- Một số nội dung cơ bản và thực tiễn hoạt động đối ngoại nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nghiên cứu quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác đối ngoại nhân dân trong thời kỳ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THẾ HƯỞNG
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀO HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN
TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH QUỐC TẾ HỌC
HÀ NỘI - 2010
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THẾ HƯỞNG
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀO HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN
TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
Chuyên ngành : Quan hệ quốc tế
Mã số : 60.31.40
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH QUỐC TẾ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Ngô Tất Tố
HÀ NỘI - 2010
Trang 3MỤC LỤC Trang
1 Tính cấp thiết của đề tài
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
6 Những đóng góp về khoa học và cấu trúc của luận văn
Chương 1: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG VÀ THỰC TIỄN
HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
1.1 Nguồn gốc, quá trình hình thành, nội dung tư tưởng và thực tiễn
hoạt động đối ngoại nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh
1.1.1 Nguồn gốc tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại nhân dân
1.1.2 Quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại nhân dân
1.1.3 Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại nhân dân
1.1.4 Thực tiễn hoạt động đối ngoại nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Chương 2: VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀO HOẠT ĐỘNG
ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
2.1 Một số quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đối ngoại nhân
dân trong thời kỳ đổi mới
2.1.1 Về khái niệm đối ngoại nhân dân
2.1.2 Vai trò, mục đích và nhiệm vụ của đối ngoại nhân dân
2.1.3 Hình thức, lực lượng, phương thức và nguyên tắc hoạt động
2.1.4 Đối tác của hoạt động đối ngoại nhân dân
2.2 Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoạt động đối ngoại nhân
dân trong thời kỳ đổi mới
2.2.1 Hoạt động vì hòa bình, đoàn kết, hợp tác và hữu nghị nhân dân
2.2.2 Hoạt động nhân đạo và công tác viện trợ phi chính phủ nước ngoài
2.2.3 Hoạt động xóa đói giảm nghèo trong công tác đối ngoại nhân dân
2.2.4 Hoạt động thông tin đối ngoại trong công tác đối ngoại nhân dân
2.2.5 Hoạt động trong công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài
Trang 4Chương 3: MỘT SỐ KINH NGHIỆM VÀ KHUYẾN NGHỊ
3.1 Một số kinh nghiệm
3.1.1 Nắm vững độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển
3.1.2 Chủ động, sáng tạo, linh hoạt, giữ vững mục tiêu và nguyên tắc
3.1.3 Tận dụng lợi thế phát huy vai trò, mở rộng, tạo sức mạnh tổng hợp
3.1.4 Trong công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài
3.2 Một vài khuyến nghị
3.2.1 Vận dụng đường lối “chủ động, linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả” của
Đảng Cộng sản Việt Nam về đối ngoại nhân dân thời kỳ mới
3.2.2 Chủ động đối thoại và đấu tranh dư luận về vấn đề tôn giáo, dân chủ
và nhân quyền trong tình hình mới
3.2.3 Đổi mới và nâng cao hiệu quả thông tin đối ngoại trong công tác đối
ngoại nhân dân thời kỳ hội nhập quốc tế
3.2.4 Đổi mới công tác vận động viện trợ phi chính phủ nước ngoài và
người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới
3.2.5 Xây dựng “Chiến lược phát triển công tác đối ngoại nhân dân thời kỳ
hội nhập quốc tế” trong thế kỷ 21
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ của nhân dân ta, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, anh hùng giải phóng dân tộc, sứ giả của hòa bình và tình hữu nghị, danh nhân văn hóa thế giới Người vừa là nhà chính trị, nhà tư tưởng, nhà chiến lược quân sự, nhà ngoại giao, nhà văn, nhà thơ, nhà báo kiệt xuất của dân tộc ta Là người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời cũng là người sáng lập ra nền ngoại giao Việt Nam hiện đại Tuy Người đã đi xa hơn 40 năm nhưng
cả cuộc đời và sự nghiệp hoạt động cách mạng của Người đã để lại một kho tàng
lý luận, tư tưởng cách mạng và khoa học vô giá cho non sông đất nước ta Là kim chỉ nam cho cách mạng Việt Nam nói chung và xây dựng nền ngoại giao nói riêng, từng bước đánh thắng kẻ thù xâm lược và khảng định vị thế của nước ta trên trường quốc tế, đồng thời có giá trị to lớn đối với công cuộc đổi mới, với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của đất nước ta
Trên nền tảng những giá trị lý luận và thực tiễn mà tư tưởng Hồ Chí Minh
để lại, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam (1991) khảng định: "Cùng với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng" [24, tr.136] Đồng thời đánh giá tư tưởng Hồ Chí Minh là "tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta" [27, tr.84] và Đảng ta “phải nắm vững, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh" [29, tr.282] Thực tiễn cho thấy, vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người đã đưa cách mạng Việt Nam vượt qua những khó khăn, thử thách, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, tạo nên những trang sử hào hùng trong tiến trình lịch sử của dân tộc ta
Một trong những di sản trong hệ thống tư tưởng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh
để lại cho toàn Đảng, cho dân tộc và nhân dân ta là tư tưởng về đối ngoại nhân dân Đó là một bộ phận quan trọng trong hệ thống tư tưởng toàn diện và sâu sắc của Người, trên cơ sở những giá trị tốt đẹp của truyền thống dân tộc, sự tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, đặc biệt chủ nghĩa Mác - Lênin, thông qua khảo sát thực tiễn trong nước và thế giới sau bao năm hoạt động cách mạng để Người
Trang 6hình thành nên tư tưởng đó Những tư tưởng và quan điểm đó của Người đã trở thành đường lối, chủ trương và chính sách đối ngoại của Đảng, hợp thành một chỉnh thể trong chỉ đạo công tác đối ngoại nhân dân
Trong công cuộc đổi mới hiện nay, biết vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại nói chung và đối ngoại nhân dân nói riêng, đã cho Đảng ta những quan điểm cơ bản trong đường lối đối ngoại đúng đắn dần được hình thành và hoàn thiện qua các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc (từ Đại hội VI tới Đại hội X) Những thành tựu to lớn đạt được trên mặt trận đối ngoại nói chung, đối ngoại nhân dân nói riêng trong gần 25 năm đổi mới đã minh chứng cho tính đúng đắn, vận dụng sáng tạo, có hiệu quả của Đảng trong định hướng và phát triển công tác đối ngoại nhân dân Vị trí, vai trò, nhiệm vụ ngày càng được coi trọng, trong Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (2006) đã chỉ rõ: "Phối hợp chặt chẽ hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân" và phát triển công tác đối ngoại nhân dân theo phương châm "chủ động, linh hoạt, sáng tạo và hiệu quả" [29, tr.115-116]
Tuy nhiên, bên cạnh những thành công gặt hái được, mặt trận đối ngoại nhân dân Việt Nam trong những thập niên đầu thế kỷ 21 cũng đang gặp phải không ít những khó khăn, thách thức cần đổi mới trong bối cảnh đất nước đang hội nhập quốc tế ngày càng sâu sắc, toàn diện trên nhiều lĩnh vực Tình hình trong nước và thế giới đang không ngừng vận động và biến đổi, nhiều vấn đề mới nảy sinh, các thế lực thù địch vẫn luôn tìm mọi cách để can thiệp, chi phối
và phá hoại chúng ta, nhất là trên mặt trận đối ngoại
Trước tình hình đó, với mong muốn đẩy mạnh nghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện, có hệ thống tư tưởng của Người về công tác đối ngoại nhân dân trong thời kỳ này và rút ra bài học kinh nghiệm thiết thực Từ đó khai thác và vận dụng một cách sáng tạo, linh hoạt, có hiệu quả tư tưởng của Người vào hoạt động đối ngoại nhân dân thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế (cùng phối hợp với hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước để tạo thành một binh chủng đối ngoại chung của đất nước) trong những thập niên đầu thế kỷ 21 có ý nghĩa lý
luận và thực tiễn sâu sắc Vì vậy tôi chọn vấn đề "Vận dụng tư tưởng Hồ Chí
Minh vào hoạt động đối ngoại nhân dân trong thời kỳ đổi mới" làm đề tài luận
văn thạc sĩ, chuyên ngành quan hệ quốc tế
Trang 72 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đối ngoại nói chung và sự vận dụng của Đảng ta được nhiều nhà khoa học, viện nghiên cứu quan tâm nghiên cứu, nhất là trong những năm gần đây Đến nay có không ít các công trình khoa học, luận văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ, sách chuyên đề, bài viết trên báo và tạp chí đã
đề cập đến Tuy nhiên tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại nhân dân, nhất là sự vận dụng tư tưởng đó của Người trong thời kỳ đổi mới còn ít được các nhà khoa học, các luận án và luận văn quan tâm nghiên cứu Nhìn chung tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại nói chung và đối ngoại nhân dân nói riêng, mỗi nhà nghiên cứu đều có cách tiếp cận, nhìn nhận, đánh giá vấn đề này ở những góc độ khác
nhau Cụ thể là:
Đề tài và hội thảo khoa học
- Đề tài khoa học cấp bộ, Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, Bộ Ngoại giao
năm 2002, Thứ trưởng Nguyễn Đình Bin làm chủ nhiệm Đề tài gồm một số đề tài nhánh, các tác giả đi sâu phân tích các nội dung: bối cảnh ra đời, quá trình phát triển, nguồn gốc và những nội dung cơ bản tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh,
phương pháp, phong cách, nghệ thuật ngoại giao của Người
- Đề tài khoa học cấp bộ, Vận dụng sáng tạo tư tưởng ngoại giao Hồ Chí
Minh thời kỳ hội nhập, Ban nghiên cứu lịch sử ngoại giao, Bộ Ngoại giao năm
2008 do PGS,TS Vũ Dương Huân làm chủ nhiệm Đề tài nghiên cứu những nội dung cơ bản về tư tưởng đối ngoại, phương pháp, phong cách, nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh và sự vận dụng tư tưởng đó thời kỳ hội nhập
- Một số tài liệu hội thảo, tọa đàm khoa học có liên quan tới nội dung tư
tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao như: Ngoại giao Việt Nam trong thời đại Hồ
Chí Minh (Bộ Ngoại giao-2000); Công tác đối ngoại nhân dân trong sự nghiệp
đổi mới (Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam - 2002)
Sách
- Viện Quan hệ Quốc tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác ngoại giao
(Nxb Sự thật, Hà Nội, 1990) Phản ánh khá đầy đủ tư tưởng, hoạt động, kinh nghiệm của Người về ngoại giao được hình thành trong hoạt động cách mạng
- Viện Quan hệ Quốc tế, Vũ Khoan chủ biên, Tư tưởng Hồ Chí Minh về
công tác ngoại giao (Nxb Sự thật, Hà Nội, 1999) Nội dung cuốn sách đã phân
Trang 8tích một cách sâu sắc quá trình hoạt động đối ngoại của Người từ năm 1941 đến năm 1969 và rút ra những bài học kinh nghiệm quý, khái quát về tư tưởng đối
ngoại, về phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh
- Nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Luân, Hồ Chí Minh: Trí tuệ lớn của nền
ngoại giao Việt Nam hiện đại (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999), đã cố
gắng làm rõ một số quan niệm của Người về bạn thù, về sách lược tập hợp lực
lượng, về chính sách đối ngoại, về phương pháp dự báo thời cơ
- Nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên, Quán triệt tư tưởng Hồ
Chí Minh thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng trong giai đoạn mới (Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001) Tác giả đã trình bày những nội dung chủ yếu
tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao, nêu lên phương pháp, phong cách, nghệ thuật trong hoạt động ngoại giao của Người Đặc biệt về việc vận dụng tư tưởng
của Người vào xử lý một số vấn đề đối ngoại của đất nước ta hiện nay
- Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam, Hoạt động đối ngoại nhân dân
Việt Nam (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003) Đây là một cuốn sách hiếm
hoi chuyên ngành, các tác giả đã cố gắng giới thiệu một cách khái quát nhất bức tranh về quá trình hình thành, phát triển của công tác đối ngoại nhân dân của nước ta từ năm 1945 đến nay Đây là nguồn tư liệu quý cho tác giả khi thực hiện
đề tài luận văn
- Đinh Xuân Lý, Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại và sự vận dụng của
Đảng trong thời kỳ đổi mới (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007) Tác giả cũng
đã khái quát sự ra đời, quá trình phát triển, nguồn gốc, nội dung tư tưởng đối
ngoại Hồ Chí Minh và sự vận dụng tư tưởng của Người thời kỳ đổi mới
- Bộ ngoại giao, Ban nghiên cứu Lịch sử ngoại giao, Vận dụng tư tưởng đối
ngoại Hồ Chí Minh trong thời kỳ hội nhập quốc tế (Nxb Chính trị quốc gia Hà
Nội, 2009) Các tác giả đề cập tới vấn đề đặt ra cho ngoại giao Việt Nam và vận
dụng tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh trong thời kỳ hội nhập
- Một số cuốn sách khác như: Vũ Dương Huân: Tư tưởng Hồ Chí Minh về
ngoại giao (2005); Năm mươi năm ngoại giao Việt Nam (1945 - 1995) của Lưu
Văn Lợi, Nxb Công an nhân dân, 1996;; Phan Ngọc Liên: Tìm hiểu tư tưởng Hồ
Chí Minh về một số vấn đề quốc tế (1995); Đỗ Đức Hinh: Tư tưởng Hồ Chí Minh
về đối ngoại - Một số nội dung cơ bản (2007), vv
Trang 9Luận văn và luận án
Một số luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ về khoa học lịch sử, khoa học chính trị, khoa học quan hệ quốc tế được thực hiện gần đây:
- Luận văn thạc sĩ (2008), “Vận dụng tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh vào
việc hoạch định đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay” của
tác giả Hoàng Thị Hương Thu, Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia Hồ Chí
Minh.“Quan điểm của Hồ Chí Minh về mục tiêu, phương châm đối ngoại và sự
vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới” của tác giả Phạm
Thanh Thuỷ, (2009), Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
- Luận án tiến sĩ (2005), “Hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh
giai đoạn 1954 - 1969” của tác giả Trần Minh Trưởng, Học viện Chính trị và
Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
Báo và tạp chí
Nhiều bài viết của các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước, các tổ chức đoàn thể nhân dân, các nhà khoa học về hoạt động đối ngoại nói chung, về đối ngoại nhân dân nói riêng được đăng tải trên các tạp chí như: Lịch sử Đảng, Nghiên cứu Lịch
sử, Tạp chí Cộng sản, Thông tin đối ngoại, Nghiên cứu Quốc tế, Tạp chí Hữu nghị, Tạp chí Quê hương
- Vũ Dương Ninh: “Quan điểm quốc tế trong tư tưởng chiến lược đại đoàn
kết Hồ Chí Minh”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 3 - 1993
- Văn Tạo: “Công tác đối ngoại hiện nay trên cơ sở nghiên cứu tư tưởng Hồ
Chí Minh”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 3 - 1993
- Nguyễn Trọng Phúc: “Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao sau
hiệp định Giơnevơ”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 2 - 1995
- Phạm Hồng Chương - Phùng Đức Thắng: “Tìm hiểu tư tưởng ngoại giao
Hồ Chí Minh”, Tạp chí Cộng sản, số 12 - 1999
- Vũ Xuân Hồng: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác đối ngoại nhân dân”
Tạp chí Cộng sản, số 12 - 2003
- Nguyễn Dy Niên: “Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh ánh sáng soi đường
và đảm bảo thành công cho đối ngoại Việt Nam”, Tạp chí Thông tin đối ngoại số
5 - 2004
Trang 10- Minh Thắng: “Đổi mới và mở rộng công tác đối ngoại nhân dân: Lý luận
và thực tiễn”, Tạp chí Thông tin đối ngoại, số 6 - 2005
- Vũ Xuân Hồng: “Đảng lãnh đạo công tác đối ngoại nhân dân thời kỳ đổi
mới và quan hệ nhân dân với Lào, Tạp chí Thông tin đối ngoại, số 6 - 2007
- Đức Vượng: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ”, Tạp chí Tuyên
giáo, số 1 - 2010
Các công trình nghiên cứu khoa học, bài viết trên ngày càng làm rõ hơn tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh nói chung và bước đầu tìm hiểu, nghiên cứu tư tưởng của Người về công tác đối ngoại nhân dân, phân tích sự vận dụng đó của Đảng ta trong cách mạnh trước đây và công cuộc đổi mới hiện nay Tuy nhiên đến nay vẫn chưa có một công trình khoa học cụ thể nào trực tiếp đi sâu nghiên cứu sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoạt động đối ngoại nhân dân trong thời kỳ đổi mới một cách có hệ thống, toàn diện, sâu sắc Các công trình nghiên cứu nêu trên là cơ sở để cung cấp luận cứ, luận chứng để tác giả nghiên cứu và hoàn thành đề tài luận văn của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Việt Nam về công tác đối ngoại nhân dân trong thời kỳ đổi mới
- Tìm hiểu, làm rõ sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng và đoàn thể
nhân dân ta vào hoạt động đối ngoại nhân dân thời kỳ đổi mới
- Bước đầu rút ra một số bài học kinh nghiệm trong quá trình vận dụng tư tưởng của Người thời kỳ đổi mới
- Trên cơ sở đó đưa ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao nhận thức, khả năng vận dụng sáng tạo và có hiệu quả tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào công tác đối ngoại nhân dân trong thời kỳ hội nhập quốc tế những thập niên đầu của thế kỷ 21
Trang 114 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu
- Quá trình hình thành và những nội dung chủ yếu của tư tưởng Hồ Chí
Minh về đối ngoại nhân dân
- Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đối ngoại nhân dân trong thời
kỳ đổi mới
- Sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoạt động đối ngoại nhân dân
trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế của đất nước ta hiện nay
Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu nguồn gốc và quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về
đối ngoại nhân dân
- Một số nội dung cơ bản và thực tiễn hoạt động đối ngoại nhân dân của
Chủ tịch Hồ Chí Minh, nghiên cứu quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác đối ngoại nhân dân trong thời kỳ đổi mới
- Nghiên cứu sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, của Đảng và một số tổ chức đoàn thể nhân dân ta vào một số lĩnh vực cụ thể trong công tác đối ngoại nhân dân thời kỳ đổi mới Bước đầu rút ra một số bài học kinh nghiệm, đưa ra
một số khuyến nghị vận dụng trong đối ngoại nhân dân thời kỳ hội nhập
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Cơ sở lý luận
- Luận văn thực hiện trên cơ sở những quan điểm, nguyên lý cơ bản của chủ
nghĩa Mác -Lênin về cách mạng và phương pháp đấu tranh cách mạng
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại nhân dân và những quan điểm của
Đảng và Nhà nước ta về công tác đối ngoại nhân dân thời kỳ đổi mới
- Những quan điểm của các nhà khoa học trong và ngoài nước về công tác
đối ngoại nhân dân
Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn chủ yếu được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, đặc biệt là phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để làm rõ vấn đề
- Tuân thủ các nguyên tắc: khách quan, toàn diện, lịch sử cụ thể và phát
triển để luận giải và dự báo vấn đề nghiên cứu
Trang 12- Ngoài ra, luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như: khoa học
xã hội và nhân văn, lịch sử và lôgic, phân tích và tổng hợp, hệ thống, so sánh,
tổng kết thực tiễn, điều tra xã hội học, để làm rõ nội dung đề tài
6 Những đóng góp về khoa học và cấu trúc của luận văn
a) Những đóng góp về khoa học
- Góp phần tổng hợp, phân tích một cách có hệ thống và luận giải những nội dung chủ yếu, những giá trị thực tiễn trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại nhân dân trong quá trình hoạt động cách mạng
- Nghiên cứu sự vận dụng tư tưởng đó của Đảng, nhân dân ta trong thời kỳ đổi mới Trên cơ sở kế thừa những thành tựu của các nhà nghiên cứu và các nhà khoa học đi trước, luận văn cố gắng khái quát, hệ thống, làm rõ hơn nguồn gốc
và quá trình hình thành tư tưởng và những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại nhân dân và thực tiễn hoạt động của Người, cũng như sự vận dụng tư tưởng đó của Đảng và nhân dân ta vào hoạt động đối ngoại nhân dân trên một số lĩnh vực chủ yếu trong thời kỳ đổi mới
- Trên cơ sở nghiên cứu, bước đầu rút ra một số bài học kinh nghiệm và đề xuất một số khuyến nghị trên một số lĩnh vực cụ thể Đặc biệt góp phần tiếp tục vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người vào xây dựng đường lối và chiến lược đối ngoại nhân dân của Đảng ta trong thời kỳ hội nhập quốc tế của đất nước hiện nay
và trong những thâp niên đầu của thế kỷ 21
- Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác thực tiễn hoạt động đối ngoại nhân dân Nó còn phục vụ tốt cho công tác nghiên cứu, giảng dạy, học tập, giữ gìn, tuyên truyền, vận dụng, kế thừa, phát triển sáng tạo tư tưởng của Người thời kỳ hội nhập quốc tế
b) Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo; cấu trúc của luận văn được chia làm 3 chương Cụ thể như sau:
Chương 1: Quá trình hình thành tư tưởng và thực tiễn hoạt động đối ngoại
nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Chương 2: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoạt động đối ngoại nhân
dân trong thời kỳ đổi mới
Chương 3: Một số kinh nghiệm và khuyến nghị
Trang 13Chương 1
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG VÀ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG
ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Trong lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc ta thường phải đối phó với kẻ thù mạnh hơn gấp nhiều lần, thời chiến cũng như thời bình ông cha ta thường chọn giải pháp ngoại giao thương lượng hoặc hòa hiếu với lân bang để làm kế "sâu rễ, bền gốc" Tiếp thu tinh hoa kim, cổ, đông, tây về ngoại giao và trên cơ sở kế thừa tri thức ngoại giao của dân tộc ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
đã xây dựng nền ngoại giao Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh, trong đó công tác đối ngoại nhân dân được Người quan tâm rất sớm Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại nhân dân được hình thành và phát triển cùng với những biến cố lịch sử của dân tộc và những hoạt động thực tế trong ngoại giao của Người Thế giới nay đã đổi thay, công tác đối ngoại nhân dân Việt Nam ta ngày nay đã có bước trưởng thành vượt bậc trong thời đại Hồ Chí Minh Nhưng thời đại mà chúng ta đang sống với các mối quan hệ quốc tế luôn biến đổi phức tạp, rất khó dự báo Đòi hỏi chúng ta phải nghiên cứu, tìm hiểu, vận dụng sáng tạo những kinh nghiệm quý, tri thức tinh hoa về ngoại giao của cha ông ta để lại, đặc biệt là tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh Do đó việc tìm hiểu nguồn gốc, quá trình hình thành, những
nội dung cơ bản và thực tiễn hoạt động của Hồ Chí Minh về công tác đối ngoại
nhân dân là cơ sở đảm bảo cho tiếp nối những thành công của kênh đối ngoại nhân dân Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
1.1 Nguồn gốc, quá trình hình thành, nội dung tư tưởng và thực tiễn hoạt
động đối ngoại nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh
1.1.1 Nguồn gốc tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại nhân dân
Trước hết, tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao nói chung và công tác đối
ngoại nhân dân nói riêng được bắt nguồn từ chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, kết hợp truyền thống văn hóa dân tộc với truyền thống ngoại giao Việt Nam Việc đi
sứ bang giao của cha ông ta trước đây đều có mối quan hệ đến “an nguy hay tồn vong” của dân tộc Người xưa có câu: “Tài trai không làm khanh tướng thì làm
sứ giả”; những người đi sứ xưa kia còn là người phải có ý chí, lòng dũng cảm,
Trang 14độc lập tự cường và không được run sợ trước uy vũ để bảo toàn quốc mệnh Đồng thời cũng phải là những người đại diện xứng đáng cho nền văn hiến dân tộc, thấu suốt cổ kim” [48, tr.34] Đó còn là chủ nghĩa yêu nước và truyền thống lao động cần cù, sáng tạo trong xây dựng đất nước, anh dũng trong chống giặc ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc, có truyền thống đoàn kết, nhân ái của dân tộc Việt Nam Với bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, truyền thống ngoại giao của cha ông với nền ngoại giao yêu nước, vì dân, chính nghĩa, hòa hiếu và nhân đạo "lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo" Tuy có bề dày lịch sử hàng nghìn năm dựng nước, giữ nước, nhưng cha ông ta vẫn luôn đấu tranh để khảng định: “Nước Nam ta là của người Việt Nam, bờ cõi đã phân chia, sách trời
đã định” cùng “ngoại giao tâm công” của Nguyễn Trãi Những tư tưởng đó được
kế thừa, phát huy cao độ nhờ nhân cách, bản lĩnh, nghệ thuật và trí tuệ tầm cao
Hồ Chí Minh
Thứ hai, kế thừa tinh hoa văn hóa đông, tây, kim, cổ của nhân loại như nho
giáo, phật giáo, tư tưởng dân chủ, nhân văn của văn hóa Phục Hưng, của cách mạng tư sản phương Tây, chủ nghĩa Tam Dân ở Trung Quốc, cũng như phương pháp “tìm kiếm bạn đồng minh, cả trong và ngoài nước” của Tôn Dật Tiên, nghiên cứu binh pháp của Tôn Tử Từ đó Người rút ra bài học về việc dùng ngoại giao để thắng địch: “Dùng binh giỏi nhất là đánh bằng mưu Thứ hai là đánh bằng ngoại giao Thứ ba mới là đánh bằng binh Vây thành mà đánh là kém nhất, ” [59, tr.518] Người rất coi trọng vai trò của nhân dân trong hoạt động ngoại giao vì hòa bình, đoàn kết, hữu nghị, hợp tác giữa các dân tộc trên thế giới tạo thành nền tảng, kết hợp với tinh hoa ngoại giao của thế giới
Thứ ba, tiếp thu, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, một trong những
nguồn gốc lý luận và tư tưởng cơ bản để hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại Đặc biệt Người rất coi trọng vai trò của nhân dân làm ra lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới, là động lực phát triển của xã hội, của cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa Người tiếp thu và vận dụng kinh nghiệm ngoại giao nhân dân của Liên Xô, Trung Quốc
Thứ tư, từ kinh nghiệm hoạt động thực tiễn và sự rèn luyện trong công tác
đối ngoại của Hồ Chí Minh: Kể từ khi Người ra đi tìm đường cứu nước đến khi Đảng ta được thành lập (1911-1930) và tiến hành công tác đối ngoại của Đảng
Trang 15(1930-1945), chỉ đạo công tác ngoại giao Nhà nước, đối ngoại của Đảng, công tác đối ngoại nhân dân, cho tới khi Người qua đời (1945-1969) Người đã sáng lập, xây dựng nền ngoại giao Việt Nam hiện đại, tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gồm ba bộ phận cấu thành được kết hợp chặt chẽ với nhau, để tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn của nền ngoại giao Việt Nam Tư tưởng và hoạt động thực tiễn đối ngoại của Người đã trở thành khoa học và nghệ thuật ngoại giao của nước nhà trong thời đại Hồ Chí Minh
1.1.2 Quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại nhân dân
Lịch sử và truyền thống dân tộc ta đã truyền vào con người Hồ Chí Minh với đầy đủ tố chất của những sứ giả xưa kia, cùng với lịch sử dân tộc với hàng nghìn năm dựng nước, giữ nước, bề dày lịch sử bang giao quốc tế Lịch sử bang giao quốc tế của dân tộc ta còn ghi lại một số hoạt động của các sứ thần nước ta như: Mạc Đĩnh Chi, Lê Văn Thịnh, Giang Văn Minh, Lê Quý Đôn, những nhà bác học thông tuệ của Việt Nam đã làm rạng rỡ hai tiếng Việt Nam qua cách ứng
xử trí tuệ khi đi sứ Với tinh thần yêu nước, mối đồng cảm với những người cần
lao trên thế giới cũng là cơ sở để Người tiếp thu một cách tự nhiên chủ nghĩa Mác - Lênin V.I Lênin cho rằng: “Nếu không có sự tham gia của các dân tộc thuộc địa thì cách mạng xã hội chủ nghĩa không thể thắng lợi, không thể chiến
thắng hoàn toàn chủ nghĩa tư bản” [48, tr.28]
Thời kỳ Người hoạt động ở Pháp những năm hai mươi của thế kỷ 20, với sự vận động quốc tế để ủng hộ sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, thực chất là hoạt động đối ngoại nhân dân Người đã nhận thức đúng vai trò và vị trí công tác quan trọng này, đã nâng tầm đối ngoại nhân dân thành binh chủng hợp thành đội quân làm công tác đối ngoại chung của đất nước Khi ở Liên Xô và Trung Quốc, ngoài hoạt động Quốc tế Cộng sản, Người còn đi tuyên truyền và vận động các tổ chức, đoàn thể quần chúng ở Liên Xô, Trung Quốc anh em ủng
hộ nhân dân ta chống thực dân Pháp; giúp các cán bộ, thanh niên và nhi đồng ưu
tú của nước ta đi học tập, bồi dưỡng ở các nước đó Người còn lập ra ở Trung Quốc “Hội đoàn kết những dân tộc bị áp bức châu Á” Trong thời gian diễn ra cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai, Người cùng Đảng ta và Mặt trận Việt Minh với nhiều hình thức hoạt động phong phú, gắn cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta với cuộc đấu tranh chống phát xít của nhân dân Liên Xô, Trung
Trang 16Quốc, với nhân dân thế giới Sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Người lập Hội Việt - Trung thân hữu Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cùng với kênh ngoại giao Nhà nước, các hoạt động tích cực, kịp thời của kênh đối ngoại nhân dân đã góp phần quan trọng vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc ta, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (4-1975) Với tư tưởng lớn và tiến bộ vượt bậc so với các nhà yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ 20, đó là tư tưởng gắn cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam với cuộc đấu tranh của nhân dân lao động Pháp Người cũng bền bỉ đi tuyên truyền, vận động không chỉ những người cộng sản, mà còn tất cả các tầng lớp nhân dân, nhân sĩ trí thức Pháp, những người nước ngoài ở Pháp, nhằm tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của họ đối với cuộc đấu tranh giải phóng
dân tộc của nhân dân Việt Nam
Có thể thấy rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại nhân dân trên thực tế
đã xuất hiện từ đầu thế kỷ 20 Chính tư tưởng của Người đã tạo ra một “đội ngũ những người làm công tác đối ngoại nhân dân” đó là: Cán bộ các đoàn thể, tổ chức quần chúng, các tầng lớp nhân dân, những người đảm đương một loại hình công tác mới rất riêng biệt, nó bổ sung, hỗ trợ cho kênh ngoại giao chính thức của Đảng và Nhà nước Người cho rằng: “muốn làm tốt công tác đối ngoại phải hiểu tình hình nước mình, vì “mang quốc mệnh trên vai” và hiểu người, hiểu bạn
bè quốc tế” [48, tr.36] Những chặng đường lịch sử ấy đã thể hiện nổi bật quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại nhân dân
1.1.3 Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại nhân dân
Độc lập tự chủ, tự lực tự cường, tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, hòa bình, đoàn kết và hữu nghị, hợp tác trên cơ sở bình đẳng: Đó là nội dung cốt lõi tư tưởng Hồ Chí
Minh, thể hiện nhất quán toàn bộ quá trình hoạt động cách mạng của Người về quan hệ quốc tế, được đúc kết thành chân lý của thời đại “không có gì quý hơn độc lập tự do” Người nhấn mạnh: “Độc lập nghĩa là chúng tôi điều khiển lấy mọi công việc của chúng tôi, không có sự can thiệp ở ngoài vào; đồng thời công việc của ta trước hết ta phải làm lấy”, “Về chính trị, quân sự, kinh tế, nội chính, ngoại giao của ta là tự lực cánh sinh” và Người gọi đó “là cái gốc, là điểm mấu chốt” của mọi vấn đề” [10, tr.6] Một trong những mối quan hệ quan trọng nhất
Trang 17khi đó là giữa Việt Nam với hai nước trên bán đảo Đông Dương, vì cùng trong
“xứ Đông Dương thuộc Pháp” Với tầm nhìn chiến lược, ngay từ khi thành lập Đảng (3-2-1930), Hồ Chí Minh đã đề ra việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, chứ không thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương như ý kiến của Quốc tế Cộng sản Thực tế lịch sử quan hệ Việt Nam - Lào - Campuchia những năm sau này đã chứng minh tính đúng đắn tư tưởng đó của Người Khi phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế bị chia rẽ, chính tư tưởng về đoàn kết quốc tế, về quan hệ bình đẳng giữa các dân tộc, về không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, tạo cho Việt Nam một lợi thế để tranh thủ được tình đoàn kết của phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế đối với cách mạng nước ta trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, góp phần đoàn kết phong trào
Tư tưởng của Người về hoà bình và chống chiến tranh phi nghĩa: Được thể
hiện trong bức thư Người gửi cho nhân dân Pháp năm 1947, với tinh thần “còn nước còn tát”, Hồ Chí Minh kiên trì tìm kiếm giải pháp cứu vãn hòa bình cho cuộc xung đột thực dân Pháp gây ra ở Đông Dương Người nhấn mạnh: “Chúng tôi muốn hòa bình ngay để máu người Pháp và Việt ngừng chảy Những dòng máu đó chúng tôi đều quý như nhau” và Người nêu cao ngọn cờ hòa bình, ra sức tập hợp lực lượng rộng rãi chống những thế lực hiếu chiến “Chúng ta không thể nói khối phương Đông và khối phương Tây Tôi muốn nói có những người yêu chuộng hòa bình và có những kẻ chủ trương chiến tranh” [10, tr.7] Mặt khác, Hồ Chí Minh cũng cho rằng hòa bình và chống chiến tranh xâm lược phải gắn liền với đấu tranh cho độc lập dân tộc Người còn nêu rõ: “Nhân dân Việt Nam rất yêu chuộng hòa bình, nhưng hòa bình không thể tách rời độc lập dân tộc, Muốn
có hòa bình thật sự thì phải có độc lập thật sự; và đấu tranh cho độc lập tức là đấu tranh bảo vệ hòa bình” và Người còn khẳng định: “Nhân dân Việt Nam vĩnh viễn không để cho bất cứ kẻ nào xâm lược nước mình, đồng thời cũng vĩnh viễn
không xâm lược nước khác” [10, tr.7]
Về phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước láng giềng: Khi còn
hoạt động ở hải ngoại, Hồ Chí Minh đã nhận rõ âm mưu thâm độc của các thế lực thực dân và đế quốc gieo rắc hận thù giữa các dân tộc ở Đông Dương để nhằm duy trì sự thống trị của chúng Người nêu rõ “sự biệt lập và thiếu tin cậy lẫn nhau” đã làm suy yếu các dân tộc phương Đông và trong thông cáo chính
Trang 18sách đối ngoại đầu tiên của Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 3-10-1945, Người nêu rõ: “Ba nước phải cùng nhau đấu tranh để cởi ách đô
hộ, giúp đỡ lẫn nhau giành lại và duy trì nền độc lập của mình, Ba nước sẽ giúp
đỡ lẫn nhau trong công cuộc kiến thiết và cùng nhau tiến lên trên con đường tiến
bộ” [10, tr.8] Trong chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, Người xác định Việt
Nam “cần giúp đỡ Lào, Miên để bạn tự làm lấy”, giúp “vô điều kiện”, xem đó là
“nghĩa vụ quốc tế”, đồng thời “giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình” Trong chiến tranh Đông Dương lần thứ hai quan hệ giữa các nước trên bán đảo Đông Dương bước vào giai đoạn mới Việt Nam đã triển khai quan hệ với các nước bạn linh hoạt, hình thành mặt trận đoàn kết của nhân dân Đông Dương chống xâm lược Những mối quan hệ đó mang tình nghĩa sâu đậm “hợp tác bền vững lâu dài” Với Trung Quốc, Hồ Chí Minh dày công vun đắp mối tình
