1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC BẰNG PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI CÁC HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

109 553 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 564,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Về chủ thể: Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối các hoạt động văn hóatrên địa bàn quận Nam Từ Liêm,thành phố Hà Nội do nhiều tổ chức thực hiệnnhư như HĐND quận, UBND và cơ quan chuyên

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

LUẬT

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

Mã số: 60380101

Người hướng dẫn khoa học: TS HOÀNG MINH HỘI

HÀ NỘI - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định.

Tác giả

Vũ Thị Thanh Thuý

Trang 4

TTVH : Trung tâm văn hóa

UBND : Ủy ban nhân dân

VH&TT : Văn hóa và thông tin

VHTT&D

L

: Văn hóa thể thao và du lịch

VHTT-TT : Văn hóa thông tin tuyên truyềnXHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC BẰNG PHÁPLUẬT ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG VĂN HOÁ Ở CẤP HUYỆN 91.1 Khái niệm, đặc điểm quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các hoạtđộng văn hóa ở cấp huyện 91.2 Nội dung và nguyên tắc quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các hoạtđộng văn hóa ở cấp huyện 271.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với cáchoạt động văn hóa ở cấp huyện 34Chương 2: TỔNG QUAN VỀ QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

VÀ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC BẰNG PHÁP LUẬT ĐỐI VỚICÁC HOẠT ĐỘNG VĂN HOÁ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HIỆN NAY 422.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa – xã hội và những ảnh hưởng đếnquản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các hoạt động văn hóa trên địa bànquận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội 422.2 Thực trạng quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các hoạt động vănhóa ở quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội hiện nay 46Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝNHÀ NƯỚC BẰNG PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI CÁC HOẠT ĐỘNG VĂN HOÁ ỞQUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 683.1 Quan điểm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với cáchoạt động văn hóa ở quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội hiện nay 683.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với cáchoạt động văn hóa ở quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội hiện nay 72KẾT LUẬN 97DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm qua, xu thế hội nhập quốc tế không chỉ tác động tớikinh tế, chính trị mà còn ảnh hưởng sâu sắc tới văn hoá Trước những biến độngcủa những vấn đề chung mang tính toàn cầu ấy, văn hoá cùng với sức mạnh nộisinh của mình được đề cao như một lực lượng tinh thần, là động lực của pháttriển xã hội

Văn hoá là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do lao động của conngười sáng tạo ra nhằm đạt đến giá trị chân, thiện, mỹ Văn hoá là những nét đặctrưng mang tính phổ biến cho một cộng đồng người, là bản sắc khu biệt khi đốisánh với những cộng đồng người khác

Ở nước ta, vai trò của văn hoá luôn được khẳng định Đề cương văn hoáViệt Nam năm 1943, Đảng chủ trương xây dựng văn hoá Việt Nam theo phươngchâm là: “Dân tộc hoá, khoa học hoá và đại chúng hoá” Đến năm 1988, Nghịquyết hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Namkhoá VIII đã xác định phương hướng chung, các quan điểm cơ bản và nhiệm vụxây dựng và phát triển văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, trong

đó xác định: “Văn hoá là nền tảng tinh thần xã hội vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội”.

Nghị quyết hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khoá XI(ngày 9-6-2014), Đảng tiếp tục khẳng định mục tiêu chung là: “Xây dựng nềnvăn hoá và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện -

mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học Văn hoá thực

sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quantrọng đảm bảo sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêudân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Nghị quyết đưa ra nămquan điểm xây dựng nền văn hoá Việt Nam trong đó đặc biệt nhấn mạnh: “Vănhoá là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững

Trang 7

đất nước Văn hoá phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội” Nghịquyết cũng đưa ra các giải pháp thực hiện, trong đó chú trọng: Tiếp tục đổi mớiphương thức lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực văn hoá; nâng cao hiệu lực,hiệu quả quản lý nhà nước về văn hoá;

Từ Nghị quyết số 90/CP ngày 21/8/1997 đến Nghị định số 73/1999/NĐ-CPngày 19/8/1999 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hoá đối vớicác hoạt động trong lĩnh vực văn hoá, giáo dục, y tế, thể dục thể thao đã mở ra

cơ hội phát huy nguồn nội lực trong nhân dân cùng tham gia phát triển văn hoátheo mô hình xã hội hoá Thực hiện chủ trương xã hội hoá đó, Chính phủ đã banhành nhiều hành lang pháp lý tạo điều kiện thu hút nhiều nhà đầu tư tham giakinh doanh các loại hình dịch vụ văn hoá Chất lượng cuộc sống của nhân dânđược cải thiện cả về nhu cầu vật chất và đời sống tinh thần, đáp ứng nhu cầuhưởng thụ văn hoá trong nhân dân thể hiện vai trò của Đảng và Nhà nước đối với

sự nghiệp xây dựng đất nước hiện nay

Hiện nay, trên địa bàn thành phố Hà Nội nói chung và địa bàn Quận Nam

Từ Liêm nói riêng do quá trình đô thị hoá, đời sống kinh tế xã hội của nhân dânngày càng được nâng cao, hoạt động văn hoá như: kinh doanh karaoke, Internet,băng đĩa nhạc; báo chí, quảng cáo… ngày càng phát triển Bên cạnh những hiệuquả kinh tế từ các hoạt động dịch vụ văn hoá đem lại cho xã hội, cũng đặt ranhững vấn đề tiêu cực, cần giải quyết, thậm chí có những loại hình hoạt độngdịch vụ văn hoá trở thành điểm nóng gây bức xúc trong dư luận xã hội Trướcnhững hạn chế, bất cập đó, công tác quản lý văn hoá ngày càng được xác định lànhiệm vụ quan trọng

Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các hoạt động văn hoá là mộtnhiệm vụ cấp thiết vừa mang tính lý luận vừa mang tính thực tiễn trong đời sống

xã hội để phát huy mặt tích cực và khắc phục mặt tiêu cực đáp ứng nhu cầuhưởng thụ của nhân dân quận Nam Từ Liêm nói chung và nhân dân thành phố

Hà Nội nói chung Xuất phát từ những lý do trên, em lựa chọn nghiên cứu đề tài

“Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các hoạt động văn hoá trên địa bàn

Trang 8

quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội giai đoạn hiện nay” làm luận văn Thạc

sĩ Luật, chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật

2 Tình hình nghiên cứu

Liên quan đến chủ đề quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các hoạtđộng văn hoá có nhiều công trình khoa học như:

- “Quản lý hoạt động văn hoá” - tác giả Phan Văn Tú, Nguyễn Văn Hy,

Hoàng Sơn Cường, Lê Thị Hiền NXB văn hoá - thông tin, HN năm 1998, đã nêulên những vấn đề đại cương về quản lý hoạt động văn hoá, chính sách quản lýhoạt động văn hoá, nội dung quản lý hoạt động văn hoá, xây dựng đời sống văn

hoá cơ sở hiện nay

- “Đổi mới cơ chế quản lý doanh nghiệp công ích ngành văn hoá thông tin trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”, tác giả Nguyễn Danh Ngà, do NXB Văn hoá thông tin ấn hành năm 1997, đã nêu những vấn đề về quản lý hoạt động

quản lý văn hoá trong thời kỳ hội nhập đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hoá của

- Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Văn Dũng năm 2001,“Thực trạng quản lý băng đĩa trên địa bàn TP Hà Nội”, Trường đại học văn hoá, đã nêu ra

thực trạng hoạt động quản lý và kinh doanh dịch vụ băng đĩa trên địa bàn thànhphố Hà Nội và đưa ra các giải pháp quản lý hoạt động này một cách có hiệu quảnhất

- Luận văn thạc sĩ của Vũ Tiến Bình (2001) “Quản lý nhà nước về văn hoá ở quận Ba Đình trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay”, Học viện Hành chính quốc gia, đã đưa ra giải pháp để quản lý hoạt động

Trang 9

văn hoá trên địa bàn quận Ba Đình theo đúng chức năng, nhiệm vụ và theo đúngquy định của pháp luật.

- Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Xuân Diệp (2013), “Quản lý nhà nước về dịch vụ văn hoá trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội”, Học viện

Hành chính Quốc gia, Hà Nội, đã làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhànước về văn hoá, dịch vụ văn hoá, đặc điểm, nội dung, thực trạng quản lý nhànước về dịch vụ văn hoá trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đưa racác giải pháp quản dịch vụ văn hoá phù hợp với quá trình phát triển của địaphương

- Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Tiến Toàn (2011), “Tăng cường quản lý Nhà nước các dịch vụ văn hoá thông tin trên địa bàn huyện Đan Phượng - Thành phố Hà Nội”, luận văn Thạc sỹ Học viện Hành chính Quốc gia, Hà Nội,

đã góp phần sáng tỏ cơ sở lý luận, đánh giá những thành tựu, hạn chế và đưa racác giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của công tác quản lý dịch vụvăn hoá thông tin

- Luận văn thạc sỹ của Bùi Thị Phương Dung (2013), “Nâng cao chất lượng dịch vụ văn hoá trên địa bàn thành phố Hà Nội”, Học viện Hành chính

Quốc gia, Hà Nội, đã đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ vănhoá trên địa bàn thành phố Hà Nội;

- Luận văn thạc sỹ của Hồ Hải Đăng (2011), “Một số giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về văn hoá ở tỉnh Quảng Trị”, luận văn thạc sỹ trường

học viện hành chính quốc gia, đã đưa ra những đề xuất, kiến nghị, các giải phápnhằm hoàn thiện, tăng cường quản lý Nhà nước trên lĩnh vực văn hoá ở tỉnhQuảng Trị…

Nhìn một cách tổng quát về các công trình trên, chúng ta thấy các kết quảnghiên cứu của các luận án, luận văn và đề tài khoa học đã nghiên cứu về mốiquan hệ giữa phát triển văn hoá và kinh tế thị trường trong điều kiện hiện naycủa đất nước, góp phần làm sáng tỏ về phương diện lý luận của quản lý nhà nướctrên lĩnh vực văn hoá, bước đầu nghiên cứu, khảo sát thực trạng quản lý nhà

Trang 10

nước về văn hoá cấp cơ sở ở một số địa phương Tuy nhiên, cho đến nay chưa cócông trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống vấn đề quản lý nhà nước bằngpháp luật đối với các hoạt động văn hoá nói chung và trên địa bàn quận Nam TừLiêm trong giai đoạn hiện nay nói riêng Các công trình khoa học trên đây có giátrị tham khảo cho học viên khi nghiên cứu, phân tích, luận giải những vấn đề lýluận, làm cơ sở phương pháp luận để đánh giá cũng như đề xuất các giải phápnhằm bảo đảm quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các hoạt động văn hoátrên địa bàn quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội hiện nay.

