Nhiều nghiên cứu đã cho thấy bên cạnh những vấn đề liên quan đến tàichính, sức khỏe của bản thân, sức khỏe của các thành viên trong gia đình, rắc rốitrong các mối quan hệ liên quan cá nh
Trang 1ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ MỘNG THU
STRESS, ỨNG PHÓ VỚI STRESS
Ở SINH VIÊN VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG
BÁCH KHOA NAM SÀI GÒN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2020
Trang 2ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ MỘNG THU
STRESS, ỨNG PHÓ VỚI STRESS
Ở SINH VIÊN VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG
BÁCH KHOA NAM SÀI GÒN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngành: Y tế công cộng
Mã số: 8720721
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LÊ MINH THUẬN
Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2020
Trang 3MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 3
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
DÀN Ý NGHIÊN CỨU 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN Y VĂN 5
1.1 Khái niệm chung về stress và ứng phó stress 5
1.2 Chiến lược ứng phó với stress 8
1.3 Các thang đo trong nghiên cứu 13
1.4 Nghiên cứu Việt Nam và trên Thế Giới về stress và ứng phó với stress 16 1.5 Sơ lược về địa điểm và đối tượng nghiên cứu 21
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Thiết kế nghiên cứu 24
2.2 Đối tượng nghiên cứu 24
2.3 Kỹ thuật chọn mẫu 25
2.4 Phương pháp thu thập số liệu 26
2.5 Liệt kê và định nghĩa biến số 27
2.6 Kiểm soát sai lệch 30
2.7 Phương pháp phân tích thống kê 31
2.8 Đạo đức nghiên cứu 32
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ 33
3.1 Đặc tính chung 33
3.2 Ứng phó stress của sinh viên 43
3.3 Yếu tố liên quan đến ứng phó stress của sinh viên 44
3.4 Đánh giá tầm quan trọng của các yếu tố 54
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 56
4.1 Đặc tính mẫu nghiên cứu 56
4.2 Các mức độ stress trong sinh viên 57
4.3 Đặc điểm cá nhân của sinh viên 61
Trang 44.5 Ứng phó stress của sinh viên 71
4.6 Các yếu tố liên quan đến ứng phó stress của sinh viên 73
4.7 Đánh giá tầm quan trong của các yếu tố liên quan ứng phó stress 81
KẾT LUẬN 83
KIẾN NGHỊ 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5VTN Vị thành niên
WHO World Health Organization (Tổ chức Y tế Thế Giới)
Trang 6Bảng 1 1 Các dấu hiệu nhận biết stress 6
Bảng 3 1 Đặc điểm biến số nền 33
Bảng 3 2 Tỉ lệ stress của sinh viên 34
Bảng 3 3 Đặc điểm cá nhân của sinh viên 35
Bảng 3 4 Các yếu tố gia đình của sinh viên 38
Bảng 3 5 Các yếu tố nhà trường 40
Bảng 3 6 Chỗ dựa xã hội của sinh viên 42
Bảng 3 7 Các biểu hiện ứng phó stress của sinh viên 43
Bảng 3 8 Các nhóm ứng phó stress của sinh viên 44
Bảng 3 9 Liên quan giữa biến số nền, stress, ứng phó đối đầu 44
Bảng 3 10 Liên quan giữa biến số nền, stress, ứng phó lãng tránh 46
Bảng 3 11 Liên quan giữa yếu tố gia đình với, stress, ứng phó đối đầu 47
Bảng 3 12 Liên quan giữa yếu tố gia đình, stress, ứng phó lãng tránh 49
Bảng 3 13 Liên quan giữa yếu tố về nhà trường, stress, ứng phó đối đầu 50
Bảng 3 14 Liên quan giữa yếu tố về nhà trường, stress, ứng phó lãng tránh 52
Bảng 3 15 Đánh giá tầm quan trọng của các biểu hiện cách ứng phó stress 54 Bảng 3 16 Đánh giá tầm quan trọng của các yếu tố đến cách ứng phó stress 55
Trang 7Biều đồ 1 1 Mô hình ứng phó với stress của Tobin 10
Biểu đồ 3 1 Tương quan đặc điểm sinh viên với cách ứng phó đối đầu 99
Biểu đồ 3 2 Tương quan đặc điểm cá nhân với cách ứng phó lãng tránh 100
Biểu đồ 3 3 Tương quan chỗ dựa xã hội với nhóm ứng phó đối đầu 101
Biểu đồ 3 4 Tương quan chỗ dựa xã hội với cách ứng phó lãng tránh 102
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Stress từ lâu đã là một khái niệm quen thuộc trong cuộc sống hằng ngàynhưng hiện nay nó đang trở thành một mối nguy hại cho sức khỏe tâm thần của conngười Bên cạnh những tác động tích cực như tăng cường khả năng thích nghi, cảithiện sức khỏe và phát triển tinh thần thì stress vượt quá mức kiểm soát có thể trởthành hệ lụy của hàng loạt vấn đề sức khỏe Stress làm cho con người cảm thấy kiệtsức, stress, dễ bị kích động, mất ngủ, suy giảm hệ miễn dịch, giảm khả năng laođộng Nếu không điều chỉnh được thì stress có thể gây ra một số bệnh ở người như:bệnh tim mạch, loét dạ dày, tiểu đường, trầm cảm, tâm thần phân liệt [3]
Theo Tổ chức Y tế Thế Giới (WHO) có 10% đến 20% thanh thiếu niên bịảnh hưởng bởi các vấn đề sức khỏe tâm thần như stress, lo âu, trầm cảm và các dạngrối loạn khác, trong đó chiếm tỉ lệ đáng kể là stress Đáng chú ý là vấn đề tự tử vàtìm cách tự tử với tỉ lệ tự tử là 2,3% và đang có xu hướng gia tăng [9]
Khi đối mặt với những vấn đề gây stress cách mà sinh viên giải quyết đóngvai trò rất quan trọng bởi nó quyết định mức độ ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đốivới sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần và hiệu quả học tập của sinh viên trướccác tình huống hay vấn đề gây stress [13]
Nhiều nghiên cứu đã cho thấy bên cạnh những vấn đề liên quan đến tàichính, sức khỏe của bản thân, sức khỏe của các thành viên trong gia đình, rắc rốitrong các mối quan hệ liên quan cá nhân, và điều kiện môi trường sống không thuậnlợi, các khó khăn trong học tập cũng là một nguồn gây stress chủ yếu cho sinh viên[14]
Những khó khăn trong học tập này có thể do bài tập quá nhiều, kiểm tra vàthi cử liên tục, hay điểm số không như mong muốn Stress gây ra bởi những tìnhhuống này đôi khi có tác dụng tích cực, giúp sinh viên có thêm động lực học tập vàlàm việc hiệu quả hơn Tuy nhiên nếu kéo dài, tình trạng stress này có thể để lạinhiều hệ quả tiêu cực Khi đối mặt với những vấn đề gây stress trong học tập, cách
mà sinh viên ứng phó đóng vai trò rất quan trọng bởi nó quyết định mức độ ảnhhưởng tiêu cực của nguồn gây stress đối với sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần
Trang 9và hiệu quả học tập của sinh viên Nhiều nghiên cứu đã cho thấy những cách ứngphó thiếu thích ứng với stress trong học tập của sinh viên có mối liên hệ với nhiềuvấn đề, chẳng hạn như kết quả học tập giảm sút, trầm cảm [25]; lo âu, rối loạn ănuống, hay sử dụng nước uống có nồng độ cồn Ngược lại, những chiến lược ứngphó chủ động và tích cực, sinh viên có thể có mức độ stress thấp hơn , ít lo âu hơn,
có khả năng thích ứng với môi trường cao hơn và sức khỏe thể chất tốt hơn Vì vậy,yêu cầu đặt ra cho các nhà quản lý giáo dục, các nhà y tế công cộng, các nhà tư vấn-tham vấn-trị liệu tâm lý học đường tiến hành các nghiên cứu tìm hiểu về ứng phóvới stress trong học tập ở sinh viên, từ đó xây dựng các chương trình can thiệp giúpsinh viên ứng phó hiệu quả hơn trước các vấn đề gây stress trong học tập
Có nhiều nghiên cứu về stress, tuy nhiên chủ yếu tập trung vào mô tả thựctrạng, biểu hiện triệu chứng, các tác nhân gây stress, tỉ lệ đáp ứng điều trị thuốc[24]; mà rất ít nghiên cứu chỉ ra mối tương quan giữa cách thức ứng phó với stress,cũng như là tìm ra những yếu tố tác động đến việc lựa chọn cách ứng phó stress vàquá trình thực hiện cách thức đó Bên cạnh đó, việc hỗ trợ tâm lý học đường đượcxem là một trong những biện pháp giúp sinh viên định hướng và giải quyết hiệu quảcác vấn đề stress, nhưng thực tế cho thấy các hoạt động này chưa được chú trọng vàtriển khai phổ biến trong trường học
Trường Cao đẳng Bách khoa Nam Sài Gòn là một trường cao đẳng công lậptrọng điểm của Tp HCM đào tạo đa ngành, không ngừng nâng cao trình độ giảngdạy chuyên môn và công tác tuyển sinh-đào tạo dưới sự cạnh tranh của các trườngtrong khu vực [22] Không chỉ riêng đội ngũ giảng viên mà sinh viên của trườngcũng đối mặt với nhiều khó khăn từ chính môi trường học tập Công tác đào tạochuyên môn – hướng nghiệp luôn được nhà trường chú trọng, tuy nhiên việc nắmbắt những khó khăn thực thể của sinh viên qua các cuộc khảo sát hay nghiên cứuchưa được quan tâm đúng mức; cũng như việc thử nghiệm và triển khai các mô
hình/chiến lược hành động hỗ trợ giải quyết tình trạng stress ở sinh viên tại trường
Chính vì những lí do trên nghiên cứu tiến hành khảo sát “Stress, ứng phó stress ở
Trang 10sinh viên và các yếu tố liên quan tại trường Cao Đẳng Bách Khoa Nam Sài Gòn Thành phố Hồ Chí Minh.”
CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Khảo sát trên sinh viên trường Cao Đẳng Bách Khoa Nam Sài Gòn Thành phố HồChí Minh nhằm trả lời các câu hỏi sau:
1 Tỷ lệ stress ở sinh viên trường Cao đẳng Bách Khoa Nam Sài Gòn, thànhphố Hồ Chí Minh là bao nhiêu?
2 Các biểu hiện cách ứng phó stress nào quan trọng nhất ở sinh viên?
3 Các yếu tố nào liên quan đến cách ứng phó đối đầu với stress, lãng tránh vớistress của sinh viên?
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu tổng quát
Xác định tỷ lệ stress, điểm ứng phó với stress ở sinh viên trường Cao ĐẳngBách Khoa Nam Sài Gòn Thành phố Hồ Chí Minh và yếu tố liên quan đến cách ứngphó stress
Trang 11DÀN Ý NGHIÊN CỨU
ỨNG PHÓ STRESS
(1) Giải quyết vấn đề(2) Cấu trúc lại nhận thức(3) Tìm kiếm chỗ dựa xã hội(4) Bộc lộ cảm xúc
(5) Lãng tránh vấn đề(6) Mơ tưởng
(7) Cô lập(8) Đổ lỗi cho bản thân
STRESS
(1) Có stress(2) Không Stress
Đặc điểm cá nhân
(1) Ngành học, năm học, hình thứchọc
(2) Giới tính, tuổi, dân tộc, nơi ở(3) Học lực, tham gia hoạt động xãhội
(4) Làm thêm, thu nhập cá nhân(5) Mối quan hệ với bạn bè(6) Thời gian ngủ, tham gia thể thao,thư giãn
(7) Tình trạng hút thuốc lá, sử dụngrượu bia
CHỖ DỰA XÃ HỘI
(1) Hỗ trợ từ gia đình(2) Hỗ trợ từ bạn bè(3) Hỗ trợ từ người đặc biệt
Các yếu tố về gia đình
(1) Hôn nhân của cha mẹ(2) Thu nhập của gia đình(3) Áp lực từ gia đình(4) Mối quan hệ với mọi ngườitrong gia đình
(5) Sự hài lòng về quan hệ gia đình
Yếu tố về nhà trường
(1) Số môn học(2) Tần suất thi cử(3) Cảm nhận về thi rớt và nợ môn(4) Cảm nhận về thực hiện mục tiêuđặt ra
(5) Sự cạnh tranh trong học tập(6) Mối quan hệ với thầy cô
Trang 12CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN Y VĂN 1.1 Khái niệm chung về stress và ứng phó stress
1.1.1 Stress và các đặc điểm của Stress
Trong cuộc sống công nghiệp hóa, hiện đại hóa như hiện nay, con người phảiđối mặt với nhiều nỗi lo toan, áp lực từ công việc, gia đình và xã hội Ngày nay, tỉ lệgặp phải các vấn đề sức khỏe tâm lí ngày càng cao như stress, lo âu, trầm cảm.Nhắc đến stress người ta thường nghĩ đến sự căng thẳng, mệt mỏi, lo âu về các vấn
đề Stress là phản ứng của cơ thể trước bất cứ một áp lực hay một yếu tố tác độngnào đe dọa đến sự tồn tại lành mạnh của con người cả về thể chất lẫn tinh thần
Các vấn đề gây stress trong đời sống như áp lực từ công việc, gia đình, bạn
bè hay xã hội, những thay đổi hay biến cố trong cuộc đời, lo lắng về chi tiêu haymột điều lo lắng nào đó, không kiểm soát được các tình huống xảy ra trong cuộcsống hay cảm thấy thiếu trách nhiệm với gia đình, hoặc không có việc làm, là nhữngyếu tố đều có thể tác động đến sự lo lắng, stress của con người [49]
Dấu hiệu đầu tiên và dễ nhận biết nhất của stress là mệt mỏi Tiếp đó, ngườigặp phải vấn đề stress cảm thấy suy kiệt về tinh thần và thể lực Họ mất khả năng tựđánh giá mình và thường xuyên cáu giận Theo Institute of mental health phân chiadấu hiệu của stress thành bốn thành tố:
Trang 13Bảng 1 1 Các dấu hiệu nhận biết stress
Nguồn: Institute of Mental Health [71]
Các biểu hiện về nhận thức Các biểu hiện về xúc cảm
Gặp khó khăn trong các quá trìnhtrí nhớ
Ủ rũ, buồn rầu, dễ xúc độngKhông thể tập trung Cáu kỉnh, dễ nổi nóngKhả năng đánh giá, nhận định
Tư duy chậm hoặc không muốn
phiền gần đây nhất Cảm thấy vô vọngCảm thấy mất lòng tin, hay nghi
Chỉ nhìn thấy mặt tiêu cực củamọi vấn đề, đánh giá cao khókhăn, đánh giá thấp bản thân
Mất phương hướng
Không có khả năng đưa ra quyết
Các biểu hiện sinh lý Các biểu hiện hành vi
Đau đầu, đau dạ dày, đau nửa đầu Ăn quá nhiều hoặc quá ítĐau ngực, tim đập nhanh Ngủ quá nhiều hoặc quá ít
Bị tiêu chảy hay bị táo bón Không muốn năng động như bình
thườngBuồn nôn và chóng mặt Nói năng không rõ ràng, khó hiểuGiảm hứng thú tình dục Nói liên tục về một sự việc hay phóng
đại sự việc
Ăn không ngon miệng Hay tranh luận
Vả mồ hôi, ớn lạnh, run rẩy Thu mình lại, rút lui, không muốn tiếp
xúc với người khác
Trang 14Stress tuy là một phản ứng hoàn toàn bình thường của cơ thể nhưng khistress kéo dài và không được giải tỏa, stress có thể gây áp lực đến những vấn đề vềthể chất và tinh thần như tăng cân hoặc sút cân, mất ngủ, cơ thể mệt mỏi, khó tậptrung vào công việc từ đó dẫn đến nhiều khó khăn trong công việc Nếu không tìmcách vượt qua stress, người gặp phải vấn đề dễ rơi vào vòng luẩn quẩn của nó và cóthể dẫn đến nhiều bệnh lý tâm thần mà điển hình là trầm cảm, nguy hại hơn nữa là ýđịnh tự tử.
1.1.2 Ảnh hưởng của stress đến đời sống
Stress bên cạnh các mặt tích cực như thúc đẩy con người phấn đấu, hoànthành các mục tiêu đặt ra và giải quyết các vấn đề một cách nhanh chóng Bên cạnh
đó, mặt hại của stress là không thể tránh khỏi như: Stress làm con người suy giảmtrí nhớ, cáu gắt, giảm năng suất làm việc nếu gặp phải vấn đề stress lâu dài, mất ngủthường xuyên, trầm cảm, cảm giác chán nản cuộc sống và muốn thoát khỏi thực tạibằng ý định tự tử, hoặc gây hại cho chính mình và những người xung quanh
Theo Nguyễn Thị Diễm Hằng, stress ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhiều mặtđời sống của sinh viên như: người gặp phải vấn đề stress, dễ gặp phải các vấn đề về
hệ miễn dịch, dễ mắc các bệnh về tiêu hóa, ăn không ngon miệng, đau dạ dày, cácbệnh về hô hấp như hen suyễn Ngoài ra, người gặp phải stress, đặc biệt là sinh viên
dễ rơi vào tình trạng tăng cân hoặc sút cân không kiểm soát, thường xuyên đau đầu,mất ngủ Ảnh hưởng đến khả năng ghi nhớ [10]
Stress thúc đẩy các hành vi sử dụng các chất gây nghiện như rượu bia, matúy hoặc các chất kích thích để giải tỏa stress Stress nặng làm con người mất tự tinvào bản thân, giảm sự năng động và giảm tiếp xúc với các mối quan hệ mới Sinhviên đối mặt với nhiều stress có thể cũng luôn ở trong trạng thái lo âu, từ nhữngtrường hợp lo lắng nhẹ cho đến những trường hợp rối loạn lo âu Ngoài ra, những
SV không thoát ra được stress đã mắc chứng trầm cảm từ nhẹ đến nặng và thậm chí
có ý nghĩ và thực hiện hành vi tự tử [8]
Trang 151.2 Chiến lược ứng phó với stress
1.2.1 Khái niệm ứng phó
Khái niệm ứng phó xuất phát từ tiếng Anh “cope”, có nghĩa là ứng phó,
đương đầu, đối mặt, thường là trong những tình huống bất thường, những tìnhhuống khó khăn và stress Lazarus và Folkman (1984) định nghĩa ứng phó là những
nỗ lực không ngừng thay đổi về nhận thức và hành vi của cá nhân để giải quyết cácyêu cầu cụ thể, tồn tại bên trong cá nhân và trong môi trường mà cá nhân nhận địnhchúng có tính đe doạ, thách thức hoặc vượt quá nguồn lực của họ Ứng phó là mộtquá trình năng động và luôn luôn thay đổi của cá nhân Nó là chuỗi tương tác giữacon người và môi trường Mỗi người có thể có một cách ứng phó khác nhau và mỗicách ứng phó đem lại những kết quả không giống nhau để giải quyết vấn đề Bêncạnh đó, ứng phó có thể mang lại cảm giác vừa lòng, thoải mái hoặc gây nên stresschứ không nhất thiết phải là sự thích nghi [2]
1.2.2 Phân loại ứng phó
Có nhiều cách phân loại ứng phó, không có một bảng phân loại chung chocác cách ứng phó mà chúng được xác định bởi các nhà nghiên cứu khác nhau tuỳtheo đối tượng và mục đích nghiên cứu của họ [11] Dưới đây là một số cách phânloại ứng phó phổ biến:
Cách phân loại ứng phó phổ biến nhất do Folkman và Lazarus (1984) đề
xuất Theo Folkman và Lazarus (1984), những nỗ lực ứng phó có thể hoặc tập trung vào cảm xúc (emotion-focused) hoặc tập trung vào vấn đề (problem-focused) Ứng
phó tập trung cảm xúc nhằm vào việc giảm bớt sự khuấy động cảm xúc gây nên bởistress Ứng phó tập trung vào vấn đề nhằm vào việc thay đổi sự kiện được xem là cóhại Cả hai hướng ứng phó có thể được thực hiện đồng thời, hoặc riêng biệt, và cũng
có khi là không tương hợp với nhau [37]
Tiếp theo, theo Ferguson và Cox (1991), có ba nhóm ứng phó chinh : ứng phó định hướng vào nhiệm vụ (task- oriented); ứng phó định hướng vào cảm xúc (emotion – oriented) và lãng tránh (avoidance) Ứng phó định hướng vào nhiệm vụ
là những nỗ lực nhằm thay đổi môi trường khách quan bên ngoài, thường bao gồm
Trang 16những hành động được lên kế hoạch Ứng phó định hướng vào cảm xúc là chiếnlược trong đó con người cố gắng thay đổi suy nghĩ và cảm giác của mình về sự kiệnxảy ra bằng cách rút một số kinh nghiệm, bài học qua tình huống, nhìn về khía cạnhtích cực của vấn đề hoặc thể hiện những cảm xúc âm tính của mình Lãng tránh làcách thức nhằm chạy trốn khỏi vấn đề bằng cách che giấu suy nghĩ thực về vấn đềhoặc tập trung vào những hoạt động khác tích cực hơn nhằm thoát ra khỏi tìnhhuống [32].
