Lý do lựa chọn đề tài Hoạt động đối ngoại nhân dân ĐNND là các hoạt động đối ngoại không thuộc ngoại giao Nhà nước và đối ngoại của Đảng, mà do các tổ chức chính trị - xã hội, các hội ng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội, 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS TS Phạm Quang Minh
Các số liệu trong luận án là trung thực, bảo đảm tính khách quan Các tài liệu tham khảo có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng
Hà Nội, ngày 20 tháng 06 năm 2016
Tác giả luận án
Trần Thị Thúy Hà
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do lựa chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 5
5 Đóng góp khoa học của luận án 6
6 Kết cấu của luận án 7
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 9
1.1 NHÓM CÔNG TRÌNH ĐỀ CẬP ĐẾN ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN VIỆT NAM 9
1.2 NHÓM CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN 18
1.3 NHỮNG VẤN ĐỀ ĐÃ ĐƯỢC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 21
Chương 2 SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN GIAI ĐOẠN 1991-2001 26
2.1 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ LÃNH ĐẠO MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN CỦA ĐẢNG TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2001 26
2.1.1 Đối ngoại nhân dân trước năm 1991 26
2.1.2 Đặc điểm, tình hình trong giai đoạn mới 33
2.2 ĐẢNG LÃNH ĐẠO HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN 40
2.2.1 Chủ trương của Đảng 40
2.2.2 Sự chỉ đạo của Đảng 48
Tiểu kết chương 2 63
Chương 3 ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN GIAI ĐOẠN 2001 - 2010 66
Trang 53.1 NHỮNG CHUYỂN BIẾN MỚI CỦA TÌNH HÌNH THẾ GIỚI VÀ
TRONG NƯỚC 66
3.1.1 Tình hình thế giới 66
3.1.2 Tình hình trong nước 70
3.2 ĐẢNG LÃNH ĐẠO HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN 74
3.2.1 Chủ trương của Đảng 74
3.2.2 Sự chỉ đạo của Đảng 79
Tiểu kết chương 3 101
Chương 4 NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 103
4.1 NHẬN XÉT 103
4.1.1 Một số ưu điểm 103
4.1.2 Một số hạn chế 110
4.1.3 Một số kết quả đạt được của hoạt động đối ngoại nhân dân 124
4.2 MỘT SỐ KINH NGHIỆM 131
4.2.1 Xuất phát từ thực tiễn, nhận thức đúng tình hình, kịp thời tăng cường sự lãnh đạo của Đảng 131
4.2.2 Quán triệt sâu sắc chủ trương và nguyên tắc đối ngoại của Đảng, bảo đảm lợi ích dân tộc chân chính, giữ vững độc lập tự chủ, tự lực, tự cường 137
4.2.3 Đa dạng hóa, đa phương hóa các hoạt động đối ngoại nhân dân, đồng thời xác định trọng tâm, chú trọng tính hiệu quả và chiều sâu 138
4.2.4 Coi trọng công tác nghiên cứu, dự báo và xây dựng đội ngũ làm đối ngoại nhân dân 141
Tiểu kết chương 4 143
KẾT LUẬN 145 TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN APEC Asia - Pacific Economic Co-operation
Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương
ASEAN Association of Southeast Asian Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
ASEM The Asia - Europe Meeting
Diễn đàn hợp tác Á-Âu
ĐTNCSHCM Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
Chủ biên
Liên minh châu Âu
HLHPNVN Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
LĐLĐVN Liên đoàn Lao động Việt Nam
Người Mỹ mất tích trong chiến tranh (Việt Nam)
NAFTA North America Free Trade Agreement
Hiệp định Thương mại tự do Bắc Mỹ
NVNONN Người Việt Nam ở nước ngoài
ODA Official Development Assistance
Trang 7Hỗ trợ phát triển chính thức
PACCOM People's Aid Coordinating Committee
Ban điều phối viện trợ nhân dân
Tù nhân chiến tranh
TAFTA Khu vực tự do thương mại xuyên Đại Tây Dương TCPCPNN Tổ chức phi chính phủ nước ngoài
MTTQVN Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
VUFO Vietnam Union of Friendship Organizations
Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam
Tổ chức thương mại thế giới
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Hoạt động đối ngoại nhân dân (ĐNND) là các hoạt động đối ngoại không thuộc ngoại giao Nhà nước và đối ngoại của Đảng, mà do các tổ chức chính trị - xã hội, các hội nghề nghiệp, các tổ chức như các viện nghiên cứu, các trường đại học hay các cá nhân thuộc các tầng lớp nhân dân thực hiện với các đối tác tương ứng nước ngoài Hoạt động ĐNND của Việt Nam do Vụ Đối ngoại nhân dân (Ban Đối ngoại Trung ương Đảng) và Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam (VUFO) quản lý và trực tiếp điều phối; hai cơ quan này phối hợp với Bộ Ngoại giao trong việc thực hiện các hoạt động ĐNND
ĐNND không bị hạn chế bởi nghi thức ngoại giao, có lực lượng tham gia đông đảo, cơ sở sâu rộng, phương thức linh hoạt, là bộ phận quan trọng hợp thành nền ngoại giao quốc gia Cùng với đối ngoại của Đảng và ngoại giao nhà nước, ĐNND tạo nên thế “kiềng ba chân” vững chắc của mặt trận đối ngoại
Những năm cuối của thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, chưa bao giờ ĐNND lại được nhắc đến nhiều như vậy Các chính phủ nhận ra rằng quan hệ đối ngoại của mỗi quốc gia không chỉ được điều phối bởi ngoại giao truyền thống (G2G - Government to Government - quan hệ giữa các nhà nước) mà còn được hỗ trợ đắc lực bởi ĐNND (P2P - people to people relations - quan hệ giữa nhân dân các nước với nhau) Theo đó, các quốc gia khác nhau về tư tưởng chính trị, tiềm lực kinh tế, trình độ phát triển có các chính sách và thực hiện các hoạt động ĐNND theo các hình thức, nội dung và mục đích khác nhau Thậm chí các tổ chức chính trị - kinh tế khu vực (EU, ASEAN, v.v), cũng đã xây dựng chiến lược cụ thể cho hoạt động ĐNND của mình, nhằm thúc đẩy sự hiểu biết và mối quan hệ lâu dài giữa các thành viên và các đối tác của họ ĐNND được xem là phương tiện, là công cụ phục vụ hoạt động
Trang 9chính trị của các quốc gia, các cường quốc, các nước phát triển, các nước đang phát triển và các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ quốc tế
Trước những biến động và xu thế của thế giới cuối thế kỷ XX, Đảng cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đã kịp thời chuyển hướng chiến lược đối ngoại nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước Việt Nam thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa dạng hoá đa phương hoá quan hệ đối ngoại, theo tinh thần Việt Nam muốn là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới Nếu trong thời kỳ chiến tranh cách mạng, ĐNND đã trở thành một kênh quan trọng làm nhiệm vụ thông tin, tuyên truyền góp phần tạo dựng “ngoại lực” ủng hộ cuộc kháng chiến chính nghĩa của dân tộc, phá thế bị bao vây, cô lập Ngày nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, ĐNND ngày càng phát huy vai trò và vị trí quan trọng trong việc thực hiện đường lối, chính sách đối ngoại, góp phần quảng bá mạnh mẽ hình ảnh về đất nước, con người và văn hóa Việt Nam cũng như đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam đến với cộng đồng quốc tế, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài (NVNONN) giúp tăng cường sự hiểu biết, giao lưu, hợp tác, tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho sự phát triển của đất nước, bảo
vệ lợi ích quốc gia, bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, củng cố vị thế quốc
tế của Việt Nam, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, mở rộng quan hệ song phương và đa phương, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi của hoạt động ĐNND, do đó việc đi sâu nghiên cứu sự lãnh đạo của ĐCSVN đối với hoạt động ĐNND, đặc biệt là thời kỳ 1991-2010, từ những thành tựu đạt được cũng như những hạn chế của hoạt động ĐNND rút ra những kinh nghiệm thiết thực cho việc nâng cao hiệu quả của hoạt động ĐNND trong thời gian tới là rất quan trọng cả về lý luận và thực tiễn
Xuất phát từ thực tế trên, nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hoạt động đối ngoại nhân dân từ năm 1991 đến năm
Trang 102010” làm Luận án Tiến sĩ lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt
2.2 Nhiệm vụ
- Khái quát hoạt động ĐNND của Việt Nam trước năm 1991
- Phân tích những yếu tố tác động tới quá trình hình thành, phát triển chủ trương ĐNND của ĐCSVN từ năm 1991 đến năm 2010
- Trình bày một cách hệ thống chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam về hoạt động ĐNND từ năm 1991 đến năm 2010
- Đánh giá những thành tựu, hạn chế trong quá trình Đảng lãnh đạo hoạt động ĐNND từ năm 1991 đến năm 2010, rút ra một số nhận xét và kinh nghiệm
