Lấy con người với chất lượng cuộc sống tốt đẹp hơn làm mục tiêu hướng đến, việc nghiên cứu, tìm hiểu về stress cũng như tìm kiếm các giải pháp nhằm giảm số lượng và cường độ của các tác
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trương Kim Huyền Trân
BIỂU HIỆN STRESS
Ở NGƯỜI CÓ HIV/AIDS TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trương Kim Huyền Trân
BIỂU HIỆN STRESS
Ở NGƯỜI CÓ HIV/AIDS TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Tâm lí học
Mã số: 60 31 04 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Thành phố Hồ Chí Minh – 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của tôi
Các số liệu, kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào khác
Bài nghiên cứu được cân nhắc cẩn trọng và tuân thủ theo các nguyên tắc về đạo đức trong nghiên cứu
Người thực hiện luận văn
Trương Kim Huyền Trân
Trang 4Xin được gửi chút lòng bé nhỏ đến Lm Gioan B Phương Đình Toại, M.I cùng
mẹ đỡ đầu Angès Trương Ngọc Nga Những người đã cho tôi nguồn cảm hứng về tinh thần phục vụ những con người đang đau khổ vì bệnh tật
Kế đến tôi xin gửi lời cảm ơn đặc biệt đến BS CK1 Nguyễn Đức Minh – Trưởng Phòng Kế hoạch Tổng hợp – Bệnh viện Quận Tân Phú, dù bận rộn nhưng vẫn tận tình tư vấn và giúp đỡ tôi trong giai đoạn tìm nơi thực hiện đề tài
Không thể không gửi lời tri ân sâu sắc đến BS CK1 Vũ Tuấn Khanh - Trưởng Khoa Tham vấn và Hỗ trợ cộng đồng Quận Tân Bình và Y sĩ Trần Thị Thu Thảo, cùng tập thể các anh chị đang công tác tại Khoa vì đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Tôi xin cảm ơn Lm Luy Gonzaga Maria Phạm Đăng Quang, I.J vì những lời động viên và hỗ trợ về mặt tinh thần Xin cảm ơn Tu sĩ Phero Phanxico Maria Lê Văn Hoàng, I.J Xin cảm ơn thầy đã bỏ ra thời gian đưa tôi cùng len lỏi khắp các con đường, ngõ hẻm để đến viếng thăm các gia đình
Đặc biệt, xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các anh, chị, em, những người bạn mới quen đang sống cùng với H vì đã chia sẻ những suy nghĩ, cảm xúc và những trăn trở của cuộc sống
Xin cảm ơn ba mẹ và hai em vì mãi là hậu phương vững chắc, là chốn bình yên sau mỗi ngày làm việc trở về
Trương Kim Huyền Trân
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ vi
DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỂU HIỆN STRESS Ở NGƯỜI CÓ HIV/AIDS 5
1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề về stress 5
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề ở nước ngoài 5
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề ở Việt Nam 10
1.2 Cơ sở lý luận về biểu hiện stress ở người có HIV/AIDS 13
1.2.1 Lý luận về stress 13
1.2.2 Những vấn đề về HIV/AIDS 23
1.2.3 Biểu hiện stress ở người trưởng thành có HIV/AIDS 31
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BIỂU HIỆN STRESS Ở NGƯỜI CÓ HIV/AIDS TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 43
2.1 Tổ chức nghiên cứu và đạo đức nghiên cứu 43
2.1.1 Quá trình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 43
2.1.2 Đặc điểm mẫu khách thể nghiên cứu 49
2.2 Kết quả nghiên cứu 50
2.2.1 Mức độ stress của người sống cùng với HIV/AIDS 51
2.2.2 Biểu hiện stress ở người có HIV/AIDS 61
2.2.3 Nguyên nhân gây ra stress ở người có HIV/AIDS 76
2.2.4 Một số biện pháp hỗ trợ để giúp người có H có cuộc sống tinh thần tích cực hơn 94
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 99
Trang 61 Kết luận 99
2 Kiến nghị 101
3 Hạn chế của nghiên cứu 103
4 Hướng nghiên cứu tiếp theo 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
PHẦN PHỤ LỤC 111
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
AIDS Acquired immune deficiency syndrome – Hội chứng suy giảm miễn
dịch mắc phải
ARV Antiretroviral – Thuốc kháng retrovirus
CD4 & CD8 Cluster of differentiation 4 & 8 – Tế bào T lympho thuộc bạch huyết
N Number of valid observations for the variable - Tổng số quan sát
UNAIDS The Joint United Nations Programme on HIV/AIDS - Chương trình
phối hợp của Liên Hiệp Quốc về HIV/AIDS WHO World Health Organization – Tổ chức Y tế Thế giới
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Mức độ stress toàn mẫu 51
Biểu đồ 2.2: So sánh mức độ stress giữa nam và nữ (theo tỷ lệ %) 52
Biểu đồ 2.3: So sánh mức độ stress theo nhóm hành vi nguy cơ 60
Biểu đồ 2.4: So sánh thứ bậc của các mặt biểu hiện stress 64
Biểu đồ 2.5: So sánh thứ bậc các nhóm nguyên nhân gây stress 78
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
Bảng 2.1: Địa điểm khảo sát 49
Bảng 2.2: Khái quát về 117 ca khảo sát 49
Bảng 2.3: Kết quả thống kê mô tả về tuổi, số con cái và thời gian sống cùng với H 50
Bảng 2.4: Mức độ stress toàn mẫu 51
Bảng 2.5: Mức độ stress theo giới tính 52
Bảng 2.6: Kiểm định trị trung bình - Mức độ stress theo giới tính 53
Bảng 2.7: Mức độ stress theo độ tuổi 53
Bảng 2.8: Phân tích ANOVA –Mức độ stress theo độ tuổi 54
Bảng 2.9: Mức độ stress theo tình trạng sức khỏe 54
Bảng 2.10: Phân tích ANOVA – Mức độ stress theo tình trạng sức khỏe 55
Bảng 2.11: Mức độ stress theo tình trạng hôn nhân 55
Bảng 2.12: Phân tích ANOVA – Mức độ stress theo tình trạng hôn nhân 56
Bảng 2.13: Mức độ stress theo tình trạng HIV+ của con cái 57
Bảng 2.14: Phân tích ANOVA – Mức độ stress theo tình trạng việc làm 57
Bảng 2.15: Mức độ stress theo tình trạng việc làm 58
Bảng 2.16: Mức độ stress theo điều kiện kinh tế 58
Bảng 2.17: Phân tích ANOVA – Mức độ stress theo điều kiện kinh tế 59
Bảng 2.18: Mức độ stress theo hành vi nguy cơ 59
Bảng 2.19: Phân tích ANOVA – Mức độ stress theo hành vi nguy cơ 60
Bảng 2.20: Điểm trung bình của các mặt biểu hiện của stress 63
Bảng 2.21: Biểu hiện stress theo giới tính 64
Bảng 2.22: Biểu hiện stress theo tình trạng sức khỏe 65
Bảng 2.23: Phân tích ANOVA – Biểu hiện stress theo tình trạng sức khỏe 67
Bảng 2.24: Biểu hiện stress theo nhóm hành vi nguy cơ 68
Bảng 2.25: Phân tích ANOVA – Biểu hiện stress theo nhóm hành vi nguy cơ 70
Bảng 2.26: Điểm trung bình của nhóm nguyên nhân gây stress 77
Bảng 2.27: Nguyên nhân gây stress theo giới tính 79
Bảng 2.28: Nguyên nhân gây stress theo nhóm hành vi nguy cơ 80
Bảng 2.29: Phân tích ANOVA – Nguyên nhân gây stress theo hành vi nguy cơ 82
Trang 10Bảng 2.30: Nguyên nhân gây stress theo điều kiện kinh tế 85 Bảng 2.31: Phân tích ANOVA – Nguyên nhân gây stress theo điều kiện kinh tế 88
Trang 11Với một người sống cùng với bệnh HIV/AIDS, việc đối mặt với stress diễn ra mỗi ngày sống Nguyên nhân là do cú sốc tâm lý ở chính bản thân người bệnh và do các vấn đề về tâm lý xã hội liên quan đến việc nhiễm HIV/AIDS Bên cạnh đó là hậu quả của sự tổn thương hệ thần kinh do tác động trực tiếp của HIV hay một số bệnh nhiễm trùng cơ hội Sự bất lực trong việc ứng phó với stress sẽ dẫn đến trạng thái suy sụp tinh thần, và có thể dẫn đến tự tử hoặc các hành vi liều lĩnh đối với bản thân và xã hội Với những người được chẩn đoán bị HIV, đa số đều còn trẻ với tương lai phía trước Họ phải đối mặt với sự bất ổn, và đôi khi bị xã hội xa lánh Thay đổi lớn trong cách sống cũng như những rắc rối hàng ngày liên quan đến bệnh tật làm cho người nhiễm HIV/AIDS dễ bị stress trong cuộc sống Stress không những ảnh hưởng đến sức khoẻ tâm thần mà còn tác động trực tiếp đến sức khoẻ của người bệnh, làm suy yếu hệ thống miễn dịch vốn đã bị tổn thương do virus HIV gây nên
Kể từ ca nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện vào năm 1990, Việt Nam đã trải qua hơn 20 năm đối phó với dịch HIV/AIDS Mặc dù đến nay số người nhiễm HIV, số
mắc và số tử vong do HIV/AIDS đã giảm, nhưng mức độ giảm chưa nhiều, số người mới được phát hiện nhiễm HIV hiện vẫn còn ở mức cao Có thể nói dịch HIV
Trang 12ở Việt Nam vẫn đang ở giai đoạn tập trung với tỷ lệ hiện nhiễm tiếp tục duy trì ở
mức cao trong các nhóm nguy cơ cao Theo “Ước tính và Dự báo về tình hình HIV/AIDS tại Việt Nam giai đoạn 2011-2015” được Bộ Y tế công bố, vào năm
2011 ước tính có 248.500 người nhiễm HIV tại Việt Nam và con số này được dự báo sẽ tăng lên 263.500 người vào năm 2015 [7, tr.13] Thành phố Hồ Chí Minh là
một trong ba khu vực có số lượng người nhiễm HIV cao nhất trong giai đoạn
2011-2015
Người nhiễm HIV có thể bị lây nhiễm từ những con đường và nguyên nhân khác nhau Tuy nhiên, người nhiễm HIV (từ đây gọi là người có H) rất cần được giúp đỡ
và chăm sóc, cho dù họ thuộc nhóm hành vi nguy cơ nào