Cuối cùng, Tobin và các cộng sự (1989) chia ứng phó thành 2 nhóm lớn:
nhóm đối đầu (engagement) và nhóm lảnh tránh (disengagement) Nhóm “đối đầu” gồm có “đối đầu tập trung vào vấn đề” và “đối đầu tập trung vào cảm xúc”; nhóm
“lãng tránh” gồm có “lãng tránh tập trung vào vấn đề” và “lãng tránh tập trung vào cảm xúc”[33]
Nhóm “đối đầu tập trung vào vấn đề” bao gồm “giải quyết vấn đề” và “cấu trúc lại nhận thức”.“Giải quyết vấn đề” là những nỗ lực nhằm thay đổi các tác nhân gây stress bằng cách quyết tâm, kiên trì và trực tiếp hành động “Cấu trúc lại nhận thức” là quá trình “nói chuyện với bản thân” về vấn đề xảy ra để thay đổi ý
nghĩa của các sự kiện stress, nhìn nhận các sự kiện theo chiều hướng tích cực hơn
và có tính xây dựng hơn Nhóm “đối đầu tập trung cảm xúc” gồm có “tìm kiếm hỗ trợ xã hội” và “bộc lộ cảm xúc” “Tìm kiếm hỗ trợ xã hội” là nỗ lực tìm đến sự
giúp đỡ để giải quyết vấn đề bằng cách tìm kiếm lời khuyên và chia sẻ cảm xúc, tâm
sự với những người thân hay bạn bè “Bộc lộ cảm xúc” là những cố gắng đối diện
với cảm xúc, không né tránh nó và giải tỏa các cảm giác stress, lo lắng ra bên ngoài[34]
Nhóm “lãng tránh tập trung vào vấn đề” bao gồm “lảnh tránh vấn đề” và
“mơ tưởng” “Lãng tránh vấn đề” liên quan đến những nỗ lực của cá nhân nhằm
chạy trốn khỏi vấn đề bằng cách cố gắng không có bất cứ suy nghĩ hoặc hành động
nào liên quan đến sự kiện stress “Mơ tưởng” phản ánh những suy nghĩ mang tính
tô hồng sự kiện, tưởng tượng, hy vọng, mong đợi những điều kỳ diệu xảy ra để tìnhtrạng có thể chuyển biến tốt hơn và cá nhân có thể sớm thoát khỏi hoàn cảnh ấy
Trang 17Nhóm “lãng tránh tập trung vào cảm xúc” gồm có “đổ lỗi cho bản thân” và “cô lập bản thân” “Đổ lỗi cho bản thân” phản ánh việc cá nhân tự chỉ trích mình, giằn vặt, giày vò mình vì những gì đã xảy ra, đi kèm với cảm giác nuối tiếc, ân hận “Cô lập bản thân” đề cập đến các nỗ lực của cá nhân nhằm thu hẹp thế giới của chính
mình, tránh giao tiếp và che dấu cảm xúc đối với các tình huống gây stress trướcbạn bè và người thân [34]
Biều đồ 1 1 Mô hình ứng phó với stress của Tobin và các cộng sự (1989)
Trong nghiên cứu này, chúng tôi theo quan điểm phân loại trên để khảo sátchiến lược ứng phó của sinh viên Cao Đẳng Bách Khoa Nam Sài Gòn với thang đocủa Garcia & cộng sự (2007)
1.2.3 Các yếu tố tác động đến ứng phó
Nhiều nghiên cứu về ứng phó với stress cho thấy đặc trưng của lứa tuổi cóảnh hưởng nhất định đến cách ứng phó của cá nhân Nhìn chung, các chiến lượcứng phó thường thay đổi theo hướng tích cực và đa dạng hơn khi con người càngtrưởng thành hơn Kết quả nghiên cứu của Frydenberg và Lewis (1991) cho thấythiếu niên thường ứng phó với stress bằng các chiến lược kém hiệu quả như lãngtránh, mơ tưởng; trong khi đó, thanh niên thường sử dụng các kỹ thuật giảm stress
Đối đầu tập trung vào cảm xúc
Lảng tránh vấn đề
Mơ tưởng
Lảng tránh tập trung vào cảm xúc
Đổ lỗi bản thân
Cô lập bản thân
Trang 18có lợi hơn như chơi thể thao, yoga hay ngồi thiền [27] Tuy nhiên, nhiều nghiên cứukhác lại không tìm thấy sự thay đổi liên quan đến lứa tuổi trong việc sử dụng cácchiến lược ứng phó Chẳng hạn, Dusek và Danko (1994) và Stern và Zevron (1990)tìm thấy rất ít điểm khác biệt về việc sử dụng chiến lược ứng phó giữa các lứa tuổi.Nghiên cứu của Đỗ Thị Lệ Hằng (2009) trên trẻ vị thành niên không cho thấy điểmkhác biệt về cách ứng phó giữa các lứa tuổi [6].
Các nghiên cứu cũng cho thấy rằng giới tính có một ảnh hưởng nhất định đếncách cá nhân ứng phó với stress Nhìn chung, nam giới thường sử dụng các chiếnlược đối đầu tập trung vào vấn đề như giải quyết vấn đề, cấu trúc lại nhận thứctrong khi đó nữ giới có khuynh hướng sử dụng các chiến lược đối đầu tập trung vàocảm xúc như bộc lộ cảm xúc, tìm kiếm chỗ dựa xã hội và các chiến lược lãng tránhnhiều hơn Tuy nhiên, Đỗ Thị Lệ Hằng (2009) lại cho thấy rằng không có sự khácbiệt đáng kể trong việc sử dụng chiến lược ứng phó giữa nam và nữ Nguyễn ThịDiễm Hằng trên đối tượng SV Đại học Quảng Bình năm 2016, nữ giới có xu hướng
sử dụng những cách ứng phó tiêu cực hơn nam giới Felsten (1998) chỉ ra rằng sựkhác biệt giữa giới trong sử dụng các chiến lược ứng phó đang có chiều hướng suygiảm và không thống nhất trong các nghiên cứu từ thập niên 90 của thế kỷ trước [7]
Trong nghiên cứu của Bolognini Monique, Plancherel Bernard; HalfonOlivier (2003) đã tìm hiểu các cách ứng phó theo đặc trưng giới, mối tương quangiữa việc chọn lựa các cách ứng phó với sức khỏe tâm trí theo giới tính và theo độtuổi Các tác giả đã đưa ra những cách thức ứng phó như: sử dụng quan hệ xã hội,gia đình, tình cảm tâm tính, sự giải trí, hài hước, cam kết, tiêu xài, gia đình, nhàtrường Các kết quả khẳng định nữ thanh thiếu niên tự điều chỉnh tùy theo khó khănbằng cách tham gia nhiều hơn vào các quan hệ xã hội (bạn bè, anh chị em, bố mẹ vàcác người lớn khác) Nghiên cứu đã cho thấy con gái đầu tư nhiều hơn vào thế giớitương tác nhằm thể hiện tình cảm một cách cởi mở, nhằm nhận được sự nâng đỡ,các lời khuyên và những điều an ủi từ một người thân tình (bạn bè, gia đình) Trongkhi đó, các nam thanh thiếu niên cố gắng nhiều hơn trong việc giữ ý nghĩa của sựhài hước và tiến hành một hoạt động thể lực mạnh mẽ Con trai ít cởi mở hơn và ít
Trang 19phụ thuộc vào người khác hơn so với con gái, nhưng lại có xu hướng làm cho tìnhhuống bớt khủng hoảng và tỏ ra lạc quan, tìm kiếm sự giải tỏa trong các trò chơi vàhoạt động thể lực Về mối quan hệ sức khỏe tâm trí và các cách thức ứng phó,nghiên cứu cho thấy các kết quả tỏ ra khác biệt giữa con trai và con gái Ở con gái,trong số các cách thức ứng phó có tương quan cao nhất là sự thể hiện các tình cảm
âm tính phối hợp với một xác suất cao nhất bị rối nhiễu tâm trí như khí sắc trầmnhược, lo âu và rối nhiễu giấc ngủ Ở con trai, chỉ có tương quan về mặt lo âu [46]
Bên cạnh đó, tác nhân gây stress cũng là yếu tố quan trọng tác động mạnh
