1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THỰC HÀNH về QUY TRÌNH TIÊM AN TOÀN của điều DƯỠNG và các yếu tố LIÊN QUAN tại BỆNH VIỆN THANH NHÀN năm 2017

80 359 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 194,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nghiên cứu chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu lại vớiquy trình tiêm tĩnh mạch và tìm hiểu các yếu tố liên quan đếnviệc thưc hiện các mũi tiêm an toàn đối với ĐDV trong khốilâm sàng

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ THANH THỦY

THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VỀ QUY TRÌNH TIÊM AN TOÀN CỦAĐIỀU DƯỠNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI BỆNH VIỆN THANH NHÀN NĂM 2017

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ THANH THỦY

THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VỀ QUY TRÌNH TIÊM AN TOÀN CỦAĐIỀU DƯỠNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI BỆNH VIỆN THANH NHÀN NĂM 2017

Chuyên ngành : Quản lý bệnh viên

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

Người hướng dẫn khoa học:

TS Nguyễn Thị Hoài Thu

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

BKT : Bơm kim tiêm

BV : Bệnh viện

BVĐK : Bệnh viện đa khoa

CTSN : Chất thải sắc nhọn

ĐDV : Điều dưỡng viên

ĐTNC : Đối tượng nghiên cứu

KBCB : Khám bệnh, chữa bệnh

KSNK : Kiểm soát nhiễm khuẩn

NCV : Nghiên cứu viên

NVYT : Nhân viên y tế

SK : Sát khuẩn

TAT : Tiêm an toàn

VST : Vệ sinh tay

WHO : Tổ chức Y tế Thế giới

KHHGĐ : Kế hoạch hóa gia đình

TTTT : Thu thập thông tin

Trang 4

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Các định nghĩa và khái niệm sử dụng trong nghiên cứu 3

1.1.1 Định nghĩa tiêm an toàn 3

1.1.2 Các khái niệm sử dụng trong nghiên cứu 3

1.2 Quan điểm và chính sách về Tiêm an toàn 7

1.2.1 Trên thế giới 7

1.2.2 Tại Việt Nam 9

1.3 Thực trạng thực hiện Tiêm an toàn 10

1.3.1 Thực trạng sử dụng thuốc tiêm và hiện tượng lạm dụng tiêm 10

1.3.2 Thực trạng cung cấp trang thiết bị, phương tiện phục vụ tiêm 11

1.3.3 Thực trạng tiêm an toàn 13

1.3.4 Nguy cơ và gánh nặng của tiêm không an toàn 15

1.4 Tổng quan về nghiên cứu Tiêm an toàn 20

1.4.1 Các nghiên cứu về kiến thức và thực hành Tiêm an toàn 20

1.5 Các nghiên cứu về yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành Tiêm an toàn .24

1.5.1 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức Tiêm an toàn 24

1.5.2 Một số yếu tố liên quan đến thực hành Tiêm an toàn 25

1.5.3 Một số thông tin về bệnh viện Thanh Nhàn 27

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

2.1 Đối tượng nghiên cứu 29

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 29

2.3 Địa điểm 29

2.4 Thiết kế nghiên cứu 30

2.5 Phương pháp thu thập số liệu 30

2.5.1 Xây dựng, thử nghiệm và hoàn thiện bộ công cụ nghiên cứu 30

2.5.2 Tổ chức thực hiện thu thập số liệu 30

Trang 5

2.6.2 Tập huấn điều tra viên về nội dung quan sát thực hành tiêm 32

2.7 Các biến số nghiên cứu và chỉ số nghiên cứu 33

2.8 Tiêu chuẩn đánh giá 37

2.8.1 Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức Tiêm an toàn của điều dưỡng viên 37

2.8.2 Tiêu chuẩn đánh giá thực hành tiêm an toàn 37

2.9 Phương pháp phân tích số liệu 38

2.10 Đạo đức nghiên cứu 38

2.11 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số 39

Chương 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 41

3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 41

3.2 Kiến thức về TAT của ĐD 42

3.2.1 Kiến thức chung về TAT 42

3.2.2 Kiến thức về chuẩn bị người bệnh, ĐDV 43

3.2.3 Kiến thức về chuẩn bị dụng cụ và thuốc tiêm 44

3.2.4 Kiến thức về thực hành TAT 45

3.3 Một số các yếu tố liên quan đến thực hành TAT 46

3.3.1 Yếu tố cá nhân và thực hành TAT 46

3.3.2 Yếu tố kiến thức và thực hành TAT 46

3.3.3 Yếu tố điều kiện làm việc tác động lên thực hành TAT 47

Chương 4: DỰ KIẾN BÀN LUẬN 48

4.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 48

4.2 Kiến thức chung về Tiêm an toàn của điều dưỡng viên 48

4.3 Kiến thức về thực hành Tiêm an toàn 48

4.4 Một số các yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành Tiêm an toàn của điều dưỡng viên 48

DỰ KIẾN KẾT LUẬN 49

DỰ KIẾN KIẾN NGHỊ 50 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

Bảng 3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 41

Bảng 3.2 Kiến thức chung về TAT 42

Bảng 3.3 Kiến thức chuẩn bị người bệnh và ĐDV 43

Bảng 3.4 Kiến thức về dụng cụ và thuốc tiêm 44

Bảng 3.5 Kiến thức thực hành kỹ thuật đưa thuốc vào NB 45

Bảng 3.6 Mối liên quan giữa yếu tố cá nhân và thực hành TAT 46

Bảng 3.7 Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành TAT 46

Bảng 3.8 Mối liên quan giữa điều kiện làm việc và thực hành TAT 47

Trang 7

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tiêm là một trong các biện pháp để đưa thuốc chất dinhdưỡng vào cơ thể nhằm mục đích chẩn đoán điều trị và phòngbệnh Trong điều trị, tiêm có vai trò rất quan trọng đặc biệttrong trường hợp người bệnh cấp cứu người bệnh nặng Tronglĩnh vực phòng bệnh tiêm chủng đã tác động mạnh vào việcgiảm tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong đối với 6 bệnh truyền nhiễm

có thể phòng bằng vắc xin ở trẻ em [1]

Trên thế giới, hàng năm có khoảng 16 tỷ mũi tiêm đượcthực hiện và có tới 50% mũi tiêm tại các nước đang phát triểnkhông đạt đủ tiêu chí mũi Tiêm an toàn (TAT) Năm 2000,tiêm không an toàn là nguyên nhân dẫn đến 21 triệu ngườinhiễm bệnh viêm gan B, 2 triệu người nhiễm viêm gan C và

260 nghìn người nhiễm HIV [2]

Tại Việt Nam, một số tai biến trong tiêm xảy ra tại các

cơ sở y tế đã gây hậu quả không nhỏ làm ảnh hưởng đến tínhmạng, sức khỏe của NB, nhân viên y tế (NVYT) và cộng đồnglàm ảnh hưởng đến chất lượng khám bệnh, chữa bệnh(KBCB) và uy tín của ngành Theo nghiên cứu của thạc sĩPhạm Đức Mục về vấn đề rủi ro gây ra tai biến do tiêm không

an toàn chiếm 29,2% Theo kết quả nghiên cứu về thực hiện

kỹ thuật tiêm tại các bệnh viện thuộc khu vực thành phố Hànội: tỉ lệ điều dưỡng viên (ĐDV) không rửa tay trước khi tiêm

là 55,6%, dùng panh không đảm bảo vô khuẩn là 36%, khôngsát khuẩn ống thuốc trước khi lấy thuốc là 34%, dùng tay để

Trang 8

tháo lắp kim tiêm (KT) là 20,4% [14] Nhiều nghiên cứu đãchỉ ra 2 rằng kiến thức và thực hành TAT của ĐDV tại các

BV còn nhiều hạn chế Vì vậy, trước thực trạng đó, Bộ Y tế đãban hành Hướng dẫn Tiêm an toàn tại Quyết định số3671/QĐ-BYT ngày 27 tháng 9 năm 2012 nhằm cung cấpnhững kiến thức và kỹ năng trong thực hành TAT để triểnkhai áp dụng thống nhất trong tất cả các cơ sở KBCB, cơ sởđào tạo cán bộ y tế và các cá nhân liên quan Ngày 18 tháng

11 năm 2016 Bộ Y tế đã ban hành Quyết đinh 6858/QĐ –BYT về bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện phiên bản2.0 gồm 83 tiêu chí Trong đó chỉ số Tiêm an toàn là mộttrong mười một chỉ số chăm sóc của công tác điều dưỡng Tại bệnh viện Thanh Nhàn, năm 2010 đã tiến hànhnghiên cứu thực trạng mũi tiêm an toàn của ĐDV tuy nhiên tỷ

lệ nghiên cứu cho thấy các mũi tiêm an toàn chưa cao donhiều yếu tố tác động vào việc đảm bảo thực hiện các mũitiêm an toàn của ĐDV Hiện nay, Bệnh viện Thanh Nhànđang trong thời gian sửa chữa nâng cấp hạ tầng do đó mặt bằngcác khoa điều trị bị thu hẹp lại rất nhiều, số lượng bệnh nhânluôn trong tình trạng quá tải, thời gian làm việc chuyên môncủa điều dưỡng bị thu hẹp do tăng số lượng công việc thủ tụchành chính và áp dụng phần mềm máy tính vào công tác quản

lý và điều trị bệnh nhân nội trú… Những vấn đề này đã trựctiếp ảnh hưởng tới thời gian công tác chuyên môn của điềudưỡng và gây ra những hạn chế trong thực hành Tiêm an toàn.Mặt khác Tiêm an toàn là một chỉ số quan trọng trong công tácđánh giá chất lượng của bệnh viện hàng năm Vì vậy nhóm

Trang 9

nghiên cứu chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu lại vớiquy trình tiêm tĩnh mạch và tìm hiểu các yếu tố liên quan đếnviệc thưc hiện các mũi tiêm an toàn đối với ĐDV trong khốilâm sàng của bệnh viện Thanh Nhàn với mục tiêu như sau:

1 Mô tả thực trạng kiến thức, thực hành tiêm an toàn của các ĐDV trong khối lâm sàng bệnh viện Thanh Nhàn năm 2017.

2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành Tiêm an toàn của điều dưỡng viên trong khối lâm sàng bệnh viện Thanh Nhàn năm 2017.

