thông qua con đường quan hệ nhân dân và hoạt động của các tổ chức phi chính phủ… Tình hình đó gây cản trở đến việc mở rộng hoạt động đối ngoại nhân dân Do đó tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đối ngoại nói chung, đối ngoại nhân dân nói riêng là yêu cầu cấp thiết đặt ra trong bối cảnh đất nước đang trên con đường đổi mới và hội nhập quốc tế

Ngày nay trong điều kiện mới, nhiệm vụ mới nhằm phát huy những thành tựu đã đạt được, các kỳ Đại hội của Đảng trong thời kỳ đổi mới từng bước đề ra những đường lối, chủ trương đúng đắn lãnh đạo công tác đối ngoại nhân dân góp phần quan trọng tạo ra thế và lực mới cho đất nước bước vào thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chủ động hội nhập quốc tế đạt được những thành công vững chắc Tìm hiểu về đổi mới toàn diện quá trình lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động đối ngoại nhân dân thời kì từ năm 1991 đến năm 2011, từ đó khẳng định những ưu điểm, chỉ ra những hạn chế và bước đầu đúc kết một số kinh nghiệm qua thực tiễn lãnh đạo hoạt động đối ngoại nhân dân của Đảng là việc làm cần thiết, có

ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc nhằm không ngừng đẩy mạnh hoạt động đối

ngoại nhân dân trong những thập kỷ tới Do đó, em chọn đề tài “Đảng lãnh đạo

hoạt động đối ngoại nhân dân từ năm 1991 đến năm 2011” làm khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Đối ngoại nhân dân là một trong những hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước góp phần tạo môi trường hòa bình, hữu nghị, ổn định để phát triển đất nước Do đó, ở Việt Nam đã có nhiều ấn phẩm và công trình nghiên cứu về hoạt

động đối ngoại nhân dân Tiêu biểu như cuốn sách “Hoạt động đối ngoại nhân dân

Việt Nam”, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, năm 2003, do Liên hiệp các tổ chức hữu

nghị Việt Nam biên soạn Cuốn sách đã trình bày các hoạt động ngoại giao nhân dân của Việt Nam từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời năm 1945 đến

thời kì đất nước hòa bình, ổn định và phát triển năm 2003 Cuốn “Đối ngoại Việt

Trang 10

Nam thời kì đổi mới” Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, năm 2005, cuốn sách đã trình

bày các quan điểm, chủ trương của hoạt động đối ngoại từ khi thự hiện đường lối ngoại thời kì đổi mới (từ năm 1986), qua đó để thấy được đường lối đối ngoại của

Đảng là đúng đắn Bài viết “Công tác đối ngoại nhân dân” Tạp chí lý luận chính trị, tháng 3/2006, trang 20 – 25, “Hoạt động đối ngoại nhân dân những năm đầu thế

kỉ XXI” của Lê Thị Tình, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 7/2009 Trong những năm thế kỉ

XXI hoạt động đối ngoại nhân dân của Đảng đã có sự thay đổi mới, nhiều hoạt động đối ngoại nhân dân được phát triển hơn cả về chiều rộng và chiều sâu, Đường lối đối ngoại của Đảng ngày càng phù hợp với sự phát triển của đất nước cũng như thế

giơi.“Việt Nam trong thế giới của thập kỉ thứ hai thế kỉ XXI”, Nguyễn Trung, Tạp

chí nghiên cứu và thảo luận, số 18, tháng 3/2010, quá trình Việt Nam ra hội nhập cùng thế giới đạt được nhiều thành công vững chắc, quan hệ hữu nghị của Việt Nam

với các nước được mở rộng hơn Luận án “ Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hoạt

động đối ngoại nhân dân từ năm 1986 - 2006” Lê Thị Tình, Học viện Chính trị

hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2012, Luận án cho thấy quan điểm và chủ trương của Đảng về đối ngoại nhân dân ngày càng đổi mới và phát triển, cùng với

nhiều hoạt động đối ngoại nhân dân phi chính phủ mới hơn Luận văn “Ngoại giao

nhân dân theo phong cách Hồ Chí Minh” Phạm Thị Huyền Trang, Học viện Ngoại

giao, tháng 7/2013, Tư tưởng ngoại giao nhân dân của Hồ Chí Minh được trình bày

cụ thể, qua đó thấy được tầm nhìn chiến lược của Đảng trong vấn đề đối ngoại nhân dân hiện nay… Như vậy, đã có nhiều công trình đề cập đến đối ngoại nhân dân của Đảng ta từ nhiều cách tiếp cận khác nhau Và hoạt động đối ngoại nhân dân của Đảng xuyên suốt thời kì từ năm 1991 đến năm 2011 là vấn đề chưa được khai thác sâu, trên cơ sở kế thừa, tiếp thu các đề tài nghiên cứu trước, khóa luận sẽ đi sâu khai thác để thấy rõ sự sáng suốt, tài tình của Đảng trong vấn đề đối ngoại nhân dân từ năm 1991 đến năm 2011

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục đích

Trang 11

Làm rõ chủ trương, chính sách của Đảng ta trên lĩnh vực đối ngoại nhân dân giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2011 và rút ra những kinh nghiệm về sự lãnh đạo hoạt động đối ngoại nhân dân Hệ thống hóa, khái quát hóa những tư liệu đã có, bổ sung thêm một số tư liệu mới để làm sáng tỏ vấn đề này

- Tổng kết những kinh nghiệm bước đầu của Đảng trong lãnh đạo hoạt động đối ngoại nhân dân

3.3 Phạm vi nghiên cứu

- Về thời gian: Khóa luận tập trung nghiên cứu từ năm 1991 đến 2011, tức là

từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (6/1991) đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (1/2011) của Đảng

- Về không gian: Sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động đối ngoại nhân dân

bao gồm rất nhiều nội dung Đặc biệt trong thời kì hội nhập quốc tế, thì nội dung hoạt động đối ngoại nhân dân diễn ra rất phong phú, thể hiện trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Tuy nhiên do khả năng của tác giả và trong khuôn khổ của một khóa luận tốt nghiệp chuyên nghành Lịch sử Đảng, đề tài chỉ đề cập đến vài mặt nổi trội của hoạt động này trong từng giai đoạn để minh họa cho việc hiện thực hóa chủ trương, chính sách đối ngoại nhân dân của Đảng vào trong thực tiễn cuộc sống, xã hội

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tư liệu

Khóa luận được thực hiện trên cơ sở tham khảo, sử dụng, kế thừa và tiếp thu các nguồn tư liệu: Các văn kiện Đảng qua các kỳ Đại hội; Các tài liệu lưu trữ của

Trang 12

Bộ Ngoại giao, Ban Đối ngoại Trung ương; những bài nói, bài viết của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, Bộ Ngoại giao; Một số sách, báo, tạp chí về đối ngoại

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình giải quyết những nhiệm vụ đề ra, khóa luận quán triệt và tuân thủ hệ thống quan điểm, nguyên lý, phương pháp luận cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về quan hệ quốc tế và đường lối đối ngoại

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng, phương pháp nghiên cứu chủ yếu của khóa luận là phương pháp lịch sử và phương pháp logic Ngoài ra, khóa luận còn sử dụng một số phương pháp khác như: phân tích, tổng hợp, so sánh…

5 Đóng góp của khóa luận

5.1 Về mặt lý luận

Tái hiện những nét chính yếu quá trình hoạch định và lãnh đạo thực hiện đường lối đối ngoại nhân dân của Đảng từ năm 1991 đến năm 2011 Khóa luận đã góp phần bổ sung, phát triển và làm phong phú thêm kiến thức lý thuyết của vấn đề đối ngoại nhân dân trong thời kì mới

6 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, khóa luận gồm 3 chương: Chương 1: Đảng lãnh đạo hoạt động động đối ngoại nhân dân từ năm 1991

đến năm 2001

Trang 13

Chương 2: Đảng lãnh đạo hoạt động đối ngoại nhân dân từ năm 2001 đến

năm 2011

Chương 3: Nhận xét và một số bài học kinh nghiệm

Trang 14

NỘI DUNG

Chương 1 ĐẢNG LÃNH ĐẠO HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN

Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng tư tưởng

lý luận, những quy định của Đảng trên lĩnh vực đối ngoại cũng được xây dựng trên nền tảng lý luận này

C.Mác, Ănghen, Lênin không trực tiếp đề cập đến vấn đề đối ngoại nhân dân Nhưng theo quan điểm chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch

sử của chủ nghĩa Mác, quần chúng nhân dân làm ra lịch sử Lịch sử xã hội là lịch sử của con người do chính con người tạo ra thông qua hoạt động tồn tại và chủ yếu là hoạt động sáng tạo của mình Quan hệ giữa các dân tộc, các quốc gia bắt đầu từ sự trao đổi sản phẩm thừa giữa các bộ lạc và trải qua các thời kì lịch sử mở rộng về không gian và lĩnh vực (buôn bán, giao lưu hữu nghị, hiểu biết lẫn nhau và hòa bình, giao lưu văn hóa…)

Trong một nước, dân là gốc Đường lối chính trị và chính sách đối ngoại của chính phủ một nước có đáp ứng được nhu cầu, lợi ích và nguyện vọng của nhân dân thì mới được nhân dân chấp nhận, thực hiện và mới có hiệu quả Thái độ của nhân dân có tác động quyết định đối với sự tồn tại và khả năng hoạt động của chính phủ

V.I.Lênin từ nhận thức về vai trò của nhân dân ngày càng tăng trong lịch sử

đã đi đến kết luận về ảnh hưởng ngày càng mạnh mẽ của các dân tộc đối với chính sách đối ngoại của các quốc gia Trong quá trình hoạt động cách mạng, Lênin rất