mẽ đến hành vi ứng phó của con người Trước mỗi tình huống gây stress, con ngườithường có những cách ứng phó khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm của tác nhân Tácnhân gây stress tự nó có thể thúc đẩy tính khả dụng và hiệu quả của các chiến lượcứng phó Các nghiên cứu trên đối tượng từ 15 đến 19 tuổi cho thấy khi ứng phó vớicác tác nhân gây stress trong gia đình thì thanh thiếu niên thường dùng chiến lượctập trung vào tình cảm hoặc chối bỏ, trái lại, với các tác nhân liên quan đến trườnghọc, họ thường sử dụng các chiến lược tập trung vào vấn đề hoặc lãng tránh Ngoài
ra, nhiều nghiên cứu cho thấy các chiến lược ứng phó tập trung vào vấn đề thườnggắn liền với tình huống stress trong công việc, còn chiến lược tập trung vào tìnhcảm thì được sử dụng để ứng phó với những tác nhân stress liên quan đến sức khỏe[7]
Tiếp theo, các đặc điểm nhân cách không chỉ đóng vai trò là yếu tố ảnh hưởngđến quá trình ứng phó mà chúng chính là nguồn lực ứng phó bên trong rất quantrọng Có khá nhiều đặc điểm nhân cách được nghiên cứu trong mối tương quan vớicác cách ứng phó; trong đó, tính lạc quan được nhiều tác giả chú trọng Tinh thầnlạc quan là sự mong đợi về kết quả tốt đẹp hơn là kết quả xấu sẽ xảy ra khi đối mặtvới những vấn đề trong các lĩnh vực quan trọng của cuộc sống Các nghiên cứu củaBillingsley, Waehler và Hardin (1993), [42]; Carver, Scheier và Weintraub (1989)[30]; Sheier Weintraub và Carver (1986)[47]; Aspinwall (1996) [27] và nhiều nghiêncứu khác cho thấy rằng nhìn chung, những cá nhân lạc quan thường là những ngườiđối đầu chủ động và tích cực với những tình huống khó khăn bằng các chiến lược
Trang 20ứng phó hiệu quả như giải quyết vấn đề, cấu trúc lại nhận thức hay tìm kiếm hỗ trợ
xã hội; trong khi đó, những người bi quan là những người dễ dàng đầu hàng và nétránh tình huống khó khăn bằng cách đổ lỗi hay cô lập bản thân [30]
1.3 Các thang đo trong nghiên cứu
1.3.1 Thang đo Stress
Thang đo stress (Perceived Stress Scale-PSS) của Cohen & Williamson(1988)
Mặc dù hiện có nhiều thang đo đánh giá stress nhưng Perceived Stress Scale(PSS-10) là thang đo được sử dụng rộng rãi nhất nhằm đo lường sự tự cảm nhận vềstress Thang đo này được thiết kế nhằm đo lường mức độ cá nhân nhận thấy cuộcsống của họ trong một tháng qua là không thể dự đoán trước, không kiểm soát được
và quá tải, mỗi nhận định có 5 mức lựa chọn: không bao giờ; hầu như không; thỉnh thoảng; thường xuyên; rất thường xuyên Các chỉ số định tính này được chuyển
sang định lượng từ 0 – 4 cho các câu 1, 2, 3, 6, 9, 10; riêng các câu 4,5,7,8 thì tínhđiểm ngược lại từ 4 – 0, nghĩa là 4 điểm = không bao giờ; 3 điểm = hầu như không.Điểm số được tính từ 0 đến 40, điểm càng cao cho thấy mức độ stress càng nặng.Điểm số được tính từ 0 đến 40, điểm càng cao cho thấy mức độ stress càng nặng
Dưới 24 điểm: không có stress; từ 24 – 29 điểm: stress nhẹ ; từ 30 điểm trở lên:
stress nặng[51]
Thang đo PSS ban đầu được thiết kế gồm 14 câu (PSS-14) sau đó được rútgọn thành 10 câu (PSS-10) Bên cạnh đó, thang đo này đã được dịch ra nhiều thứtiếng trên thế giới như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hy Lạp, Pháp, Nhật Bản vv; với
độ tin cậy alpha coefficient từ 0,75 đến 0,86 Thang đo này cũng đã được dịch,chuẩn hóa và dùng cả trong sàng lọc và chẩn đoán stress cũng như nghiên cứu tạinhiều nơi ở Việt Nam
1.3.2 Thang đo chỗ dựa xã hội
Thang đo chỗ dựa xã hội (Multidimensional Scale of Perceived SocialSupport, MSPSS) của Zimet, Dahlem, Zimet, và Farley (1988) Thang đo này được
Trang 21thiết kế để đánh giá chỗ dựa xã hội theo nhận định của từng cá nhân, đã được triểnkhai trên nhiều nước và Việt Nam [28] Tổng điểm càng cao chứng tỏ chỗ dựa xãhội càng nhiều, càng vững chắc và ngược lại MSPSS gồm 12 câu, có 5 mức độ tầnsuất sử dụng cho từng mặt biểu hiện để khách thể lựa chọn với kết quả định tính
được chuyển sang định lượng tương ứng như sau: 0 = không bao giờ, 1 = hầu như không, 2 = thỉnh thoảng, 3 = thường xuyên, 4 = rất thường xuyên Độ tin cậy tổng
thể của thang đo khá cao, với chỉ số Cronbach alpha là 0,88 [24]
Thang đo này được thiết kế để đo lường sự chỗ dựa xã hội theo nhận địnhcủa từng cá nhân trong nền văn hóa khác nhau MSPSS gồm 12 câu đánh giá banguồn hỗ trợ chính: gia đình, bạn bè và những người đặc biệt khác; mỗi nguồn đượckhảo sát trong câu hỏi với 5 mức độ lựa chọn từ “hoàn toàn không đồng ý” đến
“hoàn toàn đồng ý” Chỉ số định tính này được chuyển sang định lượng với điểm số
từ 0 – 4 Điểm số được tính từ 0 đến 48 Điểm số càng cao chứng tỏ chỗ dựa xã hộicàng nhiều và ngược lại Đánh giá MSPSS, các nhà nghiên cứu cho rằng có những
ưu điểm sau:
(1) Thang đo này khá ngắn gọn và khá lý tưởng cho những nghiên cứu.(2) Câu hỏi trong MSPSS dễ hiểu;
(3) Mặc dù một công cụ đo lường ngắn hạn, MSPSS đo lường sự hỗ trợ từ 3nguồn khác nhau, đặc biệt thang SO (những người đặc biệt) tương đối độc đáo sovới các thang chỗ dựa xã hội khác Ai là “người đặc biệt” do khách thể tự xác định.Zimet và các cộng sự (1988) lập luận rằng SO đề cập đến một nguồn hỗ trợ khácquan trọng đối với thanh thiếu niên: người yêu, thầy cô, các nhà tham vấn Độ tincậy tổng thể của thang đo này khá cao với r = 0,81; trong đó, giá trị conbach alphacho thang hỗ trợ từ những người đặc biệt là 0,91, gia đình là 0,87 và bạn bè là 0,85.Xét về tính hiệu lực dự báo, điểm số của MSPSS tỉ lệ nghịch với mức độ lo âu vàtrầm cảm
1.3.3 Thang đo ứng phó với stress
Bảng kiểm chiến lược ứng phó với stress của Garcia, Franco & Martinez(2007)
Trang 22Bảng kiểm Chiến lược ứng phó (Coping Strategies Inventory- CSI-40) củaGarcia và các cộng sự (2007), hiệu chỉnh và chuẩn hóa tại Tây Ban Nha từ CSIphiên bản gốc của Tobin và các cộng sự (1989) để đánh giá các cách ứng phó đốivới trạng thái hoặc các sự kiện gây stress trong một tháng qua CSI rút gọn này gồm
có 40 câu (nguyên bản CSI của Tobin và các cộng sự (1989) gồm có 72 câu), đánh
giá ứng phó theo 8 loại cơ bản: giải quyết vấn đề (gồm câu 01, 09, 17, 25, 33), cấu trúc lại nhận thức (gồm câu 06, 14, 22, 30, 38), tìm kiếm chỗ dựa xã hội (gồm câu
05, 13, 21, 29, 37), bộc lộ cảm xúc (gồm câu 03, 11, 19, 27, 35), lãng tránh vấn đề (gồm câu 07, 15, 23, 31, 39), mơ tưởng (gồm câu 04, 12, 20, 28, 36), cô lập (gồm câu 08, 16, 24, 32, 40) và đổ lỗi cho bản thân (gồm câu 02, 10, 18, 26, 34).