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Các định nghĩa và khái niệm sử dụng trong nghiên cứu

1.1.1 Định nghĩa tiêm an toàn

Tiêm an toàn là quy trình tiêm không gây nguy hại chongười nhận mũi tiêm, không gây phơi nhiễm cho người thựchiện mũi tiêm và không tạo chất thải nguy hại cho người khác

và cộng đồng [1]

1.1.2 Các khái niệm sử dụng trong nghiên cứu

1.1.2.1 Chất sát khuẩn

Các chất chống vi khuẩn (ngăn ngừa nhiễm khuẩn với

mô sống hoặc da) Chất này khác với chất kháng sinh sử dụng

để tiêu diệt hoặc kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn một cáchđặc hiệu và khác với chất khử khuẩn dụng cụ Một số loại chấtsát khuẩn (SK) là chất diệt khuẩn thực sự, có khả năng tiêu

Trang 10

diệt vi khuẩn trong khi một số loại chất SK khác chi có tínhnăng kìm hãm, ngăn ngừa và ức chế sự phát triển của chúng[1].

1.1.2.2 Dung dịch sát khuẩn tay có chứa cồn

Dịch pha chế có chứa cồn dưới dạng chất lỏng, gel hoặckem bọt dùng để xoa/chà tay nhằm tiêu diệt hoặc làm giảm sựphát triển của vi sinh vật Các loại dung dịch này có thể chứamột hoặc nhiều loại cồn pha theo công thức được công nhậncủa các hãng dược phẩm [1]

1.1.2.3 Dự phòng sau phơi nhiễm

Biện pháp ngăn ngừa lây truyền các tác nhân gây bệnhđường máu sau phơi nhiễm

1.1.2.4 Kỹ thuật vô khuẩn

Là các kỹ thuật không làm phát sinh sự lan truyền của vikhuẩn trong quá trình thực hiện như: vệ sinh tay (VST), mangtrang phục phòng hộ cá nhân, sử dụng chất khử khuẩn da,cách mở các bao gói vô khuẩn, cách sử dụng dụng cụ vôkhuẩn

1.1.2.5 Mũi tiêm an toàn trong nghiên cứu

Mũi tiêm an toàn trong nghiên cứu là mũi tiêm đạt đủ 17tiêu chuẩn thực hành trong bảng kiểm đánh giá thực hànhTAT tại quyển Hướng dẫn TAT trong các cơ sở khám bệnh,chữa bệnh ban hành kèm theo quyết định số 3671/QĐ-BYTngày 27 tháng 9 năm 2012 của Bộ Y tế Cụ thể :

1 Bơm kim tiêm vô khuẩn

2 Có sử dụng xe tiêm khi đi tiêm

Trang 11

3 Có sử dụng khay tiêm khi đi tiêm

4 Có hộp đựng vật sắc nhọn ở gần nơi tiêm

5 Rửa tay, sát khuẩn tay nhanh trước khi chuẩn bị thuốc

6 Rửa tay, sát khuẩn tay nhanh trước khi đưa kim tiêm qua da

7 Mang găng khi tiêm tĩnh mạch, truyền dịch, truyền máu

8 Kim lấy thuốc đảm bảo vô khuẩn

9 Tiêm thuốc đúng chỉ định

10 Tiêm đúng vị trí

11 Tiêm đúng góc kim so với mặt da

12 Tiêm đúng độ sâu

13 Rút pittông kiểm tra trước khi bơm thuốc

14 Bơm thuốc đảm bảo hai nhanh một chậm

15 Không dùng hai tay đậy nắp kim

16 Cô lập ngay bơm kim tiêm đã nhiễm khuẩn trong hộp

an toàn

17 Hướng dẫn người bệnh những điều cần thiết

1.1.2.6 Mũi tiêm không an toàn trong nghiên cứu

Mũi tiêm không an toàn trong nghiên cứu là mũi tiêm có

từ một tiêu chí thực hành không đạt trở lên bao gồm nhữngđặc tính sau: dùng bơm tiêm, kim tiêm (BKT) không vôkhuẩn, tiêm không đúng thuốc theo chỉ định; không thục hiệnđúng các bước của quy trình tiêm; các chất thải, đặc biệt làchất thải sắc nhọn (CTSN) sau khi tiêm không phân loại và côlập ngay theo quy chế quản lý chất thải của Bộ Y tế

Trang 12

1.1.2.7 Người điều dưỡng thực hành Tiêm an toàn đúng trong nghiên cứu

Người điều dưỡng thực hành Tiêm an toàn đúng trongnghiên cứu là người điều dưỡng có cả 2 mũi tiêm quan sát đạtmũi tiêm an toàn

1.1.2.8 Phơi nhiễm nghề nghiệp

Phơi nhiễm nghề nghiệp là sự tiếp xúc trực tiếp với máu,dịch tiết, chất bài tiết (trừ mồ hôi) có chứa tác nhân gây bệnhtrong khi NB thực hiện nhiệm vụ dẫn đến nguy cơ lây nhiễmbệnh [1]

1.1.2.9 Phương tiện phòng hộ cá nhân

Phương tiện phòng hộ cá nhân (PPE) bao gồm găng tay,khẩu trang, áo khoác phòng thí nghiệm, áo choàng, tạp dề, baogiày, kính bảo hộ, kính có tấm chắn bên, mặt nạ Mục đích sửdụng PPE là để bảo vệ NVYT, NB, người nhà NB và NVYTkhỏi bị nguy cơ phơi nhiễm và hạn chế phát tán mầm bệnh ramôi truờng bên ngoài Tổchức Y tế Thế giới (WHO) khôngkhuyến cáo sử dụng khẩu trang, găng tay, kính bảo vệ mắt,quần áo bảo vệ trong thực hiện tiêm Các PPE này chỉ sử dụngtrong trường hợp người tiêm có nguy cơ phơi nhiễm với máu,dịch tiết, chất tiết (trừ mồ hôi) [1]

* Tiêm bắp

Đưa mũi tiêm vào phần thân của cơ bắp với góc kim từ60°-90° so với mặt da (không ngập hết phần thân kim tiêm),thường chọn các vị trí sau:

- Cánh tay: 1/3 trên mặt trước ngoài cánh tay

- Vùng đùi: 1/3 giữa mặt trước ngoài đùi

Trang 13

- Vùng mông: 1/4 trên ngoài mông hoặc 1/3 trênngoài của đường nối từ gai chậu trước trên với mỏm xươngcụt [1].

* Tiêm dưới da

Là kỹ thuật tiêm sử dụng bơm kim tiêm để tiêm thuốcvào mô liên kết dưới da của NB, kim chếch 30°-45° so vớimặt da Vị trí tiêm thường 1/3 giữa mặt trước ngoài cánh tay(đường nối từ mỏm vai đến mỏm khuỷu chia làm 3 phần) hay1/3 giữa mặt trước ngoài đùi (đường nối từ gai chậu trước trênđến bờ ngoài xương bánh chè) hoặc dưới da bụng (xungquanh rốn, cách rốn 5 cm) [1]

* Tiêm, truyền tĩnh mạch

Là kỹ thuật dùng kim đưa thuốc, dịch vào tĩnh mạch vớigóc tiêm 30° so với mặt da Khi tiêm chọn tĩnh mạch nổi rõ,mềm mại, không di động, da vùng tiêm nguyên vẹn [1]

* Tiêm trong da

Mũi tiêm nông giữa lớp thượng bì và hạ bì, đâm kimchếch với mặt da 10°- 15°, tiêm xong tạo thành một cục sẩnnhư da cam trên mặt da Thường chọn vùng da mỏng, ít vachạm, trắng, không sẹo, không có lông, vị trí 1/3 trên mặttrước trong cẳng tay, đường nối từ nếp gấp cổ tay đến nếp gấpkhuỷu tay (thông dụng nhất), 1/3 trên mặt ngoài cánh tay(đường nối từ mỏm vai đến mỏm khuỷu), bả vai, cơ ngực lớn[1]

* Thùng đựng chất thải sắc nhọn

Còn gọi là “hộp đựng chất thải sác nhọn (CTSN)”, “hộp

Trang 14

kháng thủng” hay “hộp an toàn” Hộp đựng CTSN được sảnxuất bằng chất liệu cứng, chống thủng, chống rò rỉ được thiết

kế để chứa CTSN một cách an toàn trong quá trình thu gom,hủy bỏ và tiêu hủy Thùng này phải được thiết kế và quản lýtheo đúng Quy chế Quản lý chất thải y tế của Bộ Y tế [5]

* Xử lý các vật sắc nhọn sau khi tiêm

Phân loại chất thải ngay tại nguồn, cô lập ngay vật sắcnhọn vào hộp kháng thủng đủ tiêu chuẩn, không đậy lại nắpkim, không uốn cong, bẻ gẫy kim [1]

Thực tế đã cho thấy tiêm là một thủ thuật phổ biến có vaitrò rất quan trọng trong các lĩnh vực phòng bệnh và chữabệnh Tuy nhiên tiêm cũng gây ra hậu quả nghiêm trọng cho

Trang 15

cả người nhận mũi tiêm, người thực hiện tiêm và cộng đồngnếu như không có những giải pháp nhằm bảo đảm thực hiệnmũi tiêm an toàn [1].