Lấy con người với chất lượng cuộc sống tốt đẹp hơn làm mục tiêu hướng đến, việc nghiên cứu, tìm hiểu về stress cũng như tìm kiếm các giải pháp nhằm giảm số lượng và cường độ của các tác nhân gây stress luôn là một cuộc chiến chưa có hồi kết Stress là một khái niệm thu hút được nhiều sự quan tâm từ các nhà tâm lý học trong nhiều năm, mặc dù những nghiên cứu khởi điểm về stress được tiến hành trong lĩnh vực y học Nhiều công trình khoa học đã đi sâu nghiên cứu các biểu hiện stress với các khách thể khác nhau Tuy nhiên chưa có nhiều đề tài nghiên cứu trực tiếp trên người có H và càng ít các công trình nghiên cứu về biểu hiện stress với khách thể là người có H
Nghiên cứu biểu hiện stress ở người có H là vấn đề khó khăn và phức tạp, là một thách thức lớn đối với bản thân
Với mong muốn nghiên cứu và tìm hiểu về thực trạng các biểu hiện stress và các nguyên nhân dẫn đến stress ở người có H, từ đó đưa ra những đề xuất những nhằm góp phần giúp người có H giảm stress và ứng phó với stress, tác giả quyết định chọn đề tài “Biểu hiện stress ở người có HIV/AIDS tại Thành phố Hồ Chí Minh” cho luận văn của mình
Trang 132 Mục đích của đề tài
Đề tài nghiên cứu nhằm khảo sát các biểu hiện stress và nguyên nhân gây stress
ở người có H tại thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm giúp người có H ứng phó với stress
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
3.1.1 Khách thể chính: Người có HIV/AIDS
117 người trưởng thành có H hiện đang cư ngụ tại Tp Hồ Chí Minh
3.1.2 Khách thể bổ trợ:
- 03 người thân trong gia đình người có HIV/AIDS
- 03 cán bộ, người trực tiếp làm việc với người có HIV/AIDS tại cơ sở
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biểu hiện stress của người có HIV/AIDS
4 Giả thuyết khoa học
- Phần lớn những người có H bị stress với các mức độ stress khác nhau
- Có sự khác nhau về các mặt biểu hiện stress và mức độ biểu hiện giữa các nhóm khách thể
- Có sự khác nhau về nguyên nhân gây stress và mức độ ảnh hưởng của các nguyên nhân giữa các nhóm khách thể
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về stress và biểu hiện stress của người có H 5.2 Khảo sát thực trạng biểu hiện stress, nguyên nhân gây ra stress và đề xuất một
số biện pháp nhằm giúp người có H ứng phó với stress
6 Ph ạm vi nghiên cứu
- Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về các biểu hiện stress của người trưởng thành nhiễm HIV/AIDS hiện đang cư ngụ tại Thành phố Hồ Chí Minh và đang được theo dõi điều trị, tham vấn và chăm sóc tại một số trung tâm, mái ấm thuộc địa bàn quận Tân Bình
- Nghiên cứu được khảo sát trong khoảng thời gian từ 01/01/2015 – 30/06/2015
Trang 147 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Ph ương pháp nghiên cứu lý luận
Tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu, sách, báo, tạp chí chuyên ngành,… có liên quan đến hướng nghiên cứu của đề tài Từ đó tổng hợp và hệ thống hoá nhằm hình thành cơ sở lý luận cho đề tài
7.2 Nhóm ph ương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
• Mục đích điều tra: khảo sát biểu hiện, nguyên nhân gây stress của người
• Mục đích quan sát: các đặc điểm biểu hiện stress
• Khách thể quan sát: người có HIV/AIDS
7.2.4 Phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study)
• Mục đích nghiên cứu: tìm hiểu biểu hiện, nguyên nhân gây stress trong một số trường hợp cụ thể
• Số lượng khách thể nghiên cứu: 02 trường hợp lấy điển hình theo nhóm hành vi nguy cơ, giới tính, độ tuổi
7.3 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phần mềm SPSS 16.0 để xử lý, tổng kết số liệu điều tra và đưa ra các kết luận
Trang 15CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỂU HIỆN STRESS Ở NGƯỜI
CÓ HIV/AIDS
1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề về stress
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề ở nước ngoài
Khái niệm “stress” thật sự được chú ý đến bắt đầu từ thế kỷ thứ 17 bởi kiến trúc sư người Anh Robert Hooke Là một kiến trúc sư, Hooke dành nhiều tâm huyết tìm hiểu và nghiên cứu về độ ổn định và khả năng chịu lực của các công trình lớn
Với “Định luật đàn hồi của Hooke” (1658) (Hook’s Law of Elasticity) trong lĩnh vực xây dựng, Hooke đã đưa ra thuật ngữ “load” - tải trọng [9, tr.509]để chỉ áp lực
đè lên cấu trúc công trình, “stress” - ứng xuất [9, tr.841] là phần cấu trúc của công
trình bị ảnh hưởng bởi tác động của tải trọng và “strain” - biến dạng [9, tr.838] là sự thay đổi hình dạng của cấu trúc công trình, kết quả của sự tương tác giữa tải trọng
và ứng xuất Học thuyết của Hooke trở thành tiền đề quan trọng cho các nhà sinh lý học, thần kinh học, tâm lý học, xã hội học sau này trong việc tiếp cận nghiên cứu stress dưới góc độ về ảnh hưởng của yếu tố bên ngoài tác động vào quá trình phát triển tâm sinh lý của chủ thể
Sang thế kỷ thứ 18, bác sĩ người Pháp Claude Bernard (1859) đã nhận định rằng các tế bào sống cần giữ ổn định và cân bằng môi trường bên trong nhằm đối phó với sự thay đổi của môi trường bên ngoài Theo Bernard, thế mạnh của các tế bào sống chính là sự ổn định và sự sắp xếp hài hoà của chúng trước tác động từ bên ngoài Các công trình nghiên cứu của Bernard có ý nghĩa nền tảng trong các nghiên cứu về sự ứng phó với stress sau này [39, tr.5]
Bác sĩ tâm thần học người Thuỵ Sĩ Adolf Meyer (1919) đã nghiên cứu mối liên hệ giữa các sự kiện hoặc biến cố căng thẳng và các rối loạn về mặt sinh học và tâm lý Với “Life Chart”, Adolf Meyer minh họa trải nghiệm cuộc sống của bệnh
nhân qua hướng tiếp cận tìm hiểu thông tin tiểu sử và bệnh án của người bệnh, qua
đó đánh giá theo tiến trình thời gian mối quan hệ giữa các tác nhân làm bệnh nhân stress và các bệnh tật kéo theo Công trình này là tiền đề để dẫn đến nhiều nghiên
Trang 16cứu về tác động của các sự kiện và biến cố trong cuộc sống đối với bệnh tật của con người [39, tr.41]
Song song đó, các nhà sinh lý học cũng đã dần dần tìm ra mối liên hệ qua lại giữa yếu tố căng thẳng về mặt cảm xúc và yếu tố sinh học
Nhà khoa học đầu tiên tiên phong mở đường cho hướng tiếp cận điều trị các bệnh về thần kinh là Walter Bradford Cannon Các công trình nghiên cứu của Cannon kéo dài trong hơn ba thập kỷ Vào năm 1939, Walter Cannon đã tiến hành các công trình nghiên cứu thực nghiệm Các công trình nghiên cứu của ông đã chỉ
ra rằng các kích thích liên quan đến cảm xúc đã tác động và làm thay đổi tiến trình sinh lý học Sau đó, một số công trình nghiên cứu khác của ông cũng cho thấy mối liên hệ giữa các sự kiện, biến cố xảy ra trong cuộc sống và bệnh tật của con người Nhiều kỹ thuật tiến bộ ở giai đoạn này đã tạo điều kiện cho các nghiên cứu về các phản ứng sinh lý đặc trưng đối với stress Cannon đã nghiên cứu các cơ chế ứng phó
trước một tình huống, đó là mô hình phản ứng “chống trả hoặc bỏ chạy” (“fight or flight”) [78]
Martin Seligman (1942) đã tiến hành nghiên cứu thực nghiệm trên loài chuột Kết quả nghiên cứu của ông cho thấy chính sự nhận thức các sự kiện đang xảy ra xung quanh đã gây nên sự căng thẳng ở loài chuột Thuật ngữ “nhận thức”
(perception) được ông định nghĩa là sự nhận ra và chuyển dịch kích thích dựa trên trí nhớ của loài vật Nghiên cứu đã làm rõ cơ chế kích thích – phản ứng của stress Thành tựu này đã đóng góp vào hệ thống lý luận nghiên cứu về stress [69]
Chiến tranh thế giới lần thứ II nổ ra và ngày càng lan rộng, thúc giục và đòi hỏi khoa học phải có sự song hành Sau khi chiến tranh kết thúc, ngành y khoa và tâm thần học phát triển với định hướng phục hồi tổn thương do chiến tranh gây ra cho sỹ quan và binh lính Các nhà khoa học tập trung nghiên cứu và điều trị chứng bệnh thần kinh gây ra cho những người lính đã chiến đấu sau một thời gian dài và các bệnh có triệu chứng lâm sàng tương tự Một trong số các nhà khoa học đó là Grinker & Spiegel (1945) với nghiên cứu “Men Under Stress” mô tả chi tiết các trải
nghiệm của người lính trong quá trình tham gia chiến tranh, hay Weiss & English
Trang 17(1943) với công trình “Psychosomatic Medicine” đi sâu nghiên cứu chuyên ngành Tâm thần học, hay Flanders Dunbar (1948) với “Synopsis of Psychosomatic Diagnosis and Treatment” nhấn mạnh sự điều trị kết hợp hai phương diện sinh học
và tâm lý, đã thu hút rất nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học lúc bấy giờ
Bác sĩ tâm thần học Erich Lindemann (1944) đã mô tả trải nghiệm của những người may mắn sống sót và cũng như trải nghiệm của những người mất đi người thân sau trận hoả hoạn kinh hoàng tại hộp đêm Melody Lounge Cocoanut Grove
trong nghiên cứu “Symptomatology and Management of Acute Grief” (tạm dịch