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu của luận án là sự lãnh đạo của ĐCSVN đối với hoạt động ĐNND
3.2 Phạm vi
Về nội dung khoa học: ĐNND là một lĩnh vực hoạt động rất rộng, phức
tạp, có nhiều vấn đề đang vận động, phát triển, cần được tiếp tục nghiên cứu, tổng kết, đưa ra những nhận định có tính khoa học Thực hiện mục đích nghiên cứu, luận án tập trung làm rõ chủ trương và quá trình chỉ đạo thực hiện của Đảng đối với hoạt động ĐNND trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế và văn hóa Mặt khác, chủ thể thực hiện công tác ĐNND rất đa dạng và phong phú nên luận án tìm hiểu hoạt động ĐNND của một số tổ chức chính trị - xã hội chịu
Trang 11trách nhiệm chính về hoạt động ĐNND như Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam (VUFO), Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQVN), Liên đoàn Lao động Việt Nam (LĐLĐVN), Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (HLHPNVN), Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (ĐTNCS HCM), Hội Cựu chiến binh Việt Nam, và Hội Nông dân Việt Nam
Về thời gian: giới hạn về thời gian của đề tài là từ năm 1991 đến năm
2010, nhưng để có một cái nhìn toàn diện, có tính kế thừa và liên tục nghiên cứu sinh cũng khái quát hoạt động ĐNND của Việt Nam trước năm 1991
Năm 1991, trong hoàn cảnh đất nước gặp khó khăn mọi mặt, kinh tế khủng hoảng, bị bao vây cấm vận, tình hình thế giới và khu vực đang có
những biến động lớn, phức tạp, chưa định hình, ĐCSVN đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội với những
định hướng lớn về đối ngoại Thực hiện định hướng chiến lược đề ra trong
Cương lĩnh năm 1991, qua các kỳ Đại hội tiếp theo, Đảng đã xây dựng thành
công đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ với chính sách đối ngoại rộng mở,
đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại Cương lĩnh năm 1991 và
những chính sách tiếp theo của Đảng về đối ngoại nói chung và ĐNND nói riêng đã mở đường và thúc đẩy quá trình hội nhập khu vực và hội nhập quốc
tế của đất nước Hoạt động ĐNND cũng có bước trưởng thành rõ rệt, góp phần nâng cao hơn nữa vị trí, vai trò, và uy tín quốc tế của Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam mở rộng quan hệ đối ngoại
Phạm vi thời gian nghiên cứu của luận án là đến năm 2010, một năm ý nghĩa của ngoại giao Việt Nam, vào thời điểm này chủ trương của Đảng về ĐNND cùng những hoạt động ĐNND đã và đang góp phần hiệu quả cho đường lối đối ngoại của đất nước Năm 2010 đánh dấu hai mươi năm thực hiện
định hướng chiến lược được nêu trong Cương lĩnh năm 1991, là năm kết thúc
nhiệm kỳ Đại hội khóa X của Đảng, chuẩn bị cho một nhiệm kỳ Đại hội mới -
Đại hội XI - trong tình hình mới với Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời
Trang 12kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung năm 2011) Việc lựa chọn năm 2010
làm thời điểm kết thúc phạm vi nghiên cứu của luận án cũng góp phần nhìn lại chặng đường đã qua, rút ra những kinh nghiệm cho các năm tiếp theo
Năm 2001 được lấy làm mốc phân chia giai đoạn nghiên cứu của luận
án vì đây là một năm bản lề với nhiều sự kiện ngoại giao ý nghĩa, đánh dấu sự phát triển vượt bậc trong quan hệ đối ngoại, chứng minh tính đúng đắn, phù hợp của đường lối đối ngoại của Đảng những năm đầu thời kỳ đổi mới
Về không gian: Trong không gian của chủ thể thực hiện hoạt động
ĐNND (Việt Nam) với một số quốc gia trong khu vực và trên thế giới có sự liên quan, tương tác
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tài liệu
Để thực hiện luận án, nghiên cứu sinh dựa vào các nguồn tư liệu sau:
- Các văn kiện của Đảng, Nhà nước
- Tài liệu báo cáo tổng kết của một số tổ chức chính trị - xã hội về hoạt động đối ngoại và hợp tác quốc tế hiện đang được lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia, Cục lưu trữ thuộc Văn phòng Ban chấp hành Trung ương ĐCSVN, ban Hợp tác quốc tế của Trung ương MTTQVN, Trung ương Đoàn TNCSHCM, Trung ương Hội LHPN Việt Nam, Trung ương Hội Nông dân, Trung ương Hội Cựu chiến binh, VUFO
- Các công trình nghiên cứu về đường lối đối ngoại của Việt Nam, về quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam với các quốc gia và các vùng lãnh thổ trên thế giới qua các thời kỳ, kỷ yếu hội thảo khoa học, các bài báo, sách có liên quan do các cơ quan nghiên cứu uy tín đã công bố như Viện nghiên cứu Quan
hệ Quốc tế thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Học viện Ngoại giao, Đại học Quốc gia Hà Nội…
- Tài liệu thống kê của Tổng cục thống kê Việt Nam, các nguồn thông tin được khai thác qua các website của các cơ quan Đảng và Nhà nước, thông cáo báo chí… cũng được sử dụng để làm rõ một số nội dung có liên quan
Trang 13- Các luận án, luận văn và các nguồn tư liệu hiện đang được lưu trữ tại các thư viện như thư viện Quốc gia, thư viện Quân đội, thư viện Học viện ngoại giao, thư viện Viện Lịch sử Đảng (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh), Trung tâm thông tin thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội và Phòng tư liệu khoa Lịch sử - Trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn Hà Nội…
- Một số công trình của các nhà nghiên cứu nước ngoài
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về ngoại giao và hoạt động đối ngoại
nói chung, ĐNND nói riêng, luận án sử dụng chủ yếu phương pháp nghiên
cứu có tính chuyên ngành là phương pháp lịch sử và phương pháp logic Bên cạnh đó, luận án có kết hợp một số phương pháp như: phương phá nghiên cứu quốc tế và quan hệ quốc tế, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp
so sánh đối chiếu, hệ thống hóa
Một cách tổng quát, luận án được thực hiện chủ yếu bằng phương pháp nghiên cứu của khoa học lịch sử, ngoài ra có kết hợp với các phương pháp liên ngành khác Các phương pháp nghiên cứu trên được vận dụng phù hợp với từng nội dung của luận án
5 Đóng góp khoa học của luận án
Trên cơ sở tập hợp, hệ thống hóa, bổ sung tư liệu mới, xử lý nguồn tư liệu một cách khoa học, luận án có những đóng góp sau:
Về tư liệu
- Cung cấp một số tư liệu gốc hiện được lưu trữ trong các trung tâm lưu trữ của Nhà nước, của Đảng và một số tổ chức chính trị - xã hội thể hiện chủ trương và sự chỉ đạo của ĐCSVN đối với hoạt động ĐNND từ năm 1991 đến năm 2010
- Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo cập nhật, có hệ thống phục vụ cho lĩnh vực nghiên cứu chủ trương ĐNND nói riêng và đường lối đối ngoại nói chung của ĐCSVN
Trang 14Về nội dung khoa học
- Làm rõ chủ trương ĐNND của ĐCSVN từ năm 1991 đến năm 2010, qua đó làm nổi bật vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động ĐNND
- Từ các kết quả nghiên cứu, luận án góp phần khẳng định sự đóng góp quan trọng và vai trò không thể phủ nhận của ĐNND trong nền ngoại giao hiện đại, phục vụ sự nghiệp đổi mới
- Nhận thức về một số vấn đề tồn tại, những thuận lợi và khó khăn, bước đầu đưa ra sự đánh giá, nhận xét hiệu quả thực hiện chủ trương ĐNND của ĐCSVN và rút ra những bài học kinh nghiệm
- Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, giảng dạy và học tập cho những môn học có liên quan như Lịch sử Đảng, quan hệ quốc tế
và đường lối cách mạng của Đảng Đồng thời, luận án có thể là tài liệu tham khảo hữu ích cho đội ngũ những người làm công tác đối ngoại, công tác giáo dục tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng trên lĩnh vực đối ngoại
6 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình khoa học của tác giả, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án kết cấu thành 4 chương, 10 tiết:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu, trình bày khái quát tình
hình nghiên cứu về ĐNND trong và ngoài nước, khái quát những nội dung về ĐNND đã được các công trình nghiên cứu và thể hiện, đồng thời chỉ ra những vấn đề luận án sẽ tập trung giải quyết
Chương 2 Sự lãnh đạo của ĐCSVN đối với hoạt động đối ngoại nhân dân giai đoạn 1991-2001, giới thiệu khái quát về hoạt động ĐNND của Việt
Nam trước năm 1991, nêu bật bối cảnh dẫn tới sự hình thành chủ trương mở rộng ĐNND của Đảng trong thập niên cuối thế kỷ XX, phân tích chủ trương của Đảng về ĐNND cũng như sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động ĐNND
từ năm 1991 đến năm 2001
