1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thế giới nghệ thuật thơ hữu thỉnh

140 9 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thế giới nghệ thuật thơ hữu thỉnh
Tác giả Trần Phạm Hoàng Yến
Người hướng dẫn PGS. TS Lê Tiến Dũng
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2016
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 140
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bài viết “Hữu Thỉnh trên đường tới thành phố” Thiếu Mai nói về thành công mà Hữu Thỉnh đã đạt được ở trường ca Sức bền của đất, sau đó tác giả đưa ra nhận xét, đánh giá về trường

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

L ỜI CẢM ƠN Chúng tôi xin chân thành c ảm ơn:

- PGS.TS Lê Ti ến Dũng người thầy đã nhiệt tình hướng dẫn và giúp tôi trong quá trình thực hiện đề tài

- Các thầy cô Phòng Sau Đại học và khoa Văn học và Ngôn ngữ, Trường Đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn- Đại học Quốc Gia TP.H ồ Chí Minh

- Gia đình và những người thân luôn ủng hộ tôi trong quá trình

h ọc tập

Trang 4

M ỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

PHẦN NỘI DUNG 9

CHƯƠNG 1: THƠ HỮU THỈNH QUA CÁC CHẶNG ĐƯỜNG 9

1.1 Vài nét v ề tác giả 9

1.2 Quan ni ệm về thơ của Hữu Thỉnh 11

1.3 Các ch ặng đường thơ Hữu Thỉnh 17

CHƯƠNG 2: CẢM HỨNG SÁNG TÁC VÀ CÁI TÔI TRỮ TÌNH 22

2.1 C ảm hứng về đất nước, thiên nhiên 22

2.2 C ảm hứng về nhân dân 39

2.3 C ảm hứng về người lính 55

2.4 Cái tôi tr ữ tình trong thơ Hữu Thỉnh 71

CHƯƠNG 3: CÁC PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT TRONG THƠ HỮU THỈNH 89

3.1 Th ể loại 89

3.1.1 Trường ca 89

3.1.2 Thơ trữ tình 99

3.2 Ngôn ng ữ 102

3.2.1 Ngôn ng ữ mang đậm chất dân gian 102

3.2.2 Ngôn ng ữ đối thoại 104

3.2.3 Ngôn ng ữ thơ gần với ngôn ngữ của đời thường 106

3.2.4 Các bi ện pháp tu từ 108

3.3 Gi ọng điệu 115

3.3.1 Gi ọng điệu hào hùng, lạc quan 115

3.3.2 Gi ọng điệu triết lý 117

3.3.3 Gi ọng điệu trữ tình 121

K ẾT LUẬN 127

TÀI LI ỆU THAM KHẢO 130

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hữu Thỉnh là nhà thơ sớm khẳng định vị trí của mình trên thi đàn bằng các giải thưởng văn học Trong suốt chặng đường sáng tác Hữu Thỉnh không ngừng tìm tòi, sáng tạo, đổi mới phong cách sáng tác Với số lượng tác phẩm được xuất bản khá nhiều như một điều kiện để khẳng định vị trí và sự thành công của ông trên thi đàn

Với giai điệu sôi động, vui tươi của bài hát Năm anh em trên một chiếc xe tăng được phổ từ bài thơ Trên một chiếc xe tăng đã gợi lên trong lòng tôi một

nỗi bồi hồi xúc động, đưa tôi trở về với một thời kỳ lịch sử thật vẻ vang của đất

nước Cũng được phổ từ thơ nhưng bài hát Biển nỗi nhớ và em lại mang giọng

điệu trầm lắng, tha thiết chất chứa nhiều ưu tư Từ đó cho thấy hai phong cách thơ khác nhau trong hành trình sáng tác của Hữu Thỉnh Điều này đã đốt lên ngọn lửa đam mê trong tôi, thôi thúc tôi đi vào tìm hiểu, nghiên cứu sự nghiệp sáng tác của Hữu Thỉnh

Tác phẩm của Hữu Thỉnh đã được đưa vào giảng dạy trong trường phổ thông Khi nghiên cứu thế giới nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh sẽ giúp tôi có cái nhìn toàn diện về nhà thơ và tác phẩm của ông nhằm phục vụ tốt hơn cho công tác

giảng dạy của tôi Vì vậy tôi chọn đề tài “Thế giới nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh”

cho luận văn cao học của mình Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa có chọn lọc những công trình, những bài viết quý báu của người đi trước, chúng tôi thực hiện đề tài nhằm góp thêm một cái nhìn tổng quát về sự nghiệp thơ ca của nhà thơ Hữu Thỉnh Thông qua việc tìm hiểu, nghiên cứu thơ Hữu Thỉnh, chúng ta có thêm cơ

sở và những nhận định quan trọng trong việc xác định vị trí và tiếng nói của dòng thơ cách mạng trong nền văn học Việt Nam hiện đại

Trang 6

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Xuất phát từ mục đích của đề tài, luận văn xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu là toàn bộ tác phẩm của tác giả trong lĩnh vực thơ ca gồm: trường ca

và thơ trữ tình

Luận văn tập trung nghiên cứu “Thế giới nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh” trên

các bình diện nội dung tư tưởng và phương thức thể hiện Vì vậy, tài liệu chủ yếu phục vụ cho việc nghiên cứu là các tác phẩm thơ ca của Hữu Thỉnh:

1 Âm vang chiến hào (Thơ, in chung- 1975, Nxb u n đội nh n d n)

2 Sức bền của đất (Trường ca- 1977, Nxb Tác phẩm mới)

3 Đường tới thành phố (Trường ca- 1979, Nxb u n đội nh n d n)

4 Khi bé Hoa ra đời (Thơ thiếu nhi, in chung- 1984, Nxb Kim Đồng)

5 Từ chiến hào tới thành phố (tuyển- 1985, Nxb ăn học)

6 Thư mùa đông (Thơ- 1994, Nxb Hội Nhà văn)

7 Trường ca Biển (Trường ca-1994, Nxb u n đội nh n d n)

8 Thương lượng với thời gian (Thơ- 2005, Nxb Hội Nhà văn)

báo, tạp chí và đăng trên mạng internet về thơ của Hữu Thỉnh

Trong bài viết “Hữu Thỉnh trên đường tới thành phố” Thiếu Mai nói về

thành công mà Hữu Thỉnh đã đạt được ở trường ca Sức bền của đất, sau đó tác giả đưa ra nhận xét, đánh giá về trường ca Đường tới thành phố Tác giả viết:

“Cảm xúc dạt dào, phong phú và mạnh mẽ là chỗ mạnh của Hữu Thỉnh, vốn đã

Trang 7

làm nên sức xúc động trong nhiều bài thơ của anh từ trước, giờ đây, là sợi dây nội tại quán xuyến từ đầu đến cuối và tạo nên linh hồn của trường ca Đường tới thành phố S ng h ng ch tr ng cả xúc, t c giả rất c thức nâng ca chất

tr tu tr ng thơ của nh” [54;152] Không ngừng tìm tòi, sáng tạo cái mới cho từng c u thơ cũng là ưu điểm đáng chú ý của Hữu Thỉnh: “Hữu Thỉnh rất chú ý đến từng câu, từng chữ Anh không bằng lòng với lối nói sáo, mòn Mỗi câu, dù ý không mới anh vẫn cố tìm cho nó một cách thể hi n mới” [54;162] au khi ph n tích nội dung của trường ca Đường tới thành hố, Thiếu Mai đã đưa ra lời nhận xét: “Đây là t c h đầu ti n c sức chứa về ột chủ đề lớn đã đạt được những thành t u đ ng ể với những n t độc đ ” Bên cạnh đó, Thiếu Mai cũng

nêu ra những nhược điểm cần khắc phục về việc tổ chức kết cấu trong trường ca Cũng như Thiếu Mai, Lưu Khánh Thơ đã nghiên cứu, tìm hiểu bao quát các tập thơ của Hữu Thỉnh và đưa ra nhận xét, đánh giá về thơ của ông qua bài

viết: “Hữu Thỉnh- một phong cách thơ sáng tạo” Tác giả nhận thấy trong quá

trình sáng tác Hữu Thỉnh luôn có sự tìm tòi sáng tạo và đổi mới về phong cách thơ Chính sự vận dụng nhuần nhuy n và biến đổi hợp lý, linh hoạt những c u tục ngữ d n gian của nhà thơ đã tạo nên cá tính và nét đặc sắc cho thơ Hữu

Thỉnh Tác giả nhận định về thơ Hữu Thỉnh: “Chỗ mạnh của thơ Hữu Thỉnh là

s quan sát tinh tế, sắc nhọn, là cảm xúc mạnh và sâu”[92;413] Sau khi phân

tích ưu điểm và nhược điểm trong thơ Hữu Thỉnh, Lưu Khánh Thơ rút ra kết

luận về phẩm chất thơ Hữu Thỉnh “là đằm thắm, hồn hậu, nghiêng về phía rợp mát, cái chìm lắng y u thương lấn át cái ồn ào sôi sục” [92;421]

Trong bài viết “Thơ Hữu Thỉnh- một hướng tìm tòi và sáng tạo từ dân tộc, đến hiện đại” Lý Hoài Thu nhận thấy “ ột hồn thơ h e h ắn và rất giàu

nội tâ ” ngay từ những c u thơ đầu tay của Hữu Thỉnh Trong quá trình sáng

Trang 8

tác, Hữu Thỉnh có một sự sáng tạo và không ngừng đổi mới cho thơ của mình:

“Thơ anh c s kết hợp giữa phong cách dân tộc và tính hi n đại, giữa chiều sâu triết l và độ xúc cảm tràn trào, giữa s hiền hòa lắng đọng và mãnh li t sục sôi, giữa khả năng viết những tác ph trường ca dài và thơ trữ tình ngắn” [93;45]

Từ những nhận xét trên, tác giả bài viết đi đến kết luận: “Anh là một trong những gương ặt tiêu biểu, xuất sắc của nền thơ chống Mỹ đã hẳng định vị trí và bản lĩnh s ng tạo của mình qua hai chặng đường lớn: thơ ca những nă chống Mỹ cứu nước và thơ ca đương đại Vi t Nam” [93;46]

Trong bài viết “Hữu Thỉnh và quá trình tự đổi mới thi ca” Nguy n Đăng

Điệp nêu ra những thay đổi trong thơ Hữu Thỉnh ở giai đoạn sau Tác giả nhận thấy thơ Hữu Thỉnh ở giai đoạn sau có sự thay đổi về giọng điệu nghệ thuật lẫn

cái nhìn nghệ thuật; “Cái chất giọng ru vỗ, ngọt ngào mang tính sử thi trong Đường tới thành phố và giai đ ạn trước đ đã nhường chỗ cho chất giọng ưu tư, chua ch t, đau đời” Đồng thời tác giả cũng cho thấy sự đổi mới về tư duy nghệ thuật ở Hữu Thỉnh: “ ẫn là ột Hữu Thỉnh xuất h t từ nền ng vững chắc của f l l re, nhưng anh đã biết bứt h i â hưởng tr ng ca tr ng thơ ột thời,

từ đ xử l những chất li u truyền thống bằng c i nh n hi n đại nhằ tạ n n những đột h về thi h thể l ại” [18;226]

Qua bài viết “Hữu Thỉnh với thể loại trường ca” Hoàng Điệp đã nói về

những đóng góp và sự thành công của Hữu Thỉnh ở thể loại trường ca: “Trường

ca của ông không những nhiều về số lượng à còn đạt giá trị về chất lượng”

[21;65] Tác giả nhận định chính những bản trường ca của Hữu Thỉnh đã để lại

dấu ấn nổi bậc trong sự nghiệp sáng tác của ông: “Chính những bản trường ca này đã hẳng định tư duy h i qu t, đồng thời cũng n i l n được tầm vóc của nhà thơ h ng chỉ dừng lại ở c i t i c nhân à còn được thể hi n trong cái tôi

Trang 9

chung của cộng đồng, của cả dân tộc” [21, 65] Từ đó, Hoàng Điệp đã chỉ ra nét

đặc sắc trong từng trường ca nhằm khẳng định sự thành công của nhà thơ Hữu Thỉnh

Bên cạnh đó, còn có nhiều bài viết ghi lại những cảm nhận và suy nghĩ khi đọc tác phẩm của Hữu Thỉnh:

Với bài viết “Từ Những người đi tới biển đến Đường tới thành phố”

Tế Hanh đã nêu lên cảm nhận sâu sắc về Đường tới thành phố trên cơ sở so sánh

hai trường ca “Những người đi tới biển” và “Đường tới thành phố” Trường ca

đã để lại cho Tế Hanh một ấn tượng khó quên: “Đọc những đ ạn thơ tr ng tập thơ của Hữu Thỉnh t i nghe như những đ àn xe cuồn cuộn tiến vào thành phố trong chiến dịch ùa xuân đại thắng 1975” [30;2] Tế Hanh còn cảm nhận được:

“Đường tới thành phố đã là sống lại c i h ng h tưng bừng của mùa xuân

nă 1975” [30;2]

ũ uần Phương qua bài viết “Đọc Đường tới thành phố” đã có những

nhận định khá toàn diện về trường ca từ kết cấu, chủ đề từng chương đến bút

pháp của trường ca Tác giả nhận xét: “Anh chủ động l a chọn s bộn bề của s

ki n, c n người, những vi c tiền tuyến, hậu hương những chất li u tiêu biểu, những cuộc đời điển h nh qua đ thấy được cả dân tộc” [66;2] Trên cơ sở đó ũ

Quần Phương cũng nêu điểm nổi bật và hạn chế của trường ca

Mai Hương trong bài Đọc Đường tới thành phố cũng có những cảm

nhận sâu sắc khi đọc trường ca Đường tới thành phố Tác giả nhận ra ở Hữu Thỉnh có một phong cách viết riêng: “Nếu như Thanh Thả thường chú đến mạch ngầm của cả bài thơ, t chú đến câu thơ, th Hữu Thỉnh: rất chú đến câu thơ, lời, chữ d đ , câu thơ của anh, nhiều t đều ghi nhận một s tìm tòi nhất định” [43;112] Từ đó Mai Hương nêu ra nhận định: “Khi Hữu Thỉnh có

Trang 10

được những câu thơ xúc động là hi anh đã chu n bị ch câu thơ của mình những suy nghĩ, t nh cảm rất chín” [43;112]

Nhà thơ Xu n Diệu qua Những suy nghĩ nhân đọc Đường tới thành phố cũng dành những cảm nhận riêng về cái hay, cái tinh tế cho từng chương

trong trường ca Đồng thời qua đ y, Xu n Diệu cũng có những suy nghĩ nh n

đọc thơ Hữu Thỉnh: “Nói th c tế gian khổ và phấn đấu bền dai là chỗ mạnh của thơ Hữu Thỉnh” [7;4]

Nguy n Trọng Tạo đã viết bài “Hữu Thỉnh- Thành phố hồn quê”

nh n đọc tập thơ Thư ùa đ ng của Hữu Thỉnh “Hữu Thỉnh là một nhà phù thủy ngôn từ, cái nhà phù thuỷ vừa đ ng y u, đ ng hục, vừa đ ng sợ, đ ng chờn” [76;50] Theo tác giả, điểm để phân biệt nhà thơ Hữu Thỉnh với những

nhà thơ khác chính là giọng thơ mang đậm chất quê Cũng chính giọng thơ này

đã tạo nên nét đặc sắc cho thơ Hữu Thỉnh: “Cái giọng độc đ nhà qu ấy đã tạo nên thần sắc thơ Hữu Thỉnh” [76;50] Dù bài viết chỉ là cảm nhận riêng về một

tập thơ nhưng cũng góp thêm tiếng nói khẳng định sự thành công trong sự nghiệp sáng tác của Hữu Thỉnh

Mai Quốc Liên trong tập Tiểu luận- phê bình văn học đã có bài viết

giới thiệu về thơ Hữu Thỉnh Bài viết giới thiệu về cái hay, về nét đặc sắc, về cái

không khí huyền nhi m, mong manh, tinh tế trong thơ ông Đồng thời tác giả bài viết cũng đưa ra nhận định: “Triết lý nhân thế cũng là chỗ mạnh của thơ Hữu Thỉnh Và s kết hợp giữa những suy tưởng về cuộc đời, c n người của anh đã

để lại những câu thơ đ ng gọi là danh cú” [51;147]

Mặc dù các bài viết chưa bao quát hết sự nghiệp thơ của Hữu Thỉnh, nhưng những ý kiến của người đi trước là những gợi ý quý báu giúp cho chúng tôi trong

quá trình nghiên cứu, tìm hiểu Thế giới nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh

Trang 11

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sẽ sử dụng một số phương pháp sau:

- Phương pháp thống kê, phân loại: phương pháp này giúp cho người

viết có thể sắp xếp các tác phẩm có hệ thống, từ đó có thể nêu ra dẫn chứng xác đáng khi phân tích, nhận xét về thơ của Hữu Thỉnh

- Phương pháp phân tích- tổng hợp: phương pháp này giúp người viết

tìm ra đặc điểm thơ, tìm ra cái hay, cái đặc sắc của thơ Hữu Thỉnh

- Phương pháp so sánh, đối chiếu: vận dụng phương pháp này để so sánh

đối chiếu trên cơ sở đồng đại và lịch đại với các tác phẩm của các tác giả có liên

quan để từ đó có cái nhìn tổng quát, hệ thống về Thế giới nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh

5 Đóng góp của luận văn

Thông qua những cảm hứng về người lính; về nhân dân; về đất nước, thiên nhiên giúp người đọc hiểu rõ hơn về tư duy thơ của Hữu Thỉnh Khi nghiên cứu

cái tôi trữ t nh tr ng thơ sẽ giúp người đọc hiểu rõ hơn về nhà thơ Khảo sát về

phương diện nghệ thuật để tìm ra nét đặc sắc về nghệ thuật của thơ Hữu Thỉnh,

từ đó có cái nhìn toàn diện về thế giới ngh thuật thơ Hữu Thỉnh Đồng thời sau

khi hoàn thành xong luận văn sẽ giúp cho tôi có thêm nhiều nguồn tư liệu, nhiều kiến thức hơn để phục vụ công tác giảng dạy

Trang 12

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn được cấu trúc thành 3 chương: Chương 1: Thơ Hữu Thỉnh qua các chặng đường (Từ trang 9 đến trang

21)