Mỗi loại ứng phó cơ bản được đánh giá thông qua 5 sự lựa chọn mô tả cácmặt biểu hiện của loại ứng phó đó Có 5 mức độ tần suất sử dụng cho từng mặt biểuhiện để khách thể lựa chọn với kết quả định tính được chuyển sang định lượng
tương ứng như sau: 0 = không bao giờ, 1 = hầu như không, 2 = thỉnh thoảng, 3 = thường xuyên, 4 = rất thường xuyên Với alpha coefficient từ 0,63 đến 0,89 cùng
tính hiệu lực của hội tụ khá cao giữa các thang bậc đo, phiên bản CSI của Garcia vàcác cộng sự (2007) là thang đo có đủ độ tin cậy và tính hiệu lực để đo các cách ứngphó của con người trước các sự kiện stress [59]
Tại Việt Nam, Nguyễn Phước Cát Tường và cộng sự (2010) đã tiến hànhhiệu chỉnh và thích nghi thang đo nhằm phù hợp với văn hóa Việt Nam nói chung
và trên đối tượng HS –SV nói riêng Kết quả hiệu chỉnh cho thấy độ tin cậy củathang đo là r = 0,84 và tính hiệu lực cấu trúc cao được thể hiện ở trọng số ≥ 0,3 củacác câu thành phần; phương sai trích ≥ 50%, 0,5 ≤ KMO ≤ 1 và kiểm định Barlettevới p ≤ 0,05 Bên cạnh đó, tính hiệu lực hội tụ của thang đo cũng đạt tiêu chuẩn (r ≥0,3) Đồng thời, hầu hết các sinh viên tham gia khảo sát đều cho rằng lời hướng dẫnthực hiện và nội dung, câu chữ và từ ngữ trong thang đo rõ ràng, dễ hiểu Kết quảnày cho thấy CSI-40 sau khi chuẩn hóa trong bối cảnh văn hóa trường học tại ViệtNam có thể sử dụng được và đem lại kết quả chính xác, khoa học và khách quancho các đề tài nghiên cứu về hành vi ứng phó của sinh viên Ngoài ra, thang đo này
Trang 23đã được sử dụng trong một số nghiên cứu tại Việt Nam như “ Ứng phó với stress của sinh viên Đại học Y Dược – Đại học Huế” của Nguyễn Phước Cát Tường và
cộng sự (2010) [24], “Thực trạng và một số giải pháp nâng cao khả năng ứng phó
stress cho sinh viên” của Nguyễn Thị Diễm Hằng và cộng sự (2016) [7]
1.4 Nghiên cứu tại Việt Nam và trên Thế Giới về stress và ứng phó với stress 1.4.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Quá trình hồi cứu y văn với chủ đề stress hiện nay có khá nhiều nghiên cứuđược tiến hành như khảo sát tỉ lệ stress, tình hình stress trên nhiều đối tượng Tuynhiên, các nghiên cứu về cách ứng phó hiện nay còn khá ít, đặc biệt trên đối tượngsinh viên Một số nghiên cứu về stress trên sinh viên như : Nghiên cứu tại TrườngCao đẳng Y Khoa Seth GS nhận thấy sinh viên thường trải qua nhiều stress trongcác năm học (cấp học), trong đó 95% có dấu hiệu cảnh báo và 73% được báo cáo làthật sự gặp phải vấn đề stress Trong đó, nguyên nhân gây nên vấn đề là yếu tố họctập, lo lắng về kết quả học tập, áp lực thi cử Nghiên cứu cũng chỉ ra mối quan hệ từcác chỗ dựa xã hội như gia đình có ý nghĩa giúp giảm đi sự stress Nghiên cứu trênsinh viên Đài Bắc năm 2005 nhận thấy các nguyên nhân gây stress ở sinh viên như
áp lực từ kiểm tra, khối lượng bài vỡ quá lớn, kì vọng của cha mẹ, giáo viên
Đặc biệt tỉ lệ sinh viên y khoa bị stress là khá cao, nghiên cứu ở trường Đạihọc Benin, Nigeria cho thấy 86,0% sinh viên y khoa cảm thấy stress và 29,1% sinhviên y khoa bị mắc các bệnh tâm lý Nghiên cứu đoàn hệ ở trường Đại học y khoaGlasgow, Scotland trên sinh viên năm nhất cho thấy tỉ lệ sinh viên mắc các bệnh vềtâm lý tăng đáng kể giữa học kỳ 1 và học kỳ 3 Nguyên nhân chủ yếu liên quan đếnviệc học tập chứ không phải do bản thân sinh viên Trong môi trường học tập, sinhviên gặp vấn đề trong việc tương tác với giảng viên, bạn bè cũng cảm thấy stress.Nghiên cứu trên sinh viên y khoa ở Ai Cập, tỉ lệ bị stress ở sinh viên nam và sinhviên nữ là tương đương Sinh viên nam thường có cách ứng phó với stress tiêu cực(uống rượu, hút thuốc lá) [26] Một nghiên cứu khác trên sinh viên trường điềudưỡng tại Brunei cho thấy sinh viên lựa chọn tâm sự với bạn bè, chơi thể thao hoặcchỉ đơn giản là nghỉ ngơi để giải tỏa stress cho bản thân Đối với sinh viên trường y
Trang 24ở Nepal, sinh viên đối phó với stress bằng cách sắp xếp lại thời gian học tập – nghỉngơi, chấp nhận thực tế và tìm cách ứng phó tích cực.
Từ các nghiên cứu trên cho thấy, ở các nước, tỉ lệ sinh viên có vấn đề vềstress chiếm tỉ lệ khá cao (dao động từ 73,0 % đến 86,0 %), trong đó nguyên nhânchủ yếu gây stress là yếu tố học tập và thi cử, sự kì vọng của gia đình, nhà trường[50]
1.4.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam
Có 10 % đến 20 % trẻ em và thanh thiếu niên trên thế giới bị ảnh hưởng bởicác vấn đề sức khỏe về tâm thần và tự tử trở thành nguyên nhân gây tử vong thứ ba
ở vị thành niên Tỉ lệ trẻ em và trẻ vị thành niên Việt Nam có vấn đề SKTT là 8 %đến 29 % Viện Nghiên Cứu Phát Triển tiến hành điều tra thực trạng sức khỏe vềtâm thần của học sinh THPT tại Tp.HCM vào năm 2009 có khoảng 21,32% họcsinh có vấn đề SKTT Nghiên cứu của Nguyễn Cao Minh về tỉ lệ các vấn đề sứckhỏe tâm thần ở trẻ vị thành niên miền Bắc (2012) cho thấy tỉ lệ này là 18% Bêncạnh đó vấn đề lo âu, trầm cảm, stress là những vấn đề học sinh và lứa tuổi vị thànhniên đang có xu hướng gia tăng về tỉ lệ gặp phải, nghiên cứu của Lê Thị Thảo Nhutại Châu Thành, Tiền Giang năm 2017 trên học sinh khối 12 có 47% có stress, có43,6% gặp vấn đề về lo âu trong nghiên cứu của Ngô Thị Thu Hà và 35,4% họcsinh THPT thành phố Tân An qua sàng lọc bằng thang đo CES-D năm 2015 gặpvấn đề về trầm cảm Nghiên cứu của cử nhân YTCC Võ Văn Thương nhận thấy họcsinh khối 12 Tp.HCM có 57% gặp phải stress, 60% gặp phải vấn đề về lo âu và45% gặp phải vấn đề trầm cảm [18]
Một nghiên cứu trên sinh viên Cao Đẳng y tế Tiền Giang năm 2018 về thựctrạng stress, thu thập thông tin của 578 sinh viên cao đẳng (ngành Điều dưỡng vàDược sĩ) vào tháng 04/2018 qua phát phiếu tự điền Kết quả: Tổng số 275/578 sinhviên có nguy cơ stress, chiếm tỉ lệ 47,6 % Phần lớn sinh viên có nguy cơ stress ởmức độ nhẹ và vừa (33,5 %), tuy nhiên tỉ lệ sinh viên có nguy cơ stress nặng và rấtnặng cũng rất đáng quan tâm (13 %; 6,1 %) Sinh viên nữ có nguy cơ stress cao gấp4,7 lần sinh viên nam Tỉ lệ có nguy cơ stress cao nhất là ở nhóm sinh viên ngành
Trang 25Dược (71,6 %) Tỉ lệ và mức độ stress của sinh viên tăng dần theo từng năm học.
Tỉ lệ stress ở mức độ nặng chủ yếu tập trung ở sinh viên năm thứ ba (45,8%) Cácyếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê làm tăng nguy cơ stress của sinh viên gồm:năm học (năm thứ hai; năm thứ ba), tình trạng lo lắng về nghề nghiệp tương lai, kếtquả học tập từ trung bình khá trở xuống, không hài lòng về mối quan hệ với bố mẹ,thầy cô, lo lắng khoảng cách lớn giữa lý thuyết và thực hành (p<0,05) Sinh viên ydược có nguy cơ stress khá cao Hạn chế của nghiên cứu là nghiên cứu cắt ngangkhông xác định yếu tố nhân quả với các yếu tố liên quan và sử dụng bộ câu hỏi tựđiền sẽ đánh giá có sự chênh lệch, tỉ lệ bỏ sót câu hỏi cao hoặc cũng có thể nhiềusinh viên đánh giá với tâm thế đánh cho xong không mang tính khách quan của bộcâu hỏi
Theo một nghiên cứu được tiến hành trên 351 sinh viên Y năm đầu tiên tạitrường Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh năm 2008 có tới trên 60% sinh viên
bị stress do những áp lực từ việc học tập Ngoài ra, nghiên cứu còn chỉ ra những yếu
tố gây stress hàng đầu cho sinh viên thuộc về các yếu tố cá nhân, chương trình học
và môi trường Đồng thời các yếu tố khác như thiếu tham gia thể thao, hoạt độnggiải trí, mối quan hệ với cha mẹ và bạn bè cũng có liên quan đến tình trạng stresscủa sinh viên Cùng với tỉ lệ stress là 71,4% ở sinh viên khoa Y và Răng Hàm Mặt
đó là kết quả được tìm thấy trong một nghiên cứu của Trần Kim Trang và cộng sự(2011) [21] Song tại một số trường đại học ngoài Y thì vấn đề stress trong học tậpcũng được tìm thấy Đối với sinh viên nói chung và sinh viên y khoa nói riêng đềubiết được sự nguy hại của stress và đều có được những cách ứng phó riêng cho bảnthân Trong một nghiên cứu ở trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng, có những sinhviên tìm được cách ứng phó tốt như: gặp gỡ bạn bè nói chuyện, gặp người thân,nghe nhạc Nhưng cũng có nhiều sinh viên có cách ứng phó chưa hiệu quả và có hạinhư hút thuốc hay sử dụng chất kích thích, đập phá đồ đạc hay chat, chơi game, đilang thang, cá độ, tìm cảm giác phiêu lưu [1] Một nghiên cứu về cách ứng phó ởsinh viên Đại học quốc gia Hà Nội mô tả khái quát về cách thức ứng phó với stress
ở sinh viên cho thấy sinh viên thường ứng phó theo hướng giải tỏa cảm xúc thông
Trang 26qua nghỉ ngơi, thư giãn Điều này khiến bản thân sinh viên cảm thấy dễ chịu hơntrước các sự kiện gây stress [17].