Trang 15Chương 3 ĐCSVN lãnh đạo hoạt động đối ngoại nhân dân giai đoạn 2001-2010, cùng với việc làm rõ bối cảnh lịch sử những năm đầu thế kỷ XXI,
chương 3 nêu bật chủ trương và sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động ĐNND trong thời kỳ mới, từ năm 2001 đến năm 2010
Chương 4 Nhận xét và kinh nghiệm
Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu đạt được qua các chương 1, 2 và 3, chương 4 đưa ra một số nhận xét, đánh giá về sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động ĐNND trong giai đoạn 1991-2010 và rút ra một số kinh nghiệm cho việc tiếp tục phát triển, nâng cao hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo công tác ĐNND trong thời gian tới
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, trước những biến động phức tạp của
tình hình thế giới, các quốc gia đặc biệt chú ý đến sức mạnh mềm và cách thức tạo ảnh hưởng bằng sức mạnh mềm trong quan hệ quốc tế Trong hệ thống sức mạnh mềm của mỗi quốc gia, ĐNND được nhiều nước lựa chọn
Với những mục đích khác nhau, bằng những cách thức khác nhau, các chính phủ đầu tư nhiều hơn cho ĐNND Từ những hiệu quả thực tế mà ĐNND mang lại, giới học giả cũng quan tâm nhiều hơn đến ĐNND từ góc độ lý thuyết đến các hoạt động thực tiễn Tuy nhiên, các nghiên cứu tập trung vào ĐNND của một số cường quốc, điển hình là Mỹ, Đức, Nhật Bản và cường quốc mới nổi Trung Quốc
Đối với Việt Nam, lịch sử cách mạng hiện đại cũng đã ghi nhận những thành tựu của hoạt động ĐNND trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc Trong thời kỳ xây dựng đất nước, cùng với đường lối đối ngoại đổi mới, nhận thức rõ tầm quan trọng của ĐNND, ĐCSVN kịp thời có những chỉ đạo nhằm phát huy hiệu quả hoạt động ĐNND Cùng với đó nhiều học giả, nhà nghiên cứu, nhà lãnh đạo đã công bố nhiều bài viết, công trình nghiên cứu
về ĐNND Số các bài viết, các công trình nghiên cứu về ĐNND được công bố không nhiều, tập trung trong giai đoạn 2001-2010 Về ĐNND của Việt Nam chưa có nghiên cứu của học giả nước ngoài Khảo cứu các công trình viết về hoạt động ĐNND Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng có thể chia thành những nhóm sau:
1.1 NHÓM CÔNG TRÌNH ĐỀ CẬP ĐẾN ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN VIỆT NAM
Các công trình viết về đối ngoại nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Trang 17Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặt nền móng cho nền ngoại giao hiện đại Việt Nam Nội dung ĐNND trong tư tưởng Hồ Chí Minh được các nhà nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu Các công trình nghiên cứu chủ yếu được công
bố là các bài viết đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành
Bài viết Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác đối ngoại nhân dân của tác giả Vũ Xuân Hồng, được đăng trên Tạp chí Cộng sản số 697 năm 2003 [88]
nêu bật phương châm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về ĐNND là thêm bạn, bớt thù, đoàn kết nhân dân trong nước gắn liền với đoàn kết nhân dân thế giới vì lợi ích chân chính của nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới; kết hợp công tác đối ngoại của Đảng với ngoại giao của nhà nước và ĐNND, tạo thành sức mạnh tổng hợp của mặt trận ngoại giao; nhân dân làm đối ngoại nhưng cần được tổ chức để phát huy tối đa vai trò và lợi thế; ĐNND phải có nội dung hoạt động phong phú, hình thức đa dạng và linh hoạt, hướng tới hiệu quả thiết thực
Từ những phân tích trên tác giả đi đến kết luận ĐNND trong tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống những quan điểm mang bản chất cách mạng và khoa học sâu sắc, là nền tảng tư tưởng về ĐNND để toàn Đảng, toàn dân tiếp tục nghiên cứu, quán triệt và tổ chức thực hiện trong hoạt động đối ngoại, đặc biệt là các hoạt động ĐNND trong quan hệ quốc tế luôn biến động không ngừng
Tác giả Phạm Hoàng Điệp có bài viết Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người mở đường cho Ngoại giao nhân dân Việt Nam được đăng trên Tạp chí Đối ngoại số
5 năm 2011 [42] đã nhấn mạnh vai trò “Người mở đường” của Chủ tịch Hồ
Chí Minh trong thực hiện các hoạt động ĐNND của Việt Nam Qua việc giới thiệu đến người đọc những hoạt động ĐNND đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh như cuộc diễu hành qua Phủ Toàn quyền Đông Dương ngày 3/10/1945; gửi thư tới chính phủ Pháp, nhân dân Pháp tranh thủ vận động dư luận quốc tế, tạo lòng tin và sự ủng hộ của nhân dân thế giới cho cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam; cử đoàn cán bộ ra nước ngoài để tuyên truyền về cuộc kháng chiến chính nghĩa
Trang 18của nhân dân Việt Nam (2/1948)… Tác giả khẳng định dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các hoạt động ĐNND Việt Nam đã có đóng góp đáng
kể vào thắng lợi của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, giành lại độc lập, thống nhất và hòa bình cho dân tộc
Ngoài hai bài viết nêu trên, về đề tài ĐNND trong tư tưởng Hồ Chí Minh còn có một số bài viết khác như:
Bài viết Ngoại giao nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh của tác giả
Nguyễn Thị Thanh Huyền đăng trên Tạp chí Tuyên giáo (10) năm 2011 [106] Tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền trên cơ sở phân tích các hoạt động ĐNND thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ khẳng định ĐNND theo tư tưởng Hồ Chí Minh là phải biết dựa vào dân, lấy dân làm gốc Tư tưởng của Người về đối ngoại nói chung và ĐNND nói riêng đã trở thành tài sản tinh thần quý báu của Đảng và của cả dân tộc, kim chỉ nam cho nền ngoại giao Việt Nam hiện đại Học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong công tác ĐNND, để mỗi người dân là một đại sứ của đất nước, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước Việt Nam đổi mới
Bài viết Vận dụng tư tưởng ngoại giao nhân dân Hồ Chí Minh trong công tác thông tin đối ngoại hiện nay của tác giả Nguyễn Thế Hưởng đăng trên
Tạp chí Thông tin đối ngoại số 4 năm 2012 Tác giả khẳng định vị trí, vai trò cũng như thành tựu của ĐNND dưới sự lãnh đạo của Đảng, dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh đã đóng góp cho tiến trình cách mạng dân tộc Bên cạnh
đó, tác giả cũng khẳng định những thành tựu của hoạt động thông tin đối ngoại
và chỉ rõ một số hạn chế còn tồn tại Phần kết của bài viết, tác giả nêu ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt dộng thông tin đối ngoại và việc vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐNND vào hoạt động thông tin đối ngoại sao cho hiệu quả cao nhất, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả cho ĐNND trong tình hình mới
Bài viết Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác đối ngoại nhân dân trong điều kiện hiện nay của Nguyễn Năng Nam và Trần Hồng Khánh
Trang 19đăng trên Tạp chí Tổ chức nhà nước số 3/2012 Các tác giả đã khái quát tư
tưởng Hồ Chí Minh về công tác ĐNND tập trung ở bốn nội dung: Một là, thực
hiện phương châm thêm bạn bớt thù, đoàn kết nhân dân trong nước gắn liền với đoàn kết nhân dân thế giới vì lợi ích chân chính của nhân dân ta và nhân dân
thế giới; Hai là, kết hợp công tác đối ngoại của Đảng với ngoại giao của Nhà nước và ĐNND, tạo thành sức mạnh tổng hợp của mặt trận ngoại giao; Ba là, phát huy tối đa vai trò và lợi thế của ĐNND; Bốn là, ĐNND phải có nội dung
hoạt động phong phú, hình thức hoạt động đa dạng và linh hoạt, hướng tới hiệu quả thiết thực Tác giả khẳng định: …cả về lý luận và thực tiễn, ĐNND trong
tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống những quan điểm mang bản chất cách mạng và khoa học sâu sắc, sáng ngời Đó chính là nền tảng tư tưởng của ĐNND mà Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam phải tiếp tục nghiên cứu, quán triệt và tổ chức thực hiện sáng tạo trong hoạt động ngoại giao và ĐNND
Với những bài viết này, các tác giả đã khẳng định ĐNND là một trong những nội dung quan trọng trong tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh Các tác giả trình bày nội dung ĐNND trong tư tưởng Hồ Chí Minh Với tinh thần lấy dân làm gốc, mỗi người dân là một đại sứ tham gia tích cực vào quảng bá hình ảnh đất nước; mang hình ảnh dân tộc Việt Nam anh hùng, đất nước Việt Nam hòa bình, phát triển đến với trái tim bạn bè thế giới, nhằm xây dựng một môi trường quốc tế hòa bình, hữu nghị, cùng phát triển