Trong chương này, người viết giới thiệu đôi nét về cuộc đời của nhà thơ Hữu Thỉnh Tiếp đến là sự khái quát về những chặng đường sáng tác và quan niệm về thơ của nhà thơ

Chương 2: Cảm hứng sáng tác và cái tôi trữ tình (Từ trang 22 đến trang

88)

Đất nước, quê hương cùng với những cảnh sắc thiên nhiên tươi đ p đã khơi nguồn cho những sáng tác của Hữu Thỉnh Cùng với hình ảnh nh n d n giàu lòng yêu nước, hình ảnh người lính kiên cường, dũng cảm là những nguồn cảm hứng sáng tác chính trong thơ Hữu Thỉnh ên cạnh đó, cái tôi trữ tình cũng là vấn đề mà luận văn tập trung tìm hiểu, nghiên cứu

Chương 3: Các phương diện nghệ thuật trong thơ Hữu Thỉnh (Từ trang

89 đến trang 126

chương này, người viết tập trung tìm hiểu, nghiên cứu những nét đặc sắc

về nghệ thuật trong thơ Hữu Thỉnh ở các phương diện: thể loại, ngôn ngữ và giọng điệu nghệ thuật

Trang 13

CHƯƠNG 1 THƠ HỮU THỈNH QUA CÁC CHẶNG ĐƯỜNG

1.1 Vài nét về tác giả

Hữu Thỉnh có bút danh là ũ Hữu, tên khai sinh là Nguy n Hữu Thỉnh Sinh ngày 15 tháng 2 năm 1942 tại làng Phú Vinh, xã Duy Phiên, huyện Tam Dương (nay là huyện Tam Đảo), tỉnh ĩnh Phúc Hữu Thỉnh sinh ra trong một gia đình nông d n có truyền thống Nho học Ông đã trải qua tuổi thơ ấu không

d dàng: (ở 6 năm với bác ruột, 10 tuổi phải đi phu, đủ mọi thứ lao dịch cho các đồn binh Pháp: Vân Tập, chợ Vàng, Thứa, Thanh n…và bị đánh đập tàn nhẫn)

Ông chỉ thực sự được đi học sau hòa bình lập lại (1954 Năm 1963 ông tốt nghiệp phổ thông và vào bộ đội Tăng- Thiết giáp, đơn vị nhập ngũ đầu tiên là Trung đoàn 202 Từ đ y Hữu Thỉnh đã tham gia một số hoạt động như: học lái

xe tăng, làm cán bộ tiểu đội, dạy bổ túc văn hoá, viết báo, làm cán bộ tuyên huấn Ông tham gia chiến đấu tại các chiến trường Đường 9- Nam Lào trong nhiều năm (1970-1971), Quảng Trị (1972), Tây Nguyên và chiến dịch Hồ Chí Minh Sau 1975, ông học Đại Học ăn hoá (Trường viết văn Nguy n Du khoá I) Từ 1982 ông lần lượt đảm nhiệm các chức vụ: Cán bộ biên tập, Trưởng ban

thơ, Phó Tổng biên tập tạp chí ăn ngh Quân đội

Từ 1990 đến nay, Hữu Thỉnh chuyển sang công tác tại Hội Nhà văn iệt

Nam, làm Tổng biên tập Tuần báo ăn ngh Ông đã tham gia ban chấp hành

Hội Nhà văn các khoá 3, 4, 5, Ủy viên an Thư ký khóa 3

Hữu Thỉnh hiện đang sống và làm việc tại Hà Nội, là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, Hội viên Hội Nhà ăn iệt Nam từ năm 1976 Ông hiện là chủ

Trang 14

tịch Hội Nhà văn iệt Nam đồng thời kiêm nhiệm Tổng biên tập áo ăn nghệ Ông cũng là đại biểu uốc hội nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa iệt Nam (khóa

X)

Các tác phẩm chính đã xuất bản:

1 Âm vang chiến hào (Thơ, in chung- 1975, Nxb u n đội nh n d n

2 Sức bền của đất (Trường ca- 1977, Nxb Tác phẩm mới

3 Đường tới thành phố (Trường ca- 1979, Nxb u n đội nh n d n

4 Khi bé Hoa ra đời (Thơ thiếu nhi, in chung- 1984, Nxb Kim Đồng

5 Từ chiến hào tới thành phố (tuyển- 1985, Nxb ăn học

6 Thư mùa đông (Thơ- 1994, Nxb Hội Nhà văn

7 Trường ca Biển (Trường ca-1994, Nxb u n đội nh n d n

8 Thương lượng với thời gian (Thơ- 2005, Nxb Hội Nhà văn

Ngoài ra Hữu Thỉnh còn viết nhiều bút ký văn học, viết báo

Nhà thơ đã được nhận các giải thưởng:

1 Giải 3 cuộc thi báo ăn ngh 1973 (bài Mùa xuân đi đ n)

2 Giải A cuộc thi thơ báo ăn nghệ 1975- 1976 (bài Chuyến đò đ gi ranh, trường ca Sức bền của đất)

3 Giải thưởng Hội Nhà văn iệt Nam năm 1980 (trường ca Đường tới thành phố)

4 Giải thưởng Hội Nhà văn iệt Nam năm 1995 (tập thơ Thư ùa đ ng)

5 Giải xuất sắc Bộ Quốc phòng 1994 (bài Trường ca Biển)

6 Giải nhất Bộ Đại học- Trung học- Chuyên nghiệp và Trung ương Đoàn

1991 (bài Thưa thầy)

7 Giải thưởng Nhà nước năm 2001

Trang 15

1.2 Quan niệm về thơ của Hữu Thỉnh

Thơ là tiếng nói của tâm hồn, của niềm mơ ước Thơ bộc lộ khát vọng vươn tới một lý tưởng cao đ p Mỗi nhà thơ có một quan niệm riêng về thơ Tìm hiểu

về thế giới nghệ thuật trong thơ Hữu Thỉnh chúng ta cũng không quên tìm hiểu quan niệm thơ của nhà thơ

1.2.1 Thơ là kinh nghiệm sống

Cuộc kháng chiến chống Mỹ đã làm nên những trang sử hào hùng cho dân tộc ta Đ y cũng là giai đoạn có nhiều nhà thơ cùng chung chí hướng, cùng chung mục đích sáng tác Vừa là nhà thơ vừa là người lính, Hữu Thỉnh có điều kiện hiểu rõ hơn về cuộc sống, về con người, về chiến tranh Ông tâm niệm rằng

“Thơ là inh nghi sống” vì khi cầm bút mà: “Không có kinh nghi m gì Càng viết càng thấy mình yếu đuối.”

Để có được tác phẩm hay, giàu tính hiện thực, sống mãi trong lòng độc giả đòi hỏi người cầm bút phải có nhiều trải nghiệm thực tế, đó cũng chính là quan niệm trong sáng tác của nhà thơ Người lính biển là hiện th n của nhà thơ Hữu Thỉnh trong hành trình trải nghiệm thực tế cuộc sống, hành trình đi tìm chất liệu cho sáng tác của nhà thơ:

T i đã đi từ s thất thường những dòng s ng hương Bắc Đến uỗi òng của gi chướng hương Na

(Trường ca iển

ự tiếp xúc giữa người lính với biển chính là sự tiếp xúc của nhà thơ với cuộc sống ua đ y cho thấy mối liên hệ không thể tách rời giữa thơ ca với hiện thực đời sống:

Trang 16

T i ne nh và biển biển và t i tiế xúc t àn thân

(Tôi đi bào ngư

Trong sáng tác: “Nhà thơ h ng thể hai sinh, ch dù c hả năng ầu nhi đến đâu, à chỉ là nhi vụ t i tạ ; tr ng thơ c những h nh ảnh, những chi tiết hi n th c à người viết h ng d tưởng tượng à tạ n n được.”

[22;431] Những c u thơ tuy rất mộc mạc, giản dị nhưng rất giàu tính hình tượng

và nếu không có những chuyến đi thực tế, nếu không có sự dấn th n của chính nhà thơ thì sẽ không có được nó:

thường nghĩ đến những vấn đề lớn của đất nước, của thời đại và mong ước phản

ánh điều đó trong thơ của mình bởi vì: “Thơ là s thể hi n c n người và thời đại một c ch ca đẹ Thơ h ng chỉ nói lên tình cảm riêng của nhà thơ à nhiều khi thông qua tình cả đ n i l n niềm hy vọng của cả một dân tộc, những ước

ơ của nhân dân, vẽ lên những nhị đập của trái tim quần chúng và xu thế chung của lịch sử l ài người ” [22; 251]

Trang 17

Chính kinh nghiệm đã giúp nhà thơ Hữu Thỉnh có được những vần thơ hay, nhưng kinh nghiệm chỉ là điều kiện, cái chính là ở khả năng cảm nhận cuộc sống

và biến kinh nghiệm đời sống thành thơ của ông Cuộc sống đi vào thơ của ông rất tự nhiên và rất thực i đã từng sống ở vùng núi M o ạc- Hà iang sẽ hiểu

sự khắc nghiệt của thời tiết ở đó :

(Thư mùa đông ống trong hoàn cảnh khó khăn, điều kiện thời tiết khắc nghiệt, thiếu thốn

về vật chất con người đã rút ra được nhiều kinh nghiệm sống quý báu cho bản thân:

đây tuyết trắng tr n chăn ng

Bế đ cơ trưa núi vẫn ờ

M c đ ng thành băng tr ng ruột bút

Hơ h ài than đ chảy thành thư

(Thư mùa đông Nhà thơ đã đưa người đọc đến nhiều nơi, đi qua nhiều chặng đường, từ chiến trường đến biển khơi, từ thời điểm chiến tranh đến thời điểm hoà bình Trên mỗi chặng đường tác giả đều gửi gắm đến người đọc những suy tư, triết lý

và nhiều bài học về cuộc sống:

Trang 18

Ra s ng lấy s ng à y u Đường xa gặ núi lấy đè à tin

(Trường ca iển ằng kinh nghiệm trong cuộc sống con người đã vượt lên, chiến thắng mọi hiểm nguy và thử thách:

Nhưng hải sống thế nà hi ột nh giữa biển

Mẹ chưa ị dạy c n

C n hải d a và inh nghi cũ

Kh ng để chết v ch n nản Bơi sấ rồi bơi ngửa

ẫy vùng rồi cầ hơi

(Trường ca iển

Từ những trải nghiệm thực tế, tiếp xúc trực tiếp với cuộc sống đã giúp nhà thơ Hữu Thỉnh có được nhiều bài thơ hay, giàu chất hiện thực Cuộc sống đã

mang đến nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho nhà thơ ới quan niệm “Thơ

là inh nghi sống” sẽ n ng bước cho sự nghiệp sáng tác của nhà thơ lên một

tầm cao mới và sẽ có thêm nhiều bài thơ hay, giàu kinh nghiệm thực tế để góp vào kho tàng thi ca iệt Nam hiện đại

1.2.2 Làm thơ ghi lấy cuộc đời mình

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là nguồn cảm hứng cho nhiều nhà thơ Tiếp nối thế hệ đi trước, Hữu Thỉnh cùng với lớp nhà thơ trẻ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ đã nhận thức được sứ mệnh lịch sử lớn lao của thế

hệ mình Nhà thơ đã chọn con đường đi cho riêng mình đó là vừa cầm súng, vừa cầm bút để viết về hiện thực chiến trường đồng thời viết về thế hệ mình, một thế

hệ nhà thơ- người lính:

Trang 19

Không có sách chúng tôi làm ra sách Chúng t i là thơ ghi lấy cuộc đời mình

(Đường tới thành phố) Một thế hệ nhà thơ trẻ vừa cầm súng đánh giặc vừa cầm bút làm thơ ghi lại cuộc sống chiến đấu ở chiến trường:

Chúng tôi trẻ nên củi rừng mau bén Chúng t i là thơ ghi lấy cuộc đời mình

(Đường tới thành phố)

Là người cầm bút, Hữu Thỉnh hiểu rõ sứ mệnh và nhiệm vụ của thơ ca đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ Đồng thời nhà thơ cũng nhận ra sức mạnh của

thơ trong hành trình phản ánh hiện thực:

Thơ h ng hải những dây b trang tr

K nhòe đi những r cây tứa nh a

Bã động rừng sa thơ chỉ rung rinh

(Đường tới thành phố Trong những năm tháng chiến đấu gian khổ, thơ ca là nguồn sức mạnh tinh thần nuôi dưỡng tâm hồn người lính Thơ mang sứ mệnh cao cả là góp sức làm tỏa sáng chiến trường giúp nối kết mọi người lại gần nhau:

Thơ hãy đến góp một vài que củi Cho em nhận ra anh, đồng đội nhận ra mình

(Đường tới thành phố Nơi chiến trường đạn bom ác liệt chỉ có một thứ quý báo nhất đó là thơ, những c u thơ như ngọn lửa sưởi ấm tâm hồn chiến sĩ lúc xa nhà:

Những câu thơ còn được đến bây giờ Chúng t i sưởi trên những câu thơ ấy

Trang 20

Cứ thế qua đi nhiều ùa ưa

(Đường tới thành phố) Thơ có mặt ở khắp mọi nơi, trong mọi hoàn cảnh ới người lính, trong lúc hành qu n vẫn có thể làm thơ Thơ đến với họ rất tự nhiên, là động lực giúp họ quên đi khó khăn ở chiến trường:

Chúng tôi vừa đi vừa nh m dọc đường Thơ cứ đến và ưa chiều mau ngớt (Đường tới thành phố

Thế hệ những nhà thơ trẻ vừa cầm bút, vừa cầm súng đã ý thức được sức mạnh và hoàn cảnh của thơ trong chiến tranh Dù chỉ là những bài thơ được ghi lại một cách vội vã nơi chiến trường đạn bom ác liệt nhưng nó mang giá trị hiện thực cao Những dòng suy nghĩ về thơ của Nguy n Đức Mậu đã nói lên được sứ

mệnh lịch sử của thơ ca trong thời kỳ kháng chiến:

Câu thơ ghi vội th ng ngày Nơi ảnh đất s sống ề c i chết Thơ chưa thể n i lời dịu ngọt

C n đường rừng tră hốc đạn nh n t i

(Trường ca sư đoàn -Nguy n Đức Mậu Các chiến sĩ tìm đến với thơ như một nguồn an ủi, như là động lực giúp các anh vượt qua khó khăn trong cuộc kháng chiến giữ gìn độc lập cho d n tộc Còn

thơ “Đến với họ, thơ t ra tinh chất”, tìm ra giá trị cho thơ:

Các chiến sĩ quen nghĩ bằng trận đ nh Quen hy sinh, quen đột biến từng giờ

Họ làm nên những chiến trường giông bão

Trang 21

Cũng là nơi y n tâ nhất của thơ

(Đường tới thành phố

ừa đánh giặc vừa làm thơ là nét đ p của một d n tộc, tiếp nối thế hệ đi trước, Hữu Thỉnh cũng có quan niệm riêng về thơ Những vần thơ đậm chất hiện thực mà nhà thơ mang đến cho thơ ca iệt Nam là kết quả của sự hòa quyện giữa nhiêm vụ chiến sĩ và sứ mệnh thi sĩ Nếu không phải là người đã từng trải qua thực tế chiến trường thì khó có thể viết được những vần thơ ấy, như nhà thơ Hoàng Trung Thông đã viết:

Ngọn bút nh tr n tay ta trĩu nặng Hồn ta trải nh ng tr n trang giấy Nghe bàng h àng xúc động tr ng đ Khi từng trang n t bút hằn l n

(Hoàng Trung Thông

1.3 Các chặng đường thơ Hữu Thỉnh

áng tác của Hữu Thỉnh được chia làm hai chặng đường: chặng đường thứ

nhất là thơ ca của Hữu Thỉnh những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước và thời kỳ hậu chiến Chặng đường thứ hai là thơ ca Hữu Thỉnh trong thời kỳ đổi mới

chặng đường thứ nhất, thơ Hữu Thỉnh tập trung phản ánh những sự kiện lớn lao của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Cảm hứng về nh n d n, về người m , về người lính…là những cảm hứng sáng tác chính trong thơ của ông Giọng điệu thơ trong giai đoạn này là giọng điệu hào hùng, lạc quan Đ y chính

là những yếu tố góp phần làm nên thành công cho thơ Hữu Thỉnh ở chặng đường này

Trang 22

Âm vang chiến hào (1975 đ y là tập thơ đầu tay của Hữu Thỉnh, gồm 20

bài, được viết trong khoảng từ năm 1970- 1974 Trước khi đến với việc sáng tác thơ, Hữu Thỉnh là một người lính, những năm tháng sống và chiến đấu ở chiến trường đã góp phần làm phong phú cho hồn thơ của ông Với sáng tác đầu tay này, Hữu Thỉnh đã thành công khi x y dựng hình ảnh một chiến trường đạn bom

ác liệt cùng hình ảnh người lính biết vượt lên khắc phục khó khăn trong chiến

đấu và có một tâm hồn lạc quan yêu đời “Tậ thơ tuy ới chỉ là những phác hoạ vội vã nơi chiến trường nhưng n chiế được cảm tình của người đọc ở chất trẻ trung, sôi nổi của những người lính, ở s chân th c trong cảm xúc và một cách biểu hi n có tìm tòi” [92;409]

Không dừng lại ở đó, với cảm xúc dạt dào, phong phú, năm 1977 Hữu

Thỉnh cho ra mắt bạn đọc trường ca Sức bền của đất Trong trường ca, Hữu

Thỉnh đã ca ngợi sự hy sinh gian khổ và sự dũng cảm của mỗi người d n trong công cuộc bảo vệ đất nước Đồng thời nhà thơ cũng bày tỏ lòng cảm thông s u sắc về con người, về cuộc sống Trường ca thể hiện sự gắn bó máu thịt giữa tiền tuyến và hậu phương Trường ca đi vào lòng người đọc bởi những t m sự, những suy nghĩ được rút ra từ quá trình trải nghiệm thực tế của chính tác giả Là người chiến đấu trực tiếp trên các chiến trường, Hữu Thỉnh cảm nhận được chính sự hy sinh gian khổ của qu n và d n ta đã làm nên sức mạnh, đem lại chiến thắng Với cảm xúc về Tổ quốc và nhân dân cùng với bút lực dồi dào, năm 1979

trường ca Đường tới thành phố ra đời Trường ca dài hơn 1500 c u, nói về

những hy sinh gian khổ của dân tộc ta đã gánh chịu để đi đến thắng lợi cuối cùng trong sự nghiệp đấu tranh, thống nhất đất nước

d n, những suy tư về quê hương, về đất nước, về tình yêu và lẽ sống Với giải

Trang 23

thưởng Hội Nhà văn iệt Nam năm 1980 trường ca Đường tới thành phố thật sự

là một tác phẩm hay và có giá trị để lại cho mai sau

Năm 1985, tập thơ Từ chiến hào tới thành phố ra đời Tập thơ này bao gồm 2 phần: phần thứ nhất là trường ca Đường tới thành phố được in lại, phần thứ hai là tập thơ mang tên Tiếng hát trong rừng

