1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Stress ở điều dưỡng và các yếu tố liên quan đến stress

50 235 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Stress ở điều dưỡng và các yếu tố liên quan đến stress
Tác giả Tô Gia Kiên, Lâm Minh Quang, Nguyễn Thị Thanh Hương, Huỳnh Ngọc Vân Anh
Người hướng dẫn Ts. Tô Gia Kiên
Trường học Đại Học Y Dược TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Y Tế Công Cộng
Thể loại Báo cáo tổng kết
Năm xuất bản 2018
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẶT VẤN ĐỀTheo Hans Selye thì stress là một hội chứng bao gồm các phản ứng không đặc hiệucủa cơ thể với kích thích từ môi trường xung quanh.52 Stress nghề nghiệp là một vấn đề sứckhỏe ng

Trang 1

BỘ Y TẾ ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH

BÁO CÁO TỔNG KẾT (TÓM TẮT)

ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG

STRESS Ở ĐIỀU DƯỠNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN STRESS

Mã số:

Chủ nhiệm đề tài: Ts Tô Gia Kiên

Tp Hồ Chí Minh, năm 2018

Trang 2

BỘ Y TẾ ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH

BÁO CÁO TỔNG KẾT (TÓM TẮT)

ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG

STRESS Ở ĐIỀU DƯỠNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN STRESS

Mã số:

Chủ nhiệm đề tài

Tô Gia Kiên

Tp Hồ Chí Minh, năm 2018

Trang 3

DANH SÁCH NHỮNG THÀNH VIÊN THAM GIA

1 Tô Gia Kiên

2 Lâm Minh Quang

3 Nguyễn Thị Thanh Hương

4 Huỳnh Ngọc Vân Anh

Trang 4

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG

1 Thông tin chung:

- Tên đề tài: Stress ở Điều Dưỡng và các yếu tố liên quan đến stress

- Mã số:

- Chủ nhiệm đề tài: Ts Tô Gia Kiên

Điện thoại: 0907 857 370 Email: kiengiato@gmail.com

- Đơn vị quản lý về chuyên môn (Khoa, Tổ bộ môn): BM Tổ chức quản lý y tế, Khoa

Y Tế Công Cộng, Đại học Y Dược TpHCM

- Thời gian thực hiện: 6/2015 – 12/2017

2 Mục tiêu:

- Xác định tỷ lệ stress ở điều dưỡng

- Xác định mối liên quan giữa stress ở điều dưỡng các đặc tính dân số xã hội, môi trườnglàm việc, các mối quan hệ với đồng nghiệp và cấp trên, cảm nhận của cá nhân

Dữ kiện được thu thập bằng bộ câu hỏi tự điền được thiết kế sẵn Điều tra viên sẽ tiếp cậncác điều dưỡng theo từng khoa phòng và giải thích mục đích nghiên cứu Nếu điều dưỡngđồng ý tham gia, điều tra viên sẽ gởi lại phiếu câu hỏi có kèm phiếu chấp nhận tham gianghiên cứu và hẹn thời gian để thu lại phiếu câu hỏi đã được điền đầy đủ

Trang 5

Thông tin thu thập gồm đặc tính của đối tượng tham gia nghiên cứu: như khoa/phòng nơilàm việc, chức vụ hiện tại, tuổi, giới, tình trạng hôn nhân, số năm làm việc, đã vào biên chế,trình độ chuyên môn, thời gian làm việc trung bình Các thông tin liên quan tới môi trườnglàm việc cũng được thu thập như trực đêm, được tham gia tập huấn thường xuyên, ca kípphù hợp, thời gian làm việc kéo dài, nơi làm việc an toàn, công việc quá chuyên môn, côngviệc đơn điệu, công việc quá tải, kiêm nhiệm nhiều việc cùng lúc, quan hệ tốt với đồngnghiệp, được cấp trên phân chia công việc hợp lý, được cấp trên hỗ trợ cho công việc, quan

hệ tốt với cấp trên, môi trường làm việc nhiều tiếng ồn, môi trường làm việc đủ ánh sáng,môi trường làm việc bị ô nhiễm, nhiệt độ làm việc quá nóng Cảm nhận cá nhân của điềudưỡng như: sự yêu thích công việc, người thân trong gia đình hỗ trợ về mặt tinh thần, côngviệc được trả lương xứng đáng, công việc có nhiều cơ hội thăng tiến, dành thời gian giải trí.Tình trạng stress được đánh giá dựa trên bộ câu hỏi sức khỏe tổng quát gồm 12 câu hỏi(GHQ-12 – General Health Questionnaire 12 items) được phát triển bởi David Goldberg vàPaul William vào những năm 1970, dùng để định lượng nguy cơ phát triển rối loạn tâm thần,nhắm đến 2 lĩnh vực: không có khả năng thực hiện các chức năng bình thường và sự xuấthiện buồn phiền để đánh giá mức độ hạnh phúc của con người

4 Kết quả chính đạt được:

Điều dưỡng ≤ 30 tuổi dễ bị stress hơn so với những điều dưỡng > 30 tuổi (PR=2,8, 95%KTC:1,14-6,89) Điều dưỡng cảm thấy công việc đơn điệu (PR=3,3, 95%KTC: 1,92-5,65), quá tải(PR=3,93, 95%KTC: 1,88-8,2) và thời gian làm việc kéo dài (PR=2,01, 95%KTC: 1,03-3,94) có tỷ lệ stress cao hơn Điều dưỡng được phân công công việc hợp lý (PR=0,32,95%KTC: 0,15-0,69), có quan hệ tốt với cấp trên (PR=0,27, 95%KTC: 0,13-0,57), yêu thíchcông việc (PR=0,26, 95%KTC: 0,15-0,45), nhận được hỗ trợ tinh thần từ người thân(PR=0,31, 95%KTC: 0,18-0,55), được trả lương xứng đáng với chuyên môn (PR=0,33,95%KTC: 0,19-0,57), có cơ hội thăng tiến (PR=0,37, 95%KTC: 0,19-0,71) và có thời giangiải trí (PR=0,48, 95%KTC: 0,28-0,85) có tỷ lệ stress thấp hơn

Trang 6

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Câu hỏi nghiên cứu: 2

Mục tiêu nghiên cứu: 2

Mục tiêu tổng quát: 2

Mục tiêu cụ thể 2

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN Y VĂN 4

1.1 Một số khái niệm về stress 4

1.1.1 Stress 4

1.1.2 Stress nghề nghiệp 4

1.1.3 Phân loại stress 5

1.1.4 Nguyên nhân 5

1.2 Hậu quả của stress và bệnh lý 6

1.3 Một số nghiên cứu liên quan 8

1.3.1 Trên thế giới 8

1.3.2 Tại Việt Nam 10

CHƯƠNG 2 : ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.1 Thiết kế nghiên cứu 27

