1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thế giới nghệ thuật thơ hữu thỉnh

186 1,5K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thế giới nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh
Tác giả Nguyễn Văn Thương
Trường học Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn học
Thể loại Luận văn thạc sĩ văn học
Năm xuất bản 2010
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 186
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở phân tích và chứng minh cụ thể, tác giả đã đưa ra những mô hình chung nhất của điểm nhìn nghệ thuật trong thơ Hữu Thỉnh và chốt lại những điểm nhấn sinh động đó bằng một nhận

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN VĂN THƯƠNG

Trang 2

CHƯƠNG 2: HÌNH TƯỢNG QUÊ HƯƠNG, ĐẤT NƯỚC VÀ HÌNH TƯỢNG CON NGƯỜI

Trang 3

M Ở ĐẦU

1.Lí do ch ọn đề tài:

Trong số các nhà thơ trực tiếp tham gia chiến đấu và trưởng thành trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, Hữu Thỉnh là một nhà thơ có phong cách riêng khá độc đáo Những nhà thơ thuộc thế hệ trước hay cùng thời với ông như: Thu Bồn, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Duy…hầu hết đã được tìm hiểu một cách có hệ thống qua một số công trình nghiên cứu trong những năm gần đây Trong khi đó, thế giới nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh, mặc dù đã được khám phá qua một vài công trình và không ít các bài viết, nhưng nhìn chung vẫn chưa có sự có mặt của một công trình hệ thống, có sức mạnh thâu tóm toàn bộ những đặc trưng về nội dung và nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh

Thiết nghĩ, việc tìm hiểu một nhà thơ đã từng được biết đến từ rất sớm và đã có những đóng góp nhất định nền văn học dân tộc nói chung và thơ ca hiện đại nói riêng như

Hữu Thỉnh trong tình hình hiện nay là công việc cần thiết

Việc làm này về mặt khoa học không chỉ cho phép chúng ta có cái nhìn bao quát, toàn diện hơn về thế giới nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh; nhận diện ra được đặc trưng phong cách riêng của nhà thơ trong cái nhìn so sánh, mà còn có ý nghĩa lịch sử Do vậy, luận văn này sẽ tìm hiểu những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh Trước

những lí do trên, chúng tôi đã chọn vấn đề “Thế giới nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh” làm

đề tài nghiên cứu cho luận văn

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Xuất phát từ mục đích của đề tài, chúng tôi xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn này như sau: chúng tôi chỉ nghiên cứu thơ của Hữu Thỉnh (không xét đến thể loại trường ca) bao gồm tất cả những tập thơ của Hữu Thỉnh Do đó, có thể xác định các tài liệu chủ yếu sử dụng trong luận văn là:

Toàn bộ các tập thơ của Hữu Thỉnh và các bài thơ lẻ được in chung với trường ca của ông

Những bài nghiên cứu, bài giới thiệu thơ Hữu Thỉnh

Những tài liệu lí luận văn học nói chung và thơ ca nói riêng

Trang 4

Bên cạnh đó, trong những trường hợp cụ thể nhất định, không loại trừ khả năng chúng tôi sử dụng trường ca của chính tác giả hay một số tác phẩm thơ, tập thơ của những nhà thơ khác để liên hệ đối chiếu

3.L ịch sử vấn đề:

Sau khi tìm hiểu những nguồn tư liệu khác nhau, chúng tôi nhận thấy có không ít các bài viết về thơ Hữu Thỉnh Ở đây, chúng tôi xin được phép sơ lược nội dung cơ bản của số bài viết mà theo chúng tôi chúng có giá trị thiết thực đối với luận văn

Có thể nói công trình nghiên cứu thơ Hữu Thỉnh một cách có hệ thống và công phu

đầu tiên là chuyên luận Thi pháp thơ Hữu Thỉnh của Nguyễn Nguyên Tản [130] Chuyên

luận gồm 4 chương, “chương thứ nhất nhằm giới thiệu khái quát về thơ Hữu Thỉnh, còn

người với tư cách là hạt nhân cốt lõi của thế giới nghệ thuật; thứ hai, tìm hiểu về không gian, th ời gian, những hình thức tồn tại của thế giới nghệ thuật; và cuối cùng là tìm hiểu

[130, 179]

Trong chương thứ hai: quan niệm nghệ thuật về con người, Nguyễn Nguyên Tản

đã trình bày ba dạng con người quan trọng nhất trong thơ Hữu Thỉnh: con người đồng

cảm, con người tình nghĩa và con người cô đơn

Thứ nhất: con người đồng cảm

Theo Nguyễn Nguyên Tản, có hai chiều đồng cảm chủ yếu trong thơ Hữu Thỉnh,

và hai chiều đồng cảm này tạo thành một thể thống nhất trong tác phẩm trữ tình trên cơ

sở gắn bó giữa nhân tố tự thuật tâm trạng và nhân tố nhập vai “Trong đó, ở chiều thứ

nhà thơ tự ý thức [130, 20] Và trong chiều kích thứ nhất, “con người trong thơ Hữu

Th ỉnh là con người - tâm sự, con người - đối thoại” Tác giả cũng không quên chỉ ra đặc

trưng của đối tượng hô gọi trong thơ Hữu Thỉnh trong sự đối chiếu với các nhà thơ đương

thời Đó là “những người, vật cụ thể, những người thân, đồng đội, rất xác đinh; gọi để

Trang 5

giãi bày, chia s ẻ tâm tình” [130, 24] Và một đặc điểm đáng lưu tâm nữa, “nhân vật đối

nhà thơ” [130, 24]

Biểu hiện cụ thể của con người tâm sự trong thơ Hữu Thỉnh cũng được khám phá

đúng mực Theo đó, “con người tâm sự nhìn vào mọi vật đều thấy có tâm sự” [130, 25]

và điều này được đảm bảo bằng một suối nguồn sức mạnh lí tưởng của chủ thể:“thường

đồng nhất suy tư của mình với những vui buồn, ấm lạnh của thế giới xung quanh, và nhi ều khi nó là cái cớ để nhà thơ bộc lộ tâm tình, thể hiện tư tưởng “đồng hóa thế giới””

[130, 26] Đây cũng là lời giải thích hợp lí cho việc “không e ngại bộc lộ những tình cảm

riêng tư, đời thường ngay cả trong thơ về chiến tranh” [130, 29] Nhưng có lẽ điều khiến

suy nghĩ chúng ta dừng lại lâu hơn ở sự ngẫm nghĩ về nét đặc trưng của con người tâm sự trong thơ Hữu Thỉnh không phải là những đặc điểm nêu trên Và theo Nguyễn Nguyên Tản, nét khu biệt này là “cái riêng tư đôi khi lại trổi lên” một cách mạnh mẽ rõ rệt so với những đồng nghiệp đương thời bởi lẽ “theo quan niệm của Hữu Thỉnh, cá nhân là chủ

v ẹn, nếu một cá nhân còn đau khổ, bất hạnh” [130, 32]

Ở chiều kích thứ hai con người đồng cảm trong thơ Hữu Thỉnh đã “hóa thân sâu

s ắc vào các “nhân vật trữ tình nhập vai”, diễn tả một cách xúc động và tinh tế thế giới

thể hiện của Hữu Thỉnh chính là những nét vẽ thành hình của chiều sâu tâm lí, tình cảm:

“Nhà thơ đồng cảm da diết đến cháy lòng với con người ở mọi chiều cảm xúc, nỗi niềm

c ảm với nỗi đau thương bất hạnh, thiệt thòi, hi sinh” [130, 34]

Thứ hai: Con người tình nghĩa

Con người tình nghĩa trong thơ Hữu Thỉnh luôn mang tấm lòng thơm thảo với quê hương và hiếu nghĩa với mẹ Đó cũng là con người của sự biết ơn sâu sắc trước tình thương lớn lao từ hậu phương, từ sự sẻ chia đùm bọc của các đồng nơi chiến trường Mọi

Trang 6

vật của quê hương (con suối, bờ tre, cánh rừng, ngôi nhà, bầu trời, ngọn lửa…) đều trở thành đối tượng để nhà thơ bộc bạch tiếng nói tri ân

Sở hữu một tấm lòng trắc ẩn luôn tồn tại dưới dạng thức sẵn sàng rung động một cách mãnh liệt trước những éo le của đời sống cũng là một khía cạnh vô cùng quan trọng của con người tình nghĩa trong thơ Hữu Thỉnh (những ai vắng mặt trên đời khi chưa kịp

ăn bữa cơm cuối cùng, những người vợ có chồng hi sinh ngoài biển, giờ bước thêm bước nữa, những người vượt biên, xác để lại giữa biển khơi,…)

Thứ đến là những nỗi niềm nhớ thương vời vợi của con người tình nghĩa Thơ Hữu Thỉnh có sự hiện hữu một tần số cao của các từ “nhớ thương” trong tất cả các thể loại, trường ca cũng như thơ ngắn

Thứ ba: Con người cô đơn

Trong phần này tác giả chỉ ra nguyên nhân khách quan và chủ quan của sự hình thành con người cô đơn trong thơ Hữu Thỉnh Trong đó, đặc biệt nhấn mạnh đến nguyên nhân chủ quan: “Con người cô đơn trong thơ Hữu Thỉnh xuất hiện trên cái nền chung ấy,

nhưng cô đơn cũng cô đơn hơn, thất vọng cũng thất vọng hơn, đau xót cũng đau xót hơn

người này trong thơ Hữu Thỉnh (chủ yếu là trường ca Biển và tập Thư mùa đông) Sự góp

mặt ở tần số cao của cảm giác này trong mảng thơ tình Hữu Thỉnh cũng được tác giả chú

ý phân tích ở hầu hết các vết xước dễ nhận diện của nó Nhưng quan trọng hơn, người viết đã tựa vào đặc điểm này để làm đòn bẩy cho một sự giải thích mang tính chất nhân quả: chính sự cô đơn dày đặc đã thai nghén và chỉ huy sở thích ưa triết lí của thơ Hữu

Thỉnh

Trong chương tiếp theo, Nguyễn Nguyên Tản trình bày những biểu hiện của không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật trong thơ Hữu Thỉnh

Về không gian nghệ thuật

Trong phần này, tác giả khảo sát các dạng không gian nghệ thuật cụ thể như: không gian con đường; không gian thiên nhiên, đất nước; không gian làng quê và một số dạng không gian khác

Trang 7

Thứ nhất: không gian con đường

Nguyễn Nguyên Tản tiếp cận đối tượng của mình bằng cách chia nhỏ nó thành hai dạng cơ bản: con đường trong thời chiến và trong thời bình

Trong thời chiến không gian con đường trước hết là những con đường cụ thể trên những nẻo trường xung trận của người lính Đó có thể là con đường đầy chông gai, gian khổ; nhưng cũng không vắng bóng niềm vui, những âm thanh rộn rã, những màu sắc rợn ngợp hết lòng cổ vũ cho người chiến sĩ cách mạng Một cách cụ thể, “con đường trong

trường ca Đường tới thành phố là con đường vận động có hướng của tập thể người lính”

[130, 72] để “trở thành biểu tượng khái quát cho bước trưởng thành của quân đội cách

mạng Mỗi địa danh trên con đường ấy như những cột mốc trên chặng đường giải phóng nhân dân, gợi lên chiều sâu lịch sử” [130, 74]

Trong giai đoạn thời bình, không gian con đường cũng có những biểu hiện khá rõ nét của nó “Trong trường ca Biển có con đường từ đất liền đến các đảo xa Con đường

mà người lính trải qua từ tuổi thơ tràn đầy kỉ niệm, qua những năm tháng ở chiến trường đánh Mỹ đến khi làm người lính đảo, mang ý nghĩa điển hình cho một thế hệ con người”

[130,78] Còn “con đường trong Thư mùa đông là đường đời, con đường của nhà thơ

v ới tư cách một cá nhân – đi tìm người, tìm tri âm tri kỉ, tìm cái đẹp và cái thiện như mơ ước và quan niệm của mình” [130, 78]

Tác giả còn chỉ rõ những điểm khác biệt cơ bản về chất của không gian con đường

trong hai giai đoạn sáng tác này: “So với con đường viết trong chiến tranh, con đường

trong thơ viết vào thời bình, tính chất cụ thể ít đi, tính ước lệ tăng lên” [130, 78]

Thứ hai: Không gian thiên nhiên, đất nước

Theo Nguyễn Nguyên Tản, không gian thiên nhiên nổi bật nhất trong thơ Hữu

Thỉnh là không gian rừng và biển Trong đó, việc nhân hóa không gian rừng núi Trường Sơn là nét đặc trưng quan trọng nhất của dạng không gian này cũng như tính ước lệ, tượng trưng là trái tim của dạng không gian biển

Thứ ba: Không gian làng quê

Tiếp thu một số ý kiến nhận xét về không gian làng quê trong thơ Hữu Thỉnh, Nguyễn Nguyễn Tản cũng cho rằng nét đặc trưng dễ nhận biết nhất của không gian làng

Trang 8

quê trong thơ Hữu Thỉnh là những yếu tố mang đậm màu sắc của hồn quê đồng bằng trung du Bắc Bộ (từ khung cảnh thiên nhiên đến đồ vật, cây cối) Tác giả cũng chỉ ra được mối liên đối âm thầm nhưng vô cùng hiệu quả của dạng không gian này với các dạng không gian khác như: chiến trường, hải đảo,…để chỉ ra những giá trị thiết thực của chúng trong việc thể hiện tư tưởng chủ đề

Bên cạnh ba dạng không gian chính yếu trên, người viết còn dẫn chúng ta lướt qua một sô biểu tượng không gian khác như: hình tượng cỏ, gốc sim, đất đai, ngọn lửa

Về thời gian nghệ thuật

Thời gian nghệ thuật được tác giả mổ xẻ trên hai phương diện: trong thơ trữ tình –

sử thi và trong thơ trữ tình thế sự

- Trong thơ trữ tình sử thi

Vấn đề này được giải mã ở ba khía cạnh then chốt của nó: điểm nhìn trần thuật, thời gian đồng hiện và nhịp độ trần thuật

+ Điểm nhìn trần thuật

Trên cơ sở phân tích và chứng minh cụ thể, tác giả đã đưa ra những mô hình chung nhất của điểm nhìn nghệ thuật trong thơ Hữu Thỉnh và chốt lại những điểm nhấn sinh động đó bằng một nhận xét mang tính kết luận: “Sự miêu tả, trần thuật trong thơ