Tiếng hát trong rừng là tập thơ gồm 25 bài viết về đồng đội, về cơn sốt rét

rừng, về những trận bom và vết hằn xe xích, về mây, suối, dốc, thác Trường ơn với một hồn thơ khoẻ khoắn và giàu nội tâm Có thể nói, tập thơ là nơi tụ hội của nhiều cảnh sắc thiên nhiên, cảnh rừng núi Trường ơn Đó là những bài thơ viết

về ruộng đồng cây cỏ (Chiều sông Thương); về mùa xuân và cỏ biết (Mùa xuân

đi đón); về trời thu xanh và hoa mướp vàng (Bầu trời trên giàn mướp); về một đám m y mùa hạ hay một chút hanh của chiều đông (Sang thu); về mùa màng,

rơm rạ, đất đai

ước vào thời kỳ đổi mới, thơ Hữu Thỉnh cũng có những đổi mới về giọng điệu nghệ thuật lẫn cái nhìn nghệ thuật Thơ Hữu Thỉnh ở giai đoạn này thấm đẫm chất triết lý, suy tư chiệm nghiệm về cuộc đời

Đất nước quê hương không chỉ là áo giáp che chở người lính trong chiến trận, mà còn là đồng ruộng xóm làng nuôi nấng tâm hồn nhà thơ ới những cảm

xúc dạt dào về quê hương, đất nước, năm 1994 tập thơ Thư mùa đông ra đời

Tập thơ có 36 bài, viết về cảnh vật thiên nhiên nhưng lại chứa đựng những triết

lý sâu xa về lẽ sống, về tình đời, về tình yêu của nhà thơ Tập thơ lôi cuốn người đọc bởi nó được viết về những thứ vốn rất bình dị nơi làng quê, những thứ quá quen thuộc đối với mọi người, nhưng với tâm hồn thơ của Hữu Thỉnh nó đã trở thành những bài thơ hay và sinh động Không chỉ vậy, tập thơ này còn mang đậm màu sắc triết học, có tính chất chiêm nghiệm khiến người đọc phải suy nghĩ

Trang 24

Chiến tranh đã qua đi, trở về với cuộc sống đời thường với bao lo toan, vất

vả nhưng cảm xúc thơ vẫn không ngừng chảy trong tâm hồn Hữu Thỉnh Năm

1984 tác giả tiếp tục cho ra mắt bạn đọc tập thơ Khi bé Hoa ra đời (in chung với

ương Trọng và Nguy n Đức Mậu Đ y là tập thơ viết cho thiếu nhi, phần thơ

của Hữu Thỉnh có 15 bài Đó là những bài thơ nói về tình cảm thắm thiết của

những người th n trong gia đình: tình cảm của ông và bà đối với đứa cháu nhỏ,

tình cảm của m đối với con, tình cảm của chị đối với em…

Tình cảm gia đình là một trong những tình cảm thiêng liêng đáng trân trọng

nhất, nhà thơ đã viết những trang thơ dành tặng cho thiếu nhi nhưng cũng chính

là để dành tặng cho tất cả mọi người, dành tặng cho những người thân yêu trong

cùng một gia đình Tình cảm gia đình là tình cảm thiêng liêng và cao quý, có lẽ

ai cũng cảm nhận được và sẽ càng hiểu rõ hơn khi tìm hiểu tập thơ Khi bé Hoa

ra đời của Hữu Thỉnh

Với sức sáng tạo không mệt mỏi, năm 1994 Hữu Thỉnh tiếp tục cho ra mắt

bạn đọc một tác phẩm nữa đó là Trường ca Biển dài gần 1000 câu Cũng trong

năm này trường ca đạt được giải xuất sắc Bộ Quốc phòng Trường ca tập trung

thể hiện những tâm trạng, những suy nghĩ, những day dứt không nguôi của tác

giả về cuộc sống, về hạnh phúc, về số phận của con người Mặc dù đã hoà bình,

thống nhất đất nước nhưng Hữu Thỉnh vẫn không quên quá khứ, không quên

cuộc đời người lính mà mình đã từng trải qua trong những năm tháng chiến

tranh Nhà thơ đã khắc hoạ hình ảnh người lính đảo với một tinh thần quyết

chiến canh giữ từng tấc đất, canh giữ biển trời của Tổ quốc Trường ca Biển

khắc hoạ thành công hình tượng người lính đảo trong cuộc đấu tranh sinh tồn

giữa biển Đồng thời qua đ y cũng thể hiện tinh thần trách nhiệm cao cả của họ

trong việc bảo vệ Tổ quốc

Trang 25

Ngoài những vần thơ viết về Tổ quốc, về người lính, về những trận chiến ác liệt, Hữu Thỉnh còn có những vần thơ giàu tính triết lý, thể hiện sự suy tư, chiêm nghiệm về cuộc sống Năm 2005, Hữu Thỉnh tiếp tục ra mắt bạn đọc tập thơ mới,

tập thơ là thành quả của mười năm làm việc không mệt mỏi với tên gọi: Thương lượng với thời gian Trong tập thơ có nhiều bài thơ thể hiện nhận thức về đạo lý,

Trang 26

CHƯƠNG 2 CẢM HỨNG SÁNG TÁC VÀ CÁI TÔI TRỮ TÌNH

2.1 Cảm hứng về đất nước, thiên nhiên

Trong sáng tác thơ, các nhà thơ rất đề cao cảm hứng Cảm hứng là điểm

khởi đầu của con đường sáng tạo thơ ca êlinxki coi cảm hứng chủ đạo là điều

kiện không thể thiếu của việc tạo ra những tác phẩm đích thực, bởi nó “biến s

chiế lĩnh thuần túy tr c đối với tư tưởng thành t nh y u đối với tư tưởng, một

tình yêu mạnh mẽ, một khát vọng nhi t thành” [dẫn theo Từ điển thuật ngữ văn

học- 29;45]

Các nhà thơ Trung kỳ trung đại rất đề cao cảm hứng Nhưng khi nói hứng

với nghĩa là thi hứng thì lại thường để chỉ cảm hứng về cái đ p thiên nhiên và

cuộc sống nhàn dật Hứng thường đến bất chợt, không thể đoán biết trước được

Khi thi hứng bốc cao, vượt ra ngoài sự kiểm soát của lý trí thông thường, tâm

thần rơi vào trạng thái đặc biệt chập chờn giữa mê và thức, giữa say và tỉnh, thì

con người có khả năng sáng tạo đặc biệt uá trình đó được người xưa giải thích

bằng khái niệm Thần à thơ ca sáng tạo từ đó gọi là thần tứ, thần cú [dẫn theo

Đoàn Lê iang-28;66-67]

Sau này, trong Từ điển thuật ngữ văn học, nhóm biên soạn Lê Bá Hán,

Trần Đình ử, Nguy n Khắc Phi đã định nghĩa cảm hứng là: “Trạng thái tình

cảm mãnh li t, say đắm xuyên suốt tác ph m ngh thuật, gắn liền với một tư

tưởng x c định, một s đ nh gi nhất định, gây t c động đến cảm xúc của những

người tiếp nhận tác ph m” [29;44]

Trong công trình Tư duy thơ và tư duy thơ Việt Nam hiện đại, Nguy n

á Thành đã tập hợp những ý kiến khác nhau của các nhà lý luận mỹ học và các

tác gia về vai trò của cảm hứng trong sáng tác:

Trang 27

Tuôcghênhep gọi cảm hứng là: “trời đến gần ta” là “sự thần khởi của

con người nhờ ý nghĩ và tình cảm”

L Tônxtôi nói về cảm hứng một cách giản dị: “Cảm hứng chính là sự

bất chợt thấy rõ điều ta có thể thực hiện được”

A Puskin cho rằng: “Cảm hứng là trạng thái tâm hồn thích hợp cho sự

tiếp nhận một cách sinh động những ấn tượng, cho sự lĩnh hội một cách nhanh

chóng những ý niệm tức là những cái tạo điều kiện cho việc giải thích những ấn

tượng nói trên”

Stanilapxki cho rằng cảm hứng là: “Ngay tức khắc, có một cái gì đó, ở

một nơi nào đó trong tôi như bị đảo lộn hẳn đi cái không rõ nay trở thành cái rõ,

cái chơi vơi nay trở thành cái chắc chắn, cái đáng ngờ nay trở thành cái đáng

tin”

Có thể nói “Cảm hứng chính là thời điểm mà sức sống bên trong đã tích tụ

ấp ủ lên men sáng tạo thời điểm mà ngọn lửa kỳ diệu của thơ ca bùng cháy

Không có cảm hứng thì ngòi bút không trơn mực” [91;233]