2.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu 27

2.3 Đối tượng nghiên cứu 27

2.3.1 Dân số mục tiêu 27

2.3.2 Dân số chọn mẫu 27

2.3.3 Cỡ mẫu 27

2.3.4 Phương pháp chọn mẫu 27

2.3.5 Tiêu chí chọn mẫu 28

2.3.6 Kiểm soát sai lệch chọn lựa 28

2.4 Thu thập dữ liệu 28

2.4.1 Phương pháp thu thập dữ liệu 28

2.4.2 Công cụ thu thập dữ kiện 28

2.4.3 Kiểm soát sai lệch thông tin 29

2.5 Định nghĩa biến số 29

2.6 Phân tích dữ kiện 32

2.7 Y đức 32

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ 37

Trang 7

3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu: 37

3.2 Tình trạng stress theo thang đo GHQ-12: 40

3.3 Các yếu tố liên quan đến stress: 40

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 45

KẾT LUẬN 48

ĐỀ XUẤT 49 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1 a

Trang 8

KTC: Khoảng tin cậy

NVYT: Nhân viên y tế

WHO: Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization)

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1: Đặc đểm về dân số xã hội của đối tượng nghiên cứu 37

Bảng 3.2:Thâm niên làm việc và trình độ chuyên môn của đối tượng nghiên cứu 37

Bảng 3.3: Đặc điểm về các yếu tố công việc 38

Bảng 3.4: Đặc điểm về các yếu tố xã hội 39

Bảng 3.5: Tình trạng stress theo thang đo GHQ-12 40

Bảng 3.6: Mối liên quan giữa tình trạng stress với các đặc tính cá nhân 41

Bảng 3.7: Mối liên quan giữa tình trạng stress với các yếu tố công việc 42

Bảng 3.8: Mối liên quan giữa tình trạng stress với các yếu tố xã hội 43

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo Hans Selye thì stress là một hội chứng bao gồm các phản ứng không đặc hiệucủa cơ thể với kích thích từ môi trường xung quanh.(52) Stress nghề nghiệp là một vấn đề sứckhỏe nghiêm trọng, nó tác động xấu đến chất lượng sống và làm giảm khả năng làm việc củangười lao động.(64) Stress nghề nghiệp là tình trạng căng thẳng liên quan đến sự mất cân bằnggiữa yêu cầu của công việc và khả năng đáp ứng của bản thân.(61) Đôi khi stress có thể làđộng lực giúp tập trung hơn vào công việc, tuy nhiên khi áp lực công việc quá nhiều có thểgây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe như mệt mỏi, giảm trí nhớ, mất tập trung, mất ngủ, từ đólàm giảm chất lượng công việc.(38)

Vào năm 2007 theo khảo sát của Viện Sức khỏe và An toàn nghề nghiệp quốc giaHoa Kỳ có khoảng 40% đối tượng được phỏng vấn cho rằng stress là nguyên nhân chínhkhiến người lao động phải đến bệnh viện.(55) Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cũng coi stressnghề nghiệp là một trong những mối đe dọa nguy hiểm nhất của thế kỷ 21.(60) Do vậy hiệnnay stress nghề nghiệp đang là vấn đề sức khỏe được quan tâm ở nhiều quốc gia trên thế giớitrong đó có Việt Nam

Điều dưỡng là một nghề chuyên nghiệp và là một trong những nghề dễ gây stressnhất, do người điều dưỡng luôn luôn phải đối mặt với những tình huống khó khăn đòi hỏimột sự cẩn thận và nhẫn nhịn đặc biệt.(24-26, 64) Trên thế giới, thực trạng stress ở ĐD làm việctại các bệnh viện (BV) ngày càng cao, tỷ lệ stress từ dưới 30% đến trên 40% và tỷ lệ hài lòngvới công việc của họ thấp.(28)

Tại Việt Nam, các nghiên cứu về stress ở NVYT nói chung và stress ở ĐD nói riêngghi nhận tỷ lệ stress khá cao Nghiên cứu tại bệnh viện Chấn thương chỉnh hình TpHCM chothấy có khoảng 40,5% điều dưỡng từng bị stress.(92) Nghiên cứu của Đỗ Nguyễn Nhựt Trầncho biết tỷ lệ điều dưỡng làm việc tại huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai bị stress lên đến79%.(71) Theo báo cáo của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam – Viện Khoa học An toàn và

Vệ sinh lao động tỷ lệ stress ở nhân viên y tế chuyên ngành tâm thần tương đối cao là66,7%.(79) Stress không chỉ ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe thể chất, tinh thần mà thậm chímột số ĐD không chịu nổi dẫn đến tự sát.(46) Ngoài ra, stress còn làm ảnh huởng một cáchtiêu cực đến chất lượng chăm sóc BN, dẫn đến tỷ lệ BN bị bệnh và nhiễm trùng cao hơn, đedọa đến sự an toàn của BN.(4)

Stress ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả, hiệu suất và giảm tính an toàn trong chămsóc bệnh nhân tại các cơ sở chăm sóc sức khỏe (dễ gây ra các sai sót y khoa, làm tăng nguy

Trang 11

cơ nhiễm khuẩn bệnh viện).(36) Khi điều dưỡng bị stress, họ rất dễ mắc sai lầm trong côngviệc có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của bệnh nhân, thậm chí có thể làm bệnhnhân tử vong.(57),(62) Qua đó, stress làm tăng chi phí chăm sóc sức khỏe và tăng sự quá tảibệnh viện.(19) Điều dưỡng bị stress sẽ không làm việc và giao tiếp tốt, làm giảm sự hài lòngcủa điều dưỡng với công việc; một số thậm chí sẽ từ bỏ nghề nghiệp của mình.(25, 26, 33, 53, 66)