Trang 15

coi trọng công tác vận động quốc tế ủng hộ cách mạng và nhân dân nước Nga, đặc biệt là vận động nhân dân, các cá nhân và tổ chức chính trị - xã hội các nước Sau Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, Lênin đã cùng với Đảng và Nhà nước Xô Viết, các đảng anh em ở các nước, vận động phong trào nhân dân rộng lớn ủng hộ

và bảo vệ chính quyền Xô Viết Hoạt động đối ngoại nhân dân (ngoại giao nhân dân) của nước Nga Xô Viết và sau đó là Liên Xô đã góp phần quan trọng thực hiện các nguyên tắc đối ngoại của Nhà nước Xô Viết, chủ yếu là nguyên tắc chủ nghĩa quốc tế vô sản và nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình giữa các nước có chế độ chính trị khác nhau [10, tr.9]

Như vậy, mặc dù C.Mác, Ănghen, Lênin không đề cập trực tiếp đến đối ngoại nhân dân nhưng ta cũng có thể hiểu C.Mác, Ănghen, Lênin đều cho rằng trong ngoại giao thì đối ngoại nhân dân có vị trí rất quan trọng Tiếp thu triết học Mác – Lênin một cách sáng tạo, Đảng ta đã và đang xây dựng một đường lối đối ngoại nhân dân hữu nghị, hòa bình, hợp tác mang đặc trưng riêng của CNXH

1.1.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh

“Đối ngoại nhân dân” hay “ngoại giao nhân dân” là khái niệm chỉ những hoạt động đối ngoại do các tổ chức đoàn thể quần chúng, chính trị - xã hội, nghề nghiệp và cá nhân tiến hành không với danh nghĩa đại diện cho Nhà nước

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đối ngoại (hay ngoại giao nhân dân) là lực lượng, binh chủng quan trọng của mặt trận ngoại giao Đó là công việc của nhiều

nghành, nhiều cấp: “Ta có hai mặt công tác quan trọng là nội chính và ngoại

giao… Đây không phải chỉ là các đại sứ quán, tổng lãnh sự quán là những cơ quan chuyên môn phụ trách, mà còn các tổ chức khác như ngoại thương, văn hóa, thanh niên, phụ nữ, công đoàn cũng đều làm ngoại giao cả” [11, tr.168]

- Hoạt động đối ngoại trong tư tưởng Hồ Chí Minh:

Thứ nhất, Độc lập tự chủ, tự lực tự cường, tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, hợp tác bình đẳng Đây là nội dung cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh, thể hiện nhất quán toàn bộ

quá trình hoạt động cách mạng của Người trong hoạt động đối ngoại, được Người

Trang 16

đúc kết thành chân lý của thời đại: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”; “Chúng ta

thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” [11, tr.480]

Trong quan hệ quốc tế, Người nhấn mạnh phải có thực lực, thực lực là cái chiêng, ngoại giao là cái tiếng, chiêng có to tiếng mới lớn Muốn tranh thủ được sự ủng hộ quốc tế, Đảng phải có đường lối độc lập tự chủ đúng đắn Tư tưởng độc lập

tự chủ và tự lực tự cường trong tư tưởng Hồ Chí Minh xa lạ với sự biệt lập và chủ nghĩa biệt phái Để chiến thắng kẻ thù mạnh hơn mình gấp nhiều lần trong bối cảnh thời đại mới, Hồ Chí Minh luôn chủ trương tăng cường đoàn kết và tranh thủ sự hợp tác quốc tế và coi đây là một vấn đề có tầm chiến lược hàng đầu trong đường lối cách mạng Việt Nam, nhằm tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ quốc tế, làm tăng thêm khả năng tự lực tự cường, tạo điều kiện làm chuyển biến so sánh lực lượng có lợi cho cách mạng Việt Nam

Thứ hai, Tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các dân tộc

Là một chiến sĩ quốc tế chân chính Hồ Chí Minh không chỉ đấu tranh cho độc lập của dân tộc mình, mà còn đấu tranh cho độc lập của tất cả các dân tộc khác Trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước láng giềng Lào, Campuchia, Trung Quốc cũng như với các quốc gia, dân tộc trên thế giới, Hồ Chí Minh thực hiện nhất quán quan điểm có tính nguyên tắc: Dân tộc Việt Nam tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và quyền tự quyết của tất cả các quốc gia, dân tộc trên thế giới, đồng thời mong muốn các quốc gia, dân tộc trên thế giới quan hệ hợp tác, hữu nghị với Việt Nam trên cơ sở những nguyên tắc đó

Thứ ba, Đoàn kết tập hợp tất cả các lực lượng có thể tập hợp được, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại trong hoạt động đối ngoại Xuất phát từ

nguyên lý chủ nghĩa Mác – Lênin và truyền thống văn hóa Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao vai trò, sức mạnh của đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế Theo Người, đoàn kết làm nên sức mạnh, đoàn kết làm nên thành công Trong hoạt động đối ngoại của mình, Người luôn tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân thế giới, cho cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam Tuy nhiên, trong đoàn

Trang 17

kết tập hợp lực lượng Người luôn phân biệt rõ đâu là bạn, đâu là kẻ thù để có kế sách đoàn kết phù hợp

Thứ tư, Đoàn kết quốc tế, thêm bạn bớt thù Xuất phát từ nguyên lý chủ

nghĩa Mác – Lênin trong việc xác định bạn thù trong quan hệ quốc tế và ngoại giao truyền thống Việt Nam – coi trọng sự hòa hiếu với tất cả các dân tộc, phân biệt giữa nhân dân và tập đoàn thống trị hiếu chiến của các nước Trong quan hệ đối ngoại, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn lấy hòa bình hữu nghị và đạo lý làm tiêu chí để phân biệt bạn thù, phân biệt dân tộc với bọn phản động, hiếu chiến trong chính phủ đối phương Đối với Người, ai làm gì lợi ích cho nhân dân, cho Tổ Quốc ta đều là bạn Bất kì ai làm điều gì có hại cho nhân dân và Tổ Quốc ta là kẻ thù

Trên cơ sở phân biệt rõ bạn, thù, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra phương châm trong quan hệ quốc tế là “thêm bạn, bớt thù”, “tránh đối đầu”, “không gây thù oán với một ai” và trong xử lý quan hệ với các nước phải làm sao “dàn xếp sao cho đại

sự thì thành tiểu sự và tiểu sự thì thành vô sự”

Có thể nói, nguyên tắc đoàn kết quốc tế, thêm bạn bớt thù, trong tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện rõ phương châm về đa dạng hóa quan hệ quốc tế, làm bạn với các nước dân chủ Đây là một tư tưởng vượt thời đại, xét bối cảnh phân cực sâu sắc của chính trị quốc tế từ sau chiến tranh thế giới thứ hai

- Phương thức hoạt động đối ngoại trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: trong hoạt động đối ngoại phải dựa vào sức mạnh nội lực – sức mạnh về kinh tế, chính trị, quân sự… của đất nước làm nền tảng Muốn thắng lợi trên mặt trận đối ngoại phải có thực lực làm cơ sở, do đó, việc xây dựng thực lực về chính trị, kinh tế, quân sự của đất nước – sức mạnh nội lực là hết sức quan trọng, quyết định sự thành công của hoạt động đối ngoại Phải phối hợp ngoại giao với chính trị, quân sự thông qua hoạt động quốc tế của Đảng, ngoại giao của Nhà nước và ngoại giao nhân dân, tạo nên sức mạnh tổng hợp để giành thắng lợi Thắng lợi trên mặt trận đối, ngoại giao

sẽ tạo tiền đề, điều kiện để tăng thực lực cách mạng, tạo “thế” cho đất nước trong quan hệ chính trị quốc tế

Trang 18

Trong quan hệ đối ngoại, phải biết lợi dụng mâu thuẫn của kẻ thù để phân hóa kẻ thù, sao cho ít kẻ thù nhất, nhiều bầu bạn nhất Phải biết thắng từng bước,

“kết hợp giữa đánh và đàm” để xây dựng và chuyển hóa lực lượng tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn Tuy nhiên, sử dựng phương thức “vừa đánh, vừa đàm” là một vấn đề nghệ thuật Trong kháng chiến chống Mỹ, Đảng ta đứng đầu là nhà ngoại giao bậc thầy Hồ Chí Minhthường nhắc nhở rằng: Chúng ta cần nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, chống tư tưởng sợ Mỹ, tư tưởng đàm phán khi chưa có điều kiện thuận lợi, muốn kết thúc chiến tranh với bất cứ giá nào, tư tưởng ỷ lại vào sự giúp

đỡ của nước ngoài, không tin tưởng vào sức mình

Chính việc sử dụng đa dạng, linh hoạt, phong phú nhiều phương thức đối ngoại khác nhau, mà Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát huy hết sức mạnh của dân tộc và sức mạnh của thời đại vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, đưa đến thành công của cách mạng Việt Nam

- Đối tác của hoạt động đối ngoại trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Một trong những nguyên tắc trong quan hệ quốc tế song phương hay đa phương mà chủ nghĩa Mác – Lênin đưa ra từ rất sớm, đó là việc phải xác định được đối tác mà mình định xây dựng quan hệ: là bạn, là đồng minh, hay kẻ thù Trên cơ

sở đó, xây dựng chủ trương, đường lối và mục tiêu với từng đối tác cụ thể Khi xác định đúng bản chất của đối tác, kể cả đó là kẻ thù, những người cộng sản không phải chỉ biết thủ tiêu mối quan hệ, mà trái lại phải duy trì mối quan hệ với các đối tác đó, trên nguyên tắc đã được xác định sao cho quyền lợi dân tộc và mục tiêu cuối cùng của cách mạng không bị xâm hại