“Triệu chứng và sự kiểm soát khi đối mặt với nỗi đau khổ tột cùng”) Trong quá trình nghiên cứu trên khách thể là những người may mắn sống sót và gia đình của người tử nạn trong trận hoả hoạn đó, Lindemann nhận thấy phần lớn đều trải qua cùng một tiến trình khủng hoảng [41], [71]
Nhiều nhà tâm thần học đã xây dựng học thuyết về stress như Tyhurst (1951, 1957), Caplan (1964, 1974), … Tyhurst phát triển mô hình mô tả cách phản ứng tự nhiên của cá thể trước thảm hoạ Caplan (1974) tập trung nghiên cứu sự phòng ngừa tình trạng lo âu, chính Caplan đã phát triển học thuyết “Các giai đoạn phát triển của khủng hoảng”
Harold Wolff xuất bản cuốn “Stress and Disease” vào năm 1953 Tác giả chỉ
ra ảnh hưởng của stress thông qua cơ chế tác động của những căng thẳng, lo lắng đối với căn nguyên bệnh tật Tác giả cũng phân biệt hai loại stress dựa trên tác động của nó Đó là stress trực tiếp do bệnh tật và stress gián tiếp do các sự kiện, biến cố xảy ra trong cuộc sống Qua đó tác giả nhấn mạnh vai trò của các biến cố trong cuộc sống đối với mỗi cá nhân, ông nhận định rằng với cùng một trải nghiệm giống nhau nhưng hiệu quả tác động lên mỗi người là khác nhau, tùy thuộc vào sự kỳ vọng và khả năng ứng phó của mỗi người [69]
Với Hans Hugo Bruno Selye, khi còn là một sinh viên y khoa, Selye đã quan sát bệnh nhân Quá trình quan sát cho ông nhận thấy rằng những bệnh nhân này dù đang chịu đau đớn vì những bệnh tật khác nhau nhưng họ có những dấu hiệu và triệu chứng giống nhau Những dấu hiệu và triệu chứng này có vẻ như đến cùng một
Trang 18bệnh Quan sát này là tiền đề về sau cho các nghiên cứu về stress của ông Chính
Hans Seyle là người đầu tiên đưa ra khái niệm “stress” hiện đại Năm 1956, trong cuốn “Stress of life”, Hans Selye đã đưa ra và mô tả “Hội chứng thích ứng chung” (General Adaptation Syndrome_ viết tắt là GAS) GAS chỉ rõ stress là tác nhân gây
ra sự sản sinh các kích thích tố tự nhiên, và nếu stress lặp đi lặp lại nhiều lần, các kích thích tố sẽ bị thay đổi, dẫn đến viêm loét, huyết áp cao, chứng xơ cứng động mạch, chứng viêm khớp, bệnh về thận và dị ứng Nói cách khác, cơ thể có một lượng dự trữ năng lượng có giới hạn để giúp thích nghi Khi cơ thể kiệt quệ và mất
đi năng lực ứng phó do stress liên tục diễn ra, có thể dẫn đến cái chết Hội chứng thích ứng chung (GAS) gồm có 03 giai đoạn là phản ứng báo động – kháng cự – kiệt sức (alarm – resistance – exhaustion) Năm 1974, Hans Selye đưa ra thuật ngữ eustress và distress Trong đó, eustress là stress dương tính, eustress nói về các khía
cạnh tích cực mà stress mang lại cho con người như sự nỗ lực vượt qua khó khăn,
sự căng thẳng để tập trung chú ý làm tốt nhiệm vụ, … Eustress làm tăng tính cảnh giác, đánh thức động cơ Ngược lại, distress là stress âm tính, nói đến tác động của
stress làm con người bị khó chịu hoặc tổn thương, mang tính tiêu cực Lý thuyết của Hans Selye có nhiều ảnh hưởng tích cực Tuy nhiên, lý thuyết của ông chưa bao hàm các yếu tố tâm lý xã hội vốn là một yếu tố rất quan trọng để hiểu được ảnh hưởng cũng như tác động của stress đối với cá nhân mỗi người [39, tr.20]
Holmes & Rahe (1967) đi sâu tìm hiểu tác động của các tác nhân gây stress
là sự kiện, biến cố trong cuộc sống qua “Thang đo tỷ lệ thích nghi xã hội” (Social Readjustment Rating Scale – viết tắt là SRRS) Nghiên cứu được tiến hành trên 5000
bệnh nhân Kết quả lọc ra 43 sự kiện, biến cố được xem là tác nhân gây stress cho
con người Các sự kiện và biến cố này dùng để xây dựng “Schedule of Recent Experience” ( viết tắt là SRE) (tạm dịch “Bảng liệt kê các trải nghiệm gần đây”) Schedule of Recent Experience (SRE) của Holmes & Rahe ngày nay vẫn được sử dụng để lượng giá mức độ thương tổn của cá nhân trong các nghiên cứu học thuật (Lewis, Daniels & D’Andrea, 2003) [39, tr.43]
Trang 19Lee Ann Hoff (1989, 1995, 2001) đã phát triển mô hình khủng hoảng nhằm giải thích những gì xảy đến với cá nhân khi cá nhân trải qua một cuộc khủng hoảng
và qua đó đưa ra cách giải quyết khủng hoảng
Nhà tâm lý học người Mỹ Richard S Lazarus cũng đã công bố rất nhiều công trình nghiên cứu xoay quanh các vấn đề liên quan đến stress Richard Lazarus
đã cống hiến 50 năm cho sự nghiệp nghiên cứu khoa học Ông được nhận định là nhà khoa học có ảnh hưởng lớn trong lĩnh vực nghiên cứu lý luận về stress Trong
cuốn sách “Psychological stress and the coping process”xuất bản năm 1966 của mình, Lazarus đã đề cập đến thuật ngữ “Psychological stress”, nói đến mối quan hệ
giữa con người và môi trường sống xung quanh Từ đó ông tiếp tục đi sâu theo hướng nghiên cứu này Nội dung chính yếu của hệ thống lý thuyết của Lazarus xoay
quanh khái niệm “appraisal” Ông giải thích rằng trước khi cảm xúc thực sự xuất
hiện, thì hầu như con người không nhận biết hay đánh giá sự việc đang xảy ra hoặc điều gì khiến con người quan tâm Từ quan điểm này, yếu tố cảm xúc được nâng lên tầm giá trị cao hơn, nó giúp con người nhận ra vấn đề và là một yếu tố tối cần thiết cho việc tồn tại Lazarus còn được biết đến với các công trình nghiên cứu về sự ứng
phó (coping) Thành tựu đáng chú ý của các công trình của ông đó là dẫn chứng trường hợp bệnh nhân không chấp nhận đầu hàng và nỗ lực đối phó với stress có tiến triển tốt hơn so với bệnh nhân chấp nhận sống cùng với tình trạng stress của mình Lazarus cũng nhận thấy rằng stress không tác động nhiều đến sự việc, nhưng tác động rất nhiều đến tư duy, cảm xúc và nội lực của con người
Lazarus cũng được nhắc đến với lý thuyết “Nhận thức – thoả hiệp với cảm
xúc” (Cognitive - mediational within emotion theory) Ông luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của cảm xúc Vào đầu những năm 1980, Lazarus cùng với đồng sự đã
công bố hai bộ công cụ trong nghiên cứu về stress là “Hassled & Uplifts Scale” và
“Ways of Coping Interview - Questionnaire” [39, tr.69]
Nhìn chung, các nhà khoa học đã tiếp cận nghiên cứu stress dưới nhiều góc độ khác nhau Từ thế kỷ thứ 17, stress được nhìn dưới góc độ vật lý học Sang các thế
kỷ sau, các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đã tiếp cận stress với mô
Trang 20hình phản ứng và đáp trả Stress còn được tiếp cận nghiên cứu thông qua các sự kiện, biến cố xảy ra trong cuộc sống và sự tác động của các sự kiện, biến cố ấy đối với quá trình phát triển tâm sinh lý của con người
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề ở Việt Nam
Tuy chưa phát triển mạnh như các nước trên thế giới và cũng chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về stress ở con người, nhưng các nhà khoa học Việt Nam đã sớm chú ý đến việc nghiên cứu, tìm hiểu xoay quanh stress Thực tế cho thấy có nhiều công trình nghiên cứu khoa học về lý luận cũng như thực tiễn đã đóng góp vào việc nhận biết sớm, phòng ngừa và ứng phó hiệu quả với stress
Một trong những nghiên cứu về stress đầu tiên tại Việt Nam đến từ tác giả Tô Như Khuê Tác giả được biết đến là một trong những nhà khoa học hàng đầu về sinh lý lao động quân sự ở Việt Nam Tô Như Khuê đã có nhiều công cuộc nghiên cứu phục vụ lao động ở các ngành nghề trong những điều kiện khí hậu và vi khí hậu khác nhau Các công trình của ông đã chỉ ra tương đối đầy đủ những chỉ tiêu về thể lực của người lao động, mức độ tiêu hao năng lượng trong các loại lao động, và đánh giá được mức độ mệt mỏi trong lao động, trong chiến đấu để có biện pháp đoán trước và ngăn ngừa tình trạng mệt do kiệt sức; đặc biệt là lao động gây căng thẳng thần kinh
Đại hội lần thứ II của Hội Sinh lý học Việt Nam (1874) đã tiến hành Hội nghị khoa học Hội nghị có tổng số 14 bản báo cáo khoa học, trong đó có hai bản báo cáo khoa học của Tô Như Khuê nghiên cứu về stress trong lao động và trong quân sự
Đó là “Sinh lý học phục vụ lao động - sản xuất và chiến đấu” và “Vấn đề stress cảm xúc trong lao động quân sự” [58] Tô Như Khuê cũng là tác giả của các nghiên cứu
“Phòng chống trạng thái căng thẳng trong đời sống và lao động” (1976), “Cảm xúc
và căng thẳng cảm xúc trong lao động” (1995)
Tác giả Nguyễn Khắc Viện lần đầu cho xuất bản cuốn “Từ sinh lý đến dưỡng sinh” vào năm 1983 Công trình đã đúc kết nhiều kiến thức về hoạt động tâm lý sinh
lý cũng như cho thấy các tác động của môi trường bên ngoài ảnh hưởng đến phản ứng của cơ thể Tác giả đã đề xuất phương pháp và những bài tập luyện đơn giản
Trang 21như tập dưỡng sinh, nghệ thuật vận động, khí công hay tập tĩnh, luyện ý, … như là phương cách để rèn luyện sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần [37].