Theo nghiên cứu “Gánh nặng toàn cầu của bệnh do tiêm

bị ô nhiễm được đưa ra trong các thiết lập chăm sóc sức khỏe”của Hauri và cộng sự cho thấy trung bình mỗi người nhận 3,4mũi tiêm, trong đó 39,3% sử dụng bơm tiêm dùng lại

Trong năm 2000 nhiễm khuẩn do tiêm gây ra ước tínhkhoảng 21 triệu ca nhiễm HBV, 2 triệu ca nhiễm HCV và260.000 ca nhiễm HIV tương ứng chiếm tỷ lệ 32%, 40% và5%, các bệnh nhiễm trùng mới này cho một gánh nặng9.177.679 DAILYS giữa năm 2000 đến năm 2030 [8]

Mặc dù những hậu quả do tiêm không an toàn gây ra rấtnghiêm trọng tuy nhiên theo Trung tâm kiểm soát bệnh tậtHoa Kỳ và WHO, có tới 80% tổn thương do kim tiêm có thểphòng ngừa được bằng các biện pháp hết sức đơn giản như sửdụng bằng thiết bị tiêm vô khuẩn và thực hiện đúng quy bìnhtiêm Sự mất an toàn bông tiêm có thể được giảm nhẹ đi rấtnhiều khi ta hiểu rõ tiêm không an toàn, nguyên nhân của cáchiện tượng đó và các biện pháp kiểm soát chúng Nhận thứcđược tầm quan trọng của kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK) và

an toàn bông tiêm, những khó khăn của các nước thành viên

và bách nhiệm của mình trước sự an toàn bông chăm sóc y tế,WHO đã thành lập Mạng lưới TAT Toàn cầu (SIGN) vào năm

1999 Mục đích của SIGN là giảm tần số tiêm và thực hiệnTAT, cải thiện chính sách, quy trình kỹ thuật tiêm, thay đổi

Trang 16

hành vi của người sử dụng và người cung cấp dịch vụ tiêm.

Có 5 nội dung chính trong chính sách TAT: áp dụng hợp lýcác biện pháp điều bị tiêm; ngăn ngừa việc sử dụng lại bơmtiêm và kim tiêm; hủy bơm tiêm và kim tiêm đã qua sử dụngngay tại nơi sử dụng; phân tách chất thải ngay tại nơi phátsinh chất thải; xử lý an toàn và tiêu hủy dụng cụ tiêm đã qua

sử dụng Các tổ chức bên cũng đã xây dựng Chiến lược toàncầu vì mũi TAT bao gồm: (1) Thay đổi hành vi của cán bộ y

tế, NB và cộng đồng; (2) Đảm bảo có sẵn vật tư, bằng thiết bị;(3) Quản lý chất thải an toàn và thích hợp Các biện phápKSNK do tiêm không an toàn được chia thành 5 nhóm chính:(1) Loại bỏ nguy cơ; (2) Biện pháp kỹ thuật; (3) Biện phápkiểm soát hành chính; (4) Biện pháp kiểm soát tập quán làmviệc; (5) Dụng cụ bảo hộ cá nhân [9]

Từ đó đến nay, SIGN đã xây dựng và ban hành chiếnlược an toàn trong tiêm trên toàn thế giới và nhiều tài liệuhướng dẫn liên quan đến tiêm Với chính sách của SIGN đãtạo ra một sự thay đổi lớn trong nhận thức, hành vi của NB vàcộng đồng, đặc biệt với chiến dịch hỗ trợ về truyền thông, kỹthuật và thiết bị cho các nước chậm phát triển đã dần nâng cao

tỷ lệ TAT và góp phần giảm thiểu các nguy cơ và gánh nặngcủa tiêm không an toàn tại mỗi quốc gia và trên toàn thế giới

1.2.2.Tại Việt Nam

Thực hiện khuyến cáo và được sự hỗ trợ kỹ thuật củaWHO, năm 2010, Bộ trưởng Bộ Y tế Việt Nam ra Quyết định

số 2642/QĐ-BYT ngày 21 tháng 7 năm 2011 thành lập Ban

Trang 17

soạn thảo các tài liệu hướng dẫn KSNK, trong đó có Hướngdẫn TAT Ban soạn thảo tài liệu gồm các thành viên có kinhnghiệm lâm sàng, giảng dạy và quản lý liên quan đến tiêmnhư ĐDV, bác sĩ, dược sĩ, chuyên gia KSNK, chuyên gia quản

lý khám, chữa bệnh và đại diện Hội Điều dưỡng Việt Nam.Tài liệu được biên soạn trên cơ sở tham khảo chương trình, tàiliệu đào tạo TAT do Cục Quản lý khám, chữa bệnh phối hợpvới Hội Điều dưỡng Việt Nam xây dựng và áp dụng thí điểmtại 15 BV trong toàn quốc trong hai năm 2009-2010; thamkhảo các kết quả khảo sát thực trạng TAT của Hội Điềudưỡng Việt Nam các năm 2005, 2008, 2009; tham khảo kếtquả rà soát các tài liệu về tiêm, vệ sinh tay, quản lý chất thải y

tế và KSNK Việt Nam và các tổ chức WHO, CDC, UNDP, tàiliệu hướng dẫn TAT của một số Bộ Y tế các nước, các trườngđào tạo điều dưỡng, y khoa, các tạp chí an toàn cho NB vàKSNK của khu vực và của toàn thế giới [1]

Ngày 27 tháng 9 năm 2012 Bộ Y tế đã ban hành Hướngdẫn TAT tại Quyết định số 3671/QĐ-BYT với nhiều nội dungcập nhật so với quy trình tiêm hiện đang được thực hiện vàyêu cầu: (1) Các cơ sở KBCB sử dụng tài liệu này để tậphuấn, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc cung ứng phươngtiện tiêm, thuốc tiêm và thực hành TAT tại đơn vị mình: (2)Các cơ sở đào tạo điều dưỡng, các trường đại học, cao đẳng

và trung học y tế sử dụng tài liệu này để cập nhật chươngtrình, tài liệu đào tạo; (3) Các cá nhân liên quan đến thực hànhtiêm, cung ứng phương tiện và thuốc tiêm, các nhân viên thugom chất thải y tế sử dụng tài liệu này trong thực hành, kiểm

Trang 18

tra, giám sát nội dung tiêm, truyền tĩnh mạch ngoại vi [1].Ngày 02 tháng 8 năm 2013, Cục Quản lý khám, chữabệnh, Bộ Y tế cũng đã có Công văn số 671/KCB-ĐDV yêucầu các đơn vị trực thuộc trong toàn quốc tổ chức, thực hiệnnghiêm túc Hướng dẫn TAT Sở Y tế Hà Nội là cơ quanchuyên môn thuộc UBND thành phố Hà Nội, chịu sự chỉ đạo,hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của

Bộ Y tế Thực hiện chỉ đạo của Bộ Y tế, Sở Y tế Hà Nội đã cóCông văn số 2369 ngày 19 tháng 8 năm 2013 yêu cầu các BV

trực thuộc triển khai thực hiện Hướng dẫn TAT.

1.3 Thực trạng thực hiện Tiêm an toàn

1.3.1 Thực trạng sử dụng thuốc tiêm và hiện tượng lạm dụng tiêm

Tiêm, truyền đang trở thành một thủ thuật xâm lấn phổbiến, với số lượng mũi tiêm lớn trong chẩn đoán, phòng bệnh

và chữa bệnh Kết quả nghiên cứu của Yan Y và cộng sự đượctiến hành tại Trung Quốc nhằm đánh giá về TAT của ngườidân ở huyện Kinh Châu, Hồ Bắc cho thấy trong số 595 đốitượng nghiên cứu có 192 người đã được tiêm ít nhất 1 lầntrong 3 tháng chiếm 32,3%, trung bình 0,93 mũi tiêm/người[10] Hauri và cộng sự năm 2004 cũng cho thấy tỷ lệ tiêmhàng năm cho mỗi người dao động từ 1,7 đến 11,3 [8] TạiViệt Nam, năm 2005, nghiên cứu của Đào Thành và cộng sựđược tiến hành với mục tiêu đánh giá toàn diện trên phạm vitoàn quốc về kết quả sau 5 năm thực hiện cuộc vận động TATtoàn quốc Qua quan sát ngẫu nhiên 776 mũi tiêm cho thấy: tỷ

lệ mũi tiêm trung bình của NB là 2,2 mũi tiêm/người/ngày[11] Nghiên cứu của Trần Thị Minh Phượng tại BV đa khoa

Trang 19

Hà Đông năm 2012 cho thấy tỷ lệ NB nội trú có tiêm chiếm64%, trung bình mỗi NB nhận tới 3,1 mũi tiêm/ngày [12].Thực tế cho thấy, việc lạm dụng tiêm truyền đang trởthành một vấn đề báo động tại một số nước đang phát triển.Lạm dụng tiêm gây nên những thiệt hại lớn về mặt kinh tế vàlàm tăng nguy cơ không an toàn trong quá trình thực hiệntiêm Tại Indonesia và Tanzania, trên 70% những mũi tiêmđược cho là không cần thiết hoặc có thể thay thế bằng thuốcuống, cái được cho là an toàn và rẻ tiền hơn rất nhiều [2] Theonghiên cứu của Hauri và cộng sự năm 2004 cũng đưa ra kếtluận lạm dụng tiêm và thực hành không an toàn đưa đến mộtgánh nặng đáng kể về tử vong và khuyết tật trên toàn thế giới[8] Nghiên cứu tại Jingzhou, Trung Quốc về thực hành tiêm tạicác cơ sở y tế cho thấy có tới 52% đơn thuốc của NB ngoại trú

có chỉ định tiêm, trong đó 57% số mũi tiêm là không cần thiết[10] Tại Việt Nam, nghiên cứu của Đào Thành năm 2010 vềthực trạng TAT trước và sau can thiệp tại 13 BV đại diện cho 3vùng Bắc, Trung, Nam kết quả cho thấy trên 85% nhân viên y

tế cho rằng có tình trạng lạm dụng thuốc tiêm trong đó hơn mộtnửa số người cho rằng đó là tình trạng phổ biến và quan điểmnày không thay đổi ở đánh giá trước và sau [13]

Nguyên nhân dẫn đến lạm dụng tiêm bắt nguồn từ cảphía người được tiêm, người tiêm và cộng đồng Do thiếuthông tin về những nguy hại do tiêm truyền; có niềm tin mơ

hồ về tác dụng hiệu quả dùng thuốc theo đường tiêm so vớiuống; một số NB thích được tiêm hơn, đề nghị hoặc yêu cầubác sỹ cho thuốc tiêm, truyền trong khi có thể dùng thuốcuống thay thế Bên cạnh đó bác sỹ cũng kê đơn lạm dụng

Trang 20

thuốc tiêm để làm hài lòng NB và thêm nữa, lợi nhuận, tiềncông thu được từ thuốc tiêm cũng cao hơn thuốc uống.