Trên nền tảng tư tưởng đó, với tư tưởng đa dạng hóa quan hệ quốc tế, làm bạn với tất cả các nước dân chủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mở rộng biên độ đối tác trong hoạt động đối ngoại không chỉ đối với các đảng phái, Chính phủ của các nước, mà còn với các cá nhân, thuộc các tầng lớp, nghề nghiệp có khuynh hướng chính trị khác nhau, đến các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức phi chính phủ có tình cảm với Việt Nam trên toàn thế giới, ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta

Trang 19

Đối với chính phủ các nước, bạn bè quốc tế trong phe xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh thể hiện tình cảm chân thành “vừa là đồng chí, vừa là anh em” trên tinh thần trong sáng, thủy chung, phát huy đoàn kết, hữu nghị, hợp tác “có lý”, “có tình”

Đối với đối phương, Hồ Chí Minh đấu tranh cho lý lẽ, đề cao chính nghĩa, lẽ phải, thức tỉnh lương tâm, đồng thời tỏ rõ lòng mong muốn hòa bình, hợp tác cùng

có lợi, quan tâm đến lợi ích chính đáng của đối phương về lợi ích kinh tế, văn hóa Phân biệt rõ bạn thù, nhân dân với bọn hiếu chiến trong giới cầm quyền đối phương

Những tình cảm chân thành của Hồ Chí Minh với các đối tác, góp phần làm sâu sắc thêm truyền thống ngoại giao hòa hiếu, nhân nghĩa của dân tộc Tập hợp được rộng rãi các lượng yêu chuộng hòa bình trên thế giới ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam đi đến thắng lợi

- Phong cách Hồ Chí Minh trong ngoại giao nhân dân

Là toàn bộ các hoạt động của Hồ Chí Minh biểu hiện qua hệ giá trị và tư tưởng về ngoại giao nhân dân mang dấu ấn Hồ Chí Minh, trong đó có sự kết hợp hài hòa các giá trị truyền thống của dân tộc, văn hóa của Phương Đông và Phương Tây cùng việc vận dụng sáng tạo, có chọn lọc các tư tưởng tiến bộ của nhân loại thể hiện

ý chí, tư tưởng đó của Hồ Chí Minh Phong cách Hồ Chí Minh trong ngoại giao nhân dân bao gồm phong cách ứng xử, phong cách tư duy, phong cách biểu đạt trong hoạt động ngoại giao nhân dân của Người

Trong bối cảnh đất nước bước vào thời kì hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, những nội dung tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị và

là ngọn cờ tư tưởng, lý luận để Đảng ta vạch ra đường lối đối ngoại đúng đắn đưa cách mạng nước ta đi đến đích cuối cùng – xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội,

“dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”

1.1.2 Cơ sở thực tiễn

1.1.2.1 Bối cảnh quốc tế

Trong những năm 1991 đến năm 2001, tình hình thế giới diễn biến hết sức nhanh chóng, phức tạp, có những đột biến lớn làm thay đổi cục diện chính trị thế

Trang 20

giới Các nước, các dân tộc đối diện nhiều vấn đề mới bao gồm những cơ hội, điều kiện thuận lợi để phát triển và cả những khó khăn, thách thức không nhỏ

Về tình hình chính trị: Vào đầu thập niên 90, một trật tự thế giới mới dần

được hình thành nguyên nhân là do sự sụp đổ của các nước Xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô (năm 1991) khiến trật tự thế giới hai cực tồn tại trong suốt nửa thế kỉ từ sau chiến tranh thế giới thứ hai chấm dứt Lực lượng trên thế giới thay đổi theo chiều hướng có lợi cho Mỹ và các nước tư bản phát triển, đẩy phong trào cách mạng thế giới vào tình thế bất lợi và khủng hoảng, thoái trào mang tính toàn cầu

Về tình hình kinh tế: Có những biến động lớn:

Thứ nhất, ưu tiên phát triển kinh tế trở thành một xu hướng chung của mọi

quốc gia dân tộc

Chiến tranh Lạnh tuy không phủ nhận vai trò kinh tế, song về cơ bản sức mạnh chính trị quân sự trở thành nhân tố chủ yếu đảm bảo vị trí cường quốc của một quốc gia Tuy nhiên, khi chiến tranh Lạnh kết thúc, hòa hoãn trong quan hệ quốc tế trở thành xu thế chủ đạo, cuộc chạy đua về kinh tế giữa các nước trên thế giới đang dần thay thế cho cuộc chạy đua về vũ trang Tất cả các nước trên thế giới đều điều chỉnh đường lối, tập trung sức phát triển kinh tế - xã hội, cố gắng ổn định kinh tế, đồng thời mở rộng cửa, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, tăng cường hợp tác với quốc tế nhằm đưa đất nước phát triển Như vậy, kinh tế đã trở thành nhân tố quyết định trong sức mạnh tổng hợp của mỗi quốc gia, đảm bảo vai trò vị trí của các quốc gia đó trong đời sống quốc tế

Thứ hai, xu hướng liên kết khu vực trở thành điểm nổi bật của kinh tế thế

giới

Quá trình hợp tác, liên kết và nhất thể hóa nền kinh tế khu vực diễn ra mạnh

mẽ và sôi động từ năm 1992 Nhiều tổ chức và diễn đàn kinh tế đa phương ở từng khu vực đã được hình thành như Mỹ hình thành khu vực tự do thương mại Bắc Mĩ (NAFTA); các nước ASEAN lập khu vực mậu dịch tự do AFTA… Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ và xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới… là động lực quan trọng thúc đẩy quá trình hợp tác, liên kết và nhất thể hóa nền kinh tế khu vực

Trang 21

Tuy nhiên, ở đầu thập niên 90, nền kinh tế thế giới vẫn trong tình trạng suy thoái và gặp không ít khó khăn thử thách Nguyên nhân chính do cuộc khủng hoảng vùng Vịnh, giá dầu lửa đã tác động mạnh đến kinh tế các nước, bên cạnh đó nguồn vốn đầu tư thiếu nghiêm trọng, tình trạng mắc nợ vẫn chưa được giải quyết về cơ bản, quan hệ kinh tế - thương mại còn nhiều hạn chế do bế tắc trong vòng thương lượng buôn bán quốc tế

Thứ ba, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bị khủng hoảng sâu sắc

về lý luận, đường lối, tổ chức và phong trào hoạt động do sự sụp đổ của các nước

Xã hội chủ nghĩa ở Châu Âu nhất là Liên Xô Trước yêu cầu đó buộc các tổ chức dân chủ quốc tế phải tìm cách đổi mới, chuyển hướng hành động gắn bó với lợi ích của quần chúng

Tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á từ cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 là một khu vực phát triển năng động, là nơi tập trung các nền kinh tế phát triển nhất thế giới Đặc biệt nền kinh tế Trung Quốc phát triển nhanh nhất thế giới với tỉ lệ tăng trưởng lên tới 9,5% trong thời kì từ 1978 đến năm 1996 [20, tr.13 -14] Đông Á trở thành khu vực có tốc độ tăng trưởng cao hàng đầu thế giới

Thứ tư, xu thế toàn cầu hóa và sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng

khoa học – công nghệ Toàn cầu hóa không chỉ là kết quả của sự phát triển lực

lượng sản xuất mà còn gắn với những thúc đẩy của quan hệ sản xuất Sự gắn kết giữa yêu cầu cao của xã hội hóa lực lượng sản xuất với những điều chỉnh về mặt quan hệ sản xuất càng thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa diễn ra nhanh hơn Xu thế vận động của toàn cầu hóa đang tạo điều kiện cho tất cả các nước – miễn là không

tự khép kín, đóng cửa – thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, tuyên truyền, quảng bá về nước mình, dân tộc mình đến với các nước, các dân tộc khác Đây là điểm thuận lợi, tích cực cho phần nhiều các nước đang mong muốn hiểu biết lẫn nhau, tiến tới hợp tác cùng phát triển Nhưng mặt khác cũng có thể nhận thấy rõ, đó

là không ít quốc gia, nhân danh toàn cầu hóa, nhân danh hợp tác, chia sẻ lợi ích…

Trang 22

để áp đặt, cưỡng bức hình ảnh, mô hình của nước mình, quốc gia mình đối với các nước khác, dân tộc khác

Bước chuyển biến của bối cảnh quốc tế còn gắn liền với sự phát triển mạnh

mẽ của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ Với bản chất của nó, toàn cầu hóa

và cuộc cách mạng khoa học - công nghệ tác động lẫn nhau, làm cho thế giới vận động liên tục và đều có một điểm chung đó là đang tạo ra những điều kiện để các quốc gia hướng đến xây dựng một nền kinh tế tri thức Những thành tựu khoa học mới và tốc độ quay vòng từ nghiên cứu khoa học tới việc ứng dụng tạo ra những hiệu quả và hiệu suất cực kỳ lớn trong hoạt động kinh tế - thương mại là nền tảng

cơ bản của nền kinh tế này

Như vậy, nhìn chung sau chiến tranh lạnh các quốc gia trên thế giới vừa tập trung ưu tiên giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội ở trong nước vừa đẩy mạnh đấu tranh giành lấy những điều kiện thuận lợi nhất để phát triển Do đó, xu thế hòa bình, hợp tác cùng phát triển, giải quyết mọi tranh chấp bất đồng thông qua đàm phán thương lượng chính trị trở thành xu thế chủ đạo trong đời sống quốc tế đương đại

1.1.2.2 Bối cảnh trong nước

Năm 1991, đánh dấu Việt Nam thực hiện sự nghiệp đổi mới gần được 5 năm, nhưng trên nhiều mặt vẫn gặp những khó khăn nghiêm trọng Trong khi đất nước chưa ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội thì chế độ XHCN ở Đông Âu sụp

đổ và Liên Xô tan rã Việt Nam mất gần như hoàn toàn chỗ dựa chính trị quốc tế, viện trợ kinh tế và quân sự, thị trường quốc tế Sản xuất suy giảm và đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn

Sau 10 năm thực hiện đường lối đổi mới (1986 – 1996) Việt Nam về cơ bản

đã thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng kéo dài Tình hình kinh

tế - xã hội đã đạt được những thành tựu quan trọng “trong vài năm trở lại đây, tỷ lệ nghèo đói ở Việt Nam đã giảm đi đáng kể… Tỷ lệ người dân có mức chi tiêu bình quân ở dưới ngưỡng nghèo chung đã giảm mạnh từ 58% năm 1993 xuống còn 37% vào năm 1998…” [20, tr.25] Từ chỗ thiếu ăn triền miên, năm 1988 phải nhập hơn

45 vạn tấn gạo đến năm 1998 đã xuất khẩu được 1,4 triệu tấn gạo, đứng hàng thứ ba

Trang 23

trên thế giới về xuất khẩu lương thực [21, tr55] Hàng hóa trên thị trường, nhất là hàng tiêu dùng ngày càng dồi dào, đa dạng, tiến bộ về mẫu mã và chất lượng Công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế được triển khía theo hướng tích cực, góp phần tạo môi trường hòa bình, ổn định và tăng thêm nguồn lực cho phát triển đất nước Quan

hệ quốc tế của Việt Nam tiếp tục được thúc đẩy mở rộng theo phương châm đa phương hóa, đa dạng hóa

Với hình ảnh của một nước vươn lên trong khó khăn, đạt được nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế, tình hình chính trị - xã hội ổn định tạo cho Việt Nam một hình ảnh về một quốc gia đang đổi mới, hữu nghị và mến khách

Trên lĩnh vực đối ngoại: Đạt được những thành tựu đáng kể, tạo môi trường

quốc tế thuận lợi hơn cho công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đẩy lùi

sự bao vây, cô lập của các thế lực thù địch đối với nước ta, nâng cao uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế

Mặc dù đạt được những thành tựu trên, nhưng đất nước ta vẫn còn gặp không

ít khó khăn trở ngại: Các nhân tố chưa ổn định và các vấn đề nóng bỏng còn nhiều, đất nước vẫn chưa ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, số người không có việc làm hoặc việc làm thất thường rất lớn, đời sống văn hóa tinh thần có biểu hiện suy thoái, chất lượng giáo dục giảm, nhiều giá trị đạo đức bị suy đồi…

Như vậy, với những yếu tố mới của bối cảnh quốc tế và trong nước xuất hiện, đòi hỏi Đảng phải đổi mới sự lãnh đạo, chủ động đón nhận thời cơ, tranh thủ vốn, khoa học – công nghệ hiện đại của thế giới để xây dựng đất nước vững mạnh

về mọi mặt, đồng thời chủ động ứng phó với những nguy cơ, thách thức mới

1.2 QUAN ĐIỂM CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VỀ ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2001

1.2.1 Quan điểm chủ trương của Đảng về đối ngoại và đối ngoại nhân dân

Bối cảnh quốc tế và trong nước đặt ra cho Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII (6/1991) nhiệm vụ lịch sử là tiếp tục khẳng định và hoàn thiện thêm đường lối đổi mới, tìm cách đưa đất nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, đồng thời ngăn chặn những ảnh hưởng xấu do tác động của việc CNXH ở Đông Âu và Liên

Trang 24

Xô đang tan rã từng phần, hoàn thành những đường nét cơ bản về con đường đi lên CNXH ở nước ta Thông qua “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên CNXH và chiến lược ổn định, phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000” Đại hội VII xác định mục tiêu tổng quát là vượt qua khó khăn, thử thách, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường ổn định chính trị, đẩy lùi tiêu cực và bất công xã hội, đua đất nước ta cơ bản ra khỏi tình trạng khủng hoảng

Nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu tổng quát nêu trên, trên cơ sở nhận thức sâu sắc hơn bối cảnh quốc tế và trong nước trước những diễn biến phức tạp của hệ thống XHCN thế giới, chính sách đối ngoại của Đảng được Đại hội đề ra là:

“Giữ vững hòa bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào sự nghiệp đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội” [3, tr.88]

Cũng tại Đại hội này, Đảng chủ trương hợp tác bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội khác nhau trên cơ sở

nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình bằng lời khẳng định: “Với chính sách đối ngoại

rộng mở, chúng ta tuyên bố rằng: Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển” [3, tr.147] Tuyên

bố này có ý nghĩa lịch sử to lớn, bởi nói được đưa ra trước khi Liên Xô – thành trì của CNXH, sụp đổ 6 tháng Điều này thể hiện tư duy nhạy bén, khoa học đối với thời cuộc cũng như tính độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng trong hoạch định đường lối Tuyên bố này đã đưa lại cho đất nước những kết quả quan trọng trong lĩnh vực đối ngoại trong giai đoạn tiếp theo

Với chủ trương đối ngoại nêu trên, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng đã tạo nên bước phát triển có tính đột phá trong nhận thức của Đảng về bài học kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong quá trình đổi mới

Sau Đại hội Đảng lần thứ VII, tình hình thế giới diễn biến ngày càng phức tạp và xấu đi một cách nhanh chóng Tháng 6/ 1992 (6 tháng sau khi Liên Xô tan rã

hệ thống XHCN thế giới sụp đổ), nhằm phát triển và cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội

Trang 25

VII, Hội nghị lần thứ ba của Ban Chấp hành Trung ương Khóa VII (6/1992) thông

qua nghi quyết “thời cuộc hiện nay và nhiệm vụ của chúng ta” khẳng định: “Công

tác đối ngoại ngày càng có vị trí quan trọng, góp phần kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, yếu tố dân tộc và yếu tố quốc tế, yếu tố truyền thống với yếu

tố hiện đại để đưa đất nước tiến lên” [3, tr.4] Phát huy những truyền thống đạt

được, Đảng đề ra nhiệm vụ đối ngoại:

Trong bối cảnh hiện nay, chúng ta càng phải mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại nhằm góp phần thực hiện mục tiêu tổng quát trong 5 năm (1991

– 1995) mà Đại hội VII đề ra: “Vượt qua khó khăn thử thách, ổn định và phát triển

kinh tế - xã hội, tăng cường ổn định chính trị, đẩy lùi tiêu cực và bất công xã hội, đưa nước ta cơ bản vượt qua khủng hoảng hiện nay” “Chúng ta gia sức giữ vững hòa bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo môi trường và điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời đóng góp tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ

xã hội” [3, tr.4-5]

Để thực hiện những nhiệm vụ đó, về công tác đối ngoại Đảng chỉ rõ: “Phải

có chính sách khôn khéo, cách làm có hiệu quả để mở rộng hợp tác với bên ngoài nhằm khai thác tốt nhất tiềm lực và lợi thế bên trong”

Vì vậy, chúng ta mở rộng “đa dạng hóa và đa phương hóa” quan hệ đối

ngoại cả về chính trị, kinh tế, văn hóa và khoa học - kĩ thuật, cả về Đảng, Nhà nước

và các đoàn thể nhân dân, các tổ chức phi chính phủ, trên nguyên tắc: “Tôn trọng

độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi, bảo vệ và phát triển kinh tế, giữ vững và phát huy những truyền thống và bản sắc tốt đẹp của nền văn hóa dân tộc” [3, tr.6]

Cũng trong văn kiện này, lần đầu tiên đối ngoại nhân dân được ghi rõ trong

Nghị quyết của Đảng với nhiệm vụ: “Mở rộng và đổi mới hoạt động đối ngoại nhân

dân nhằm giữ gìn hòa bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện quốc

tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc

Trang 26

lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội” theo tinh thần “Việt Nam muốn làm bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển” [3, tr.6]

Với những nội dung cơ bản trên về lĩnh vực đối ngoại, Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khóa VII đã cụ thể hóa 4 phương châm xử lý các quan hệ đối ngoại là: “Bảo đảm lợi ích dân tộc chân chính, kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân Giữ vững độc lập, tự chủ, tự cường trong khi đẩy mạnh đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại Nắm vững hai mặt hợp tác và đấu tranh trong quan hệ với mọi đối tượng Tham gia hợp tác khu vực đồng thời mở rộng quan hệ hợp tác với tất cả các nước”

Về chính sách đối với các đối tượng chủ yếu, Đảng nhấn mạnh quan hệ với các nước láng giềng và các nước trong khu vực; bảo vệ và khai thác Biển Đông, thúc đẩy quan hệ đối ngoại trên cả 3 kênh: Đối ngoại Đảng, đối ngoại Nhà nước, đối ngoại nhân dân tạo thành sức mạnh tổng hợp trên mặt trận đối ngoại, tranh thủ sự ủng hộ rộng rãi của tổ chức và nhân dân các nước đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN Vì thế, Nghị quyết Hội nghị còn được coi là văn kiện đánh dấu sự hình thành đường lối đối ngoại của Đảng trong thời kì đổi mới toàn diện đất nước

Tiếp đến, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (tháng 6/1996)

đã xác định: “Nhiệm vụ đối ngoại trong thời gian tới là củng cố môi trường hòa

bình và tạo điều kiện quốc tế thuận lợi hơn nữa để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước…” [4, tr.120]

Tại Đại hội, một trong 5 chủ trương lớn về đối ngoại được Đảng xác định là:

“Mở rộng quan hệ đối ngoại nhân dân, quan hệ với các tổ chức phi chính phủ, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ rộng rãi của nhân dân các nước, góp phần thúc đẩy xu thế hòa bình, hợp tác, phát triển” [4, tr.121]

Tháng 12/1997, Hội nghi lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương (khóa VIII) họp, khẳng định sự cần thiết phải khai thác tối đa các điều kiện quốc tế thuận lợi, sử dụng tốt sự hợp tác quốc tế phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất

Trang 27

nước, đề ra chủ trương xuyên suốt là tiếp tục đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại, hội nhập và hợp tác quốc tế dựa trên cơ sở độc lập, tự chủ, tự cường là cơ

sở vững chắc để đẩy mạnh hơn nữa đoàn kết, hợp tác và hội nhập quốc tế nhằm góp phần xây dựng thành công và bảo vệ vựng chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, đến đầu năm 2001 nhân dân ta đã đạt được những thành tựu quan trọng Kinh tế tăng trưởng khá Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng bình quân hằng năm 7% Nông nghiệp phát triển liên tục, đặc biệt là sản xuất lương thực Hệ thống kết cấu hạ tầng: bưu chính – viễn thông, đường sá, cầu, cảng, sân bay, điện, thủy lợi… được tăng cường Các ngành dịch vụ, xuất khẩu và nhập khẩu đều phát triển Năm 2000 đã chặn được đà giảm sút mức tăng trưởng kinh tế, các chỉ tiêu chủ yếu đều đạt hoặc vượt mức kế hoạch đề ra Văn hóa, xã hội có những tiến bộ, đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện Giáo dục và đào tạo phát triển về quy mô và cơ sở vật chất Trình

độ dân trí và chất lượng nguồn nhân lực được nâng lên Quan hệ đối ngoại không ngừng được mở rộng, hội nhập kinh tế quốc tế được tiến hành chủ động và đạt nhiều kết quả tốt Nước ta đã tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác nhiều mặt với các nước XHCN, các nước láng giềng, các nước bạn bè truyền thống; tham gia tích cực các hoạt động thúc đẩy hợp tác cùng có lợi trong Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) và Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC); tăng cường quan hệ với các nước phát triển và nhiều nước, nhiều tổ chức khu vực và quốc

tế khác; có quan hệ thương mại với hơn 140 nước, quan hệ đầu tư với gần 70 nước

và vùng lãnh thổ, thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài [18, tr.91]

1.2.2 Đổi mới cơ cấu tổ chức và hoạt động đối ngoại nhân dân

Quán triệt thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (tháng 6/1991) và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (tháng 6/1996) của Đảng Đảng không chỉ định hướng xác định mục tiêu, mà còn rất coi trọng cơ cấu thành phần, trách nhiệm của các tổ chức, các lực lượng tham gia nhằm phát triển hoàn thiện các hoạt động đối ngoại nhân dân Do đó, ngày 10/1/1992 Trung ương Đảng ban hành quyết định số 22/QĐ-TW tách “liên hiệp các tổ chức hòa bình, đoàn kết,

Trang 28

hữu nghị Việt Nam” ra khỏi Ban đối ngoại Trung ương và xây dựng thành một tổ chức chính trị - xã hội độc lập, chuyên trách công tác đối ngoại nhân dân do Ban bí thư chỉ đạo và Chính phủ quản lý

Thực hiện Nghị quyết trên, ngày 14/11/1992 Thủ tướng Chính phủ kí quyết định số 951-QĐ/TTg cho phép thành lập “Liên hiệp các tổ chức hòa bình, đoàn kết, hữu nghị của Việt Nam” trên cơ sở “Ủy ban Việt Nam đoàn kết, hữu nghị với nhân dân các nước” trước đó thuộc ban đối ngoại Trung ương

Có thể nói, đây là bước phát triển mới, cơ bản của bản thân tổ chức Liên hiệp

và hoạt động đối ngoại nhân dân Nhờ đó, hoạt động đối ngoại nhân dân sẽ có điều kiện để phát triển hơn trong giai đoạn tiếp theo

Thực hiện Nghị quyết hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương (khóa VII), nhằm đẩy mạnh hơn nữa công tác đối ngoại nhân dân trong tình hình mới Ngày 27/7/1993 Ban Bí thư ra chỉ thị số 27-CT/TW “về nhiệm vụ và tổ chức liên hiệp các tổ chức hòa bình, đoàn kết, hữu nghị của Việt Nam” Ban Bí thư giao cho các tổ chức hòa bình, đoàn kết, hữu nghị Việt Nam nhiệm vụ:

Một là, Góp phần tích cực mở rộng quan hệ đoàn kết, hợp tác và hữu nghị, giao lưu kinh tế, văn hóa và khoa học – kinh tế giữa nhân dân ta với các nước trên thế giới Tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của nhân dân thế giới đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước của nhân dân ta

Hai là, Bày tỏ sự đoàn kết ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân các nước, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, tiến bộ xã hội và giải quyết những vẫn đề có tính chất toàn cầu như bảo vệ môi trường, phòng chống một số căn bệnh nguy hiểm tiếp tục góp phần duy trì và đổi mới các tổ chức dân chủ quốc tế đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội phù hợp với tình hình mới của thế giới và điều kiện thực tế của nước ta

Ba là, Làm đầu mối vận động, điều phối viện trợ của các tổ chức hòa bình, đoàn kết, hữu nghị, các tổ chức nhân đạo, từ thiện, các tổ chức phi chính phủ và

cá nhân ở các nước góp phần vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước [3, tr.1]

Trang 29

Theo đó, tổ chức liên hiệp các tổ chức hòa bình, đoàn kết hữu nghị của Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội chuyên trách của đối ngoại nhân dân trên các lĩnh vực hòa bình, đoàn kết hữu nghị và vận động viện trợ nhân dân Trong mối quan hệ chung, Liên hiệp là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, cơ quan giúp Ban bí thư chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra hoạt động của liên hiệp các tổ chức hòa bình đoàn kết, hữu nghị Việt Nam là Ban đối ngoại Trung ương

Sau hơn một năm hoạt động, ngày 8/9/1994 theo đề nghị của “Liên hiệp các

tổ chức hòa bình, đoàn kết hữu nghị của Việt Nam” Chính phủ ra văn bản đổi tên tổ chức này thành “Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam”

Để thực hiện tốt chức năng, vị trí, vai trò của đối ngoại nhân dân trong tình hình mới, ngày 20/9/1994 Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 44/CT-TW

“Về mở rộng và đổi mới hoạt động đối ngoại nhân dân” khẳng định: “Công tác đối ngoại nhân dân là một biện pháp cấu thành công tác đối ngoại chung của nước ta”,

“từ sau Đại hội lần thứ VII của Đảng, hoạt động đối ngoại nhân dân được mở rộng, góp phần tạo môi trường quốc tế thuận lợi phục vụ công cuộc đổi mới, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” Trên cơ sở đó, Ban Bí thư xác định mục tiêu,

nhiệm vụ và phân cấp quản lý công tác đối ngoại nhân dân trong giai đoạn mới

và tổ chức nước ngoài đối với ta Tham gia tích cực góp phần duy trì và đổi mới

Trang 30

hoạt động của các tổ chức quốc tế mà ta là thành viên phù hợp với tình hình mới của thế giới

- Tranh thủ sự giúp đỡ của nhân dân các nước thế giới về vốn, chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm quản lý kinh tế và quản lý xã hội, đào tạo cán bộ… Việc phát triển quan hệ với các cá nhân, nhân sĩ nước ngoài, các tổ chức chính trị - xã hội, phi chính phủ, hội nghề nghiệp, quốc gia, khu vực và quốc tế phải có lợi cho các mục đích nói trên

Các mục tiêu trên cũng chính là nhiệm vụ của công tác đối ngoại nhân dân trong tình hình mới

“Về phân cấp quản lý công tác đối ngoại nhân dân” Chỉ thị chỉ rõ: Đảng, Đoàn, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân, liên hiệp các tổ chức hữu nghị của Việt Nam, các tổ chức phi chính phủ, hội nghề nghiệp chịu trách nhiệm chỉ đạo và quản lý các hoạt động đối ngoại nhân dân trong Mặt trận, đoàn thể, tổ chức và hội của mình cả về phương hướng, chủ trương, chính sách, kế hoạch hoạt động đối ngoại nhân dân lẫn quản lý nhân sự, định kì 3 tháng 1 lần báo cho Ban Bí thư thông qua Ban đối ngoại Trung ương Đảng Các tỉnh ủy, thành ủy có trách nhiệm lãnh đạo và quản lý hoạt động đối ngoại nhân dân địa phương mình Ban đối ngoại Trung ương giúp Ban Bí thư theo dõi, hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện

Chỉ thị cũng yêu cầu hoạt động đối ngoại nhân dân của các đoàn thể quần chúng, tổ chức chính trị - xã hội, hội nghề nghiệp, tổ chức phi chính phủ phải thể hiện chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc

tế một cách sáng tạo, năng động, linh hoạt, phù hợp với khả năng từng tổ chức, đoàn thể của ta và đặc điểm từng đối tượng nước ngoài ta có quan hệ

Như vậy, tiếp theo Chỉ thị số 27-CT/TW ngày 27/7/1993 “Về nhiệm vụ và tổ chức của liên hiệp các tổ chức hòa bình, đoàn kết, hữu nghị Việt Nam”, Chỉ thị số 44-CT/TW ngày 20/9/1994 “Về mở rộng và đổi mới hoạt động đối ngoại nhân dân” của Ban Bí thư Trung ương Đảng thể hiện sự phát triển một bước trong nhận thức

Trang 31

của Đảng về vai trò, vị trí của công tác đối ngoại nhân dân trong công cuộc đổi mới đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế

Cho đến nay, nội dung và tinh thần của hai bản Chỉ thị này vẫn tiếp tục được quán triệt và thực hiện trong hoạt động đối ngoại nhân dân của các tổ chức chính trị

