Chính vì vậy, Đảng ta đã sớm nhận thức vai trò của việc thực hiện chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc, coi đó là một trong những động lực quan trọng của sự nghiệp cách mạng Việt Nam.. T
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
VIỆN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
BÀI THU HOẠCH
MÔN: LÝ LUẬN DÂN TỘC VÀ QUAN HỆ DÂN TỘC Ở
VIỆT NAM
CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC
VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI
Học viên: NGUYỄN TRUNG SƠN
Mã số học viên:
Lớp: Hoàn chỉnh CCLLCT, K70-C04
HÀ NỘI - 2019
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 3
1 Nội dung cơ bản của chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước 3
2 Một số kết quả trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc 6
3 Định hướng thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ mới 10
KẾT LUẬN 13
TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
Trang 3MỞ ĐẦU
Vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc từ lâu đã được đặt ra trong xã hội loài người và hiện nay vẫn đang là một vấn đề phức tạp trên thế giới Đại đoàn kết dân tộc là truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam, được hình thành và phát triển cùng chiều dài lịch sử cách mạng đấu tranh giữ nước Đại đoàn kết dân tộc là đoàn kết mọi người trong đại gia đình dân tộc Việt Nam, bao gồm các giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, người trong nước và người định cư ở nước ngoài, vì mục tiêu chung của cách mạng Đại đoàn kết chủ yếu phải lấy mục tiêu chung đó làm điểm tương đồng, đồng thời chấp nhận những điểm khác nhau, không trái với lợi ích chung của dân tộc, cùng nhau xoá bỏ định kiến, mặc cảm, hận thù, hướng về tương lai, xây dựng tinh thần đoàn kết, cởi mở, tin cậy lẫn nhau, tất cả vì độc lập của Tổ quốc, tự do và hạnh phúc của Nhân dân
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, gồm 54 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó dân tộc thiểu số là 53 dân tộc, với số dân chiếm khoảng 13% dân số cả nước, cư trú trên địa bàn rộng lớn, chủ yếu ở miền núi, biên giới có
vị trí chiến lược quan trọng cả về chính trị, kinh tế – xã hội và quốc phòng –
an ninh Vì vậy, vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta, là nguồn sức mạnh và động lực to lớn
để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Chính vì vậy, Đảng ta đã sớm nhận thức vai trò của việc thực hiện chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc, coi đó là một trong những động lực quan trọng của sự nghiệp cách mạng Việt Nam Ngay từ khi mới ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn xác định vấn đề dân tộc, công tác dân tộc và đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược quan trọng trong
sự nghiệp cách mạng Dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin
Trang 4và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, Đảng ta đã đề ra những chính sách dân tộc phù hợp trong từng giai đoạn cách mạng
Ngoài phần mở đầu, Kết luận và danh mục Tài liệu tham khảo, bài thu hoạch được kết cấu thành 3 phần:
1) Nội dung cơ bản của chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước 2) Một số kết quả trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc
3) Định hướng thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ mới
Trang 5NỘI DUNG
1 Nội dung cơ bản của chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước
Từ Đại hội VI, cùng với sự nghiệp đổi mới, Đảng đã có những nhận thức mới, quan trọng về chính sách dân tộc và giải quyết các mối quan hệ giữa các dân tộc Các nguyên tắc đảm bảo cho quan hệ giữa các dân tộc phát triển tốt đẹp được nhấn mạnh là: “Trên tinh thần đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ nhau, cùng làm chủ tập thể; kết hợp phát triển kinh tế và phát triển xã hội, đẩy mạnh sản xuất xuất và chăm lo đời sống con người, kể cả con người từ nơi khác đến và dân tại chỗ” Tư tưởng đổi mới đó còn được thể hiện sâu sắc, cụ thể hóa tại “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội” được thông qua tại Đại hội VII Cương lĩnh nêu rõ: “Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên con đường văn minh, tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam”