1.3.2.Thực trạng cung cấp trang thiết bị, phương tiện phục vụ tiêm

Nhiều quốc gia chưa thực sự quan tâm đầu tư trang thiết

bị phục vụ công tác tiêm an toàn nhằm bảo đảm an toàn chonhân viên y tế và cộng đồng Irina Mikheeva - Viện nghiêncứu dịch tễ học quốc gia liên bang Nga và cộng sự đã tiếnhành nghiên cứu về quản lý chất thải y tế trên 65.415 cơ sở y

tế ở 50 vùng lãnh thổ khác nhau của liên bang Nga năm 2005cho thấy: 61,5% cơ sở y tế sử dụng chai nhựa để chứa bơmkim tiêm Chỉ có 1,4% cơ sở y tế sử dụng máy cắt kim; 14%

cơ sở y tế tái sử dụng các vật dụng thải bỏ

Thiếu phương tiện, dụng cụ tiêm hoặc phương tiện, dụng

cụ tiêm không phù hợp Thiếu BKT hoặc BKT không phù hợp

về mặt kích cỡ, chủng loại hay không bảo đảm chất lượng choviệc tái sử dụng Một số cơ sở y tế dùng chung BKT chonhững loại thuốc khác nhau, cho những NB khác nhau, dùngmột kim lấy thuốc để pha thuốc và rút thuốc nhiều lần Theobáo cáo của WHO, dựa trên kết quả nghiên cứu về hiện trạngtiêm tại 19 nước đại diện cho 5 vùng trên thế giới, có 40%mũi tiêm được thực hiện bằng BKT dùng lại mà không đượctiệt khuẩn [2]

Nghiên cứu tại 80 cơ sở y tế ở Philippin năm 2007 (theo

bộ công cụ đánh giá tiêm an toàn của WHO) cho thấy: tỷ lệ sửdụng lại bơm kim tiêm xấp xỉ 16%, khoảng 49% các cơ sở y

tế chưa có hệ thống xử lý rác thải, chỉ có 17% số cơ sở y tế cóthùng chứa vật sắc nhọn đảm bảo tiêu chuẩn Tại Gujarat,

Trang 21

Indian, 77% số người cung cấp mũi tiêm có những mũi tiêmđược thực hành một cách không an toàn bao gồm luộc bơmkim tiêm để dùng lại, đậy lại nắp kim tiêm bằng hai tay và tiếpxúc trực tiếp với dịch cơ thể.

Tại Việt Nam, thiếu các phương tiện vệ sinh tay: Không

đủ bồn rửa tay tại các buồng bệnh, buồng thủ thuật, khôngcung cấp đủ nước, xà phòng, khăn lau tay sạch hoặc dung dịch

SK tay nhanh có chứa cồn làm ảnh hưởng đến quy trình TATcủa ĐDV Giải pháp trang bị đủ các phương tiện vệ sinh taynhư lắp đặt đủ các bồn rửa tay ở buồng bệnh, buồng thủ thuật;cung cấp đủ nước, xà phòng, khăn lau tay sạch cho mỗi lầnrửa tay hoặc dung dịch SK tay nhanh có chứa cồn treo hoặcđặt sẵn trên các xe tiêm đã được đề cập đến trong Hướng dẫnTAT trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ban hành kèmtheo quyết định số 3671/QĐ-BYT ngày 27 tháng 9 năm 2012của Bộ Y tế [1];

Thiếu các phương tiện thu gom chất thải y tế sau tiêmtheo đúng quy định tại Quyết định 43/2007/QĐ-BYT ngày30/11/2007 của Bộ Y tế ban hành Quy chế Quản lý chất thải y

tế Rất nhiều các cơ sở KBCB hiện nay sử dụng hộp đựngCTSN sau tiêm không đạt yêu cầu, không đủ hộp, hộp không

có tính kháng thấm, kháng thủng, không phù hợp về kích cỡ,hoặc sử dụng không đúng như đựng quá đầy, để hộp khôngđúng vị trí gây tai biến cho người thực hành tiêm và người thugom chất thải sau tiêm Nghiên cứu đánh giá kiến thức vềTAT và tần suất rủi ro do vật sắc nhọn đối với điều dưỡng, hộsinh tại 8 tỉnh đại diện, 6 tháng đầu năm 2005 của Phạm ĐứcMục và cộng sự đã cho thấy có 63,1% và 62,6% số người

Trang 22

được hỏi cho rằng thiếu dụng cụ xử lý chất thải và thiếu hộpđựng CTSN chuẩn là nguyên nhân dẫn đến mũi tiêm không antoàn [14] Để thực hiện tốt nội dung này trong tiêm truyền, Bộ

Y tế đã khuyến cáo các cơ sở KBCB phải bảo đảm phươngtiện đựng CTSN phù hợp với phương pháp tiêu hủy cuốicùng Hộp đựng CTSN phải bảo đảm các tiêu chuẩn: thành vàđáy cứng không bị xuyên thủng; có khả năng chống thấm;kích thước phù hợp; có nắp đóng mở dễ dàng; Miệng hộp đủlớn để cho vật sắc nhọn vào mà không cần dùng lực đẩy; códòng chữ “CHỈ ĐỰNG CHẤT THẢI SẮC NHỌN” và cóvạch báo hiệu ở mức 3/4 hộp và có dòng chữ “KHÔNGĐƯỢC ĐỰNG QUÁ VẠCH NÀY”; màu vàng; có quai hoặckèm hệ thống cố định; khi di chuyển vật sắc nhọn bên trongkhông bị đổ ra ngoài [1]

1.3.3 Thực trạng tiêm an toàn

Thực hành TAT chưa tốt đặc biệt là tại các nước đangphát triển đang là một vấn đề được rất nhiều tổ chức, cá nhânquan tâm Theo WHO có tới 50% các mũi tiêm ở các nướcđang phát triển chưa bảo đảm an toàn, WHO cảnh báo tiêmkhông an toàn đã trở thành thông lệ ở các nước đang phát triển[2] Đã có rất nhiều thao tác thực hành tiêm chưa đúng đượcghi nhận qua các nghiên cứu của các nước: chỉ có 12,5% rửatay bằng xà phòng và nước trước khi thực hành tiêm [7]; 23%trả lời vẫn đậy nắp kim thường xuyên và 32,8% trả lời thỉnhthoảng vẫn đậy lại nắp kim sau tiêm [1]

Tại Việt Nam, việc thực hiện tiêm truyền cho NB trongcác cơ sở KBCB chủ yếu do ĐDV thực hiện Từ năm 2001đến nay, được sự quan tâm của Bộ Y tế, Hội Điều dưỡng Việt

Trang 23

Nam đã phát động phong trào TAT trong toàn quốc, đồng thờitiến hành những khảo sát về thực trạng TAT vào những thờiđiểm khác nhau (2002; 2005; 2008) Kết quả những khảo sátcho thấy: 55% nhân viên y tế còn chưa cập nhật thông tin vềTAT liên quan đến KSNK; phần lớn nhân viên y tế chưa tuânthủ quy trình kỹ thuật và các thao tác KSNK trong thực hànhtiêm (vệ sinh tay, mang găng, sử dụng panh, phân loại và thugom vật sắc nhọn sau tiêm, dùng tay để đậy nắp kim sautiêm ), chưa báo cáo và theo dõi rủi ro do vật sắc nhọn(87,7%) [13].

Hiện tại, thực hành tiêm của ĐDV tại các BV rất khácnhau và một số thực hành chưa phù hợp Thiếu kiến thức vềphân loại chất thải sau tiêm: sau khi tiêm xong, dùng tay đểtháo BKT bằng tay; bẻ cong kim tiêm; đậy nắp kim tiêm;không rửa tay sau khi tiêm; không lường trước được nhữngphản ứng bất ngờ của NB đặc biệt là đối với những bệnh nhi,

NB có những rối loạn về tâm thần hay những NB bất hợp tác[13] Thực hành TAT không đúng được phản ánh qua rấtnhiều nghiên cứu tại các thời điểm và các vùng miền khácnhau: 50,1% ĐDV sát khuẩn da nơi tiêm không đúng quy định[15]; 37,7% không rửa tay, sát khuẩn tay nhanh trước khichuẩn bị dụng cụ tiêm [16], 51% không sát khuẩn tay trướckhi tiêm [17]; 38,3% dùng hai tay đậy lại nắp kim tiêm [16].Hiện tại, Việt Nam chưa có nghiên cứu nào đánh giá hậu quảtoàn diện do tiêm không an toàn gây ra tuy nhiên vẫn có một

số tai biến xảy ra tại các cơ sở KBCB mà hậu quả của tiêmkhông an toàn là rất lớn

Trang 24

Thu gom BKT đã sử dụng để tái sử dụng hoặc bán ra thịtrường bên ngoài theo những cách không an toàn Những saiphạm này là hết sức trầm trọng bởi chúng có thể gây hại chocộng đồng dân cư rộng lớn Thải bỏ BKT bừa bãi ra môitrường Tiêu hủy không đúng cách như thiêu đốt gây ô nhiễmkhông khí, tạo ra những chất sau tiêu hủy chưa thực sự antoàn hoặc chôn lấp không đạt tiêu chuẩn độ sâu gây hại chonhững người khác [13].

Tình trạng quá tải NB, quá tải công việc đang là nhữngrào cản lớn đối với việc thực hiện TAT Tình trạng thiếu nhânlực, bố trí công việc không hợp lý khiến ĐDV phải thực hiệnquá nhiều công việc dưới nhiều áp lực và việc tuân thủ TATkhông được thực thi một cách toàn diện [13]

Công tác quản lý chưa hiệu quả: thiếu kiểm tra giám sát,thiếu chế tài thưởng phạt, chưa tạo phong trào thi đua, tạo môitrường điều kiện thuận lợi cho TAT [13]

Năm 2012, Bộ Y tế Việt Nam đã ban hành Hướng dẫnTAT với nhiều nội dung cập nhật so với quy trình tiêm hiệnđang được thực hiện và yêu cầu triển khai thực hiện tại tất cảcác BV trong toàn quốc nhằm bảo đảm thực hiện mũi tiêm antoàn cho người nhận mũi tiêm, người tiêm và cộng đồng Đếnnay nhiều BV đã cập nhật quy trình tiêm theo Hướng dẫnTAT để ĐDV thực hiện tại BV song chưa có nghiên cứu nàođánh giá việc thực hiện TAT tại các BV theo Hướng dẫn này

1.3.4 Nguy cơ và gánh nặng của tiêm không an toàn

1.3.4.1.Nguy cơ của tiêm không an toàn

Trang 25

Tiêm không an toàn có thể gây lây nhiễm nhiều loại tácnhân gây bệnh khác nhau như vi rút, vi khuẩn, nấm và ký sinhtrùng Tiêm không an toàn cũng có thể gây các biến chứngkhác như áp-xe và phản ứng nhiễm độc Việc sử dụng lại bơmtiêm hoặc kim tiêm còn phổ biến ở nhiều nơi trên thế giớikhiến cho NB phơi nhiễm với các tác nhân gây bệnh một cáchtrực tiếp (qua dụng cụ nhiễm bẩn) hoặc gián tiếp (qua lọ thuốcnhiễm bẩn) [9].

