1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

chiến lược ứng phó với stress ở điều dưỡng bệnh viện đa khoa tỉnh bình dương năm 2020

103 149 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bệnh viện là tuyến điều trị cao nhấtcủa tỉnh chịu trách nhiệm chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh cho nhân dân trongđịa bàn tỉnh [17] với công suất sử dụng giường bệnh của bệnh viện trong

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH

-NGUYỄN THỊ MAI THI

CHIẾN LƯỢC ỨNG PHÓ VỚI STRESS Ở ĐIỀU DƯỠNG

BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH BÌNH DƯƠNG NĂM 2020

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2020

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH

-Nguyễn Thị Mai Thi

CHIẾN LƯỢC ỨNG PHÓ VỚI STRESS Ở ĐIỀU DƯỠNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH BÌNH

DƯƠNG NĂM 2020

Ngành: Y tế công cộng

Mã số: 8720701

Luận văn Thạc sĩ Y tế công cộng

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHẠM PHƯƠNG THẢO

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu trong Luận văn này là được ghi nhận, nhập liệu và phântích một cách trung thực Luận văn này không có bất kỳ số liệu, văn bản, tài liệu đã đượcĐại học Y Dược TP Hồ Chí Minh hay trường Đại học khác chấp nhận để cấp văn bằngđại học, sau đại học Luận văn này cũng không có số liệu, văn bản, tài liệu đã được công

bố trừ khi đã được công khai thừa nhận

Đề cương nghiên cứu đã được chấp thuận về mặt y đức trong nghiên cứu từ Hộiđồng Đạo đức trong Nghiên cứu y sinh học số 173/HĐĐĐ ký ngày 03/3/2020

Học viên

Nguyễn Thị Mai Thi

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

Mục tiêu tổng quát 3

Mục tiêu cụ thể 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN Y VĂN 4

1.1 Vài nét về ngành điều dưỡng 4

1.2 Vai trò của người điều dưỡng 7

1.3 Sơ lược về stress và stress nghề nghiệp 8

1.4 Nguyên nhân gây ra stress nghề nghiệp 10

1.5 Tác hại của stress 10

1.6 Các triệu chứng, tác động phổ biến của stress 12

1.7 Một số phương pháp giải tỏa stress 13

1.8 Các nghiên cứu liên quan 15

1.9 Tổng quan về tỉnh Bình Dương 22

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

2.1 Thiết kế nghiên cứu 24

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 24

2.3 Đối tượng nghiên cứu 24

2.4 Kỹ thuật chọn mẫu 24

2.5 Tiêu chí chọn mẫu 25

2.6 Liệt kê và định nghĩa biến số 25

2.7 Thu thập số liệu 32

2.8 Kiểm soát sai lệch 33

2.9 Phương pháp nhập liệu và phân tích số liệu 34

2.10 Vấn đề đạo đức 35

Trang 5

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ 36

3.1 Đặc tính mẫu nghiên cứu 37

3.2 Yếu tố công việc 43

3.3 Tỷ lệ stress ở điều dưỡng 48

3.4 Ứng phó với stress ở điều dưỡng 49

3.5 Mối tương quan giữa các nhóm ứng phó với stress 51

3.6 Mối liên quan giữa stress và các yếu tố 51

3.7 Phân tích đa biến các yếu tố liên quan 62

CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 65

4.1 Về phương pháp nghiên cứu và quá trình thu thập số liệu 65

4.2 Về đặc điểm mẫu nghiên cứu 66

4.3 Yếu tố công việc 69

4.4 Tỷ lệ stress của điều dưỡng 71

4.5 Chiến lược ứng phó với stress của điều dưỡng 73

4.6 Stress và các yếu tố liên quan 75

4.7 Một số đóng góp và hạn chế của đề tài 78

KẾT LUẬN 80

KIẾN NGHỊ 81

Tài liệu tham khảo

Phụ lục 1: Bảng thông tin và chấp thuận tham gia nghiên cứu

Phụ lục 2: Bộ câu hỏi

Phụ lục 3: Danh sách điều dưỡng tham gia nghiên cứu

Chấp thuận của Hội đồng Đạo đức trong Nghiên cứu Y sinh học Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

Kết luận của Hội đồng

Bản nhận xét của Người phản biện 1

Bản nhận xét của Người phản biện 2

Giấy xác nhận đã bổ sung, sửa chữa luận văn theo ý kiến Hội đồng

Trang 6

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

TIẾNG VIỆT

GD&ĐT Giáo dục và đào tạo

DASS Depression Anxiety Stress Scales Thang đo đánh giá stress – lo âu

– trầm cảmGHQ General Health Questionnaire Bộ câu hỏi sức khỏe tổng quátGRDP Gross Regional Domestic Product Tổng sản phẩm trên địa bàn

PHQ Patient Health Questionnaire Bảng hỏi sức khỏe bệnh nhân

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Bảng điểm đánh giá mức độ stress theo thang đo DASS 7 30

Bảng 3.1: Phân bố điều dưỡng theo khoa phòng và tỷ lệ mất mẫu 36

Bảng 3.2: Đặc điểm nền của đối tượng nghiên cứu (n=363) 37

Bảng 3.3: Đặc điểm hôn nhân và hoàn cảnh sống của đối tượng nghiên cứu (n=363) 39 Bảng 3.4: Đặc điểm sức khỏe và tính cách của đối tượng nghiên cứu (n=363) 41

Bảng 3.5: Cảm nhận tình trạng sức khỏe của điều dưỡng phân theo tình trạng bệnh nền (n=363) 43

Bảng 3.6: Các thông tin nền về công việc của điều dưỡng (n=363) 43

Bảng 3.7: Cảm nhận về công việc của điều dưỡng (n=363) 44

Bảng 3.8: Đặc điểm công việc hàng ngày của điều dưỡng (n=363) 45

Bảng 3.9: Mối quan hệ trong công việc của điều dưỡng (n=363) 46

Bảng 3.10: An toàn nơi làm việc của điều dưỡng (n=363) 47

Bảng 3.11: Phân bố tỷ lệ stress của điều dưỡng theo các mức độ (n=363) 48

Bảng 3.12: Ứng phó với stress của điều dưỡng theo mô hình 4 nhóm của CBI (n=363) 49

Bảng 3.13: Mối tương quan giữa điểm trung bình ứng phó với stress ở 4 nhóm (n=363) 51

Bảng 3.14: Mối liên quan giữa stress và biến số nền của điều dưỡng (n=363) 51

Bảng 3.15: Mối liên quan giữa stress và tình trạng sức khỏe, tính cách của điều dưỡng (n=363) 54

Bảng 3.16: Mối liên quan giữa stress với thâm niên làm việc, chức vụ và biên chế của điều dưỡng (n=363) 57

Bảng 3.17: Mối liên quan giữa stress với cảm nhận về công việc của điều dưỡng (n=363) 58

Bảng 3.18: Mối liên quan giữa stress với đặc điểm công việc hàng ngày của điều dưỡng (n=363) 59

Trang 8

Bảng 3.19: Mối liên quan giữa stress với mối quan hệ trong công việc của điều dưỡng

(n=363) 60

Bảng 3.20: Mối liên quan giữa stress với cảm nhận an toàn nơi làm việc của điều dưỡng (n=363) 60

Bảng 3.21: Mô hình hồi quy đa biến các yếu tố liên quan đến stress (n = 363) 62

Bảng 4.1: Tỷ lệ stress qua các đề tài trước đây 71

Bảng 4.2: So sánh chiến lược ứng phó với stress của đề tài trước đây 75

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Thế giới đang bước vào cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, công việc thời đạicông nghệ phát triển cũng đòi hỏi sự đầu tư trí óc nhiều hơn, chất lượng và hiệu quảcông việc càng ngày càng yêu cầu cao hơn [25] vì thế những căng thẳng trong côngviệc là điều không thể tránh khỏi Khi bị stress, người lao động có xu hướng tập trungnhiều hơn vào khía cạnh tiêu cực và mặt xấu của vấn đề cũng như đôi khi suy nghĩquá nhiều và gặp khó khăn trong quá trình ra quyết định [21] Stress trong công việc

là yếu tố gây tổn thương chủ yếu cho hệ thần kinh, góp phần làm gia tăng tỷ lệ cácbệnh tim mạch, cơ xương khớp cũng như tăng tỷ lệ nghỉ hưu sớm do thường xuyênlàm việc trong môi trường nhiều áp lực [18] Người nhân viên khi phải trải qua stresstrong một thời gian dài liên tục có thể dẫn đến các dấu hiệu kiệt sức như đi muộn,vắng mặt, ảnh hưởng đến tập thể và chất lượng công việc [21]

Bên cạnh ngành giáo dục thì ngành nghề liên quan đến chăm sóc sức khỏeđược nghiên cứu cho thấy là một trong những nghề gây stress nhất [48] đặc biệt làđiều dưỡng, người trực tiếp chăm sóc bệnh nhân và thực hiện y lệnh của bác sĩ Thêmvào đó, tình hình dịch bệnh viêm phổi do COVID-19 diễn biến phức tạp khiến môitrường bệnh viện trở thành nơi dễ lây lan hơn bao giờ hết, góp phần tạo thêm lo lắngcho nhân viên điều dưỡng Nếu tình trạng stress kéo dài liên tục sẽ gây ra những táchại đáng kể đến sức khỏe tinh thần và thể chất của người điều dưỡng, đồng thời ảnhhưởng đến chất lượng dịch vụ chăm sóc và điều trị bệnh nhân vì điều dưỡng là ngườitiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân nhiều nhất trong môi trường bệnh viện [40]

Bình Dương sau hơn 20 năm tách ra từ tỉnh Sông Bé (1997) đã và đang pháttriển nhanh chóng với những chính sách mở rộng giao thương và thu hút đầu tư từnước ngoài mạnh mẽ Kinh tế xã hội phát triển kéo theo sự gia tăng dân số mà chủyếu là từ những người lao động nhập cư đổ về Theo báo cáo của Ủy ban nhân dântỉnh Bình Dương, dân số của tỉnh đến hết năm 2019 là 2.411.796 người [29], tăng gần248.000 người so với năm 2018 (2.164.000 người) [24], tăng gần 341.000 người sovới năm 2017 [19] và tăng hơn 813.000 người so với năm 2011 [20] Dân số tăng dẫn

Trang 10

đến nhu cầu khám chữa bệnh tăng theo tạo áp lực cho nhân viên y tế, đặc biệt là nhânviên điều dưỡng, người thường xuyên tiếp xúc trực tiếp và chăm sóc bệnh nhân Cụthể là Bệnh viện Đa khoa (BVĐK) tỉnh Bình Dương, tiền thân là nhà thương PhúCường được xây dựng từ thời pháp thuộc 1980, là BVĐK tỉnh hạng I với quy mô1.500 giường đang trong quá trình hoàn thiện Bệnh viện là tuyến điều trị cao nhấtcủa tỉnh chịu trách nhiệm chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh cho nhân dân trongđịa bàn tỉnh [17] với công suất sử dụng giường bệnh của bệnh viện trong năm 2019lên đến 106,8% [30].