Với những góc độ tiếp cận khác nhau, các tác giả đã nghiên cứu, phân tích và khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐNND là cơ sở, nền tảng tư tưởng cho chủ trương ĐNND của Đảng trong các điều kiện lịch sử cụ thể Dưới sự lãnh đạo của Đảng, ĐNND đã khẳng định được vị trí, vai trò trong nền ngoại giao dân tộc Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, Đảng, Nhà nước
và nhân dân Việt Nam tiếp tục vận dụng những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về ĐNND để làm cho thế giới hiểu rõ hơn về đất nước, con người, công cuộc đổi mới của Việt Nam, đường lối chính sách của Đảng và Nhà
Trang 20nước Việt Nam, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ và hợp tác ngày càng rộng rãi của nhân dân tiến bộ thế giới
Các công trình viết về đối ngoại nhân dân Việt Nam nói chung
Trước hết, cuốn Hoạt động đối ngoại nhân dân Việt Nam do NXB
Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2003 [117] giới thiệu khái quát về quá trình hình thành và phát triển của hoạt động ĐNND của Việt Nam từ trước đến nay, bao gồm các hoạt động hòa bình, đoàn kết, hữu nghị và vận động viện trợ phi chính phủ Bên cạnh đó, bạn đọc cũng có dịp tìm hiểu về phong trào hòa bình thế giới, phong trào đoàn kết nhân dân Á - Phi - Mỹ Latinh, phong trào đoàn kết hữu nghị với Việt Nam ở các nước trên thế giới và hoạt động của các TCPCPNN thực hiện các dự án viện trợ nhân đạo và phát triển ở Việt Nam Cuốn sách là tài liệu đầu tiên trình bày khá tập trung về ĐNND của Việt Nam
từ khi nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập Tuy nhiên cuốn sách chủ yếu tập trung vào hoạt động của Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam
và các tổ chức thành viên Liên hiệp là đầu mối hoạt động ĐNND, tuy nhiên hoạt động ĐNND còn được thực hiện bởi số lượng chủ thể đông đảo khác từ
tổ chức đến các cá nhân Do vậy cuốn sách có tính chất giới thiệu sơ lược về ĐNND nói chung và ĐNND của Liên hiệp nói riêng, đồng thời đưa ra một số mốc cơ bản về xây dựng tổ chức, đội ngũ, không đi sâu vào sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động ĐNND
Trong cuốn sách Ngoại giao và công tác ngoại giao do PGS.TS Vũ
Dương Huân biên soạn, NXB Chính trị quốc gia xuất bản năm 2009 [105], tác
giả sử dụng thuật ngữ ngoại giao nhân dân để chỉ hoạt động đối ngoại do các tổ
chức nhân dân như thanh niên, phụ nữ, công đoàn, Hội cựu chiến binh, Hội nông dân, hoạt động đối ngoại của các tổ chức nghề nghiệp (Hội văn học, nghệ thuật, Hội kiến trúc, Hội sử học…) thực hiện nhằm tăng cường sự hiểu biết, đoàn kết và hợp tác giữa các dân tộc, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển quan hệ nhà nước Bên cạnh việc khẳng định vị trí, vai trò, nhiệm vụ của ĐNND, tác giả đồng
Trang 21thời nói rõ “đặc điểm của ngoại giao nhân dân là rất rộng rãi, rất mềm mỏng, không gò bó về quy định lễ tân, có thể đi đầu, đi trước tại những nơi mà ngoại
giao nhà nước chưa thể triển khai” [105: tr.27]
Cuốn Hỏi - đáp về tình hình thế giới và chính sách đối ngoại của Đảng
và Nhà nước ta do Bộ Ngoại giao biên soạn, NXB Chính trị quốc gia ấn hành
năm 2012 [23] gồm những câu hỏi và câu trả lời về tình hình thế giới hiện nay như: vấn đề nổi cộm về chính trị, kinh tế, xã hội và chính sách đối ngoại Cuốn sách trình bày sự đổi mới của Đảng, Nhà nước Việt Nam trên lĩnh vực đối ngoại cũng như quan hệ của Việt Nam với các nước và tổ chức quốc tế nhằm giữ vững môi trường hoà bình, tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội đất nước Dưới dạng hỏi - đáp, cuốn sách chứa đựng nhiều thông tin được chắt lọc và mang tính khái quát cao, giải đáp nhiều vấn đề đang được dư luận quan tâm Về ĐNND, cuốn sách giới thiệu khái quát một số hoạt động ĐNND, nhấn mạnh kết quả vận động các TCPCPNN và cá nhân nước ngoài
hỗ trợ công cuộc xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam khẳng định hợp tác với các TCPCPNN là một trong những lĩnh vực quan trọng của ĐNND Cuốn sách không đi sâu vào trình bày cụ thể về hoạt động ĐNND nói chung cũng như sự lãnh đạo của ĐCSVN đối với hoạt động ĐNND
Các công trình trên đề cập đến ĐNND nói chung, trình bày khái quát nhất những nội dung như khái niệm, chủ thể, đối tượng, hoặc giới thiệu ĐNND trong mối quan hệ tổng thể với ngoại giao nhà nước nói chung Bên cạnh các công trình là sách, viết về ĐNND Việt Nam còn được thể hiện trong các bài viết được đăng trên các tạp chí khoa học đề cập đến nội dung, vị trí, vai trò và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động ĐNND Các bài báo, bài tạp chí chiếm số lượng chủ yếu trong số các công trình viết về ĐNND
Bài viết Ngoại giao nhân dân với việc nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác dân vận của Đảng trong thời kỳ mới của tác giả Nguyễn Văn Du đăng
trên Tạp chí Lịch sử Đảng số 1/2011 [27], trình bày khái quát về ĐNND của
Trang 22Việt Nam trong tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước, từ thời phong kiến đến thời kỳ chiến tranh cách mạng, từ kháng chiến chống Mỹ đến thời kỳ đổi mới và khẳng định vai trò quan trọng của ĐNND trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Tác giả cũng đã điểm qua những văn kiện của Đảng có liên quan đến ĐNND từ sau Đại hội đổi mới đến nay Tác giả nhấn mạnh: “Có thể hiểu đối ngoại nhân dân cũng là công tác dân vận, là mặt trận nhằm vận động các đối tượng là nhân dân Việt Nam và nhân dân tiến bộ, yêu chuộng hòa bình của các nước trên thế giới để thực hiện chủ trương, chính sách hòa bình, hữu nghị và hợp tác của nước ta đối với nước ngoài…” [27: tr.73-74] Bài viết thể hiện một cách tiếp cận mới về ĐNND, khẳng định tầm quan trọng của ĐNND trong thời kỳ hội nhập Tuy nhiên, ĐNND không phải là công tác dân vận, hai lĩnh vực khác nhau về đối tượng, chủ thể, mục đích và nội dung
Bài viết Phát huy mối quan hệ quốc tế của các tôn giáo trong thực hiện đường lối ngoại giao nhân dân của Đảng, Nhà nước Việt Nam của tác giả
Nguyễn Văn Long đăng trên tạp chí Công tác tôn giáo số 8 năm 2012 [123] Tác giả khẳng định tính đặc thù, phức tạp, nhạy cảm của tôn giáo và hoạt động đối ngoại tôn giáo, trên cơ sở đó đưa ra những trọng tâm của công tác đối ngoại tôn giáo trong thời gian tới Bài viết cho thấy một lĩnh vực quan trọng của hoạt động ĐNND đó là đối ngoại tôn giáo, qua đó khẳng định tầm quan trọng của ĐNND và góp phần xây dựng “mặt trận” ĐNND toàn diện, đem lại những thành tựu đối ngoại quan trọng, nâng cao vị thế và tầm ảnh hưởng của Việt Nam trên trường quốc tế
Các công trình viết về hoạt động ĐNND của các tổ chức chính trị - xã hội
Đối ngoại, hợp tác quốc tế được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của các tổ chức chính trị - xã hội, nhất là từ sau Đại hội lần thứ IX của Đảng1 Với lợi thế riêng của mình, mỗi tổ chức chính trị - xã hội lại thực hiện hoạt động ĐNND với những đặc trưng riêng
1
Nhiệm vụ trọng tâm của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
(http://hoilhpn.org.vn/NewsDetail.asp?Catid=2&NewsId=5&lang=VN, cập nhật ngày 27/9/2004)
Trang 23Trước hết, hoạt động ĐNND của các tổ chức chính trị - xã hội được trình bày khái quát trong tổng thể các hoạt động của từng tổ chức, trong các cuốn giới thiệu lịch sử hình thành và phát triển hoặc kỷ yếu, văn kiện các kỳ
Đại hội đại biểu toàn quốc của các tổ chức chính trị - xã hội Công đoàn Việt Nam từ Đại hội I đến Đại hội X [178], Văn kiện đại hội Đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ VII, VIII, IX và X; Một số vấn đề lý luận về thực tiễn công tác mặt trận do ông Vũ Trọng Kim (chủ biên) [200]
Cuốn sách Một số vấn đề lý luận về thực tiễn công tác mặt trận do ông
Vũ Trọng Kim chủ biên, NXB Chính trị Quốc gia phát hành năm 2009, dành một chuyên đề viết về hoạt động ĐNND của MTTQVN Trên cơ sở nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về ĐNND, chuyên đề trình bày những kết quả đạt được trong hoạt động ĐNND của MTTQVN thời gian qua, chỉ rõ những hạn chế, đồng thời đưa ra những nhiệm vụ và giải pháp nhằm tăng cường công tác ĐNND của Mặt trận trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế
Thêm vào đó, hoạt động ĐNND của các tổ chức chính trị - xã hội còn