Đối với nhân viên Y tế, nếu mũi tiêm không an toàn cóthể dẫn đến những hậu quả khó lường mà chủ yếu là các bệnhlây qua đường máu như viêm gan B; HIV Một mắt xíchquan trọng của quá trình lây bệnh từ người bệnh sang nhânviên y tế qua đường máu là các tai nạn do vật sắc nhọn TheoWHO, đối tượng bị tai nạn nghề nghiệp do kim đâm vào taychiếm tỷ lệ cao nhất là điều dưỡng (44 -72%); tiếp theo là bác

sỹ (28%); kỹ thuật viên xét nghiệm là 15%; hộ lý là 3 - 16%

và nhân viên hành chính chiếm khoảng 1 - 6% [9],[8]

Tại Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Thúy Quỳnh năm

2009, cho thấy: điều dưỡng có tần suất phơi nhiễm cao nhất(79,6/1000 người/4tháng, trong đó tổn thương xuyên da là66,7/1000 người/4tháng); đứng thứ 2 là nhóm bác sĩ(26,9/1000 người/4tháng, trong đó tổn thương xuyên da22,2/1000 người/4 tháng) NVYT thường xuyên thực hiện cáccông việc tiêm, truyền có tần suất phơi nhiễm cao nhất và100% các trường hợp là tổn thương xuyên da (43,3/1000người/4tháng) [18]

Trang 26

Trong số rất nhiều bệnh lây truyền qua đường máu thìHIV, HCV và HBV được biết đến như là 3 trong số nhữngbệnh liên quan nhiều đến tiêm không an toàn HBV được biếtđến như là một bệnh lây truyền cao, hiện đã ở mức tương đốiphổ biến HBV gây những hậu quả lâu dài cho sức khỏe Tiêmkhông an toàn được cho là gây nên khoảng 1/3 những trườnghợp nhiễm mới tại các nước đang phát triển, tương đươngkhoảng 21 triệu trường hợp nhiễm mới mỗi năm Tiêm không

an toàn cũng là nguyên nhân chủ yếu của những truờng hợpnhiễm HCV tại các nước đang phát triển, gây nên khoảng 2triệu trường hợp nhiễm mới mỗi năm, chiếm trên 40% nhữngtrường hợp nhiễm HCV Tại một số nước (ví dụ Ai cập vàPakistan) có những bằng chứng để kết luận rằng HCV đã đạttới mức cao nhất do tiêm không an toàn gây nên [9] TheoWHO ước tính, tiêm không an toàn gây nên khoảng 250 nghìn

trường hợp nhiễm HIV mới mỗi năm, chiếm khoảng 5% các

trường hợp nhiễm HIV mới, nghiên cứu chỉ ra rằng nhữngtrường hợp nhiễm HIV do tiêm không an toàn xảy ra chủ yếu

ở Nam Á và Châu Phi [8]

Điều dưỡng là đối tượng nhân viên y tế đáng được quantâm nhất khi đề cập tới chủ đề tiêm an toàn bởi vì đây là đốitượng có ảnh hưởng lớn tới bản thân họ và các đối tượng cònlại là người được tiêm và cộng đồng [19] Một số nghiên cứutrước đây về chấn thương do kim đâm cho thấy khoảng 10%đến 25% chấn thương xẩy ra do lắp lại nắp đậy kim tiêm saukhi sử dụng Theo nghiên cứu tại Anh năm 2004 của Mehtatrong vòng 1 năm, tỷ lệ NVYT bị kim đâm là 4-5% trong đóđiều dưỡng bị kim đâm thì 23% ĐDV bị nhiễm viêm gan B,

Trang 27

bác sĩ 15%, kỹ thuật viên 11% nhiễm viêm gan B [2].

Mặc dù tỷ lệ thương tổn ngoài cộng đồng hiện nay chưađược thống kê một cách đầy đủ hệ thống như những tổn thươngcho người bệnh và cán bộ y tế nhưng những bằng chứng của sựtác động đó đã được chứng minh trên thực tế Những nguy hạicho cộng đồng thường xẩy ra khi những dụng cụ sau tiêm khôngđược xử lý an toàn và khi cộng đồng nhặt và sử dụng lại bơmkim tiêm đã sử dụng, những tổn thương có thể xẩy ra, hoặc khithiêu đốt không an toàn có thể gây ra những nguy hại cho môitrường và ảnh hưởng trực tiếp đến cộng đồng

1.3.4.2 Gánh nặng của tiêm an toàn

Những nguy hại về sức khỏe và kinh tế do tiêm đã đượckhẳng định qua nhiều nghiên cứu Người ta ước tính rằng việctiêm không an toàn gây thiệt hại khoảng 535 triệu USD mỗinăm cho chi phí y tế trực tiếp cho việc giải quyết những hậuquả do tiêm không an toàn gây ra, tiêm không an toàn cũnggây nên khoảng 1,3 triệu cái chết và làm mất đi 26 triệu nămsống [20]

Theo WHO, có tới 50% các mũi tiêm ở các nước đangphát triển là không an toàn và trong năm 2000 ước tính trêntoàn cầu tình trạng bệnh do tiêm không an toàn gây ra đối vớicác tác nhân gây bệnh này như sau:

- 21 triệu ca nhiễm vi rút viêm gan B (chiếm 32% số canhiễm HBV mới);

- 2 triệu ca nhiễm vi rút viêm gan C (chiếm 40% số canhiễm HCV mới);

Trang 28

- 260.000 ca nhiễm HIV (chiếm 5% số ca nhiễm HIVmới).

Trong số các NVYT không được điều trị dự phòng sauphơi nhiễm, nguy cơ nhiễm khuẩn sau khi bị tổn thương dokim tiêm là 23% - 62% đối với HBV và 0 - 7% đối với HCV[7] Nhiễm khuẩn chéo sang NB khác và sang NVYT có thể từtay của NVYT, thuốc, thiết bị và dụng cụ y tế hoặc bề mặt môitrường Tiêm không an toàn không những chỉ gây hại cho NB,NVYT mà còn gây hại cho cộng đồng Hiện tại chưa có số liệuthống kê một cách đầy đủ về tác hại gây ra cho cộng đồngnhưng bằng chứng thực tế cho thấy những nguy hại từ việc xử

lý BKT sau tiêm không đúng, người trong cộng đồng đã nhặtđem về tái sử dụng hoặc bị tổn thương trong quá trình nhặt bớirác do việc phân loại và thiêu đốt BKT không đúng quy trình.Theo WHO, đối tượng bị nhiễm khuẩn do kim tiêm đâm đốivới ĐDV từ 44% - 72%, đối với bác sỹ là 28%, đối với kỹthuật viên xét nghiệm là 15%, đối với hộ lý và nhân viên vệsinh từ 3% - 16%, đối với nhân viên hành chính và khách thăm

là 1% - 6% [9]

Nghiên cứu đánh giá tình hình lây nhiễm viêm gan C ởnhân viên y tế tại BV Trung ương Hungary (2001) cho thấytrong số 477 nhân viên y tế được xét nghiệm máu tìm khángthể kháng vi rút viêm gan C thì có 2,7% nhân viên y tế cóHCV dương tính, trong đó 2,7% là điều dưỡng và 2,9% lànhân viên khác của BV, tỷ lệ nhiễm HCV có liên quan đếnyếu tố nghề nghiệp, nghĩa là thời gian làm việc tại BV càngdài thì tỷ lệ nhiễm HCV càng lớn [21]

Trang 29

Việt Nam là một nước đang phát triển nằm trong khu vựcĐông Nam Á - nơi có tỷ lệ nhiễm khuẩn do tiêm không antoàn cao nhất thế giới (tỷ lệ nhiễm mới HBV là 22,4% -53,6%, nhiễm mới HCV là 30,8% - 59,5%, nhiễm mới HIV là7,0% - 24,3%) Theo thống kê chưa đầy đủ của ủy ban phòngchống AIDS cho thấy số tai nạn nghề nghiệp ở các phòng xétnghiệm HIV, riêng trong năm 1999 có tới 62 vụ (trong số695.097 mẫu xét nghiệm HIV), đây là một loại tai nạn do kimlấy máu đâm vào tay NVYT, như vậy nguy cơ lây nhiễm bệnhHIV qua đường máu là rất cao [9] Bên cạnh đó, một loạt cáchậu quả khác do tiêm không an toàn đã được ghi nhận tại ViệtNam như tỷ lệ người bệnh bị áp xe tại vị trí tiêm, chứng liệtthần kinh, phản ứng dị ứng, sốc phản vệ do tiêm không antoàn.