Hà Minh Đức khi nghiên cứu về Cảm xúc và suy nghĩ trong thơ cũng nói

đến cảm xúc trong sáng tác: “Cái gọi là cảm hứng đặc biệt chính là giây phút

chín nhất của tâm hồn, thời điểm mà sức sống bên trong đã tích tụ, ấp ủ, lên men

sáng tạo, thời điểm mà ngọn lửa kỳ diệu của nghệ thuật làm bùng cháy lên toàn

bộ chất liệu” [22;374]

Cảm hứng là một trạng thái t m lý căng thẳng nhưng say mê khác thường

Sự căng thẳng của ý chí và trí tuệ, sự dồi dào về cảm xúc, khi đã đạt đến sự hài

hoà, kết tinh sẽ cháy bùng trong tư duy nghệ thuật của nhà văn, dẫn dắt họ đến

những mục tiêu da diết bằng con đường của nhà văn

Trang 28

Đất nước, thiên nhiên là nguồn cảm hứng vô tận cho thi nhân Hình tượng đất nước trong các sáng tác của mỗi nhà thơ lại mang nét riêng, không trùng lặp

nhau Đất nước trong thơ Nguy n Đình Thi có “vẻ đ p của “cánh cò bay lả rập

rờn” mà cũng có nỗi đau của “d y thép gai đ m nát trời chiều” Đất nước trong

thơ ông có cái dữ dội của những “ngày nắng đốt, đêm mưa dội”mà cũng có vẻ

đ p dịu dàng của những ngày thu” [15;322] Còn với Nguy n Khoa Điềm “đất

nước do nhân dân tạo dựng nên, nh n d n là người chiến đấu, dựng xây và bảo

vệ đất nước” [15;387] Cùng có chung cảm hứng ấy, nhà thơ Hữu Thỉnh đã định nghĩa đất nước bằng các sự vật có trong cuộc sống và rất quen thuộc với mỗi người

Nếu như đất nước trong thơ Nguy n Khoa Điềm là đất nước được hình thành cùng với sự hình thành “của phong tục, của tập quán, của văn hoá, của cuộc chiến đấu dựng nước và giữ nước của nh n d n” [15;388] thì sự hình thành của đất nước trong thơ Hữu Thỉnh cũng không kém phần độc đáo Đất nước trong suy nghĩ của nhà thơ đó là những gì rất thiêng liêng mang đậm bản sắc dân tộc, là cội nguồn của những sự tích, của bao nhiêu truyền thuyết:

Đất ông bà bước chân trâu lồng vào dấu chân voi

đi ỗi bước đều kể bao s tích cây vối đứng bờ ao, cặp thừng treo gác bếp

bồ muối để dành vần cạnh bếp tro cái cối c i cày đếm nhịp nh to bao truyền thuyết được kể ra từ đấy

(Sức bền của đất)

Trang 29

Đất nước còn là nơi tồn tại của những làn điệu dân ca ngọt ngào, giàu chất trữ tình; của những câu vọng cổ tha thiết mang đậm bản sắc văn hoá của dân tộc Việt Nam:

Ta đi từ đầu s ng L đến cuối s ng Thương

từ thung lũng Sa Thầy ra s ng Trường trắng cát đất vẫn đất của dân ca và mía mật

(Sức bền của đất)

Để tạo thành một đất nước cần phải có sự kết hợp của nhiều nhân tố Với nhà thơ Hữu Thỉnh, đất nước còn là kết tinh của tình cảm con người, trong làng xóm mọi người sống hoà đồng, giúp đỡ lẫn nhau cùng góp phần tạo nên một đất nước thanh bình, một làng quê yên ả:

Đi qua chỗ lội bước lên nhịp cầu đâu đâu cũng gặp những người hay làm phúc làng xóm nặng tình lạt mềm buộc chặt

(Sức bền của đất) Đất nước còn được tạo dựng từ tình yêu thủy chung của vợ chồng Dù không trực tiếp nói đến sự thủy chung nhưng từ dấu hiệu dính ở góc khăn đã thể hiện rõ điều này:

Hai chữ thủy chung đ nh ở g c hăn bớt chông chênh những ngày chờ đợi

(Sức bền của đất)

Trong nguồn cảm xúc dạt dào về đất nước, nhà thơ Hữu Thỉnh đã gọi tiếng

m đẻ bằng hai từ th n thương và tr n trọng “tiếng Vi t”:

Trang 30

Tiếng Vi t gọi hồn Vi t Giữ đất Vi t ng ài hơi

(Trường ca Biển)

Đất nước không chỉ là cội nguồn của những truyền thống văn hoá mà đất nước trong thơ ông còn là “một Việt Nam kiên cường bất khuất” [93;32] Hình ảnh đất nước kiên cường được gắn liền với những con người anh hùng có tên có tuổi và những người vô danh đã được ghi vào lịch sử của dân tộc Chính sự hy sinh lớn lao của nhiều người đã làm nên một đất nước, để hôm nay ta có thể tự

hào gọi tên đất nước ta bằng tên gọi th n thương nước Vi t, Vi t Nam:

Nổi chìm bao kiế người Qua th ng nă sứt mẻ Cho Tổ quốc tròn tên

Vi t Nam Hai tiếng Mẹ

(Trường ca Biển) Chúng ta tự hào về một đất nước Việt Nam kiên cường, bất khuất không chỉ

vì đất nước ta có những con người anh hùng mà còn tự hào vì có những địa danh, những vùng đất tạo nên chiến công ghi dấu trong lịch sử:

Sóng hất cao những cột nước Sa Thầy pháo giặc hầm hầ Đắc-Si ng, Đắc-Mót đường 14 đạn cày bom dập

Vẫn Tây Nguyên một thế trận ngang tàng (Sức bền của đất)

Nếu như hình ảnh đất nước trong thơ Nguy n Đình Thi là “một đất nước

đau thương mà anh dũng rũ bùn đứng dậy sáng loà” [15;322] thì hình ảnh đất

Trang 31

nước trong thơ Hữu Thỉnh cũng thật anh hùng Đất nước đêm rạng sáng 30/4 lịch

sử trong thơ Hữu Thỉnh thật giàu hình tượng, giàu cảm xúc Một đất nước anh hùng, một đất nước giàu lòng hy sinh:

Đất nước sẵn sàng giẫm lên nhiều thử thách Các chiến sĩ l i xe dốc bi-đ ng chè đặc Đất nước sẵn sàng thức trắng nhiều đ

(Đường tới thành phố) Hữu Thỉnh là nhà thơ có tấm lòng gắn bó thiết tha với quê hương, nhà thơ

đã tự nhận mình là con người của rơm rạ đồng quê: Tôi ấy mà, một cuống rạ bơ

vơ Vì thế, đất nước trong cảm xúc của nhà thơ còn là sự kết tinh của những danh

thắng đ p như: cầu Tràng Hương, dòng Nho uế (Qua cầu Tràng Hương), Sầm ơn (Tạm biệt Sầm Sơn), biển Nha Trang (Nha Trang ngày em đến)

Qua những hình ảnh nhỏ giàu chất tượng trưng cũng gợi lên trong ta hình ảnh của đất nước Trong thơ Huy Cận, đất nước được miêu tả qua hình ảnh tượng trưng: Một dũng sĩ với thanh gươm nhiều chiến công và văn nh n với cây

bút giàu sáng tạo Hai con người ấy được kết hợp làm một:

Sống vững chãi bốn ngàn nă sừng sững Lưng đe gươ tay ềm mại bút hoa

Tr ng và đẹp sáng hai bờ suy tưởng Sống hiên ngang mà nhân ái chan hoà

(Đi trên mảnh đất này)

Hình ảnh gốc sim cằn trong trường ca Đường tới thành phố thể hiện tinh

thần bảo vệ quê hương đồng thời cũng là hình ảnh tượng trưng cho Tổ quốc, cho đất nước:

Trang 32

Nhưng trước mặt là Tổ quốc

Dù chỉ gốc sim thôi dù chỉ gốc sim cằn

(Đường tới thành phố)

Tổ quốc, đất nước không chỉ dừng lại ở một khái niệm, địa danh, vùng miền mà hiện hữu trong những gì cụ thể nhất, gần gũi nhất, th n thương nhất Dù không trực tiếp nói về đất nước, về Tổ quốc nhưng trong cách gọi của Hữu Thỉnh về đất cũng đã mang hàm nghĩa Tổ quốc:

Đất d ng nên làng Cần c đất để là qu hương Cần c qu hương để vui buồn sướng khổ (Trường ca Biển)

Đất trong suy nghĩ của nhà thơ là cái gì rất to lớn, vĩ đại có thể bao dung tất

cả Đất ở đ y chính là Tổ quốc thân yêu, là cội nguồn của con người, là bóng mát cho con người:

Đất hãy nhận những đứa con về cội Trong bao dung bóng mát của người (Trường ca Biển)

Đất nước, quê hương là nguồn cảm hứng vô tận của thi nhân Mỗi nhà thơ

đã x y dựng một thế giới nghệ thuật riêng về đất nước Từ những nét riêng ấy đã làm phong phú cho kho tàng thơ ca của dân tộc, góp thêm hương sắc cho vườn thơ mãi xanh tươi ua thơ Hữu Thỉnh chúng ta được hiểu thêm về hình ảnh đất nước Là nhà thơ đồng thời là người trực tiếp chiến đấu ở chiến trường đã tạo cho Hữu Thỉnh một cảm xúc mãnh liệt để viết thành công đề tài đất nước