được trình bày trong các bài viết được đăng trên các tạp chí như bài Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam đẩy mạnh hoạt động đối ngoại nhân dân tham gia hội nhập quốc tế của tác giả Hà Văn Núi (2009) [141]; bài viết Hai mươi năm Hội Cựu chiến binh Việt Nam và sự phát triển hoạt động đối ngoại nhân dân của Hội
của tác giả Trần Hanh (2009) [58]
3 Tham mưu đề xuất, tham gia xây dựng, phản biện xã hội và giám sát việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước có liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ
nữ, gia đình và trẻ em;
4 Xây dựng, phát triển tổ chức Hội vững mạnh;
5 Đoàn kết, hợp tác với phụ nữ các nước, các tổ chức, cá nhân tiến bộ trong khu vực và thế giới vì bình đẳng, phát triển và hòa bình
Trang 24Bên cạnh đó, nghiên cứu về hoạt động ĐNND của các tổ chức chính trị -
xã hội còn là đề tài cho nhiều khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ như: Đảng với hoạt động đối ngoại của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2010 của học viên cao học Hồ Thị Liên Hương (khóa 2010-X) [107], Hoạt động đối ngoại của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh từ năm 1996-2012 của sinh viên Lại Thị Thu Thủy (khóa 2009-X) [160], Hoạt động đối ngoại của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2012 của sinh
viên Phí Thị Loan (khóa 2009-X) [121], ngành Lịch sử Đảng, Khoa Lịch sử Trường ĐHKHXH và NV, ĐHQG Hà Nội
Các công trình nghiên cứu về hoạt động ĐNND của các đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội đã nhấn mạnh một trong những chủ thể thực hiện hoạt động ĐNND là các tổ chức chính trị - xã hội Tuy nhiên, không phải tổ chức chính trị - xã hội nào cũng phát huy được thế mạnh để hoạt động ĐNND thực
sự đạt hiệu quả cao Qua những nghiên cứu tổng quan cho thấy trong hệ thống các tổ chức chính trị - xã hội Việt Nam hiện nay, một số tổ chức có thế mạnh
về hoạt động ĐNND tiêu biểu là Hội LHPNVN, Tổng LĐLĐ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam Các tổ chức này là lực lượng chủ đạo thực hiện hoạt động ĐNND dưới sự chỉ đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước
Các công trình nghiên cứu về ĐNND Việt Nam trong mối quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam với các nước
Bài viết của tác giả Lê Văn Phong với nhan đề Ngoại giao nhân dân nhân tố quan trọng trong mối quan hệ Việt - Mỹ đăng trên Tạp chí Đối ngoại (8) năm 2011 [143] đã khẳng định ĐNND là nhân tố quan trọng hàng đầu
trong tiến trình phát triển quan hệ hữu nghị Việt - Mỹ Trong bài viết của mình, tác giả tái hiện lịch sử quan hệ hữu nghị Việt - Mỹ qua các hoạt động ĐNND từ những ngày đầu của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945) cho tới khi nhân dân Mỹ sát cánh, ủng hộ cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân Việt Nam Không chỉ dừng lại ở đó, mối quan hệ hữu nghị giữa nhân dân
Trang 25hai nước tiếp tục được vun đắp trong thời kỳ Việt Nam chuyển mình đổi mới
và hội nhập quốc tế với những thành tựu quan trọng Có thể nói, ĐNND là kênh hoạt động có ý nghĩa lịch sử đặc biệt trong quan hệ hữu nghị Việt - Mỹ
Luận văn thạc sĩ của Somxayphone Thipphavong với đề tài Vai trò của đối ngoại nhân dân với quan hệ Lào - Việt Nam [159] Tác giả đã trình bày có
tính hệ thống về ĐNND của Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào Xuất phát từ mối quan hệ láng giềng hữu nghị truyền thống, trong bối cảnh quốc tế mới, luận văn đã đề cập tới những quan niệm chung về ĐNND, đặc điểm của ĐNND Lào, từ đó đặt ra những nhiệm vụ của ĐNND trong thời kỳ đổi mới Bên cạnh đó, luận văn đi sâu nghiên cứu quan hệ Lào - Việt qua các hoạt động ĐNND, đánh giá những thành tựu và hạn chế của công tác ĐNND của Lào trong thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa nhân dân hai nước Đồng thời, tác giả cũng đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác ĐNND trong quan hệ Lào - Việt
Như vậy, nhận thấy rõ tầm quan trọng của kênh ĐNND trong các hoạt động đối ngoại nói chung, các nhà nghiên cứu cũng đã bước đầu khai thác, tìm hiểu ĐNND trong những mối quan hệ song phương nhất định Lĩnh vực này cần tiếp tục được nghiên cứu, nhằm cung cấp nhiều đóng góp khoa học,
cơ sở để Đảng hoàn thiện chủ trương về ĐNND trong thời gian tới
1.2 NHÓM CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN
Hoạt động ĐNND của Việt Nam được thực hiện từ rất sớm Dưới sự lãnh đạo của Đảng, ĐNND phát huy lợi thế và đạt được nhiều thành tựu, đóng góp vào thắng lợi của cách mạng Việt Nam nói chung và mặt trận đối ngoại nói riêng Do đó, một số tác giả đã quan tâm nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động ĐNND qua từng thời kỳ cách mạng Đề tài này được thể hiện trong một số bài viết đăng trên các tạp chí và một luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử ĐCSVN được bảo vệ tại Hội đồng khoa học Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Trang 26Các bài viết đăng trên các tạp chí
Ông Vũ Xuân Hồng với cương vị là Chủ tịch của VUFO - đơn vị đầu
mối về ĐNND đã công bố nhiều bài viết về ĐNND như: Thông tin đối ngoại qua hoạt động đối ngoại nhân dân năm đăng trên Tạp chí Thông tin đối ngoại (2) năm 2007 [95], Đảng lãnh đạo công tác đối ngoại nhân dân thời kỳ đổi mới
và quan hệ đối ngoại nhân dân với Lào đăng trên Tạp chí Thông tin đối ngoại (8) năm 2007 [96], Gắn kết công tác đối ngoại nhân dân với đối ngoại Đảng và ngoại giao Nhà nước đăng trên Tạp chí Thông tin Đối ngoại (1) năm 2009 [97], Những đóng góp của hoạt động đối ngoại nhân dân trong công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước đăng trên Tạp chí Thông tin Đối ngoại (2) năm
30 năm hoạt động của Hội Hữu nghị Việt - Lào và Hội Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam
Các nghiên cứu đề cập tới các nội dung liên quan đến ĐNND từ tư tưởng
Hồ Chí Minh về ĐNND đến các khái niệm, vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của ĐNND … đồng thời tác giả cũng đề cập đến quá trình hình thành, nội dung chủ trương ĐNND của Đảng, đề cập tới các tổ chức đầu mối thực hiện công tác ĐNND Tuy nhiên trong phạm vi một bài tạp chí khoa học, các nội dung được tác giả thể hiện một cách khái quát nhất về ĐNND cũng như sự lãnh đạo của Đảng đối với ĐNND
Bên cạnh đó còn có bài viết Hoạt động đối ngoại nhân dân những năm đầu thế kỷ XXI của tác giả Lê Thị Tình đăng trên tạp chí Lịch sử Đảng Tạp chí
Trang 27Lịch sử Đảng số 7 năm 2009 [163] Tác giả tập trung nêu khái quát sự lãnh đạo của Đảng về ĐNND trong những năm đầu thế kỷ XXI bằng việc trình bày chủ trương của Đảng về ĐNND qua các kỳ đại hội IX, X và XI Qua đó, tác giả cũng
đã đánh giá những thành tựu, hạn chế của sự lãnh đạo của Đảng về ĐNND
Luận án
Nghiên cứu về sự lãnh đạo của ĐCSVN với ĐNND có luận án tiến sĩ
ĐCSVN lãnh đạo hoạt động đối ngoại nhân dân từ năm 1986 đến 2006 của
nghiên cứu sinh Lê Thị Tình (2010) [164] Trong lời mở đầu của luận án, tác giả đưa ra định nghĩa “Đối ngoại nhân dân” hay “ngoại giao nhân dân” (People
to People Diplomacy) là khái niệm chỉ các hoạt động đối ngoại do các tổ chức chính trị - xã hội, nghề nghiệp hoặc các cá nhân thuộc các tầng lớp nhân dân thực hiện không với danh nghĩa đại diện cho nhà nước Đối tác chủ yếu của ĐNND là các tổ chức nhân dân ở các quốc gia, khu vực; các tổ chức phi chính phủ; các tổ chức quốc tế; các cá nhân, đặc biệt là những người có vai trò ảnh hưởng xã hội ở các nước; bạn bè, nhân sĩ, trí thức có thiện cảm với Việt Nam; cộng đồng NVNONN, v.v…” [164: tr.1] Đồng thời, luận án nêu bật bối cảnh quốc tế và trong nước tác động đến việc hoạch định đường lối ĐNND của Đảng
từ năm 1986 đến năm 2006 Nội dung chính của luận án tập trung trình bày chủ trương, đường lối đối ngoại chung của Đảng lồng ghép với chủ trương về ĐNND, quá trình chỉ đạo thực hiện hoạt động ĐNND của Đảng trong những năm 1986-2006 và kết quả đạt được trên một số lĩnh vực tiêu biểu Trên cơ sở
đó, tác giả chỉ rõ những thành tựu, hạn chế và nêu một số kinh nghiệm trong lãnh đạo công tác ĐNND những năm 1986-2006 của Đảng
Tuy nhiên, luận án còn để lại một số khoảng trống như chưa khai thác được nguồn tài liệu nghiên cứu về ĐNND của nước ngoài làm tư liệu đối sánh (từ góc độ lý thuyết của ĐNND), chỉ dừng lại đề cập cách hiểu khái quát nhất về ĐNND ngay ở phần đầu của luận án Tài liệu tham khảo phục vụ quá trình nghiên cứu đã tiếp cận nguồn lưu trữ tại Cục lưu trữ văn phòng Trung ương