Anh thường chọn một mốc thời gian nào đó của hiện tại rồi từ đó ngược dòng quá khứ

cho đến đích của sự kiện” [130, 100]

+ Thời gian đồng hiện: “Đồng hiện quá khứ với hiện tại đã trở thành thủ pháp

Và “trong s ự kết hợp giữa quá khứ hiện tại và tương lai nhìn chung ở các trường ca

t ại đứng yên mà là hiện tại đang vận động” [130, 108]

Trang 9

+ Nhịp độ trần thuật Trong phần này, tác giả chỉ ra các cách thức cơ bản tạo nên nhịp độ trần thuật trong thơ Hữu Thỉnh: sự phối hợp giữa các thành phần trần thuật, sự luân phiên, phối xen các sự kiện cũng như các đoạn tả cảnh, tả tình, hồi tưởng…

- Trong thơ trữ tình thế sự

Đặc điểm đáng lưu tâm nhất của thời gian nghệ thuật trong thơ trữ tình thế sự của Hữu Thỉnh là thước đo âm bản cho những nỗi thảng thốt lo ngại không ngừng trước sự hủy hoại của các giá trị, là sự ngưng trệ trong cảm giác trước những nỗi đau muôn thuở của con người, là sự nhanh chân trong toan tính để đưa con người tiến gần hơn đến bến

Về kết cấu của trường ca

Người viết đã cố gắng nêu lên những đặc điểm cơ bản về mặt kết cấu của trường

ca Hữu Thỉnh và khá thành công với kết quả thu được của mình Theo tác giả, phép liên tưởng như là một nguyên tắc kết cấu chủ yếu nhất trong trường ca Hữu Thỉnh Nhưng rõ ràng đó không phải nhân vật duy nhất ta bắt gặp trong vở tuồng sinh động này Bởi lẽ nhà thơ còn kết hợp nó với các thủ pháp khác như: kết cấu theo chủ đề và tư tưởng chủ

đề (chẳng hạn trường ca Sức bền của đất), theo thời gian - không gian (Đường tới thành

ph ố), theo lịch trình nhân vật, theo chuỗi liên tưởng ( đây là dạng kết cấu “phổ biến và

Về kết cấu của thơ trữ tình

Theo Nguyễn Nguyên Tản, các bài thơ ngắn trong Tiếng hát trong rừng và Thư

mùa đông “có kết cấu thật đa dạng, tuy nhiên có thể quy về 6 kiểu kết cấu: kết cấu theo

b ằng liên tưởng kết hợp với kết cấu theo thời gian và không gian, kết cấu theo logic quy

kết cấu theo lối trùng điệp ý” [130, 131] Trong đó, các bài thơ thuộc Tiếng hát trong

Trang 10

r ừng được biết đến như những bài thơ có dạng kết cấu giản dị hơn so với phần còn lại

của sự so sánh

- Ngôn từ nghệ thuật Ở phần này tác giả nghiên cứu các phương diện: phương thức tạo hình, gợi cảm và phương thức nhạc điệu

+ Phương thức tạo hình gợi cảm

Thứ nhất: về mặt từ ngữ Trong phần này tác giả đã đi sâu vào việc phân tích một cách cụ thể những biểu hiện của ngôn ngữ dân dã, đời thường trong thơ Hữu Thỉnh và xem đây như một đặc điểm quan trọng của ngôn ngữ thơ Hữu Thỉnh

Thứ hai: Các phương thức biểu hiện ngữ nghĩa Ba phương thức được khơi sâu nhất mà các con chữ trong phần này có trách nhiệm gánh lấy là: so sánh ẩn sụ và nhân hóa Và trong từng phương thức nghệ thuật, tác giả đã không tiếc công mô hình hóa thật

cụ thể những dạng thức nhỏ của từng loại cũng như không ngừng tạo dựng và củng cố ở chúng ta cảm giác yên tâm và tin tưởng vào những điều mà tác giả đã trình bày (Chẳng hạn, có bốn dạng so sánh cơ bản trong thơ Hữu Thỉnh)

Theo Nguyễn Nguyên Tản, trong thơ ngắn của Hữu Thỉnh, so sánh và nhân hóa là phương thức chủ yếu trong giai đoạn sáng tác trong chiến tranh; trong khi ngôi vị thống ngự của nó trong giai đoạn sáng tác trong thời bình (Thư mùa đông) là phương thức ẩn

dụ Trong biện pháp ẩn dụ, tác giả tìm hiểu ở các cấp độ: ẩn dụ cụm từ, ẩn dụ cấp độ câu Và trong ẩn dụ cấp độ câu, “ta thấy nổi lên tư tưởng đồng hóa thế giới nội tâm của

con người thông qua phương thức “ngoại giới hóa nội tâm và nội tâm hóa ngoại giới”

[130, 154] Theo tác giả, đây chính là căn nguyên “đem đến cho thơ Hữu Thỉnh một

lưu ý một đặc điểm khá quan trọng khác về phương thức ẩn dụ trong thơ Hữu Thỉnh Đó

là sự góp mặt của các điển cố: “Thơ Hữu Thỉnh chứa khá nhiều điển cố Điều đặc biệt là

ca dao, t ục ngữ, cổ tích của dân tộc” [130, 158]

+ Nhạc điệu Tác giả giải quyết sức nặng của vấn đề bằng việc đào sâu các yếu tố: nhịp điệu, tiết tấu, vần, sự trùng điệp và đối xứng trong ngôn ngữ thơ Hữu Thỉnh Thể thơ trong thơ Hữu Thỉnh khá đa dạng nhưng đặc trưng nhịp điệu thơ Hữu Thỉnh nằm ở

Trang 11

các bài thơ năm chữ, tám chữ và tự do Vần trong thơ Hữu Thỉnh cũng khước từ những khuôn khổ chật hẹp của thi luật, “anh không ngại sử dụng vần thông, thậm chí vần ép

chấp điều đó “nhạc tính trong thơ Hữu Thỉnh vẫn rất dồi dào do anh rất chú ý đến sự

hòa hòa thanh điệu, tiết tấu” [130, 169]

Bên cạnh công trình trên của Nguyễn Nguyên Tản, còn có một số công trình và bài viết khác về nội dung hay nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh

Thứ nhất: về phương diện nghệ thuật

- Về giọng điệu:

Trong bài viết “Nhân đọc Từ chiến hào tới thành phố” [135], Đào Thái Tôn đã

đưa ra những đánh giá “sơ bộ” về thành công và hạn chế của tập thơ cùng tên của Hữu

Thỉnh Tác giả của bài viết ngắn này đã có những nhận xét đáng chú ý về giọng điệu của

thơ Hữu Thỉnh: “…tôi đã thấy ở anh cái gì riêng trong giọng thơ, trong cách biểu hiện

đã có cái nhìn khá sâu sắc: “Nếu Thanh Thảo trong trường ca của mình cho bạn đọc một

[135]