Trong một nghiên cứu về stress và cách ứng phó với stress của tác giảNguyễn Võ Phương Trang, khảo sát 500 phiếu trên học sinh THPT chuyên Lê HồngPhong năm 2018 nhận thấy học sinh có tình trạng stress cấp tính chiếm tỉ lệ cao và
có nhiều học sinh gặp phải stress ở mức độ cảnh báo Tỉ lệ stress chiếm 28,4% số
HS được khảo sát, trong đó stress mức độ nhẹ chiếm 21,4%, mức độ stress nặng
chiếm 7% Học sinh THPT có khá nhiều cách ứng phó với stress như “giải quyết vấn đề” được HS sử dụng thường xuyên nhất (TB=2,6 ; ĐLC 0,6); ngược lại, “lãng tránh vấn đề” được sử dụng ít nhất (TB=1,9 ; ĐLC 0,7) Những HS bị stress càng
nặng càng ít khả năng ứng phó với stress “Mơ tưởng” là cách ứng phó mà các em
HS stress mức độ nặng sử dụng thường xuyên nhất (TB=3,3 với p<0,001) Ngượclại, HS không mắc stress lại biết cách tận dụng những cách ứng phó thuộc nhóm
“đối đầu” – nhóm được đánh giá là tốt trong việc ứng phó với stress Những yếu tố
liên quan đến cách thức ứng phó với stress : Nhóm học sinh không có chức vụ được
ghi nhận là có xu hướng sử dụng cách ứng phó “mơ tưởng” thường xuyên nhất và
nhiều hơn nhóm HS có giữ chức vụ (TB=2,6 với p=0,047) Học sinh có mối quan
hệ tốt với giáo viên có xu hướng sử dụng cách ứng phó thuộc nhóm “đối đầu” gồm
“giải quyết vấn đề”,“cấu trúc lại nhận thức” và “tìm kiếm chỗ dựa xã hội” (với lần
lượt p=0,001, p<0,001, p=0,005) Học sinh có mối quan hệ tốt với bạn bè sử dụng
cách ứng phó “cấu trúc lại nhận thức” và “tìm kiếm chỗ dựa xã hội” (p=0,012 và
p=0,005) Học sinh thường xuyên lo lắng, bồn chồn trước kỳ thi diễn ra có xu
hướng ứng phó với vấn đề bằng cách thức “mơ tưởng” thường xuyên nhất (TB=2,7 với p<0,001) và kế đến là cách ứng phó “đổ lỗi bản thân” Học sinh có ba mẹ thường xuyên đặc chỉ tiêu học tập có cách ứng phó “mơ tưởng” và “đổ lỗi bản thân” với tần suất tương đối cao (lần lượt TB=2,7 với p<0,001 và TB =2,4 với
p<0,001) Học sinh thường xuyên lo lắng về kinh tế gia đình sử dụng cách ứng phó
“mơ tưởng” thường xuyên nhất (TB=2,8 với p<0,001), tiếp theo là “cô lập” và “đổ lỗi bản thân” (lần lượt TB=2,5 với p<0,001 và TB=2,5 với p=0,002) Học sinh
Trang 27thường xuyên tạo áp lực bản thân có tần suất sử dụng những cách thức ứng phó tiêu
cực khá cao, cao nhất là cách ứng phó “mơ tưởng” (TB=2,7 với p<0,001) Học sinh
có mức độ tâm sự với bạn bè thường xuyên hơn có tần suất sử dụng cách ứng phó
“tìm kiếm hỗ trợ xã hội” và “bộc lộ cảm xúc” nhiều hơn Học sinh thường xuyên tham gia hoạt động ngoại khóa sử dụng cách ứng phó thuộc nhóm “đối đầu” nhiều
hơn, nhóm được xem là hiệu quả khi phải đối mặt với stress [20]
Bên cạnh đó, nghiên cứu về ứng phó với stress trên sinh viên trường Đại họcQuảng Bình nhận thấy sinh viên ứng phó khá hiệu quả với stress bằng các cách
“giải quyết vấn đề” và “cấu trúc lại nhận thức”; nhờ đó, mức độ stress của họ khôngquá cao Tuy vậy, việc sử dụng các cách ứng phó không hiệu quả với tần suất tươngđối cao khiến các cách ứng phó trên giảm thiểu tính tích cực của chúng Đặc biệt,khi những căng thẳng do các tác nhân liên quan đến học tập, gia đình, các mối quan
hệ hoặc bản thân càng lớn thì SV lại có khuynh hướng sử dụng các cách ứng phókém hiệu quả Tinh thần lạc quan và chỗdựa xã hội có ảnh hưởng khá lớn đến việc
sử dụng các cách ứng phó Những SV có chỗ dựa xã hội tốt và tinh thần lạc quanthường sử dụng các cách ứng phó hiệu quả hơn Tuy vậy, SV vẫn chưa tìm đến cácchỗ dựa xã hội giàu kinh nghiệm sống, thiết thực và có chuyên môn nghiệp vụ đểnhận được các hỗ trợ có lợi Bên cạnh đó, trong một số trường hợp tinh thần lạcquan không dựa trên cơ sở đánh giá đúng thực tế khiến SV thường mơ tưởng khiđối diện với các tình huống gây căng thẳng Mặt khác, trạng thái lo âu căng thẳngkhiến sinh viên gia tăng stress Nghiên cứu chân dung điển hình càng cho thấy tácđộng rõ rệt của nhận thức, của tinh thần lạc quan, chỗ dựa xã hội trong mối tươngquan với các cách ứng phó đến mức độ stress của sinh viên [8]
Từ các nghiên cứu trên cho thấy, ở Việt Nam, tỉ lệ học sinh THPT gặp phảicác vấn đề về sức khỏe tâm thần khá cao (21.32%) [5] Riêng ở khu vực miền Nam,trên đối tượng học sinh lớp 12, tỉ lệ học sinh có stress dao động từ 47% đến 57%,gặp vấn đề về lo âu dao động từ 43,6% đến 60%, có vấn đề về trầm cảm dao động
từ 35,4% đến 45% Trên sinh viên Y khoa, tỉ lệ này cao hơn trong học sinh, có đếnkhoảng 60 – 71,4% sinh viên có vấn đề về stress [21] Phương pháp ứng phó stress
Trang 28chủ yếu được giới học sinh, sinh viên lựa chọn và mang lại hiệu quả, đó chính là
“giải quyết vấn đề” và “cấu trúc lại nhận thức”, tuy nhiên còn nhiều yếu tố khác tácđộng khiến các cách thức ứng phó trên giảm thiểu tính tích cực của chúng[8]
1.5 Sơ lược về địa điểm và đối tượng nghiên cứu
Trường Cao đẳng Bách khoa Nam Sài Gòn Thành phố Hồ Chí Minh đượcthành lập trên cơ sở nâng cấp Trung tâm dạy nghề Quận 8 thành Trường Trung họcnghề Quận 8, sau đó đổi tên thành trường Trung học Kỹ thuật và Nghiệp vụ NamSài Gòn, sau đó được nâng cấp lên thành Trường Trung cấp Kỹ thuật và Nghiệp vụNam Sài Gòn và hiện nay là Trường Cao đẳng Bách khoa Nam Sài Gòn Trườnggồm có 7 khoa: khoa du lịch, khoa điện - điện tử, khoa cơ khí - xây dựng, khoa kinh
tế luật, khoa công nghệ thông tin, khoa sư phạm mầm non - nữ công, khoa y dược.Gồm 1145 sinh viên năm nhất, số sinh viên năm hai là 408, sinh viên năm 3 là 270.Tổng số 1823 sinh viên đang theo học tại trường, bao gồm cả các lớp ban ngày,cũng như các lớp ban đêm, từ hệ cao đẳng, vừa học học vừa làm, sơ cấp Cho thấy
sự đa dạng trong đào tạo ở nhiều lĩnh vực của trường Sinh viên của trường sẽ lànhững người làm chủ của đất nước với vốn kiến thức và trải nghiệm xã hội củamình Tuy nhiên, cuộc sống chúng ta luôn phải tiếp nhận các vấn đề tốt có, xấu có
và có cả những stress, sinh viên đối tượng đang phải chịu nhiều áp lực từ chính cảviệc học, việc làm trong lai, hay từ môi trường sống, tình cảm bạn bè, tình cảm vớinhững bạn khác giới, nhiều yếu tố tác động đến sức khỏe tâm thần, đặc biệt giaiđoạn đầu của các vấn đề stress là stress Nếu không có ai để chia sẻ, giúp đỡ thìnhững đối tượng này có thể rơi vào tình trạng không tập trung học hành, chán học,
bỏ học, tham gia các tệ nạn xã hội, tự cô lập bản thân do không giải quyết được cácvấn đề khó khăn của bản thân, hay nghiêm trọng hơn là trầm cảm, tự kỉ, tự cách lybản thân với mọi người với xã hội và hơn hết là tìm đến giải quyết vấn đề là tự tử.Cho nên cần tiến hành các nghiên cứu trên đối tượng sinh viên để tìm hiểu nhu cầuthật sự và xây dựng các mô hình ứng phó với stress là cần thiết
Mặc dù khác nhau về thời gian cũng như chương trình đào tạo, tuy nhiênmục đích cuối cùngthì những sinh viên theo học các ngành này cũng trở thành
Trang 29những người có ích cho xã hội Với khối lượng chương trình tương đối nặng, sinhviên cho rằng lịch học khá dày đặc, cường độ học tập cao, áp lực thi cử cộng vớilịch thực tập tại các đơn vị khác nhau Điều này có thể ảnh hưởng đến tình trạng sứckhoẻ và tâm lý chung của sinh viên Cùng với đó, nhiều trường đã mở rộng đào tạocác ngành học này, cũng tạo nên sự cạnh tranh, lo lắng về vấn đề việc làm sau khi ratrường là khó tránh khỏi, cùng với tính chất của ngành nghề bên cạnh phải có kiếnthức và kỹ năng thực hành, gây ra nhiều áp lực cho các sinh viên Chính vì lẽ đó,nghiên cứu này được tiến hành giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan về stress, ứngphó với stress của sinh viên nói chung, giúp các nhà hoạch định chính sách có cáinhìn bao quát và mới mẻ trên đa dạng các ngành học, sinh viên nhiều ngành nghề từkhoa học, xã hội hay y học dựa trên sự đào tạo đa ngành của trường Cao Đẳng BáchKhoa Nam Sài Gòn.