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Từ thực trạng quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các hoạt động vănhoá tại quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, đánh giá những ưu điểm, hạn chếtrong quản lý, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của côngtác quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các hoạt động văn hoá trên địa bànquận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận chung về quản lý nhà nướcbằng pháp luật đối với hoạt động văn hoá và các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xãhội có tác động ảnh hưởng đến hoạt động quản lý nhà nước về văn hoá tại quậnNam Từ Liêm, thành phố Hà Nội

- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng hoạt động quản lý nhà nước về văn hoá

ở quận Nam Từ Liêm

- Đề xuất các giải pháp nhằm phát huy ưu điểm, khắc phục những khuyếtđiểm, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các hoạt độngvăn hoá trên địa bàn quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn chỉ nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nước bằng pháp luật đốivới các hoạt động văn hoá trên địa bàn quận Nam Từ Liêm ở một số loại hình

Trang 11

chủ yếu như: hoạt động kinh doanh dịch vụ karaoke, Internet, quảng cáo, kinhdoanh xuất bản phẩm, in ấn, photocopy… Đây là những hoạt động dịch vụ vănhoá đang tồn tại và phát triển mạnh mẽ trên địa bàn quận Nam Từ Liêm, thànhphố Hà Nội hiện nay.

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Địa bàn nghiên cứu: Quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội

- Phạm vi thời gian: Hoạt động quản lý nhà nước bằng pháp luật đối vớicác hoạt động văn hoá trên địa bàn quận Nam Từ Liêm,thành phố Hà Nội từ năm

2010 đến năm 2015

- Về chủ thể: Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối các hoạt động văn hóatrên địa bàn quận Nam Từ Liêm,thành phố Hà Nội do nhiều tổ chức thực hiệnnhư như HĐND quận, UBND và cơ quan chuyên môn, HĐND và UBND cấpxã; ngoài ra còn cơ các cơ quan khác thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước bằngpháp luật đối với các hoạt động văn hóa trên địa bàn như Công An, quản lý thịtrường…Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn này và dưới góc độ lý luận Nhànước và pháp luật tác giả chỉ tập trung đánh giá, phân tích thực trạng quản lýNhà nước bằng pháp luật đối với các hoạt động văn hóa trên địa bàn của UBNDhuyện Nam Từ Liêm và cơ quan chuyên môn

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Dựa trên quan điểm duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử;đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng và phát triển nềnvăn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận: Việc nghiên cứu dựa trên cơ sở áp dụng phươngpháp luận khoa học của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch

sử của Chủ nghĩa Mác - Lê nin

Trang 12

- Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Luận văn sử dụng các phương phápnghiên cứu phân tích - tổng hợp; phương pháp so sánh; phương pháp lịch sử - cụthể để luận giải những vấn đề lý luận và đánh giá thực trạng quản lý nhà nướcbằng pháp luật đối với các hoạt động văn hoá trên địa bàn quận Nam Từ Liêm,thành phố Hà Nội.

6 Đóng góp của luận văn

- Phân tích, luận giải những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước bằng phápluật đối với hoạt động văn hoá như khái niệm, đặc điểm, nội dung, và các yếu tốtác động đến quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các hoạt động văn hoá ởcấp huyện

- Phân tích thực trạng của công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật đốivới các hoạt động văn hoá trên địa bàn quận Nam Từ Liêm

- Đề xuất các giải pháp, kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả công tácquản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động văn hoá trên địa bàn quậnNam Từ Liêm, thành phố Hà Nội hiện nay

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

7.1 Ý nghĩa của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm một số vấn

đề lý luận về quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động văn hoá nóichung và địa bàn Hà Nội, do đó góp phần làm phong phú thêm lý luận về nhànước và pháp luật

7.2 Ý nghĩa thực tiễn

Qua nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạtđộng văn hoá, luận văn nêu ra những ưu điểm, hạn chế của công tác quản lý nhànước bằng pháp luật đối với hoạt động văn hoá, từ đó đề xuất những giải phápgóp phần nâng cao chất lượng quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạtđộng văn hoá đáp ứng đòi hỏi của quá trình phát triển kinh tế, xã hội, đáp ứng tốtnhu cầu văn hoá của nhân dân địa phương

Trang 13

Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các cấp lãnh đạo trong việchoạch định đường lối chính sách, pháp luật về quản lý nhà nước đối với các hoạtđộng văn hoá.

8 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận vănđược bố cục thành 3 chương, 7 tiết

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC BẰNG PHÁP LUẬT

ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG VĂN HOÁ Ở CẤP HUYỆN

1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC BẰNG PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI CÁC HOẠT ĐỘNG VĂN HOÁ Ở CẤP HUYỆN

1.1.1 Khái niệm hoạt động văn hóa và quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các hoạt động văn hoá trên địa bàn cấp huyện

1.1.1.1 Khái niệm văn hóa và hoạt động văn hóa

- Khái niệm văn hóa

Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về văn hoá cả trong quan niệm củaphương Đông và phương Tây, nhưng ở đây chỉ xét văn hoá là một hoạt độngtrong lĩnh vực tinh thần, giáo dục khai mở tinh thần cho con người, làm cho conngười trở thành người Theo quan điểm Mác xít: “Căn cứ vào mức độ tự nhiênđược con người biến thành bản chất người, tức là mức độ tự nhiên của con ngườikhai thác, cải tạo thì có thể xét được trình độ văn hoá chung của con người” [33,tr.111] Văn hoá luôn gắn liền với con người và hoạt động lao động sáng tạo củacon người

Định nghĩa “Văn hóa” được cộng đồng thế giới sử dụng phổ biến theo địnhnghĩa văn hoá của Tổ chức văn hoá, khoa học và giáo dục Liên hợp quốc(UNESCO), nêu trong “Tuyên bố về chính sách văn hóa” tại Hội nghị quốc tế

về chính sách văn hóa của UNESCO từ ngày 26-7 đến 6-8-1982 ở México: Vănhóa là tổng thể những nét đặc thù về tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quiđịnh tính cách của một xã hội hay của một nhóm xã hội Văn hóa bao gồm nghệthuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những

hệ thống các giá trị, những truyền thống và tín ngưỡng

Văn hóa chính là một khái niệm bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau nhưhoạt động về giáo dục, văn học nghệ thuật, đạo đức, lối sống… nhưng tựu chung

Trang 15

lại nó đều tiến tới giá trị chân - thiện - mỹ và nhằm hoàn thiện cuộc sống conngười.

Văn hóa Việt Nam có thể được hiểu theo hai nghĩa cơ bản, theo nghĩahẹp, “Văn hóa là đời sống tinh thần của xã hội”, “Văn hóa là các giá trị, truyềnthống, lối sống”, “Văn hóa là năng lực sáng tạo” của một dân tộc’ “Văn hóa làbản sắc” của một dân tộc, để phân biệt với dân tộc khác… Và theo nghĩa rộng:Văn hóa Việt Nam là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồngcác dân tộc Viêt Nam sáng tạo ra trong quá trình dựng nước và giữ nước

Hồ Chí Minh cho rằng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống, loàingười mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoahọc, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày vềmặc, ăn ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ sáng tạo, phát minh đó tức làvăn hoá Văn hoá là tổng hợp các phương thức sinh hoạt cũng như biểu hiện của

nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng nhu cầu cuộc sống và đòi hỏicủa sự sinh tồn” [34, tr.431] Quan niệm này của Hồ Chí Minh đã chỉ ra nguồngốc, bản chất của văn hoá là sự sáng tạo vươn tới các giá trị nhân văn, đồng thời

đã chỉ rõ chức năng xã hội của văn hoá: văn hoá được sáng tạo vì mục đích của

sự sinh tồn của loài người, đáp ứng nhu cầu cuộc sống con người

Tư tưởng ấy đã trở thành đường lối, thành chính sách văn hóa của Đảng

Có thể thấy, đối với lĩnh vực văn hóa, việc xác lập các quan điểm cơ bản về mốiquan hệ với đời sống, chính trị cách mạng là cực kỳ cần thiết, nhưng chưa đủ.Văn hóa có quy luật phát triển riêng của nó Qui luật này đòi hỏi phải giải quyếttốt các mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, nhân loại, giữa bản sắc dân tộc vớinội dung xã hội chủ nghĩa

Từ trước đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định: Văn hóa làmột bộ phận khăng khít của sự nghiệp cách mạng Sự nghiệp cách mạng khôngchỉ có chính trị mà phải bao gồm cả văn hóa Văn hóa là một trong ba mặt trậnthen chốt: Kinh tế - chính trị - văn hóa Nhiệm vụ của văn hóa là phục vụ sựnghiệp cách mạng, phục vụ nhân dân, vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội mà

Trang 16

nay là mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng văn minh Vớiđặc thù của mình, văn hóa có nhiệm vụ xây dựng con người Việt Nam về trí tuệ,đạo đức, tâm hồn, tình cảm lối sống, có nhân cách tốt đẹp, có bản lĩnh vữngvàng, ngang tầm với sự nghiệp đổi mới.

Nhìn tổng quát, có thể thấy rằng, Đảng và Nhà nước Việt Nam trước sauđều luôn xem văn hóa văn nghệ là bộ phận khăng khít của sự nghiệp cách mạng

do Đảng lãnh đạo, coi văn hóa văn nghệ là một mặt trận và văn nghệ sĩ là chiến

sĩ trên mặt trận ấy; luôn luôn nhất quán trong xây dựng một nền văn hóa tiên tiếnđậm đà bản sắc dân tộc, luôn coi trọng xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, phongtrào văn hóa quần chúng

Từ phân tích trên, có thể thấy rằng: Văn hóa là sản phẩm của loài người, được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội; tham gia vào việc tạo nên con người và duy trì sự bền vững và trật tự xa hội Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra

Như vậy, văn hoá trước hết là những giá trị do con người sáng tạo ra và

được biểu hiện không những ở trong việc giáo dục, đào tạo con người, ở mô hình

thiết chế xã hội… mà văn hoá còn biểu hiện ở trình độ tổ chức quản lý xã hội.