Đã có nhiều nghiên cứu về thực trạng stress ở điều dưỡng ở Việt Nam nhưngnghiên cứu về các chiến lược ứng phó với stress thì còn hạn chế, đặc biệt là ở đốitượng điều dưỡng Những căng thẳng và xung đột xảy ra trong môi trường y tế cũngnhư trong cuộc sống là điều khó tránh khỏi nhưng khả năng ứng phó và đối mặt vớistress đề giải quyết vấn đề gây stress của điều dưỡng mới là điều quan trọng cần quantâm Vì thế cần có một nghiên cứu để đánh giá tỷ lệ stress và mô tả thực trạng ứngphó với stress ở điều dưỡng để làm rõ hơn mức độ stress của điều dưỡng và phản ứngcủa điều dưỡng trước những vấn đề gây stress Nghiên cứu được tiến hành tại BVĐKtỉnh Bình Dương để trả lời câu hỏi nghiên cứu: Tỷ lệ stress ở điều dưỡng BVĐK tỉnhBình Dương là bao nhiêu và điều dưỡng có xu hướng sử dụng những chiến lược nào

để ứng phó với stress trong môi trường nghề nghiệp?

CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

1 Mức độ stress ở điều dưỡng Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương năm 2020

là bao nhiều?

2 Điều dưỡng Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương có xu hướng sử dụngnhững chiến lược nào để ứng phó với stress?

Trang 11

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Mục tiêu tổng quát

Xác định tỷ lệ stress và chiến lược ứng phó với stress ở điều dưỡng Bệnh viện

Đa khoa tỉnh Bình Dương năm 2020

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN Y VĂN

1.1 Vài nét về ngành điều dưỡng

Điều dưỡng là những người làm việc trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe cho cánhân, gia đình và cộng đồng để họ đạt được chất lượng sức khỏe tối ưu, hoặc duy trì,phục hồi chất lượng sức khỏe và chất lượng cuộc sống của họ [42]

1.1.1 Sơ lược về lịch sử ngành Điều dưỡng Thế giới

Việc chăm sóc, nuôi dưỡng bắt đầu từ những bà mẹ Bà mẹ là người đầu tiênchăm sóc, bảo vệ đứa con từ lúc mới sinh và việc đó được duy trì cho tới ngày nay.Năm 60, bà Phoebe (Hy Lạp) đã đến từng gia đình có người ốm đau để chăm sóc.Sau đó bà được ngưỡng mộ và suy tôn là nữ điều dưỡng đầu tiên trên thế giới

Thời kỳ Viễn chinh ở Châu Âu, bệnh viện được xây dựng để chăm sóc sốlượng lớn những người hành hương bị đau ốm Cả nam và nữ đều có thể thực hiệnviệc chăm sóc sức khỏe cho tất cả mọi người Nghề điều dưỡng bắt đầu trở thànhnghề được coi trọng

Đến thế kỳ thứ 16, chế độ nhà tu ở Anh và Châu Âu bị bãi bỏ, các tổ chức tôngiáo bị giải tán dẫn đến sự thiếu hụt trầm trọng người chăm sóc bệnh nhân Lúc này,những người phụ nữ bị phạm tội được tuyển chọn làm điều dưỡng thay vì phải thựchiện án tù Điều này tạo ra những quan điểm lệch lạc của xã hội đối với nghề điềudưỡng

Giữa thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19, việc cải cách xã hội đã thay đổi vai trò của ngườiđiều dưỡng đồng thời vai trò của người phụ nữ trong xã hội nói chung cũng được cảithiện Trong thời kỳ này, một phụ nữ người Anh đã được Thế giới tôn kính và suytôn là người sáng lập ra ngành điều dưỡng, đó là bà Florence Nightingale (1820-1910) Bà sinh ra trong một gia đình giàu có ở Anh nên được giáo dục chu đáo, biếtnhiều ngoại ngữ, bà cũng đọc nhiều sách triết học, chính trị, tôn giáo Bà đã vượt qua

sự phản đối của gia đình để vào học và làm việc tại bệnh viện Kaiserswerth (Đức) vàhọc thêm ở Paris (Pháp) Những năm chiến tranh Crimea nổ ra, bà cùng những ngườiphụ nữ Anh khác được phái sang Thổ Nhĩ Kỳ để phục vụ các thương binh Tại đây,

Trang 13

bà đã đưa ra lý thuyết về khoa học vệ sinh trong các cơ sở y tế và sau hai năm, bà đãlàm giảm tỷ lệ chết của thương binh do nhiễm trùng từ 42% xuống còn 2% Trườngđiều dưỡng Nightingale của bà cùng với chương trình đào tạo điều dưỡng 1 năm đãđặt nền tảng cho hệ thống đào tạo điều dưỡng không chỉ ở nước Anh mà còn ở nhiềunước trên thế giới.

Để tưởng nhớ công lao của bà và khẳng định quyết tâm tiếp tục sự nghiệp màFlorence đã dày công xây dựng, Hội đồng Điều dưỡng Thế giới đã quyết định lấyngày sinh của bà là ngày 12/5 hàng năm là ngày Điều dưỡng quốc tế Hiện nay, ngànhĐiều dưỡng của thế giới đã được xếp là một ngành nghề riêng biệt, ngang hàng vớicác ngành nghề khác Có nhiều trường đào tạo điều dưỡng với nhiều trình độ khácnhau như trung học, đại học, sau đại học Nhiều điều dưỡng đã có bằng thạc sĩ, tiến

sĩ và nhiều công trình nghiên cứu khoa học lĩnh vực điều dưỡng nhằm nâng cao pháttriển thực hành điều dưỡng nhiều hơn nữa [5]

1.1.2 Sơ lược về lịch sử ngành Điều dưỡng Việt Nam

Cũng như thế giới, từ xa xưa các bà mẹ Việt Nam đã chăm sóc, nuôi dưỡngcon cái và gia đình mình Bên cạnh những kinh nghiệm chăm sóc từ truyền thống giađình, các bà mẹ đã được truyền lại các kinh nghiệm của dân gian từ các lương y, nổibật là danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác và Tuệ Tĩnh Trước năm 1900 vàothời kỳ Pháp thuộc đã xây dựng nhiều bệnh viện và việc đào tạo những người làmviệc ở bệnh viện là đào tạo không chính quy mà chỉ là “cầm tay chỉ việc” để họ vữngtay nghề, thạo kỹ thuật để phụ việc cho các bác sĩ người Pháp

Năm 1901, lớp nam y tá đầu tiên được mở tại nhà thương Chợ Quán, nơi điềutrị bệnh nhân tâm thần và hủi Năm 1906, toàn quyền Đông Dương ban hành nghịđịnh thành lập ngạch nhân viên điều dưỡng bản xứ nhưng mãi đến năm 1923 mới mởtrường điều dưỡng bản xứ do chính sách của thực dân Pháp lúc đó xem y tá chỉ làngười giúp việc nên về lương bổng chỉ được xếp ở ngạch hạ đẳng

Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, lớp y tá đầu tiên được đào tạo 6 tháng doGiáo sư Đỗ Xuân Hợp làm hiệu trưởng được tổ chức tại quân khu Việt Bắc Trongnhững năm chiến tranh gian khổ 1950, ta có ít máy móc y tế, thuốc men cũng rất hạn

Trang 14

chế nên việc điều trị cho bệnh nhân chủ yếu dựa vào chăm sóc và chính nhờ điềudưỡng mà nhiều thương – bệnh binh bị chấn thương, bị đoạn (cụt) chi do những vếtthương chiến tranh, bị sốt rét ác tính đã qua khỏi.