- xã hội, các ngành và các cấp

Quán triệt thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng về đối ngoại nhân dân, ngày 6/10/1998, Bộ Chính trị ra Chỉ thị số 42-CT/TW

về việc “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của các

hội quần chúng”, trong đó khẳng định: “Hội hoạt động ở cấp nào, đặt dưới sự lãnh đạo của cấp ủy đảng và quản lý của chính quyền cấp đó Cấp ủy đảng ở mỗi cấp phải chú trọng và phải có trách nhiệm tăng cường công tác lãnh đạo đối với hội cùng cấp, thông qua việc định hướng tổ chức và hoạt động của hội” [4, tr.2] Riêng

về đối ngoại, Bộ Chính trị quy định: “Ban Đối ngoại Trung ương hướng dẫn các cấp

ủy và các tổ chức đảng (đã thành lập) về quy chế quản lý đối ngoại các hội và kiểm tra việc thực hiện các hoạt động đó” [4, tr.3]

Nhờ sự lãnh đạo sâu sát nói trên của Đảng, công tác đối ngoại nhân dân thời

kì này được tiến hành khẩn trương với nhiều đối tượng hơn, thể hiện sinh động đường lối đối ngoại mở rộng, đa dạng hóa quan hệ của Đảng và Nhà nước Kết quả hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần bình thường hóa quan hệ (năm 1991), khôi phục và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác nhiều mặt với Trung Quốc, với Mỹ (năm 1995), gia nhập ASEAN năm 1995 Lần đầu tiên trong lịch sử, Việt Nam có quan hệ với tất cả các nước lớn Đồng thời, tăng cường quan hệ hữu nghị đoàn kết đặc biệt với Lào và xây dựng quan hệ tốt với Campuchia, phát triển quan hệ với các nước trong khu vực, trở thành thành viên đầy đủ của ASEAN, củng cố quan hệ truyền thống với nhiều nước, từng bước đổi mới quan hệ hữu nghị với Liên Bang Nga, các nước trong cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG) và các nước Đông Âu;

mở rộng quan hệ với các nước công nghiệp phát triển, bình thường hóa quan hệ vơi

Mỹ (tháng 7/1995); thiết lập và mở rộng quan hệ với nhiều nước Đông Nam Á,

Trang 32

Nam Thái Bình Dương, Trung Đông, Châu Phi và Mỹ Latinh; mở rộng quan hệ với phong trào không liên kết, với các tổ chức quốc tế và khu vực

Công tác đối ngoại nhân dân có bước phát triển mới, mạnh mẽ cả về quy mô

và địa bàn hoạt động, đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Điều này đã được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (tháng 4/2001) ghi

nhận: “Các đoàn thể nhân dân, các tổ chức chính trị - xã hội, ủy ban hòa bình và

các hội hữu nghị đẩy mạnh ngoại giao nhân dân cả về quy mô và địa bàn, góp phần tích cực vào thắng lợi của Đảng và Nhà nước ta trên mặt trận đối ngoại” [5, tr.72]

Đặc biệt, từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (tháng 4/2001), các đoàn thể nhân dân, các tổ chức chính trị xã hội, tổ chức bảo vệ hòa bình thế giới và các hội hữu nghị đã mở rộng hoạt động đối ngoại cả về nội dung, phương thức, quy

mô và địa bàn hoạt động Hoạt động đối ngoại nhân dân vì thế có bước phát triển mạnh hơn trước, góp phần không nhỏ vào thắng lợi của nước ta trên mặt trận ngoại giao

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong quá trình hoạt động, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam đã có bước phát triển khá nhanh: nếu giữa năm 1993 Liên hiệp có

37 tổ chức thành viên ở Trung ương và 20 tổ chức liên hiệp các tổ chức hữu nghị ở tỉnh, thành phố thì đến đầu năm 2001đã có gần 50 tổ chức thành viên ở trung ương và

29 tổ chức liên hiệp ở tỉnh, thành phố Đây là lực lượng quan trọng góp phần đưa các chủ trương, nghị quyết của Đảng về công tác đối ngoại nhân dân đi vào thực tiễn cuộc sống

1.3 ĐẢNG LÃNH ĐẠO HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2001

1.3.1 Phong trào hòa bình

Phong trào hòa bình, nói cách khác đây là cuộc đấu tranh vì hòa bình thế giới của nhân dân Việt Nam Việt Nam là một trong những nước tham gia sáng lập Hội đồng hòa bình thế giới (4/1949) Ngày 19/11/1950 Ủy ban bảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam được thành lập Sự ra đời của Ủy ban bảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam là một sự kiện quan trọng của phong trào hòa bình ở Việt Nam Đó là một

Trang 33

tổ chức chính trị - xã hội lớn đầu tiên được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương thành lập để hoạt động trong lĩnh vực đối ngoại nhân dân, gắn liền với sự nghiệp bảo vệ hòa bình, độc lập và tự do ở Việt Nam với phong trào bảo vệ hòa bình thế giới

Trên cơ sở nhiệm vụ đối ngoại của Đảng trong thời kì đổi mới, phong trào hòa bình Việt Nam không ngừng được đổi mới về nội dung, phương thức hoạt động, làm cho các hoạt động vì hòa bình trở thành phong trào quần chúng rộng rãi, thiết thực Các hoạt động vì hòa bình được tăng cường và gắn với các hoạt động đoàn kết hữu nghị của các đoàn thể nhân dân, tổ chức xã hội, các ủy ban đoàn kết

và hữu nghị, hoạt động tranh thủ viện trợ…

Ủy ban hòa bình Việt Nam góp phần củng cố các Ủy ban hòa bình ở các thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh; phối hợp đưa các hoạt động hòa bình xuống cơ sở, tổ chức nhiều hoạt động quần chúng vì hòa bình như: lấy chữ kí, chạy phong trào vì hòa bình, đua xe đạp vì hòa bình, giao lưu tiếng hát vì hòa bình, môi trường vì hòa bình và giáo dục văn hóa vì hòa bình Ủy ban hòa bình Việt Nam phối hợp với Ủy ban quốc gia điều tra những hậu quả của chiến tranh hóa học của Mỹ ở Việt Nam vận động tổ chức Làng hòa bình Đức, viện trợ từ 3 đến 4 triệu đôla xây dựng hệ thống gồm 11 làng hòa bình ở địa phương để chữa bệnh và nuôi dưỡng nạn nhân chất độc da cam, đặc biệt là trẻ em

Những hoạt động tích cực trong phong trào đấu tranh cho hòa bình của Ủy ban hòa bình Việt Nam đã nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trong tổ chức này Tại Đại hội Hội đồng hòa bình thế giới tổ chức tại Aten (Hy Lạp) (tháng 5/2000), đồng chí Vũ Đình Cự, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Ủy ban hòa bình Việt Nam được bầu làm Phó Chủ tịch Hội đồng hòa bình thế giới Ủy ban hòa bình Việt Nam hưởng ứng tích cực những nội dung cơ bản của

Hội nghị: “Hành động toàn cầu vì thế kỉ XXI hòa bình, an ninh và phát triển”, lên

án chiến lược toàn cầu mới cầu mới của Mỹ muốn thiết lập một trật tự thế giới mới

do Mỹ lãnh đạo, phê phán chiến lược can thiệp quan sự với chiêu bài “nhân quyền cao hơn chủ quyền” và quan niệm chiến lược của NATO “mở rộng phạm vi tiến

Trang 34

công ra ngoài phạm vi biên giới”, đòi hủy bỏ các căn cứ quân sự ở nước ngoài và các hình thức liên minh quân sự, giải trừ quân bị để phát triển, xóa đói giảm nghèo, phát triển bền vững, phê phán các công ty đa quốc gia lợi dụng toàn cầu hóa kinh tế

để thu lợi, các tổ chức tài chính quốc tế áp đặt các chính sách kinh tế lên các nước đang phát triển, hưởng ứng “năm quốc tế văn hóa hòa bình”… [18, tr.104]

Phong trào hòa bình Việt Nam đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp giữ gìn hòa bình của đất nước và làm cho nhân dân thế giới hiểu biết, yêu mến và giúp đỡ, nâng cao vị thế của Việt Nam trong cộng đồng quốc tế Vị trí và vai trò của Ủy ban trong phong trào hòa bình thế giới, nhất là trong việc củng cố hội đồng hòa bình thế giới đã được bạn bè quốc tế đánh giá cao Trong thời gian hội đồng hòa bình thế giới gặp khó khăn về đường lối, tổ chức và tài chính do tác động của cuộc khủng hoảng, tan rã và sụp đổ của các nước XHCN ở Đông Âu và Liên Xô Ủy ban hòa bình Việt Nam đã cùng với phong trào hòa bình ở nhiều nước tích cực duy trì và củng cố hội đồng hòa bình thế giới, giữ vững mục tiêu bảo vệ hòa bình, chống đế quốc, thực dân, bảo vệ những giá trị hòa bình chân chính của nhân loại

Có thể khẳng định rằng, Ủy ban hòa bình Việt Nam đã hoàn thành tốt nhiệm

vụ của một tổ chức chính trị - xã hội có chức năng chủ yếu là hoạt động đối ngoại nhân dân đa phương vì hòa bình, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Ủy ban góp phần quan trọng vào việc vận động nhân dân ta giữ gìn hòa bình đất nước và làm cho nhân dân thế giới hiểu biết, yêu mến, giúp đỡ, sẻ chia những khó khăn vướng mắc, đóng gớp một phần không nhỏ vào việc nâng cao

vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế

1.3.2 Phong trào đoàn kết nhân dân Á – Phi – Mỹ Latinh

Phong trào đoàn kết nhân dân Á – Phi – Mỹ Latinh bắt nguồn từ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Châu Á, Châu Phi và khu vực Mỹ Latinh chống chủ nghĩa thực dân sau chiến tranh thế giới thứ hai

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (tháng 6/1991) theo tinh thần đổi mới, Ủy ban đoàn kết và hợp tác Á – Phi – Mỹ Latinh tiếp tục chủ động tiến hành các hoạt động đoàn kết, ủng hộ và thúc đẩy hợp tác theo tôn chỉ, mục đích