Ngoài ra, có thể kể đến tài liệu nghiên cứu "Stress và đời sống"(1998) của
Đặng Phương Kiệt Tác giả lý giải những vấn đề xoay quanh nguồn gốc và bản chất của stress; cũng như cách con người phản ứng và ứng phó với stress; mức độ tác động của stress đối với hệ thần kinh, hệ miễn dịch, hệ nội tiết và các bệnh tâm thần, ảnh hưởng đến sức khoẻ và tâm trí của con người [17] Theo ông, đời sống tâm lý của con người có tác động rất lớn đến nguồn gốc bệnh tật cũng như hiệu quả của quá trình điều trị phục vụ sức khỏe cho con người Ngoài ra, tác giả còn công bố rất nhiều công trình nghiên cứu bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau của y học và những vấn đề xã hội có liên quan đến sức khỏe và hạnh phúc của con người Tác giả đã có trên 10 đầu sách được Nhà xuất bản Y học xuất bản Các đầu sách bàn về những vấn đề cơ bản và chuyên môn sâu mà ông đã tích lũy được qua những trải nghiệm thực tế gần 40 năm làm việc ở lĩnh vực nhi khoa và tâm lý lâm sàng Những công trình nghiên cứu của ông được dư luận đánh giá cao về sự kết hợp những tri thức khoa học cơ bản và những vấn đề cập nhật của đời sống con người Việt Nam hôm
nay, có thể nhắc đến “Tâm lý và Sức khỏe” (2001), “Những vấn đề tâm lý và văn hóa hiện đại” (2001), “Stress và Sức khỏe” (2004), “Chung sống với stress” (2004), “Gia đình Việt Nam – Các giá trị truyền thống và những vấn đề tâm – bệnh
lý xã hội” (2006),
Bên cạnh các tài liệu học thuật, stress và các vấn đề xoay quanh stress cũng được chọn làm đề tài cho các nghiên cứu khoa học dưới hình thức luận văn, luận án
Một số đề tài như “Nghiên cứu stress ở người trưởng thành” của tác giả Nguyễn
Thị Hải (2008) Đề tài khảo sát thực trạng mức độ và biểu hiện stress ở người trưởng thành, các nguyên nhân, hậu quả và thực trạng sử dụng các biện pháp giảm stress Nghiên cứu tiến hành một số biện pháp thực nghiệm giảm stress cho người trưởng thành nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống như yoga và thiền [13] Tác giả
Đào Thị Duy Duyên (2010) với luận văn “Vấn đề stress của công nhân ở một số khu chế xuất, khu công nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” cung cấp kết
Trang 22quả thực tế về những hiểu biết của công nhân về stress, thực trạng stress ở công nhân, nguyên nhân và ảnh hưởng của stress đến hiệu quả lao động Đề tài cho thấy nhu cầu hiện nay của công nhân về sự trợ giúp xã hội trong việc giúp ngăn ngừa và ứng phó với stress cách hiệu quả [11] Nguyễn Thị Thanh (2012) với nghiên cứu
“Stress trong công việc của điện thoại viên tại tổng đài chăm sóc khách hàng của VTC” Đề tài nghiên cứu thực trạng stress trong công việc của điện thoại viên để chỉ
ra các nguyên nhân dẫn đến stress trong công việc của một điện thoại viên tại tổng đài chăm sóc khách hàng, cụ thể là của VTC, đồng thời đưa ra một số biện pháp ứng phó với stress trong công việc của điện thoại viên, giúp điện thoại viên có nhiều giải pháp nâng cao chất lượng công việc chăm sóc khách hàng
Ngoài ra còn có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học được đăng trong các
tạp chí khoa học chuyên ngành Một trong số đó là bài viết “Ngăn ngừa tác động tiêu cực của căng thẳng tâm lý trong hoạt động quân sự” của tác giả Ngô Minh
Tuấn (2009) Bài viết nêu một số biểu hiện của sự căng thẳng tâm lý trong hoạt động quân sự, qua đó đưa ra một số đề xuất một số biện pháp nhằm phòng ngừa căng thẳng tâm lý trong hoạt động quân sự [36] Bài viết “Nguyên nhân stress của sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội” của tác giả Nguyễn Hữu Thụ đi sâu phân tích
các nguyên nhân stress của sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội Bài viết cho thấy có rất nhiều nguyên nhân gây ra stress trong học tập của sinh viên, trong đó nguyên nhân gia đình ảnh hưởng nhiều nhất tới stress học tập của sinh viên, thứ hai là đặc điểm cá nhân, thứ ba là khả năng ứng phó với các tác nhân Chọn khách thể nghiên cứu là người dân lao động, tác giả Nguyễn Thị Anh Thư (2009) nghiên cứu đề tài
“Tâm trạng lo lắng của người bán hàng rong” Qua điều tra bằng bảng hỏi trên 300
người lao động, kết quả nghiên cứu chỉ ra một số biểu hiện tâm trạng lo lắng của người bán hàng rong khi đi kiếm sống ở Hà Nội như lo lắng về số tiền gửi cho gia đình hàng tháng, lo lắng về sức khỏe, lo lắng về các nguy cơ gặp phải khi đi bán hàng (lo bị cướp giật, lo về an toàn giao thông), lo lắng liên quan đến tính bất hợp pháp của công việc, đời sống gia đình đang gặp khó khăn [31] Bài viết “Stress của vận động viên bắn súng thể thao” của tác giả Phạm Thị Thanh Hương tập trung
Trang 23phân tích mức độ biểu hiện stress của các xạ thủ và sự ảnh hưởng tiêu cực của stress đến tâm lý và thành tích bắn thông qua các kết quả nghiên cứu
Nhiều cuộc hội thảo bàn về stress được tổ chức dựa trên nhu cầu thực tiễn của
xã hội Hội thảo “Ảnh hưởng của Stress vào mùa thi đối với sinh viên” của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh thuộc Trường Đại học Khoa học tự nhiên nhằm trang bị cho sinh viên có thêm nhiều kiến thức về sức khỏe cũng như các phương pháp để nhận diện stress và kiểm soát tình trạng căng thẳng thần kinh luôn xảy ra trong suốt mùa thi làm ảnh hưởng đến kết quả học tập và thi cử Hội thảo Việt – Pháp diễn ra tại TP.HCM do trường ĐH Y khoa Phạm Ngọc Thạch (Tp HCM) kết hợp với trường Tâm lý thực hành Paris (Pháp) tổ chức Hội thảo quy tụ các giáo sư, bác sĩ lâu năm trong lĩnh vực tâm lý học của hai nước Các chuyên gia trình bày những trường hợp điển hình về những yếu tố tác động xấu đến tâm sinh lý trẻ mới lớn như: áp lực học tập, những xung động, biến động trong gia đình, …
1.2 Cơ sở lý luận về biểu hiện stress ở người có HIV/AIDS
1.2.1 Lý luận về stress
1.2.1.1 Khái niệm stress
Thuật ngữ “stress” bắt nguồn từ tiếng Latin là “stringere” Theo gốc Latin,
“stringere” có nghĩa bị kéo căng ra hoặc đè nén [28], [72]
Thuật ngữ “stress” ban đầu được sử dụng trong lĩnh vực vật lý học bởi kiến trúc sư Robert Hooke Ông dùng thuật ngữ “stress” để chỉ sức nén mà vật liệu phải chịu do tải trọng của công trình, đặc biệt là ở những công trình lớn [39, tr.3]
Sau đó, thuật ngữ “stress” được sử dụng trong lĩnh vực y học và tâm lý học Stress đã được các nhà khoa học tiếp cận nghiên cứu ở nhiều bình diện khác nhau
Sự đa dạng trong góc nhìn của các nhà khoa học đã hình thành nhiều khái niệm khác nhau về stress tùy theo hướng tiếp cận nghiên cứu
Hướng tiếp cận thứ nhất, stress được xem như là một đáp ứng sinh học Hướng tiếp cận này định nghĩa stress là sự phản ứng của cơ thể trước một tác nhân gây căng thẳng nhằm tìm lại trạng thái cân bằng trước đó
Trang 24Thuật ngữ “homeostasis” do Walter Cannon đưa ra nhằm chỉ trạng thái cân
bằng, ổn định của tất cả các cơ thể sống Nếu trạng thái cân bằng này được duy trì,
cơ thể sẽ khỏe mạnh và có sức đề kháng với bệnh tật Cannon (1932) cho rằng
“homeostasis (nội cân bằng) là xu hướng các sinh vật duy trì một môi trường ổn định bên trong” Cannon đưa ra cơ chế sẵn sàng ứng phó trước tình huống khẩn cấp
là đáp ứng chống trả - hay - bỏ chạy [17, tr.66].Định nghĩa của Walter Cannon tập trung nhiều vào khía cạnh sinh học của stress Stress được hiểu đơn thuần là phản ứng có sẵn của cơ thể trước những yếu tố bất lợi và nguy hiểm nhằm huy động sức mạnh của cơ thể để ứng phó
Hans Selye là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ “stress” hiện đại Theo Hans
(1956), “stres s không chỉ đơn thuần là căng thẳng thần kinh, stress là một đáp ứng không đặc hiệu của cơ thể với bất kỳ đòi hỏi nào đặt lên cơ thể” [10], [17] Hans
Selye đã phân loại stress thành hai loại, stress dương tính (eustress) và stress âm tính (distress) Eustress là sự đáp ứng thích hợp của cơ thể, qua đó tạo được một cân
bằng mới sau khi chịu tác động từ bên ngoài Distress là sự đáp ứng không thích
hợp dẫn đến mất trạng thái cân bằng, xuất hiện các rối loạn chức năng Hans cho rằng bên cạnh tác động tiêu cực, stress vẫn có mặt tác động tích cực và mang lại lợi ích nếu nó động viên con người nỗ lực vượt qua thử thách, trở ngại
Với Jean Delay, stress là “một trạng thái căng thẳng cấp diễn của cơ thể buộc phải huy động các khả năng phòng vệ để đối phó với một tình huống đang đe doạ.”