Bên cạnh cảm hứng về đất nước, thiên nhiên cũng là nguồn cảm hứng cho các sáng tác của thi nh n Là nhà thơ, Hữu Thỉnh cũng ấp ủ một tình cảm, một

Trang 33

niềm khao khát hoà mình với thiên nhiên, với ruộng đồng quê hương Từ những

hình ảnh bình thường, bình dị của làng quê như: mùa xuân và c biếc, trời thu xanh và h a ướp vàng, một đ ây ùa hạ, về ùa àng, rơ rạ, đất đai hay những hiện tượng thay đổi của thời tiết: một chút hanh của chiều đ ng thắm, thời khắc gia ùa Hữu Thỉnh đã tạo nên một thế giới thiên nhiên đa

màu sắc Có thể nói khung cảnh thiên nhiên trong những bài thơ của Hữu Thỉnh cuốn hút người đọc bởi vẻ đ p lung linh, nhiều màu sắc và mang phong vị riêng biệt “Phong cảnh và hiện tượng thiên nhiên được nói tới bằng những hình thức

cụ thể Những khái niệm đơn sơ như cỏ, rơm, hoa, lá được truyền vào một sự

sống mới giàu sức biểu hiện” [92;420]

Thiên nhiên trong thơ Hữu Thỉnh là những cảnh vật thiên nhiên của làng quê, của ruộng đồng: hoa quan họ nở tím bờ sông Thương, mạ đã thò lá mới trên lớp bùn sếnh sang, nắng thu trải đầy…Đó là những thứ ta thường gặp chốn quê mùa rất đỗi bình thường như: cỏ hội hè, cau ấp b , cỏ lác, cỏ lăn hay những hiện tượng thiên nhiên như: mưa, gió, nắng…nhưng với nhà thơ nó luôn mới mẻ, sinh

động vì “Hữu Thỉnh hiểu biết h tường tận sâu sắc cái thiên nhiên ruộng đồng

ấy và quan trọng hơn là anh đã đưa được và thơ ột c ch nhuần nhuy n”

[92;420] Một trong những hiện tượng thiên nhiên đã gợi biết bao cảm hứng cho thi nh n đó là mưa Mưa trong thơ Hữu Thỉnh thật đặc biệt và cũng rất thi vị vì

nó là khoảnh khắc để con người trải lòng mình và cảm nhận sự thay đổi của cảnh vật:

Mưa đ đi t nơi d vỡ Thân cây xay xát thật đềm

Trang 34

Trẻ c n quăng ũ giang tay úa Người lớn buông rèm lặng đứng xem

(Mưa đá Mưa gợi nhiều cảm xúc cho thi nhân Với Huy Cận là cơn mưa gợi nỗi buồn da diết, tiếng mưa là tiếng lòng ảo não:

Rơi rơi d u dịu rơi rơi Tră u n giọt nhẹ nối lời vu vơ

(Buồn đêm mưa Nguy n ính cũng có những cơn mưa xứ Huế kéo dài đến mấy ngày, mưa đất khách là mưa không dứt gợi cho lòng người bao nỗi cô đơn:

Mưa ãi, ưa h ài, ưa bứt rứt

Đ dài dằng dặc, đ ba la

(Đêm mưa đất khách) Tìm hiểu thơ Hữu Thỉnh người đọc sẽ thấy trong thơ ông cũng có những cơn mưa kỳ lạ làm xao xuyến lòng người Cơn mưa gợi một nỗi buồn khó tả, mang bao nhiêu tâm sự của con người:

Mưa day dứt suốt mùa thu day dứt Bao khát vọng m i mòn còn ở bên kia sông

(Thơ dưới mái hiên) Nhưng không phải bao giờ mưa cũng làm cho ta cảm thấy buồn, có lúc mưa cũng gợi niềm vui, mang đến sự trẻ trung sôi động:

Mưa trẻ trung như ột khúc dân ca Mưa t lịm thấm sâu vào da thịt

(Tắm mưa trên cao điểm)

Trang 35

Nhà thơ đã mang đến cho chúng ta niềm vui, sự tinh nghịch của mưa ngay

cả khi ông di n tả cơn mưa lớn dữ dội:

Mưa l u r u và hè tr n lộ Bốn Quả đương ùa ưa trút cả trời thơ Chiều v tư ở ti c những hu vườn Mưa v t quả xuống gần hơn ặt đất (Mưa trên lộ 4)

Hiện tượng sương uối, tuyết trắng cũng gợi cảm hứng cho thi nhân viết

nên những bài thơ đậm chất trữ tình:

Thư viết cho em nhòe nét m c

Ph n thưa sương uối cứ bay vào

(Thư mùa đông Qua bàn tay tạo dựng của Hữu Thỉnh thiên nhiên được mang đặc tính giống như con người Cả tiếng mưa rơi cũng thật đằm thắm, dịu dàng tạo cho người ta

một cảm giác ấm áp mỗi khi mưa lại rơi:

Mưa se sẽ như ột giọng nói thầm Mưa như ột bàn tay ấp Mưa thương thương như ột lời đ nh thức Mưa tạnh rồi àu đất hát xanh lên

(Trên cao điểm mùa xuân) Mỗi sự vật, hiện tượng trong thiên nhiên đều mang một giá trị riêng Từ gió, trời và cả tiếng cỏ cũng làm nhịp cầu nối kết tình yêu đôi lứa:

Gió níu gió lặng im Thế là trời để ng

Ch ta đến với mình

Trang 36

Trong thầm thì tiếng c

(Bình yên)

Hữu Thỉnh được mệnh danh là “nhà thơ từ đất mà lên” [76;50] Vì thế thơ

ông chứa cả một thế giới thiên nhiên bao la rộng lớn, từ những sự vật nhỏ nhoi như c y cỏ, hoa lá, gió, mưa đến những cảnh sắc thiên nhiên như trời,

m y dường như tất cả đều có hồn:

Anh đi t ột ngày cau ấp bẹ Hoa ngủ tr ng l ơ hồ

(Im lặng)

Và không phải ngẫu nhiên mà Mai Quốc Liên đã nhận định: “Trong các thi

sĩ thời nay, hiế c người nào có thể có s tinh tế tr ng thơ như Hữu Thỉnh Kể

cả c c nhà thơ nữ là những người sở trường về điểm này” [51;147] Thật vậy,

Hữu Thỉnh rất tinh tế trong việc miêu tả hoạt động của gió, của trăng:

Gió từng hồi se sẽ đưa n i Trăng tủm tỉ như i ng người sắp hát

(Giấc ngủ trên đường ra trận) Với Hữu Thỉnh tất cả sự vật đều có ý nghĩa cho cuộc sống, mỗi sự vật đều mang một nhiệm vụ riêng:

Mây đen đi đ ng cửa trời

Lá non mong thấy mặt người sau ưa

(Em) Không chỉ có con người mà ngay cả cây cỏ, hoa lá cũng có sự tinh tế nhạy cảm Cây cỏ cũng hiểu được lòng người, cũng có sự đồng cảm với con người Thảo nguyên chiều vắng em lòng anh thấy buồn làm cỏ c y cũng sầu muộn theo:

Trang 37

E đi chiều b không Thất tình loang bóng c

L đe những mảnh chiều Trút đầy lên nỗi nhớ

(Thảo nguyên)

Có thể nói, “một trong những tiềm năng của thơ Hữu Thỉnh là sự nhạy cảm của trực giác” [93;35] Vì vậy thiên nhiên vào thơ ông bằng một lối cảm nhận riêng:

Gió thổi dài ướt về khuya Con sóng nói nhị chè cũng n i

Đ gi ranh c c i g đầ đậm đầu môi, ở trong tóc, khắp làn da

(Chuyến đò đêm giáp ranh

Thơ hiện đại, như ta biết không chú t m vào cái “s tả” mà cốt gợi để tạo

ấn tượng và liên tưởng Lý Hoài Thu đã nhận xét rất đúng về thơ Hữu Thỉnh:

“Hữu Thỉnh có nhiều câu thơ bộc lộ bản t nh thi sĩ dồi dào và rất tinh tế về cảm

giác” [93;36] Chính nhờ thế mạnh này mà nhà thơ đã mang đến cho chúng ta

một thế giới thiên nhiên đa màu sắc Bằng sự cảm nhận tinh tế của nhà thơ, cảnh vật thiên nhiên lúc giao mùa được thể hiện dưới nhiều góc nhìn khác nhau Mùa thu là mùa đ p nhất trong năm, vào thời điểm này con người và cảnh vật đều có sự thay đổi Dường như cái thời khắc giao mùa, chuyển mùa thường mang đến sự nhạy cảm trong tâm hồn người nhiều nhất Thể hiện tình cảm với

nhà thơ Hữu Thỉnh khi bài thơ được chọn giảng, Chu ăn ơn đã viết: “Tôi mừng cho Hữu Thỉnh và bài thơ, n vừa giành được một chỗ xứng đ ng tr ng chương tr nh ăn và Tiếng Vi t của nhà trường Kể từ nay, hương ổi của thi