Ở miền Nam, năm 1956 có trường Cán sự Điều dưỡng Sài Gòn đào tạo Cán

sự Điều dưỡng 3 năm Nhưng do điều dưỡng lúc này đang thiếu hụt trầm trọng nênnăm 1968 đã mở thêm ngạch điều dưỡng sơ cấp học 12 tháng chính quy gọi là Táviên điều dưỡng Hội Điều dưỡng miền Nam được thành lập và xuất bản nội san điềudưỡng Năm 1973 mở lớp Điều dưỡng y tế công cộng 3 năm tại Viện Quốc gia Y tếcông cộng

Ở miền Bắc năm 1954, Bộ Y tế đã xây dựng chương trình đào tạo y tá trungcấp hoàn chỉnh để bổ túc cho số y tá học cấp tốc trong chiến tranh Khóa đầu tiên đàotạo y tá được tổ chức tại Bệnh viện E Trung Ương, Bệnh viện Việt Đức và Bệnh việnBạch Mai Bộ Y tế cũng gởi giảng viên đi tập huấn ở Liên Xô, Ba Lan, Đức từ năm

1975 Cùng năm đó, kháng chiến chống Mỹ thắng lợi, đất nước thống nhất, Bộ Y tế

đã thống nhất công tác chỉ đạo công tác chăm sóc và điều trị bệnh nhân ở cả 2 miền

Từ đó, chương trình đào tạo điều dưỡng được thống nhất chung là đào tạo Y tá trunghọc, học 2 năm 6 tháng

Năm 1999, Bộ Y tế chính thức ban hành chức vụ điều dưỡng trưởng tại Sở Y

tế Việc đào tạo điều dưỡng Cao đẳng bắt đầu năm 1993 và hiện nay Bộ Y tế đangtừng bước nâng cấp các trường trung cấp y lên thành trường cao đẳng y tế Từ năm

2003, chương trình đào tạo điều dưỡng Trung cấp rút ngắn từ 2 năm 6 tháng xuốngcòn 2 năm

Năm 2006, Đại học Y Dược Tp Hồ Chí Minh được Bộ Y tế và Bộ Giáo dục

và Đào tạo (GD&ĐT) cho phép mở ngành đào tạo thạc sĩ điều dưỡng đầu tiên củaViệt Nam Chương trình được Thạc sĩ điều dưỡng Trần Thị Thuận và Hội Điều dưỡngNhịp cầu thân hữu biên soạn

Bên cạnh đó, sự ra đời của Hội Điều dưỡng Việt Nam (tiền thân là Hội Y tá –Điều dưỡng Việt Nam thành lập năm 1990) đã góp phần cùng nhà nước, Bộ Y tế thúcđẩy ngành Điều dưỡng phát triển với nhiều hoạt động đào tạo và hợp tác quốc tế

Trang 15

Trong quá trình phát triển của ngành Điều dưỡng Việt Nam từ khi thống nhất đến nay

đã được nhiều tổ chức điều dưỡng quốc tế giúp đỡ cả về vật chất, kiến thức và tinhthần cụ thể là Hội Điều Dưỡng Thụy Điển, Hội Điều Dưỡng Canada, Tổ Chức Y tếThế giới (WHO), v.v Các bạn đã giúp ngành Điều dưỡng nước ta về kinh phí, kiếnthức và tài liệu, giúp cho chúng ta hiểu rõ nghề nghiệp của mình và phấn đấu cho sựnghiệp Điều dưỡng Việt Nam phát triển hơn nữa [5]

Ngành điều dưỡng đã và đang được chú trọng hơn cả về kiến thức và chuyênmôn Cụ thể là đến năm 2018, các trường trung cấp sẽ ngừng tuyển sinh và đào tạođiều dưỡng trung cấp và đầu năm 2021, Bộ Y tế sẽ hủy bỏ và chấm dứt tuyển dụngnhân viên điều dưỡng trình độ trung cấp [16] Các viên chức tuyển dụng vào ngànhđiều dưỡng phải chuẩn hóa để đạt trình độ cao đẳng trở lên theo đúng chuyên ngànhtuyển dụng chậm nhất trước ngày 01/01/2025 Đây là cơ hội để nâng cao trình độchuyên môn cho nhân viên điều dưỡng đồng thời cũng là một thách thức nếu họ khôngkịp thời cập nhật chương trình đào tạo điều dưỡng theo quy định

1.2 Vai trò của người điều dưỡng

Theo hướng dẫn của Bộ Y tế [8] năm 2011, người điều dưỡng có những vaitrò sau:

 Tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe;

 Chăm sóc về tinh thần;

 Chăm sóc vệ sinh cá nhân;

 Chăm sóc dinh dưỡng;

 Chăm sóc phục hồi chức năng;

 Chăm sóc người bệnh có chỉ định phẫu thuật, thủ thuật;

 Dùng thuốc và theo dõi dùng thuốc cho người bệnh;

 Chăm sóc người bệnh giai đoạn hấp hối và người bệnh tử vong;

 Thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng;

 Theo dõi, đánh giá người bệnh;

 Bảo đảm an toàn và phòng ngừa sai sót chuyên môn kỹ thuật trong chămsóc người bệnh;

Trang 16

 Ghi chép hồ sơ bệnh án.

1.3 Sơ lược về stress và stress nghề nghiệp

Hans Selye (1907-1982) là một nhà nội tiết học người Canada gốc Hungary.Ông còn được biết đến là “cha đẻ” của những nghiên cứu về stress đầu tiên – father

of stress Ông là nhà khoa học đầu tiên sử dụng từ “stress” và xác định stress là nềntảng của các dấu hiệu và triệu chứng không đặc hiệu của một số bệnh, hay nói cáchkhác, stress là một hội chứng bao gồm những đáp ứng không đặc hiệu của cơ thể vớikích thích từ môi trường Với quá trình làm việc không ngừng nghỉ, Hans Selye đãxuất bản hơn 1.600 bài báo khoa học và 40 cuốn sách về stress Từ những nghiên cứucủa mình, ông đã đưa ra Hội chứng Selye, là Hội chứng về các mức phản ứng vớistress bao gồm 3 giai đoạn: báo động, đề kháng và kiệt sức Khi cá nhân tiếp xúc vớistress, họ mất cảnh giác, sau đó cố gắng duy trì cân bằng nội môi bằng cách chốnglại sự thay đổi do stress, và cuối cùng trở thành nạn nhân bởi kiệt sức trong việc chốnglại các tác nhân gây stress [49]

Dù không trực tiếp sử dụng thuật ngữ stress trong nghiên cứu y khoa nhưngmột nhà khoa học khác là Walter Bradford Cannon (1871-1945), ông là nhà sinh lýhọc người Mỹ - giáo sư và chủ tịch khoa Sinh lý học tại trường Y Havard, đã nghiêncứu về phản ứng sinh lý của con người khi gặp trạng thái căng thẳng Ông đã đưa ra

lý thuyết về Phản ứng chiến-hay-chạy (fight or flight) còn gọi là phản ứng căng thẳngcấp tính hoặc phản ứng tăng nhạy cảm quá độ Phản ứng này được công nhận là giaiđoạn đầu tiên của Hội chứng thích nghi chung giúp điều chỉnh đáp ứng với căng thẳng

ở các động vật có xương sống và các sinh vật khác “Fight or flight” là một phản ứngsinh lý được cài đặt sẵn về mặt sinh học, nó xảy ra khi cơ thể cảm nhận về một sựkiện đe dọa, tấn công hay nguy hiểm tới sự sống còn nhằm huy động sức mạnh của

cơ thể để ứng phó Lý thuyết của ông đưa ra bằng chứng rằng động vật phản ứng vớimối đe dọa bằng cách tăng cường hoạt động của hệ thần kinh tự chủ kết hợp với hócmôn andrenaline để chuẩn bị sẵn sàng cho động vật chiến đấu (fight) hoặc bỏ trốn(flight) [37] Cụ thể là phản ứng bắt đầu ở hạch hạnh nhân ở trên não khiến nó gây raphản ứng thần kinh ở vùng dưới đồi Phản ứng khởi động được theo sau bởi sự kích

Trang 17

hoạt tuyến yên và giải phóng hormone ACTH Tuyến thượng thận cũng được kíchhoạt gần như đồng thời thông qua hệ thần kinh giao cảm và giải phóng hóc mônepinephrine Việc giải phóng các chất truyền tin hoá học này dẫn đến tăng sản xuấthóc môn cortisol làm tăng huyết áp, đường huyết, và ức chế hệ miễn dịch Các phảnứng khởi động và phản ứng theo sau được kích hoạt với cùng mục đích là đẩy mạnh,tăng cường tạo ra năng lượng Sự gia tăng năng lượng này có được nhờ epinephrineliên kết với thụ thể tế bào gan làm tăng lượng glucose sau đó Ngoài ra, cortisol còn

có tác dụng sử dụng các axit béo để tạo nên thế năng, giúp cơ thể sẵn sàng đáp ứng.Các hóc môn catecholamine như adrenaline (epinephrine) hoặc noradrenaline(norepinephrine), tạo ra các phản ứng tức thời liên quan đến việc chuẩn bị cho cáchoạt động cơ mạnh mẽ như tăng hoạt động của tim và phổi; làm da mặt tái nhợt hoặc

đỏ bừng, hoặc xen kẽ cả hai; ức chế hoạt động dạ dày và đường ruột dẫn đến tiêu hóachậm hoặc ngừng hẳn; tác dụng chung trên cơ vòng của cơ thể; sự co của các mạchmáu ở nhiều nơi trên cơ thể; giải phóng các nguồn năng lượng trao đổi chất (đặc biệt

là chất béo và glycogen) cho hoạt động cơ bắp; giãn các mạch máu đến cơ; ức chếtuyến lệ (chịu trách nhiệm sản xuất nước mắt) và hoạt động tiết nước bọt; gây giãnđồng tử; giãn cơ ở bàng quang; ức chế cương cứng; giảm thính giác; giảm thị giác(mất tầm nhìn ngoại biên); giảm ức chế các phản xạ cột sống; run, lắc[31]

Theo Richard Lazarus và Susan Folkman [32], tùy thuộc vào nhận thức củamột người về một sự kiện ngoại cảnh nào đó có là mối đe dọa hay không, khả năngđối phó của người đó sẽ có những khác biệt Lazarus cũng đã đưa ra Mô hình tươngtác và ứng phó với stress (Transactional Model of Stress and Coping) là mô hình đượcứng dụng rộng rãi để phân tích khả năng tương tác của con người với các yếu tố gâystress (stressors) từ môi trường xung quanh

Tác giả Tim Hindle cho rằng stress là bất kỳ trở ngại nào làm ảnh hưởng đếntình trạng và thể chất và tinh thần lành mạnh của con người Stress xảy ra khi cơ thểphải làm việc quá mức Hậu quả của stress rất nguy hại đối với cá nhân, gia đình, xãhội và các cơ quan, tổ chức, chính là đối tượng chính của stress nghề nghiệp [3]

Trang 18

WHO định nghĩa stress nghề nghiệp là những căng thẳng liên quan đến côngviệc của con người, là những phản ứng căng thẳng của người lao động xuất phát từviệc kiến thức và năng lực của họ không đáp ứng được nhu cầu và áp lực cao trongcông việc Hay nói đơn giản hơn, stress nghề nghiệp là sự mất cân bằng giữa yêu cầucủa công việc và khả năng của người lao động [45].