Quản lý chất lượng toàn diện đánh giá cao vai trò của cả khách hàng bên trong (nhânviên) và bên ngoài (bệnh nhân) Hiện nay quan điểm xem bệnh nhân là khách hàng trongbệnh viện đang dần được chú trọng, Điều dưỡng giao tiếp kém với bệnh nhân sẽ dẫn đếnstress cho cả bệnh nhân và điều dưỡng, từ đó giảm sự hài lòng của bệnh nhân và thân nhânngười bệnh.(35) Do đó, quản lý tốt stress ở điều dưỡng, giúp tăng hiệu quả và hiệu lực chămsóc sức khỏe, giảm chi phí điều trị và quá tại bệnh viện Việc tìm hiểu những yếu tố liênquan đến stress ở điều dưỡng là điều cần thiết, góp phần tìm ra những giải pháp giảm thiểustress cho điều dưỡng Xuất phát từ những thực tiễn trên, nghiên cứu này được thực hiện vớimục tiêu xác định tỷ lệ điều dưỡng bị stress và các yếu tố liên quan đến stress ở điều dưỡngđang làm việc tại bệnh viện Đại Học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

Câu hỏi nghiên cứu:

Tỷ lệ điều dưỡng tại bệnh viện Đại học Y Dược TpHCM bị stress là bao nhiêu? Nhữngyếu tố nào có liên quan đến tình trạng stress của điều dưỡng tại bệnh viện Đại học Y DượcTpHCM

Mục tiêu nghiên cứu:

Mục tiêu tổng quát:

Xác định tỷ lệ điều dưỡng bị stress tại bệnh viện Đại học Y Dược TpHCM

Xác định các yếu tố liên quan đến stress ở điều dưỡng tại bệnh viện Đại học Y DượcTpHCM

Mục tiêu cụ thể

1 Xác định tỷ lệ điều dưỡng bị stress tại bệnh viện Đại học Y Dược TpHCM

2 Xác định mối liên quan giữa stress với các yếu tố cá nhân (giới tính, tuổi, tình trạnghôn nhân, số con, sống chung, tình trạng nơi ở, trình độ chuyên môn, khoa công tác,chức vụ, thâm niên công tác, biên chế) của điều dưỡng tại bệnh viện Đại học Y DượcTpHCM

Trang 12

3 Xác định mối liên quan giữa stress với các yếu tố công việc (số giờ làm việc/tuần,trực đêm, số ngày trực/tuần, tập huấn, kiêm nhiệm, quá tải, sự hỗ trợ, mối quan hệtốt với cấp trên/đồng nghiệp, môi trường làm việc an toàn, thu nhập trungbình/tháng) của điều dưỡng tại bệnh viện Đại học Y Dược TpHCM.

4 Xác định mối liên quan giữa stress với các yếu tố xã hội (yêu thích công việc, cơ hộithăng tiến, hài lòng với thu nhập, dành thời gian giải trí ngoài giờ làm việc) của điềudưỡng tại bệnh viện Đại học Y Dược TpHCM

Trang 13

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN Y VĂN

1.1 Một số khái niệm về stress:

1.1.1 Stress:

Có nhiều tác giả đưa ra định nghĩa về stress, nhưng trong thực tế tùy vào lĩnh vực vàcách nhìn nhận vấn đề của mỗi tác giả mà họ đưa ra những quan điểm khác nhau về stress.Một số những định nghĩa đáng chú ý trong tâm lý học, đó là Stress xuất hiện khi cá nhânnhận thấy rằng họ không thể ứng phó đáp ứng được với những yêu cầu đối với họ hoặc đedọa sự tồn tại khỏe mạnh của họ.(47) Stress là mối quan hệ đặc trưng giữa cá thể con người

và môi trường, là mối quan hệ hai chiều, môi trường sinh ra các tác nhân gây stress đe dọa

và cá thể đánh giá nguồn lực để giảm thiểu, đáp ứng hoặc loại trừ các stress đó từ môitrường.(48) Hay stress xuất hiện khi áp lực vượt quá khả năng ứng phó thông thường (49) Theo

Hans Selye đã đưa ra một định nghĩa tổng quát nhất: “Stress là tình trạng căng thẳng thể

hiện mối tương tác giữa tác nhân công kích và phản ứng của cơ thể” Đó là những phản ứng

nhằm khôi phục trạng thái cân bằng nội môi, khắc phục được các tình huống bất lợi để đảmbảo duy trì và thích nghi thỏa đáng của cơ thể trước điều kiện sống luôn luôn biến đổi.(52)

1.1.2 Stress nghề nghiệp:

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO): Căng thẳng liên quan đến nghề nghiệp là phảnứng có thể có của con người khi yêu cầu, áp lực công việc không phù hợp với kiến thức vàkhả năng, cũng như thách thức sự ứng phó của họ.(61) Viện Quốc gia về An toàn và Sức khỏenghề nghiệp Hoa Kỳ (NIOSH) cũng định nghĩa stress nghề nghiệp là các phản ứng có hại vềthể chất lẫn cảm xúc xuất hiện khi yêu cầu công việc không phù hợp với khả năng, nguồnlực và nhu cầu của nhân viên, có thể làm suy giảm sức khỏe, thậm chí gây thương tích.(14)Stress có thể xảy ra ở bất cứ khâu nào trong quá trình làm việc, tuy nhiên thường gây ảnhhưởng tồi tệ nhất khi nhân viên cảm thấy ít nhận được sự hỗ trợ từ cấp trên và đồng nghiệp,cũng như không kiểm soát được quá trình làm việc của mình Stress nơi làm việc có thể dophân công lao động kém (cách tổ chức và quản lý công việc), điều kiện lao động không đạtyêu cầu, thiếu sự hỗ trợ từ đồng nghiệp và cấp trên.(18)

Stress tiêu cực tác động không nhỏ đến sức khỏe cũng như là nguyên nhân quan trọnglàm giảm hiệu quả làm việc và năng suất lao động Năm 2002, thiệt hại kinh tế do stress liênquan đến công việc trong nhóm EU15 (15 nước Châu Âu) ước tính lên đến 20.000 triệuEUR.(63) Theo số liệu khảo sát tại Anh năm 2001/2002, có 13,4 triệu ngày công bị mất đi dostress, lo lắng quá mức và trầm cảm, tương đương với 265.000 ca mới mắc stress trong năm

Trang 14

Ước tính có khoảng 80 đến 90% tổng số ca tai nạn thương tích tại nơi làm việc có liên quanđến các vấn đề cá nhân và do nhân viên không chịu được stresss Cơ quan an toàn sức khỏetại nơi làm việc báo cáo có khoảng 50% số ca nghỉ phép là do stress.(51) Nghiên cứu của mộtcông ty bảo hiểm năm 2008, báo cáo số ca nghỉ bệnh do stress của người làm công đã tănggần 8% so với năm 2007.(2) Tại Úc một báo cáo năm 2008 cho thấy stress liên quan đến côngviệc gây thiệt hại cho nền kinh tế đến 14,2 tỉ AUD, mỗi người làm công sở phải nghỉ trungbình 3,2 ngày công mỗi năm vì stress đến mức không thể làm việc.(41) Viện Quốc gia về Sứckhỏe và Chất lượng điều trị Vương quốc Anh (NICE) đưa ra con số thống kê lên đến 13,7triệu ngày công bị mất đi mỗi năm vì các vấn đề sức khỏe tâm thần trong công việc, gây thiệthại năng suất lao động lên đến 28,3 tỉ bảng Anh mỗi năm.(44)