Trang 38

ph m sẽ phả vào tâm hồn của nhiều thế h học trò, sẽ được những tâm hồn ấy mang tới bao nẻ thu, đến cả những miền chưa từng có mùa thu nữa ” [71; 246]

Mùa thu là mùa nhạy cảm nhất trong năm và cũng là mùa khơi nhiều hứng thú cho thi nhân Mỗi nhà thơ có cái nhìn, cách cảm nhận riêng về mùa thu, Hữu Thỉnh cũng vậy, nhà thơ đã tinh tế trong từng nhịp chuyển động nhỏ của thời tiết, cây cỏ lúc giao mùa Từ một mùi hương, một làn gió, một đám m y, nhà thơ

đã tạo được một khoảng trời thu đ p và gợi cảm Từ góc nhìn vườn ngõ, nhà thơ

đã mang đến cho chúng ta những tín hiệu đầu tiên của sự chuyển mùa:

Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se Sương chùng ch nh qua ngõ

H nh như thu đã về

(Sang thu) Tiếp đến với tầm nhìn rộng xa hơn Hữu Thỉnh nhận ra cảnh sắc trời mây sông nước đang chuyển mình sang thu Nhà thơ thật tinh tế trong sự đồng điệu với nhịp chuyển mùa:

S ng được lúc dềnh dàng Chim bắt đầu vội vã

C đ ây ùa hạ Vắt nửa mình sang thu

Trang 39

hạ và mùa thu, thời điểm vừa bước sang thu “lúc hoa vàng thu mới chập chờn thu”:

Thu ơi thu ta biết nói thế nào sương ng thế ai à b nh tĩnh được hứa hẹn bao nhiêu bầu trời tr n giàn ướp lúc hoa vàng thu mới chập chờn thu

(Bầu trời trên giàn mướp) Hữu Thỉnh là một thi sĩ có cảm giác rất tinh tế, vì thế thiên nhiên vào trong thơ ông có một nét riêng, từ một mùi hương, một làn gió, một đám m y Hữu Thỉnh đã vẽ một bức tranh thu thật đ p:

Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se Sương chùng ch nh qua ngõ

H nh như thu đã về

(Sang thu)

Đ u chỉ có mùa thu mới có những tín hiệu chuyển mùa, mà cả mùa xuân

cũng có những tín hiệu ấy Với hiện tượng “ ưa hùn lay hay” gợi cho người

đọc một thời khắc mùa đông đang dần qua mùa xuân bắt đầu đến đ y có sự

Trang 40

chuyển giao giữa các mùa với nhau, mùa đông cũng chưa chấm dứt hẳn, mùa

xu n cũng chưa thật sự đến:

Bánh xe của tháng Chạp Lăn qua ỗi ngày gầy Tháng giêng về thêu c Sợi ưa hùn lay hay

(Tháng Giêng)

Từ những dấu hiệu chuyển mùa, dần dần nhà thơ đã đưa chúng ta bước vào mùa xuân bằng những hình ảnh: màu chín của cam, hơi ấm của mùa xu n Để làm được như vậy đòi hỏi thi nhân phải quan sát thật tinh và thật tỉ mỉ:

Màu chín những trái cam

Ấm dần sang câu đối

(Tháng Giêng) Khi mùa xu n đã đến, cũng mang theo nhiều dấu hiệu để nhận biết, thời khắc ấy cả thời tiết, cảnh vật, cây cỏ cũng khác hẳn so với trước đó ước sang mùa xuân, không khí d chịu hơn, thời tiết cũng ấm áp hơn, những cơn mưa phùn nay cũng đã giảm dần đi chỉ còn mưa rắc, nhờ đó mà c y cối đua nhau đ m chồi nảy lộc, tất cả đều tràn đầy sức sống khi mùa xuân về:

Mùa xuân hẳn bắt đầu

Tr n qu nh ưa rắc Ruộng d ng lúa chiêm lên

C đội bờ thả sức

(Mùa xu n đón ta Mỗi mùa đi qua đều để lại trong lòng người nhiều suy tư, chiêm nghiệm về những gì đã qua Có lẽ mùa đông là mùa làm cho người ta phải trăn trở, suy tư

Ngày đăng: 23/04/2021, 22:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. ũ Tuấn Anh (2001), ăn học Vi t Nam nhận thức và th định, Nxb Khoa học xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ăn học Vi t Nam nhận thức và th định
Tác giả: ũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội Hà Nội
Năm: 2001
2. Lại Nguyên Ân (1984), ăn học và phê bình, Nxb Tác phẩm mới Sách, tạp chí
Tiêu đề: ăn học và phê bình
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1984
3. Mai Bá Ấn, Hai đặc điể cơ bản của trường ca Vi t Nam hi n đại, nguồn http://phongdiep.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hai đặc điể cơ bản của trường ca Vi t Nam hi n đại
Tác giả: Mai Bá Ấn
4. Đào Thị ình (2002 , “ óp phần tìm hiểu trường ca viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước”, Tạp chí Giáo dục, số 26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: óp phần tìm hiểu trường ca viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Tác giả: Đào Thị ình
Nhà XB: Tạp chí Giáo dục
Năm: 2002
5. Nguy n Phan Cảnh (2001), Ngôn ngữ thơ, Nxb ăn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguy n Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb ăn hóa thông tin
Năm: 2001
6. Hồng Diệu (2003), Người l nh và nhà văn, Nxb u n đội nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người l nh và nhà văn
Tác giả: Hồng Diệu
Nhà XB: Nxb u n đội nhân dân
Năm: 2003
7. Xuân Diệu (1981 , “Những suy nghĩ nh n đọc Đường tới thành phố”, Báo ăn ngh , số 19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những suy nghĩ nh n đọc Đường tới thành phố
Tác giả: Xuân Diệu
Nhà XB: Báo ăn ngh
Năm: 1981
8. Phạm Tiến Duật (1981 , “Nói chuyện với Hữu Thỉnh nh n đọc Đường tới thành phố”, áo ăn ngh , số 20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nói chuyện với Hữu Thỉnh nh n đọc Đường tới thành phố
Tác giả: Phạm Tiến Duật
Nhà XB: áo ăn ngh
Năm: 1981
9. Phạm Tiến Duật (1980 , “Về bút pháp hi n th c tr ng thơ i t Nam hi n đại”, Tạp chí ăn học, tháng 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về bút pháp hi n th c tr ng thơ i t Nam hi n đại
Tác giả: Phạm Tiến Duật
Nhà XB: Tạp chí ăn học
Năm: 1980
10. Phạm Tiến Duật (1980 , “Nh n bàn về trường ca đôi điều nghĩ về hình thức”, áo ăn ngh quân đội, tháng 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nh n bàn về trường ca đôi điều nghĩ về hình thức
Tác giả: Phạm Tiến Duật
Nhà XB: áo ăn ngh quân đội
Năm: 1980
11. Lê Tiến Dũng (2004 , Nhà phê bình và cái roi ng a, phê bình tiểu luận, Nxb ĐH uốc gia TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà phê bình và cái roi ng a, phê bình tiểu luận
Tác giả: Lê Tiến Dũng
Nhà XB: Nxb ĐH uốc gia TP. HCM
Năm: 2004
12. Lê Tiến Dũng (1998 , Những cách tân ngh thuật tr ng thơ Xuân Di u giai đ ạn 1932- 1945, nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cách tân ngh thuật tr ng thơ Xuân Di u giai đ ạn 1932- 1945
Nhà XB: nxb Giáo dục
13. Lê Tiến Dũng (1994 , “Loại hình c u thơ của thơ mới”, Tạp chí ăn học, tháng 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Loại hình c u thơ của thơ mới
Tác giả: Lê Tiến Dũng
Nhà XB: Tạp chí ăn học
Năm: 1994
14. Lê Tiến Dũng (2007 , Nhà văn và h ng c ch, Nxb ĐH uốc gia TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn và h ng c ch
Tác giả: Lê Tiến Dũng
Nhà XB: Nxb ĐH uốc gia TP.HCM
Năm: 2007
15. Lê Tiến Dũng (2007 , Một lòng với văn nhân, Nxb Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một lòng với văn nhân
Tác giả: Lê Tiến Dũng
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2007
16. Hữu Đạt (2000), Ngôn ngữ thơ i t Nam, Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ i t Nam
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Khoa học xã hội
Năm: 2000
17. Nguy n Đăng Điệp (2002), Giọng đi u tr ng thơ trữ tình, Nxb ăn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng đi u tr ng thơ trữ tình
Tác giả: Nguy n Đăng Điệp
Nhà XB: Nxb ăn học
Năm: 2002
18. Nguy n Đăng Điệp (2003), Vọng từ con chữ, Nxb ăn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vọng từ con chữ
Tác giả: Nguy n Đăng Điệp
Nhà XB: Nxb ăn học
Năm: 2003
19. Nguy n Đăng Điệp (2005), Trần Đ nh Sử tuyển tập (tập 2), Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Đ nh Sử tuyển tập (tập 2)
Tác giả: Nguy n Đăng Điệp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
20. Nguy n Đăng Điệp (2006), Thơ i t Nam sau 1975 - Từ cái nhìn toàn cảnh, Nghiên cứu văn học, tháng 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ i t Nam sau 1975 - Từ cái nhìn toàn cảnh
Tác giả: Nguy n Đăng Điệp
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w