1.4 Nguyên nhân gây ra stress nghề nghiệp

Có rất nhiều nguyên nhân gây ra stress nghề nghiệp như [39]:

- Môi trường làm việc khắc nghiệt, độc hại;

- Khối lượng công việc quá nhiều;

- Áp lực về kinh tế;

- Các xung đột và mâu thuẫn về vai trò và trách nhiệm trong công việc, bị bắtnạt, bị quấy rối;

- Có mối quan hệ không tốt với bệnh nhân, với đồng nghiệp hoặc với cấp trên

1.5 Tác hại của stress

1.5.1 Tác hại của stress đối với cá nhân

Khi bị rơi vào tình trạng stress, cơ thể sẽ gia tăng sản xuất một số loại hóc mônnhư adrenaline và cortisol làm thay đổi nhịp tim và huyết áp Đôi khi stress ở mứcvừa phải sẽ làm gia tăng các phản ứng sinh học giúp con người hoạt động sản xuấthiệu quả hơn nhưng stress sẽ là rất nguy hại cho cơ thể nếu nó xảy ra trong mộtkhoảng thời gian dài liên tiếp [3]

Stress kéo dài được xem là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất củacác căn bệnh thường gặp như [4]:

- Rối loạn tâm thần: các triệu chứng thường gặp là lo lắng, căng thẳng, dễ cáu

giận, bực bội, lơ đãng, thiếu tập trung, ác cảm, v.v Song song với những thay đổi vềcảm xúc là thay đổi về hành vi, gây ảnh hưởng đến các mối quan hệ trong gia đình

và cả các hoạt động xã hội Stress còn gây rối loạn tâm lý như trầm uất lâm sàng, lolắng, tưởng tượng quá mức, những cơn đau đầu không rõ nguyên nhân, v.v làm nặngthêm những bệnh đang có sẵn

Trang 19

- Bệnh tim mạch: Khi bị stress, thùy não dưới kích hoạt của tuyến thượng thận

tiết adrenaline và cortisol vào máu khiến cho đồng tử giãn nở, nhịp tim tăng lên, huyết

áp tăng lên, lượng máu đến các cơ tăng lên, nhịp thở gia tăng gây thở gấp, tăng tiết

mồ hôi để hạ nhiệt cơ thể, v.v nếu stress kéo dài sẽ có thể phát sinh một số bệnh timmạch như: động mạch vành, nhồi máu cơ tim, tăng huyết áp Stress được xác định làmột yếu tố góp phần gây nên bệnh tim mạch và stress cũng có thể tác động độc lậphay thông qua các yếu tố nguy cơ khác để gây bệnh tim mạch Một số nghiên cứuđoàn hệ đã cho thấy các yếu tố gây stress ở môi trường lao động là nguyên nhân củabệnh động mạch vành Gánh nặng lao động quá mức đã làm tăng tỷ lệ bệnh nhồi máu

cơ tim ở nhóm nhân viên làm việc nhiều, thời gian làm việc kéo dài đặc biệt là trongmôi trường căng thẳng như bệnh viện và các cơ sở y tế khác

- Bệnh dạ dày – tá tràng: từ lâu, bệnh này được coi là bệnh do stress và do

những biến đổi cảm xúc Có nhiều cơ chế sinh lý giải thích mối liên quan giữa stressvới bệnh loét dạ dày tá tràng Cụ thể là hoạt động của hệ thần kinh tự trị giữ vai tròtiết axit gastric; lượng pepsinogen trong máu thường tăng cao ở những người dễ bịloét; sự tiết axit gastric đáp ứng với việc kích thích catecholamin cũng có thể là yếu

tố góp phần

- Một số bệnh có liên quan đến nguyên nhân tâm lý và những tai nạn lao động

có mối liên quan với stress nghề nghiệp do yêu cầu cao trong công việc

Một triệu chứng khác của stress nghề nghiệp đó là kiệt sức nghề nghiệp (Jobburnout), là 1 dạng đặc biệt của stress nghề nghiệp Thường gặp ở những người nhânviên phải chịu đựng stress nghề nghiệp trong một thời gian dài Kiệt sức nghề nghiệp

là sự rút lui khỏi tổ chức, là hệ quả của làm việc quá sức căng thẳng trong một thờigian dài, bị quấy rối, bị cô lập, hoặc các xung đột giữa các cá nhân chưa được giảiquyết [21]

1.5.2 Tác hại của stress đới với tập thể

Chỉ tính riêng tại Mỹ, stress gây hao phí cho nền công nghiệp trên 150 tỉ đô lamỗi năm Nguyên nhân do sự vắng mặt của nhân viên và các cấp độ suy giảm năngsuất lao động của những nhân viên tuy hiện diện về thể xác nhưng suy yếu về tinh

Trang 20

thần Tại Anh, khoảng 60% trong tổng số lần nhân viên vắng mặt là những nguyênnhân có liên quan đến stress Bất kỳ biện pháp nào có thể giảm thiểu hậu quả do táchại của stress gây ra đều tạo sự phấn chấn cho nhân viên và đem đến cho tập thểnhững hiệu quả tích cực [3].

1.5.3 Tác hại của stress đối với xã hội

Chi phí xã hội cho những nạn nhân bị ảnh hưởng bởi stress ngày càng tăngnhư chi phí chăm sóc y tế cho những bệnh mà stress có liên đới, các khoản lương hưuđối với những người nghỉ hưu sớm do căng thẳng, áp lực và trợ cấp cho những ngườitàn tật vì tai nạn do stress gây ra Thêm vào đó, stress thường làm con người dễ cáukỉnh, làm suy giảm chất lượng cuộc sống và chất lượng công việc [3]

1.6 Các triệu chứng, tác động phổ biến của stress

Đội ngũ EzPsychology trong bộ “Tâm lý học Tổ chức – Công nghiệp” [21]

đã đưa ra một số triệu chứng và tác động của stress bao gồm 4 nhóm:

1.6.1 Triệu chứng về nhận thức

- Mất khả năng tập trung

- Lo âu hoặc suy nghĩ lo sợ

- Khó khăn khi đưa ra quyết định

- Khó khăn khi tiếp nhận thông tin mới

- Sức khỏe yếu, dễ mệt mỏi

- Tiêu chảy hoặc táo bón

Trang 21

- Nhức mỏi, đau cơ, căng cơ

- Mất ngủ

1.6.4 Triệu chứng về hành vi

- Tránh tương tác xã hội, tự cô lập

- Phản ứng thái quá, giận dữ, dễ bộc phát

- Khó khăn trong giao tiếp

- Thường thể hiện sự lo lắng

- Trì hoãn, hay đổ lỗi, không nhận trách nhiệm

- Sử dụng chất kích thích để thư giãn

- Thường mắc các lỗi nhỏ [21]

1.7 Một số phương pháp giải tỏa stress

Tác giả Stephen Palmer và Cary Cooper đề xuất một số chiến lược giải tỏastress để từ đó mỗi cá nhân có thể đưa ra quyết định chọn lựa phương pháp giải tỏastress hiệu quả nhất [6]:

1.7.1 Thay đổi suy nghĩ: là điều cơ bản nhất

Ngay từ thế kỷ đầu tiên, nhà tâm lý Ecpitetus đã cho rằng: “Con người bị quấyrầy không phải vì bản chất của sự việc, mà vì quan điểm của họ đối với sự việc đó”.Nhiều thế kỷ sau, trong vở kịch Hamlet, Shakespeare cũng đã đưa ra một quan điểmtương tự: “Chẳng có điều gì là tốt hay xấu cả, tất cả đều do suy nghĩ mà ra” Nếu xemxét nghiêm túc những đề nghị của các nhà tâm lý học cổ vốn cho rằng tất cả những

gì thực sự nên làm là thay đổi hoặc điều chỉnh chính cách suy nghĩ của mình, conngười sẽ lại quay trở về vị trí chủ động và có thể đối phó với những mối căng thẳng,

áp lực hàng ngày

Những suy nghĩ sai lầm cần phải thay đổi bao gồm: 1 Chỉ có trắng hoặc đen;

2 Gắn mác; 3 Bới lông tìm vết; 4 Giảm nhẹ mặt tốt; 5 Suy diễn; 6 Tiên đoán; 7.Phóng đại hoặc nghiêm trọng hóa sự việc; 8 Đánh giá thấp bản thân; 9 Quá nhạycảm; 10 Đổ lỗi; 11 Cầu toàn quá mức; 12 Sợ bị phơi bày con người thật

Trang 22

Để khắc phục những suy nghĩ tiêu cực trên, cần giữ quan điểm tương đối, rộnglượng với bản thân hơn, đừng “dán mác” cho mọi sự vật hiện tượng một cách quá dễdàng và luôn tìm kiếm những điểm tích cực trong những điều tiêu cực.