1.1.3 Phân loại stress:

Stress nghề nghiệp được phân loại theo một số cách như: stress do điều kiện môitrường, stress do tác động của môi trường, stress do mối quan hệ giữa yêu cầu của môi trường

và khả năng đáp ứng của con người đối với môi trường đó.(88)

Stress do điều kiện môi trường và do tác động của môi trường thường gặp trong cuộcsống mà ở đó có rất nhiều stress (gia đình, công việc) Đối với stress do mối quan hệ giữayêu cầu của môi trường và khả năng đáp ứng của con người đối với môi trường đó thườngđược đề cập nhiều trong y văn Việc xác định các stress này dựa trên những khái niệm củaHan Selye về stress, đó là sự đáp trả không đặc hiệu của cơ thể với bất kỳ stress nào khi đượchình thành trong môi trường sống Khái niệm về stress là do sự đáp trả không đặc hiệu của

hệ thần kinh nội tiết trong quá trình cân bằng nội môi Trong các stress có loại có lợi và cóloại có hại cho cơ thể, nó phụ thuộc vào sự thích nghi và sự cân bằng nội môi của cơ thể

1.1.4 Nguyên nhân:

Mọi người trong cuộc sống đều trải qua stress Theo một nghiên cứu tại Mỹ, stresstrong công việc đứng đầu danh sách, 40% người lao động ở Mỹ thừa nhận trải qua stresstrong văn phòng, và một phần tư công việc là nguồn gây căng thẳng lớn nhất trong cuộc đờicủa họ.(8)

Stress do công việc có thể được gây ra bởi việc tổ chức công việc không tốt (hệ thốnglàm việc và cách quản lý), do thiết kế công việc không tốt (thiếu kiểm soát quá trình làmviệc), quản lý yếu kém, điều kiện làm việc không đạt yêu cầu, và thiếu sự hỗ trợ từ các đồngnghiệp và các giám sát viên Các nghiên cứu cho thấy rằng điều gây ra stress nhất của côngviệc là những yêu cầu quá mức và áp lực đó không phù hợp với kiến thức và khả năng của

Trang 15

người lao động, trong đó có rất ít cơ hội để lựa chọn hoặc kiểm soát, và có rất ít sự hỗ trợ từngười khác.(80)

Theo WHO có thể chia nguyên nhân của stress trong công việc thành 2 nhóm là nộidung công việc và bối cảnh làm việc:(59)

Cụ thể nhóm đầu tiên, nội dung công việc bao gồm nội dung đơn điệu, ít kích thích,

vô nghĩa, không phong phú; khối lượng công việc và tốc độ làm việc quá nhiều hay quá ít

để làm, làm việc dưới áp lực thời gian; giờ làm việc chặt chẽ hay không linh hoạt, quá dài

và không phù hợp, không thể đoán trước, chế độ ca kíp thiết kế không hợp lý; sự tham gia

và kiểm soát như thiếu sự tham gia vào việc ra quyết định, thiếu kiểm soát các quá trình làmviệc, tốc độ, thời gian, phương pháp và môi trường làm việc

Nhóm bối cảnh làm việc bao gồm khả năng phát triển và mức lương như công việckhông an toàn, thiếu cơ hội thăng tiến, công việc có "giá trị xã hội” thấp, cơ chế chi trả theosản phẩm, hệ thống đánh giá hiệu quả không rõ ràng hoặc không phù hợp, có kỹ năng caohơn hoặc thấp hơn yêu cầu công việc; vai trò trong tổ chức (vai trò không rõ ràng, nhữngvai trò mâu thuẫn nhau) - mối quan hệ giữa các cá nhân (không hoặc ít nhận được sự giámsát, hỗ trợ từ cấp trên, mối quan không tốt với các đồng nghiệp, bị bắt nạt/quấy rối và bạolực, làm việc độc lập hoặc đơn độc); văn hóa của tổ chức như khả năng giao tiếp, lãnh đạokém, hành vi cư xử kém, thiếu rõ ràng về mục tiêu tổ chức, cơ cấu và chiến lược; và cânbằng công việc - cuộc sống (nhu cầu mâu thuẫn giữa công việc và gia đình, thiếu sự hỗ trợcho các vấn đề cá nhân tại nơi làm việc, thiếu sự hỗ trợ cho công việc từ gia đình, thiếu quyđịnh và chính sách để hỗ trợ cân bằng công việc - cuộc sống)

Ngoài ra sự công nhận và tôn trọng tại nơi làm việc cũng là một nhu cầu cơ bản củacon người Được tôn trọng và đánh giá cao bởi những người khác có ý nghĩa là một trongnhững nhu cầu cơ bản nhất của con người Do đó, mọi người thường cố gắng rất lớn để đạtđược sự chấp nhận và tán thành Nghiên cứu gần đây trong lĩnh vực tâm lý sức khỏe nghềnghiệp cho thấy, nhiều căng thẳng có liên quan đến bị xúc phạm - ví dụ, bị xúc phạm haynhạo báng, bị cô lập, hoặc do xung đột xã hội, do nhiệm vụ bất hợp pháp Ngược lại, đượcđánh giá cao là một trong những yếu tố quan trọng nhất làm tăng động lực và sự hài lòngcũng như sức khỏe và hạnh phúc.(55)

1.2 Hậu quả của stress và bệnh lý:

Stress có thể gây ra các trạng thái cảm xúc tiêu cực (lo lắng quá mức, trầm cảm) Cảstress và những trạng thái tâm lý tiêu cực đều có khả năng sinh bệnh tật Hầu như không có

Trang 16

bệnh nào là không liên quan đến stress, không có bộ phận nào không bị ảnh hưởng do stress.Sau đây là một số phản ứng với stress của các hệ cơ quan chính:[23]

Hệ thần kinh: phản ứng với stress qua cơ chế “chống và chạy” Hệ thần kinh giao

cảm ra hiệu cho tuyến thượng thận tiết adrenaline và cortisol Những hormone này làm tăngnhịp tim, tăng huyết áp, thay đổi quá trình tiêu hóa làm tăng glucose trong máu Khi tìnhhuống stress kết thúc, quá trình phản ứng cũng kết thúc, cơ thể trở lại trạng thái bình thường