“vừa là đồng chí, vừa là anh em”, Người nêu rõ: “Thời xưa nhân dân hai nước Việt - Trung là những người bạn cùng bị áp bức, ngày nay là bạn chiến đấu, cùng
làm cách mạng” [10, tr.8] Đặc biệt, tài ứng xử ngoại giao của Hồ Chí Minh đã
thể hiện sự am hiểu sâu sắc văn hóa Trung Hoa, phù hợp với truyền thống hòa hiếu bang giao giữa hai nước và quan hệ toàn cầu
Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc, về quyền tự quyết, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ dân tộc, cho tới nay vẫn luôn là mục tiêu và động lực cho các
hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và công tác đối ngoại nhân dân Theo tư tưởng của Người thì: “Các nước thuộc địa không phải cứ ngồi chờ
sự giúp đỡ của người đồng chí mình, mà phải “mang sức ta để giải phóng cho ta”, phải “chủ động” và “tự bản thân mình” Sự sáng tạo trong tư tưởng Hồ Chí Minh
về gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới chính là ở chỗ “phải tự bản thân mình tạo nên sức mạnh cho mình để khi cách mạng ở thuộc địa thành công thì họ có thể giúp những anh em mình ở phương Tây trong sự nghiệp giải phóng
hoàn toàn” [48, tr.28] Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Người
luôn nêu cao mục tiêu: Nâng cao uy tín đất nước, để “sánh vai cùng các cường quốc năm châu” và “Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới” Vào những năm đầu thế kỷ 20, nước ta có các phong trào yêu nước nổ
ra, nhưng đều thất bại Trên cơ sở tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin, Người đã gắn kết một cách biện chứng giữa giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp và giải
Trang 19phóng xã hội, coi cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới
Tư tưởng của Người về cùng tồn tại hòa bình giữa các chế độ chính trị, xã hội
khác nhau và bình đẳng cùng có lợi, không can thiệp vào công việc nội bộ của
nhau trong quan hệ quốc tế Theo luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, hòa bình thật sự chỉ khi giai cấp bị bóc lột trên toàn thế giới được giải phóng
Tư tưởng về đồng minh, về đoàn kết lực lượng của Chủ tịch Hồ Chí Minh
còn thể hiện rõ ở cách chọn đối tượng trong kháng chiến chống Pháp và chống
Mỹ, những người cần tranh thủ trước hết là nhân dân chính quốc, tranh thủ làm công tác địch vận, binh vận Chính vì vậy trong kháng chiến chống thực dân Pháp chúng ta có nhiều bạn Pháp đã cùng đứng trong hàng ngũ với chúng ta để chiến đấu Cho tới nay số người này họ vẫn đang là những nhà hoạt động tích cực cho quan hệ hữu nghị Việt-Pháp Đặc biệt trong thời kỳ kháng chiến chống
Mỹ của nhân dân ta, tư tưởng về đối ngoại nhân dân của Người thể hiện rõ trong việc phân biệt ai là bạn, ai là thù và ai là đồng minh Các thế lực phản động trong Chính phủ Mỹ là kẻ thù của nhân dân Việt Nam, nhân dân Mỹ là bạn của Việt Nam Lúc sinh thời Người căn dặn: “Muốn làm cách mạng thắng lợi thì phải phân biệt ai là bạn, ai là thù, phải thực hiện thêm bạn bớt thù Mọi người yêu nước tiến bộ là bạn của ta Đế quốc Mỹ, bọn phản cách mạng là kẻ thù của ta”
[48, tr.32] Lời dạy đó của Người cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị
Tư tưởng về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong công tác đối ngoại nhân dân của Người: Xuất phát từ sức mạnh của dân tộc Việt Nam là
tổng hợp các yếu tố vật chất, tinh thần, truyền thống và hiện đại Người xác định:
“Sức mạnh, sự vĩ đại và bền bỉ của nhân dân Việt Nam cơ bản là ở sự đoàn kết
của nhân dân Việt Nam và ở sự ủng hộ của nhân dân thế giới” và năm 1961, khi
phân tích về chiều hướng cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta, Người nói: “Có sức mạnh cả nước một lòng lại có sự ủng hộ của nhân dân thế giới, chúng ta sẽ có một sức mạnh tổng hợp cộng với phương pháp cách mạng thích hợp, nhất định cách mạng nước ta sẽ đi đến đích cuối cùng” [10, tr.7] Người cũng xem trọng sự đoàn kết giữa các lực lượng tiến bộ trên thế giới, Người cho rằng điểm then chốt là không ngừng mở rộng tập hợp lực lượng quốc
tế, thêm bạn bớt thù, với phương châm: “Làm cho nước mình ít kẻ thù hơn hết và nhiều bạn đồng minh hơn hết” [10, tr.7]
Trang 20Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế, thêm bạn bớt thù, xây dựng mặt
trận nhân dân thế giới đoàn kết ủng hộ Việt Nam, đấu tranh vì mục tiêu chung của thời đại: Đây cũng là tư tưởng mang tính chiến lược xuyên suốt trong hoạt động quốc tế của Người, của Đảng ta và nhân dân ta Tư tưởng đó là một đặc điểm lớn của dân tộc và cha ông ta trong suốt chiều dài lịch sử, trong đoàn kết chống giặc ngoại xâm và phòng chống thiên tai để xây dựng đất nước Tư tưởng của Người về “thêm bạn, bớt thù”, về tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc được hội tụ trong 14 chữ vàng đó là: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết - Thành công, thành công, đại thành công” Theo quan điểm Hồ Chí Minh, đoàn kết quốc tế trước hết là đoàn kết với các dân tộc bị áp bức, những người cùng chung nỗi nhục mất nước Trước khi đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, Người đã tham gia thành lập Liên hiệp Hội các dân tộc bị áp bức Đoàn kết giữa các nước thuộc địa
và chính quốc là liên hiệp giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức, để “hình thành một lực lượng khổng lồ” Cũng theo tư tưởng của Người, đoàn kết là làm cho các thuộc địa từ chỗ “cách biệt nhau” đến “hiểu biết nhau hơn và đoàn kết hơn” Nếu xét về địa lý chính trị, thì tư tưởng đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước hết phải đoàn kết giữa các nước láng giềng cùng chung cảnh ngộ Đây là tư tưởng về xây dựng mối quan hệ đoàn kết đặc biệt Việt - Lào và Campuchia; mối quan hệ hữu nghị Việt - Trung; các quan hệ hợp tác hữu nghị giữa Việt Nam và Ấn Độ Có thể nói rằng, đối ngoại nhân dân Hồ Chí Minh đã góp công to lớn trong phát huy sức mạnh toàn dân tộc và nhân dân thế giới, làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lẫy lừng, buộc Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ
về Đông Dương (7-1954) giải phóng miền Bắc, tạo cơ sở quyết định giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (4-1975) Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, hoạt động đối ngoại nhân dân được phát triển mạnh mẽ trong quan hệ với các nước láng giềng (Trung Quốc, Lào, Campuchia), với nhân dân, bè bạn trên thế giới, nhất là nhân dân Mỹ Chính sự hiểu biết khách quan của nhân dân
Mỹ về cuộc chiến tranh xâm lược, phi nghĩa của chính quyền Mỹ ở Việt Nam đã thúc đẩy phong trào đấu tranh chống Mỹ xâm lược Việt Nam lên cao Chính cuộc đấu tranh này đã góp phần ngăn cản Quốc hội Mỹ trong giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh không thông qua quyết định sai lầm để tiếp tục dính líu sâu vào cuộc chiến, đẩy chế độ ngụy quyền Sài Gòn đã bị suy yếu mau chóng tan rã Tư tưởng
Trang 21Hồ Chí Minh về “thêm bạn, bớt thù” còn xuất phát ở tính nhân dân cao cả, với một tầm nhìn chính trị rất sâu sắc, Người luôn phân biệt ai là bạn, ai là thù trong quan hệ quốc tế Năm 1941, Người sang Trung Quốc và bị bắt, khi ở trong tù được biết J.Nê-ru, lãnh tụ phong trào giải phóng Ấn Độ cũng bị thực dân Anh bắt giam, Người đã viết bài thơ gửi J.Nê-ru, nội dung bài thơ thể hiện rõ tầm nhìn về đồng minh, về kẻ thù Tư tưởng về “thêm bạn, bớt thù” của Người không chỉ dừng lại ở tư tưởng, mà còn trở thành những hành động cụ thể Người đã làm rất nhiều việc để vận động nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam Như lập Uỷ ban bảo
vệ hòa bình thế giới của Việt Nam (11-1950) và chính Hồ Chí Minh là Chủ tịch danh dự đầu tiên của Uỷ ban bảo vệ hòa bình thế giới Việt Nam
Về sách lược lợi dụng mâu thuẫn: Vào những năm 1960, khi Liên Xô và
Trung Quốc bất đồng sâu sắc, Hồ Chí Minh chủ trương giữ gìn đoàn kết, giữ vững quan hệ cân bằng với cả hai nước lớn xã hội chủ nghĩa anh em, không đi với nước này chống nước kia Người nêu rõ: “Mục đích của ta là vì đoàn kết Tranh đấu để đi đến đoàn kết chứ không nói xấu ai, Phải làm sao cho trong Đảng và trong nhân dân giữ được lòng yêu mến và biết ơn các nước bạn anh em”
và trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, một mặt quyết tâm “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Nguỵ nhào”, mặt khác ta luôn bày tỏ thiện chí hòa bình, khảng định Việt Nam có thể “trải thảm đỏ” để quân Mỹ rút về nước” [10, tr.8] Như vậy, Hồ Chí Minh đã đề ra những quan điểm sáng tạo, sâu sắc, để lại những kinh nghiệm
và bài học quý về quan hệ và cách ứng xử với nước lớn
Về quan điểm, đường lối, phương pháp, phong cách và nghệ thuật ngoại giao: được Người thể hiện trong đường lối cách mạng Việt Nam và thực tiễn
hoạt động ngoại giao đa phương, phong phú, linh hoạt qua nhiều thời kỳ cách mạng của dân tộc Việt Nam Tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, với phong cách ứng xử linh hoạt, nhân nhượng có nguyên tắc, lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ đối phương và vận dụng nhuần nhuyễn “5 điều biết” là những phong cách và nghệ thuật ngoại giao được Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng triệt để Tư tưởng đó của Người có tầm lý luận cao, vừa có tính thực tiễn sâu sắc Sự tương tác giữa lý luận và thực tiễn làm tăng giá trị và sức sống của tư tưởng Hồ Chí Minh được coi
là “nền tảng và kim chỉ nam cho hoạt động đối ngoại của Đảng ta” Nó được thể hiện ở chỗ:
Trang 22Trước hết, tư tưởng ấy không chỉ soi rọi cho chính sách đối ngoại của
Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mà còn là đảm bảo cho sự thành công về đối ngoại nói chung và công tác đối ngoại nhân dân Việt Nam trong mọi thời kỳ cách mạng Nội dung tư tưởng của Người còn thể hiện bản chất của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh là: hoà bình, hữu nghị và hợp tác, chống chiến tranh xâm lược trong quan hệ với các nước, đặc biệt coi trọng quan hệ với các nước lớn Bảo vệ các quyền dân tộc cơ bản và đề cao đạo
lý trong quan hệ quốc tế; gắn Việt Nam với thế giới, giữa độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội; giữa độc lập, tự chủ, tự cường với đoàn kết hợp tác quốc tế, coi ngoại giao là một mặt trận, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại Đặc biệt, với phương pháp, phong cách và nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh, đã để lại cho chúng ta những mẫu mực trong cách ứng xử các vấn đề ngoại giao trong mọi thời kỳ cách mạng Tư tưởng ngoại giao ở Người luôn trở thành một mặt trận của cách mạng, đàm phán các hiệp định quốc tế lớn, có ý nghĩa quan trọng
để phát huy cao độ thắng lợi trên chiến trường, tạo tiền đề kết thúc cuộc chiến vào thời điểm có lợi nhất cho dân tộc
Hai là; dự báo, nắm bắt kịp thời cơ, vững vàng nguyên tắc, linh hoạt về
sách lược trong thực tiễn với phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” Như vậy cái “bất biến” đó là nguyên tắc độc lập, thống nhất, tự do, hạnh phúc của nhân dân và chủ quyền quốc gia; còn “vạn biến” là sách lược tuỳ từng hoàn cảnh, điều kiện mà ta áp dụng biện pháp linh hoạt, mềm dẻo, hòa hoãn khi cần thiết, thỏa hiệp có nguyên tắc, để đạt mục đích cao nhất cho dân tộc Ngoại giao “tâm công”