1.7.2 Thay đổi hình ảnh (là những viễn cảnh được vẽ ra trong đầu)

Hình dung cách đối phó với những tình huống khó khăn hoặc bối cảnh có thểgây stress, thậm chí kể cả sự ám ảnh sợ hãi Bằng cách tưởng tượng chính bản thânđang đối phó với tình huống đáng sợ là xem như người đó đã thách thức những hìnhảnh tiêu cực nhất của sự việc Điều này sẽ giúp con người ở vào vị thế sẵn sàng trướckhi xảy ra sự việc

Hình dung để khích lệ bản thân hành động, để thay đổi hành vi và hình dungnhững viễn cảnh theo thời gian theo 6 bước gợi ý sau sẽ khiến stress hạ xuống dần:

Bước 1: Hãy nghĩ đến một tình huống hoặc khó khăn hiện tại mà bạn đang lo

lắng

Bước 2: Hãy hình dung sau 3 tháng nữa, liệu sự việc này có còn trầm trọng

như hiện nay?

Bước 3: Sau 6 tháng nữa, liệu sự việc này có còn quan trọng như hiện nay? Bước 4: Sau 1 năm nữa, sự việc có còn quan trọng và căng thẳng như lúc này?

hay bạn tin rằng cuộc sống của mình vẫn đang tiến triển bình thường?

Bước 5: Sau 2 năm nữa, tác động của sự việc này sẽ như thế nào? Hay khi đó

bạn sẽ chỉ mỉm cười khi hồi tưởng lại khó khăn hiện nay và lại tiếp tục sống vui vẻ?

Bước 6: Sau 5 năm nữa, bạn có còn nhớ rõ được tình tiết của sự việc này hay

tất cả đã chìm vào quên lãng?

1.7.3 Thay đổi hành vi

Việc thay đổi những hành vi tiêu cực cũng như tích cực tìm kiếm sự hỗ trợ từcộng đồng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo vật đệm chống lại stress Ngoài ra,mỗi cá nhân nên rèn luyện kỹ năng quyết đoán vì mỗi người đều có quyền quyết đoánnhư quyền từ chối, quyền chịu trách nhiệm cho hành vi của bản thân, được thấu hiểu,được là chính mình, quyền được quyết đoán mà không cảm thấy có lỗi, được tôntrọng bản thân, v.v Bên cạnh đó, kỹ năng quản lý thời gian sẽ giúp mỗi người có xu

Trang 23

hướng kiểm soát hoặc chế ngự được phần lớn các stress nghề nghiệp và stress trongcác mối quan hệ cá nhân.

1.7.4 Tăng cường thể chất để chế ngự stress

Hạn chế sử dụng rượu bia và các chất có caffein vì chúng khiến cho người sửdụng bị lệ thuộc, khi thiếu thốn sẽ khiến họ căng thẳng, khó chịu và không thể tậptrung vào công việc và cuộc sống hàng ngày như bình thường Hút thuốc lá cũng làhành vi mang tính gây nghiện cao và rất có hại cho sức khỏe của người hút và cảnhững người hít phải khói thuốc Một khi đã nghiện thuốc lá thì thường rất khó bỏnhưng không phải là không thể cai nghiện thuốc lá được mà bản thân người hút có

đủ quyết tâm để bỏ hút thuốc lá hoàn toàn hay không

Thể thao được khuyến khích vì có rất nhiều lợi ích Thể thao phù hợp với độtuổi và tình trạng sức khỏe mỗi người sẽ giúp cơ thể cường tráng, khỏe mạnh và mộttinh thần minh mẫn, giúp giải tỏa stress, kiểm soát cơn nóng giận, hỗ trợ giảm cân vàgia tăng niềm tin và gia tăng giá trị bản thân

Một chế độ dinh dưỡng lành mạnh sẽ tăng sức đề kháng cũng như bổ sungnhững vi chất cần thiết giúp cơ thể khỏe mạnh để đối phó với stress Các món nướnghấp hoặc rim được khuyến khích để thay thế các món chiên xào nướng nhiều dầu mỡ,tăng cường ăn cá, đậu hũ, gia cầm thay cho các loại thịt đỏ Các thực phẩm hữu cơnhư rau, đậu, trái cây được khuyến khích thay thế các loại thực phẩm ăn liền, chế biếnsẵn, v.v

Có chế độ làm việc và nghỉ ngơi hợp lý

1.8 Các nghiên cứu liên quan

1.8.1 Các nghiên cứu tại Việt Nam

Nghiên cứu của Phan Thị Mỹ Linh về “Các yếu tố trong công việc thường gây

ra stress và hậu quả của nó đối với nhân viên y tế (NVYT) tại BVĐK Sài Gòn, Quận

1 năm 2005” trên 224 NVYT Nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi tự điền và dựa vào bộcâu hỏi TSSA với kết quả 100% NVYT tham gia đều bị stress và hơn 50% than phiềncông việc gây stress Các yếu tố thường gây stress là tính chất công việc như: khốilượng công việc nhiều (69,93%), không có thời gian để nghỉ ngơi đầy đủ (56,15%),

Trang 24

trực đêm nhiều (53,69%), tổ chức sắp xếp công việc chưa hợp lý (46,72%), công việc

có độ nguy hiểm cao (43,85%) Trong môi trường vật lý tại nơi làm việc, các yếu tốgóp phần gây ra stress: ồn ào (76,23%), quá nóng (73,36%), thiếu trang thiết bị(72,54%), quá đông người (61,48%), không thoáng khí (48,3%) Ngoài ra, các yếu tốgóp phần gây ra stress là quan hệ không tốt với đồng nghiệp (47,54%), mối quan hệkhông tốt với lãnh đạo (33,61%) Các đối tượng trong nghiên cứu cho rằng lươngthấp (chiếm 36,48%) [2] Công việc của các nhân viên y tế thường mang tính chấtcăng thẳng và áp lực hơn những công việc khác nên tỷ lệ 100% NVYT bị stress cũng

có thể đạt được một mức độ hợp lý nhất định Nhưng nghiên cứu không phân ra cácmức stress từ nhẹ, vừa đến nặng nên khó đánh giá cụ thể về mức độ stress của NVYTtrong nghiên cứu

Nghiên cứu của Nguyễn Trung Tần năm 2012 về “Stress của nhân viên y tếtại Bệnh viện Tâm thần Tiền Giang” Nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi tự điền trên 136NVYT Kết quả cho thấy, ở mức độ tự đánh giá, có 14,7% NVYT cho là họ thườngxuyên bị stress Phương pháp giải quyết stress được NVYT sử dụng nhiều nhất là cảithiện môi trường sinh hoạt, môi trường sống và làm việc để tạo sự thoải mái hơn; tiếptheo là phương pháp hướng về những suy nghĩ tích cực, lạc quan; đối mặt và giảiquyết vấn đề gây stress Biểu hiện stress của NVYT gặp nhiều nhất là rối loạn giấcngủ; cảm giác mệt mỏi; lo lắng về mọi thứ; cảm thấy chán nản, buồn bã; thường đènén cảm xúc của mình; không quản lý được thời gian của mình; không muốn giaotiếp với đồng nghiệp [9]

Nghiên cứu của Trần Đăng Khoa về “Stress nghề nghiệp và các yếu tố liênquan của nhân viên điều dưỡng tại BVĐK tỉnh Bình Dương năm 2013” Nghiên cứu

sử dụng bộ câu hỏi tự điền để khảo sát các yếu tố cá nhân, yếu tố công việc, yếu tố

xã hội và công cụ GHQ-12 để đo lường mức độ stress ở điều dưỡng Kết quả nghiêncứu cho thấy có 21,3% điều dưỡng bị stress, 77,1% điều dưỡng cảm thấy thời gianlàm việc kéo dài, 49% điều dưỡng cảm thấy công việc hiện tại đang làm không đảmbảo an toàn Có tới 92% điều dưỡng cảm thấy công việc quá tải Có 58% điều dưỡngcho biết họ phải kiêm nhiệm nhiều công việc cùng một lúc [10]

Trang 25

Nghiên cứu của Nguyễn Thái Quỳnh Chi và Trương Quang Tiến năm 2013 về

“Tình trạng stress của cán bộ giảng viên trường Đại học Y tế Công Cộng và một sốyếu tố liên quan” Nghiên cứu sử dụng công cụ DASS rút gọn (DASS-14) từ DASS-

42 để đánh giá tỷ lệ stress trên toàn bộ cán bộ giảng viên của trường (125 người) Kếtquả nghiên cứu cho thấy có 27,6% đối tượng nghiên cứu có stress ở các mức độ khácnhau: 17,1% stress mức độ nhẹ, 7,3% stress mức độ vừa, 3,2% stress mức độ nặng

và 0,8% stress mức độ rất nặng [11]

Nghiên cứu của Ngô Thị Kiều My và cộng sự về “Tình trạng stress của điềudưỡng và hộ sinh Bệnh viện Phụ sản Nhi Đà Nẵng năm 2014” Nghiên cứu sử dụngthiết kế mô tả cắt ngang với sự tham gia của 370 điều dưỡng, hộ sinh Bộ câu hỏi tựđiền gồm 2 phần chính: thang đo DASS 21 của Lovibond và phần câu hỏi các yếu tốliên quan đến tình trạng stress Kết quả nghiên cứu cho thấy có 18,1% điều dưỡng,

hộ sinh bị stress Cụ thể là tỷ lệ mức stress nhẹ, vừa, nặng ở điều dưỡng, hộ sinh lầnlượt là 9,7%, 5,7% và 2,7% Có 3 yếu tố có mối liên quan với tình trạng stress là mức

độ ổn định công việc, diện tích nơi làm việc và quan hệ với cấp trên [13]