Nghiên cứu năm 2007 của Nguyễn Thúy Quỳnh và cộng

sự tại 13 CSYT tại Hà Nội và Nam Định cho thấy: NVYT cótiếp xúc với số lượng NB lớn hơn 30 người một ngày có nguy

cơ bị viêm gan B nghề nghiệp cao gấp 2 lần (OR=2) so vớiNVYT tiếp xúc với trên 30 NB, (p=0,019) NVYT đã từng bịthương do vật sắc nhọn trong quá trình làm việc chiếm tỷ lệkhá cao (96,8% ở nhóm bệnh và 88,2% ở nhóm chứng),những người đã từng bị tổn thương do vật sắc nhọn có nguy

cơ VGB nghề nghiệp cao gấp 4.1 lần (OR=4,1) so với nhữngngười chưa từng bị tổn thương (p=0,045) NVYT thường bịtổn thương rách da chảy máu có nguy cơ VGB nghề nghiệpcao gấp 3,1 lần (OR=3,l) so với những người không bị(p=0,01) [18]

Trang 30

Năm 2009, tại BV Xanh Pôn nghiên cứu trên 669 nhânviên của 33 khoa phòng lâm sàng và cận lâm sàng cho thấy tỷ

lệ NVYT có xét nghiệm dương tính HBsAg là 7,3%, tần suấtphơi nhiễm chung trong quá trình làm việc là 241,5/ người/năm Tần suất phơi nhiễm cao nhất là trong nhóm NVYT phảithường xuyên thực hiện tiêm truyền là 55,5 người/năm, nhómđiều dưỡng có tần xuất phơi nhiễm cao nhất là 146,1người/năm, vị trí tổn thương ngón tay chiếm 42%, thời điểmtổn thương thường vào buổi sáng 54% trong tổng số các phơinhiễm [22]

Tiêm không an toàn gây những hậu quả nghiêm trọng lànhững điều đã được chứng minh, tuy nhiên một trong nhữngđiểm rất đáng chú ý của vấn đề tiêm an toàn là khả năngphòng tránh không để xẩy ra mất an toàn Theo nhận định củaTrung tâm Kiểm soát bệnh tật của Hoa Kỳ (CDC) và WHOthì có tới 80% các rủi ro do kim tiêm có thể phòng ngừa đượcbằng việc phối hợp các biện pháp hết sức đơn giản pháp như:

sử dụng trang thiết bị tiêm vô khuẩn; thực hiện đúng quy trìnhtiêm Những sự mất an toàn trong tiêm có thể được giảm nhẹ

đi rất nhiều nếu mọi cá nhân và cộng đồng hiểu rõ thực trạng

về tiêm và chủ động kiểm soát các hành vi có có nguy cơ gâyhại và tiến tới loại trừ chúng ra khỏi đời sống

1.4 Tổng quan về nghiên cứu Tiêm an toàn

1.4.1 Các nghiên cứu về kiến thức và thực hành Tiêm an toàn

1.4.1.1.Các nghiên cứu về kiến thức Tiêm an toàn

Nghiên cứu so sánh kiến thức, thái độ thực hành tiêm antoàn của điều dưỡng được tiến hành tại BV Đại học y và BV

Trang 31

Sản ở Ibadan, trên tổng số 385 ĐDV cho thấy 100% ĐDV đãnghe nói về TAT, mức độ kiến thức được đánh giá là cao vàkhông có sự khác biệt đáng kể giữa hai BV, 70,4% biết đượctiêm không an toàn có nguy cơ lây nhiễm bệnh qua đườngmáu, 55,9% cho rằng dùng hai tay đậy nắp kim tiêm khôngphải là thực hành TAT đúng, 76,1% cho rằng BKT sau sửdụng phải được bỏ vào thùng đựng CTSN [23].

Ở Việt Nam, đã có một số nghiên cứu về kiến thức TATtại các thời điểm khác nhau, quy mô khác nhau tuy nhiên bộcông cụ để đánh giá kiến thức của ĐDV trong các nghiên cứurất khác nhau, một số câu hỏi có nội dung chưa cập nhật, chưa

đi sâu vào kiến thức trọng tâm về TAT Năm 2005, Phạm ĐứcMục đã tiến hành nghiên cứu mô tả cắt ngang 529 Điều dưỡng

- hộ sinh đang công tác tại các khoa lâm sàng trong một số cơ

sở y tế tại 8 tỉnh trong thời gian từ 15/6/2005 đến 15/7/2005nhằm đánh giá kiến thức của điều dưỡng, hộ sinh về TAT sau

5 năm thực hiện cuộc vận động TAT toàn quốc của Hội Điềudưỡng Việt Nam bằng bộ câu hỏi phát vấn gồm 11 câu hỏi vềkiến thức và nguyên nhân tiêm không an toàn, kết quả 95,3%ĐDV trả lời đúng TAT có thể lây truyền HIV, 97,4% trả lờiđúng có thể lây truyền viêm gan B và 74,4% trả lời đúng cóthể lây truyền HCV [14] Tuy nhiên bộ công cụ phát vấn nàychưa đi sâu vào kiến thức thực hành TAT và những nội dungcập nhật về kiến thức TAT

Năm 2010, Đào Thành đã tiến hành nghiên cứu đánh giátại 13 BV đại diện toàn quốc, khảo sát nhận thức của 830ĐDV qua bộ công cụ gồm 32 câu hỏi để đánh giá nhận thức,

Trang 32

kiến thức và thái độ về TAT, kết quả cho thấy tỷ lệ có kiếnthức về chuẩn bị trước tiêm đạt trên 82%, riêng kiến thức vềtiêu chuẩn của hộp kháng thủng chỉ đạt 54,6%, kiến thức vềquy trình tiêm đạt 65,3%, vệ sinh tay VST sau khi tiêm50,5%, phòng ngừa và xử lý tai nạn do vật sắc nhọn còn rấthạn chế, chỉ có 30,9% có kiến thức đạt [13].

Nghiên cứu đánh giá thực hiện TAT tại BV đa khoa HàĐông, Hà Nội, năm 2012 của Trần Thị Minh Phượng cho thấy

tỷ lệ ĐDV có kiến thức TAT đạt là 82,6%; tỷ lệ đạt thấp nhất

là cách hạn chế lây truyền qua đường máu (65,1%) và cáchtiêu hủy vật sắc nhọn đúng (67,9%) Trong nghiên cứu nàyTrần Thị Minh Phượng đã sử dụng phương pháp phát vấn 109ĐDV với bộ câu hỏi gồm 21 câu được thiết kế sẵn dựa trênmục tiêu nghiên cứu để đánh giá kiến thức TAT của ĐDV.ĐDV được đánh giá là có kiến thức đạt khi trả lời đạt từ 80%

số điểm trở lên [12] Tuy nhiên bộ công cụ này có một số nộidung chưa cập nhật so với Hướng dẫn TAT và chưa đi sâu tìmhiểu kiến thức thực hành về TAT

1.4.1.2.Các nghiên cứu về thực hành Tiêm an toàn

Báo cáo đánh giá thực hiện TAT và quản lý chất thải dotiêm tại 71 cơ sở y tế của 4 huyện trực thuộc Ethiopia của tổchức USAID năm 2009 cho thấy sau 4 năm triển khai chươngtrình can thiệp, thực hành tiêm của cán bộ y tế được cải thiệnđáng kể: 80% vệ sinh tay trước khi tiêm; 78% thực hiện phânloại BKT ngay sau tiêm trong khi đó tỷ lệ này vào năm 2004chỉ đạt lần lượt là 4% và 8% [24]

Trang 33

Nghiên cứu cắt ngang trên 80 ĐDV tại BV miền Tây Ấn

Độ năm 2009 cho thấy, chỉ có 12,5% rửa tay bằng xà phòng

và nước trước khi thực hành tiêm có 42,5% dùng hai tay đậylại nắp kim tiêm sau tiêm [19]

Nghiên cứu mô tả cắt ngang về thực hành tiêm của ĐDVbằng phương pháp quan sát trực tiếp theo bảng kiểm gồm 17tiêu chí trên 776 mũi tiêm tại 18 BV của 8 tỉnh đại diện bavùng Bắc, Trung, Nam trong thời gian từ tháng 5 đến tháng 9năm 2005 của Đào Thành và cộng sự, kết quả cho thấy chỉ có22,6% mũi tiêm đạt đủ 17/17 tiêu chí tiêm an toàn Hầu hếtcác các mũi tiêm đều xác định đúng vị trí tiêm (99,2%), góc

độ tiêm (97%), độ sâu kim (92%) và bảo đảm 2 nhanh 1 chậm(96%) Tuy nhiên tỷ lệ tuân thủ rửa tay trước khi chuẩn bịdụng cụ chỉ đạt 35,4% và rửa tay trước khi đâm kim qua dađạt 55,8% Còn 9% ĐDV dùng hai tay đậy nắp kim tiêm [11].Tuy nhiên một số nội dung trong bảng công cụ đánh giá thựchành tiêm trong nghiên cứu chưa được cập nhật so với Hướngdẫn Tiêm an toàn Nghiên cứu cũng chưa tìm được các yếu tốliên quan giữa các yếu tố như tuổi, kinh nghiệm thực hànhtiêm hay kiến thức TAT với thực hành tiêm an toàn của điềudưỡng

Tháng 7 năm 2005, Nguyễn Thị Như Tú đã tiến hànhnghiên cứu cắt ngang “Thực trạng TAT tại tỉnh Bình Định sau

5 năm hưởng ứng cuộc vận động TAT” trên đối tượng 120ĐDV, hộ sinh, y sỹ đang công tác tại 7 BV đa khoa tỉnh, BV

đa khoa khu vực, các trung tâm y tế trực thuộc Sở Y tế BìnhĐịnh Trong nghiên cứu này Nguyễn Thị Như Tú đã quan sát

Trang 34

200 mũi tiêm của 120 điều dưỡng theo bảng kiểm gồm 10 tiêuchí chia thành 2 nhóm, nhóm tiêu chuẩn dụng cụ và nhóm tiêuchuẩn quy trình tiêm; phỏng vấn 120 điều dưỡng, nữ hộ sinh

và y sỹ, tuy nhiên nội dung phỏng vấn mới chỉ tập trung vàonhận thức về nguy cơ của tiêm và rủi ro do vật sắc nhọn gây

ra Kết quả quan sát thực hành tiêm cho thấy: 94% người tiêmkhông rửa tay/SK trước khi đưa kim qua da, 72% không SKtay trước khi chuẩn bị thuốc, 24% không đúng góc độ tiêm,17% kim lấy thuốc không đảm bảo vô khuẩn, 3% kim tiêmthuốc không đảm bảo vô khuẩn trước khi đưa qua da Đánhgiá theo 10 tiêu chuẩn mũi TAT, chỉ có 6% mũi tiêm đạt10/10 tiêu chuẩn đề ra [25]