Trang 28Đảng, VUFO, chưa khảo cứu các nguồn tư liệu được lưu trữ ngay tại các đơn vị
là chủ thể trực tiếp thực hiện các hoạt động ĐNND (MTTQVN, Hội LHPNVN, Đoàn TNCSHCM, Hội nông dân Việt Nam…) Hoạt động ĐNND được nghiên cứu và trình bày chủ yếu là về hoạt động của VUFO và các tổ chức thành viên, thực chất chủ thể hoạt động ĐNND đa dạng hơn thế rất nhiều
Nhìn chung nhóm công trình viết về sự lãnh đạo của Đảng về ĐNND
đã thể hiện các mốc xuất hiện của các văn bản chỉ đạo của Đảng có liên quan tới ĐNND, đánh giá thực trạng hoạt động đối ngoại của đơn vị như MTTQVN hay VUFO Nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng về ĐNND nhưng dường như chỉ trình bày đường lối đối ngoại nói chung và nặng về các hoạt động ĐNND mà chưa nghiên cứu hệ thống về chủ trương và sự lãnh đạo của Đảng đối với từng lĩnh vực cụ thể của hoạt động ĐNND nói riêng và ĐNND nói chung Mặt khác, các công trình chưa mở rộng tìm hiểu về các chủ thể thực hiện hoạt động ĐNND mà chỉ dừng lại ở tổ chức đầu mối là VUFO Tuy nhiên các công trình này là tài liệu tham khảo quan trọng cho việc thực hiện luận án, tránh trùng lắp qua góc độ tiếp cận và hướng nghiên cứu
1.3 NHỮNG VẤN ĐỀ ĐÃ ĐƯỢC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
Từ tổng quan tình hình nghiên cứu về ĐNND trong nước và ngoài nước cho phép rút ra những nhận xét cơ bản sau:
Thứ nhất, về mặt thuật ngữ, khi bàn về ĐNND cần phân biệt “đối ngoại
nhân dân”, “ngoại giao nhân dân”, “ngoại giao công chúng”
Đối ngoại nhân dân ở Việt Nam được quan niệm là một kênh trong ba kênh hoạt động đối ngoại gồm: Ngoại giao Nhà nước, Đối ngoại Đảng và Đối ngoại nhân dân Như vậy có hàm ý nhiều hơn về chính sách, chủ trương nhằm phát triển quan hệ nhân dân theo hướng mà Đảng và Nhà nước mong muốn và chỉ đạo
Ngoại giao công chúng (public diplomacy) thường gặp ở Mỹ, các nước phương Tây hàm ý chỉ các chính sách của chính phủ các nước thúc đẩy nhận
Trang 29thức của công chúng trong và ngoài nước, của toàn xã hội theo định hướng mà chính quyền mong muốn để giành sự ủng hộ và tham gia thực hiện chính sách đối ngoại
Ngoại giao nhân dân (people to people diplomacy hay people to peolple exchanges…) để chỉ các quan hệ theo đường nhân dân giữa các nước, cũng có lúc hàm ý về chính sách nhằm phát triển “lĩnh vực ngoại giao nhân dân”
Ở Việt Nam hiện đồng thời sử dụng hai thuật ngữ là “đối ngoại nhân dân”
và “ngoại giao nhân dân” không chỉ trong các bài viết, các công trình nghiên cứu
mà ngay trong văn kiện Đảng Trong một chừng mực nào đó, hai thuật ngữ này hiện đang được hiểu tương đương nhau và có thể thay thế cho nhau Tuy nhiên trong khoảng 10 năm trở lại đây, thuật ngữ “đối ngoại nhân dân” được dùng phổ biến hơn để chỉ các hoạt động đối ngoại không nhân danh Nhà nước Trong nghiên cứu của mình, nghiên cứu sinh nhận thấy thuật ngữ “đối ngoại nhân dân”
là phù hợp hơn cho những hoạt động đối ngoại mang tính nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và sự quản lý của nhà nước Việt Nam Thuật ngữ “đối ngoại nhân dân” khi dịch sang tiếng Anh là “people to people relations” với cách hiểu là mối quan hệ giữa nhân dân của quốc gia này với nhân dân của quốc gia khác dưới sự chỉ đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước về đường lối và chính sách Dựa trên những cơ sở nghiên cứu, nghiên cứu sinh sử dụng thống nhất thuật ngữ “đối ngoại nhân dân” - people to people relations trong luận án
Thứ hai, ĐNND đã được các nhà lãnh đạo, các tổ chức và giới học giả
dành nhiều sự quan tâm, tìm hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau Ngay từ thập kỷ
50 thế kỷ XX, trong bầu không khí ngột ngạt của Chiến tranh lạnh, trong cuộc tiếp xúc giữa Tổng thống Mỹ Dwight D Eisenhower với nhà lãnh đạo tối cao của chính quyền Xô Viết Nikita Krushchev tại Geneva (Thụy Sĩ) (7/1955), Tổng thống Mỹ chia sẻ: “… tôi đã từ lâu tin tưởng rằng mối quan hệ hòa bình giữa các quốc gia đòi hỏi sự hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau của các cá nhân” [207, tr 1] Nói cách khác, mối quan hệ hợp tác hữu nghị tốt đẹp, bền chặt giữa các quốc gia
Trang 30sẽ được tạo dựng trên cơ sở sự hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau giữa công dân của các nước đó Các học giả đã coi đây là sự kiện đánh dấu sự ra đời của thuật ngữ
“people to people relations” - đối ngoại nhân dân - trong ngoại giao và quan hệ quốc tế sau đó
Chủ thể của ĐNND trước hết không nhân danh nhà nước, là các tổ chức chính trị - xã hội đại diện cho các giới, các tầng lớp nhân dân; hội nghề nghiệp, hiệp hội, tổ chức xã hội, cá nhân Đích của các hoạt động ĐNND là nhân dân trong nước và nhân dân các nước trên thế giới Như vậy, có thể sơ
đồ hóa mối tương quan giữa ngoại giao truyền thống, ngoại giao công chúng
và ĐNND như sau:
Từ công chúng (people) ở đây có thể hiểu là một tổ chức chính trị - xã hội, hội nghề nghiệp, hiệp hội, hội hữu nghị, tổ chức phi chính phủ, trường học, bệnh viện… cho đến các cá nhân Như vậy, đối tượng của ngoại giao công chúng và ĐNND đều là công chúng, nhân dân các nước khác Tuy nhiên
sự phân biệt giữa các loại hình cũng chỉ mang tính tương đối bởi đối ngoại là những hoạt động rất phong phú, đa dạng chịu sự chi phối tổng hợp, đa chiều
từ ý thức hệ truyền thống đến thể chế chính trị, mục đích, cách thức, phương pháp… của mỗi quốc gia
Chính phủ (Government)
Chính phủ (Government)
Công chúng (People)
Công chúng (People)
Sơ đồ 1 Tương quan giữa ngoại giao truyền thống (G2G), ngoại giao công chúng (G2P- PD) và đối ngoại nhân dân (P2P)
G2G
G2P - PD
P2P
Trang 31Thứ ba, chủ trương và sự lãnh đạo của ĐCSVN là một trong những yếu
tố quyết định đến sự phát triển của hoạt động ĐNND Việt Nam Quá trình Đảng lãnh đạo hoạt động ĐNND qua các thời kỳ cách mạng có đặc điểm, nội dung và phương thức khác nhau Qua nghiên cứu tổng quan, hoạt động ĐNND của Việt Nam đã được các công trình phản ánh ở những mức độ khác nhau và trên một số lĩnh vực nhất định Tuy nhiên, các công trình đó không phải chỉ được tiếp cận từ góc độ lịch sử Đảng, vấn đề được phán ánh là một phần nhỏ nằm trong tổng thể công trình, được nghiên cứu và trình bày một cách khái quát, ngắn gọn Các công trình thuộc nhiều thể loại và chuyên ngành khác nhau: chính trị, ngoại giao, lịch sử Đảng, lịch sử truyền thống, lịch sử ban, ngành, đoàn thể, hội, các tổ chức chính trị - xã hội… khi đề cập đến vấn đề thường đứng trên các góc độ và quan điểm khác nhau, mức độ phản ánh cũng đậm - nhạt, nông - sâu khác nhau Qua nghiên cứu, đánh giá tác giả nhận thấy chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu có tính chất chuyên sâu về lý luận cũng như thực tiễn sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động ĐNND Việc phân tích một cách toàn diện về sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động ĐNND thời kỳ 1991-2010, từ đó rút ra những kinh nghiệm cần thiết cho việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động ĐNND trong thời gian tới còn là một khoảng trống Chính vì vậy, việc nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động ĐNND từ năm 1991 đến năm 2010 là rất cần thiết và không trùng lặp với những công trình trước đó, vừa có thể kế thừa những kết quả của các công trình đi trước về quan điểm chỉ đạo và phương thức hoạt động, những thành tựu và kinh nghiệm của hoạt động ĐNND, vừa tập trung đi sâu vào nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động ĐNND thời kỳ đổi mới, từ
đó đề xuất những kiến nghị và giải pháp hữu hiệu phục vụ cho chính sách ngoại giao đa dạng hoá, đa phương hoá của Đảng và Nhà nước Việt Nam 1.4 NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN TẬP TRUNG GIẢI QUYẾT
Nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động ĐNND là một vấn đề lớn, phức tạp, về lý luận và thực tiễn Trong khuôn khổ đề tài luận án, tác giả tập trung nghiên cứu, giải quyết những vấn đề sau:
Trang 32- Phân tích bối cảnh quốc tế và trong nước tác động đến việc hình thành chủ trương ĐNND của ĐCSVN từ năm 1991 đến năm 2010
- Trình bày một cách hệ thống chủ trương, đường lối ĐNND của ĐCSVN; làm rõ sự đúng đắn, sáng tạo của đường lối đó Đồng thời, luận án chỉ
rõ sự phát triển trong quá trình nhận thức cũng như sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với hoạt động ĐNND theo hai giai đoạn 1991-2001 và 2001-2010