và 5 điều biết (biết mình, biết người, biết thời thế, biết dừng và biết biến hóa) là những phương pháp ngoại giao tiêu biểu nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh Vì đối ngoại là hoạt động đa dạng, phức tạp trên nhiều lĩnh vực khác nhau, đòi hỏi phải biết nắm vững, kết hợp quyền biến, linh hoạt, chủ động, sáng tạo, có phương pháp phù hợp và bối cảnh cụ thể Dự báo và nắm bắt thời cơ cho đất nước không chỉ là trí tuệ và khả năng tiên tri của Người, còn là yêu cầu có ý nghĩa quyết định trong hoạt động đối ngoại Với phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Hồ Chí Minh vừa dựa trên nền tảng đó, vừa là đỉnh cao của việc kết hợp hài hòa giữa kiên định mục tiêu, nguyên tắc với linh hoạt, chủ động về sách lược Coi trọng lựa chọn thời cơ, xử lý uyển chuyển các quan hệ đối ngoại
Trang 23Ba là; chính nhờ sự góp sức to lớn của mặt trận ngoại giao nhân dân
trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, ta đã tranh thủ được nhân dân thế giới, đặc biệt là nhân dân Pháp và nhân dân Mỹ ủng hộ cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân ta Mặt trận ngoại giao nhân dân đã tạo ra một phong trào phản đối chiến tranh xâm lược chiến đấu ngay trong lòng quốc gia của kẻ thù xâm lược như: Đã tạo nên phong trào nhân dân Pháp rầm rộ đấu tranh, nằm trên đường ray xe lửa để phản đối những chuyến tàu chở vũ khí giết người sang Việt Nam; với những cuộc mít tinh, biểu tình của hàng chục vạn quần chúng, gây chia rẽ lớn trong nội bộ nước Pháp Chính mặt trận ngoại giao nhân dân này đã góp phần buộc thực dân Pháp phải từ bỏ xâm lược Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược, mặt trận nhân dân thế giới đã ra sức đoàn kết, ủng hộ Việt Nam Chính sức mạnh ngoại giao đó kết hợp với sức mạnh của dân tộc, góp phần to lớn buộc Mỹ phải xuống thang, đi đến kết thúc chiến tranh Trong Di chúc, khi nói về ngoại giao nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: "Tôi sẽ thay mặt nhân dân ta đi thăm và cảm ơn các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa
và các nước bầu bạn khắp năm châu đã tận tình ủng hộ và giúp đỡ cuộc chống
Mỹ cứu nước của nhân dân ta" [76, tr.88]
Bốn là; trong cách ứng xử quốc tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao tư
tưởng bình đẳng, tự do Trong những năm hai mươi của thế kỷ 20, hình ảnh người thanh niên Việt Nam Nguyễn Ái Quốc phát biểu trước các hội nghị quốc tế
và làm việc trong Bộ phương Đông của Quốc tế Cộng sản đã để lại những ấn tượng về cách ứng xử tự tin và tư tưởng về quyền bình đẳng, bác ái giữa con người và các dân tộc Hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh sau ngày nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, đi hiên ngang trước hàng rào danh dự quân Pháp và Người bước ngang hàng với chính khách Pháp để bắt tay, đã thể hiện bản lĩnh tự tin, quan niệm bình đẳng giữa các dân tộc Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhận xét về Người: “Sự ứng xử linh hoạt của Hồ Chí Minh trong giao tiếp ngoại giao đã trở thành những câu chuyện huyền thoại” [10, tr.8] Phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh phản ánh nhân cách của Người, thể hiện tư duy độc lập, tự chủ
và sáng tạo, nhạy bén, thấm nhuần chất văn hóa, phong cách mới, viết giản dị, dễ hiểu, giàu sức cảm hóa và thuyết phục Người cho rằng: “Nắm vững nghệ thuật của điều có thể, không ngừng mở rộng giới hạn của điều có thể” [10, tr.9] Điểm
Trang 24nổi bật trong nghệ thuật này là lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ đối phương và biết nhân nhượng có nguyên tắc, đúng lúc để bảo vệ, phát triển thực lực cách mạng, đi tới giành thắng lợi
Tư tưởng của Người luôn coi nhân dân là bạn, phân biệt rõ nhân dân ở chính quốc với thực dân và kẻ xâm lược Người luôn giải thích và thực hiện mối quan hệ thân thiện, hữu nghị, đoàn kết với nhân dân các nước, đó là khẩu hiệu
“bốn phương vô sản đều là anh em” Người cũng giáo dục nhân dân ta cần biết phân biệt rõ đâu là bạn, đâu là thù, phân biệt bọn thực dân Pháp và bọn xâm lược
Mỹ, với nhân dân Pháp và nhân dân Mỹ Có thể thấy rằng, trong thế kỷ 20 chưa
có nước nào trên thế giới có khả năng tập hợp lực lượng toàn thể nhân loại tiến
bộ để đoàn kết, ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa, giải phóng dân tộc cho tổ quốc mình như Việt Nam Vì thế mặt trận đối ngoại nhân dân ta mang đậm dấu
ấn tư tưởng và phong cách Hồ Chí Minh, lấy bản sắc truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam, với tinh hoa văn hóa của thế giới, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, gắn cách mạng Việt Nam với phong trào tiến bộ của nhân dân thế giới Lấy đoàn kết là sức mạnh theo tinh thần "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết - Thành công, thành công, đại thành công" làm nền tảng đối ngoại nhân dân Nội dung tư tưởng đó của Người đều hàm chứa những định hướng chiến lược, những giải pháp giàu tính nghệ thuật cách mạng và ý chí tiến công như: Lấy yếu đánh mạnh, biết lợi dụng và khai thác xu thế dân chủ đi tới gây tiếng vang lớn, tạo sức mạnh dư luận Nhờ đó mà đấu tranh ngoại giao nhân dân Việt Nam được thực hiện liên tục và luôn giành thắng lợi trong mọi hoàn cảnh và mọi thời kỳ cách mạng khác nhau
1.1.4 Thực tiễn hoạt động đối ngoại nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Mở đầu hoạt động đối ngoại của Người là hoạt động đối ngoại nhân dân từ khi Người ra đi tìm đường cứu nước, trước hết là khảng định quyền dân tộc tự
quyết cho dân tộc Việt Nam, cùng với lịch trình đi qua các nước thuộc địa và chính quốc từ năm 1911 đến khi gặp được chủ nghĩa Mác - Lênin Tại Pháp với
việc thay mặt nhân dân Việt Nam, Người đưa yêu sách 8 điểm gửi tới Hội nghị
Véc-xây để đòi các quyền cơ bản cho nhân dân Việt Nam là: tự do, dân chủ và các quyền sơ đẳng khác Các hoạt động khác của Người như: tham dự Hội nghị Nông dân quốc tế, dự Đại hội V Quốc tế Cộng sản và nhiều đại hội của các tổ
Trang 25chức quốc tế khác Đây là dịp để Người tiếp xúc với lãnh đạo phong trào cách mạng vô sản trên thế giới, học hỏi kinh nghiệm và phối hợp hành động Ngay cả khi Đảng ta ra đời (3-2-1930) và nước nhà tuyên bố độc lập (2-9-1945), Người vẫn chỉ đạo và trực tiếp tiến hành công tác đối ngoại nhân dân Có thể nói rằng công tác đối ngoại nhân dân là một sáng tạo, một bước tiến lớn trong thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta Nhất là trong bối cảnh khi vận mệnh đất nước đang ở trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” và bị cô lập với thế giới bên ngoài Khi đó, Người thường xuyên vận động quốc tế, tranh thủ tình hữu nghị, sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân Pháp, các nước thuộc địa phụ thuộc và nhân dân các nước trên thế giới, đặc biệt là nhân dân Liên Xô và Trung Quốc, Ấn Độ đối với nhân dân ta Thông qua giới thiệu, thông tin về tình cảnh dân tộc Việt Nam bị thực dân Pháp áp bức bóc lột Sau Đại hội lần thứ I của Đảng (3-1935), Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gắn cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân ta với thực hiện nhiệm vụ chung của nhân dân thế giới chống chiến tranh, ủng hộ Liên Xô và cách mạng Trung Quốc, ủng hộ mặt trận nhân dân Pháp
và tranh thủ sự ủng hộ đó đối với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân
ta Những hoạt động đó, chứng tỏ Người luôn coi trọng và biết tận dụng tối đa để phát huy lợi thế của công tác này
Trong thời kỳ chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939-1945), với những hoạt
động đối ngoại của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về đối ngoại nhân dân trong thời kỳ này đã tranh thủ được sự ủng hộ, giúp đỡ có hiệu quả của Quốc tế Cộng sản, của Liên Xô và cách mạng Trung Quốc đối với cách mạng nước ta Thông qua Mặt trận Việt Minh tăng cường phối hợp với cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân Việt Nam với cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân Lào, nhân dân Campuchia; ủng hộ cuộc chiến đấu chống phát xít của nhân dân Liên Xô, nhân dân Trung Quốc Gắn cuộc đấu tranh của nhân dân ta chống Nhật - Pháp với cuộc chiến đấu của lực lượng Đồng minh chống phát xít, tạo điều kiện thuận lợi cho Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công Với Bản Tuyên ngôn độc lập của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ: “Mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng” và độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ là quyền thiêng liêng của mọi dân tộc Đây là thể hiện một sự sáng tạo về hoạt động ngoại giao nhân dân của Hồ Chí Minh Nếu như
Trang 26trong Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ nói về "mọi người", "các công dân" thì trong Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam là "dân tộc" Người coi đó là chủ thể của cách mạng để tuyên bố về sự bình đẳng giữa các dân tộc, trong thời điểm đó trước hết là các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam Qua đó Người muốn nhắc nhở người Pháp, người Mỹ “hãy tôn trọng quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam như đã từng tuyên bố ở nước họ”, vì tất cả là tư tưởng “không có gì quý hơn độc lập tự do” của dân tộc Việt Nam
Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã trực tiếp chỉ đạo thành lập các tổ chức hòa bình, hữu nghị và đoàn kết với nhân dân các nước, nhằm góp phần tập hợp đoàn kết nhân dân thế giới ủng hộ sự nghiệp cách mạng của Việt Nam Đảng ta bước đầu hình thành cơ chế tập hợp các lực lượng rộng rãi và bộ phận chuyên trách làm nòng cốt cho hoạt động này như: Ban Quốc tế nhân dân (sau này là Liên hiệp các tổ chức hoà bình
và đoàn kết, hữu nghị thuộc Ban Đối ngoại Trung ương) Công tác đối ngoại nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng đã góp phần tạo nên mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết, ủng hộ Việt Nam chưa từng có trong thế kỷ 20, góp phần đưa đến những chiến thắng vĩ đại của dân tộc ta
Thời kỳ sau Cách mạng tháng Tám (tháng Tám 1945 - tháng Mười hai 1946): Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo chặt chẽ hoạt động đối ngoại nhân dân
của Đảng ta, cùng với chính quyền nhân dân tiến hành các hoạt động đối ngoại một cách chủ động, linh hoạt, sáng tạo, góp phần quyết định giữ vững nền độc lập non trẻ mới giành được, đưa đất nước vượt qua hiểm nguy “ngàn cân treo sợi tóc” Cùng với việc động viên sức mạnh đoàn kết của nhân dân, vận động quốc tế ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta Trong thời gian sang thăm Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh và phái đoàn đàm phán của Việt Nam đã tiếp xúc rộng rãi với các tầng lớp nhân dân, chính khách, trí thức, nhà báo, các đảng phái chính trị, đoàn thể, tổ chức hữu nghị ở Pháp và các nhà hoạt động chính trị, nhà báo của nhiều nước Tây Âu, Bắc Mỹ và các nước thuộc địa, nêu ý chí độc lập, tự
do, thống nhất của dân tộc Việt Nam Với thiện chí hòa bình và hợp tác của nước Việt Nam với nước Pháp trên cơ sở tôn trọng độc lập của ta, bày tỏ tình cảm hữu nghị của nhân dân Việt Nam với nhân dân Pháp và nhân dân các nước thuộc địa Năm 1945, trong lúc thực dân Pháp quyết tâm cướp nước ta một lần nữa, ngoại
Trang 27giao của Việt Nam khi đó chưa phát triển, chưa thiết lập được quan hệ ngoại giao chính thức với bất cứ quốc gia nào, thì kênh ngoại giao nhân dân đã được khảng định là phương tiện chủ yếu để tiếp cận với thế giới bên ngoài Hồ Chí Minh căn dặn đồng bào mình: “Phải bằng những hoạt động khôn khéo để chinh phục nhân dân các nước đồng tình, ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta Đó