Nguyễn Trọng Tạo cũng đọc lại “Thư mùa đông” qua bài viết “Hữu Thỉnh, thành

xét đáng chú ý về phương diện giọng điệu Và ông bắt mạch được “giọng” của Hữu

Thỉnh trong sự so sánh với Thanh Thảo: “Nếu như hồn thơ Thanh Thảo là những tia

[131] Và tác giả cũng cho rằng: “Chính cái giọng nhà quê ấy đã tạo nên thần sắc cho

thơ Hữu Thỉnh” [131] Điểm yếu và điểm mạnh trong nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh cũng

Trang 12

được lưu ý: “Đọc thơ Hữu Thỉnh lâu nay dễ nhận thấy anh chặt ở câu mà lỏng ở bài Có

người bảo anh là nhà thơ nhiều câu ít bài, kể cũng có lí của họ” [131]

Trên tạp chí nghiên cứu văn học số 9, năm 2003, Nguyễn Đăng Điệp đã trình bày những suy nghĩ của mình về “Hữu Thỉnh và quá trình tự đổi mới thơ” [30] Trong bài viết này, tác giả đã chỉ ra những thay đổi cơ bản về giọng điệu thơ Hữu Thỉnh trước và sau chiến tranh, cũng như đưa ra đánh giá của mình về giọng điệu thơ của tác giả

Sự thay đổi về giọng điệu của thơ Hữu Thỉnh những năm sau chiến tranh so với những năm chiến tranh đã được chỉ rõ: “Cái chất ru vỗ, ngọt ngào mang tính sử thi trong

chát đau đời” [30] Sự chuyển biến này có thể nhìn nhận một cách rõ ràng qua các

phương diện: tư duy thơ và cấu trúc của hình tượng cái tôi trữ tình

Thứ nhất: sự thay đổi về tư duy thơ: “Nếu trước đây, điều quan tâm lớn nhất với

thơ ghi lấy cuộc đời mình”, thì ở chặng sau, cái nhìn của nhà thơ mang tính hướng nội

được nói đến một cách riết róng qua góc nhìn đời tư Không còn ở đây cái nhìn của

chúng tôi mà là cái nhìn c ủa chính tôi” [30]

Thứ hai: sự thay đổi về cấu trúc của hình tượng cái tôi trữ tình: “Đó là cái tôi đa

Về giọng điệu thơ Hữu Thỉnh, tác giả cho rằng: “Thơ Hữu Thỉnh không nghiêng về

người ta bắt gặp: “Cảm xúc đau đớn, xót xa thường trực trong hồn thơ Hữu Thỉnh hiện ra

như một ám ảnh, trở thành nhịp mạnh trong cấu trúc giọng điệu thơ anh Tuy nhiên,

không ng ừng về nhân thế bằng chất giọng trầm lắng” [30]

Trong bài viết “Hữu Thỉnh và chút thảng thốt trước thời gian”, Nguyễn Hoàng

Sơn ngoài việc đưa ra một số đánh giá về nội dung chủ đạo của tập Thương lượng với

thời gian, cũng đã có lời nhận xét về sự giọng điệu của Hữu Thỉnh trong tập thơ này

Trang 13

Theo tác giả bài viết, cách dùng những hình ảnh thơ trực tiếp “có thể làm cho giọng điệu

thơ phong phú hơn” nhưng đó không phải là nét đặc trưng của giọng điệu thơ Hữu

Thỉnh: “Dầu sao thì đây cũng là một hướng nỗ lực đổi mới, tuy còn lâu mới thay thế

được giọng thơ chủ đạo: tình cảm, nhỏ nhẹ, tài hoa, đôi khi bay bướm trong mô - típ dân gian , gi ọng thơ làm nên bản sắc của Hữu Thỉnh” [116]

- Về mặt ngôn ngữ:

Trên mục văn hóa số ra ngày 23/07/2007, báo Bình Thuận đăng bài viết:“Đọc tập

thơ Thương lượng với thời gian của Hữu Thỉnh” của Đỗ Quang Vinh Trong bài viết khá

ngắn này, tác giả đã đưa ra những nhận xét đáng lưu ý về nghệ thuật của tập thơ nói riêng

và phong cách nghệ thuật thơ của Hữu Thỉnh nói chung Tác giả nhận diện hai phương diện nổi bật của nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh: tiếp thu những tinh hoa ca dao tục ngữ truyền thống và cách chắc lọc dồn nén của thơ Đường: “Về nghệ thuật, anh vẫn tiếp tục

đi sâu, phát huy thế mạnh của bút pháp truyền thống; đồng thời có sự trăn trở, tìm tòi,

đọc một tâm thế tiếp cận thâm trầm, hướng nội theo thi pháp phương Đông” [171]

Nguyễn Văn Tùng trong bài viết “Phong cách nghệ thuật của nhà văn là gì” [137]

cũng đã lưu ý một khía cạnh nổi bật trong phong cách nghệ thuật thơ của Hữu Thỉnh:

Trong đó, tác giả bài viết cho phép nhận định của mình dừng chân ở khai mặt đáng chú ý

Thứ nhất: “ngôn ngữ thơ Hữu Thỉnh thẩm thấu được nhiều vẻ đẹp của ngôn ngữ dân

trong thơ mình và điều đó tạo nên một hiệu quả thẩm mỹ đặc biệt” [137] Thứ hai: tính

triết luận của ngôn ngữ thơ Hữu Thỉnh: “Tính triết luận sâu sắc cũng là một đặc điểm nổi

bật trong phong cách ngôn ngữ thơ Hữu Thỉnh Vì thế nhà thơ đã dâng tặng bạn đọc

Trang 14

nh ững cảm xúc đặc biệt, những nhận thức mới mẻ về thế giới tâm hồn con người ẩn chứa bao điều bất ngờ thú vị” [137]

Có thể nói công trình nghiên cứu đáng nhớ nhất về mặt ngôn ngữ thơ Hữu Thỉnh trong những năm gần đây là luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học của Nguyễn Thị Hoa: “Phép

hệ thống, tác giả đã đi sâu vào việc tìm hiểu hai phương diện nghệ thuật nổi bật trong ngôn ngữ thơ Hữu Thỉnh: phép lặp từ vựng và lặp ngữ pháp Dĩ nhiên, tất cả những gì có thể thu hoạch được của công trình không thể không cần đến sự trợ giúp đầy hiệu quả - ánh sáng hổ trợ của các lí thuyết ngôn ngữ học Một cách cụ thể và rõ ràng hơn, như sự nhận xét của chính tác giả, chúng ta muốn gọi luận văn này là “sự vận dụng lí thuyết

ngôn ngữ về phép lặp từ vựng và lặp ngữ pháp vào việc nghiên cứu hai hiện tượng này trong thơ Hữu Thỉnh” [56,108] Một điều đáng lưu ý nữa, một nét giản dị thông minh để

có thể đảm bảo tính tập trung của vấn đề, phạm vi nghiên cứu của luận văn này chỉ dừng lại ở tập “Từ chiến hào tới thành phố” của Hữu Thỉnh

Trong tất cả sự cố gắng đáng biểu dương của tác giả, hai khía cạnh nghệ thuật này

đã lần lượt được trình bày một cách khá cụ thể và thuyết phục ở khía cạnh biểu hiện cụ thể cũng như những giá trị nghệ thuật mà nó tạo dựng trong văn bản thơ