- Phản ánh quá trình thực hiện đường lối ĐNND của Đảng những năm
1991 - 2010 và kết quả đạt được của lực lượng nòng cốt trên một số lĩnh vực tiêu biểu
- Thông qua số liệu tổng hợp từ các nguồi tài liêu chính thống nhấn mạnh những thành tựu, chỉ rõ những hạn chế và rút ra một số kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo hoạt động ĐNND của Đảng những năm 1991 - 2010
Trang 332.1.1 Đối ngoại nhân dân trước năm 1991
2.1.1.1 Đối ngoại nhân dân trong những năm 1945 - 1975
Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 đã đánh đổ ách thống trị của thực dân Pháp, phát xít Nhật và đập tan chế độ phong kiến, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) Ngày 15/9/1945, bản Tuyên ngôn độc lập đã được phát đi trên làn sóng điện của đài phát sóng Bạch Mai (Hà Nội) bằng hai thứ tiếng nước ngoài là tiếng Anh và tiếng Pháp Giai đoạn đầu của nhà nước VNDCCH, Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp tham gia và đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động đối ngoại Bác là người dành nhiều thời gian trả lời phỏng vấn của phóng viên trong nước và quốc tế Bác khẳng định: Việt Nam muốn “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai” và kêu gọi sự ủng hộ của nhân dân thế giới đoàn kết với nhân dân Việt Nam, tạo nên sức mạnh tổng hợp để giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị thực dân Trong chuyến thăm Pháp tháng 9/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cử phái đoàn đại diện Chính phủ dành phần lớn công sức và dựa vào Việt kiều yêu nước, Đảng Cộng sản Pháp và những người Pháp tiến bộ làm công tác đối ngoại Vào dịp này Hội Công nhân cứu quốc Việt Nam đã thiết lập quan hệ với Tổng Liên đoàn Lao động Pháp và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã tham gia Liên đoàn Phụ nữ Dân chủ Quốc
tế [117, tr.19] Một số phái viên được cử đi một số nước Châu Á, châu Âu đặt phòng thông tin ở Singapore, Hồng Kông, Niu Đêli, Pari, London, Praha, New York Đại biểu nhân dân Việt Nam đã tham dự một số hội nghị quốc tế
Trang 34như Hội nghị Liên Á ở Niu Đêli (Ấn Độ, 3/1947), Hội nghị nhân dân thế giới đấu tranh cho hòa bình ở Pari (Pháp, 4/1949), Hội nghị Liên hiệp công đoàn
thế giới ở Milan (Italia, 6/1949)
Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến, chính phủ nước VNDCCH đã thiết lập quan hệ với một số nước ở Đông Nam Á, tuyên truyền quốc tế, phát triển ĐNND, tranh thủ sự ủng hộ của các lực lượng tiến bộ trên
thế giới Hội Việt - Mỹ thân hữu và Hội Việt - Trung hữu hảo được thành lập
(tháng 8 và tháng 9 năm 1945) [117: tr.18] Quan hệ hữu nghị với nhân dân Lào và Campuchia được Đảng đặc biệt quan tâm Đầu năm 1950, Trung Quốc, Liên Xô, các nước Đông Âu, Mông Cổ, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên lần lượt công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với nước VNDCCH Nhân dân Liên Xô, Trung Quốc, Pháp, các nước XHCN, các dân tộc khắp Á, Phi, Mỹ Latinh, các lực lượng hòa bình, dân chủ và tiến bộ trên thế giới không ngừng ủng hộ cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp Các Đại hội hòa bình thế giới đều có nghị quyết ủng hộ Việt Nam Đại hội Công đoàn thế giới lần thứ 3 vào tháng 10 năm 1953 tại
Viên (Áo) quyết định lấy ngày 19/12/1953 làm Ngày đoàn kết với nhân dân Việt Nam anh dũng và đấu tranh đòi chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt
Nam Nhân dân Pháp đấu tranh đòi chính phủ Pháp chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam… [117: tr.24] Hoạt động ĐNND đã góp phần tích cực vào việc hình thành mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ nhân dân Việt Nam kháng chiến Mặt trận đó cùng với mặt trận đoàn kết Việt Nam - Lào - Campuchia
và mặt trận đoàn kết trong nước hình thành ba tầng mặt trận, tạo sức mạnh
tổng hợp góp phần mang lại thắng lợi trên bàn đàm phán và ký kết hiệp định Giơ-ne-vơ (1954)
Hai mươi mốt năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ (1954-1975), hoạt
động ĐNND có bước phát triển mới, ba tầng mặt trận có tầm vóc to lớn hơn
Nhờ những đóng góp quan trọng của ĐNND, cuộc kháng chiến chống Mỹ của
Trang 35nhân dân Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ to lớn từ bạn bè quốc tế Mặt trận quốc tế ủng hộ, đoàn kết với Việt Nam bao gồm nhiều tầng lớp nhân dân, nhiều nước có chế độ chính trị - xã hội khác nhau, nhiều tổ chức quốc gia và quốc tế Đặc biệt phong trào phản chiến của nhân dân Mỹ đã làm rung động toàn nước Mỹ, một phong trào nhân dân chưa từng có trong lịch sử nước Mỹ Báo chí Mỹ gọi đó là “cuộc chiến tranh trong lòng nước Mỹ” [117: tr.31]
Trong những năm tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và
đế quốc Mỹ, tùy theo điều kiện thời gian, tùy theo yêu cầu, ĐCSVN (tên gọi lúc đó là Đảng Lao động Việt Nam) đã thành lập cơ quan chỉ đạo, quản lý
hoạt động ĐNND Ngày 19/10/1956, Uỷ ban đoàn kết của Việt Nam được thành lập (1958 đổi tên thành Ủy ban đoàn kết nhân dân Á - Phi, 8/1984 đổi tên thành Ủy ban đoàn kết, hợp tác Á - Phi - Mỹ Latinh) [117: tr 34] ủng hộ
mạnh mẽ cuộc đấu tranh của nhân dân Á - Phi - Mỹ Latinh chống chủ nghĩa
đế quốc thực dân, giành và bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ
Tháng 2/1963, Ban công tác quốc tế nhân dân được thành lập (8/1974 đổi tên
thành Ban Quốc tế nhân dân) [105: tr 485] nhằm tăng cường chỉ đạo và phối hợp hoạt động quốc tế của tổ chức chính trị - xã hội, củng cố và phát triển tình hữu nghị của nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của nhân dân thế giới với cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam ĐNND bằng cách thức riêng đã đi vào lòng người, huy động lực lượng từ mọi tầng lớp nhân dân trên thế giới ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa vì độc lập tự do và hòa bình ĐNND và những thành công trong vận động quốc tế là một trong những nhân tố quan trọng dẫn đến thành công của hành trình độc lập, hòa bình và thống nhất nước nhà
2.1.1.2 Đối ngoại nhân dân trong những năm 1976 - 1991
Niềm vui ngày thống nhất khép lại những năm tháng chiến tranh và mở
ra một thời kỳ mới với những thách thức mới cho toàn Đảng, toàn dân: hậu quả chiến tranh, khủng hoảng kinh tế - xã hội, chiến tranh biên giới, các thế
Trang 36lực thù địch ra sức chống phá, bao vây, cô lập Việt Nam… Trong bối cảnh này, ĐNND trở thành kênh hoạt động quan trọng trên mặt trận ngoại giao, trở thành hoạt động của toàn Đảng, toàn dân, các cấp, các ngành với nội dung, phương pháp, hình thức và tổ chức được đổi mới, địa bàn và đối tác được mở rộng Hoạt động ĐNND góp phần thực hiện nhiệm vụ đối ngoại do Đại hội lần thứ IV (12/1976) và Đại hội lần thứ V (3/1982) của ĐCSVN đề ra: tranh thủ những điều kiện quốc tế thuận lợi để khắc phục hậu quả chiến tranh và tình trạng trì trệ, khủng hoảng về kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội
Những năm đầu sau thống nhất, quan hệ hữu nghị của nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước mang nội dung mới, nhằm phục vụ công cuộc tái thiết đất nước và tăng cường quan hệ đoàn kết với quốc tế Tuy nhiên, việc duy trì và phát triển quan hệ với bạn bè ở các nước độc lập sau phong trào giải phóng dân tộc, các nước phương Tây, các nước Mỹ Latinh đã ủng hộ nhân dân Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ chưa được quan tâm đúng mức, phần vì khoảng cách địa lý, phần vì Việt Nam phải tập trung toàn lực để khôi phục đất nước, thêm việc Mỹ cấm vận về kinh tế, phần vì sự ảnh hưởng của cơ chế bao cấp… những trở ngại đó chi phối đến sự nhạy bén của Việt Nam trước những thay đổi trong quan hệ quốc tế nửa sau những năm 70 thế
kỷ XX, Việt Nam cần có một chiến lược ngoại giao phù hợp
Quan hệ hữu nghị, hợp tác chủ yếu được triển khai với các nước XHCN, các nước vốn có mối quan hệ hữu nghị từ trước Mối quan hệ với khu vực Đông Nam Á của Việt Nam gặp trở ngại sau vấn đề Campuchia Mưu đồ bành trướng và yêu sách về lãnh thổ của Khơme Đỏ và bọn phản động quốc tế
đã dẫn đến chiến tranh biên giới Việt Nam - Campuchia Để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, tháng 1/1979, Việt Nam đã giáng trả những cuộc tiến công của
Khơme Đỏ và tiến vào đất Campuchia, đáp lời kêu gọi của Mặt trận đoàn kết