là quyền được đối xử văn minh, công bằng và bình đẳng, bác ái với công dân của các nước đế quốc đang sống và làm việc tại nước ta Qua đó khiến cho nhân dân nước họ và nhân dân thế giới hiểu rõ về đất nước Việt Nam, có thiện chí, tình cảm với Việt Nam Phải làm cho thế giới biết rằng chúng ta là một dân tộc văn minh, văn minh hơn bọn đi giết người cướp nước”[48, tr.38] Để tạo ra một phong trào làm đối ngoại nhân dân sâu rộng, để mọi người Việt Nam dù ở bất cứ nơi đâu trên thế giới cũng đều có thể tham gia mặt trận này với mục đích nâng cao vị thế dân tộc mình, Người căn dặn: “Kiều bào ở nước ngoài phải thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, luôn một lòng ủng hộ Tổ quốc, mở rộng tình thân thiện giữa nhân dân ta và nhân dân các nước Phải chan hòa gắn bó với họ theo tinh thần
“bán bà con xa, mua láng giềng gần để thuyết phục và cảm hóa họ” [48, tr.39]
Tháng 11-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi kiều bào Việt Nam ở Pháp hãy làm cho thế giới hiểu rõ bản chất phản động của chủ nghĩa thực dân Pháp để họ hiểu, ủng hộ nhân dân ta đấu tranh vì chính nghĩa Nhờ đó đã góp phần nâng cao
vị thế của đất nước trên vũ đài quốc tế, xác lập vị trí của ta trong lòng nhân loại tiến bộ thế giới Người nói: “Các bạn hãy làm cho thế giới văn minh và nhất là dân tộc Pháp nghe rõ tiếng nói của Tổ quốc Các bạn hãy phấn đấu phá tan những sự điêu toa của bọn thực dân Pháp đang tuyên truyền một cách bỉ ổi” [48, tr.39] Đặc biệt việc phát triển quan hệ nhân dân với Mỹ cũng rất được Người coi trọng, tháng 11-1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho Ngoại trưởng Mỹ đề nghị cho Việt Nam cử 50 thanh niên sang Mỹ học tập và phát triển quan hệ hữu hảo giữa hai nước trong bối cảnh giữa hai chính phủ chưa có thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức Tuy đề nghị này của Người sau đó không được phía Chính phủ Mỹ chấp nhận, nhưng đã đánh thức được không ít người Mỹ tiến bộ, có thiện chí, khiến nhân dân Mỹ ngày càng biết đến Việt Nam Năm 1944, khi viên phi công Mỹ nhảy dù xuống rừng Việt Bắc, Người đã đích thân dẫn cả viên Trung uý này của Mỹ đi Côn Minh (Trung Quốc) để trao trả cho quân Mỹ, vì Người coi đó
Trang 28là cơ hội tất yếu để nhân dân Mỹ hiểu về Việt Nam Theo đó Người mời viên thiếu ta Pát-ti (Mỹ) góp ý vào bản thảo Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đã gây ra sự kính phục, tạo cơ sở phát triển quan hệ với nhân dân Mỹ sau này, giúp cho người Mỹ hiểu dần về nhân dân Việt Nam từ những điểm xuất phát như thế Đó là những phương thức ngoại giao nhân dân hết sức hiệu quả và có khả năng tác động mạnh mẽ, bền vững không chỉ đối với nhân dân Mỹ, còn tạo ra sự ngưỡng mộ, làm lay chuyển cả những thế lực thù địch Đặc biệt, với hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh bước nhanh đứng cùng bậc thềm với các chính khách Pháp, khi Người đi thăm Pháp với tư cách Chủ tịch nước năm 1946 Đối với quân Tưởng, với đối sách bước đầu "Hoa - Việt thân thiện" nhằm hòa hoãn với Tưởng để tập trung lực lượng chống thực dân Pháp chuyển sang chủ trương “hòa để tiến” Đây là mẫu mực trong dùng sách lược để thắng kẻ thù Sau Hiệp định Sơ bộ (6-3-1946) mặc dù Pháp nhiều lần vi phạm, kể cả âm mưu tổ chức đảo chính tại Hà Nội (7-1946) Nhưng kể từ mùa hè năm 1946 nước
ta chỉ phải tập trung đối phó với một kẻ thù chính là thực dân Pháp Với những
nỗ lực hoạt động không mệt mỏi của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Thủ đô Paris (Pháp) suốt ba tháng ròng, là minh chứng cho hoạt động ngoại giao nhân dân đầy hiệu quả, giúp nhân dân Pháp và nhiều nước hiểu cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân ta Đặc biệt Hồ Chí Minh đã chỉ đạo lập một đoàn cán bộ tuyển từ các ngành dân chính đảng, ra nước ngoài để tuyên truyền về kháng chiến, tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân thế giới Đoàn đã tích cực tuyên truyền trong thanh niên, phụ nữ, công đoàn, lập cơ quan đại diện, phòng thông tin tuyên truyền ở một số nước châu Á, châu Âu Trong thực tiễn hoạt động đối ngoại nhân dân của mình, Người luôn chủ trương "thêm bạn, bớt thù", "dĩ bất biến, ứng vạn biến" và biết người, biết mình, biết thời thế, nắm bắt được quy luật khách quan, coi trọng
tổ chức lực lượng nhân dân để thực hiện các hoạt động sáng tạo, linh hoạt, hiệu quả Nhờ vậy một mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết và ủng hộ Việt Nam chưa từng có trong lịch sử đã được hình thành và phát huy hiệu quả, góp phần đưa tới chiến thắng lẫy lừng của dân tộc Việt Nam Những chủ trương và hoạt động đối ngoại nhân dân đó đã giúp "phát triển ngoại giao nhân dân rộng rãi" và nhằm
"luôn luôn tìm cách bớt thù, thêm bạn, tranh thủ sự đồng tình của nhân dân thế giới và viện trợ của các nước" [28, tr.146-112]
Trang 29Trong kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược (12-1946 đến 7-1954): Công tác đối ngoại nhân dân thời kỳ này của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí
Minh có bước phát triển mới, đóng vai trò quan trọng thực hiện đường lối và chính sách đối ngoại trong kháng chiến Đã tích cực vận động quốc tế, tranh thủ
sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân các nước đối với cuộc kháng chiến của nhân dân ta Trong bối cảnh cuối năm 1949, cách mạng Trung Quốc thành công đã ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc kháng chiến của nhân dân ta, cũng như của nhân dân Lào và Campuchia Đế quốc Pháp, Mỹ, Anh tăng cường câu kết chống lại nhân dân Việt Nam và nhân dân Đông Dương Thực hiện các Nghị quyết của Trung ương (1-1948 và 1-1949), dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ta chủ động mở mặt trận tuyên truyền, liên lạc quốc tế Trong khi sử dụng cơ quan đại diện của ta ở Băng Cốc (Thái Lan) và chừng nào đối với cơ quan đại diện của ta
ở Pháp làm chỗ đứng, ta vẫn tích cực dựa vào các nước xã hội chủ nghĩa Liên Xô
và Đông Âu Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền quốc tế của đoàn thể nhân dân như: Công đoàn, Thanh niên, Phụ nữ, Sinh viên, để liên lạc với các tổ chức quốc tế của giới mình, nhằm tranh thủ đồng tình, ủng hộ của dư luận thế giới với cuộc kháng chiến của ta Kết quả là chỉ trong hai năm (1948 và 1949) hoạt động của ta trên mặt trận này đã có ảnh hưởng sâu rộng
Đặc biệt, trong lúc cuộc kháng chiến của ta ngày càng phát triển, các hoạt động ngoại giao nhân dân rộng rãi của ta làm cho dư luận thế giới Trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa anh em ngày càng hiểu cuộc kháng chiến của ta mà tỏ tình đoàn kết, ủng hộ ngày càng mạnh hơn Dư luận báo chí ở Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân ở Đông Âu cũng cổ vũ cho cuộc chiến đấu của nhân dân
ta, cũng như nhân dân Lào và Campuchia Các đoàn thể, tổ chức dân chủ thế giới đều có những hoạt dộng cụ thể như tuyên truyền, ra tuyên bố, ra nghị quyết ủng
hộ cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam Đối với công tác vận động quốc tế
tập trung vào một số nội dung chủ yếu sau: Một là; nêu cao tính chất chính nghĩa
nhân đạo và triển vọng nhất định thắng lợi của cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam Vạch rõ tính chất phi nghĩa, tàn bạo và triển vọng nhất định thất bại
của cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp Hai là; làm cho nhân dân thế
giới hiểu rõ nhân dân Việt Nam kiên quyết giữ vững đường lối độc lập tự chủ, tự lực tự cường, coi trọng đoàn kết quốc tế Người nói với nhân dân ta: “Lấy sức ta
Trang 30mà giải phóng cho ta” và giải thích với nhân dân thế giới khi trả lời một nhà báo
Mỹ (9-1947) với tinh thần “Việt Nam làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”, khi trả lời nhà báo Mỹ (5-1948) Người cho rằng
“chúng tôi bao giờ cũng trông cậy vào chúng tôi và vào cái cảm tình tích cực của
người dân chủ thế giới, trước hết của các người dân chủ Pháp” [48, tr.39-40] Ba
là; khảng định cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp
xâm lược là để bảo vệ nền độc lập, tự do, giành lại hòa bình, là một bộ phận đấu tranh chung của nhân dân thế giới
Có thể thấy rằng trong thời kỳ cách mạng khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh không những thường xuyên chỉ đạo, mà còn đích thân làm công tác đối ngoại nhân dân, vận động quốc tế, như Người gửi thư tới Tổng thống Pháp, Mỹ và nước khác, những cuộc trả lời phỏng vấn báo chí Mục đích làm rõ chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, cô lập cao độ thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, tranh thủ
sự đồng tình và ủng hộ ở mức cao nhất của nhân dân các nước, đặc biệt là nhân dân Pháp, những người tiến bộ và nhân dân Mỹ Với những hoạt động có hiệu quả đó của Người, đã có những đóng góp tích cực vào thắng lợi to lớn về đối ngoại Phối hợp và phục vụ cho mặt trận quân sự và mặt trận chính trị, tạo thành
ba mặt trận đấu tranh, bảo đảm kháng chiến thành công Cùng với mặt trận đoàn kết toàn dân tộc trong nước, đã hình thành mặt trận đoàn kết nhân dân Việt Nam
- Lào - Campuchia cùng đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược, mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ, đoàn kết với nhân dân Việt Nam Trong mặt trận đó của thế giới, thì nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa, nhất là nhân dân Liên Xô và Trung Quốc làm lực lượng nòng cốt Bên cạnh sự ủng hộ mạnh mẽ về chính trị, nhân dân các nước đã dành cho nhân dân ta sự giúp đỡ to lớn về vật chất Nhân dân các nước đang đấu tranh giải phóng dân tộc, nhất là các nước thuộc địa Pháp, các nước mới giành được độc lập dân tộc, các lực lượng hòa bình, dân chủ trên thế giới (kể cả một bộ phận nhân dân Mỹ) đã đồng tình và ủng hộ nhân dân ta Trong khi tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của quốc tế, thì Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên lãnh đạo các hoạt động của nhân dân ta tham gia cuộc đấu tranh chung của Hội đồng hòa bình thế giới và các tổ chức dân chủ quốc tế, bày tỏ sự ủng hộ và tình đoàn kết của nhân dân ta đối với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Nhờ đó góp phần phát huy cao độ chính nghĩa, tinh thần anh
Trang 31dũng và thắng lợi kháng chiến của nhân dân ta Vận động phong trào nhân dân thế giới, trước hết là nhân dân Pháp đồng tình, ủng hộ nhân dân ta kháng chiến Thắng lợi Điện Biên Phủ (5-1954) và việc ký kết Hiệp định Giơnevơ (7-1954) được nhân dân thế giới yêu chuộng hòa bình, công lý, nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc chào mừng như thắng lợi của chính dân tộc mình
Đối ngoại nhân dân của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (tháng Bảy 1954 - tháng Tư 1975): Đường lối
và những kinh nghiệm hoạt động đối ngoại nhân dân và vận động quốc tế trong kháng chiến chống Pháp đã được vận dụng và phát triển lên tầm cao, góp phần tăng cường cho mặt trận đấu tranh ngoại giao phục vụ kháng chiến chống Mỹ thành công của nhân dân ta Hoạt động trên mặt trận này ngày càng phát triển cả
bề rộng và chiều sâu Nhìn lại lịch sử thế giới chưa từng có một dân tộc nào được
sự ủng hộ quốc tế rộng rãi và mạnh mẽ như cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam; cũng chưa bao giờ số phận của một dân tộc nhỏ và