Hệ cơ xương: dưới tác động của stress các cơ tăng lên Sự tăng co cơ trong thời gian

dài có thể gây đau đầu, đau nửa đầu và các triệu chứng cơ xương khác Một số dạng viêmkhớp cho thấy sự trầm trọng của nó liên quan đến stress

Hệ hô hấp: stress làm sự thở khó khăn hơn và thở dốc, dẫn đến hoảng loạn ở vài

trường hợp Bệnh suyễn và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính bị sự xuất hiện của stress làm xấuhơn

Hệ tuần hoàn: stress góp phần vào mọi biểu hiện của bệnh tim, stress cấp tính làm

tình trạng tăng nhịp tim và tăng co bóp cơ tim Mạch máu đến các cơ lớn và đến tim dãnrộng ra làm tăng lượng máu bơm đến các nơi này Stress cấp tính lặp đi lặp lại có thể gâyviêm động mạch vành, dẫn đến bệnh đau tim

Hệ nội tiết: khi cơ thể gặp stress, não bộ gửi tín hiệu từ vùng dưới đồi khiến vỏ

thượng thận tiết cortisol và tủy thượng thận tiết epinephrine – còn được gọi là “hormonestress” Các hormone này kích thích gan sản xuất nhiều glucose hơn, cung cấp năng lượngcho phản ứng “chiến đấu hoặc đào tẩu” trong tình huống nguy cấp

Hệ tiêu hóa: stress có thể khiến cơ thể ăn nhiều hơn hoặc ít hơn bình thường Nếu ăn

nhiều hơn, nhiều loại thực phẩm khác nhau, hoặc tăng sử dụng thuốc lá, rượu bia sẽ gây ợnóng hoặc trào ngược dạ dày thực quản Cảm giác cồn cào, buồn nôn và đau dạ dày cũngxuất hiện, thậm chí gây nôn nếu mức độ stress đủ nghiêm trọng Stress ảnh hưởng xấu đếnkhả năng tiêu hóa và hấp thu chất dinh dưỡng, có thể gây tiêu chảy hoặc táo bón

Stress cũng là yếu tố nguy cơ của nhiều bệnh lý Đối với bệnh hen, yếu tố nội sinh

và ngoại cảnh đều có tác động đến bệnh, trong đó yếu tố nội sinh bị tác động nhiều nhất bởinhững phản ứng cấp tính của stress tố tâm lý Stress còn có thể làm tăng phản ứng viêm dịứng của cơ thể, là một trong các nguy cơ gây viêm loét dạ dày, bệnh mạch vành Trải nghiệm

về stress về mặt tâm lý cũng có mối liên quan đến bệnh đái tháo đường, nhất là đái tháođường type 2 Một số nghiên cứu gần đây cũng cho thấy mối liên quan giữa stress và ungthư vú, sự tiến triển của ung thư giai đoạn sớm.(51)

Trang 17

Stress tâm lý là một yếu tố nguy cơ chính của 6 nguyên nhân tử vong tại Hoa Kỳ :ung thư, bệnh mạch vành, tai nạn thương tích, rối loạn hô hấp, xơ gan và tự sát Tại Vươngquốc Anh, gần 180.000 người tử vong mỗi năm do bệnh liên quan đến stress Trung tâmKiểm soát và Phòng chống bệnh tật tại nước này ước lượng stress là lý do của 75% trườnghợp đến khám bác sĩ Theo Hội đồng quốc gia về bồi thường bảo hiểm có đến 90% bệnhnhân đến cơ sở chăm sóc y tế ban đầu để phàn nàn tình trạng stresss của mình.(51)

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng không phải stress nào cũng gây hại Stress là tích cực khi

nó buộc cơ thể thích nghi với môi trường từ đó tăng sức mạnh cho cơ chế phản ứng, đồngthời cảnh báo ta chưa thích nghi với tình hình mới, do vậy sự thay đổi trong lối sống là cầnthiết để duy trì sức khỏe tối ưu Về ngắn hạn, sự gia tăng nồng độ hormone các chất trong

cơ thể do stress gây ra có thể làm cho hệ miễn dịch khỏe hơn, giúp bảo vệ cơ thể khỏi cácbệnh tuổi già như Alzheimer bằng cách giữ cho tế bào não bộ hoạt động ở công suất caonhất Người trải nghiệm stress ở mức độ vừa có khả năng phục hồi sau mổ tốt hơn ngườimắc stress ở mức độ cao hoặc thấp.(58) Stress sẽ trở nên tiêu cực khi nó vượt quá khả năngthích ứng của cơ thể, gây mệt mỏi và xuất hiện các vấn đề về hành vi hoặc thể chất.(51)

1.3 Một số nghiên cứu liên quan:

1.3.1 Trên thế giới:

Năm 2009, hơn một nửa dân số lao động toàn cầu (53,8%) được ghi nhận có tìnhtrạng stress tăng so với 2 năm trước Cụ thể, Trung Quốc là quốc gia có tỷ lệ stress tại nơilàm việc cao nhất (85,9%); trong khi đó nếu xét riêng nhóm người lao động gặp stress mức

độ nặng thì Hoa Kỳ là quốc gia dẫn đầu với tỷ lệ lên đến 35%.[34]

Nghiên cứu của Yueh-Chi Tsai và Chieh-Hsing Liu tại 2 bệnh viện ở Đài Loan năm

2010 cho thấy tỷ lệ stress của nhân viên y tế tại đây là 64,4%, trong đó 33,7% hay gặp ácmộng, 44,1% cảm thấy khó chịu, 40,8% bị nhức đầu, 35% thường xuyên mất ngủ và 41,4%rối loan đường tiêu hóa.[73] Nghiên cứu này cho biết về tình trạng stress ở nhân viên y tếnói chung chứ không chỉ riêng cho điều dưỡng, hơn nữa chủ yếu mô tả về các biểu hiện bệnh

lý do ảnh hưởng của stress hơn là tìm đến các yếu tố liên quan đến stress

Khảo sát toàn dân về stress tại Hoa Kỳ năm 2011 cho thấy có 22% người trưởngthành báo cáo tình trạng stress nặng, tỷ lệ người cho rằng tình trạng stress của mình tăng hơn

so với năm trước và so với 5 năm trước lần lượt là 39% và 44% (9) Năm 2012, báo cáo củaHiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ ghi nhận tỷ lệ người dân cho biết tình trạng stress của mìnhtăng hơn so với năm trước lần lượt là 39% ở nhóm 18 - 33 tuổi, 36% ở nhóm 34 - 47 tuổi,