Tóm lại
Stress là một khái niệm đa bình diện, nó có thể được tiếp cận dưới ba góc độsinh lý - xã hội và tâm lý Trong đề tài này, chúng tôi tiếp cận stress dưới góc độtâm lý, nghĩa là nhấn mạnh đến sự tương tác giữa nhận thức, hành vi ứng phó của cánhân đến các sự kiện gây stress Ứng phó là một khái niệm phức tạp và nó được tiếpcận dưới nhiều góc độ khác nhau Chúng tôi tiếp cận chúng theo quan điểm củaGarcia và cộng sự (2007), trong đó xem xét ứng phó là một chuỗi tương tác liên tụccủa con người với môi trường bao gồm từ nhận thức, cảm xúc và hành vi phản ứngcủa con người trước một sự kiện gây căng thẳng Không có sự thống nhất trong việcphân loại ứng phó Tùy vào mục đích và đối tượng nghiên cứu cụ thể mà mỗi tácgiả có cách phân loại khác nhau Trong nghiên cứu này, chúng tôi phân loại ứngphó theo quan điểm của Tobin và cs (1989) với 8 loại: giải quyết vấn đề, cấu trúc lạinhận thức, bộc lộ cảm xúc, tìm kiếm hỗ trợ xã hội, lãng tránh vấn đề, mơ tưởng, đổlỗi cho bản thân và cô lập bản thân Có nhiều yếu tố khách quan và chủ quan ảnhhưởng đến quá trình ứng phó với stress của cá nhân Trong nghiên cứu này, chúngtôi chú trọng đến mối quan hệ của chỗ dựa tác động đến cách ứng phó của sinhviên SV có nhiều đặc điểm tâm lý cơ bản Trong đó, đặc điểm các hoạt động học
Trang 30tập, giao tiếp, tình cảm bạn bè, tình yêu và khả năng tự ý thức đều tiềm tàng các tácnhân gây stress đòi hỏi SV phải có năng lực ứng phó.
Trang 31CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Thiết kế nghiên cứu
- Nghiên cứu mô tả cắt ngang
- Thời gian: từ 12/2019 đến 07/2020
- Địa điểm: Trường Cao Đẳng Bách Khoa Nam Sài Gòn Thành phố Hồ Chí Minh
2.2 Đối tượng nghiên cứu
2.2.1 Dân số mục tiêu
Tất cả sinh viên đang theo học tại trường Cao Đẳng Bách Khoa Nam SàiGòn Thành phố Hồ Chí Minh
2.2.2 Dân số nghiên cứu
Sinh viên đang theo học 7 khoa thuộc 3 ngành học (ngành khoa học xã hội
và nhân văn: Du lịch, Kinh tế Luật, Nữ công – Sư phạm mầm non ; ngành Khoahọc tự nhiên: Điện – Điện tử, Cơ khí – Xây dựng, Công nghệ thông tin; Ngành ydược: Y dược) của Trường Cao Đẳng Bách Khoa Nam Sài Gòn Thành phố Hồ ChíMinh vào thời điểm nghiên cứu
▪ n: cỡ mẫu cần thiết cho nghiên cứu (đơn vị: sinh viên)
▪ α: xác suất sai lầm loại 1 (α=0,05)
▪ z(1-α/2) = 1,96: trị số tính từ phân phối chuẩn với độ tin cậy 95%
▪ p= 0,21 (Tỉ lệ vị thành niên từ 17 đến 19 tuổi mắc stress theo SAVY II) [96]
▪ d: sai số biên (d=0,05)Nghiên cứu này sử dụng phương pháp chọn mẫu cụm, nên cỡ mẫu tính được
sẽ nhân với hệ số thiết kế mẫu là 1,5 để có được cỡ mẫu cần thiết; đồng thời dựphòng 5% mất mẫu Như vậy, cỡ mẫu cần lấy là 402 sinh viên
Trang 32Áp dụng kĩ thuật chọn mẫu nhiều bậc
- Khoa có nhiều lớp nhất của trường là khoa du lịch với 9 lớp, ít lớp nhất làkhoa điện – điện tử với 2 lớp
- Chọn mẫu theo trình tự sau đây:
Bậc 1: Chọn khoa tham gia nghiên cứu: tuy nhiên để tăng tính đa dạng về đốitượng cho nghiên cứu, nghiên cứu sẽ khảo sát tất cả các khoa
Bậc 2: Mỗi lớp trong khoa được xem là 1 cụm, tất cả sinh viên của lớp đượcchọn đều được mời tham gia nghiên cứu Phân tầng theo khoa, mỗi khoa chọn ngẫunhiên 2 lớp, đối với khoa chỉ có 2 lớp sẽ chọn hết 2 lớp tham gia nghiên cứu Chọnlớp dựa trên phép tính radom ngẫu nhiên trên máy tính Chọn được các lớp như sau:
năm 1
Số lượng
Lớp năm 2
Số lượng Lớp năm 3
Số lượng
Khoa du lịch HDDLK
10-CS CBTP2 K5-CS
25
21
CBTP2K3CS CBTP1K3CS
10 12
Khoa điện –
điện tử
ĐCNK1 0-CS CĐTK1 0-CS
13
21
CS
Trang 33Khoa năm 1 Lớp lượng Số Lớp năm 2
Số lượng Lớp năm 3 lượng Số
CNKTC KK3CS
31
29
VTKMTK8CS MPCK8-CS
17 6
Khoa nữ công
– sư phạm
mầm non
SPMN3 K7 TM3K1 1
38 21
SPMN2K 6PT SPMN3K 6PT
34 39
KhoaY dược CĐ18Đ
D1 CĐ18Đ D2
23
25
PT YS1K7- PT
ĐD1K9-46
30
Kết quả số sinh viên được chọn: 608 sinh viên
2.4 Phương pháp thu thập số liệu
2.4.1 Công cụ thu thập số liệu
Sử dụng bộ câu hỏi soạn sẵn gồm 7 phần Bộ câu hỏi được phát ra vào giờsinh hoạt lớp và được thu lại khi xong trong buổi sinh hoạt Sinh viên được trả lời
bộ câu hỏi ngay tại lớp học dưới sự giám sát của giảng viên chủ nhiệm và điều traviên
▪ Phần A: Các yếu tố cá nhân Gồm 23 câu hỏi
▪ Phần B: Các yếu tố gia đình Gồm 5 câu hỏi
▪ Phần C: Các yếu tố nhà trường Gồm 7 câu hỏi
Trang 34▪ Phần D: Bảng tự cảm nhận stress Thang đo PSS-10, 10 câu đo lường sự tựcảm nhận về stress.
▪ Phần E: Các chỗ dựa xã hội Gồm 12 câu
▪ Phần F: Ứng phó với stress Gồm 40 câu hỏi từ bảng kiểm Chiến lược ứng phó(Coping Strategies Inventory - CSI-40 của Garcia và cộng sự (2007)
▪ Phần H: Câu hỏi mở rộng Gồm 5 câu hỏi mở mà sinh viên tự điền câu trả lờitheo ý kiến cá nhân
2.4.2 Kỹ thuật thu thập số liệu
Liên hệ với giảng viên chủ nhiệm của những lớp đã được chọn vào tiết sinhhoạt chủ nhiệm, giải thích rõ tính bảo mật, quyền lợi mà nghiên cứu mang lại chosinh viên Sau đó, nghiên cứu viên phát bộ câu hỏi tự điền cho tất cả các sinh viêntrong lớp dưới sự giám sát và chấp thuận của người giảng viên chủ nhiệm, đồngthời giải đáp mọi thắc mắc trước khi sinh viên trả lời bộ câu hỏi và sau đó thu lại
2.5 Liệt kê và định nghĩa biến số
2.5.1.Biến số nền
- Năm học hiện tại Được tính vào thời điểm thực hiện khảo sát mà đối tượng
đang theo học 2019 - 2020 Là biến số thứ tự, gồm 2 giá trị : năm 1, năm 2, năm3
- Giới tính Là sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam giới và nữ giới, được ghi
rõ trong chứng minh nhân dân Là biến số nhị giá, gồm 2 giá trị : Nam, nữ
- Dân tộc Là biến số lấy kết quả ghi trong giấy khai sinh Là biến số danh định,
gồm 2 giá trị : Kinh, Khác
- Học lực : Là xếp loại học lực học kì gần nhất của sinh viên tính từ thời điểm
thực hiện điều tra Đây là biến số thứ tự, gồm 4 giá trị : Giỏi (≥ 8,0), khá (6,5
-<8,0), trung bình (5,0 - <6,5), dưới trung bình (<5,0)
- Nơi ở Là nơi ở chính hiện tại của đối tượng tại thời điểm điều tra: biến số danh
định gồm 4 giá trị : Nhà gia đình, nhà người thân, nhà trọ, kí túc xá
- Áp lực về nơi ở hiện tại: Là biến số nhị giá, gồm 2 giá trị : Không, có.
Trang 35- Áp lực đó là : Là biến số danh định, gồm 4 giá trị: Nơi ở ồn ào, nơi ở chật hẹp,
không thoải mái, mối quan hệ với người sống chung, khác
- Khoa: sinh viên đang theo học theo chuyên ngành tại trường Là biến số danh
định với 7 giá trị: Khoa du lịch, khoa điện – điện tử , khoa cơ khí – xây dựng,khoa kinh tế - luật, khoa công nghệ thông tin, khoa sư phạm mầm non–nữ công,khoa y dược
2.5.2 Biến số đặc điểm cá nhân
- Làm thêm: Đối tượng được xác định là có đi làm thêm nếu hiện tại, ngoài thời
gian học tập có làm thêm bất kỳ một công việc có tạo ra thu nhập Là biến số nhịgiá gồm 2 giá trị có và không
- Áp lực vừa làm thêm vừa học: Là biến số nhị giá, gồm 2 giá trị có và không
- Mức độ hài lòng về thu nhập trung bình hàng tháng cá nhân: Là nhị giá gồm
2 giá trị : có, không
- Hài lòng về mối quan hệ với bạn bè: Là biến số nhị giá gồm 2 giá trị: có,
không
- Người yêu: Là biến số nhị giá gồm 2 giá trị: có, không.