Cấu trúc luận văn gồm 3 chương Chương 1: Cơ sở lí luận (29 trang) trình bày

những khái niệm cơ bản về liên kết văn bản và hệ thống các phép liên kết văn bản

Chương 2: Phép lặp từ vựng và lặp ngữ pháp trong thơ Hữu Thỉnh (28 trang) trình bày

một cách cụ thể những dạng thức của phép lặp từ vựng và lặp ngữ pháp với sự chắc chắn của các số liệu thống kê cụ thể Về phép lặp từ vựng, tác giả khảo sát ở hai khía cạnh: lặp

từ và lặp ngữ Trong phép lặp từ, người viết thống kê cụ thể các dạng thức: lặp danh từ, động từ, tính từ, phó từ, đại từ, số từ, kết từ, trợ từ Theo đó, tác giả đã dẫn chúng ta đi đến sự khẳng định: lặp danh từ là dạng thức lặp từ vựng phổ biến nhất trong thơ Hữu Thỉnh Cụ thể, chúng ta có thể dẫn ra đây kết quả khảo sát của tác giả [56, 49]

Tiểu

loại

Lặp danh

từ

Lặp động

từ

Lặp tính từ

Lặp đại từ

Lặp phó từ

Trang 15

Trong phần tìm hiểu phép lặp ngữ trong thơ Hữu Thỉnh, Nguyễn Thị Hoa đã đưa ra

những số liệu cụ thể của hai dạng lặp ngữ phổ biến nhất trong thơ Hữu Thỉnh: lặp ngữ danh từ và ngữ động từ

Tiểu loại Lặp ngữ danh từ Lặp ngữ động từ Tổng số

Tỉ lệ (%) 52,3% 47,4% 100%

Bên cạnh đó, căn cứ vào vị trí của các yếu tố lặp, người viết cũng đã khảo sát phép lặp từ ngữ trong thơ Hữu Thỉnh ở các dạng: lặp nối tiếp, lặp cách quãng, lặp vòng tròn, lặp đầu – cuối, lặp đầu, lặp cuối Tương tự như các phần trên, tác giả cũng cung cấp cho chúng ta những con số thống kê cụ thể, mà từ đó có thể bật lên những lời kết luận chính xác về bản chất của đối tượng nghiên cứu

Tiểu

loại

Lặp nối tiếp

Lặp cách quãng

Lặp vòng tròn

Lặp đầu – cuối Lặp đầu Lặp cuối

Trang 16

Dựa vào số liệu thống kê, tác giả đã đi đến sự khẳng định: “So với phép lặp từ

tìm hiểu hiện tượng này trong thơ Hữu Thỉnh ở các dạng thức cụ thể của nó bao gồm: lặp

đủ, lặp thiếu, lặp thừa, và lặp khác Trong đó, “lặp đủ trong thơ Hữu Thỉnh chiếm tỉ lệ

cho chúng ta những kết luận mang tính chất tổng kết vô cùng quan trọng về phép lặp từ vựng và lặp ngữ pháp trong thơ Hữu Thỉnh: “Trong lặp từ vựng, tác giả sử dụng lặp từ

lượng thực từ với tần số cao

Đối với ph́ép lặp ngữ pháp, tác giả sử dụng lặp đủ với số lượng nhiều nhất Còn

l ặp thiếu, lặp thừa, lặp khác sử dụng với tần số rất thấp Tuy nhiên, lặp ngữ pháp vẫn

t ạo nên sự liên kết và giá trị ngữ nghĩa riêng biệt” [56, 59 – 60]

Chương 3: Giá trị nghệ thuật của phép lặp từ vựng và ngữ pháp trong thơ Hữu

Th ỉnh (45 trang) Trong chương này tác giả phân tích và miêu tả cụ thể những giá trị nghệ

thuật của phép lặp từ vựng và lặp ngữ pháp trong thơ Hữu Thỉnh chủ yếu ở các khía cạnh tạo nên giá trị nhận thức, giá trị miêu tả, giá trị biểu cảm, giá trị liên kết và nhạc điệu cho câu thơ Trong từng trường hợp cụ thể, người viết đã cố gắng bám sát văn bản thơ để có

thể ghi nhận và giải thích từng khía cạnh cụ thể của vấn đề Đáng chú ý, tác giả cũng

không quên đúc kết lại vấn đề trong một nhận xét mang tính tổng kết: “Hiện tượng lặp từ

trình bày để duy trì chủ đề cho văn bản, tô đậm hình ảnh, hình tượng và còn tạo ra giá

ng ữ pháp tạo nên một nhịp điệu thơ rất riêng, ngoài ra còn có tác dụng duy trì sự tồn tại,

ch ắc trong cấu trúc bài thơ và những nét đẹp riêng ở tính nghệ thuật đã gây hứng thú đối

v ới người đọc, người nghe” [56, 107]

Trang 17

Như vậy, công trình “Phép lặp từ vựng và lặp ngữ pháp trong thơ Hữu Thỉnh” là

một sự cố gắng đáng ghi nhận trong việc tìm hiểu phong cách nghệ thuật của tác giả qua hai khía cạnh nghệ thuật cụ thể Nhìn một cách tổng quát, luận văn đã “tập trung vào việc

nhiệm vụ giải quyết những đòi hỏi không thể khước từ của luận văn bởi lẽ “phong cách

Và trong thơ Hữu Thỉnh nét riêng ấy được chúng ta phát hiện ra sự lặp đi lặp lại của từ

v ựng và cấu trúc ngữ pháp” [56, 107]

- Về mặt phong cách:

Lưu Khánh Thơ có lẽ là một trong những người đầu tiên tiếp xúc và khám phá thơ Hữu Thỉnh Trong bài viết “Hữu Thỉnh – một phong cách thơ sáng tạo” [156], Lưu Khánh Thơ đã có những phát hiện đáng lưu tâm về thơ và trường ca của Hữu Thỉnh Theo đó, những điểm mạnh và yếu trong phong cách thơ Hữu Thỉnh được tác giả bài viết chỉ ra: “Một trong những điểm làm thơ Hữu Thỉnh thành công là sự vận dụng nhuần

cũng là một điểm mạnh và là yếu tố cơ bản hình thành cá tính thơ Hữu Thỉnh làm nên nét đặc sắc trong thơ anh (…) Vốn kiến thức phong phú này làm thơ Hữu Thỉnh thêm giàu

duy, cách liên tưởng độc đáo ở một âm hưởng xa xôi khó nhận biết Phải chăng sự ảnh hưởng đó là nguyên nhân khiến cho Hữu Thỉnh có được những câu thơ hay, mới lạ trong

di ễn đạt, bất ngờ trong cảm xúc?” [156]

Ở một chỗ khác trong bài viết này, người viết cũng nói thêm điểm mạnh của nhà

thơ: “Mặc dù vậy, ta vẫn có cảm giác Hữu Thỉnh là cây bút có kĩ thuật và ít khi vội vàng

[156] Hay: “dù vi ết ở nhiều thể loại khác nhau nhưng phẩm chất thơ Hữu Thỉnh là đằm thắm, hồn hậu, nghiêng về phía rợp mát Cái chìm đắm yêu thương lấn át cái ồn ào sôi

Trang 18

s ục Với thơ anh, người đọc cảm nhận ít khi qua khâu suy xét, nghĩ ngợi, có thể hiểu ngay

và rung động với tâm tình của tác giả” [156]