Trong đời sống xã hội, con người vừa với tư cách là chủ thể, vừa chính là sản

phẩm của quá trình sáng tạo, nên hoạt động quản lý văn hoá mang ý nghĩa giá trị sáng tạo, chỉ trình độ phát triển của xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định

- Khái niệm hoạt động văn hóa

Văn hóa là kết quả của hoạt động sáng tạo của con người, hay có thể nóirằng chính hoạt động của con người trong đời sống xã hội là cội nguồn của vănhóa Hoạt động sáng tạo của con người tạo ra các giá trị văn hóa và cũng chínhhoạt động con người trong đời sống xã hội chứa đựng các giá trị văn hóa góp

Trang 17

phần tạo dựng nên giá trị văn hóa mới, kế thừa, bổ sung, phát triển các giá trị vănhóa truyền thống.

Hoạt động văn hóa là quá trình thực hành của cá nhân và các thiết chế xãhội trong việc sản xuất, bảo quản, phân phối, giao lưu và tiêu dùng những giá trịtinh thần, nhằm giao lưu những tư tưởng, ý nghĩa và những tác phẩm văn hóacủa con người sinh ra và cũng chính là để hoàn thiện chất lượng cuộc sống củacon người trong xã hội

Hoạt động văn hóa là một hệ thống các hoạt động như nghệ thuật, kiếntrúc, hội họa… đó là các quá trình sáng tạo của con người Các hoạt động sángtạo ấy hành thành nên hệ thống các giá trị, thị hiếu – những yếu tố xác định đặctính riêng của mỗi dân tộc

Khác với các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội, hoạt động văn hóa mangmột sự khác biệt với những đặc điểm như:

- Hoạt động văn hóa là hoạt động tinh thần, nó có ảnh hưởng trực tiếp đến

tư tưởng, tình cảm của con người

- Sản phẩm của hoạt động văn hóa là các giá trị tinh thần mà cá nhân haycộng đồng sáng tạo ra nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người

Các hoạt động văn hóa rất phong phú và đa dạng Có thể chia hoạt độngvăn hóa ra thành hoạt động của những lĩnh vực, cấp độ khác nhau Theo từnglĩnh vực thì hoạt động văn hóa được chia thành các nhóm sau:

- Các hoạt động thuộc lĩnh vực báo chí, xuất bản, internet, quảng cáo

- Các hoạt động thuộc lĩnh vực điện ảnh

- Các hoạt động thuộc lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn

- Các hoạt động thuộc lĩnh vực mỹ thuật

- Các hoạt động thuộc linh vực thư viện, bảo tồn, bảo tàng

- Các hoạt động thuộc lĩnh vực văn hóa các dân tộc thiểu số

- Các hoạt động thuộc lĩnh vực tổ chức bộ máy quản lý văn hóa

- Các hoạt động thuộc lĩnh vực đào tạo…

Trang 18

Nếu xét đến các hoạt động văn hóa ở cấp cơ sở thì chúng ta có thể phânloại các hoạt động văn hóa như:

- Hoạt động thông tin, tuyên truyền cổ động

- Hoạt động vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”

- Hoạt động trong lĩnh vực di tích, bảo tồn

- Hoạt động dịch vụ văn hóa

- Hoạt động văn hóa - văn nghệ và hoạt động câu lạc bộ

Vậy trên địa bàn cấp quận, huyện các hoạt động văn hóa thường là: hoạtđộng kinh doanh dịch vụ karaoke, Internet, quảng cáo, kinh doanh xuất bảnphẩm, in ấn, photocopy… Đây là những hoạt động dịch vụ văn hoá đang tồn tại

và phát triển mạnh mẽ trên địa bàn quận, huyện

1.1.1.2 Quản lý nhà nước và quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các hoạt động văn hóa

- Khái niệm quản lý

Quản lý là hoạt động xã hội phản ánh trình độ phát triển của xã hội loài

người Trong buổi bình minh của nhân loại, khi xã hội loài người mới xuất hiệnthì hoạt động quản lý xã hội chưa xuất hiện, chỉ đến các hoạt động xã hội mangtính chất tổ chức thì hoạt động quản lý xã hội mới xuất hiện Hay nói cách khác,quản lý xã hội đánh dấu trình độ phát triển của nhân loại trong tiến trình lịch sử

và văn hoá

Theo ý kiến của một số nhà nghiên cứu, thì đến nay vẫn chưa có một địnhnghĩa thống nhất về quản lý Các trường phái đã định nghĩa về quản lý Taylor:Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ)đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh vàkiểm soát Quản lý chính là thực hiện kế hoặc, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh vàkiểm soát ấy; Hard Koont: Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốtgiúp con người hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định…

Trang 19

Về vai trò của quản lý xã hội, các nhà kinh điển mác xít cho rằng: “Quản

lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động”[33, tr.109] Nhấn mạnh nội dung trên, C.Mác đã viết:

Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hànhtrên quy mô tương đối lớn, ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo

để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năngchung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sựvận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩcầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải cónhạc trưởng [33, tr.109]

Lê-nin cũng đã từng khẳng định vấn đề này, Người viết: Muốn quản lý tốt

mà chỉ biết thuyết phục không thôi thì chưa đủ, mà còn phải biết tổ chức về mặtthực tiễn nữa Quan điểm trên đây của các nhà mác xít có thể áp dụng với mọihoạt động liên quan đến quản lý xã hội ở mọi lĩnh vực của con người trong đờisống xã hội

Thuật ngữ “Quản lý” ban đầu có nghĩa management (tiếng Italia) - bàn

tay, các hoạt động liên quan đến bàn tay Trong hình ảnh này bao hàm nghĩanắm giữ, tác động tới một đối tượng nào đó ngoài mình Khi sử dụng với nghĩa

"quản lý", nó mang nghĩa tác động giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý.Quản lý xã hội chính vì thế là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học,

cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội Mỗi ngành khoa học nghiên cứu vềquản lý từ góc độ riêng của mình và đưa ra định nghĩa về quản lý Theo Điềukhiển học thì quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn

cứ vào những quy luật, định luật hay nguyên tắc tương ứng để cho hệ thống hayquá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được những mụcđích đã định trước Định nghĩa này thích hợp với tất cả mọi trường hợp từ sự vậnđộng của một cơ thể sống, một vật thể cơ giới một thiết bị tự động hoá đến hoạtđộng của một tổ chức xã hội, một đơn vị kinh tế hay cơ quan nhà nước

Trang 20

Dù có sự khác nhau nhất định trong quan niệm về quản lý, nhưng tựutrung lại thì mọi hoạt động quản lý đều phải do các yếu tố cấu thành:

- Chủ thể quản lý (do ai quản lý);

- Khách thể quản lý (quản lý cái gì);

- Mục đích quản lý (quản lý vì cái gì);

- Môi trường và điều kiện tổ chức (quản lý trong hoàn cảnh nào);

- Biện pháp quản lý (quản lý bằng cách nào)

Có thể thấy quản lý không đơn giản chỉ là khái niệm, mà nó là sự kết hợpcủa các phương diện: Hoạt động thông qua tập thể để thúc đẩy tính tích cực củacác nhân; hoạt động quản lý nhằm điều hoà các quan hệ xã hội, tránh xung đột,giảm mâu thuẫn xã hội để tồn tại, phát triển; là hoạt động nhằm tăng cường hợptác, hỗ trợ lẫn nhau để giải quyết các vấn đề xã hội mà một cá nhân, hay nhómkhông thể làm được, hơn nữa sự hợp tác này sẽ tạo ra giá trị lớn hơn giá trị cánhân - giá trị tập thể Với tư cách là một khoa học, quản lý là hoạt động mà cáchình thức, nội dung và phương thức thực hiện phải được tổ chức dựa trên nhữngđiều kiện, hoàn cảnh cụ thể Mục đích, nội dung, cơ chế và phương pháp quản lý

xã hội tuỳ thuộc vào chế độ chính trị - xã hội khác nhau

Khái niệm “quản lý” được bàn trên đây là nói đến quản lý nhà nước Khinhà nước xuất hiện thì chủ yếu các công việc xã hội do nhà nước quản lý Do đó,quản lý nhà nước là hoạt động của nhà nước

Như vậy, quản lý được hiểu là sự tác động có định hướng và tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng phương thức nhất định để đạt tới mục tiêu nhất định

Quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơquan nhà nước tiến hành đối với tất cả mọi cá nhân và tổ chức trong xã hội, trêntất cả các mặt của đời sống xã hội bằng cách sử dụng quyền lực nhà nước có tínhcưỡng chế đơn phương nhằm mục tiêu phục vụ lợi ích chung của cả cộng đồng,duy trì ổn định, an ninh trật tự và thúc đẩy xã hội phát triển theo một định hướngthống nhất, vì sự phát triển chung của đất nước

Trang 21

Chủ thể của quản lý nhà nước là các cơ quan nhà nước (cán bộ, công chức

có thẩm quyền phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao) Những chủ thể nàytham gia vào quá trình tổ chức quyền lực nhà nước về lập pháp, hành pháp, tưpháp theo quy định của pháp luật

Đối tượng quản lý: Đối tượng của quản lý nhà nước bao gồm tất cả các cánhân, các tổ chức sinh sống, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong phạm vi lãnhthổ quốc gia

Các lĩnh vực quản lý nhà nước: Quản lý nhà nước có tính toàn diện, baogồm tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội như chính trị, kinh tế, văn hoá, xãhội, an ninh quốc phòng,

Công cụ quản lý nhà nước: Nhà nước sử dụng các công cụ quản lý chủyếu là pháp luật, chính sách, kế hoạch để quản lý xã hội

Nói cách khác, quản lý nhà nước là sự tác động của các chủ thể mangquyền lực nhà nước (chủ yếu bằng pháp luật) tới các đối tượng quản lý nhằmthực hiện chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước Tất cả các cơ quan nhànước đều thực hiện chức năng quản lý nhà nước Pháp luật là công cụ chủ yếu đểquản lý nhà nước Bằng pháp luật nhà nước có thể trao quyền cho các tổ chức xãhội hoặc cá nhân để họ thay mặt nhà nước tiến hành hoạt động quản lý nhà nước;điều chỉnh hành vi hoạt động của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống

xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thoả mãn nhu cầuhợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội

Hệ thống thể chế quản lý nhà nước trong lĩnh vực văn hoá là công cụ đểnhà nước quản lý lĩnh vực văn hoá nói riêng và quản lý xã hội nói chung Trongquản lý nhà nước thì quản lý về văn hoá được coi là một dạng quản lý đặc biệtquan trọng

- Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các hoạt động văn hóa

Quản lý nhà nước bằng pháp luật về văn hoá với tư cách là quản lý mộtlĩnh vực của đời sống xã hội, vậy nên phân biệt phạm vi quan niệm văn hoá theonghĩa là lĩnh vực sáng tạo tinh thần Như vậy, để chỉ lĩnh vực hoạt động sáng tạo,

Trang 22

lưu giữ, trao truyền, phân phối, hưởng thụ các sản phẩm, giá trị tinh thần, người

ta dùng khái niệm văn hoá theo nghĩa chuyên biệt Chủ tịch Hồ Chí Minh nói:Trong việc kiến thiết nước nhà có bốn lĩnh vực: chính trị, kinh tế, xã hội, vănhoá cần coi trọng ngang nhau Lĩnh vực văn hoá, lĩnh vực tinh thần trong quanniệm văn hoá đã được tách ra một cách trừu tượng để nghiên cứu, xây dựng, tổchức và quản lý, khu biệt với các lĩnh vực khác (chính trị, kinh tế, xã hội) cũng

là đối tượng của quản lý

Ở nước ta, trong định hướng của Đảng về phát triển văn hoá, khái niệm

quản lý nhà nước về văn hoá được dùng qua các các Văn kiện của Đảng: “quản

lý nhà nước đối với hoạt động văn hoá văn nghệ” (Văn kiện Đại hội VII), “quản

lý nhà nước theo hướng xã hội hoá các hoạt động văn hoá thông tin” (Văn kiện Đại hội VIII), “đổi mới và tăng cường quản lý nhà nước trong lĩnh vực văn hoá thông tin” (Văn kiện Đại hội X)…

Từ đó rút ra khái niệm Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các hoạt động văn hóa là sự tác động liên tục, có tổ chức, có chủ đích của nhà nước

và các chủ thể khác bằng hệ thống pháp luật và bộ máy của mình nhằm phát triển văn hóa, điều chỉnh hoạt động của mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực văn hóa và liên quan, với mục đích giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

Quản lý nhà nước về văn hoá là quản lý toàn bộ nền văn hoá, từ vĩ mô tới

vi mô Quản lý nhà nước về văn hoá hiểu theo nghĩa rộng là thực hiện thông quacác cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp, thông qua các hoạt động của chínhquyền đối với việc xây dựng và phát triển văn hoá thực chất là khẳng định quyềnlực chính trị của nhà nước và trách nhiệm của nhà nước đối với việc xây dựng vàphát triển văn hoá Nhà nước là trụ cột của hệ thống chính trị, là công cụ đặc biệt

để thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp Quản lý này mang tính pháp quyền

và thực hiện theo nguyên tắc pháp chế Mặt khác quản lý bằng pháp luật là tất

Trang 23

yếu Văn hoá là lĩnh vực liên quan chặt chẽ đến đời sống tinh thần dân tộc, cầnđược quản lý bằng pháp luật.

Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước về văn hoá được thể hiện trong hoạtđộng quản lý có tính chất nhà nước nhằm điều hành hoạt động, phát triển vănhoá, được thể hiện bởi cơ quan hành pháp (Chính phủ - Bộ Văn hoá) Theo nghĩanày, quản lý nhà nước về văn hoá được quan niệm là quản lý hành chính về vănhoá, quản lý nhà nước đối với các hoạt động văn hoá

* Nội dung quản lý nhà nước bằng pháp luật về văn hoá:

Quản lý nhà nước về văn hoá thực chất là quản lý toàn bộ các hoạt độngvăn hoá diễn ra trên phạm vi toàn lãnh thổ quốc gia bằng quyền lực của nhànước thông qua hiến pháp, pháp luật, và cơ chế chính sách, tạo điều kiện để thúcđẩy nền văn hoá phát triển Nhà nước đóng vai trò điều tiết các cơ quan văn hoá

do nhà nước thành lập để điều tiết toàn bộ các hoạt động văn hoá của xã hội Vìvậy, đối tượng quản lý là hoạt động văn hoá do các tổ chức, cá nhân và các thànhphần kinh tế tham gia trên lĩnh vực kinh tế Trong điều kiện đó, nhà nước chuyểnviệc phân bổ vốn đầu tư, phê duyệt các dự án, xác định các chỉ tiêu sang xâydựng các quy hoạch, các chiến lược phát triển văn hoá và các chính sách vănhoá

Quản lý nhà nước về văn hoá mang tính tổ chức chặt chẽ thông qua chínhsách và pháp luật của Nhà nước để đảm bảo cho nền văn hoá phát triển Khiquản lý văn hoá, nhà nước chú trọng đến khía cạnh kinh tế trong văn hoá và vănhoá trong kinh tế Quản lý văn hoá trong cơ chế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa, nhà nước phải tạo lập hành lang pháp lý vừa đảm bảo thông thoángnhưng giữ vững lập trường chính trị đúng đắn để các chủ thể phát huy vai tròsáng tạo tích cực cho nền văn hoá dân tộc

Quy trình, nội dung quản lý nhà nước văn hoá có thể hình dung với cáckhâu như [9, tr.111 ]: lập kế hoạch, xây dựng thể chế, chính sách văn hoá, hướngdẫn việc triển khai kế hoạch và các hoạt động văn hoá, tổ chức kiểm tra, giám sát

Trang 24

các hoạt động văn hoá, xây dựng và sử dụng nguồn lực, kinh phí cho các hoạtđộng văn hoá và kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về văn hoá.

a Lập kế hoạch

Lập kế hoạch là đưa ra những việc cần làm và cách thức tiến hành nhữngviệc đó Lập kế hoạch là khâu quan trọng đối với tổ chức công việc vì nó là nềntảng để tiến hành các chức năng khác Khi lập kế hoạch chúng ta sẽ có đượcnhững nhìn nhận đứng đắn thậm chí tiên lượng và lường trước được những điều

sẽ xảy ra trong tương lai hoặc tìm ra các biện pháp để ứng phó

Chính vì vậy, việc lập kế hoạch xây dựng và phát triển văn hoá trong từnggiai đoạn để thực hiện đường lối và định hướng phát triển của Đảng đối với vănhoá là rất quan trọng

Kế hoạch thường bao gồm các mức độ: Kế hoạch dài hạn thường mangtính chiến lược và tổng hợp Nó là tập hợp của nhiều loại kế hoạch được triểnkhai, nhằm tổ chức tất cả các nguồn lực để thực hiện các mục tiêu dài hạn

Kế hoạch trung hạn là các kế hoạch hàng năm và các chương trình, kếhoạch mang tính mục tiêu hoặc chuyên đề nhằm giải quyết một số nhiệm vụ đặcthù nào đó trên lĩnh vực cụ thể của văn hoá Kế hoạch ngắn hạn, thường là nhằmgiải quyết những mục tiêu cụ thể trong thời hạn nhất định

Các loại kế hoạch được xây dựng cho từng vùng miền, từng địa phương

và từng ngành Đó đều là kế hoạch nằm trong chiến lược, trong mục tiêu chungcủa quản lý nhà nước về văn hoá Khi xây dựng các kế hoạch quản lý văn hoánhất thiết phải gắn với kế hoạch chung phát triển các mặt khác của toàn xã hội,trong đó vừa chú ý đến yêu cầu riêng của văn hoá, vừa chỉ ra được mối quan hệgiữa văn hoá với các lĩnh vực khác nhau trong kế hoạch chung Kế hoạch luônphải được xây dựng dựa trên cơ sở thực - tiễn, để từ đó có thể giải quyết tốt cácvấn đề của thực tiễn đặt ra Xây dựng kế hoạch văn hoá là thiết lập hệ thống cácmục tiêu, tiêu chí để đạt được chúng Đó cũng là cơ sở để thực hiện chức năngkiểm soát, đánh giá các hoạt động sau này

Trang 25

b Xây dựng thể chế, chính sách văn hoá

Đối với quản lý văn hoá, chính sách văn hoá được đánh giá là đặc biệtquan trọng Chính sách văn hoá được hiểu là tổng thể những nguyên tắc thể hiện

tư tưởng chủ đạo của nhà nước về đường lối, phương hướng xây dựng và pháttriển nền văn hoá Chính sách văn hoá đặt ra các nguyên tắc chung của sự nghiệpphát triển văn hoá phù hợp với mục tiêu phát triển chung của đất nước Chínhsách phát triển văn hoá của Đảng ta đã được cụ thể hoá thành Chương trình mụctiêu quốc gia về văn hoá trong Quyết định số 125/2007/QĐ-TTg ngày 31/7/2007 củaThủ tướng Chính phủ Quyết định này xác định rõ mục tiêu tổng quát về pháttriển văn hoá Việt Nam là: tăng cường vấn đề nhận thức của toàn dân, các ngành,các cấp; huy động sức mạnh toàn xã hội vào phát triển văn hoá để văn hoá trởthành nền tảng tinh thần, là động lực là nhân tố góp phần thúc đẩy sự nghiệpcông nghiệp quá đất nước Bảo tồn và phát huy giá trị di tích, thắng cảnh và vănhoá phi vật thể nhằm phục vụ giáo dục truyền thống, phục vụ nhu cầu sinh hoạtcủa toàn xã hội và phát triển du lịch Quan tâm tới phát triển văn hoá vùng sâu,vùng xa, vùng núi, hải đảo biên giới, vùng dân tộc thiểu số về mọi lĩnh vực củađời sống tinh thần