[11]
Nhìn lại hướng tiếp cận này, có thể thấy stress tương ứng với mối liên quan giữa con người với môi trường xung quanh Stress vừa chỉ tác nhân công kích, vừa chỉ phản ứng của cơ thể trước tác nhân đó
Hướng tiếp cận thứ hai xem stress là tác nhân kích thích, gây nên sự căng thẳng
Trường phái lý thuyết này tập trung nghiên cứu các tác nhân gây nên tình trạng căng thẳng và tác nhân gây căng thẳng này được gọi là stress Tuy nhiên, các
tài liệu nghiên cứu sau này không sử dụng thuật ngữ “stress” để chỉ tác nhân gây ra
Trang 25căng thẳng, mà thay vào đó, thuật ngữ “stressor” được dùng khi nói về tác nhân gây
ra tình trạng căng thẳng
Các nhà khoa học theo hướng tiếp cận này quan tâm nghiên cứu trải nghiệm tâm lý được kích thích thông qua tác động của sự kiện gây căng thẳng Trường phái này đã đưa ra nhận định stress xuất phát từ môi trường và đi cùng với các sự kiện trong cuộc sống Đó có thể là những sự kiện xảy ra bất ngờ hoặc diễn ra trong thời gian ngắn như tình huống bị cướp, chuẩn bị bài phát biểu trước đám đông; hay những biến cố diễn ra trong một quãng thời gian dài như mâu thuẫn trong đời sống hôn nhân, áp lực công việc, thay đổi môi trường sống, chiến tranh, bạo động, …Holmes & Rahe (1967) nhận định stress là sự tác động của các sự kiện, biến
cố xảy ra trong cuộc sống, đòi hỏi con người phải điều chỉnh và thích ứng Hay Cooper & Marshal (1976) thì cho rằng stress là các yếu tố môi trường bên ngoài
mang lại những tác động tiêu cực [12], [39]
Theo Bảng Phân loại quốc tế về bệnh tật ICD – 10, chương Rối loạn Tâm thần
và Hành vido WHO triển khai xây dựng và xuất bản (1992), stress xuất phát từ một tác động mạnh mẽ của một sự kiện, biến cố hoặc hoàn cảnh đặc biệt lên tâm thần của con người, có tính chất đe dọa hoặc thảm họa đặc biệt, có thể gây ra đau khổ, mất mát to lớn cho con người [53]
Hướng tiếp cận thứ ba xem stress là kết quả sự tương tác giữa cá nhân và môi trường, chi phối bởi nhận thức của từng cá thể
Các nhà khoa học theo hướng tiếp cận này tập trung nghiên cứu mối tương tác giữa khả năng đáp ứng của cá nhân với các kích thích từ môi trường Stress liên quan đến việc con người nhận định tính chất của một sự kiện là đe dọa, có hại hay thách thức
Theo Cox & MacKay (1978), stress là một hiện tượng tâm lý, xuất hiện khi có
sự so sánh giữa kích thích tác động và khả năng ứng phó của con người Sự mất cân bằng giữa kích thích gây stress và khả năng ứng phó với stress sẽ giúp con người có kinh nghiệm với stress cũng như củng cố kỹ năng ứng phó với stress [67]
Trang 26Lazarus và đồng sự (1966) cho rằng stress là mối quan hệ giữa cá nhân và kích thích từ môi trường, stress xuất hiện khi cá nhân nhận định rằng khả năng của bản thân không thể ứng phó được với kích thích và đe dọa trạng thái cân bằng hiện tại [39, tr.71] Theo đó, khái niệm “nhận định” (appraisal) được mô tả là quá trình
mà cá nhân đánh giá tính đe dọa và có hại của các kích thích từ môi trường; nếu xác định là có tính đe dọa, thì tính đe dọa ở mức độ nào Một kích thích chỉ gây stress
khi cá nhân nhận định là có hại Quá trình nhận định mang tính chủ quan Nó mang
dấu ấn riêng của từng cá thể, chịu ảnh hưởng bởi nhận thức cá nhân như nhân cách, phẩm chất cá nhân, kinh nghiệm, kỹ năng, nhân sinh quan, thế giới quan,
Stress được hiểu dưới góc độ là một hiện tượng nhận thức của cá nhân Các kích thích từ môi trường không quyết định mức độ của stress mà chính cách nhìn nhận của con người về các kích thích ấy mới quyết định mức độ căng thẳng của sự kiện đó
Theo từ điển Y khoa Dorland's, stress là trạng thái căng thẳng về mặt sinh học
và tâm lý, do kích thích tiêu cực tác động, làm ảnh hưởng đến thể lý và cảm xúc, dẫn đến rối loạn chức năng của cơ thể [68]
Tác giả Tô Như Khuê nhận định: “Stress tâm lý cũng chính là những phản ứng tâm lý không đặc hiệu xảy ra một cách chung khắp, do các yếu tố có hại về tâm lý xuất hiện trong các tình thế mà con người chủ quan thấy là bất lợi hoặc đe doạ, ở đây vai trò quyết định không chủ yếu do tác nhân kích thích, mà do sự đánh giá chủ quan về tác nhân đó.” [11]
Nguyễn Thị Hải cho rằng: “Stress là trạng thái căng thẳng về mặt tâm lý, xuất hiện ở người trong quá trình hoạt động gặp phải những biến cố, những khó khăn trong cuộc sống hàng ngày, dễ nhận thấy qua các dấu hiệu: nhịp tim tăng, huyết áp cao, cơ căng, cảm giác mệt mỏi, khó chịu, hoặc ưu phiền, chán nản, … có thể dẫn đến những hậu quả nhiều mặt tùy theo khả năng ứng phó của mỗi người” trong luận
văn “Stress ở người trưởng thành” [13, tr.22]
Trong luận văn “Vấn đề stress của công nhân ở một số khu chế xuất, khu công nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh”, tác giả Đào Thị Duy Duyên nhận
Trang 27định “Stress là một quá trình biến đổi trạng thái cân bằng hiện tại của con người gây ra sự căng thẳng về tâm lý; nảy sinh do con người phản ứng lại với những nhân
tố tác động, trong đó một phần do bản chất của những kích thích đa dạng từ bên ngoài hoặc do chính bản thân gây ra, một phần do nhận thức của cá nhân lý giải về những kích thích đó, về khả năng, tiềm lực của bản thân, các nguồn lực sẵn có để ứng phó; quá trình này gây ra những ảnh hưởng cho con người biểu hiện ở các mặt sinh lý, tâm lý, xã hội.” [11]
Có thể nói có không ít những quan niệm khác nhau về stress tùy thuộc vào việc lấy tiêu chí sinh học, xã hội học hay tâm lý học làm thước đo chính Với một cái nhìn tổng quát, có thể thấy rằng stress ở mỗi cá nhân gắn liền với các yếu tố như: tác nhân gây stress; tác động của stress dẫn đến sự biến đổi về mặt sinh lý và mặt tâm lý (nhận thức, cảm xúc, hành vi) theo chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực;
kỹ năng ứng phó với các kích thích gây stress của mỗi cá nhân Các yếu tố trên là
cơ sở cho các nhà khoa học tìm hiểu, phân loại, đánh giá stress, nhằm giúp con người nhận diện và ứng phó với stress
Trong đề tài nghiên cứu của mình, chúng tôi tìm hiểu stress dưới góc độ tâm
lý học, qua đó stress là một trạng thái tâm lý phản ánh sự căng thẳng; có mức độ khác nhau tùy theo nhận thức cá nhân khi cá nhân chịu sự tác động của tác nhân gây căng thẳng từ môi trường bên ngoài hoặc từ chính những thử thách do tự bản thâ n đặt ra; tác động đến hoạt động nhận thức, đời sống tình cảm và nhân cách 1.2.1.2 Một số biểu hiện của stress
a Biểu hiện stress về mặt cơ thể
Khi căng thẳng hay lo âu quá mức, hệ thần kinh giao cảm của con người sẽ
bị kích thích và hoạt động mạnh Tủy hay lõi của tuyến thượng thận sẽ tiết ra hoocmon adrenalin và chất có quan hệ gần gũi với nó là noradrenalin Hai chất này còn được biết đến với tên gọi hoocmon “chiến đấu hay bỏ chạy” theo cơ chế đáp ứng với stress của Cannon Chúng có tác dụng làm cơ thể hưng phấn hơn để chuẩn
bị đương đầu với tình trạng căng thẳng Bên cạnh đó, vỏ thượng thận cũng đồng thời tiết ra hoocmon cortisol khi cơ thể ở tình trạng căng thẳng, lo âu Cortisol khởi
Trang 28phát sự chuyển đổi protein thành glucose, phóng thích glucose vào máu, tăng lượng đường trong máu, gián đoạn quá trình tiêu hóa và hoạt động của thận [38, tr.79].