Trang 18

33% ở nhóm 48 - 66 tuổi, 29% ở nhóm từ 67 tuổi trở lên Mức stress trung bình của ngườidân nước này đạt 4,9 điểm trên thang điểm 10 (với 1 điểm tương đương với ít/không cóstress và 10 điểm là stress nghiêm trọng nhất), trong khi theo họ tự đánh giá mức điểm stresslành mạnh là 3,6 điểm.(10)

Một nghiên cứu về stress sử dụng 2 bộ câu hỏi Job Content Questionaire và Reward Imbalance Questionnaire (2011), đánh giá trên 527 điều dưỡng từ 41 bệnh viện khácnhau tại thành phố Thượng Hải, Trung Quốc đã báo cáo kết quả: gánh nặng stress và kiệtsức là nghiêm trọng hơn ở điều dưỡng trẻ tuổi, người đang trong ca trực hoặc người làm ởbệnh viện cấp cao hơn Điều dưỡng ở Thượng Hải thường xuyên trải qua tình trạng kiệt sức,điều này có liên hệ mạnh mẽ đến stress liên quan đến công việc.(1)

Effort-Nghiên cứu tại Nhật Bản năm 2011 cũng cho thấy rằng tỷ lệ stress ở điều dưỡng còncao hơn cả bác sĩ, đồng thời tỷ lệ bệnh nhân/điều dưỡng thấp là yếu tố tích cực làm điềudưỡng cảm thấy thoải mái hơn trong công việc Nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi SimplifiedJob Stressor Questionaire, so sánh stress thể chất và tâm lý ở 2 giai đoạn: khi bệnh viện theo

mô hình 10 bệnh nhân : 1 điều dưỡng (1) và khi theo mô hình 7 bệnh nhân : 1 điều dưỡng(2) Kết quả ở giai đoạn 1, tỷ lệ stress lần lượt là 21,4% ở điều dưỡng và 19,4% ở bác sĩ; ởgiai đoạn 2 tỷ lệ stress thể chất và tâm lý được ghi nhận ở điều dưỡng lần lượt là 20% và16%, cao hơn bác sĩ 18,2% và 12,1%.(65)

Nghiên cứu của nhóm tác giả Dragana Milutinovic, Boris Golubovic, Nian Krkic vàBela Poker về stress của ĐD ở các đơn vị chăm sóc đặc biệt (ICU) tại các trung tâm y tếSerbia năm 2011 với 1000 đối tượng tham gia Kết quả tỷ lệ stress trong ĐD có liên quanđặc biệt đến môi trường làm việc, tình trạng stress biểu hiện qua các triệu chứng như nhứcđầu, mất ngủ, mệt mỏi, đau lưng…và một số bệnh như tăng huyết áp, đái tháo đường, nhồimáu cơ tim, đột quỵ Trong cùng năm này nghiên cứu tại Bệnh viện đai học Zagreb,Croatian trên 300 ĐD cho thấy tỷ lệ stress ở ĐD lên đến 76,7% với các yếu tố gây stress làkhông đủ nguồn lực, thu nhập, làm việc vào ban đêm, bệnh nhân không thể chữa khỏi.(12)

Năm 2012, tác giả Tuvesson và cộng sự sử dụng bộ câu hỏi PSS-14 và ghi nhận mứcđiểm stress của điều dưỡng làm việc tại cơ sở y tế Thụy Điển đạt trung bình 23,43 ± 7,28điểm (tối đa đạt 56 điểm).(30) Nghiên cứu cắt ngang của Balducci C năm 2014 trên ĐD củadịch vụ y tế quốc gia cho thấy stress liên quan đến giới tính, tuổi, nhiệm kì và thời gian làmviệc.(17) Cũng trong năm này, nghiên cứu của Abdollahi A khảo sát mức độ stress và mức độ

Trang 19

hạnh phúc của 252 ĐD ở 6 bệnh viện tư nhân ở Tehran; cho thấy sức chịu đựng như là mộtyếu tố bảo vệ chống lại stress.(3)

1.3.2 Tại Việt Nam:

Trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, stress cũng là một vấn đề thường gặp Năm 2005,tác giả Phan Thị Mỹ Linh đã nghiên cứu về “ Stress đối với nhân viên y tế bệnh viện đa khoaSài Gòn” kết quả cho thấy stress đã làm nhân viên y tế giảm năng suất làm việc (83,2%),mệt mỏi (73,1%), giảm trí nhớ, kém tập trung (40,6%).(84) Nghiên cứu của Đỗ Nguyễn NhựtTrần năm 2008 về stress và các yếu tố liên quan ở nhân viên y tế huyện Nhơn Trạch, tỉnnhĐồng Nai cho thấy có 27% nhân viên y tế mắc stress ở mức độ thường xuyên, các stress tốchính được xác định bao gồm trình độ học vấn, tính chất công việc, sự hài lòng với côngviệc, thời gian nghỉ ngơi, quản lý kém, áp lực thời gian hoàn thành công việc (71) Năm 2012,nghiên cứu của Nguyễn Trung Tần trên nhân viên y tế bệnh viện tâm thần Tiền Giang chothấy có 14,7% người bị stress thường xuyên, 75,5% ở mức độ thỉnh thoảng và 9,6% hiếmkhi bị stress (82) Tuy vậy cả 3 nghiên cứu này không đi sâu vào từng nhóm đối tượng cụ thể,

do vậy chưa đo lường được tình trạng stress ở điều dưỡng nói riêng

Tình hình stress của điều dưỡng tại BV đa khoa Trung Ương Cần Thơ, BV đa khoathành phố Cần Thơ và BV đa khoa Châu Thành – Tiền Giang năm 2008 qua nghiên cứu của

Lê Thành Tài và các cộng sự là khá cao với tỷ lệ 45,2%, các yếu tố có thể ảnh hưởng đếnstress ở ĐD gồm: thâm niên công tác, làm việc nhiều giờ (> 8 giờ/ngày), công việc nhiều áplực, không hứng thú, làm việc trong điều kiện thiếu thốn trang thiết bị, đông người, ồn ào,tiếp xúc nhiều mầm bệnh, thường gặp phản ứng của BN và người nhà, mâu thuẫn với đồngnghiệp, cấp trên, thu nhập chưa thỏa đáng và công việc ít có cơ hội thăng tiến.(86) Nghiêncứu của Trần Đăng Khoa “Stress và các yếu tố liên quan ở nhân viên điều dưỡng tại bệnhviện đa khoa tỉnh Bình Dương năm 2013”sử dụng bộ câu hỏi GHQ12 cho kết quả tỷ lệ stress