Chính sách văn hoá đóng vai trò quan trọng trong quản lý nhà nước vềvăn hoá song chính sách văn hoá không thể thay thế pháp luật Nhằm mục đíchquản lý tốt hoạt động văn hoá, nhà nước phải coi xây dựng thể chế văn hoá là cơ

sở, công cụ để quản lý Thể chế văn hoá gồm hệ thống pháp luật và chính sáchvăn hoá của nhà nước và các phong tục quy ước văn hoá của cộng đồng Nói nhưvậy không có nghĩa là pháp luật sẽ triệt tiêu mọi khuôn mẫu xã hội khác màngược lại pháp luật sẽ chấn hưng những phong tục, tập quán phù hợp, những nétđẹp của đạo đức truyền thống và triệt tiêu phong tục, tập quán, những khuônmẫu xử sự không phù hợp pháp luật Đây chính là vai trò điều chỉnh pháp đốivới văn hoá

Trong xã hội hiện đại, quản lý văn hoá bằng pháp luật là yêu cầu mangtính tất yếu khách quan Bằng việc ban hành các văn bản pháp luật, Nhà nước đã

Trang 26

tạo ra hành lang pháp lý an toàn cho việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoádân tộc Những quy phạm pháp đã xác lập những khuôn mẫu xử sự buộc mọithành viên trong xã hội phải tuân theo Đã có nhiều các văn bản pháp quy tronglĩnh vực văn hoá được ban hành và được đưa vào thực hiện như: Hiến pháp năm

1992, Luật Báo chí, Luật Di sản văn hoá, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Điện ảnh,Nghị định của Chính phủ số 31/2001/NĐ-CP ngày 26/6/2001 về xử phạt vi phạmhành chính trong lĩnh vực văn hoá thông tin…

Bên cạnh việc quản lý văn hoá bằng hệ thống pháp luật, hoạt động vănhoá còn được cộng đồng tự quản lý theo phong tục tập quán, quy ước do chínhcộng đồng đề ra và được xã hội chấp nhận Ví dụ như mỗi làng xã có hương ướcriêng trong đó có các quy định và biện pháp riêng để duy trì sự ổn định theo tậpquán của một cộng đồng Đây là những biện pháp tăng cường vai trò của cộngđồng trong quản lý các hoạt động văn hoá liên quan đến tín ngưỡng, tập quánsinh hoạt của cộng đồng Tôn trọng việc tự quản của cộng đồng, Nhà nước đãthể hiện sự mềm dẻo, linh hoạt trong các quản lý của mình Điều đó phù hợp vớinền văn hoá Việt Nam vốn được xem là nền tảng tinh thần được hình thành bởi

bề dày lịch sử ngàn năm dựng và giữ nước

Song hành cùng hệ thống thể chế của chủ thể quản lý thì các thiết chế vănhoá là khách thể của quản lý Thiết chế văn hoá là những điều kiện vật chất để thựcthi chính sách văn hoá, hướng các hoạt động văn hoá vào mục tiêu đã đề ra Cácthiết chế văn hoá này hoạt động phải được nhà nước cấp giấy phép, chuẩn y các quyđịnh về chức năng, nhiệm vụ và được nhà nước quản lý

Như vậy hoạch định chính sách văn hoá, thể chế văn hoá và thiết chế vănhoá là những vấn đề rất quan trọng đối với việc quản lý văn hoá của nhà nước, vìvậy các nội dung trên cần phải được chú trọng xây dựng và thực thi

c Hướng dẫn xây dựng kế hoạch, tổ chức, kiểm tra, giám sát các hoạt động văn hoá

Quá trình này cần có sự tham gia của tổ chức, lực lượng chuyên ngànhvăn hoá, các cơ quan, đơn vị chức năng, quần chúng để tạo ra được các phong

Trang 27

trào rộng lớn vừa xây dựng nề nếp ổn định cho các hoạt động văn hoá thườngxuyên Qua đó tạo ra nhiều sản phẩm văn hoá có giá trị và làm cho văn hoá thấmsâu vào mọi mặt đời sống xã hội, vào đời sống từng cá nhân đến các cộng đồng.

Tăng cường kiểm tra, giám sát của nhà nước đối với các hoạt động lànhiệm vụ quan trọng, đem lại hiệu quả trong quản lý nhà nước đối với văn hoá,đặc biệt là hoạt động của các cơ quan kiểm duyệt, thanh tra do văn hoá có mốiliên hệ và tác động tới chính trị

Nhà nước ta đang thực hiện kiểm tra, giám sát hoạt động văn hoá và dịch

vụ văn hoá theo ba hướng: hoàn thiện và bổ sung các văn bản pháp quy; kiệntoàn đội ngũ cán bộ thanh tra, giám sát của ngành từ trung ương đến địa phương;

tổ chức và sắp xếp lại các cơ quan quản lý nhà nước cũng như các cơ quan sảnxuất và cung ứng dịch vụ văn hoá, xác định vai trò chủ đạo của doanh nghiệpnhà nước Thêm vào đó, kiểm tra trên lĩnh vực văn hoá cũng phải thực hiện đồng

bộ các biện pháp, kinh tế, giáo dục và các biện pháp hành chính thích hợp

d Xây dựng và sử dụng nguồn lực cho các hoạt động văn hoá

Xây dựng và sử dụng nguồn lực cho các hoạt động văn hoá là một trongnhững nhiệm vụ cụ thể và quan trọng của chức năng quản lý nhà nước về vănhoá Sự đầu tư về nguồn lực và kinh phí cho các hoạt động văn hoá chính là đầu

tư cho phát triển Nguồn đầu tư kinh phí được triển khai từ hai hướng là từ nhànước và từ các tổ chức kinh tế xã hội, tư nhân Bản thân văn hoá cũng tự có lợinhuận và chính từ bản thân văn hoá cũng là nguồn đầu tư của mình Coi văn hoávới tư cách là một hoạt động sản xuất thì đầu tư cho văn hoá cũng được tính đếnhiệu quả và cấp ngân sách cho văn hoá tất nhiên cũng phải tuân theo nguyên tắccủa bất kỳ hoạt động tài chính nào

e Kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về văn hoá

Tổ chức bộ máy quản lý văn hoá là một chỉnh thể gồm các bộ phận cóchức năng, quyền hạn, trách nhiệm khác nhau, có mối quan hệ qua lại, đượcphân cấp, làm từng khâu nhằm đạt được mục tiêu đã xác định Sự phân cấp quản

lý được thể hiện như sau:

Trang 28

Đối với Việt Nam, Ở Trung ương, cơ quan có chức năng quản lý nhà nước

về văn hoá là Chính phủ và Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch Chính phủ đảmnhiệm việc thống nhất quản lý và phát triển sự nghiệp văn hoá trên phạm vi cảnước, thi hành các biện pháp để bảo tồn, phát triển nền văn hoá dân tộc Đối vớiquản lý văn hoá, Chính phủ thực hiện chức năng của mình qua những việc cụ thểsau: trình dự án luật, pháp lệnh về hoạt động văn hoá, quyết định quy hoạch, kếhoạch phát triển sự nghiệp văn hoá, quyết định chính sách đầu tư tài trợ hợp tácvới nước ngoài, ban hành quyết định quản lý nhà nước và những chế độ chínhsách khác về văn hoá Thủ tướng Chính phủ - người có cương vị đứng đầu Chínhphủ có thẩm quyền ký các Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ, ra quyết định,chỉ thị về quản lý văn hoá và hướng dẫn, kiểm tra việc thi hành các văn bản đóđối với tất cả các ngành, địa phương và cơ sở Thủ tướng Chính phủ cũng cóquyền trong việc đình chỉ thi hành hoặc bãi bỏ những quyết định về quản lý vănhoá của bộ trưởng Bộ VHTT&DL và của UBND, chủ tịch UBND tỉnh, thànhphố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, và các văn bản của cơ quan nhànước cấp trên

Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch là cơ quan của Chính phủ có chức năngquản lý nhà nước về văn hoá trong phạm vi cả nước Bộ trưởng Bộ VHTT&DL

có trách nhiệm trình Chính phủ các kế hoạch dài hạn, kế hoạch năm năm và hàngnăm của ngành văn hoá, tổ chức chỉ đạo thực hiện các kế hoạch đó, xây dựng các

dự án luật, pháp lệnh và các văn bản pháp về văn hoá theo sự phân công củaChính phủ, ban hành các quyết định, chỉ thị, thông tư về các hoạt động văn hoá,chỉ đạo công tác nghiên cứu khoa học, nghiên cứu lý luận tổ chức sưu tầm, khaithác, giữ gìn và phổ biến các giá trị văn hoá dân tộc tiếp thu tinh hoa văn hoánhân loại, xây dựng và chỉ đạo kế hoạch hợp tác quốc tế trên lĩnh vực văn hoátheo quy định của Chính phủ, thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật, cácchế độ chính sách, quy chế về văn hoá, quản lý các đơn vị sự nghiệp, các tổ chứckinh doanh trực thuộc Bộ VHTT&DL theo quy định của Chính phủ

Trang 29

Theo Nghị định số 14/NĐ-CP ngày 04/ 02/2008 của Chính phủ quy định

tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh thành phố trực thuộc Trungương và Thông tư liên tịch số 43/2008/TTLB-BVHTTDL-BNV ban hành ngày06/8/2008 của Bộ VHTT&DL, Bộ Nội vụ về việc hướng dẫn chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn giúp UBND quản lýnhà nước về văn hoá ở địa phương, trong đó ghi rõ chức năng, nhiệm vụ, quyềnhạn của sở VHTT&DL, phòng VH&TT quận, huyện, cụ thể như sau:

Sở VHTT&DL là cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trựcthuộc Trung ương, có chức năng tham mưu, giúp UBND cấp tỉnh thực hiện chứcnăng quản lý nhà nước về văn hoá, gia đình, thể thao và du lịch và quảng cáo ởđịa phương, các dịch vụ công cộng thuộc lĩnh vực quản lý của Sở và thực hiệnmột số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự uỷ quyền của UBND cấp tỉnh và theo quyđịnh của pháp luật Sở VHTT&DL chịu sự chỉ đạo, quản lý tổ chức, biên chế vàhoạt động của UBND cấp tỉnh, chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra chuyên mônnghiệp vụ của Bộ VHTT&DL