Việc hệ thống thần kinh giao cảm tăng tiết adrenaline, noradrenalin và cortisol sẽ làm cho tim đập nhanh hơn và mạnh mẽ hơn Điều này làm tăng huyết
áp, co khít mạch máu [38, tr.77] Tuần hoàn máu và ôxy tăng lên ở khắp cơ thể tạo
ra phản ứng “sẵn sàng chiến đấu” Về lâm sàng, phản ứng với stress cấp tính thường
có các biểu hiện như tăng trương lực cơ làm cho nét mặt căng thẳng, cử chỉ cứng nhắc, rối loạn thần kinh thực vật như nhịp tim nhanh, có cơn đau vùng trước tim, huyết áp tăng, khó thở, ngất xỉu, vã mồ hôi, nhức đầu, đau nhiều nơi, nhất là các cơ bắp [51], [55] Phản ứng với stress mãn tính thường đi với các biểu hiện đau đầu thường xuyên, đau mỏi hàm, hay nghiến răng, run tay, chân, môi, đau cổ lưng, co cứng cơ, chóng mặt, hoa mắt, ù tai [57] Stress cũng là nguyên nhân chính ảnh hưởng đến phần cuối của dây thần kinh trong dạ dày khiến cho các dịch vị tiết ra không bình thường Bác sĩ Walter Clement Alvarez - Giáo sư Y khoa của trường Đại học Minnesota (Mayo Foundation) cho biết: “Những ung thư trong bao tử sưng thêm hay tiêu bớt đi là tùy sự mệt nhọc của bộ thần kinh tăng hay giảm.” [8, tr.40]
Stress tác động đến toàn bộ các hệ thống cơ quan trong cơ thể và ảnh hưởng rất nhiều về mặt sức khỏe thể chất của con người [12], [45], [64], [65], [69], [79]
• Hệ thần kinh: mất ngủ, đau đầu, hoa mắt, chóng mặt,
• Hệ tuần hoàn: tim đập nhanh, khó thở, tăng huyết áp, nguy cơ mắc các bệnh tim mạch như nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não, loạn nhịp tim, …
• Hệ tiêu hoá: stress làm các hoocmon có chức năng tăng cường lưu thông máu giảm xuống rõ rệt Dạ dày không được cung cấp đủ máu sẽ dẫn đến tình trạng khó tiêu, đầy hơi và chướng bụng Nhiều trường hợp stress là nguyên nhân viêm loét dạ dày, xuất huyết tiêu hoá, tiêu chảy, khô miệng, chán ăn,
• Hệ sinh sản: giảm ham muốn, rối loạn kinh nguyệt,
• Hệ nội tiết: rối loạn nội tiết tố
• Hệ cơ xương khớp: co cứng cơ, đau lưng, đau xương khớp,
• Toàn thân: suy sụp, mệt mỏi, suy giảm hệ miễn dịch [40], [72]
Trang 29Ngày càng có nhiều nghiên cứu khẳng định những người thường xuyên bị stress
là đối tượng dễ có nguy cơ bị mắc bệnh ung thư cao nhất Gần đây, các nhà khoa học từ trường Đại học Johns Hopkins đã công bố công trình nghiên cứu chỉ ra sự biến đổi ADN trong máu của chuột khi chúng tiếp xúc với các mức hoocmon stress cao Mức độ stress cao liên quan trực tiếp với những biến đổi trong các mô não của chúng [63]
Có thể thấy rằng stress tác động lớn đối với mặt sinh lý cơ thể Không chỉ vậy, stress còn có ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình phát triển tâm lý của con người
b Biểu hiện stress về mặt tâm lý
Về mặt cảm xúc, tình cảm, người bị stress dễ nổi cáu, dễ phản ứng một cách thái quá với tình huống trong cuộc sống, luôn có cảm giác khó chịu trong người Stress có biểu hiện đặc trưng là bồn chồn, căng thẳng, lo lắng, hồi hộp, bất an, lo âu,
sợ hãi, ám ảnh Ngoài ra, stress còn có những biểu hiện khác như cảm giác buồn chán, cảm giác cô đơn, suy nghĩ, đánh giá sự việc theo hướng bi quan, tiêu cực Stress có thể khiến con người có cảm giác quá tải, nặng nề Người bị stress không còn hứng thú với những thú vui, sở thích thường ngày Tự đánh giá thấp mình, cảm giác có lỗi và suy sụp cũng là những biểu hiện của stress Người bị stress có cảm giác mình kém cỏi và là người thất bại Nhiều nghiên cứu cũng dẫn chứng cho thấy, stress đóng vai trò nhất định trong sự xuất hiện của các rối loạn tâm lý Ngoài số lượng lớn các bệnh thần kinh, giới chuyên môn cho rằng, stress cũng là thủ phạm phát sinh các bệnh lý tâm lý như trầm cảm và tâm thần phân liệt [1], [45], [54], [57]
Tâm bệnh lý có thể phát sinh và ngầm phát triển từ từ Lúc đầu nó làm giảm các trạng thái khỏe mạnh về thể chất và tinh thần Sau đó nó làm rối loạn và phá hủy các chức năng kiểm soát đời sống thường ngày [16, tr.37]
Thói quen ăn uống bị ảnh hưởng khi con người đương đầu với stress Stress cũng có thể khiến con người ăn nhiều hơn hoặc chán ăn [16, tr.216] Các nhà khoa học chuyên nghiên cứu về hoocmon cho biết khi cortisol cao tiết ra do tình trạng stress mãn tính sẽ làm tăng sự thèm ăn, đồng thời gây ra những phản ứng chuyển
Trang 30hóa nội tiết dẫn đến tăng cân [51, tr.85] Một nghiên cứu được thực hiện tại đại học Kentucky chỉ ra mối tương quan giữa stress và hành vi ăn nhiều hơn – đặc biệt với những thực phẩm có nhiều chất béo và đường Stress cũng dẫn đến rối loạn giấc ngủ, ngủ vùi không muốn biết thời gian hoặc trằn trọc, mất ngủ, ác mộng [15] Tình huống stress có thể gây nên ức chế hoặc hưng phấn, ảnh hưởng đến hành vi của con người Sự ảnh hưởng này được biểu hiện ở một số rối loạn hành vi Những rối loạn hành vi này được tạo ra từ thái độ phòng thủ và tránh né các quan hệ xã hội hoặc ngược lại Mặt khác, sự mất kiểm soát cảm xúc bản thân cũng có thể là nguyên căn của rối loạn hành vi Mặt khác, để dịu bớt những căng thẳng, lo âu, người bị stress
có thể tìm đến các chất kích thích như thuốc lá, thức uống có cồn như rượu bia, chất gây ảo giác, ma túy, Những căng thẳng, lo âu quá mức có thể đưa con người đến những suy nghĩ về cái chết và ý nghĩ tự sát [1], [47], [57]
Stress còn được biểu hiện ở sự giảm khả năng lao động, dẫn đến giảm năng suất lao động Sức làm việc của con người phụ thuộc vào nhiều nhân tố, trong đó có nhân tố bên ngoài và nhân tố bên trong Những nhân tố bên ngoài gồm yêu cầu của công việc, mức độ trách nhiệm của công việc, sự phức tạp, điều kiện lao động và sản xuất, Các nhân tố bên trong có thể kể đến là các yếu tố tâm lý cá nhân, trạng thái thần kinh – tâm lý, Sự mệt mỏi, uể oải hay căng thẳng sẽ làm rối loạn việc tổ chức các hoạt động lao động [24, tr.209]
Khi những tình huống stress kéo dài dai dẳng, hoạt động nhận thức của con người trở nên trì trệ cả về nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính Stress dẫn đến việc kém linh hoạt trong thích ứng và các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp,
so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa hay cụ thể hóa Điều này làm cho người bị ảnh hưởng bởi stress gặp khó khăn trong việc đưa ra phán đoán và quyết định [1, tr.566] Stress làm giảm khả năng tập trung, chú ý của con người gây nên khó khăn trong tiếp thu, học hỏi cái mới hoặc xử lý tình huống Ngoài ra, stress còn có những biểu hiện khác như thường xuyên nhầm lẫn, mau quên, trí nhớ giảm sút [45], [54], [57]
Trang 31Tóm lại, stress xuất hiện, tác động và ảnh hưởng đến các chức năng và quá trình hoạt động của các hệ thống cơ quan trong cơ thể, dẫn đến các biểu hiện stress ở các mặt sinh lý cơ thể như mệt mỏi, chóng mặt, đau đầu, đau cơ, vấn đề về tiêu hóa, Bên cạnh đó, stress cũng tác động và ảnh hưởng đến sự phát triển của quá trình nhận thức, đời sống tâm lý tình cảm của con người Sự đáp ứng tâm sinh lý của mỗi
cá nhân với stress khác nhau tùy thuộc vào sự nhận thức của cá nhân về khả năng kiểm soát của bản thân đối với sự tác động của stress
1.2.1.3 Nguyên nhân dẫn đến stress
Những nguyên nhân gây nên tình trạng căng thẳng, lo âu thường được gọi là tác nhân gây stress Các nhà khoa học đến nay đã mô tả và phân loại rất nhiều tác nhân gây stress khác nhau Bất kỳ một sự kiện nào diễn ra trong cuộc sống mà ở đó con người nhận thấy có sự đe dọa hoặc chịu áp lực khi bản thân nhận ra đây là một tình huống khó có thể vượt qua đều là những tác nhân nguy cơ gây nên tình trạng stress Các tác nhân gây stress có thể được chia làm hai nhóm chính:
a Tác nhân bên ngoài:
*Các sự kiện quan trọng xảy ra trong cuộc sống của cá nhân:
Nghiên cứu của Thomas H Holmes và Richard H Rahe (1967) đã chỉ ra các nguyên nhân gây stress chủ yếu trong cuộc sống của con người Với “Thang đo Tái
thích nghi xã hội” (Social Readjustment Scale), Holmes & Rahe đề xướng 43 sự
kiện tích cực và tiêu cực trong cuộc sống Theo đó, sự kiện gây stress nhiều nhất là cái chết của người chồng hoặc người vợ Sự kiện gây stress ít nhất là tình trạng vi phạm lỗi nhỏ về mặt pháp luật Các sự kiện được cho là có mức độ gây stress cao là tan vỡ hạnh phúc gia đình dẫn đến ly hôn, ly thân, vướng vào vòng lao lý, đau ốm, kết hôn, thất nghiệp, có thai, mua nhà mới, Moos và Schaefer (1986) nhận định