Trang 35

của tổ chức đoàn kết nhân dân Á – Phi và tổ chức ba châu Ủy ban đã cùng với các

tổ chức hữu nghị và ủy ban đoàn kết song phương của Việt Nam tổ chức các hoạt động ủng hộ, đoàn kết với nhân dân Cuba, nhân dân Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, Irắc, Libi và nhân dân Palextine Tháng 9/1995, Ủy ban đã đăng cai tổ chức hội nghị khu vực Châu Á của tổ chức đoàn kết nhân dân Á – Phi tại Hà Nội

Trên tinh thần “uống nước nhớ nguồn”, trong những năm qua, Ủy ban Việt Nam đoàn kết và hợp tác Á – Phi – Mỹ Latinh đã có những việc làm ghi nhận công lao của những tổ chức và cá nhân đối với nhân dân ta trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, như mời một số cá nhân tiêu biểu dự lễ kỉ niệm 50 năm ngày Quốc khánh 2/9/1945; truy tặng Huân, Huy chương Hữu nghị và các phần thưởng cao quý khác cho một số tổ chức và cá nhân; mời một số nhân vật lãnh đạo của Tổ chức đoàn kết nhân dân Á – Phi sang thăm Việt Nam

Từ sau Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (năm 1996), quán triệt đường lối đối ngoại đổi mới của Đảng, Ủy ban Việt Nam đoàn kết và hợp tác Á – Phi – Mỹ Latinh đã được củng cố và đổi mới một bước nội dung và phương thức hoạt động theo hướng thúc đẩy sự đoàn kết cả về chính trị, kinh tế và văn hóa,… đa dạng hóa hình thức hoạt động và đối tác quan hệ Ủy ban đã góp phần tích cực vào việc duy trì, phục hồi hoạt động của hai tổ chức đoàn kết nhân dân Á – Phi – Mỹ Latinh, nhất là ở khu vực Châu Á Tháng 6/1997, Việt Nam đăng cai và tổ chức thành công Hội nghị khu vực Châu Á – Thái Bình Dương đoàn kết với Cuba tại Hà Nội [18, tr.125]

Ủy ban đoàn kết và hợp tác Á – Phi – Mỹ Latinh được củng cố, đổi mới từng bước nội dung và phương thức hoạt động theo hướng thúc đẩy sự đoàn kết, hợp tác

cả về chính trị, văn hóa và kinh tế, đa dạng hóa hình thức hoạt động và đối tác quan

hệ Tiếp tục những thành tựu trong hai cuộc kháng chiến, Ủy ban đã tiếp tục đóng góp vào sự nghiệp xây dựng đất nước, đồng thời góp phần vào sự đoàn kết của nhân dân các nước ở ba châu lục vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội

Trang 36

1.3.3 Hoạt động hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân các nước

Cùng chung sống hòa bình, hữu nghị với nhân dân các nước trong cộng đồng quốc tế là nguyện vọng thiết tha của nhân dân Việt Nam từ thế hệ này sang thế hệ khác Đó cũng chính là sức mạnh để chiến thắng những kẻ thù xâm lược, là động lực to lớn trong xây dựng và phát triển đất nước của dân tộc Việt Nam Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, sự ủng hộ của nhân dân tiến bộ thế giới

đã tạo nên mặt trận to lớn, góp phần vào thắng lợi của nhân dân Việt Nam Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước được Đảng khởi xướng và lãnh đạo vừa đòi hỏi, vừa tạo điều kiện thắng lợi để tăng cường và mở rộng hoạt động hữu nghị nhân dân Xây dựng quan hệ hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước tiếp tục

là nội dung quan trọng của công tác đối ngoại nhân dân trong giai đoạn mới nhằm góp phần tranh thủ sự ủng hộ quốc tế đối với sự nghiệp xây dựng đất nước của nhân dân Việt Nam

Cuối năm 1991, qua việc mở rộng giao lưu giữa nhân dân hai bên biên giới

và hoạt động của hội hữu nghị Việt – Trung, công tác đối ngoại nhân dân đã đóng góp tích cực vào việc bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc Quan hệ hữu nghị với nhân dân Trung Quốc được tăng cường ở cấp Trung ương và địa phương, nhất

là ở các tỉnh biên giới phía Bắc Các cuộc viếng thăm lẫn nhau, các hội nghị, hội thảo, tọa đàm về hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học do các hội hữu nghị, các tổ chức chính trị - xã hội, viện nghiên cứu, tổ chức văn hóa tiến hành diễn ra thường xuyên

ở hai nước Hội hữu nghị Việt – Lào và các chi hội hữu nghị Việt – Lào ở địa phương thường xuyên tiến hành các hoạt động hữu nghị góp phần củng cố, phát triển quan hệ đoàn kết đặc biệt và sự hợp tác toàn diện Các chi hội hữu nghị Việt Nam – Campuchia ở các tỉnh biên giới với các hoạt động giao lưu hữu nghị đã góp phần giải quyết các vướng mắc trong quan hệ giữa địa phương hai nước Với Cộng hòa Dân chủ nhân dân Triều Tiên, Hội hữu nghị Việt Nam – Triều Tiên, Ủy ban Việt Nam ủng hộ hòa bình thống nhất Triều Tiên trước sau như một luôn bày tỏ tình hữu nghị và sự ủng hộ đối với nhân dân Triều Tiên Quan hệ hữu nghị, đoàn kết và hợp tác với nhân dân Cuba được phát triển cả về bề rộng và chiều sâu Ngoài các

Trang 37

hoạt động giao lưu hữu nghị và đoàn kết truyền thống thông qua các đoàn thể nhân dân, tổ chức hào bình hữu nghị, nhân dân ta còn phản đối chính sách bao vây cấm vận của Mỹ đối với Cuba, vận động quyên góp ủng hộ nhân dân Cuba gạo và hàng tiêu dùng, trao đổi đều đặn các đoàn đại biểu của các hội nghị [18, tr.68]

Quan hệ với các nước ASEAN và các nước Đông Bắc Á được phát triển thông qua các hội hữu nghị song phương, các chương trình, kế hoạch của một số tổ chức xã hội, viện nghiên cứu Quan hệ giữa các hội hữu nghị song phương của Việt Nam, Philippin, Malaysia, Thái Lan được duy trì và phát triển Với Mianma quan

hệ hữu nghị nhân dân đã được xây dựng thông qua quan hệ với Hội đồng đoàn kết

và phát triển Liên bang Mianma Các hội nghị Việt Nam – Nhật Bản, Việt Nam – Hàn Quốc đã gắn các hoạt động hữu nghị với hỗ trợ hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học – kĩ thuật giữa hai bên

Từ năm 1994, do tăng cường lãnh đạo của Đảng, hoạt động đối ngoại nhân dân đã đạt được những kết quả tích cực trong năm 1994 Cùng với việc chấn chỉnh

tổ chức và bộ máy công tác đối ngoại qua Hội nghị toàn quốc của 9 tổ chức nhân dân, các tổ chức nhân dân ta đã tham gia và góp phần tích cực vào các Đại hội của Liên đoàn phụ nữ dân chủ quốc tế, Hiệp hội người tiêu dùng quốc tế, Liên đoàn các

tổ chức Cựu chiến binh ASEAN và Liên hiệp công đoàn thế giới Đồng thời, các tổ chức nhân dân ta tiếp tục sự có mặt và tham gia ở mức độ thích hợp trong một số tổ chức dân chủ quốc tế truyền thống như: Hội đồng hòa bình thế giới, tổ chức đoàn kết nhân dân Á – Phi, tổ chức nhà báo quốc tế… tăng cường sự tham gia của các tổ chức quốc tế khác như: Hiệp hội người mù thế giới, Ủy ban chữ thập đỏ quốc tế, Liên đoàn quốc tế các hội chữ thập đỏ và trăng lưỡi liềm đỏ…Ngoài ra các tổ chức nhân dân ta đã khai thác tốt các tổ chức quốc tế và khu vực mà trước kia được coi là thuộc “phía bên kia” như Liên hiệp quốc tế các công đoàn tự do, tổ chức lao động quốc tế và đặc biệt là các cơ quan chuyên môn của Liên Hợp Quốc như: Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP), tổ chức giáo dục, khoa học văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO), Quỹ hỗ trợ phát triển phụ nữ Liên Hợp Quốc (UNIFEM),

Trang 38

Quỹ nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) Năm 1995, các tổ chức nhân dân đã tích cực tham gia đại hội của nhiều tổ chức dân chủ quốc tế

Trong các năm 1999 và 2000, nhân các sự kiện trọng đại: Kỷ niệm 50 năm thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, 50 năm thành lập Hội hữu nghị Việt – Trung, 80 năm thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc, Hội hữu nghị Việt – Trung trung ương, Hội hữu nghị Việt – Trung thành phố Hà Nội đã tổ chức nhiều hoạt động hữu nghị với đông đảo thành phần các tầng lớp nhân dân tham gia như tổ chức triển lãm, hoạt động thể thao biểu diễn văn nghệ, thi tìm hiểu về đất nước Trung Quốc đã góp phần phát triển quan hệ hữu nghị truyền thống giữa nhân dân hai nước

Thực tế lịch sử ngày càng chứng tỏ những người bạn tốt của Việt Nam có ở khắp các châu lục Không chỉ có ở Lào, Liên Xô trước đây, Đông Âu, Cuba, Ấn Độ… mà còn có ở các nước Bắc Âu, Pháp, Italia, Đức Nhật Bản, Anh, Mỹ… và nhiều nước khác Họ thuộc đủ các thành phần từ người lao động bình thường đến vị lãnh đạo Nhà nước, nhà hoạt động chính trị - xã hội, nhân sĩ, trí thức, nghị sĩ quốc hội, giới văn học nghệ thuật… theo các quan điểm chính trị và tôn giáo khác nhau nhưng đều có tình cảm yêu mến, hữu nghị với nhân dân Việt Nam