Nghiên cứu mô tả cắt ngang “Khảo sát thực trạng TATtại BV Trung ương Huế” của Phan Cảnh Chương và cộng sựtại 30 khoa lâm sàng, bằng phương pháp quan sát 1000 mũitiêm trong thời gian từ ngày 01 đến ngày 12 tháng 12 năm

2009 cho thấy các tiêu chí sử dụng dụng cụ tiêm thích hợp, antoàn được thực hiện rất tốt, 100% các mũi tiêm sử dụng bơmtiêm vô khuẩn dùng 1 lần, bông SK được hấp tiệt khuẩn95,2%, dung dịch SK tay nhanh có sẵn trên xe tiêm đạt98,1%, hộp kháng thủng gần nơi tiêm đạt 97,5% Tuy nhiênthực hành tiêm còn một số vấn đề tồn tại: 37,7% ĐDV khôngrửa tay trước khi chuẩn bị dụng cụ, 29,0% khi rút thuốc tiêmchạm tay vào vùng vô khuẩn, 48,6% ĐDV SK da vùng tiêmkhông đúng quy định, 34,5% không giao tiếp, quan sát ngườibệnh trong và sau khi tiêm, 61,7% ĐDV dùng hai tay đậy nắpkim tiêm, 64,3% ĐDV dùng tay để tháo kim sau khi tiêm,

Trang 35

74,5% ĐDV không mang găng tay khi tiêm truyền tĩnh mạch.Nghiên cứu chưa tìm được mối liên quan đến thực hành tiêm

an toàn của ĐDV tại BV [16]

Nghiên cứu mô tả cắt ngang nhằm đánh giá thực trạngcác mũi TAT qua quan sát ngẫu nhiên thực hành tiêm của 220ĐDV các khoa lâm sàng, mỗi ĐDV quan sát 2 mũi tiêm bằngbảng kiểm gồm 20 tiêu chí của Tô Thị Minh Châm và cộng sựtại BV Thanh Nhàn năm 2010 Kết quả nghiên cứu cho thấy100% các mũi tiêm chuẩn bị đầy đủ các dụng cụ, phương tiệnnhư bơm tiêm trong bao gói và có hạn dùng, có hộp chống sốc

đủ cơ số trên xe tiêm, 99,55% không dùng tay để đậy nắp vàtháo kim sau khi tiêm, 97,7% đi găng khi tiêm tĩnh mạch.100% thực hiện tốt “5 đúng” và đúng các kỹ thuật tiêm,87,5% vệ sinh tay truớc khi tiêm, chỉ có 54,5% SK nắp lọthuốc và đầu ống thuốc khi lấy thuốc 100% bỏ ngay BKT vàohộp đựng CTSN ngay sau khi tiêm, chỉ có 1,1% phân loại rácthải sai Tỷ lệ mũi TAT trong nghiên cứu là 35,3% [3]

Nghiên cứu “Khảo sát thực trạng TAT tại BV Tim HàNội” của Đoàn Hoàng Yến và cộng sự được tiến hành từtháng 5 đến tháng 9 năm 2011 với phương pháp mô tả cắtngang Nghiên cứu tiến hành quan sát 378 mũi tiêm tại 3 khoalâm sàng vào các thời điểm khác nhau trong ngày và đánh giátheo 4 nhóm tiêu chí: sử dụng dụng cụ thích hợp, an toàn -không gây hại cho người được tiêm, không gây nguy cơ phơinhiễm cho người thực hiện tiêm, không thải chất thải nguy hạicho người khác Kết quả: trung bình mỗi ngày có khoảng 136mũi tiêm được thực hiện tại BV; mỗi ĐDV thực hiện khoảng

Trang 36

3 mũi tiêm/ngày; các dụng cụ, phương tiện thực hànhTAT đãđược chuẩn bị đầy đủ; 100% ĐDV thực hiện đúng kỹ thuậttiêm; tỷ lệ sát khuẩn vị trí tiêm đúng quy định là 97,8%; cô lậpngay vật sắc nhọn sau khi tiêm 98,4% Tuy nhiên, còn một sốthực hành của NVYT chưa tốt như tỷ lệ kiểm tra sự nguyênvẹn của bơm tiêm còn thấp 27,5%; SK đầu ống thuốc, lọthuốc 13,4% Nghiên cứu chưa đưa ra được tỷ lệ mũi tiêm đạt

là 77,8%; đúng theo 4 tiêu chuẩn về vô khuẩn đạt thấp nhất45,0% [5] Nghiên cứu này đánh giá rất chi tiết, cụ thể các tiêuchí thực hành TAT, tổng hợp điểm để đánh giá mũi tiêm đạttiêu chí thực hành TAT tuy nhiên có một số nội dung thựchành cập nhật trong Hướng dẫn TAT chưa được đưa vào đểđánh giá: không sử dụng khẩu trang khi đi tiêm bắp, tiêm tĩnhmạch ngoại biên; không sử dụng cồn iod để sát khuẩn da vùngtiêm; không dùng panh để gắp bông sát khuẩn vùng tiêm;không lạm dụng găng tay khi tiêm tĩnh mạch; bơm thuốcchậm lml/10 giây

Trang 37

1.5 Các nghiên cứu về yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành Tiêm an toàn

1.5.1 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức Tiêm an toàn

Chưa có nhiều các nghiên cứu tìm hiểu mối liên quanđến kiến thức TAT của ĐDV trên Thế giới và ở Việt Nam.Nghiên cứu của Yan Y và cộng sự được tiến hành tại TrungQuốc đã đánh giá về kiến thức TAT có 90,3% đối tượng biếtrằng tiêm không an toàn có thể lây truyền các bệnh qua đườngmáu trong đó: HIV là 74,4%, viêm gan B là 55,8%, viêm gan

C là 22,9% Phân tích hồi quy cho thấy tuổi, trình độ học vấn

và địa bàn dân cư là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đếnkiến thức của họ về an toàn tiêm [10]

Nghiên cứu của Trần Thị Minh Phượng tại BV đa khoa

Hà Đông năm 2012 đã tìm thấy mối liên quan với kiến thứcTAT của ĐDV: nhóm ĐD từ 30 tuổi trở xuống có kiến thứcđạt cao gấp 3,3 lần nhóm trên 30 tuổi, nhóm có thâm niêncông tác dưới 10 năm có kiến thức đạt cao gấp 4,9 lần nhóm

từ 10 năm trở lên, nhóm được đào tạo, tập huấn trong 1 nămqua có kiến thức cao hơn gấp 10,3 lần nhóm chưa đào tạo

(p<0,05) [12].

Như vậy cũng đã có một số nghiên cứu đã tìm thấy mốiliên quan giữa một số yếu tố với kiến thức TAT như yếu tốnhóm tuổi, trình độ học vấn, đào tạo Trên thực tế, việc đàotạo, tập huấn kiến thức sẽ giúp ĐDV cải thiện kiến thức mộtcách đáng kể tuy nhiên việc cải thiện thực hành TAT sẽ bị ảnhhưởng của rất nhiều yếu tố Do vậy trong giới hạn của nghiêncứu, chúng tôi đi sâu tìm hiểu một số yếu tố liên quan đếnthực hành TAT của ĐDV

Trang 38

1.5.2.Một số yếu tố liên quan đến thực hành Tiêm an toàn

1.5.2.1.Yếu tố kiến thức về TAT

Nghiên cứu tại BV đại học y và BV Sản ở Ibadan, có sựkhác biệt có ý nghĩa thống kê trong thực hành TAT của ĐDV

2 BV với t (398) = 4,32, p < 0,05) ĐDV có kiến thức caothực hành TAT tốt hơn người có kiến thức thấp (t(385) = 7,31,p<0,05)

Khi tìm hiểu mối liên quan giữa kiến thức và thực hànhTAT của ĐDV tại BV đa khoa Hà Đông năm 2012, Trần ThịMinh Phượng đã cho thấy tỷ lệ thực hành đúng trong nhóm cókiến thức đạt (26,7%) cao gấp 3 lần so tỷ lệ đúng trong nhóm

có kiến thức không đạt (10,5%), nhưng chưa có khác biệt có ýnghĩa thống kê Tuy nhiên trong nhiên cứu này có thể cỡ mẫuchưa đủ lớn, để làm rõ sự khác biệt mối liên quan này cần cónhững nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn và trên địa bàn rộnghơn

1.5.2.2.Yếu tố tuổi, giới, thâm niên công tác

Nghiên cứu “Đánh giá thực trạng TAT tại BV Y học cổtruyền TW năm 2009” của Phạm Tuấn Anh và cộng sự tại 7khoa lâm sàng bằng quan sát trực tiếp, chấm điểm theo bảngkiểm bằng phương pháp quan sát 210 mũi tiêm là một trong

số ít các nghiên cứu đã xác định có sự khác biệt tỷ lệ TATtrong các nhóm yếu tố như tuổi, giới nhưng vẫn chưa tìm hiểucác mối liên quan đến tỷ lệ TAT tại BV Y học cổ truyềnTrung ương [27]

Nghiên cứu đánh giá thực hiện TAT tại BV đa khoa HàĐông - Hà Nội, năm 2012 của Trần Thị Minh Phượng cho thấy

Trang 39

có các yếu tố liên quan đến thực hành TAT của ĐDV là nhómtuổi (OR=3,l; p<0,05) và thâm niên công tác (OR=2,8; p<0,05).Ngoài ra còn một số yếu tố như thời điểm tiêm, đường tiêm, thứ

tự thực hiện mũi tiêm cũng có mối liên quan tới tỷ lệ TAT

(p<0,05) [12].