Trong bài viết “Thư mùa đông của Hữu Thỉnh” [52] , Trần Mạnh Hảo đã đưa ra những biểu hiện về sở trường và phong cách thơ Hữu Thỉnh:

“Đâu phải cứ viết nhiều là dễ lan man, còn cứ viết ngắn thì dễ hay cô đọng Hữu Thỉnh có khả năng làm ngược lại điều đó” [52];“…Chữ nghĩa của ông khá chừng mực

Do đó thơ ông ở bề sâu về thực chất có thể thoát được “tản mạn, tràn lan”” [52]; “Hữu

thưởng ngoạn cái vui và ngược lại”; “thực ra Hữu Thỉnh là nhà thơ của niềm cô đơn…Cái vui của Hữu Thỉnh cũng là là cái vui hụt, âm bản của nỗi buồn…Khi đụng tới

Lí Hoài Thu cũng góp thêm cách đánh giá, khám phá riêng của mình về thơ Hữu Thỉnh trong bài viết “Thơ Hữu Thỉnh, một hướng tìm tòi và sáng tạo từ dân tộc đến hiện

đại” [160] Tác giả đã có những đánh giá vô cùng quan trọng về một số thủ pháp nghệ

thuật đặc trưng của thơ Hữu Thỉnh

Thứ nhất: sự ảnh hưởng của văn học và văn hóa dân gian: “Dù viết về chiến tranh

[160] Theo tác giả, thơ Hữu Thỉnh chủ yếu vận dụng từ văn hóa và văn học dân gian ở các nguồn sau: cảm hứng dân ca, sử dụng lại nguyên mẫu những câu ca dao (theo hướng tương đồng tương tác hay tương phản, đối lập) Nhưng điều đó không hề tương đương

với một sự biên soạn giản đơn mà chúng ta có thể bắt gặp trơng thơ Hữu Thỉnh: “Hữu

Th ỉnh vừa rất có ý thức trong việc đi sâu khai thác cái hay cái đẹp của dân gian, dân tộc,

thơ ca dân gian, Hữu Thỉnh tiếp nhận tư tưởng nhân văn, niềm cảm thông với từng số

c ủa tâm trạng” [160]

Trang 19

Lí Hoài Thu cũng phát hiện một yếu tố rất đáng lưu tâm về phương diện nghệ thuật của thơ Hữu Thỉnh: “Một trong những tiềm năng của hồn thơ Hữu Thỉnh là sự nhạy cảm

c ủa trực giác” [160] Người viết cho rằng : “Sự kết hợp giữa cái vô hình và cái hữu hình, cái c ụ thể và cái trừu tượng không còn là thao tác xa lạ đối với thơ hiện đại Điều quan

ra thuần thạo và có nhiều thành công trên phương diện này” [160].Và “đây chính là một đặc điểm thi pháp nổi trội, một ưu thế của thơ Hữu Thỉnh” [160]

Thơ Hữu Thỉnh, theo Lí Hoài Thu, có sự kết hợp với tần số rất cao giữa cái hữu hình và cái vô hình mà xét từ phương diện sinh thành, ảo giác chính là bà mẹ đẻ của nó

Từ đó, tác giả cho rằng: “Ảo giác cũng là một trong những nét tiêu biểu của bút pháp tạo

hình thơ Hữu Thỉnh” [160] Tác giả cũng nêu lên đặc điểm của yếu tố ảo giác trong thơ

Hữu Thỉnh: “Ảo giác trong thơ Hữu Thỉnh là sự thể hiện tư chất lành mạnh, trong sáng

c ủa thơ” Và “dù viết về thiên nhiên, không gian chiến tranh hay tình yêu, thơ Hữu Thỉnh luôn luôn là s ự kết hợp giữa cái thực và cái ảo, giữa vật thể và tâm tưởng” [160]

Tóm lại, về đặc trưng nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh, Lí Hoài Thu cho rằng: “Thơ anh

có s ự kết hợp giữa phẩm chất dân tộc và tính hiện đại, giữa chiều sâu triết lí và xúc cảm tràn trào, gi ữa hiền hòa lắng đọng và mãnh liệt sục sôi” [160]

Đỗ Quang Vinh cũng có nhận xét tương tự với Lưu Khánh Thơ về phong cách phong cách nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh: “Vẫn là sự quan sát cực kỳ tinh tế như thường

hình m ột phong cách thơ dân tộc - hiện đại” [171].

Trong bài viết “Hữu Thỉnh và quá trình tự đổi mới thơ” [30], Nguyễn Đăng Điệp

còn chú ý đến tính triết lí và sự đan xen của yếu tố thực và ảo trong thơ Hữu Thỉnh Ông cho rằng: “Triết lí trong thơ Hữu Thỉnh nhiều khi xuất phát từ những chi tiết rất nhỏ

hèn, hung bạo…” [30] Bên cạnh đó, người viết cũng trình bày cách đánh giá của mình

về sự đan xen của các yếu tố thực và ảo trong thơ Hữu Thỉnh: “Đưa thơ về phía ảo, hình

Trang 20

tượng thơ sẽ lấp lánh vẻ đẹp của những giấc mơ Đó cũng là một thủ pháp mà Hữu Thỉnh thường xuyên sử dụng” [30]

Nhưng Hữu Thỉnh không chỉ được biết đến như một nhà thơ của các yếu tố ảo mà còn, theo Nguyễn Đăng Điệp, là nhà thơ của những tứ thơ lạ: “Thơ Hữu Thỉnh không gây

ấn tượng theo kiểu Lê Đạt trong “Bóng chữ” hay Nguyễn Quang Thiều trong “Sự mất ngủ của lửa” Hữu Thỉnh là nhà thơ mạnh về tứ Không chỉ nhuần nhuyễn trong việc lập

[30]

Bên cạnh đó, tác giả cũng đã góp phần lí giải nguyên nhân của sự thành công của Hữu Thỉnh trên con đường đổi mới thơ của mình: “Nguyên nhân ấy nằm trong cái ăng-

Thanh Thảo cũng bắt gặp hơi hướng ca dao trong tập thơ này của Hữu Thỉnh

Nhưng điều quan trọng hơn, ông đã nhận diện được cái tạng thơ của nhà thơ này: “Có lẽ,

nhưng nặng trĩu nỗi đời” [140] Và theo cảm quan của Thanh Thảo, sở dĩ, thơ Hữu Thỉnh

có thể băng qua sự khắc khe của thị hiếu thẩm mỹ và có sức trụ lại được trong lòng bạn

đọc là nhờ sự có mặt của phẩm chất dân dã, mộc mạc ấy: “Những bài thơ của Hữu Thỉnh

“găm” được vào lòng người đọc, thường là những bài thơ giản dị chân tình như vậy, chứ

Thanh Thảo cũng chỉ ra được cái mạch ngầm thao túng hồn thơ Hữu Thỉnh, nơi nhà thơ có thể vượt lên trên số phận để có thể viết những dòng tâm huyết của đời mình:

Lê Thị Bích Hồng trong bài viết Vài kỉ niệm với nhà thơ chống Mỹ Phạm Tiến

Duật [59] đã dẫn lại những suy nghĩ của nhà thơ Phạm Tiến Duật về phong cách thơ

Hữu Thỉnh Theo đó, Phạm Tiến Duật cho rằng: “Anh nói thơ Hữu Thỉnh có cách nói

Trang 21

giản dị, tự nhiên của đời sống chiến trường, sự tinh tế về cảm giác, một thế giới đa sắc màu của thiên nhiên vùng đồng bằng Bắc Bộ (…) Từ trong cội nguồn dân tộc, hành trình thơ Hữu Thỉnh đi tìm “Mẫu số chung của sự đồng cảm” Vì thế, thơ anh ấy có sự kết hợp giữa phẩm chất dân tộc và tính hiện đại, giữa chiều sâu triết lý và độ cảm xúc, giữa sự hiền hòa lắng đọng và mãnh liệt, giữa khả năng kéo dài và thu hẹp dung lượng phản ánh (trường ca dài và trữ tình ngắn)” [59]

Mai Quốc Liên trong một bài viết khá ngắn đăng trên tạp chí Hồn Việt cũng đã có những nhận xét đáng chú ý về phong cách thơ Hữu Thỉnh Tác giả đặc biệt lưu ý phẩm chất tinh tế cùng phong thái ít nhiều nữ tính của thơ Hữu Thỉnh: “Trong các thi sĩ thời

nay, hiếm có người nào có thể có sự tinh tế trong thơ như Hữu Thỉnh Kể cả các nhà thơ

nữ là những người sở trường về điểm này Đôi lúc, chúng ta thấy thơ Hữu Thỉnh quá

“Đường đời, đường thơ Hữu Thỉnh” [18] cũng là bài viết rất có giá trị của Anh

Chi Trong bài viết khá công phu này, tác giả đã trình bày một cách có hệ thống những đánh giá của mình về gần như toàn bộ sự nghiệp thơ ca của Hữu Thỉnh về trường ca cũng

như thơ Về hai tập thơ Thư mùa đông và Thương lượng với thời gian, bên cạnh việc

nhận xét phương diện nội dung, tác giả còn bộc bạch một cách nghĩ, cách đánh giá riêng của mình về phong cách thơ Hữu Thỉnh Theo Anh Chi, điều đáng lưu ý nhất trong phong cách thơ Hữu Thỉnh là phong cách mộng mơ gắn liền với nhận thức Điều này không phải đợi đến Thư mùa đông hay Thương lượng với thời gian, mà ngay trong những trường ca của mình, đặc điểm này đã để lại những dấu ấn nhất định So với giai

đoạn sáng tác trước, từ Thư mùa đông trở về sau, “Hữu Thỉnh vẫn là một thi sĩ thật giàu

mơ mộng, cũng như thời anh ở chiến trường bom đạn bời bời vẫn cứ mơ mộng (…) Thơ

“sau t ất cả mộng mơ, nhà thơ nhận biết một bài học cuộc sống” [18] Đến Thương lượng với thời gian, cái chất mộng mơ ấy vẫn đứng vững: “Hữu Thỉnh càng tỏ rõ cái cá

bên cạnh phẩm chất mộng mơ gắn liền với nhận thức, thơ Hữu Thỉnh còn sở hữu một nét

Trang 22

đáng chú ý về mặt ngôn ngữ: “Thơ Hữu Thỉnh, ngoài phẩm chất độc đáo là mộng mơ để

đạt tới những nhận thức cuộc sống, như chúng tôi có nói đến ở trên, còn những phẩm

ch ất khác nữa Đó là sự kiệm lời” [18]

- Về mặt hạn chế của nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh

Trong “Thư mùa đông của Hữu Thỉnh” [52], Trần Mạnh Hảo đã nêu ra hạn chế

của phong cách thơ Hữu Thỉnh: “Một số bài thơ trong “Thư mùa đông”, rõ ràng Hữu

tha thi ết, cô đơn, nghĩa là đi ra khỏi sở trường năm phần trăm ruộng cá thể của mình, thế

lan man, dễ dãi…Đôi khi không làm chủ được ngòi bút, ông đã sa vào sáo cũ.” [52]

Thanh Thảo cũng có sự đánh giá của mình về những mặt mạnh và yếu của Hữu Thỉnh trong tập “Thư mùa đông” Thanh Thảo cho rằng chính thói quen ưa rút ra kết luận, hay nói chính xác là những triết lí, đã tạo ra những ngăn trở khó chịu trong việc tiếp cận tư tưởng chủ đề của từng bài thơ Và điều đó, theo ông là những rào cản vô hình mà không phải bất cứ người đọc nào cũng có thể vượt qua, bất chấp sự làm việc tận tụy của trí hiểu [140]

Vũ Nho trong bài viết “Về tập Thương lượng với thời gian của Hữu Thỉnh” [106] cũng nhận xét: “Nếu cần phải kể nhược điểm của Hữu Thỉnh trong tập này thì có thể thấy

ra điệu đàng hoặc lủng củng” [106].

- Về mặt nội dung

Gần như cùng thời điểm của bài viết trên, Trịnh Thanh Sơn cũng có những cách

hiểu của mình về tập “Thư mùa đông” của Hữu Thỉnh qua bài viết “Nỗi cô đơn trong

Thư mùa đông” [117] Có thể nói, như tiêu đề của bài viết Trịnh Thanh Sơn, nỗi cô đơn

dường như là bạn đường của Hữu Thỉnh trong dưỡng đường cuộc đời Cô đơn đã quán xuyến tất cả từ mạch thơ đến hồn thơ: “Có thể nói, cả 36 bài thơ trong Thư mùa đông là

sự tiếp nối của một cô đơn dằng dặc” [117, 25] “Thơ Hữu Thỉnh luôn tự dằn vặt và toàn những dấu hỏi Anh khai thác tâm trạng bơ vơ ở nhiều cung bậc và nhiều khía cạnh, có

Trang 23

lúc làm người đọc phải rưng rưng nghẹn ngào” [117, 25-26] Và “Đằng sau nỗi chán chường và ngờ vực ấy, ta nhận ra tấm lòng nhân hậu, đằm thắm yêu thương của người thi sĩ muốn níu kéo để được sẻ chia, đôi khi mất bình tĩnh đến thành hốt hoảng” [117,

26]

Và đây là lời kết của tác giả bài viết về tập thơ trên: “Có thể nói Thư mùa đông

của Hữu Thỉnh đã được viết trong một cảm hứng về sự cô đơn của con người, nhất quán

viết về đồng quê: “Văn hóa nhà quê của Hữu Thỉnh khác với Nguyễn Bính mà gần với

Về mảng thơ tình của Hữu Thỉnh, Lí Hoài Thu cũng chỉ ra được những nét chủ yếu: “Thơ tình yêu của Hữu Thỉnh đã cảm hóa lòng người bởi dư vị cay đắng xót xa Anh

đặc biệt nhạy cảm trước sự đơn lẻ của cá thể tình yêu” [160]

Về tập Thương lượng với thời gian, Trần Đăng có những gợi ý bổ ích qua bài viết

tập thơ không gì khác hơn “sự tiếc nuối thời gian đã mất, hay đúng hơn là sự tự ý thức về

là quãng th ời gian của mấy mươi năm vật lộn với gian khó, trong đó có biết bao sự

"phản thùng, thớ lợ", biết bao cặn lắng của những oan khuất” [25] nên không ít khi Hữu