ở điều dưỡng là 21,3% Các yếu tố thường gây stress: thời gian làm việc quá dài, không đủthời gian nghỉ ngơi, trực đêm, làm ca, tình trạng phải kiêm nhiệm thêm nhiều công việc,trang thiết bị không đầy đủ, thu nhập không tương xứng với cường độ công việc (91) Cũngtrong năm 2013, nghiên cứu “Tỷ lệ điều dưỡng bệnh viện chấn thương chỉnh hình thành phố

Hồ Chí Minh và các yếu tố liên quan” của Vũ Ngọc Trinh đưa ra tỷ lệ stress ở điều dưỡng

là 40,5%, trong đó 6,6% điều dưỡng mắc stress nặng (theo thang đo PSS-10) Điểm số stresstrung bình theo thang đo này khoảng 19, 67 ± 6,23 điểm Có sự liên quan giữa stress với đặcđiểm cá nhân: thu nhập, trình độ học vấn, khoa phòng làm việc, thâm niên công tác, kiêmnhiệm chức vụ; yếu tố môi trường làm việc: thời gian nghỉ ngơi hợp lý,công việc quá nhiều,

Trang 20

công việc nhàm chán, áp lực thời gian hoàn thành công việc; và mối quan hệ với lãnh đạo,đồng nghiệp (92) Tuy nhiên tác giả chưa sử dụng mô hình đa biến để phân tích, tìm ra mốiquan hệ thật sự giữa các yếu tố trên với tình trạng stress.

Năm 2014, nghiên cứu về stress ở điều dưỡng bệnh viện Chợ Rẫy do tác giả TrầnThị Hồng Thắm thực hiện cho ra kết quả tỷ lệ stress của ĐD là 42,9%, trong đó yếu tố chínhgây ra stress là cảm xúc của ĐD liên quan đến tình trạng bệnh hoặc cái chết của BN và quátải công việc.(89)

Năm 2015 tác giả Khưu Chi Diễm nghiên cứu tỷ lệ stress trên ĐD BV truyền máuhuyết học dựa trên hai thang đo PSS và NSS và cho thấy tỷ lệ khá cao là 42,2% và có mốiliên quan giữa stress và các yếu tố: khoa công tác, chứng kiến sự đau đớn của BN, mâu thuẫnvới BS và ĐD khác, quá tải công việc, thiếu sự hỗ trợ, vướng mắc liên quan đến việc điềutrị.(78)

Trang 21

CHƯƠNG 2 : ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang mô tả

2.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu

Thời gian: 6/2015 – 12/2017

Địa điểm: Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM

2.3 Đối tượng nghiên cứu

α: xác suất sai lầm loại I (α = 0,05)

Z : trị số từ phân phối chuẩn (với KTC 95% thì Z( 1-α/2) = 1,96)d: sai số cho phép (d = 0,05)

p : trị số mong muốn của tỷ lệTheo kết quả nghiên cứu stress ở ĐD bệnh viện tâm thần tỉnh Tiền Giang, tỷ lệ NVYT

bị stress là 14,7 %.(82) Áp dụng công thức tính cỡ mẫu thì n = 193

Vậy cỡ mẫu tối thiểu là 193 người

2.3.4 Phương pháp chọn mẫu

Trang 22

Dựa vào danh sách điều dưỡng của phòng Tổ chức cán bộ bệnh viện Đại học Y Dược,tại thời điểm nghiên cứu có khoảng 360 điều dưỡng đang công tác tại bệnh viện Do vậynghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ.

2.3.5 Tiêu chí chọn mẫu

Tiêu chí chọn vào: tất cả ĐD đang làm việc tại bệnh viện Đại học Y Dược trong thờigian nghiên cứu được tiến hành và đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chí loại ra: Điều dưỡng thực tập hay trong thời gian thử việc hoặc vắng mặt ở

cả 3 lần trong thời gian nghiên cứu tiến hành

2.3.6 Kiểm soát sai lệch chọn lựa

Đối tượng được chọn lựa dựa trên danh sách ĐD của các khoa từ phòng Tổ chức cán

bộ của bệnh viện ĐYDH

2.4 Thu thập dữ liệu

2.4.1 Phương pháp thu thập dữ liệu

Cập nhật danh sách các điều dưỡng từ phòng Tổ chức cán bộ của bệnh viện Điều traviên sẽ tiếp cận các điều dưỡng theo từng khoa phòng và giải thích mục đích nghiên cứu.Nếu điều dưỡng đồng ý tham gia, điều tra viên sẽ gởi lại phiếu câu hỏi có kèm phiếu chấpnhận tham gia nghiên cứu và hẹn thời gian để thu lại phiếu câu hỏi đã được điền đầy đủ

2.4.2 Công cụ thu thập dữ kiện

Phiếu khảo sát với bộ câu hỏi soạn sẵn gồm 3 phần:

Phần 1: Thông tin cá nhân của đối tượng gồm 8 câu về: đặc tính của đối tượng thamgia nghiên cứu: tuổi, giới, tình trạng hôn nhân, số năm làm việc, trình độ chuyên môn, thờigian làm việc trung bình

Phần 2: Các thông tin liên quan tới môi trường làm việc cũng được thu thập như trựcđêm, được tham gia tập huấn thường xuyên, ca kíp phù hợp, thời gian làm việc kéo dài, nơilàm việc an toàn, công việc quá chuyên môn, công việc đơn điệu, công việc quá tải, kiêmnhiệm nhiều việc cùng lúc, quan hệ tốt với đồng nghiệp, được cấp trên phân chia công việchợp lý, được cấp trên hỗ trợ cho công việc, quan hệ tốt với cấp trên, môi trường làm việcnhiều tiếng ồn, môi trường làm việc đủ ánh sáng, môi trường làm việc bị ô nhiễm, nhiệt độlàm việc quá nóng

Trang 23

Phần 3: Cảm nhận cá nhân của điều dưỡng như: sự yêu thích công việc, người thântrong gia đình hỗ trợ về mặt tinh thần, công việc được trả lương xứng đáng, công việc cónhiều cơ hội thăng tiến, dành thời gian giải trí.