Với quan điểm cách mạng là sáng tạo không ngừng, trong thời kỳ đổi mới, chính sách dân tộc của Đảng ta vừa bảo đảm tính nhất quán, vừa đổi mới trước yêu cầu phát triển và hội nhập quốc tế nhằm giải quyết thành công vấn
đề dân tộc ở nước ta hiện nay và trong tương lai Từ Đại hội IV đến Đại hội XII của Đảng, chính sách dân tộc được Đảng ta đề ra trên các vấn đề cốt lõi là: Vị trí của vấn đề dân tộc trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng; các nguyên tắc cơ bản trong chính sách dân tộc; những vấn đề trọng yếu của chính sách dân tộc trong những điều kiện cụ thể Trong suốt quá trình phát triển, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về chính sách dân tộc là nhất quán theo nguyên tắc “Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ nhau cùng phát triển” Điều này, một mặt, thể hiện trách nhiệm của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào các dân tộc thiểu số; mặt khác, cho thấy việc giải quyết vấn đề dân tộc đang là sự đòi hỏi cấp thiết cần phải có những chỉ đạo kịp thời
Trang 6Nội dung của chính sách dân tộc trong thời kỳ đổi mới của Đảng và Nhà nước ta tập trung vào các nội dung cơ bản sau đây: Một là, chính sách về phát triển kinh tế vùng các dân tộc thiểu số nhằm phát huy tiềm năng, thế mạnh của vùng đồng bào các dân tộc, gắn với kế hoạch phát triển chung của
cả nước, đưa vùng đồng bào các dân tộc thiểu số cùng cả nước tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Hai là, chính sách xã hội tập trung vào các vấn đề giáo dục - đào tạo, văn hóa, y tế nhằm nâng cao năng lực, thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc, tạo tiền đề và các cơ hội để các dân tộc có đầy đủ các điều kiện tham gia quá trình phát triển, trên cơ sở đó không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào Ba là, chính sách liên quan đến quốc phòng - an ninh, nhằm củng cố các địa bàn chiến lược, giải quyết tốt vấn đề đoàn kết dân tộc và quan hệ dân tộc trong mối liên hệ tộc người, giữa các tộc người và liên quốc gia trong xu thế toàn cầu hóa
Nhìn tổng thể cả ba chính sách trên, xét về mục tiêu, chính sách dân tộc của Đảng đều nhằm khai thác mọi tiềm năng của đất nước để phục vụ đời sống nhân dân các dân tộc, từng bước khắc phục khoảng cách chênh lệch, xóa đói, giảm nghèo, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, thể hiện nguyên tắc cơ bản: bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng giúp nhau cùng phát triển Các nội dung đó có quan hệ hữu cơ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, hợp thành một thể thống nhất, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển Bình đẳng dân tộc là nền tảng thực hiện đoàn kết dân tộc; có đoàn kết, thương yêu, tôn trọng giúp đỡ nhau thì mới thực hiện được bình đẳng dân tộc Nhìn lại thời kỳ đổi mới, có thể khái lược ở những nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự
Trang 7nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Thứ hai, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống của đồng bào dân tộc thiểu số, trọng tâm là đồng bào ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa Trong những năm qua tập trung trợ giúp đồng bào nghèo, các dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn, giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc, như tình trạng thiếu lương thực, thiếu nước sinh hoạt, nhà ở tạm bợ, không đủ tư liệu sản xuất, dụng cụ sinh hoạt tối thiểu; xây dựng kết cấu hạ tầng khu vực biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn Giải quyết cơ bản tình trạng thiếu đất sản xuất, đất ở và vấn đề tranh chấp đất đai ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là ở Tây Nguyên, Tây Bắc và vùng đồng bào dân tộc Khmer ở Tây Nam
Bộ Xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội vùng biên giới Tất cả công việc này đều được xây dựng trên nguyên tắc đoàn kết dân tộc
Thứ ba, củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở ở các vùng dân tộc thiểu số Do lịch sử để lại, hiện nay giữa các dân tộc ở nước ta vẫn còn tình trạng phát triển không đều Tương trợ giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển là một tất yếu khách quan trong một quốc gia đa dân tộc Đảng và Nhà nước ta coi trọng tương trợ giúp đỡ nhau cùng phát triển giữa các dân tộc
là một nguyên tắc cơ bản trong chính sách dân tộc trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc
Kiện toàn, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở; kiên quyết khắc phục tình trạng quan liêu, xa dân của một số cán bộ; thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, đãi ngộ, luân chuyển cán bộ Đẩy mạnh phát triển đảng viên trong đồng bào dân tộc thiểu số Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân, phát huy sức mạnh tại chỗ để sẵn sàng đập tan mọi âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch; tăng cường công tác bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội,
Trang 8không để xảy ra những “điểm nóng” về an ninh, trật tự xã hội ở vùng dân tộc
và miền núi Tiếp tục xây dựng, phát triển nhanh các khu kinh tế kết hợp quốc phòng ở vùng sâu, vùng xa, biên giới
Thứ tư, đổi mới nội dung, phương thức công tác dân tộc phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới Thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở, tạo điều kiện để nhân dân tích cực, chủ động tham gia xây dựng, thực hiện và giám sát việc thực hiện các chính sách, chương trình, kế hoạch phát triển kinh
tế - xã hội, an ninh, quốc phòng ở địa phương Thông qua các chính sách, biện pháp cụ thể, động viên đồng bào các dân tộc phát huy nội lực, ý chí tự lực tự cường, tinh thần vươn lên trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc
2 Một số kết quả trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc
Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước có nhiều chủ trương và chính sách đúng đắn đối với vùng đồng bào các dân tộc thiểu số để phát triển kinh
tế, củng cố quốc phòng – an ninh, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xoá đói giảm nghèo, nâng cao trình độ dân trí, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá, tiếng nói, chữ viết và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc, theo nguyên tắc cơ bản là: “Bình đẳng đoàn kết, tương trợ giúp đỡ nhau cùng phát triển” Những nguyên tắc cơ bản này được Đảng, Nhà nước thể hiện một cách nhất quán trong các văn kiện của Đảng, Hiến pháp của Nhà nước và cụ thể hoá bằng những chính sách phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ trong từng giai đoạn cách mạng của nước ta Nhất là, trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay, những nguyên tắc cơ bản đó lại càng được thể hiện rõ hơn, Đảng, Nhà nước đã cụ thể hoá ra hàng loạt những chính sách cụ thể, nhằm đảm bảo cho nhân dân các dân tộc thực sự được bình đẳng về mọi mặt; nhiều chính sách đã đi vào cuộc sống và được đồng bào các dân tộc thiểu số đồng tình ủng hộ
Trang 9Công tác dân tộc thời gian qua đã góp phần tích cực làm thay đổi rõ nét diện mạo nông thôn vùng dân tộc và miền núi, quyền bình đẳng giữa các dân tộc ngày càng được thể chế hóa và thực hiện trên thực tế các lĩnh vực của đời sống Qua đó, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào được nâng lên từng bước, tỷ lệ hộ nghèo giảm rõ rệt
Theo báo cáo của các địa phương vùng dân tộc và miền núi, chỉ tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo đều đạt và vượt, bình quân khoảng 3% - 4%/năm, cụ thể là: Các tỉnh vùng Đông Bắc giảm 3,62%; Tây Bắc giảm 4,47%; Tây Nguyên giảm 3,04%; đồng bằng sông Cửu Long giảm 2,15% Kết cấu hạ tầng kinh tế
- xã hội thay đổi rõ rệt: 98,6% số xã có đường ô-tô đến trụ sở ủy ban nhân dân xã; có 99,8% số xã và 95,5% số thôn có điện (số liệu của Tổng Cục thống kê năm 2010 -2015)
Công tác xóa đói, giảm nghèo đạt được kết quả khả quan Đời sống của đồng bào các dân tộc được cải thiện đáng kể Đặc biệt, mặt bằng dân trí được nâng cao Vùng dân tộc và miền núi đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học
và xóa mù chữ Hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú được hình thành và phát triển từ Trung ương đến các huyện vùng dân tộc và miền núi, tạo nguồn đào tạo đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số
Đời sống văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số được nâng cao một bước, văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số được tôn trọng, bảo tồn
và phát huy Hệ thống phát thanh, truyền hình ở vùng dân tộc và miền núi không ngừng phát triển Công tác giáo dục có nhiều tiến bộ: 99,5% số xã có trường tiểu học; 93,2% số xã có trường trung học cơ sở; 12,9% số xã có trường trung học phổ thông và 96,6% số xã có trường mẫu giáo/mầm non; 100% số xã đạt chuẩn phổ cập tiểu học, nhiều nơi đã đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở Loại hình trường nội trú, bán trú đang phát triển, hiện nay cả nước