1.3.4 Công tác vận động phi chính phủ nước ngoài

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, các tổ chức phi chính phủ nước ngoài (NGO), các tổ chức phi lợi nhuận ngày càng nổi lên như một lực lượng quan trọng trong lĩnh vực cứu trợ nhân đạo và phát triển xã hội Hoạt động của các tổ chức phi chính phủ góp phần quan trọng vào việc cải thiện đời sống của những người nghèo, những người bị thiệt thòi trong xã hội, giúp họ phát triển một cách bền vững Các tổ chức phi chính phủ đã trở thành một bộ phận quan trọng trong hệ thống tổ chức nhân dân (còn được gọi là tổ chức xã hội dân sự hay xã hội công dân), một hiện tượng có tính toàn cầu đến mức nhiều người gọi là “cộng đồng phi chính phủ” Dưới nhiều tên gọi khác nhau, các tổ chức phi chính phủ quốc tế và tổ chức phi chính phủ quốc gia có mặt ở khắp nơi trên thế giới

Ngày 28/3/1991, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ban hành quyết định số 80/CT

“Quy định về quan hệ với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài”: trong đó nhấn

mạnh:

Trang 39

Sau Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII (6/1991) với chính sách đối ngoại

đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ với NGO là một bộ phận quan trọng trong quan hệ đối ngoại nhân dân, gắn liền với đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước và quá trình phát triển đất nước Đối với nước ta, chúng ta vận động viện trợ phi chính phủ nước ngoài là nhằm tranh thủ sự giúp đỡ về vốn, chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm quản lý kinh tế - xã hội, đào tạo cán bộ … Thực hiện Nghị quyết Đại hội VII của Đảng, ngày 7/5/1993 Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 211/TTg về việc thành lập “Ban chỉ đạo công tác phi chính phủ” để giúp thủ tướng giải quyết những vấn đề liên quan tới hoạt động của các TCPCPNN và tổ chức phi chính phủ trong nước Ban chỉ đạo do Bộ trưởng chủ nhiệm văn phòng Chính phủ,

Bộ ngoại giao, Bộ Nội vụ, Ban tổ chức cán bộ Chính phủ và liên hiệp các tổ chức hòa bình, hữu nghị

Ngày 24/5/1996 Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 339/TTg thành lập

“Ủy ban công tác về các tổ chức phi chính phủ” nhằm giúp đỡ Thủ tướng chỉ đạo công tác phi chính phủ của Việt Nam và các TCPCPNN hoạt động tại Việt Nam do

Bộ trưởng chủ nhiệm văn phòng Chính phủ làm chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra (Ủy ban này tồn tại đến tháng 7 năm 2000 thì giải thể theo Quyết định số 79/2000/QĐ-TTg ngày 6/7/2000 của Thủ tướng Chính phủ)

Cũng trong ngày 24/5/1996, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 340/TTg ban hành “Quy chế hoạt động của Tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam” Theo quy chế này, các TCPCPNN hoạt động hỗ trợ phát triển, viện trợ nhân đạo tại Việt Nam không vì mục đích lợi nhuận hoặc mục đích khác, phải được pháp của Chính phủ Việt Nam dưới các hình thức: Giấy phép hoạt động, Giấy phép lập văn phòng dự án hoặc giấy phép lập văn phòng đại diện

Thực hiện Quyết định trên của Thủ tướng Chính phủ, ngày 7/8/1996, Ban điều phối viện trợ nhân dân (PACCOM) ban hành hai bản hướng dẫn thực hiện Quyết định trên: Quy chế số 05/UB-PA (dành cho các cơ quan, địa phương Việt Nam) và số 06/UB-PA (dành cho các TCPCPNN)

Trang 40

Nhờ sự quan tâm đích đáng của Đảng và Chính phủ, đến trước Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (6/1996) chúng ta đã hoàn thành về cơ bản hệ thống hành lang pháp lý để tăng cường công tác vận động và tạo điều kiện cho các TCPCPNN hoạt động đúng pháp luật Việt Nam Nhờ đó, công tác vận động viện trợ phi chính phủ ngày càng có kết quả tích cực, góp phần quan trọng thực hiện chủ trương “mở rộng cửa để tiếp thu tốt vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý của nước ngoài, tiếp cận thị trường thế giới” và “mở rộng quan hệ hợp tác với bên ngoài nhằm khai thác tốt tiềm lực và lợi thế bên trong” mà Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khóa VII (tháng 6/1992) đề ra [3, tr.6]

Nếu năm 1988, chỉ có 70 TCPCPNN hoạt động tại Việt Nam với tổng giá trị viện trợ từ 8 – 10 triệu USD/năm thì đến năm 1995, có 250 tổ chức với 70 triệu USD/ năm

Nhằm tạo cơ sỏ pháp lý cho công tác vận động viện trợ phi chính phủ, hệ thống văn bản pháp quy về quản lý viện trợ, quản lý hoạt động của các TCPCPNN đang từng bước được hoàn thiện Các văn bản này đã và đang phát huy hiệu lực

Từ tháng 10/1998 đến tháng 1/2000, Chính phủ ban hành 4 nghị định, quyết định, đồng thời các bộ ngành liên quan ban hành 4 thông tư hướng dẫn về việc tuyển chọn, sử dụng và quản lý người lao động Việt Nam làm cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam; quy định chi tiết thi hành luật thuế giá trị gia tăng; hướng dẫn chế độ quản lý tài chính nhà nước đối với nguồn viện trợ không hoàn lại; về các hoạt động tôn giáo; về sinh hoạt tôn giáo của người nước ngoài đang cư trú hợp pháp tại Việt Nam; về việc hướng dẫn thực hiện Luật thuế giá trị gia tăng đối với các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện của các tổ chức quốc tế tại Việt Nam; Quy chế quản lý sử dụng viện trợ của các TCPCPNN tại Việt Nam; hướng dẫn hoàn thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa, dịch vụ do các tổ chức trong nước mua bằng tiền viện trợ nhân đạo của nước ngoài… Các văn bản trên đã tạo ra khuôn khổ pháp lý cho các TCPCPNN hoạt động tại Việt Nam

Tiếp đó, ngày 6/7/2000, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số TTg về việc giải thể và chuyển giao nhiệm vụ của một số ủy ban trong đó có Ủy

Ngày đăng: 07/01/2016, 10:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. “Công tác đối ngoại nhân dân”, Tạp chí lý luận chính trị, tháng 3/2006, trang 20-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác đối ngoại nhân dân”," Tạp chí lý luận chính trị
2. Các tổ chức quốc tế và Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, năm 1999 3. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứVII, Nxb Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tổ chức quốc tế và Việt Nam," Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, năm 1999 3. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), "Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ "VII
Tác giả: Các tổ chức quốc tế và Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, năm 1999 3. Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 1991
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), “Chỉ thị số 44 – CT/TW ngày 20/09/1994 của Ban Bí thư về mở rộng và đổi mới hoạt động đối ngoại nhân dân”, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, Tập 53-trang 634 – 637 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Chỉ thị số 44 – CT/TW ngày 20/09/1994 của Ban Bí thư về mở rộng và đổi mới hoạt động đối ngoại nhân dân”
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
9. Đối ngoại Việt Nam thời kì đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, năm 2005 10. Hoạt động ngoại giao nhân dân Việt Nam, do Liên hiệp các tổ chức hữu nghịViệt Nam biên soạn,Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, năm 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối ngoại Việt Nam thời kì đổi mới, "Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, năm 2005 10. " Hoạt động ngoại giao nhân dân Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
11. Hồ Chí Minh toàn tập (2000), tập 11, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh toàn tập (2000)
Tác giả: Hồ Chí Minh toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
14. Nguyễn Văn Thành (1995), Tổ chức và hoạt động phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức và hoạt động phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Thành
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 1995
15. Nguyễn Chí Thảo (2012), Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hội nhập quốc tế từ năm 2001 đến năm 2010, Học viện Chính trị hành chính quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hội nhập quốc tế từ năm 2001 đến năm 2010
Tác giả: Nguyễn Chí Thảo
Năm: 2012
16. Minh Thắng,“Đổi mới mở rộng công tác nhân dân, lý luận và thực tiễn”, Tạp chí thông tin đối ngoại số 6/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới mở rộng công tác nhân dân, lý luận và thực tiễn”, "Tạp chí thông tin đối ngoại
17. Lê Thị Tình, “Hoạt động đối ngoại nhân dân những năm đầu thế kỉ XXI” Tạp chí Lịch sử Đảng, số 7/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động đối ngoại nhân dân những năm đầu thế kỉ XXI” "Tạp chí Lịch sử Đảng
18. Lê Thị Tình (2012), Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hoạt động đối ngoại nhân dân từ 1986 – 2006, Học viện Chính trị hành chính quốc gia Hồ Chí Minh 19. Phạm Thị Huyền Trang, Ngoại giao nhân dân theo phong cách Hồ Chí Minh,Học viện Ngoại giao, tháng 7/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hoạt động đối ngoại nhân dân từ 1986 – 2006, "Học viện Chính trị hành chính quốc gia Hồ Chí Minh 19. Phạm Thị Huyền Trang, "Ngoại giao nhân dân theo phong cách Hồ Chí Minh
Tác giả: Lê Thị Tình
Năm: 2012
20. Nguyễn Trung, “Việt Nam trong thế giới của thập kỷ thứ hai thế kỷ XXI”, Tạp chí nghiên cứu và thảo luận, số 18, tháng 3/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam trong thế giới của thập kỷ thứ hai thế kỷ XXI”, "Tạp chí nghiên cứu và thảo luận
21. Vũ Quang Vinh (2001), Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hoạt động đối ngoại (1986 – 2006), Nxb Thanh Niên, Hà NộiTài liệu internet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hoạt động đối ngoại (1986 – 2006)
Tác giả: Vũ Quang Vinh
Nhà XB: Nxb Thanh Niên
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w