Một nghiên cứu của Dương Thành Hiệp và cộng sự về “Tỷ lệ điều dưỡng, hộsinh bị stress nghề nghiệp tại Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu, tỉnh Bến Tre năm 2014”.Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên toàn bộ điều dưỡng, hộ sinh tại các khoalâm sàng của bệnh viện (246 người) từ tháng 3 đến tháng 6/2014 và sử dụng công cụđánh giá stress – lo âu – trầm cảm DASS 21 của Lovibond Kết quả nghiên cứu chothấy tỷ lệ stress chung của điều dưỡng, hộ sinh là 56,9% Trong đó, cao nhất là stress

ở mức độ vừa chiếm 24%, kế tiếp là stress ở mức độ nặng là 8,1% Stress ở mức độrất nặng là 1,6%[12]

Nghiên cứu của Trần Thị Thu Thủy và Nguyễn Thị Liên Hương về “Tình trạngcăng thẳng và một số yếu tố nghề nghiệp liên quan đến căng thẳng ở điều dưỡng viêntại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức năm 2015” Nghiên cứu cắt ngang mô tả được thựchiện trên 600 điều dưỡng Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức sử dụng bộ câu hỏi tự điềnđánh giá căng thẳng bằng thang đo DASS 21 Kết quả cho thấy, tỷ lệ căng thẳng củađiều dưỡng là 18,5%, các yếu tố liên quan đến căng thẳng của điều dưỡng là tham gia

Trang 26

công tác quản lý, mối quan hệ với đồng nghiệp và mâu thuẫn với cấp trên Cụ thể,những điều dưỡng có kiêm nhiệm công tác quản lý có nguy cơ căng thẳng cao gấp5,2 lần (KTC 95%: 1,5-18,1); điều dưỡng từng có mâu thuẫn với cấp trên có nguy cơcăng thẳng cao gấp 4,3 lần (KTC 95%: 1,4-9,4) so với nhóm so sánh[14].

Nghiên cứu của Lâm Minh Quang và cộng sự năm 2015 về “Stress và các yếu

tố liên quan đến stress ở điều dưỡng tại Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ ChíMinh” Nghiên cứu được tiến hành trên 352 điều dưỡng đang làm việc tại các khoanội trú và phòng khám ngoại trú của bệnh viện Nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi tựđiền và công cụ GHQ-12 để đánh giá mức độ stress của điều dưỡng Kết quả nghiêncứu cho thấy có 12,5% điều dưỡng có dấu hiệu stress và 3,13% điều dưỡng stressnghiêm trọng Có 53,4% điều dưỡng cho rằng công việc quá tải, 62,8% điều dưỡngcho rằng thời gian làm việc kéo dài và 48,9% điều dưỡng phải kiêm nhiệm nhiều việccùng một lúc [15]

Nghiên cứu của Trịnh Xuân Quang, Tạ Văn Trầm năm 2018 về “Tình trạngstress của điều dưỡng các khoa lâm sàng tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm TiềnGiang” Nghiên cứu chọn tất cả 316 điều dưỡng đang làm việc tại các khoa lâm sàngtại bệnh viện có thời gian công tác từ 6 tháng trở lên và đồng ý tham gia vào nghiêncứu Công cụ DASS-21 được sủ dụng để đánh giá tỷ lệ stress kèm theo bộ câu hỏi tựđiền và một số câu hỏi phỏng vấn sâu Kết quả nghiên cứu cho thấy có 21,5% điềudưỡng bị stress ở các mức độ trong đó 12,6% điều dưỡng stress mức độ nhẹ, 5,2%stress mức độ vừa, 3,2% stress nặng và 0,3% stress rất nặng [26]

Nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Tuân và cộng sự năm 2018 về “Stress, trầmcảm, lo âu của nhân viên y tế Bệnh viện Trưng Vương” Kết quả nghiên cứu cho thấy

tỷ lệ đáp ứng là 72,1% (653 phiếu thu vào/906 phiếu phát ra) Nghiên cứu cắt ngang

sử dụng bộ công cụ đánh giá Stress-Trầm cảm-Lo âu bằng thang đo DASS-21 Trongtổng số 653 nhân viên tham gia nghiên cứu, nữ giới chiếm đa số với 73,2% Nhómtuổi dưới 30 tuổi chiếm 28,8% mẫu nghiên cứu Trình độ chuyên môn từ cao đẳng,đại học trở lên là 44,4% Nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ stress, trầm cảm, lo âu của mẫunghiên cứu lần lượt là 10,5%, 20,8% và 31,5% Áp lực công việc có mối liên đến tình

Trang 27

trạng stress (p < 0,001), trầm cảm (p < 0,001), và lo âu (p=0,005) sau phân tích đabiến [22].

Nghiên cứu của Tăng Thị Hảo, Tăng Thị Hải, Đỗ Minh Sinh năm 2019 về

“Thực trạng stress nghề nghiệp ở điều dưỡng viên tại Bệnh viện Nhi Thái Bình”.Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện từ tháng 01 đến tháng 6/2019 trên toàn bộ 145điều dưỡng đang làm việc tại Bệnh viện Nhi Thái Bình và sử dụng công cụ ExpandedNursing Stress Scale (ENSS-54 items) để đánh giá tình trạng stress của điều dưỡng.Kết quả nghiên cứu cho thấy Các điều dưỡng trong nghiên cứu có mức độ stress thấp.Thấp nhất là khi có các vấn đề liên quan đến cấp trên (M±SD =1,52 ± 0,16), các vấn

đề liên quan đến đồng nghiệp điều dưỡng (M±SD =1,54 ± 0,12); Cao nhất khi có vấn

đề về người bệnh và gia đình người bệnh (M±SD =2,11 ± 0,26) [27]

1.8.2 Các nghiên cứu nước ngoài

Một nghiên cứu năm 2008 của Yu-Chi Wu về “Stress nghề nghiệp và hiệu suấtlao động của nhân viên lĩnh vực tài chính ở Đài Loan: Vai trò của Trí tuệ cảm xúc”.Nghiên cứu đã gởi bộ câu hỏi đến 100 tổ chức, mỗi tổ chức 16 bộ (Tổng số bộ câuhỏi đã gởi là 1.600) và có 583 bộ câu hỏi được gởi về (response rate 36%) trong đó

có 12 bộ chưa điền đầy đủ thông tin Tổng số mẫu sử dụng được là 571 Thang đoJob Stress với thang đo 5-point Likert scale của Parker và DeCotiis (1983) được sửdụng để đánh giá stress Trí tuệ cảm xúc được đo lường bằng bộ công cụ The Self-Report Emotional Intelligence Test (SREIT) do Schutte và cộng sự phát triển năm

1998 Hiệu suất công lao động được đánh giá bằng bộ công cụ Job Performance đượcphát triển bởi Dubinsky và Mattson (1979) Kết quả nghiên cứu cho thấy stress nghềnghiệp ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu suất lao động của nhân viên Trí tuệ cảm xúccũng có mối tương quan thuận với hiệu suất công việc hay nói cách khác, trí tuệ cảmxúc và hiệu suất công việc có mối quan hệ tích cực với nhau Nhân viên thông minh

và có trí tuệ cảm xúc cao thì tác động tích cực đến thành công của tổ chức Tác giảnhấn mạnh việc trí tuệ cảm xúc thường không cố định và có thể được cải thiện thôngqua việc tăng cường huấn luyện và các hình thức đào tạo khác Nghiên cứu chỉ rarằng, so với những nhân viên có trí tuệ cảm xúc cao, người có điểm trí tuệ cảm xúc

Trang 28

thấp thì khả năng giải quyết các vấn đề liên quan đến stress nghề nghiệp cũng thấphơn [41].

Một nghiên cứu của Teixeira và cộng sự về “Stress nghề nghiệp và chiến lượcứng phó với stress ở điều dưỡng trong môi trường bệnh viện” Nghiên cứu cắt ngangđược tiến hành trên 310 điều dưỡng đang làm việc tại Bệnh viện Đại học Y dược tiểubang São Paulo năm 2012 Bộ câu hỏi sử dụng 2 công cụ: công cụ Job Stress Scale(JSS) bao gồm 17 câu dùng để đánh giá mức độ stress nghề nghiệp; công cụ the ScaleMode of Coping (EMEP) gồm 45 câu được chia thành 4 nhóm (tập trung giải quyếtvấn đề gây stress, tập trung vào cảm xúc cá nhân; tìm đến tín ngưỡng để giải tỏastress; tìm kiếm sự hỗ trợ từ môi trường xã hội cộng đồng xung quanh) để đo lườngcác ứng phó với stress của điều dưỡng trong những tình huống cụ thể, xác định nhữngchiến lược được điều dưỡng sử dụng nhiều nhất để ứng phó với stress Kết quả nghiêncứu cho thấy có 21,1% điều dưỡng bị stress nghề nghiệp ở các mức độ Về 4 chiếnlược được sử dụng để ứng phó ở nhóm điều dưỡng bị stress từ công cụ EMEP chokết quả 48,15% điều dưỡng tập trung giải quyết vấn đề gây ra stress, 25,93% điềudưỡng tìm đến tín ngưỡng để giải tỏa stress, 20,37% điều dưỡng tìm kiếm sự hỗ trợ

từ môi trường xã hội cộng đồng xung quanh và chỉ có 5,56% điều dưỡng tập trungvào cảm xúc cá nhân khi bị stress [43]