số phận của nhân dân thế giới lại gắn chặt với nhau như vậy Mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống Mỹ cứu nước đã hình thành trên thực tế từng bước, và phát triển sâu rộng khi chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ thất bại (1963-1965) Để cổ vũ mạnh mẽ mặt trận đoàn kết trong nước của nhân dân Việt Nam và mặt trận đoàn kết Việt Nam-Lào-Campuchia Nhiều lực lượng khác nhau ở nhiều nước khắp (từ người dân bình thường đến nhà hoạt động chính trị, nghị sĩ, trí thức, nhà báo, các tổ chức quần chúng, tổ chức xã hội, đến đảng phái chính trị và cả một số chính phủ, ) đã lên án đế quốc Mỹ xâm lược và ủng hộ, đoàn kết với nhân dân Việt Nam, với một tinh thần bền bỉ và niềm tin vào chiến thắng của nhân dân ta Có thể nói rằng, phong trào nhân dân thế giới ủng hộ, đoàn kết với nhân dân Việt Nam chống Mỹ cứu nước là một phong trào quốc tế rộng lớn và hiếm có trong lịch sử thế giới, từ phong trào này “một thế hệ Việt Nam” đã ra đời ở nhiều nước Ngày nay không ít người trong “thế hệ Việt Nam” đang giữ cương vị lãnh đạo ở chính phủ, chính quyền, tổ chức chính trị, xã hội, vẫn giữ nguyên tình cảm với nhân dân ta
Tiểu kết chương 1
Về nguồn gốc tư tưởng cũng như quá trình hình thành, nội dung tư tưởng và thực tiễn hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên lĩnh vực đối ngoại nhân dân
Trang 32trong quá trình hoạt động cách mạng được bổ sung lẫn nhau Những yếu tố đó đã góp phần hình thành nên nguồn gốc tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao nói chung và đối ngoại nhân dân nói riêng Đó là tinh thần yêu nước, với tư chất thông minh, tư duy sáng tạo, mưu lược và nhạy bén, tầm nhìn xa trông rộng, coi trọng vai trò của nhân dân, được rèn luyện trong quá trình hoạt động cách mạng
và sự tiếp thu, vận dụng sáng tạo phương pháp luận Mác-Lênin, có kinh nghiệm hoạt động thực tiễn và nhạy bén trong cách ứng xử ngoại giao
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại nhân dân là một bộ phận quan trọng trong hệ thống tư tưởng của Người Nó có nguồn gốc từ chủ nghĩa yêu nước và truyền thống văn hóa và ngoại giao Việt Nam, kinh nghiệm ngoại giao nhân dân của thế giới với phương pháp luận Mác-xít Trên nền tảng ấy hình thành nên nội dung chủ yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại nhân dân, làm cho nhân dân các nước bạn bè, các chính khách, các tầng lớp nhân dân, các đoàn thể xã hội
và các tổ chức phi chính phủ, các giới nhân sĩ, trí thức cũng như các đối tác của
ta hiểu rõ tư tưởng về độc lập, tự chủ, hòa bình, đoàn kết, hữu nghị, về chủ nghĩa
xã hội và về quyền dân tộc tự quyết, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; về đồng minh và đoàn kết quốc tế, thêm bạn bớt thù, về phương pháp nắm bắt thời cơ và
“ngoại giao tâm công”, “dĩ bất biến, ứng vạn biến” và nghệ thuật vận dụng nhuần nhuyễn “năm cái biết”; nhân nhượng có nguyên tắc, lợi dụng mâu thuẫn đối phương, đoàn kết nhân dân trong nước với đoàn kết nhân dân thế giới
Thực tiễn hoạt động đối ngoại nhân dân của Người hết sức phong phú, đa dạng, linh hoạt, mưu trí, sáng tạo Thắng lợi của công tác đối ngoại nhân dân trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ không tách rời
sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh Với phương pháp luận chủ yếu
ở đây chính là “đội ngũ nhân dân” có sứ mệnh biến “tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại” thành vũ khí sắc bén để phá vòng vây kẻ thù, chống cuộc chiến tranh xâm lược tàn bạo của địch trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, giành độc lập tự do cho Tổ quốc Trong thời kỳ đổi mới và đẩy mạnh hội nhập quốc tế của đất nước hiện nay, khi chúng ta đã có quan hệ đối ngoại đầy đủ, thì quan hệ ngoại giao nhân dân với nhân dân vẫn là cơ sở cho mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước Vì công tác này có sức mạnh của nhân dân làm hậu thuẫn, sử dụng sức mạnh nhân dân, có tiếng nói và hành động của nhân dân
Trang 33và nhân dân thế giới Một “mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam” trước đây đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử, một thời Việt Nam từng được suy tôn là
“lương tâm của thời đại” rất đáng tự hào Trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay càng đòi hỏi các tổ chức nhân dân, đặc biệt đội ngũ cán bộ làm công tác chuyên trách trên mặt trận đối ngoại này phải cố gắng lớn hơn nữa trong việc vận dụng sáng tạo, linh hoạt tư tưởng của Người Đồng thời chúng ta phải khai phá được lối đi mới, với một tư duy mới để tranh thủ được sự đồng tình và ủng hộ rộng rãi của nhân dân các nước, phải có cách vận dụng sáng tạo, linh hoạt hiệu quả hơn nữa tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời kỳ đổi mới
Khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện đất nước từ Đại hội
VI đến Đại hội X của Đảng (từ 1986 đến nay), đường lối và tư duy về đối ngoại nhân dân nói riêng đã từng bước đổi mới, ngày càng xứng tầm với vị trí trong một thế giới mở cửa và hội nhập Từ Nghị quyết số 32-NQ/TW "về tình hình thế
giới và chính sách đối ngoại của Đảng ta" (6-1986), đến bổ sung nhiệm vụ đối
ngoại "ra sức kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại" trong điều kiện mới Tới Đại hội VII của Đảng (1991) ra tuyên bố: "chính sách đối ngoại rộng
mở, Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển" [23, tr.147] Đến Hội nghị Trung ương 3 khóa VII (6-1992) tiếp tục đề ra tư tưởng chỉ đạo hoạt động đối ngoại của Đảng
và Nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới Như vậy từ sau Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng, công tác đối ngoại nhân dân đã nhận được sự chỉ đạo chặt chẽ hơn Ngày 20-9-1994, Ban Bí thư Trung ương ra Chỉ thị số 44/CT-TW về
Trang 34“đổi mới và mở rộng công tác đối ngoại nhân dân” Đồng thời nhấn mạnh nhiệm
vụ của công tác đối ngoại nhân dân trong thời kỳ mới “phải góp phần giữ vững hòa bình, mở rộng quan hệ hữu nghị hợp tác, tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc đổi mới” Sau đây là một số quan điểm chủ yếu của Đảng ta về công tác đối ngoại nhân dân trong thời kỳ đổi mới
2.1 Một số quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đối ngoại nhân dân trong thời kỳ đổi mới
2.1.1 Về khái niệm đối ngoại nhân dân
Trước hết, chúng ta cần làm rõ khái niệm "đối ngoại nhân dân": Theo từ
điển tiếng Việt thì "ngoại giao là sự giao thiệp với nước ngoài để bảo vệ quyền lợi của quốc gia mình và để góp phần giải quyết những vấn đề quốc tế chung” và
"ngoại giao nhân dân" là sự giao thiệp với nước ngoài trên danh nghĩa các tổ chức, đoàn thể phi chính phủ [86, tr.683]; "đối ngoại là đối với nước ngoài, bên ngoài, nói về đường lối, chính sách, sự giao thiệp của nhà nước, của một tổ chức” [86, tr.338] Tuy nhiên có ý kiến cho rằng "ngoại giao" thường chỉ những hoạt động quốc tế riêng của Nhà nước, còn từ "đối ngoại" thường chỉ những hoạt động đối ngoại của Đảng và nhân dân Hoạt động đối ngoại của mọi quốc gia đều
nhằm phục vụ cho ba mục tiêu chủ yếu (an ninh - phát triển - ảnh hưởng) Thực
tế nền ngoại giao Việt Nam hiện đại được cấu thành bởi ba bộ phận: đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân Đây là ba binh chủng hợp thành thường xuyên tác chiến trên mặt trận ngoại giao cả trong thời kỳ chiến tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong thời kỳ xây dựng đất nước ta
hiện nay
Bước vào thời kỳ đổi mới (từ năm 1986 tới nay): Trên cơ sở nghiên cứu và
vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại, Đảng và Nhà nước ta với
tư duy mới và cách nhìn mới về khu vực và thế giới, từ đó đã đổi mới mạnh mẽ chính sách đối ngoại nói chung và tạo ra bước đột phá mới cho công tác đối ngoại nhân dân Những chủ trương, quan điểm đó của Đảng ta về công tác đối
ngoại nhân dân được thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau:
Nội dung Nghị quyết Trung ương 3 (khóa VII) của Đảng năm 1992 về đối ngoại chỉ rõ: "Mở rộng và đổi mới hoạt động đối ngoại nhân dân nhằm giữ vững hòa bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác tạo điều kiện quốc tế thuận
Trang 35lợi cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc
và dân chủ, tiến bộ xã hội” Chỉ thị số 44-CT/TW, ngày 20-9-1994 của Ban Bí
thư Trung ương (khóa VII) ghi rõ: "Công tác đối ngoại nhân dân là một bộ phận
cấu thành công tác đối ngoại chung của nước ta"
Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ (Khóa VII) của Đảng nêu rõ
"Mở rộng hoạt động đối ngoại của Đảng và đối ngoại nhân dân nhằm tranh thủ
sự đồng tình và ủng hộ rộng rãi của các tổ chức và nhân dân các nước đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước" [28, tr.109] Với chủ trương đa dạng hóa,
đa phương hóa quan hệ quốc tế đã trở thành chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta Việc thực hiện chính sách này làm cho hoạt động đối ngoại của nước ta nói chung và công tác đối ngoại nhân dân nói riêng tăng hiệu quả: "Đối ngoại nhân dân là nét độc đáo của chính sách đối ngoại đổi mới của Đảng ta, là hoạt động đối ngoại của nhiều đoàn thể, tổ chức quần chúng, các cá nhân với các tổ chức, cá nhân trên thế giới Hoạt động này đóng vai trò tích cực mở rộng đối tượng trong nước tham gia hoạt động đối ngoại và đối tượng ngoài nước quan hệ với Việt Nam Hoạt động đối ngoại nhân dân trở thành mặt trận chung cho tất cả các cấp, các ngành, tạo nên sức mạnh tổng hợp của mặt trận đối ngoại phục vụ sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" [87, tr.297]
Trong nội dung Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của
Đảng ta (1996) một lần nữa đã làm rõ hơn, sâu sắc hơn chủ trương: "Mở rộng quan hệ đối ngoại nhân dân, quan hệ với các tổ chức phi chính phủ, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ rộng rãi của nhân dân các nước, góp phần thúc đẩy xu thế
hòa bình, hợp tác, phát triển" [24, tr.121] Tới Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ
IX của Đảng ta (2001) một lần nữa khảng định tầm quan trọng và làm sâu sắc hơn quan điểm: "Mở rộng hơn nữa công tác đối ngoại nhân dân, tăng cường quan
hệ song phương và đa phương với các tổ chức nhân dân các nước, nâng cao hiệu quả hợp tác với các tổ chức phi chính phủ quốc gia và quốc tế, góp phần tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa nhân dân ta và nhân dân các nước trong khu vực và trên thế giới" và Đại hội IX của Đảng ta đã chỉ rõ: "Phối hợp chặt chẽ hoạt động ngoại giao của Nhà nước, hoạt động đối
ngoại của Đảng và hoạt động đối ngoại nhân dân" [27, tr.123]
Trang 36Đặc biệt, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X (2006) Đảng ta tiếp tục khảng định và đề ra nhiệm vụ quan trọng là: "Phát triển công tác đối ngoại nhân dân theo phương châm "chủ động, linh hoạt, sáng tạo và hiệu quả" Tich cực tham gia các diễn đàn và hoạt động của nhân dân thế giới Tăng cường vận động viện trợ và nâng cao hiệu quả hợp tác với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài
để phát triển kinh tế - xã hội" [29, tr.113]
Ngoài những quan điểm, chủ trương đã khảng định trong các Văn kiện của Đảng ta thời kỳ đổi mới đã nêu trên, còn có những cách tiếp cận và giải thích của một số nhà nghiên cứu đáng chú ý khác, như: “Đối ngoại nhân dân là một bộ phận cấu thành lực lượng đối ngoại nước ta gồm: đối ngoại của Đảng, ngoại giao của Nhà nước và đối ngoại của nhân dân, cùng phối hợp hoạt động nhằm giữ vững môi trường hòa bình, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [21, tr.208] “Đối ngoại nhân dân thực chất là công tác dân vận
và vận động các đối tượng quần chúng nhân dân trong và ngoài nước để đồng tình, ủng hộ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ta Công tác đối ngoại nhân dân là một bộ phận hợp thành của công tác đối ngoại chung, phối hợp chặt chẽ và phục vụ cho công tác đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước trong việc thực hiện nhiệm vụ, đường lối và chính sách đối ngoại của Đảng” [39, tr.15]