có 294 trường phổ thông dân tộc nội trú với 80.832 học sinh; 4 trường dự bị đại học với trên 3.000 học sinh/năm Tất cả các tỉnh vùng dân tộc và miền núi
Trang 10đều có trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, trường dạy nghề và đào tạo nghiệp vụ trong các lĩnh vực nông nghiệp, quản lý kinh tế, tài chính, giáo dục,
y tế,
Bên cạnh đó, mạng lưới y tế phát triển, hệ thống bệnh viện tỉnh, huyện
và trạm y tế xã được quan tâm đầu tư, có 99,39% số xã có trạm y tế, 77,8% số
xã đạt chuẩn quốc gia về y tế Năm 2013, có 88% số thôn, bản trong cả nước
có nhân viên y tế hoạt động Đồng bào dân tộc thiểu số được tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản, người nghèo được khám, chữa bệnh miễn phí và được hưởng chính sách bảo hiểm y tế đúng quy định Các dịch bệnh ở vùng dân tộc và miền núi, như sốt rét, bướu cổ cơ bản được khống chế; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm đáng kể Mạng lưới thông tin, văn hóa, thể thao nông thôn có sự phát triển nhanh, góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào Năm 2011, 81,5% số xã có hệ thống loa truyền thanh đến thôn; 38,7% số xã có nhà văn hóa xã; 48% số xã có sân thể thao
Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong vùng dân tộc và miền núi có chuyển biến tốt, dịch vụ trợ giúp pháp lý đang tiếp cận với người dân Công tác vận động nhân dân, phát huy vai trò người có uy tín trong cộng đồng được chú trọng Bình đẳng giới từng bước được tạo lập giúp người phụ nữ nâng cao nhận thức, vươn lên phát huy vai trò của bản thân trong gia đình và xã hội
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả chủ yếu nêu trên, vẫn còn một số
vấn đề đặt ra trong việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng hiện nay Cụ thể như sau:
Quan điểm của Đảng về chính sách dân tộc trong các giai đoạn cách mạng nói chung và trong thời kỳ đổi mới nói riêng đã đoàn kết được tất cả các dân tộc trên đất nước ta cùng phấn đấu cho mục tiêu chung là xây dựng nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng có lúc ở một số nơi
Trang 11chưa tốt Điều đó làm cho đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số ở nhiều nơi nhìn chung còn khó khăn, thấp kém hơn so với đồng bào Kinh Nhiều chính sách chưa đạt được mục tiêu do nguồn lực cấp không đủ theo dự án được phê duyệt (Chương trình 135 giai đoạn I tuy có nhiều thành tựu song vẫn còn dang dở, đồng bào miền núi vẫn còn nhiều khó khăn, các điều kiện của chương trình: văn phòng, nhân sự của Chương trình
135 vẫn còn tồn tại, phải đến khi tiếp tục xây dựng chương trình 135 giai đoạn II mới có những bước tiến đáng kể ), phải kéo dài thời gian thực hiện dẫn đến các định mức của chính sách không còn phù hợp với thực tế Có chính sách do huy động nhiều nguồn vốn, khi cấp vốn không đồng bộ dẫn đến khó khăn trong triển khai (Chính sách hỗ trợ cho các hộ nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số vay vốn) Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước chủ yếu mang tính chất hỗ trợ, chưa đủ mạnh để làm chuyển biến vùng khó khăn Việc bố trí vốn đối ứng của hầu hết các địa phương chưa đáp ứng theo quy định Có chính sách chưa sát thực tế, không phù hợp với địa bàn, định mức hỗ trợ thấp, chậm hướng dẫn, sửa đổi (Chính sách cho đồng bào vay vốn còn rườm rà, nhiều thủ tục: xác nhận hộ nghèo, xác nhận là người dân tộc thiểu số, mức hỗ trợ tuy có song không nhiều) Có chính sách chưa thật
sự đảm bảo tính công khai, dân chủ, người dân ít có điều kiện tham gia triển khai và giám sát trong quá trình thực hiện (Chính sách hỗ trợ cây và con giống vùng đồng bào dân tộc thiểu số tuy có, song có những nơi vẫn chưa đến được tay người dân) Do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế nói chung và ảnh hưởng của sự phát triển của nền kinh tế đất nước nói riêng nên trong những năm qua, miền núi và vùng dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn Tỷ
lệ nghèo ở các vùng dân tộc thiểu số còn cao so với mặt bằng chung cả nước Số người mù chữ còn nhiều Trình độ dân trí, mức hưởng thụ văn hoá của đồng bào ở một số vùng dân tộc thiểu số còn thấp Việc chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào vùng dân tộc thiểu số còn hạn chế Tình hình an ninh