sự thay đổi điều kiện sống và làm việc cũng là tác nhân gây stress cao cho con người Đó có thể là các sự kiện chuyển trường, chuyển chỗ ở, bắt đầu bước vào tuổi dậy thì, học xa nhà, [45], [47], [54]
Trang 32*Các rắc rối trong cuộc sống:
Phần lớn các tác nhân gây nên tình trạng căng thẳng mà con người phải đối mặt chính là những rắc rối trong cuộc sống thường nhật Lazarus và Folkman (1984) trong nghiên cứu của mình đã chỉ ra rằng chính các rắc rối hằng ngày lại là tác nhân gây stress cho con người nhiều hơn là các sự kiện cột mốc của đời người Lazarus và Folkman lý giải rằng các sự kiện cột mốc tuy mang ý nghĩa quyết định
vì tính bước ngoặt của nó, nhưng các sự kiện cột mốc không xảy ra hằng ngày Trái lại, các rắc rối thường ngày thì lại có tần suất xuất hiện và tác động liên tục đến sức khỏe thể lý và sức khỏe tinh thần của con người Thế nên các rắc rối thường ngày lại là tác nhân gây stress trong cuộc sống Một số các rắc rối thường nhật được liệt
kê ra như việc sống trong môi trường ồn ào, khói bụi, tình trạng kẹt xe, tình trạng chen chúc nhau trong các phương tiện công cộng, ô nhiễm môi trường, hàng xóm không thân thiện, làm mất chìa khóa, xếp hàng chờ đợi, thiếu ngủ, sợ các tệ nạn xã hội, [55]
b Tác nhân bên trong
Khi đối mặt với một sự kiện hay tình huống gây căng thẳng, lo lắng, con người
sẽ lượng giá mức độ đe dọa hay áp lực của sự kiện hoặc tình huống đó và đưa ra cách đáp ứng Nói cách khác, mỗi người có cách đáp ứng khác nhau với cùng một
sự kiện hay tình huống gây căng thẳng Sự khác nhau này là do nhận thức, cảm xúc
và định hướng các giá trị chuẩn mực của mỗi cá nhân khác nhau Do đó có thể nói
rằng nguồn gốc của sự căng thẳng mang tính cá nhân, và nó phụ thuộc vào sự tự đánh giá của mỗi người đối với tình huống, sự kiện gây stress [45], [46] Các yếu tố bên trong ảnh hưởng đến sự tự đánh giá của mỗi cá nhân là sự tin tưởng, kỳ vọng,
sự tự khẳng định bản thân, lòng tự trọng, các đặc điểm nhân cách, sự cầu toàn, Friedman và Rosenman (1974) đã nghiên cứu và xác định ba loại nhân cách thường gặp, trong đó mỗi loại nhân cách có thiên hướng dễ bị stress khác nhau [76]
Tuýp A được mô tả với tính cách thích sự cạnh tranh, hành động luôn hướng đến việc đạt được mục tiêu đã đề ra, thiếu kiên nhẫn, luôn ở trạng thái sẵn sàng hành động, làm nhiều việc cùng một lúc, có tinh thần tự phê bình, và ít khi thỏa mãn với
Trang 33thành công hiện tại Tuýp B là những người có xu hướng bao dung, rộng lượng với người khác, tìm được sự thư giãn hơn những người thuộc tuýp A, trầm tĩnh, ít lo âu,
có khả năng tưởng tượng và tư duy sáng tạo Những cá nhân thuộc tuýp C được mô
tả với đặc điểm khó khăn trong việc thể hiện cảm xúc và có xu hướng ngăn cản, đè nén cảm xúc của bản thân, là mẫu người cam chịu, nhẫn nhục, sợ xảy ra xung đột, mâu thuẫn, có xu hướng bằng lòng với những gì đang có, ít tranh đua, ít tham vọng, không đòi hỏi quá cao đối với bản thân [75]
1.2.2 Những vấn đề về HIV/AIDS
1.2.2.1 Khái niệm HIV/AIDS
HIV là tên viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Human Immunodeficiency Virus” HIV là virus gây suy giảm miễn dịch mắc phải ở người, làm cho cơ thể suy giảm khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh HIV có 2 tuýp là HIV-1 và HIV-2 [22, tr.65]
AIDS là tên viết tắt của cụm từ tiếng Anh "Acquired Immune Deficiency Syndrome" là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải do HIV gây ra AIDS là một bệnh mạn tính do HIV gây ra HIV phá hủy các tế bào của hệ miễn dịch, khiến cơ thể không còn khả năng chống lại các virus, vi khuẩn và nấm gây bệnh Do đó bệnh nhân dễ bị một số loại ung thư và nhiễm trùng cơ hội mà bình thường có thể đề kháng được [2], [5], [56]
Bản thân virus và nhiễm trùng được gọi là HIV Thuật ngữ AIDS được dùng
để chỉ giai đoạn muộn hơn của bệnh Như vậy, thuật ngữ nhiễm HIV/AIDS được dùng để chỉ những giai đoạn khác nhau của cùng một bệnh
Virus được chia ra gồm virus loại ADN (acid deoxyribonucleic) và ARN (acid ribonucleic) Đơn vị cấu thành nên các gen của virus là những nucleotid Cả hai loại ARN và ADN đều được tạo bởi các nucleotid mã hóa sự sản sinh protein HIV là một virus ARN gồm 9200 nucleotid HIV sao chép từ ARN thành ADN sử dụng enzyme sao chép ngược ADN được tạo ra sau đó tích hợp vào bộ gen của tế bào vật chủ (lympho bào T) Sau đó virus HIV (ARN và các protein) tiếp tục được tạo ra bằng phức hợp ADN này
Trang 34Tế bào CD4 là một loại tế bào lympho T Các tế bào lympho T là bạch cầu
Có 2 loại tế bào lympho T chính là tế bào CD4 và tế bào CD8 Tế bào CD4, còn gọi
là “tế bào T hỗ trợ”, một loại bạch cầu tham gia quá trình đáp ứng miễn dịch của cơ thể chống lại mầm bệnh như nhiễm trùng và ung thư [40, tr.618]
HIV gây bệnh bằng cách gắn kết vào các tế bào CD4 Hàng tỷ tế bào CD4 bị nhiễm và phá hủy mỗi ngày Theo thời gian, không thể tạo ra đủ tế bào CD4 mới và
số tế bào CD4 dần giảm xuống Số lượng tế bào CD4 càng thấp thì hệ miễn dịch càng bị tổn thương [20, tr.7] Hay nói cách khác là số lượng tế bào CD4 trong cơ thể chỉ điểm mức độ tổn thương miễn dịch do HIV gây ra Khi số lượng tế bào CD4 giảm thấp, người bệnh dễ mắc một số bệnh mà cơ thể người khoẻ mạnh bình thường đủ sức chống lại Các bệnh nhiễm trùng cơ hội này là nguyên nhân tử vong chính ở người mắc AIDS HIV cũng nhiễm vào các tế bào não, gây một số rối loạn thần kinh [2, tr.12]
1.2.2.2 Các hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV
a Lây qua đường máu:
HIV có nhiều trong máu, nên về nguyên tắc, mọi sự tiếp xúc trực tiếp với máu của người không biết chắc chắn tình trạng nhiễm HIV đều có nguy cơ lây nhiễm HIV HIV có nhiều trong máu toàn phần cũng như trong các thành phần của máu như hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu, huyết tương, các yếu tố đông máu Do đó HIV có thể lây truyền qua máu và cả qua các chế phẩm của máu có nhiễm HIV [3], [5], [22]
Một số hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV qua đường máu có thể là:
- Dùng chung bơm kim tiêm
- Dùng chung dụng cụ xuyên chích qua da
- Dùng chung dụng cụ cá nhân: dao cạo râu, bàn chải đánh răng,
- Tiếp xúc với máu và dịch sinh học của người nhiễm HIV
- Tai nạn rủi ro nghề nghiệp,
Trang 35Trong đó, tiêm chích ma túy là nhóm có nguy cơ lây truyền HIV cao nhất trong tất cả các nhóm nguy cơ cao, nhất là khi người nhiễm HIV tiếp tục tiêm chích và dùng chung bơm tiêm
Thực tế cho thấy người nghiện chích ma túy thường sử dụng lại hoặc dùng chung bơm kim tiêm vì một số lý do như: ý thức tính bất hợp pháp của hành động tiêm chích ma túy nên một người nghiện chích ma tuý không mang bơm kim tiêm thì an toàn hơn; dùng chung kim tiêm sẽ tiết kiệm hơn; người nghiện chích ma túy chỉ cần thoả mãn cơn nghiện, không kịp quan tâm đến việc đảm bảo an toàn; người nghiện thích tụ tập và dùng chung bơm kim tiêm; e ngại dùng kim tiêm riêng do nể nang nhau;
b Lây qua đường tình dục:
Đường tình dục là một trong 03 con đường chính lây truyền HIV và được coi là phương thức lây truyền HIV phổ biến nhất trên thế giới
Sự lây truyền HIV qua đường tình dục xảy ra khi các dịch thể (máu, dịch sinh dục) có chứa HIV xâm nhập vào cơ thể bạn tình không nhiễm HIV Do HIV có nhiều trong dịch sinh dục với đủ lượng có thể làm lây truyền từ người này sang người khác, cho nên về nguyên tắc mọi sự tiếp xúc trực tiếp với dịch sinh dục của người không biết chắc chắn tình trạng nhiễm HIV với tất cả các hình thức quan hệ tình dục đều có nguy cơ bị nhiễm HIV Bên cạnh đó, các kiểu quan hệ tình dục không xâm nhập nếu có tiếp xúc trực tiếp với dịch sinh dục cũng có nguy cơ lây nhiễm HIV nếu một trong hai bạn tình đã nhiễm HIV [3], [5], [22]
Tóm lại, nguy cơ lây nhiễm HIV qua con đường tình dục có thể xuất phát từ:
- Quan hệ tình dục đồng giới
- Quan hệ tình dục khác giới
- Quan hệ tình dục lưỡng giới
- Kiểu quan hệ tình dục
c Lây từ mẹ sang con:
Người phụ nữ mang thai nhiễm HIV có thể truyền HIV cho con qua các giai đoạn trong bào thai, trong lúc sinh và sau sinh [3], [5], [22]
Trang 36Trong khi mang thai, HIV từ máu của mẹ nhiễm HIV qua nhau thai để vào cơ thể thai nhi
Tuy nhiên, con số trẻ sơ sinh bị nhiễm HIV từ khi còn nằm trong tử cung có một
tỷ lệ nhất định Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng sự lây truyền HIV từ mẹ sang con thường xảy ra muộn vào thời kỳ chuyển dạ Trong khi sinh, HIV từ nước ối, dịch tử cung, dịch âm đạo của mẹ xâm nhập vào trẻ khi sinh (qua niêm mạc mắt, mũi, hậu môn hoặc da sây sát của trẻ trong quá trình sinh) Trong khi sinh, HIV cũng có thể
từ trong máu của mẹ thông qua các vết loét ở cơ quan sinh dục mẹ và xâm nhập vào
cơ thể (niêm mạc) của trẻ sơ sinh Nguy cơ lây truyền HIV từ mẹ sang con trong khi sinh sẽ tăng lên đối với những trường hợp đẻ khó, chuyển dạ kéo dài; phần mềm của người mẹ bị dập nát, thai bị xây xước; sang chấn; vỡ ối sớm,
Các nhà khoa học cũng khuyến cáo nên sử dụng nguồn sữa thay thế sữa mẹ để hạn chế nguy cơ lây nhiễm HIV qua sữa mẹ Khi mẹ cho con bú, HIV có thể lây qua các vết nứt ở núm vú người mẹ, nhất là khi trẻ đang có tổn thương ở niêm mạc miệng hoặc khi trẻ mọc răng cắn núm vú chảy máu Cai sữa càng sớm càng tốt để hạn chế nguy cơ lây truyền HIV từ mẹ sang con [2], [3]
1.2.2.3 Các giai đoạn của AIDS
a P hân giai đoạn lâm sàng theo WHO
Nhiễm HIV ở người lớn được phân thành 4 giai đoạn lâm sàng, tùy thuộc vào các triệu chứng bệnh liên quan đến HIV ở người nhiễm [2, tr.8]
Giai đoạn lâm sàng 1: Không triệu chứng
Trong giai đoạn lâm sàng 1 theo WHO, bệnh nhân thường không có triệu chứng và
có thể hoạt động bình thường, tuy nhiên vẫn có thể có hạch to dai dẳng toàn thân
Giai đoạn lâm sàng 2: Triệu chứng nhẹ
Ở giai đoạn 2 có triệu chứng nhưng nhẹ, bệnh nhân vẫn có thể làm việc và thực hiện hoạt động bình thường ở nhà
Các triệu chứng lâm sàng như:
- Sút cân mức độ vừa không rõ nguyên nhân (< 10% trọng lượng cơ thể)
Trang 37- Nhiễm trùng hô hấp tái diễn (viêm xoang, viêm amidan, viên tai giữa, viêm hầu họng)
- Zona (Herpes zoster)
- Viêm khoé miệng
- Loét miệng tái diễn
- Phát ban dát sẩn, ngứa
- Viêm da bã nhờn
- Nhiễm nấm móng
Giai đoạn lâm sàng 3: Triệu chứng tiến triển
Đây là giai đoạn có triệu chứng ở mức độ từ trung bình đến nặng Hoạt động của người bệnh có thể bị hạn chế Tuy nhiên bệnh nhân vẫn có thể hoạt động, thời gian nằm giường ít hơn 50% tổng thời gian trong ngày
Dấu hiệu điển hình:
- Sút cân nặng không rõ nguyên nhân (> 10% trọng lượng cơ thể)
- Tiêu chảy không rõ nguyên nhân kéo dài hơn 1 tháng
- Sốt không rõ nguyên nhân từng đợt hoặc liên tục kéo dài hơn 1 tháng
- Nhiễm nấm Candida miệng tái diễn
- Bạch sản dạng lông ở miệng
- Lao phổi
- Nhiễm trùng nặng do vi khuẩn (viêm phổi, viêm mủ màng phổi, viêm đa cơ
mủ, nhiễm trùng xương khớp, viêm màng não, nhiễm khuẩn huyết)
- Viêm loét miệng hoại tử cấp, viêm lợi hoặc viêm quanh răng
- Thiếu máu (Hb< 80g/L), giảm bạch cầu trung tính (< 0.5x109/L), và/hoặc giảm tiểu cầu mạn tính (< 50x109/L) không rõ nguyên nhân
Giai đoạn lâm sàng 4: Triệu chứng nặng
Giai đoạn lâm sàng 4 theo WHO có nghĩa là bệnh nhân có những triệu chứng nặng và/hoặc xuất hiện các bệnh nhiễm trùng cơ hội nặng Mức độ hoạt động rất hạn chế Bệnh nhân có thể phải nằm tại giường nhiều hơn 50% tổng thời gian trong ngày Những hội chứng phổ biến nhất là:
Trang 38- Hội chứng suy mòn do HIV (sút cân >10% trọng lượng cơ thể, kèm theo sốt kéo dài trên 1 tháng hoặc tiêu chảy kéo dài trên 1 tháng không rõ nguyên nhân)
- Viêm phổi do Pneumocystis jiroveci (PCP)
- Nhiễm Herpessimplexmạn tính (ở môi miệng, cơ quan sinh dục, quanh hậu môn, kéo dài hơn 1 tháng, hoặc bất cứ đâu trong nội tạng)
- Nhiễm Candida thực quản (hoặc nhiễm candida ở khí quản, phế quản hoặc phổi)
- Lao ngoài phổi
- Sarcoma Kaposi
- Bệnh do Cytomegalovirus (CMV) ở võng mạc hoặc ở các cơ quan khác
- Bệnh do Toxoplasma ở hệ thần kinh trung ương
- Bệnh lý não do HIV
- Bệnh do Cryptococcus ngoài phổi bao gồm viêm màng não
- Bệnh do Mycobacteria Avium Complex (MAC) lan toả
- Tiêu chảy mạn tính do Cryptosporidia
- Tiêu chảy mạn tính do Isospora
- Bệnh do nấm lan toả (bệnh nấm Penicillium, bệnh nấm Histoplasma ngoài phổi)
- Nhiễm trùng huyết tái diễn (bao gồm nhiễm Sallmonella không phải thương hàn)
- U lympho ở não hoặc u lympho non - Hodgkin tế bào B
- Ung thư cổ tử cung xâm nhập (ung thư biểu mô)
- Bệnh do Leishmanialan toả không điển hình
- Bệnh lý thận do HIV
- Viêm cơ tim do HIV
b Phân giai đoạn miễn dịch:
Tình trạng miễn dịch của người lớn nhiễm HIV còn được đánh giá thông qua chỉ số tế bào CD4
Mức độ số tế bào CD4/mm 3
- Bình thường hoặc suy giảm không đáng kể: > 500 tế bào/mm3
- Suy giảm nhẹ: 350 – 499 tế bào/mm3
Trang 39- Suy giảm tiến triển: 200 – 349 tế bào/mm3
- Suy giảm nặng: < 200 tế bào/mm3
c Tiêu chuẩn chẩn đoán nhiễm HIV tiến triển (bao gồm AIDS):
• Có bệnh lý thuộc giai đoạn lâm sàng 3 hoặc 4
• Số lượng CD4 < 350 tế bào/mm3
AIDS được xác định khi người nhiễm HIV có bất kỳ bệnh lý nào thuộc giai đoạn
4 (chẩn đoán lâm sàng hoặc xác định), hoặc số lượng CD4 < 200 tế bào/mm3
b Điều trị dự phòng phơi nhiễm
Phơi nhiễm với HIV do tai nạn nghề nghiệp hoặc ngoài môi trường nghề nghiệp là tiếp xúc trực tiếp với máu và các dịch cơ thể có nhiễm HIV dẫn đến nguy
cơ lây nhiễm HIV
Điều trị dự phòng phơi nhiễm nhằm ngăn chặn HIV xâm nhập vào tế bào Cần xử lý vết thương tại chỗ sau phơi nhiễm đúng cách Thời điểm điều trị dự phòng bằng ARV cho người bị phơi nhiễm rất quan trọng Cần tiến hành càng sớm càng tốt từ 2 - 6 giờ sau khi có tiếp xúc đến tối đa trước 72 giờ, bằng thuốc kháng HIV liên tục trong 28 ngày [2], [35]
c Điều trị dự phòng lây truyền từ mẹ sang con
Theo WHO, dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con là tổng hợp các biện pháp truyền thông và cung cấp các dịch vụ thích hợp nhằm làm giảm đến mức thấp nhất tỷ lệ lây truyền HIV từ người mẹ nhiễm HIV sang con của họ [4, tr.14] Điều trị dự phòng lây truyền từ mẹ sang con là điều trị bằng ARV cho phụ nữ mang thai nhiễm HIV và trẻ mới sinh từ mẹ nhiễm HIV Tùy theo tình trạng nhiễm HIV của
bà mẹ và thời điểm mang thai sẽ có những chỉ định điều trị thích hợp Trẻ sinh ra cũng được uống ARV trong 24 giờ đầu sau khi sinh và sau đó được tiếp tục theo dõi
Trang 40tại các cơ sở chăm sóc và điều trị HIV dành cho trẻ em để được chăm sóc và theo dõi lâu dài, khi trẻ được 4 – 6 tuần tuổi Tư vấn về lợi ích của sữa mẹ và nguy cơ lây nhiễm HIV qua sữa mẹ Việc điều trị này làm giảm đáng kể tỉ lệ trẻ nhiễm HIV
từ 30% xuống còn 6% [2], [4], [35]
d Điều trị dự phòng nhiễm trùng cơ hội
Người nhiễm HIV có thể phòng ngừa các nhiễm trùng cơ hội bằng các biện pháp giữ vệ sinh tối đa trong ăn uống, sinh hoạt hằng ngày, tiêm chủng phòng ngừa bệnh và điều trị phòng ngừa bằng các thuốc kháng sinh hay thuốc đặc trị theo chỉ định của thầy thuốc [35, tr.2] Điều trị dự phòng nhiễm trùng cơ hội nhằm mục đích
dự phòng các bệnh nhiễm trùng cơ hội như PCP, viêm não do Toxoplasma và đồng thời dự phòng được bệnh tiêu chảy, viêm đường hô hấp do một số loại vi khuẩn gây nên [2, tr.12]
e Điều trị thuốc kháng HIV – điều trị ARV
Điều trị ARV là một phần trong tổng thể các dịch vụ chăm sóc và hỗ trợ về y
tế, tâm lý và xã hội cho người nhiễm HIV/AIDS
Điều trị kháng HIV bắt đầu khi người bệnh có các triệu chứng nhiễm trùng
cơ hội theo chỉ định của bác sĩ, số tế bào CD4 dưới 350/mm3 máu Đây là loại điều trị lâu dài và phức tạp, do vậy cần có sự hợp tác của người bệnh và tuân thủ chặt chẽ các chỉ định của thầy thuốc Điều trị ARV là điều trị suốt đời, đòi hỏi người bệnh phải tuân thủ điều trị tuyệt đối để đảm bảo hiệu quả và tránh kháng thuốc [2, tr.39]
Mục đích của điều trị ARV: [2, tr.39]
• Ức chế sự nhân lên của virus và kìm hãm lượng virus trong máu ở mức thấp nhất
• Phục hồi chức năng miễn dịch, giảm nguy cơ mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội
• Cải thiện chất lượng sống và tăng khả năng sống sót cho người bệnh