Tóm lại, trên đây là một số quan điểm, đường lối quan trọng của Đảng ta về
công tác đối ngoại nhân dân từ Đại hội VI đến Đại hội X của Đảng Để vận dụng
thành công tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại nhân dân vào trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế ở nước ta, các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta
đã hết sức coi trọng, quan tâm tạo điều kiện thuận lợi để phát huy có hiệu quả cao nhất kênh đối ngoại nhân dân đầy tính sáng tạo này của đất nước Nhằm không ngừng tăng cường củng cố môi trường hòa bình, đoàn kết, hữu nghị và hợp tác, sự hiểu biết, thái độ thiện chí, sự tin cậy giữa nhân dân ta với nhân dân các nước, góp phần quan trọng vào việc phát triển quan hệ hợp tác, hữu nghị và tính xây dựng tích cực giữa Việt Nam và các nước trên thế giới Để làm được điều đó, tư duy và đường lối công tác đối ngoại nhân dân cần tiếp tục được đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, phát huy tinh thần chủ động, linh hoạt và sáng tạo, hiệu quả các mặt công tác trong thời gian tới
Trang 372.1.2 Vai trò, mục đích và nhiệm vụ của đối ngoại nhân dân
Vai trò của đối ngoại nhân dân: Trên cơ sở kế thừa, vận dụng sáng tạo tư
tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại nhân dân của Đảng trong thời kỳ đổi mới, hoạt động của kênh đối ngoại đầy tính sáng tạo này của nước ta ngày càng được khảng định rõ vai trò và tầm quan trọng qua các kỳ Đại hội của Đảng ta Theo báo Nhân dân (số 19557, thứ năm, ngày 12-3-2009) khi Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết tới thăm Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam đã nêu rõ: “Liên hiệp phải thực sự mang tính nhân dân, hoạt động năng nổ, thực chất hơn, xứng với vai trò, nhiệm vụ của mình” Đồng thời chỉ rõ: “Quan hệ đối ngoại hiện nay còn nhiều hạn chế cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, chưa phát huy đầy đủ thế mạnh của đối ngoại nhân dân trong tình hình mới Không ít hoạt động đối ngoại mang tính hình thức, xơ cứng, hiệu quả thấp Dù trong điều kiện và hoàn cảnh nào khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tình đoàn kết quốc tế có sức mạnh mà không loại vũ khí nào có thể khuất phục Vì vậy vai trò của Liên hiệp là cực kỳ quan trọng và phải được phát huy liên tục” Qua đó cho thấy vai trò của nó được thể hiện ở chỗ trong khi chúng ta tiến hành các hoạt động đối ngoại Nhà nước, phải dùng tới cả kênh đối ngoại nhân dân để xử lý vấn đề và trong quan hệ giữa nhân dân các nước đôi khi cũng tham gia giải quyết những vấn đề của Nhà nước Đối ngoại nhân dân thực chất là công tác dân vận, vận động các đối tượng quần chúng nhân dân trong và ngoài nước đồng tình, ủng hộ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Công tác đối ngoại nhân dân là một bộ phận hợp thành công tác đối ngoại chung, phối hợp, góp phần phục vụ đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước trong thực hiện nhiệm vụ, đường lối và chính sách đối ngoại của Đảng
Mục đích của đối ngoại nhân dân là: “Làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ
đất nước, nền văn hóa và con người Việt Nam, lập trường, quan điểm và chính sách của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta về các vấn đề đối nội, đối ngoại; tạo sự tin cậy, tranh thủ thiện cảm, sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân các nước, các vùng lãnh thổ đối với công cuộc đổi mới và phát triển của nhân dân ta; đối với cuộc đấu tranh của ta trên các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo và công bằng thương mại, giải quyết hậu quả chiến tranh Phát triển tình hữu nghị
và mở rộng hợp tác, tăng cường đoàn kết, ủng hộ lẫn nhau giữa các dân tộc; góp phần và cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, phát triển công
Trang 38bằng, bền vững, dân chủ và tiến bộ xã hội; bày tỏ quan điểm, thái độ của nhân dân Việt Nam đối với các sự kiện và vấn đề quốc tế cần quan tâm Tham gia tích cực, đóng góp thiết thực vào các hoạt động của các tổ chức quốc tế, các diễn đàn nhân dân thế giới mà nhân dân ta là thành viên hoặc có đại biểu tham dự Tranh thủ sự giúp đỡ, viện trợ của nhân dân thế giới, các tổ chức phi chính phủ nước ngoài, các tổ chức quốc tế về xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế-xã hội, khắc phục thiên tai, chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm quản lý kinh tế, xã hội, y tế giáo dục, giao lưu văn hóa, viện trợ nhân đạo Góp phần tuyên truyền, giáo dục nhân dân ta nhận thức về tình hình quốc tế, đường lối và chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, nâng cao năng lực và bản lĩnh của nhân dân tham gia giao lưu và hội nhập quốc tế” [21, tr.210-211]
Nhiệm vụ của công tác đối ngoại nhân dân trong thời kỳ mới là phải: “Góp
phần tích cực mở rộng quan hệ đoàn kết, hợp tác và hữu nghị, sự giao lưu kinh tế, văn hóa và khoa học - kỹ thuật giữa nhân dân ta với các nước trên thế giới đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước của nhân dân ta Bày tỏ sự đoàn kết, ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân các nước, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc và dân chủ, tiến bộ xã hội và giải quyết những vấn đề có tính chất toàn cầu như bảo vệ môi trường, phòng chống một số bệnh nguy hiểm Tiếp tục góp phần duy trì và đổi mới các tổ chức dân chủ quốc tế đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc và dân chủ, tiến bộ xã hội phù hợp với tình hình mới của thế giới và điều kiện thực tế của ta Làm đầu mối vận động, điều phối viện trợ của các tổ chức hòa bình, đoàn kết, hữu nghị, các tổ chức nhân đạo, từ thiện, các tổ chức phi chính phủ và cá nhân ở các nước trên thế giới nhằm góp phần vào công cuộc phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước” [49, tr.36-37]
Như vậy, vai trò, mục đích và nhiệm vụ của công tác đối ngoại nhân dân
trong thời kỳ đổi mới của đất nước ta tiếp tục được mở rộng và đạt được những thành tựu quan trọng Hoạt động đối ngoại nhân dân trong thời gian qua đã bám sát nội dung chương trình hành động, có trọng tâm, trọng điểm phù hợp với đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng theo phương châm: “Chủ động, linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả” [29, tr.113] Quan hệ đối tác được mở rộng, các hoạt động hữu nghị, giao lưu hợp tác nhân dân với các nước láng giềng, bạn bè truyền
Trang 39thống, các nước lớn được đẩy mạnh, đóng góp tích cực cho ngoại giao Nhà nước
và góp phần thúc đẩy hợp tác về kinh tế, văn hóa, khoa học giữa Việt Nam và các nước Đã tích cực quảng bá và bảo vệ được lợi ích, hình ảnh của Việt Nam tại các diễn đàn nhân dân khu vực và quốc tế Vận động nhân dân thế giới ủng hộ nạn nhân chất độc da cam, đóng góp vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, phát triển công bằng và bền vững, dân chủ và tiến bộ xã hội; vận động viện trợ phi chính phủ nước ngoài tăng đáng kể, công tác quản lý hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam được tăng cường Thể hiện vai trò ngày càng quan trọng của công tác đối ngoại nhân dân trong thời
kỳ hội nhập và mở rộng quan hệ quốc tế Đặc biệt, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam luôn phát huy tốt vai trò của mình, đẩy mạnh các công tác đối ngoại nhân dân, tăng cường tình đoàn kết hữu nghị, đối ngoại nhân dân với các nước, góp phần tạo nên thế mới, lực mới, thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới của đất nước Nhiệm vụ của công tác đối ngoại nhân dân ngày nay không chỉ là
kế thừa, vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người, còn phải linh hoạt trong hoạt động của mình như: đối với nhóm các quốc gia, tổ chức quốc tế luôn tin yêu, ủng
hộ Việt Nam, nhiệm vụ của công tác này phải giữ vững niềm tin họ đã dành cho Việt Nam Đồng thời thâm nhập, tìm hiểu, vận động các quốc gia, tổ chức còn chưa hiểu rõ về Việt Nam Với các tổ chức, lực lượng người Việt Nam ở nước ngoài chống đối Nhà nước, đối ngoại nhân dân vừa đấu tranh, vừa tuyên truyền chứ không vì họ chống đối mà đẩy họ ngày càng xa Tổ quốc
2.1.3 Hình thức, lực lượng, phương thức và nguyên tắc hoạt động
Hình thức đối ngoại nhân dân: thường rất đa dạng như nói chuyện, viết báo
và viết sách, tiếp xúc vận động cá nhân và tổ chức, nói chuyện ở các diễn đàn của nước đối tác; diễn đàn quốc tế, họp mặt, liên hoan hữu nghị, hội thảo, giao lưu văn hóa văn nghệ, thể thao, trao đổi khoa học kỹ thuật, viện trợ nhân đạo và hợp tác giáo dục, vv
Lực lượng đối ngoại nhân dân là: hoạt động đối ngoại "có sự tham gia rộng
rãi của các đoàn thể nhân dân, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội
và tổ chức xã hội - nghề nghiệp; các cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị ở các cấp không nhân danh Nhà nước và Chính phủ; của các nhân sĩ, trí thức, các nhà khoa học, văn nghệ sĩ, nhà báo, đồng bào các tôn giáo và các dân tộc, các
Trang 40doanh nhân thuộc các thành phần kinh tế; các tổ chức từ thiện, nhân đạo, bảo vệ môi trường; của nhân dân trong nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài" [21, tr.208] Như vậy, lực lượng tham gia công tác này gồm các tổ chức chính trị
- xã hội, các tổ chức nhân dân, hội nghề nghiệp, các cá nhân và nói rộng ra là toàn thể các tầng lớp nhân dân Tuy nhiên về tổ chức lực lượng thì tổ chức nhân dân và cá nhân nào cũng có thể làm Đồng thời phải có lực lượng nòng cốt, hay những tổ chức chính trị - xã hội chuyên trách về đối ngoại nhân dân trên một số lĩnh vực như: tổ chức hòa bình, đoàn kết, hữu nghị với nhân dân các nước Lực lượng làm công tác này do nhiều lực lượng rộng rãi tham gia, nó không chỉ có các đoàn thể nhân dân, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức văn hóa nghệ thuật, khoa học, hội nghề nghiệp, và nói rộng ra là tất cả các tầng lớp nhân dân được tiến hành với những đối tượng và hình thức thích hợp Cần có những tổ chức chính trị -xã hội, đoàn thể nhân dân được thành lập, để chuyên trách hoạt động công tác đối ngoại nhân dân làm nòng cốt trong các lĩnh vực hòa bình và đoàn kết, hữu nghị và viện trợ nhân đạo
Phương thức hoạt động của đối ngoại nhân dân là: hết sức phong phú, đa
dạng, linh hoạt, vừa có thể là chính thức, vừa có thể là phi chính thức và cũng có thể tiến hành các hoạt động đối ngoại trên một số vấn đề, ở những quốc gia và khu vực, vùng lãnh thổ trong những hoàn cảnh cụ thể mà các mặt trận đối ngoại khác chưa triển khai hoặc không thuận lợi
Đối ngoại nhân dân thực hiện theo nguyên tắc: "Tôn trọng độc lập, chủ
quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, tôn trọng lẫn nhau Đối ngoại nhân dân có thể tham gia ký kết, gia nhập, thực hiện điều ước quốc tế, thoả thuận quốc tế, nhưng chỉ nhân danh tổ chức, cơ quan đơn
vị của mình và theo pháp luật của Việt Nam; không nhân danh Nhà nước và Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" [21, tr.209]
2.1.4 Đối tác của hoạt động đối ngoại nhân dân
Đó là nhân dân các nước trên thế giới, nhằm tranh thủ trái tim khối óc, tình
cảm của bạn bè khắp nơi trên thế giới đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ chúng ta Từ vận động, mở rộng các đối tác và các quan hệ cá nhân thuộc các tầng lớp, nghề nghiệp, khuynh hướng chính trị khác nhau, đến các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức quần chúng, tổ chức phi chính phủ Duy trì, củng cố mối quan hệ với bạn bè