Phòng Văn hoá và Thông tin là cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấphuyện, có chức năng tham mưu, giúp UBND huyện quản lý nhà nước về vănhoá, gia đình, thể dục thể thao, du lịch trên địa bàn huyện “Ở sự phân cấp này,các cơ quan chuyên môn thuộc UBND chịu sự chỉ đạo và quản lý về tổ chức,biên chế của UBND cấp mình, đồng thời chịu sự chỉ đạo về nghiệp vụ của các cơ

quan chuyên môn cấp trên” [10, tr.45] Điều này cho ta thấy, trong quản lý văn

hoá cần chú trọng song song sự phân cấp và phát triển các hình thái tự quản vềvăn hoá

1.1.1.3 Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các hoạt động văn hóa trên địa bàn cấp huyện

Theo luật Tổ chức chính quyền địa phương, cơ quan hành chính nướcCộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm có: Tỉnh, thành phố trực thuộc trungương (gọi chung là cấp tỉnh); Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành

Trang 30

phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp huyện); Xã, phường, thị trấn (gọichung là cấp xã); và đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt

Đối với cấp huyện, hoạt động quản lý nhà nước được tiến hành theo quyđịnh của pháp luật, sự điều hành chỉ đạo trực tiếp của cơ quan nhà nước cấp trêntrực tiếp tức cấp tỉnh Theo đó, hoạt động của các phòng chuyên môn của cấphuyện nói chung, Phòng Văn hoá - thông tin nói riêng chịu sự lãnh đạo và quản

lý trực tiếp, toàn diện của Uỷ ban nhân dân cấp huyện đồng thời chịu sự chỉ đạo

và hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Sở Văn hoá, Thể thao và

Du lịch, Sở Thông tin và truyền thông đồng thời hoạt động theo khuôn khổ củapháp luật

Từ những phân tích trên, có thể khái quát quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn cấp huyện là sự tác động liên tục, có tổ chức, có chủ đích của các chủ thể quản lý (chủ yếu là UBND huyện, phòng VH-TT và các đơn vị liên quan bằng hệ thống pháp luật và bộ máy của mình) nhằm phát triển văn hóa trên địa bàn huyện, điều chỉnh hoạt động của mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực văn hóa và liên quan trên địa bàn huyện, với mục đích giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam, văn hóa truyền thống của huyện, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân trong huyện.

1.1.2 Đặc điểm quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các hoạt động văn hoá trên địa bàn cấp huyện

Trong quản lý nhà nước về văn hoá thì công tác quản lý văn hoá ở cấphuyện giữ vị trí quan trọng Các văn bản quy phạm pháp luật như: Nghị định số14/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quanchuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Thông tưliên bộ số 43/2008/TTLB-BVHTTDL-BNV ngày06/8/2008 của Bộ VHTT&DL-

Bộ Nội vụ và Thông tư liên tịch số 03/2008/TTLT-BTTTT-BNV, ngày30/6/2008 của liên bộ Bộ TT&TT- Bộ Nội vụ về việc quy định tổ chức các cơ

Trang 31

quan chuyên môn thuộc UBND huyện, quận Trong đó hướng dẫn rõ chức năng,nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu của Phòng VH&TT quận, huyện.

Chức năng cơ bản của Phòng VH&TT là tổ chức xây dựng và giám sátcác hoạt động văn hoá và thông tin trên địa bàn huyện

Nội dung cụ thể của quản lý văn hoá ở cấp huyện là quản lý các hoạt độngvăn hoá thông tin như: Thông tin tuyên truyền, cổ động, công tác xây dựng đờisống văn hoá, công tác văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, công tác gia đình,quản lý các dịch vụ kinh doanh văn hoá, du lịch, công tác quản lý di tích, quản lýhoạt động thông tin và truyền thông

Đặc điểm chủ yếu của quản lý văn hoá cấp huyện là: Đây là cấp trunggian giữa tỉnh (Sở) với cấp xã, nó là cầu nối để chuyển tải các chủ trương, chínhsách từ trung ương, tỉnh xuống đến xã Đồng thời là lực lượng quan trọng giúpcác cơ quan quản lý ngành dọc cấp trên, chính quyền cùng cấp trong việc nắmtình hình, trực tiếp chỉ đạo, xử lý các tình huống hàng ngày trong công tác quản

lý, kiểm tra, giám sát các hoạt động văn hoá thông tin ở cấp xã, phường và các

cơ quan, ban ngành, đoàn thể và tổ chức kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân tham giakinh doanh trong hoạt động văn hoá và thông tin đi đúng hướng theo quy địnhcủa nhà nước

Quản lý Nhà nước bao giờ cũng dựa trên việc sử dụng quyền lực nhànước có tính cưỡng chế đơn phương Quyền hành là đặc quyền của chủ thể do tổchức trao cho, là phương tiện để chủ thể quản lý Nhà nước hay xã hội tác độnglên đối tượng quản lý Quản lý Nhà nước mang tính tổ chức giống như các hoạtđộng quản lý xã hội khác Tính tổ chức là nền tảng của hoạt động quản lý

Văn hoá là nền tảng tinh thần của mọi xã hội Sự quản lý nhà nước đối vớivăn hoá nhằm định hướng cho văn hoá phục vụ cho mục đích duy trì sự ổn định,phát triển bền vững của dân tộc Đồng thời, văn hoá là một lĩnh vực nhạy cảm.Những biến động của đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội đều được phảnchiếu trong văn hoá Văn hoá trong các thời điểm nhất định có thể có những biểuhiện tiêu cực, phát triển theo hướng tự phát Để lập lại trật tự kỷ cương trong các

Trang 32

hoạt động văn hoá thì pháp luật được coi là công cụ hữu hiệu nhất bởi tínhcưỡng chế đơn phương của pháp luật nhằm duy trì ổn định chung của xã hội

Hoạt động quản lý nhà nước về văn hoá trên địa bàn cấp huyện bao gồmmột số lĩnh vực cơ bản sau:

- Quản lý nhà nước đối với văn hoá nghệ thuật: nhà nước ban hành cácchính sách phát triển văn hoá sâu rộng trong quần chúng nhân dân, phát huy khảnăng sáng tạo trong nhân dân; nhà nước thực hiện chính sách bảo trợ vật chất ởmức độ khác nhau cho những loại hình văn hoá nghệ thuật cổ như sân khấutuồng cổ, nghệ thuật chèo, Nhà nước bảo hộ quyền tác giả, quyền sở hữu côngnghiệp với các tác phẩm văn học, nghệ thuật,

- Quản lý nhà nước đối với văn hoá - xã hội: nhà nước ban hành các chínhsách nhằm ổn định trật tự xã hội, giữ gìn những nét đẹp của văn hoá truyềnthống, xây dựng nếu sống văn hoá mới Bên cạnh đó, nhà nước còn ban hànhnhiều văn bản pháp luật quy định những khuôn mẫu ứng xử trong xã hội

- Quản lý nhà nước đối với di sản văn hoá: nhà nước ban hành các chínhsách và pháp luật để phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản vănhoá, tiêu biểu là Luật Di sản văn hoá năm 2001,

Đặc điểm của quản lý nhà nước về văn hoá là việc giải quyết tốt mâuthuẫn biện chứng giữa văn hoá và kinh tế, văn hoá và giáo dục, giữa sáng tạo vàhưởng thụ văn hoá, giữa xây và chống các giá trị văn hoá, hoạt động văn hoá

1.2 NỘI DUNG VÀ NGUYÊN TẮC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC BẰNG PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI CÁC HOẠT ĐỘNG VĂN HOÁ Ở CẤP HUYỆN

1.2.1 Nội dung

Quản lý nhà nước về văn hoá là quản lý toàn bộ nền văn hoá từ vĩ mô tới

vi mô Nhà nước tập trung xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo hànhlang pháp lý, môi trường lành mạnh cho các hoạt động văn hoá được phát triểnngày càng năng động, hiệu quả Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với cáchoạt động văn hoá cấp huyện gồm các nội dung cơ bản sau:

Trang 33

- Ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện pháp luật về quản lý nhà nước đối với các hoạt động văn hoá trên địa bàn cấp huyện

Để hoạt động quản lý nhà nước về văn hoá được tiến hành hiệu quả.Đảng, Nhà nước cần chú trọng xây dựng và hoàn thiện văn bản pháp luật, thông

tư hướng dẫn, chỉnh sửa bổ sung những luật không còn phù hợp với thực tế pháttriển của đất nước trong thời kỳ hội nhập Pháp luật được coi là “thể chế cứng”,bên cạnh đó là “thể chế mềm” tức các phong tục, tập quán do cộng đồng đề xuấtnhằm điều chỉnh hành vi của công dân trong một cộng đồng nhất định

Trên bình diện quốc gia, nước nào cũng có những điều luật về văn hoá.Hoặc ghi trong các bộ luật khác, hoặc trong bộ luật chuyên về văn hoá

Ở Việt Nam, Hiến pháp năm 2013 quy định:

l Nhà nước, xã hội chăm lo xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Namtiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại

2 Nhà nước, xã hội phát trên văn học nghệ thuật nhằm đáp ứng nhu cầutinh thần đa dạng và lành mạnh của nhân dân ; phát triển các phương tiện thôngtin đại chúng nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của nhân dân, phục vụ sự nghiệpxây dựng và bảo vệ Tổ quốc

3 Nhà nước, xã hội tạo môi trường xây dựng gia đình Việt Nam ấm no,tiến bộ, hạnh phúc, xây dựng con người Việt Nam có sức khoẻ, văn hoá, giàulòng yêu nước, có tinh thần đoàn kết, ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân”

(Điều 60 - Chương III) [38] Nhà nước còn ban hành các đạo luật riêng đối với

một số hoạt động văn hoá như: luật báo chí, luật xuất bản, luật di sản văn hoá,luật bảo hộ quyền tác giả, luật điện ảnh, pháp lệnh quảng cáo, pháp lệnh thưviện

Căn cứ vào các đạo luật và các văn bản pháp quy đã ban hành, có 12 lĩnhvực hoạt động văn hoá cần được quản lý như sau:

“Các hoạt động thuộc lĩnh vực báo chí, xuất bản, Intemet, quảng cáo;

- Các hoạt động thuộc lĩnh vực điện ảnh;

- Các hoạt động thuộc lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn;

Trang 34

- Các hoạt động thuộc lĩnh vực mỹ thuật;

- Các hoạt động thuộc lĩnh vực thư viện, bảo tồn, bảo tàng;

- Các hoạt động thuộc lĩnh vực văn hoá thông tin cơ sở;