Trang 37dân tộc cứu nước Campuchia, giúp đỡ nhân dân Campuchia và các lực lượng
cách mạng Campuchia lật đổ chế độ diệt chủng của Polpot-Iengxary, thành lập chính quyền cách mạng Nhân sự kiện này, các thế lực thù địch đã lợi dụng viện cớ, câu kết với nhau chống phá Việt Nam dưới chiêu bài phản đối Việt Nam “xâm lược” Campuchia Do chưa hiểu rõ bản chất, một số nước trước đây ủng hộ Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
và chống đế quốc Mỹ dần xa lánh, quan hệ giữa Việt Nam với các nước ASEAN và các nước lớn (trừ Liên Xô và Ấn Độ) gặp nhiều vướng mắc không giải tỏa được khiến Việt Nam bị cô lập về ngoại giao
Trong bối cảnh đó, hoạt động ĐNND một lần nữa giúp khắc phục thiếu sót, tăng cường quan hệ với nhân dân Liên Xô, nhân dân các nước XHCN Đông Âu và một số nước độc lập, từng bước tham gia Hội đồng hòa bình thế giới, tổ chức nhân dân Á - Phi và các tổ chức dân chủ quốc tế Để thống nhất
và tăng cường các tổ chức chuyên trách hoạt động hòa bình, đoàn kết, hữu
nghị, Ban Bí thư đã quyết định thành lập Ủy ban Việt Nam đoàn kết, hữu nghị với nhân dân các nước (29/1/1977), đồng thời chính phủ ra quyết định thể chế
hóa, ban hành Điều lệ hoạt động của Ủy ban (17/11/1977) Đầu năm 1978, Ủy ban được đưa vào Ban Đối ngoại Trung ương Đảng [105: tr 486]
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12-1986) đã nhận thức kịp thời tình hình và xu thế quốc tế, từ đó chỉ rõ đặc điểm nổi bật của thời đại
là cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật đang diễn ra mạnh mẽ, tạo ra bước phát triển nhảy vọt của lực lượng sản xuất và đẩy nhanh quá trình quốc tế hoá lực lượng sản xuất Cách mạng khoa học - kỹ thuật là nhân tố cơ bản thúc đẩy
sự hình thành thị trường thế giới Hệ thống kinh tế TBCN và XHCN vì yêu cầu phát triển nên phải hợp tác với nhau Hợp tác trong trạng thái cạnh tranh quyết liệt
Trên cơ sở nhận thức sâu sắc về tình hình thế giới, với phương châm
“nhìn thẳng vào sự thật” về những nguy cơ đe dọa đất nước, Đại hội VI xác định
Trang 38mục tiêu hàng đầu của đối ngoại Việt Nam là hòa bình và phát triển, nhấn mạnh
sự cần thiết phải đổi mới phương cách tập hợp lực lượng Nghị quyết Đại hội VI khẳng định: “Mở rộng quan hệ với tất cả các nước trên nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình Trên tinh thần bình đẳng, bảo đảm độc lập, chủ quyền và tôn trọng lẫn nhau” [39: tr 279] Điều này thể hiện nhận thức mới của Đảng về thế giới và khu vực, hoạt động đối ngoại bắt đầu chuyển theo hướng rộng mở
Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị (5-1988) về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới, đã chỉ ra những cơ hội và thách thức đối với cách
mạng Việt Nam và khẳng định "lợi ích cao nhất của Đảng và nhân dân ta là phải củng cố và giữ vững hoà bình để tập trung sức xây dựng và phát triển kinh tế Đó là nhân tố quyết định củng cố, giữ vững an ninh và độc lập Cần phải có quan điểm mới về an ninh và phát triển trong thời đại ngày nay để khẳng định mạnh mẽ phương hướng ưu tiên tập trung cho sự nghiệp giữ vững hoà bình và phát triển kinh tế" [154: tr.7] Bộ Chính trị chỉ ra rằng: "với một nền kinh tế mạnh, một nền quốc phòng vừa đủ mạnh cùng với sự mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế chúng ta sẽ càng có nhiều khả năng giữ vững độc lập
và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội hơn" [154: tr 7] Nghị quyết 13
đánh dấu sự chuyển hướng toàn bộ chiến lược đối ngoại của Đảng
Thực tế cho thấy, nội dung đổi mới tư duy về đối ngoại được khởi xướng
từ Đại hội VI, Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị và các Nghị quyết Trung ương tiếp tục phát triển tư duy đó thể hiện rõ sự chuyển hướng chiến lược đối ngoại của Việt Nam trước tình hình mới Sự chuyển hướng này đặt nền móng cho đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa dạng hoá, đa phương hoá quan
hệ quốc tế của Đảng và Nhà nước
Tháng 8 năm 1989, Ban Đối ngoại Trung ương quyết định đổi tên Ủy
ban Việt Nam đoàn kết và hữu nghị với nhân dân các nước thành Liên hiệp các tổ chức hòa bình, đoàn kết, hữu nghị Việt Nam Tháng 6/1989, Liên hiệp
được giao thêm nhiệm vụ vận động và điều phối viện trợ nhân dân, quản lý các TCPCPNN hoạt động ở Việt Nam [105: tr 486]
Trang 39Dưới sự lãnh đạo của Đảng, hoạt động ĐNND Việt Nam thời kỳ trước năm 1991 đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Là một bộ phận trong hoạt động đối ngoại chung, ĐNND Việt Nam hướng vào việc vận động các phong trào quần chúng quốc gia và quốc tế đoàn kết, ủng hộ công cuộc đấu tranh bảo vệ tổ quốc và xây dựng đất nước của nhân dân Việt Nam, đồng thời góp phần vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì những mục tiêu hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội Trong giai đoạn này, hoạt động ĐNND tập trung mở rộng quan hệ của các tổ chức quần chúng, các hội hữu nghị đoàn kết của nhân dân Việt Nam với phong trào quần chúng và các tổ chức quần chúng quốc tế, các tổ chức hữu nghị với Việt Nam ở các nước và với các tổ chức khác Hoạt động ĐNND đã góp phần làm cho các tầng lớp quần chúng các nước hiểu rõ hơn về tình hình, nhiệm vụ của nhân dân Việt Nam, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của nhân dân các nước đối với Việt Nam, góp phần thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội VI, Nghị quyết Bộ Chính trị và Trung ương về đối ngoại, khắc phục thiếu sót mắc phải sau năm 1975
Như vậy, từ thập kỷ 80 thế kỷ XX, hoạt động ĐNND của Việt Nam được tăng cường Các hội hữu nghị song phương được thành lập Trong quan
hệ hữu nghị với các nước khu vực Tây Âu, Bắc Âu, châu Mỹ, các hội hữu nghị, các tổ chức và cá nhân phát huy những thành tựu đạt được từ những năm chiến tranh, quan hệ hữu nghị được tiếp tục duy trì và phát triển Trong tình thế khó khăn do bị bao vây cô lập, ngoại giao nhà nước không thuận lợi, ĐNND đã tiếp tục phát huy ưu thế, bước đầu mang lại những thành quả quan trọng Dưới sự lãnh đạo của Đảng, ĐNND đã thông tin, giải thích làm cho bạn
bè quốc tế hiểu rõ thiện chí, khẳng định nguyện vọng hòa bình tha thiết xây dựng quan hệ hữu nghị, hợp tác của nhân dân Việt Nam đã góp phần giải tỏa những hiểu lầm của thế giới về Việt Nam Hoạt động ĐNND chủ động, tích cực, sáng tạo của các hội hữu nghị tạo cầu nối, góp phần khai thông và tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình bình thường hóa quan hệ giữa Việt Nam với
Trang 40Trung Quốc, Mỹ…, mở rộng quan hệ về nhiều mặt với các nước, nâng cao vị thế của Việt Nam ở khu vực và thế giới, làm tiền đề cho ĐNND trong 20 năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI
2.1.2 Đặc điểm, tình hình trong giai đoạn mới
2.1.2.1 Thế giới
Mười năm cuối thế kỷ XX thế giới thay đổi nhanh chóng Quan hệ quốc tế có nhiều biểu hiện phức tạp Cuộc khủng hoảng của các nước XHCN,
phong trào cộng sản và công nhân quốc tế xuất hiện từ nửa cuối những năm
70 của thế kỷ XX ở Liên Xô, Trung Quốc và nhiều nước XHCN khác không được khắc phục, càng trở nên trầm trọng từ giữa những năm 80 của thế kỷ
XX Cuối năm 1989, chế độ XHCN ở các nước Đông Âu lần lượt sụp đổ Tháng 12/1991, Liên Xô tan rã, khối VACSAVA giải thể Trật tự thế giới hai cực kết thúc Các mâu thuẫn cơ bản của thời đại vẫn tồn tại và phát triển dưới nhiều hình thức mới Nguy cơ chiến tranh thế giới có tính hủy diệt bị đẩy lùi, nhưng xung đột vũ trang, chiến tranh cục bộ, xung đột về dân tộc, sắc tộc, tôn giáo và nhất là khủng bố diễn ra ngày một tăng
Tháng 12/1989, lãnh đạo cao cấp Xô - Mỹ gặp nhau tại Manta, tuyên
bố chấm dứt Chiến tranh lạnh đã kéo dài hơn bốn thập kỷ Tháng 1/1990, Hội nghị cấp cao về An ninh và Hợp tác Châu Âu (CSCE) họp tại Pari đã ra tuyên
ngôn “Kết thúc Chiến tranh lạnh” Tình trạng đối đầu ý thức hệ không còn
nhưng thế giới phải đối mặt với những mối đe dọa mới có quy mô toàn cầu như xung đột, chiến tranh cục bộ, môi trường, dân số, nghèo đói, khủng bố… đòi hỏi sự chung tay của tất cả các nước Trong bối cảnh mới, ngoại giao đa phương ngày càng có vị trí quan trọng Đây là cơ hội để các nước vừa và nhỏ tham gia góp tiếng nói chung, đồng thời bảo vệ những lợi ích sống còn của chính quốc gia, dân tộc mình
Trong xu thế hợp tác đa phương, hàng loạt các tổ chức khu vực ra đời như Hiệp định Thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Khu vực mậu dịch tự do