Một nghiên cứu của Somayeh R và cộng sự về “Các chiến lược được sử dụng

để đối phó với stress của điều dưỡng khoa Hồi sức tích cực của các bệnh viện trựcthuộc Đại học Y khoa Jahrom, Fars Province, Iran” Nghiên cứu cắt ngang được thựchiện trên 107 điều dưỡng sử dụng bộ câu hỏi gồm 2 phần chính: đặc điểm dân số xãhội học và sử dụng công cụ Jalowiec Coping Scale (JCS) – 39 items để xếp loại nhữngứng phó của điều dưỡng khi bị stress Kết quả cho thấy chỉ có 16,8% điều dưỡng ápdụng tốt các chiến lược để giải quyết vấn đề gây stress (problem-focused copingstrategies) và có tới 41% điều dưỡng ứng dụng các biện pháp giải tỏa stress chiếnlược giải tỏa cảm xúc (emotional-focused coping strategies) Problem-focused baogồm các hành động nhanh chóng thích nghi với hoàn cảnh, suy nghĩ và hành độngtích cực và hoãn lại những hành động mang tính gây hấn và hoãn lại những hành

Trang 29

động giải tỏa cảm xúc nhất thời, v.v Emotional-focused bao gồm các hành động từchối trách nhiệm, tích cực giải thích, tìm kiếm các hỗ trợ từ tín ngưỡng và các tổ chức

xã hội, v.v Tác giả cho rằng trước những áp lực căng thẳng không thể tránh khỏitrong môi trường bệnh viện thì việc điều dưỡng tập trung giải tỏa cảm xúc cá nhânmôi khi gặp stress là đương nhiên Vì thế, các cơ quan y tế địa phương cần quan tâmhơn tới các nhân viên điều dưỡng, cải thiện môi trường làm việc của họ và tăng cườngđào tạo điều dưỡng các kỹ năng ứng phó với stress cụ thể và hiệu quả hơn[44]

Một nghiên cứu của tác giả Timothy R Jordan và cộng sự về “Tác động củastress, ứng phó với stress và ảnh hưởng của stress lên sức khỏe điều dưỡng” Nghiêncứu cắt ngang được thực hiện trên 120 điều dưỡng tại một bệnh viện ở Midwestern,Hoa Kỳ Bộ câu hỏi tự điền được thiết kế thành 6 phần chính: Phần 1 đánh giá tìnhtrạng sức khỏe của điều dưỡng; Phần 2 đánh giá những hành vi ảnh hưởng đến sứckhỏe như tập thể dục, ăn kiêng, chất lượng giấc ngủ, sử dụng thuốc lá, rượu bia; Phần

3 hỏi về tiền sử y khoa của điều dưỡng như tiêm ngừa, khám sàng lọc, kết quả chụpnhũ ảnh, PAP, nội soi đại tràng, đường huyết, lipid máu, huyết áp, khám tổng quát,xét nghiệm PSA; Phần 4 sử dụng công cụ PHQ-4 để đo lường mức độ stress và cáctriệu chứng căng thẳng, lo âu, trầm cảm của điều dưỡng trong 2 tuần trở lại; Phần 5đánh giá các phản ứng của điều dưỡng khi bị stress nghề nghiệp; Phần 6 khảo sát cácyếu tố xã hội học như giới tính, tuổi, chủng tộc, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn.Chỉ có 120/177 điều hưỡng hoàn thành bộ câu hỏi và không bỏ sót câu nào Kết quảnghiên cứu cho thấy chỉ số Body Mass Index (BMI) trung bình của điều dưỡng là27,92 và được đánh giá là thừa cân Có tới 92% điều dưỡng bị stress từ mức độ trungbình trở lên và 78% điều dưỡng ngủ dưới 8 giờ một ngày 69% điều dưỡng không tậpthể dục thường xuyên và 63% điều dưỡng tiêu thụ dưới 5 phần rau củ và trái cây mộtngày Có tới 22% điều dưỡng thường xuyên uống rượu bia với số lượng nhiều (bingedrinkers) Khi gặp phải stress, 73% điều dưỡng trả lời rằng họ tiêu thụ thức ăn nhanhnhiều hơn và 63% điều dưỡng cho biết họ ăn uống nhiều hơn để có đủ sức khỏe ứngphó với stress[46]

Trang 30

Nghiên cứu của Emad Shdaifat và cộng sự năm 2017 về “Stress và chiến lượcứng phó với stress ở sinh viên điều dưỡng” thực hiện tại trường đại học Dammam, ẢRập Xê Út Phương pháp nghiên cứu là lấy mẫu thuận tiện trên 184 sinh viên điềudưỡng Nghiên cứu sử dụng bộ công cụ PSS-29 items để đánh giá mức độ stress vàCBI-19 items được chia thành 4 nhóm hành vi ứng phó để đánh giá chiến lược ứngphó stress của sinh viên điều dưỡng Kết quả nghiên cứu cho thấy chiến lược đượcsinh viên sử dụng thường xuyên nhất để ứng phó với stress là nhóm đối mặt và giảiquyết khó khăn (với điểm trung bình cao nhất so vói 3 nhóm còn lại), thứ hai là nhómlạc quan đối mặt với stress, nhóm 3 là nhóm tìm cách giải tỏa stress và chiến lượcđược điều dưỡng sử dụng ít nhất để ứng phó với stress là nhóm các hành vi tránh néstress [47].

Về xã hội, tại thời điểm tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 thì dân số tỉnhBình Dương là 2.411.796 người Tốc độ tăng dân số bình quân giai đoạn 2009-2019

là 5%/năm Dân số ngoại tỉnh chiếm 53%

Về y tế, tổ chức bộ máy ngành Y tế gồm có 01 Văn phòng Sở Y tế, 02 Chicục, 01 Trung tâm Kiểm soát bệnh tật và 04 trung tâm tuyến tỉnh, 03 Bệnh viện tuyếntỉnh, 02 bệnh viện ngành, 09 Trung tâm y tế huyện/thị/thành phố, 19 Phòng khám đakhoa khu vực và 91 trạm y tế; mạng lưới y tế ngoài công lập có 14 bệnh viện tư nhân;

20 trạm Y tế doanh nghiệp, 48 phòng khám đa khoa tư nhân; 658 phòng khám chuyênkhoa và 2.585 cơ sở y tế hành nghề dược v.v tập trung chủ yếu ở những thị xã/thành

Trang 31

phố có nhiều khu công nghiệp UBND tỉnh đã ban hành Quyết định thành lập Trungtâm Kiểm soát Bệnh tật tỉnh Bình Dương (Quyết định 3511/QĐ-UBND ngày11/12/2018 của UBND tỉnh Bình Dương có hiệu lực từ ngày 01/07/2019), Đề án sắpxếp tổ chức bộ máy của Sở Y tế tỉnh Bình Dương theo Quyết định 711-QĐ/TW ngày11/5/2018 của Tỉnh ủy Bình Dương Tiếp tục rà soát, sửa đổi bổ sung chức năngnhiệm vụ, quyền hạn của các trung tâm y tế huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh theohướng dẫn Thông tư số 37/2016/TT-BYT ngày 25/10/2016 phù hợp với đặc điểmtình hình của từng đơn vị, địa phương: Quyết định điều chỉnh chức năng nhiệm vụ,quyền hạn của TTYT TX Tân Uyên; Xếp hạng các Trung tâm Y tế huyện Bàu Bàng,Bắc Tân Uyên là đơn vị hạng III Ban hành Quyết định điều chỉnh chức năng nhiệm

vụ, quyền hạn của Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm; Chi cục Dân số kế hoạch hóagia đình; Hoàn chỉnh dự thảo trình UBND tỉnh ban hành chức năng, nhiệm vụ, quyềnhạn của Sở Y tế (thay đổi Quyết định 33/2008/QĐ-UBND) [28]

Trang 32

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang mô tả

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian: từ tháng 6 đến tháng 7 năm 2020.

Địa điểm: Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương.

2.3 Đối tượng nghiên cứu

d2Với:

n : cỡ mẫu nghiên cứu

α : Xác suất sai lầm loại I, α = 0,05

Z : Trị số từ phân phối chuẩn (Với độ tin cậy 95%, Z(1- α/2) = 1,96)

d : Độ chính xác (hay sai số cho phép), d = 0,05

p : tham khảo từ nghiên cứu của Trần Đăng Khoa năm 2013 [10], p = 0,213

Như vậy, n = 252

Theo danh sách điều dưỡng được phòng Điều dưỡng BVĐK tỉnh Bình Dươngcung cấp, bệnh viện hiện có hơn 1.000 nhân viên y tế đang làm việc, trong đó có 387nhân viên điều dưỡng đang làm việc tại các khoa chuyên môn (Phụ lục 3) Nghiêncứu chọn toàn bộ điều dưỡng đang làm việc tại BVĐK tỉnh Bình Dương

Trang 33

2.5 Tiêu chí chọn mẫu

2.5.1 Tiêu chí đưa vào

Điều dưỡng đang làm việc tại BVĐK tỉnh Bình Dương tại thời điểm nghiêncứu (bao gồm cả điều dưỡng đã vào biên chế và điều dưỡng chưa vào biên chế nhưng

đã ký hợp đồng lao động)

Điều dưỡng đồng ý tham gia nghiên cứu

2.5.2 Tiêu chí loại ra

Điều dưỡng đang thử việc và sinh viên điều dưỡng thực tập

Điều dưỡng nghỉ bệnh và nghỉ phép quá 3 ngày trở lên, điều dưỡng nghỉ thaisản, điều dưỡng đi học chuyên môn

2.6 Liệt kê và định nghĩa biến số

2.6.1 Yếu tố cá nhân

- Giới tính: là biến số nhị giá gồm 2 giá trị:

1 Nữ

2 Nam

- Năm sinh: là biến số định lượng, năm sinh được tính bằng năm nghiên cứu

hiện tại trừ cho năm sinh của đối tượng nghiên cứu

5 Tiến sĩ/chuyên khoa II

- Dân tộc: là biến danh định có 3 giá trị:

1 Kinh

2 Hoa

3 Dân tộc khác

Trang 34

- Tôn giáo: là biến danh định có 5 giá trị:

1 Không tôn giáo

- Tình trạng nhà ở: là biến số nhị giá gồm 2 giá trị Có và Không được đánh

giá thông qua các nội dung sau:

- Tình trạng sống chung: là biến số nhị giá gồm 2 giá trị Có và Không được

đánh giá thông qua các nội dung sau:

1 Sống một mình

2 Sống với người yêu/bạn tình

3 Sống với vợ/chồng

Trang 35

- Cảm nhận về mối quan hệ gia đình: là biến số nhị giá gồm 2 giá trị Có và

Không được đánh giá thông qua các nội dung sau:

1 Hài lòng về gia đình

2 Mọi người yêu thương nhau

3 Nhận được sự giúp đỡ khi cần

4 Xung đột giải quyết được

5 Xung đột không giải quyết được

- Bệnh đang mắc: là biến số nhị giá gồm 2 giá trị Có và Không được đánh giá

thông qua các nội dung sau:

Trang 36

- Tính cách (đối tượng nghiên cứu tự đánh giá): là biến danh định có 5 giá

trị dựa vào định nghĩa của Mô hình phân tích tính cách Big Five Model của tác giảMcCrae [33]:

1 Hướng ngoại/Hướng nội

2 Tâm lý bất ổn/Vô tư

3 Tận tâm/Thờ ơ

4 Dễ chịu/Khó tính

5 Sẵn sàng trải nghiệm/Thích an toàn

2.6.2 Yếu tố công việc

- Khoa/phòng: là biến số danh định gồm 23 giá trị tương ứng với 23 khoa

chuyên môn có điều dưỡng đang làm việc (phụ lục 3)

- Thâm niên (Số năm làm việc): là biến định lượng, có giá trị bằng năm nghiên

cứu hiện tại trừ cho năm bắt đầu vào làm việc tại bệnh viện dưới vai trò điều dưỡng

- Chức vụ: là biến số danh định gồm 2 giá trị:

1 Điều dưỡng quản lý: điều dưỡng trưởng khoa, điều dưỡng phó khoa, điềudưỡng hành chánh, điều dưỡng trưởng tua

2 Điều dưỡng viên

- Biên chế: là biến số nhị giá gồm 2 giá trị:

1 Đã vào biên chế (khi đã ký hợp đồng không xác định thời hạn với bệnh viện)

2 Chưa vào biên chế

Trang 37

- Cảm nhận về công việc: là biến số nhị giá gồm 2 giá trị Có và Không được

đánh giá thông qua các nội dung sau:

1 Yêu thích công việc hiện tại

2 Hài lòng với mức lương hiện tại

3 Được phân công công việc hợp lý

- Cảm nhận về công việc hàng ngày: là biến số nhị giá gồm 2 giá trị Có và

Không được đánh giá thông qua các nội dung sau:

1 Có đầy đủ trang thiết bị đáp ứng yêu cầu công việc

2 Có kiêm nhiệm nhiều công việc

3 Làm hành chánh

4 Có trực đêm

5 Có chế độ ca kíp phù hợp

- Cảm nhận về mối quan hệ trong công việc: là biến số nhị giá gồm 2 giá trị

Có và Không được đánh giá thông qua các nội dung sau:

1 Được cấp trên hỗ trợ

2 Có mối quan hệ tốt với cấp trên

3 Có mối quan hệ tốt với đồng nghiệp

4 Thường xảy ra xung đột với cấp trên

5 Thường xảy ra xung đột với đồng nghiệp

- Cảm nhận về an toàn nơi làm việc: là biến số nhị giá gồm 2 giá trị Có và

Không được đánh giá thông qua các nội dung sau:

1 Nơi làm việc không an toàn

2 Nơi làm việc có nhiều tiếng ồn

3 Nơi làm việc đông đúc/chật chội

4 Nơi làm việc nóng bức

5 Nơi làm việc bị ô nhiễm không khí

6 Nơi làm việc thiếu ánh sáng

2.6.3 Đánh giá stress

Trang 38

Để đánh giá nhanh mức độ stress của điều dưỡng, nghiên cứu sử dụng Thang

đo đánh giá Stress rút gọn (DASS 7) từ Thang đo đánh giá Lo âu - Trầm cảm – Stress(DASS 21) của tác giả Lovibond [35]

Mức độ đánh giá:

0 điểm: Không đúng với tôi chút nào cả

1 điểm: Đúng với tôi phần nào, hoặc thỉnh thoảng mới đúng

2 điểm: Đúng với tôi phần nhiều, hoặc phần lớn thời gian là đúng

3 điểm: Hoàn toàn đúng với tôi, hoặc hầu hết thời gian là đúng

7 yếu tố gây stress cần đánh giá gồm:

1 Tôi thấy khó mà thoải mái được (I found it hard to wind down)

2 Tôi có xu hướng phản ứng thái quá với mọi tình huống (I tended to over-react tosituations)

3 Tôi thấy mình đang suy nghĩ quá nhiều (I found myself getting agitated)

4 Tôi thấy bản thân dễ bị kích động (I found myself getting agitated)

5 Tôi thấy khó thư giãn được (I found it hard to wind down)

6 Tôi không chấp nhận được việc có cái gì đó xen vào cản trở việc tôi đang làm (Iwas intolerant of anything that kept me from getting on with what I was doing)

7 Tôi thấy mình khá dễ phật ý, tự ái (I felt that I was rather touchy)

Cách tính điểm: Điểm của Stress được tính bằng cách cộng điểm các đề mục thành

phần 7 câu trên ra được điểm cuối cùng:

Bảng 2.1 Bảng điểm đánh giá mức độ stress theo thang đo DASS 7

Stress

5 Mức độ Điểm Stress Stress

3 Mức độ Điểm Stress Stress

Trang 39

2.6.4 Chiến lược ứng phó với stress

Nghiên cứu sử dụng bộ công cụ Coping Behavior Inventory (CBI) được pháttriển bởi Sheu và cộng sự năm 2002 [38] CBI là công cụ có 19 câu hỏi với thang đo5-point Likert type scale được dùng để đánh giá khả năng ứng phó với stress của điềudưỡng Về độ tin cậy của thang đo, công cụ CBI có điểm kiểm định Cronbach’s alpha

là 0,76, được đánh giá ở mức tốt cho việc sử dụng đánh giá khả năng ứng phó vớistress

Cách tính điểm: điểm trung bình của mỗi nhóm càng cao cho thấy điều dưỡng

có khuynh hướng sử dụng các chiến lược trong nhóm đó để đối phó với stress càngcao

Bộ công cụ CBI được phân thành 4 nhóm chính:

Nhóm 1: Đối mặt và giải quyết khó khăn (problem solving behaviour) gồm

6 câu:

- Cảm thấy tự tin khi thực hiện trách nhiệm và nghĩa vụ của một người điềudưỡng

- Lên kế hoạch để giải quyết vấn đề gây stress

- Kết hợp nhiều chiến lược và biện pháp để giải quyết các rắc rối

- Nhận thấy stress cũng có lợi

- Dựa vào kinh nghiệm bản thân để giải quyết vấn đề gây stress

- Lên kế hoạch và danh sách những việc ưu tiên để giải quyết vấn đề gây stress

Nhóm 2: Các hành vi tránh né stress (avoidance behaviour) gồm 6 câu:

- Cho rằng số phận bản thân không may mắn khi liên tục gặp rối

Trang 40

- Luôn cố gắng tránh những khó khăn và rắc rối xảy ra trong quá trình làmviệc

- Chỉ muốn né tránh việc tiếp xúc với mọi người khi bị stress

- Hy vọng điều kỳ diệu hoặc may mắn xảy ra để không phải đối mặt với nhữngkhó khăn, căng thẳng

- Hy vọng người khác giúp đỡ mình giải quyết vấn đề khi bị stress

- Nổi nóng, mất bình tĩnh và dễ lớn tiếng với người khác

Nhóm 3: Lạc quan đối mặt với stress (optimistic coping behaviour) gồm 4

câu

- Cảm thấy tự tin và đủ khả năng để vượt qua mọi khó khăn

- Giữ thái độ lạc quan và suy nghĩ tích cực khi đương đầu với những vấn đềkhó khăn

- Đánh giá mọi việc dưới thái độ khách quan, không thiên vị

- Khóc để đau khổ, buồn rầu và cảm thấy bất lực

Nhóm 4: Tìm cách giải tỏa stress (transference behaviour) gồm 3 câu

- Thư giãn bằng giải trí như xem tivi, mạng xã hội, tắm dưỡng, tập thể dục

- Dành thời gian để ngủ đủ giấc và quan tâm chăm sóc sức khỏe của bản thân

- Ăn một bữa thật ngon, thật no và ngủ một giấc thật sâu

2.7 Thu thập số liệu

2.7.1 Công cụ thu thập

- Do đối tượng nghiên cứu là điều dưỡng có trình độ học vấn và qua đào tạochuyên môn nên có thể sử dụng bộ câu hỏi tự điền trên đối tượng này

- Bộ câu hỏi tự điền gồm 4 phần: Các yếu tố cá nhân, tình trạng sức khỏe, kinh

tế và gia đình; Các yếu tố công việc; Đánh giá mức độ stress bằng thang đo rút gọnDASS7; Đánh giá chiến lược ứng phó với stress bằng công cụ CBI-19

2.7.2 Phương pháp thu thập

- Nghiên cứu viên tiến hành xin phép chấp thuận cho lấy mẫu nghiên cứu (bằngcông văn) đến giám đốc bệnh viện

Ngày đăng: 29/03/2021, 00:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w