- Các hoạt động thuộc lĩnh vực văn hoá các dân tộc thiểu số;

- Các hoạt động thuộc lĩnh vực quyền tác giả, nhuận bút;

- Các hoạt động thuộc lĩnh vực xuất nhập khẩu văn hoá phẩm;

- Các hoạt động thuộc lĩnh vực tổ chức bộ máy quản lý văn hoá;

- Các hoạt động thuộc lĩnh vực đào tạo;

- Các hoạt động thuộc lĩnh vực thanh tra” [37, tr 27]

Các văn bản pháp luật tạo ra một hành lang pháp lý cho các hoạt động vănhoá, đặc biệt có ý nghĩa khi chúng ta đang tiến hành chủ trương xã hội hoá cáchoạt động văn hoá trong nền kinh tế thị trường

Quản lý nhà nước về văn hoá ở nước ta nói chung, trên địa bàn cấp huyệnnói riêng cần đặc biệt chú ý đến các lĩnh vực như quảng cáo, in ấn, xuất bản, cáchoạt động dịch vụ văn hoá như karaoke, vũ trường, xuất nhập khẩu các cấn phẩmvăn hoá,

- Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về quản lý nhà nước đối với các hoạt động văn hoá trên địa bàn cấp huyện

Để các văn bản pháp luật của nhà nước về văn hoá đến được địa bàn cơ

sở, quần chúng nhân dân, nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật vềquản lý nhà nước đối với văn hoá là nội dung quan trọng, là cầu nối giữa chủtrương, chính sách pháp luật của nhà nước đến với các tầng lớp nhân dân Mụcđích của công tác này là xây dựng ý thức pháp luật, làm cho nhân dân, cán bộ,công chức có lòng tin vào pháp luật, có thói quen, động cơ tích cực trong thựchiện pháp luật không chỉ riêng trong lĩnh cực văn hoá

Hoạt động tuyên truyền, giáo dục pháp luật về hoạt động văn hoá, đặc biệt

là lĩnh vực kinh doanh dịch vụ văn hoá phải tiến hành thường xuyên, liên tục vớinhiều nội dung, phong phú về hình thức; đẩy mạnh tập huấn, đào tạo về tuyêntruyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức làm công tác tuyên

Trang 35

truyền để đạt được hiệu quả và mục đích tuyên truyền Kết hợp công tác kiểmtra, giám sát về hoạt động tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về quản lýnhà nước đối với hoạt động văn hoá, tránh hiện tượng sai phạm, lệch lạc tưtưởng trong tuyên truyền

- Tổ chức triển khai thực hiện quy định pháp luật về quản lý nhà nước đối với các hoạt động văn hoá trên địa bàn cấp huyện

Cùng với việc ban hành pháp luật, công tác hướng dẫn, triển khai, tổ chứcthực hiện quy định của pháp luật đối với các hoạt động văn hoá trên địa bàn cấphuyện là nội dung quan trọng Hiệu lực thi hành của các văn bản quy phạm phápluật có được triển khai xuống đơn vị hành chính cấp xã, rồi lan toả trong quầnchúng nhân dân hay không phụ thuộc rất nhiều vào quá trình hướng dẫn, địnhhướng, triển khai các kế hoạch của hoạt động văn hoá Công tác tổ chức triểnkhai thực hiện các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước đối với văn hoáđòi hỏi sự phối hợp công tác, hoạt động kiểm tra giám sát của của các cơ quanchuyên môn cấp trên, cũng như hoạt động vai trò tham gia của quần chúng vàokiểm tra giám sát hoạt động

- Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về quản lý nhà nước đối với các hoạt động văn hoá trên địa bàn cấp huyện.

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Chính sách đúng là nguồn gốc của thắng lợi.Song từ nguồn gốc đến thắng lợi thực sự còn phải tổ chức, phải đấu tranh Khi

đã có chính sách đúng, thị sự thành công hay thất bại của chính sách đó là docách tổ chức công việc, lựa chọn cán bố và do kiểm tra Nếu ba điều ấy sơ sài thìchính sách đúng mấy cũng vô ích” Theo Người: kiểm tra, thanh tra là mộtnhiệm vụ không thể thiếu của cơ quan lãnh đạo và chỉ đạo; là một trong ba việcphải làm của cơ quan lãnh đạo đảng và chính quyền các cấp, là một bộ phận hợpthành của công tác lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Đó là những hoạt động:Quyết định đường lối chủ trương, chính sách, pháp luật; tổ chức thực hiện vàkiểm tra, thanh tra việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật đãban hành

Trang 36

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng công tác kiểm tra, coi đó là một bộphận rất quan trọng trong công tác xây dựng Đảng cũng như trong toàn bộ côngtác lãnh đạo của Đảng Trong điều kiện Đảng lãnh đạo chính quyền thì càng phảităng cường công tác kiểm tra của Đảng, công tác kiểm tra, thanh tra của Nhànước, có tính chất thường xuyên của cơ quan lãnh đạo và chỉ đạo.

Hồ Chủ tịch cho rằng, kiểm tra, thanh tra còn giúp công tác lãnh đạo,công tác quản lý, chỉ đạo không bị sai lệch Người thường xuyên nhắc nhở, chỉđạo, hướng dẫn cán bộ lãnh đạo các cấp phải coi trọng, quan tâm công tác thanh

tra, kiểm tra Hồ Chủ tịch nói: “làm mà không kiểm tra thì không biết kết quả ra sao, không hiểu sai lệch thế nào để kịp thời sửa chữa”.

Bằng những kết luận thanh tra đánh giá đúng thực trạng việc thực hiệnchủ trương, chính sách, pháp luật ở một địa phương, một ngành hoặc ở nhữngđơn vị cơ quan được thanh tra, kiểm tra với những nhận xét ưu, khuyết điểm;làm rõ những nguyên nhân và có những kiến nghị, sửa chữa, khắc phục nhữngkhuyết điểm, thiếu sót mà thanh tra đã phát hiện và cơ quan được thanh tra thừanhận, trong đó có những sơ hở, khiếm khuyết của chủ trương, chính sách, phápluật, cơ chế quản lý… giúp cho cơ quan lãnh đạo của Đảng, Nhà nước khôngnhững nắm được tình hình thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật, chỉ thị,mệnh lệnh… mà còn có cơ sở thực tiễn để nghiên cứu, bổ sung, sửa đổi hoànthiện chủ trương, chính sách, pháp luật, cơ chế quản lý… đã ban hành hoặc banhành mới phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa, hội nhập khu vực và thế giới

Việc tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát của Nhà nước đối với cáchoạt động văn hoá và dịch vụ văn hoá công cộng là hoạt động có vai trò quantrọng của công tác quản lý nhà nước, góp phần ngăn chặn, xử lý nghiêm cáchành vi vi phạm theo quy định của pháp luật về văn hoá

- Xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các hoạt động văn hoá trên địa bàn cấp huyện

Trang 37

Cùng với việc kiểm tra, phát hiện các sai phạm, công tác xử lý vi phạmpháp luật trong lĩnh vực quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động vănhoá phải được tiến hành kịp thời,tránh tình trạng trì trệ chậm chễ trong giải quyếtgây bức xúc trong quần chúng và các hệ luỵ khác

Việc xử lý các vi phạm pháp luật về văn hoá trên địa bàn cấp huyện đượcthực hiện theo quy định của pháp luật như Nghị định 158/2013/NĐ-CP ngày 12tháng 11 năm 2013 Quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực văn hoá, thểthao, du lịch và quảng cáoCông tác xử lý vi phạm pháp luật về hoạt động vănhoá góp phần khẳng định sự nghiêm trị của pháp luật, tính chất răn đe đối vớicác đơn vị, cá nhân hoạt động văn hoá và kinh doanh dịch vụ văn hoá trên địabàn quận

tư tưởng và công tác tổ chức của Đảng Đảng không làm thay nhà nước Nhànước là trụ cột của hệ thống chính trị, thể chế hoá các quan điểm của Đảng thôngqua hệ thống hiến pháp, pháp luật, thể chế thiết chế hoạt động quản lý Mặt khácphải phát huy vai trò các đoàn thể chính trị xã hội, các hội sáng tạo, các cộngđồng dân cư trong việc thực hiện nhiệm vụ văn hoá

- Nguyên tắc tập trung dân chủ: Đây là nguyên tắc quan trọng nhất, chỉ

đạo mọi hoạt động của bộ máy nhà nước Yêu cầu nguyên tắc này là Nhà nước

xã hội chủ nghĩa là nhà nước của dân, do dân, vì dân, thực hiện quyền dân chủ

xã hội chủ nghĩa Nhà nước phải nắm quyền thống nhất quản lý những vấn đề cơbản, đồng thời giao quyền và trách nhiệm cho địa phương

Trang 38

Tập trung và dân chủ là một thể thống nhất không đối lập nhau, khônghạn chế nhau Thường xuyên khắc phục tình trạng tập trung quan liêu, thamnhũng, tự do vô Chính phủ, phân tán, cục bộ, tuỳ tiện trong quản lý Các tổ chức

xã hội mang tính tự quản theo hình thức dân chủ trực tiếp, hoạt động theo khuônkhổ của Hiến pháp và pháp luật Các tổ chức này là đại diện bảo vệ quyền lợicủa nhân dân, của các nhóm xã hội khác nhau Các đoàn thể hoạt động tự quản,độc lập nhưng không đối lập với nhà nước, không mang tính quyền lực và khônghành chính hoá các đoàn thể này

- Nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành và theo địa phương và vùng lãnh thổ: Nhà nước là một thể thống nhất, bộ máy nhà nước tổ chức hoạt động theo các cấp hành chính nhà nước và thực hiện theo quy định cấp dưới, phục tùng cấp trên Địa phương phải phục tùng Trung ương Các đơn vị văn hoá ở địa phương vừa chịu sự quản lý của ngành, vừa chịu sự quản lý về lãnh thổ của địa phương.