- Số giờ ngủ trung bình: Được đánh giá qua trung bình giờ ngủ của cá nhân
trong 1 ngày Là biến nhị giá gồm 2 giá trị: <8 giờ/ngày; ≥8 giờ/ngày
- Sử dụng thuốc lá: Là tình trạng sinh viên sử dụng thuốc lá trong giai đoạn
trước đây và hiện tại, là biến số nhị giá, gồm 2 giá trị: có hút, không hút
- Tần suất sử dụng rựơu bia Biến số nhị giá, gồm 2 giá trị: có, không.
- Mức độ tham gia các hoạt động thể thao Được hiểu là tham gia các hoạt động
thể dục thể thao, các hoạt động ngoại khóa từ 30 phút trở lên, là biến số nhị giá:
có, không
- Thời gian sử dụng internet: Là tổng số thời gian mà đối tượng sử dụng các
ứng dụng (chơi game, internet, mạng xã hội,…) trong một ngày Dưới 2 giờ, Từ
2 trở lên
- Cảm thấy áp lực về việc làm sau tốt nghiệp: Là biến số nhị giá gồm 2 giá trị:
có, không
Trang 362.5.3 Biến số yếu tố gia đình
- Tình trạng hôn nhân của cha mẹ: Là biến số danh định gồm 3 giá trị : Sống
chung, ly thân/ly hôn, khác
- Cảm nhận kinh tế gia đình: Là biến danh định, gồm 3 giá trị khá giả, đủ sống,
khó khăn
- Tần suất gây áp lực về học tập của gia đình: Không bao giờ, hiếm khi, thường
xuyên
- Thảo luận vấn đề cá nhân với cha mẹ: Là biến số thứ tự gồm 3 giá trị: Không
bao giờ, hiếm khi, thỉnh thoảng
- Mức độ hài lòng của bạn về mối quan hệ của mình với gia đình Là danh
định giá gồm 3 giá trị : Rất hài lòng, hài lòng, không hài lòng
2.5.4 Biến số yếu tố nhà trường
- Số lượng các môn học ở trường Là biến số thứ tự gồm 3 giá trị: Quá nhiều,
nhiều, bình thường
- Tần suất thi: là biến số thứ tự gồm 3 giá trị : quá nhiều, nhiều, bình thường.
- Thường thi rớt/ nợ môn/ thi lại: là biến số thứ tự : không có môn nào, từ 1 đến
3 môn, trên 3 môn
- Kế hoạch học tập: là biến số danh định gồm 4 giá trị : tuần , tháng, năm, không
có
- Năng lực bản thân so với bạn bè trong học tập: là biến số danh định, gồm 4
giá trị: cao, bằng bạn, thấp, không so sánh
- Mối quan hệ của bạn với giáo viên: Là biến số danh định, gồm 3 giá trị : tốt ,
bình thường, không quan tâm
2.5.5 Yếu tố chỗ dựa xã hội
- Chỗ dựa xã hội là biến số định lượng được tính bằng cách cộng điểm của cáccâu hỏi thành phần, nhằm xác định chỗ dựa xã hội như bạn bè, gia đình, haynhững mối quan hệ đặc biệt khác
- Chỗ dựa là gia đình: Là biến số định lượng (các câu 3, 4, 8, 11)
Trang 37- Chỗ dựa từ bạn bè: Là biến số định lượng (câu 6, 7, 9, 12 )
- Chỗ dựa từ các nguồn đặc biệt khác do chính sinh viên cảm nhận là biến số địnhlượng (câu 1, 2, 5, 10)
2.5.6 Biến số kết cuộc
- Mức độ stress: Được xác định dựa trên thang đo PSS-10 qua hình thức chấm
điểm cho câu trả lời Là biến số nhị giá, gồm 2 giá trị là có stress (khi tổng điểm
từ 24 điểm trở lên) và không stress (khi tổng điểm dưới 24 điểm).
- Các cách ứng phó:
Được xác định dựa trên bảng kiểm Chiến lược ứng phó (CSI) [36] là biến số danhđịnh, gồm 8 giá trị:
(1) Giải quyết vấn đề (là trung bình cộng của các câu 01, 09, 17, 25, 33);
(2) Cấu trúc lại nhận thức (là trung bình cộng của các câu 06, 14, 22, 30, 38); (3) Bộc lộ cảm xúc (là trung bình cộng các câu 03, 11, 19, 27, 35);
(4) Tìm kiếm chỗ dựa xã hội (là trung bình cộng các câu 05, 13, 21, 29, 37); (5) Lãng tránh vấn đề (là trung bình cộng các câu 07, 15, 23, 31, 39);
(6) Mơ tưởng (là trung bình cộng các câu 04, 12, 20, 28, 36);
(7) Đổ lỗi cho bản thân (là trung bình cộng các câu 02, 10, 18, 26, 34);
(8) Cô lập bản thân (là trung bình cộng các câu 08, 16, 24, 32, 40).
2.6 Kiểm soát sai lệch
2.6.1 Kiểm soát sai lệch chọn lựa
- Nhằm hạn chế sai lệch chọn lựa, chúng tôi đã định nghĩa rõ ràng đối tượng cầnkhảo sát dựa vào tiêu chí chọn vào và tiêu chí loại ra Các cộng tác viên cũngđược tập huấn và thống nhất các định nghĩa này trước khi chọn mẫu Sau đó, thuthập dữ kiện ngay tại lớp được chọn theo phương pháp chọn mẫu
- Danh sách lấy mẫu được xin từ phòng công tác chính trị học sinh sinh viên CaoĐẳng Bách Khoa Sài Gòn năm học 2019 - 2020
- Tuân thủ chặt chẽ tiêu chí chọn vào và loại ra của đối tượng nghiên cứu
Trang 382.6.2 Kiểm soát sai lệch thông tin
- Thực hiện nghiên cứu thử và chỉnh lại bộ câu hỏi cho phù hợp trên sinh viêncao đẳng hệ chính quy
- Định nghĩa rõ ràng và cụ thể các biến số Đảm bảo tính khuyết danh, khuyếnkhích sinh viên trả lời trung thực đầy đủ bộ câu hỏi
2.7 Phương pháp phân tích thống kê
Sau khi thu thập dữ kiện, nghiên cứu viên tiến hành rà soát và phân loại theotừng khối lớp, loại những bộ câu hỏi trắng (xem như đối tượng vắng mặt trong ngàynghiên cứu, phù hợp với tiêu chí loại ra) và thống kê lại số lượng mẫu thu được.Tiếp đó, nghiên cứu viên tiến hành nhập liệu bằng phần mềm Epidata 3.1 và xử lý
số liệu bằng phần mềm R 4.0.2
2.7.1 Thống kê mô tả
Lập bảng tần suất và % để xem xét sự phân bố của các giá trị
Biến số định tính: tần số và tỉ lệ phần trăm
Biến số định tính: tần số và tỉ lệ phần trăm theo có stress, không stress
Điểm trung bình: để tính điểm đạt được của từng nhân tố cũng như của từng nhómnhân tố
Độ lệch chuẩn: để đánh giá mức độ phân tán hoặc thay đổi của điểm số xung quanhgiá trị trung bình
2.7.2 Thống kê phân tích
Kiểm định t để so sánh điểm trung bình cách thức ứng phó với các biến nhịgiá Kiểm định ANOVA và Kiểm định Kruskal Wallis để so sánh điểm trung bìnhcách thức ứng phó với các biến số danh định
Sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính đơn biến, đa biến, mô hình hồi quy tuyếntính đa biến và tương tác cho các yếu tố: Biến số nền, yếu tố gia đình, yếu tố nhàtrường Sử dụng tương quan Spearman cho các yếu tố: đặc điểm cá nhân, chỗ dựa
xã hội, ứng phó stress Đánh giá tầm quan trọng của các cách ứng phó với stress vàcác yếu tố đóng góp vào ứng phó với stress [23]
Trang 392.8 Đạo đức nghiên cứu
Đảm bảo quyền lợi, sự thoải mái cho đối tượng tham gia nghiên cứu Trướckhi lấy đồng ý tham gia của đối tượng, nhà nghiên cứu giải thích rõ về mục tiêu, lợiích và cách thức thực hiện của nghiên cứu Chỉ thu thập thông tin từ sinh viên saukhi đã được giảng viên chủ nhiệm chấp thuận Tôn trọng sự tự nguyên tham gia củađối tượng, không ép buộc, điều này có nghĩa đối tượng có thể dừng tham gia nghiêncứu bất cứ lúc nào
Trước và trong quá trình thu thập số liệu bằng bộ câu hỏi tự điền, đối tượngđược giải thích một cách rõ ràng các thắc mắc về nghiên cứu Các câu hỏi trongnghiên cứu không xâm phạm đến quyền tự do và cá nhân của đối tượng tham gia
Những thông tin đối tượng cung cấp sẽ được giữ bí mật và chỉ phục vụ chomục đích nghiên cứu Những kết quả được công bố sau khi hoàn thành đề tài sẽkhông nêu bất kì thông tin nào của đối tượng nghiên cứu
Đảm bảo đủ thời gian để sinh viên hoàn thành phiếu khảo sát, tránh làm ảnhhưởng đến việc học tập/thi cử của sinh viên
Đề cương nghiên cứu đã được chấp thuận về mặt y đức trong nghiên cứu từHội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y Sinh Học Đại Học Y Dược Thành phố Hồ
Chí Minh số 112/HĐĐĐ kí ngày 14/02/2019.
Trang 40CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ
Trong tổng số 530 bộ câu hỏi được phát ra, thu lại 495 bộ câu hỏi Đạt tỉ lệphản hồi 93,4% Trong đó, loại 25 bộ câu hỏi làm không hoàn thiện, 30 bộ câu hỏiđối tượng không đồng ý tham gia nghiên cứu, còn lại 440 bộ câu hỏi hợp lệ đưa vàonghiên cứu