Qua một số nghiên cứu đại diện trên các vùng miền khácnhau, tại các thời điểm khác nhau, thiết kế nghiên cứu khácnhau và bộ công cụ đo lường kiến thức, thực hành TAT củaĐDV khác nhau các tác giả đã đưa ra một bức tranh về tìnhtrạng TAT hiện nay Xét riêng về góc độ thực hành TAT tạicác cơ sở y tế có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tiêm không

an toàn: Thiếu trang thiết bị, dụng cụ do không được cung cấpđầy đủ hoặc do sự chuẩn bị không đầy đủ của NVYT; Sự tuânthủ các nguyên tắc vô khuẩn kém, điều này rất nguy hiểm vìđây chính là những nguy cơ gây nhiễm khuẩn cho NB đặc biệt

là tiêm truyền qua đường tĩnh mạch; Chưa thực hiện đúng cácqui trình kỹ thuật khi tiêm dẫn đến những nguy cơ không nhỏcho NB và cho cả người tiêm; Xử lý chất thải sắc nhọn saukhi tiêm không đúng cách gây nguy cơ tai nạn thương tích chocộng đồng Một số nghiên cứu đã chỉ ra mức độ thực hiện cáctiêu chuẩn TAT Có những nghiên cứu (Phan Cảnh Chương,2010) đã tiến hành quan sát, đánh giá, so sánh sự khác biệtgiữa các nhóm kết quả khác nhau Một số nghiên cứu đánh giá

cả phần kiến thức và thực hành của ĐDV (Nguyễn Như Tú,năm 2005; VNA, năm 2010) [25] Tuy nhiên do cách chọnmẫu chưa có sự kết nối giữa kiến thức TAT và thực hành TATcủa NVYT nên chỉ có thể nhận xét riêng biệt từng cấu phần,từng chỉ số, tiêu chuẩn đánh giá Đa số là các nghiên cứu định

Trang 40

lượng, chỉ dừng lại ở việc quan sát, đánh giá mức độ thực hiệncác tiêu chuẩn, và liệt kê những nguyên nhân mà chưa đi sâutìm hiểu và đo lường sự tác động của các nguyên nhân đó,chưa đi sâu phân tích, tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến thựchành TAT.

1.5.3 Một số thông tin về bệnh viện Thanh Nhàn

Bệnh viện Thanh Nhàn là bệnh viện đa khoa hạng I trựcthuộc Sở Y tế Hà Nội thực hiện chức năng khám chữa bệnh,chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân theo quy định củapháp luật và chịu sự chỉ đạo chuyên môn của Sở Y tế Hà Nội.Bệnh viện có 20 khoa lâm sàng, 6 khoa cận lâm sàng, 18phòng chức năng Bệnh viện có hơn 1000 cán bộ viên chức và

550 giường kế hoạch Bệnh viện (BV) là tuyến đầu của Sở Y

tế Hà Nội với nhiều chuyên khoa, tiếp nhận những bệnh nhânnặng của Hà Nội và các địa phương khác chuyển về Hàngnăm, số bệnh nhân đến khám là 200.000 đến 300.000 lượt Sốbệnh nhân điều trị nội trú nằm viện trung bình từ 30.000 đến40.000 lượt Cơ sở vật chất trang thiết bị đã được bệnh việntrang bị đầy đủ đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của ngườidân Tuy nhiên hiện nay bệnh viện đang trong thời gian mởrộng xây dựng do đó diện tích các khoa phòng bị thu hẹp ,ghép chung các khoa phòng một tầng điều trị nên tình trạngđông và quá tải bệnh nhân là một khó khăn cho công tácchăm sóc và điều trị bệnh nhân tại bệnh viện Mặt khác vớiviệc áp dụng hệ thống công nghệ thông tin toàn bệnh viện đểđảm bảo cho quá trình quản lý được nâng cao đã tăng thêmmột khối lượng công việc hành chính dẫn đến thời gian chođiều dưỡng viên thực hiện công tác chuyên môn bị thu hẹp

Ngày đăng: 09/11/2019, 10:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Đào Thành (2005),Đánh giá thực hiện TAT tại 8 tỉnh đại diện, năm 2005,Kỷ yếu đề tài nghiên cứu khoa học điều dưỡng toàn quốc lần thứ II, Hội Điều dưỡng Việt Nam, Hà Nội, ừ. 217-223 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thực hiện TAT tại 8 tỉnh đại diện, năm2005
Tác giả: Đào Thành
Năm: 2005
12. Trần Thị Minh Phượng (2012),Thực trạng kiến thức, thực hành Tiêm an toàn và các yếu tổ liên quan tại BV đa khoa Hà Đông, Hà Nội năm 2012, Luận văn thạc sỹ Quản lý bệnh viện, Đại học Y tế Công cộng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng kiến thức, thực hành Tiêm antoàn và các yếu tổ liên quan tại BV đa khoa Hà Đông, Hà Nội năm2012
Tác giả: Trần Thị Minh Phượng
Năm: 2012
15. Nguyễn Việt Nga và cộng sự (2011), Đánh giá thực trạng tiêm an toàn tại BV Xanh Pôn, Kỷ yếu Hội nghị khoa học điều dưỡng lần thứ V, BV Xanh Pôn, Hà Nội, Tr 1-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thực trạng tiêm an toàntại BV Xanh Pôn
Tác giả: Nguyễn Việt Nga và cộng sự
Năm: 2011
16. Phan Cảnh Chương (2010), Khảo sát thực trạng TAT tại BV Trung ươngHuế, Kỷ yếu đề tài Hội thảo khoa học điều dưỡng khu vực miền Trung mở rộng năm 2010, TP. Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát thực trạng TAT tại BV TrungươngHuế
Tác giả: Phan Cảnh Chương
Năm: 2010
20. Miller MA và Pisani E (1999), "The cost of unsaíe ữỹections", Bull Worỉd Health Organ. 77, pp. 808-811 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The cost of unsaíe ữỹections
Tác giả: Miller MA và Pisani E
Năm: 1999
21. Mihaly I (2001), "Prelence genotype dỉstrỉbutỉon and outcome ofhepatỉtỉs c in/ections among the employees of Hungarỉan Central Hospỉtal for in/ectious dỉseases", Hungarỉan Central Hospỉtal for ỉnfectỉous dỉseases Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prelence genotype dỉstrỉbutỉon and outcomeofhepatỉtỉs c in/ections among the employees of Hungarỉan CentralHospỉtal for in/ectious dỉseases
Tác giả: Mihaly I
Năm: 2001
25. Nguyễn Thị Như Tú (2005), Thực trạng TAT tại tỉnh Bình Định sau 5 năm hưởng ứng cuộc vận động, Kỷ yếu đề tài nghiên cứu khoa học điều dưỡng toàn quốc lần thứ II, 2005, Hội Điều dưỡng Việt Nam, Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng TAT tại tỉnh Bình Định sau 5năm hưởng ứng cuộc vận động
Tác giả: Nguyễn Thị Như Tú
Năm: 2005
32. Hassan H et al (2009), "A study on nurse" perceptỉon on the medỉcatỉon errors at one ofthe hospỉtal ỉn East Malaysỉa””, Clỉn Ter. 160 (ố)), pp.477- 486 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A study on nurse" perceptỉon on the medỉcatỉonerrors at one ofthe hospỉtal ỉn East Malaysỉa”
Tác giả: Hassan H et al
Năm: 2009
33. HJ &amp; et al. Rapỉd assessment of safety injection in one county, north rural area ỉn Chỉna, Access date 13/7/2012, from web http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/12816703 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rapỉd assessment of safety injection in one county, northrural area ỉn Chỉna
34. Lê Thị Kim Oanh (2012), " Can thiệp nâng cao tuân thủ quy trình kỹ thuật TAT của điều dưỡng tại bệnh viện Bắc Thăng Long năm 2012", Luận văn thạc sỹ y tế công cộng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Can thiệp nâng cao tuân thủ quy trình kỹthuật TAT của điều dưỡng tại bệnh viện Bắc Thăng Long năm 2012
Tác giả: Lê Thị Kim Oanh
Năm: 2012
35. Nguyễn Thị Mỹ Linh, Tạ Văn Trầm và cs (2008), "Khảo sát về TAT của điều dưỡng - hộ sinh tại BV Phụ Sản Tiền Giang năm 2008", Kỷ yếu đề tài nghiên cứu khoa học hội nghị nhi khoa toàn quốc lần thứ V, 2008, BV Nhi Trung ương, Hà Nội, tr. 42-52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát về TAT củađiều dưỡng - hộ sinh tại BV Phụ Sản Tiền Giang năm 2008
Tác giả: Nguyễn Thị Mỹ Linh, Tạ Văn Trầm và cs
Năm: 2008
37. PrUss-ủstiin A, Rapiti E, Hutin Y(2005), Estimation of the global burden of disease attributable to contaminated sharps iĩỹuries among health-care workers. American Journal ofIndustrial Medicine, 48(6):482-490 Sách, tạp chí
Tiêu đề: American Journal ofIndustrial Medicine
Tác giả: PrUss-ủstiin A, Rapiti E, Hutin Y
Năm: 2005
13. Đào Thành (2010),Kết quả nghiên cứu đánh giá thực trạng TAT tại 13 BV lựa chọn năm 2010, Hội Điều dưỡng Việt Nam Khác
14. Phạm Đức Mục (2005),Đánh giá kiến thức về TAT và tần xuất rủi ro do vật sắc nhọn đổi với Điều dưỡng - Hộ sinh tại 8 tỉnh đại diện, 6 tháng đầu năm 2005, Kỷ yếu đề tài nghiên cứu khoa học điều dưỡng toàn quốc lần thứ II, Hội Điều dưỡng Việt Nam, Hà Nội, ừ. 224-232 Khác
17. Phan Thị Dung (2009),Nghiên cứu khảo sát về tiêm an toàn tại bệnh viện Việt Đức năm 2009, Hà Nội Khác
18. Nguyễn Thúy Quỳnh (2008),Điều tra tỷ lệ mới mắc bệnh viêm gan B nghề nghiệp trong nhân viên y tế tại một sổ bệnh viện, năm 2008, Hà Nội Khác
22. Trần Thị Minh Phượng (2009),Đánh giá nguy cơ lây nhiễm viêm gan B của nhân viên y tế bệnh viện Xanh Pôn, Hà Nội Khác
23. Adejumo P.O., Dada F.A.,A comparative study on knowỉedge, attỉtude, and practỉce ofinjection safety among nurses ỉn two hospỉtals ỉn Ibadan, Nigeria, International dournaỉ ofInfectỉon Control Khác
24. USAIDS (2009) Evaluation of Iĩỹection saíety and health care vWaste In Ethiopia Khác
27. Phạm Tuấn Anh (2009),Đánh giá thực trạng TAT tại BV Y học cổ truyền TW năm 2009, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w