Hệ thống hành chính chia làm 4 cấp: Trung ương (Quốc hội, Chính phủ); tỉnh, thành phố (trực thuộc Trung ương); quận, huyện, thành phố (trực thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương); xã, phường, thị trấn (trực thuộc quận, huyện, thành phố trực thuộc tỉnh) Nguyên tắc này đòi hỏi quản lý theo ngành, theo lãnh thổ gắn bó với nhau, có trách nhiệm chung trong việc thực hiện nghĩa vụ quyền lợi

của từng bên và hai bên theo luật định

- Nguyên tắc phân biệt rõ chức năng quản lý nhà nước về văn hoá và chức năng quản lý kinh doanh của các doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực văn hoá: Công tác quản lý nhà nước tập trung vào những nội dung chủ yếu sau: xác định chiến lược đầu tư cơ sở hạ tầng và khu vực trọng yếu của nền văn hoá, xây dựng hệ thống thiết chế và thể chế để hoạt động văn hoá Thể chế văn hoá là

hệ thống luật pháp và các văn bản dưới luật Thiết chế là bộ máy tổ chức và nhân

sự, cơ sở vật chất kỹ thuật để phát triển sự nghiệp văn hoá

Các doanh nghiệp hoạt động văn hoá theo cơ chế thị trường và theonguyên tắc quản lý kinh tế nhưng phải chú ý tới tính đặc thù của lĩnh vực vănhoá để điều tiết cụ thể, tránh đồng nhất quản lý kinh tế với quản lý văn hoá

Trang 39

Cần chú ý nhà nước là chủ thể quản lý các doanh nghiệp trên lĩnh vực vănhoá trước hết phải tạo môi trường pháp lý để doanh nghiệp phát triển Nhà nướcđảm bảo quyền tự do kinh doanh nhưng trên cơ sở tôn trọng hiến pháp và phápluật.

- Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa: đòi hỏi mọi tổ chức, mọi cơ quan

quản lý và mọi cá nhân hoạt động trên lĩnh vực văn hoá phải dựa trên cơ sở phápluật của nhà nước để thực hiện trách nhiệm nghĩa vụ và quyền lợi của mình.Chống sự tuỳ tiện, đứng ngoài và đứng trên pháp luật

- Nguyên tắc công khai: đòi hỏi các tổ chức hoạt động quản lý của nhà

nước phải công khai cho nhân dân biết trên các phương tiện thông tin đại chúng,trong các cơ sở làm việc về các chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quanquản lý và các chế độ chính sách đối với nhân dân Các cơ quan giám sát củaQuốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp phải chú ý đến dư luận xã hội để kịp thờiđiều chỉnh các quyết định về quản lý cho phù hợp với yêu cầu phát triển của xãhội

1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC BẰNG PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI CÁC HOẠT ĐỘNG VĂN HOÁ Ở CẤP HUYỆN

1.3.1 Yếu tố chính trị - tư tưởng

Yếu tố tư tưởng là quá trình, kết quả nhận thức về các chủ trương, chínhsách, nội dung QLNN về các hoạt động văn hóa trên địa bàn cấp huyện Sự ổnđịnh về chính trị tạo ra môi trường chính trị ổn định để tổ chức triển khai nộidung QLNN về các hoạt động văn hóa trên địa bàn cấp huyện Đảng, cấp ủyĐảng, các tổ chức Đảng ở Trung ương và địa phương, trong đó có cấp huyện banhành các chủ trương, chính sách nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động QLNN vềvăn hóa trên địa bàn cấp huyện

Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII về xây dựng và phát triển văn hoáViệt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc (1998); Đại hội X (2006) nhấn mạnh:Làm cho văn hoá thấm sâu vào từng khu dân cư, từng gia đình, từng người, hoàn

Trang 40

thiện hệ giá trị mới của con người Việt Nam, kế thừa các giá trị truyền thống củadân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hoá của loài người, tăng sức đề kháng chống vănhoá đồi truỵ độc hại Nâng cao tính văn hoá trong mọi hoạt động kinh tế, chínhtrị, xã hội và sinh hoạt của nhân dân Đường lối văn hoá của Đảng được khẳngđịnh tại Cương lĩnh xây dựng đất nước (bổ sung, phát triển năm 2011): Xâydựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàndiện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ,tiến bộ, làm cho văn hoá gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xãhội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng củaphát triển

Tóm lại, những chủ trương, chính sách của Đảng nhằm nâng cao hiệu quảhoạt động QLNN là điều kiện tiên quyết để nâng cao hiệu quả QLNN về cáchoạt động văn hóa trên địa bàn cấp huyện Tuy nhiên, những bảo đảm về chínhtrị đối với nội dung quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các hoạt động vănhóa trên địa bàn cấp huyện cần có sự ổn định về chính trị, cần có môi trườngchính trị Bên cạnh đó, ý thức và văn hóa chính trị của các tầng lớp nhân dân,cán bộ, công chức, trách nhiệm của Nhà nước có vai trò to lớn nhằm nâng caohiệu quả hoạt động QLNN về văn hóa trên địa bàn cấp huyện

1.3.2 Yếu tố pháp lý

Yếu tố pháp lý ảnh hưởng đến quản lý QLNN về văn hóa trên địa bàn cấphuyện là: hoạt động xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật để tạo khungkhổ, hành lang pháp lý cho hoạt động quản lý nhà nước; hoạt động tổ chức thựchiện các quy định pháp luật liên quan đến QLNN về văn hóa trên địa bàn cấphuyện; ý thức pháp luật của cán bộ, công chức, đối tượng có liên quan đến QLNN

về văn hóa trên địa bàn cấp huyện có tác động tích cực hoặc tiêu cực đến thựchiện các nội dung QLNN về văn hóa

Việc xây dựng và hoàn thiện các thể chế văn hoá được quan tâm, đáp ứngyêu cầu của thời kỳ mới Các quan điểm, chủ trương của Đảng, các văn bản quy

Ngày đăng: 10/07/2017, 15:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương (2000), Tài liệu bồi dưỡng cán bộ tư tưởng - văn hoá cấp huyện, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng cán bộ tưtưởng - văn hoá cấp huyện
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương
Năm: 2000
2. Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương (2000), Xã hội hoá hoạt động văn hoá.Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội hoá hoạt động văn hoá."Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương
Năm: 2000
3. Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương (2001), Một số kinh nghiệm xây dựng đời sống văn hoá cơ sở, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kinh nghiệm xây dựngđời sống văn hoá cơ sở
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương
Năm: 2001
4. Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương (2003), Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về vănhoá
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương
Năm: 2003
5. Nguyễn Duy Bắc (2001), Về lãnh đạo, quản lý văn học nghệ thuật trong công cuộc đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về lãnh đạo, quản lý văn học nghệ thuật trong côngcuộc đổi mới
Tác giả: Nguyễn Duy Bắc
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
6. Vũ Tiến Bình (2001) “Quản lý nhà nước về văn hoá ở quận Ba Đình trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay”, Luận văn thạc sĩ, Học viện Hành chính quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quản lý nhà nước về văn hoá ở quận Ba Đình trongthời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay”
11. Hoàng Sơn Cường (1998), Lược sử quản lý văn hoá ở Việt Nam, Nxb Văn hoá thể thao, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược sử quản lý văn hoá ở Việt Nam
Tác giả: Hoàng Sơn Cường
Nhà XB: Nxb Vănhoá thể thao
Năm: 1998
17. Nguyễn Xuân Diệp (2013), Quản lý nhà nước về dịch vụ văn hoá trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ, Học viện Hành chính Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về dịch vụ văn hoá trên địabàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Xuân Diệp
Năm: 2013
18. Bùi Thị Phương Dung (2013), Nâng cao chất lượng dịch vụ văn hoá trên địa bàn thành phố Hà Nội, Học viện Hành chính Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng dịch vụ văn hoá trên địabàn thành phố Hà Nội
Tác giả: Bùi Thị Phương Dung
Năm: 2013
19. Nguyễn Văn Dũng (2001),Thực trạng quản lý băng đĩa trên địa bàn Thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ, Trường đại học văn hoá, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng quản lý băng đĩa trên địa bàn Thành phốHà Nội
Tác giả: Nguyễn Văn Dũng
Năm: 2001
20. Phạm Vũ Dũng (1999), Nhận diện mấy vấn đề về văn hoá, Viện văn hoá Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận diện mấy vấn đề về văn hoá
Tác giả: Phạm Vũ Dũng
Nhà XB: NxbVăn hoá Thông tin
Năm: 1999
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị lần thứ 5 Ban Chấphành Trung ương khoá VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 1998
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện đại hội lần thứ XIII Đảng bộ Thành phố Hà Nội, Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố, Hà Nội 23. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội lần thứ XIII Đảng bộThành phố Hà Nội, Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố, "Hà Nội23. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), "Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần"thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện đại hội lần thứ XIII Đảng bộ Thành phố Hà Nội, Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố, Hà Nội 23. Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
25. Hồ Hải Đăng (2011), Một số giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về văn hoá ở tỉnh Quảng Trị, Luận văn thạc sỹ, Học viện Hành chính quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về vănhoá ở tỉnh Quảng Trị
Tác giả: Hồ Hải Đăng
Năm: 2011
26. Phạm Duy Đức (Chủ biên) (2010), Phát triển văn hoá Việt Nam giai đoạn 2011-2020 - Xu hướng và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển văn hoá Việt Nam giai đoạn2011-2020 - Xu hướng và giải pháp
Tác giả: Phạm Duy Đức (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2010
27. Phạm Minh Hạc (Chủ biên) (1998), Văn hoá và giáo dục, giáo dục và văn hoá, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá và giáo dục, giáo dục và vănhoá
Tác giả: Phạm Minh Hạc (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
28. Vũ Phương Hậu (2008), Quản lý nhà nước về văn hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn, Học viện Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về văn hoá những vấn đề lý luậnvà thực tiễn
Tác giả: Vũ Phương Hậu
Năm: 2008
29. Lê Như Hoa (Chủ biên) (1996), Xã hội hoá hoạt động văn hoá, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội hoá hoạt động văn hoá
Tác giả: Lê Như Hoa (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Văn hoáthông tin
Năm: 1996
30. Học viên Hành chính quốc gia (2002), Quản lý Nhà nước về văn hoá - giáo dục - y tế, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý Nhà nước về văn hoá - giáodục - y tế
Tác giả: Học viên Hành chính quốc gia
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2002
31. Nguyễn Văn Hy (2008), Văn hoá và quản lý văn hoá, Trường đại học Văn Hoá Hà Nội xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá và quản lý văn hoá
Tác giả: Nguyễn Văn Hy
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w