Phần 4: Tình trạng stress được đánh giá dựa trên bộ câu hỏi sức khỏe tổng quát gồm

12 câu hỏi (GHQ-12 – General Health Questionnaire 12 items)

2.4.3 Kiểm soát sai lệch thông tin

Giải thích rõ ràng mục đích, giá trị và ý nghĩa của cuộc khảo sát; lợiích của cuộckhảo sát đối với đối tượng tham gia Hướng dẫn đối tượng cách điền bộ câu hỏi

Định nghĩa cụ thể, rõ ràng các biến số Nội dung bộ câu hỏi thiết kế ngắn gọn, cấutrúc chặt chẽ, sử dụng từ ngữ dễ hiểu, phù hợp với trình độ của đối tượng điều dưỡng, dễ trảlời và bám sát mục tiêu nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu trả lời bộ câu hỏi độc lập, không bị ảnh hưởng bởi nghiên cứuviên và tác nhân bên ngoài

2.5 Định nghĩa biến số

Phần 1: Thông tin cá nhân

Giới: là biến số nhị giá gồm 2 giá trị: nam, nữ.

Tuổi: là biến số định lượng Số tuổi được tính bằng năm nghiên cứu trừ năm sinh

của đối tượng nghiên cứu

→ Nhóm tuổi: là biến số thứ tự gồm 2 giá trị: ≤30 tuổi và >30 tuổi.

Tình trạng hôn nhân: là biến số danh định gồm 4 giá trị: độc thân, đã kết hôn, đã

ly thân/đã ly dị, góa

Độc thân: là người chưa bao giờ lấy vợ/chồng hoặc chưa bao giờ sống với

người khác giới như vợ chồng

Đã kết hôn: là người đã được luật pháp thừa nhận là có vợ/chồng.

Đã ly thân/ly dị: là những người đã lập gia đình nhưng hiện tại không sống

chung với vợ/chồng với lý do ly thân hoặc ly dị

Góa: là những người mà vợ/chồng của họ đã qua đời và hiện tại chưa tái kết

hôn

Trang 24

Thâm niên công tác (năm): là biến số định lượng Là tổng thời gian đã làm việc tại

Phần 2: Yếu tố công việc

Trực đêm: là biến số nhị giá gồm 2 giá trị: có, không Đối tượng được xem là có khi

trong tuần có tham gia trực vào ban đêm

Tập huấn tại bệnh viện: là biến số nhị giá gồm 2 giá trị: có, không Đối tượng được

xem là có khi thường xuyên được tham gia các buổi tập huấn, kiểm tra các thao tác, kĩ năngnhằm nâng cao chất lượng công việc

Công việc đơn điệu: dựa vào cảm nhận của đối tượng về công việc, cảm thấy công

việc không có tính hứng thú, cảm thấy đơn điệu, nhàm chán Đây là biến số nhị giá gồm 2giá trị: có, không

Quá tải công việc: dựa vào cảm nhận của đối tượng về công việc, cảm thấy công

việc gặp quá tải, khối lượng công việc quá lớn Đây là biến số nhị giá gồm 2 giá trị: có,không

Phân công thời gian làm việc hợp lý: dựa vào cảm nhận của đối tượng về công

việc, cảm thấy công việc phân công hợp lý về thời gian Đây là biến số nhị giá gồm 2 giá trị:

có, không

Công việc vượt quá khả năng: dựa vào cảm nhận của đối tượng về công việc, cảm

thấy công việc vượt quá khả năng của bản thân Đây là biến số nhị giá gồm 2 giá trị: có,không

Thời gian làm việc dài: dựa vào cảm nhận của đối tượng về thời gian làm việc, cảm

thấy thời gian dành cho công việc quá dài Đây là biến số nhị giá gồm 2 giá trị: có, không

Kiêm nhiệm: là biến số nhị giá gồm 2 giá trị: có, không.Đốitượng được xem là cókhi đảm nhiệm thêm công việc khác ngoài nhiệm vụ chuyên môn như công việc hành chínhvăn phòng, thống kê, quản lý

Trang 25

Cấp trên phân công công việc hợp lý: dựa vào cảm nhận của đối tượng về phân

công công việc, cảm thấy cấp trên đã có sự phân công hợp lý trong công việc Đây là biến

số nhị giá gồm 2 giá trị: có, không

Cấp trên hoặc đồng nghiệp hỗ trợ: dựa vào cảm nhận của đối tượng, cảm thấy cấp

trên hoặc đồng nghiệp đã có sự quan tâm, hỗ trợ trong công việc Đây là biến số nhị giá gồm

2 giá trị: có, không

Quan hệ tốt với cấp trên: dựa vào cảm nhận của đối tượng, cảm thấy có mối quan

hệ tốt với cấp trên Đây là biến số nhị giá gồm 2 giá trị: có, không

Phần 3: Yếu tố xã hội

Yêu thích công việc: dựa vào cảm nhận của đối tượng, cảm thấy có niềm đam mê,

ham thích, hứng thú khi thực hiện công việc Đây là biến số nhị giá gồm 2 giá trị: có, không

Hỗ trợ tinh thần từ người thân: dựa vào cảm nhận của đối tượng, cảm thấy những

người thân trong gia đình có quan tâm và hỗ trợ về mặt tinh thần Đây là biến số nhị giá gồm

2 giá trị: có, không

Trả lương xứng đáng: dựa vào cảm nhận của đối tượng, cảm thấy có mức lương

hiện tại đã tương xứng với công việc mà bản thân đảm nhận Đây là biến số nhị giá gồm 2giá trị: có, không

Cơ hội thăng tiến: dựa vào cảm nhận của đối tượng, cảm thấy công việc hiện tại có

nhiều cơ hội phát triển trong tương lai ở các vị trí chức vụ cao hơn Đây là biến số nhị giágồm 2 giá trị: có, không

Thời gian giải trí: dựa vào cảm nhận của đối tượng, cảm thấy có bản thân vẫn còn

có thời gian giải trí vui chơi ngoài trừ công việc Đây là biến số nhị giá gồm 2 giá trị: có,không

Phần 2: Biến số phụ thuộc

Tình trạng stress được đánh giá dựa trên bộ câu hỏi sức khỏe tổng quát gồm 12 câuhỏi (GHQ-12 – General Health Questionnaire 12 items) được phát triển bởi David Goldberg

và Paul William vào những năm 1970, dùng để định lượng nguy cơ phát triển rối loạn tâmthần, nhắm đến 2 lĩnh vực: không có khả năng thực hiện các chức năng bình thường và sựxuất hiện buồn phiền để đánh giá mức độ hạnh phúc của con người.[13] Với hệ sốCronbach’s alpha là khoảng từ 0,82 đến 0,86, công cụ được xem là đáng tin cậy và đã đượcdịch ra 38 ngôn ngữ.[13]

Ngày đăng: 25/04/2021, 11:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w