Thỉnh “bức bối ngột ngạt đến khó thở” Nhưng rõ ràng, đích đến của thi sĩ không hề có

Trang 24

dấu hiệu làm quen với nỗi bi quan thuần túy Tác giả “vẫn còn tin vào thời gian đang

ủng hộ ông, không phải để làm quan mà để tiếp tục làm thơ” bởi lẽ “bật ra được những câu thơ như thế là Hữu Thỉnh đã gặp được "một bàn tay", chưa chắc đã ấm áp nhưng đủ tin c ậy để có thể nắm chặt hơn mà không sợ "phản thùng" [25]

Trên báo Đại đoàn kết số ra ngày 26/08/2006, Vũ Nho cũng có những đánh giá về những thành công và hạn chế của tập Thương lượng với thời gian của Hữu Thỉnh qua bài viết “vài cảm nhận về tập thơ Thương lượng với thời gian của Hữu Thỉnh” [106] Theo tác giả, phần thứ nhất của tập thơ là “những trải nghiệm thế sự sau những va quệt, xây

xát được thể hiện khá đậm đặc và tập trung” được “nói ra một cách ào ạt và riết róng”

Và “N ếu có thể thấy điểm mới, sự khác biệt ở Hữu Thỉnh thì chính là mảng thơ trải nghiệm thế sự, những chiêm nghiệm về lẽ đời, thói đời, luật đời Có nhiều điều bức xúc,

Nhận định về thơ phần thứ hai, thơ tình Hữu Thỉnh, Vũ Nho cho rằng: “Thơ tình

nh ững điều trong tình yêu tưởng như đã cũ” [106]

Nguyễn Vũ Phượng Hoàng cũng có sự cảm nhận riêng của mình về tập Thương lượng với thời gian qua bài viết “Gặp nhà thơ trong tập thương lượng với thời gian” [57] Tác giả cho

rằng, qua tập thơ này, “Đối với nhà thơ Hữu Thỉnh, nhân loại và thời gian đang trở về trong thơ hiện đại, không phải bằng con đường xưa của vĩnh cửu, mà là từ những giá trị và những dự cảm

- cao thượng và đau khổ, kỳ vĩ và không hoàn hảo, đúng như nhân loại của thời mà chúng ta đang sống” [56] Tập thơ đã “phác thảo một tình trạng đáng buồn của hiện thực, thay vì tiếng thét, Thương lượng với thời gian đã đóng lên thập giá những miếng vá sống, với tinh thần và

thanh điệu hiện đại” [57]

Như vậy, các tác giả trên trong từng bài viết cụ thể của mình, đã đề cập đến thơ Hữu Thỉnh ở các khía cạnh: nghệ thuật (thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật; phương tiện tổ chức thế giới nghệ thuật: kết cấu, ngôn ngữ; giọng điệu: trầm lắng, mang tính triết lí; hình ảnh thơ: có sự đan xen, kết hợp giữa cái thực và ảo; cách tổ chức tứ thơ mới lạ …); nội dung: nỗi buồn, sự cô đơn, sự trăn trở suy tư về cuộc đời, thân phận con

Trang 25

người Có điều đáng lưu ý, ngoài hai công trình khá công phu, việc đánh giá những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh cũng chỉ thường trú trong khuôn khổ những bài phê bình ngắn Đó là chưa tính đến phạm vi nghiên cứu của các bài viết hay các công trình này hầu tập trung một cách cụ thể vào một tập thơ trữ tình ngắn hay trường ca hoặc gộp chung hai thể loại ấy lại trong mối nhiệt thành cụ thể Trong khi đó, vẫn chưa có một công trình nghiên cứu một cách có hệ thống về thế giới nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh qua tất cả những tập thơ trữ tình ngắn của ông

Do đó, với đề tài này, chúng tôi muốn phát triển thêm những gì đã được khám phá, tìm hiểu về thơ Hữu Thỉnh ở các phương diện trên, cũng như sẽ trình bày thêm cách nghĩ của mình về những biểu hiện chủ yếu nhất, đặc trưng nhất của nội dung và nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh Cụ thể là: sẽ đề cập đến những đặc trưng về nội dung và nghệ thuật trong cái nhìn toàn diện, bao quát tất cả những tập thơ của ông Về phương diện nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh, chúng tôi sẽ cố gắng khảo sát ở các góc độ: ngôn ngữ, giọng điệu, cấu tứ

4 Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn sẽ được viết với sự hỗ trợ của các phương pháp chủ yếu sau:

Phương pháp tổng hợp: luận văn sẽ hệ thống hoá các kiến đánh giá về thơ Hữu

Thỉnh đồng thời sử dụng một số kiến đánh giá đó trong quá trình phân tích tác phẩm

Phương pháp so sánh: để làm rõ một số vấn đề về nội dung hay nghệ thuật, chúng tôi sẽ vận dụng phương pháp so sánh, đặt nhà thơ Hữu Thỉnh bên cạnh những nhà thơ cùng thời với ông để tìm ra những nét riêng biệt của Hữu Thỉnh so với những nhà thơ này

Phương pháp lịch sử cụ thể: chúng tôi sẽ đặt thơ Hữu Thỉnh trong hoàn cảnh cụ thể

của nó (trước và sau chiến tranh) để thấy được sự tác động của hoàn cảnh vào thơ ông cũng như nhận diện được cảm quan lịch sử được tác giả phản ánh trong tác phẩm

Phương pháp phân tích tác phẩm: người viết sẽ vận dụng phương pháp này để làm

rõ những khía cạnh cụ thể nào đó về mặt nội dung hay nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh

Bên cạnh đó, luận văn cũng sẽ phối hợp nghiên cứu theo hướng thi pháp thi pháp

học để làm rõ những vấn đề về nghệ thuật của thơ Hữu Thỉnh

Trang 26

5.Nh ững đóng góp mới của luận văn:

Với đề tài này, chúng tôi sẽ cố gắng trình bày tất cả những đặc trưng về nội dung

và hình thức của toàn bộ sự nghiệp sáng tác của Hữu Thỉnh (tính đến thời điểm này, 2009), đưa ra những suy nghĩ của mình về thể loại thơ của tác giả Từ đó, hi vọng luận văn sẽ góp thêm một cái nhìn về sự nghiệp thơ của Hữu Thỉnh một cách đầy đủ và bao quát hơn qua tất cả những tập thơ trữ tình ngắn của tác giả

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn có 3 chương Chương 1: Cảm hứng nghệ thuật trong thơ Hữu Thỉnh

Chương này nghiên cứu những cảm hứng nghệ thuật nổi bật trong thơ Hữu Thỉnh bao gồm:

- Cảm hứng trữ tình

- Cảm hứng thế sự Chương 2: Hình tượng quê hương, đất nước và hình tượng con người trong thơ Hữu Thỉnh

Chương này chủ yếu nói về hình ảnh quê hương đất nước hình tượng con người trong thơ Hữu Thỉnh ở các khía cạnh sau:

- Hình tượng quê hương, đất nước: trong chiến tranh và sau chiến tranh

- Hình tượng con người:

+ Hình tượng người lính + Hình tượng người mẹ Chương 3: Nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh Chương này nghiên cứu một số khía cạnh nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh:

- Ngôn ngữ

- Giọng điệu

- Cấu tứ

Trang 27

CHƯƠNG 1: CẢM HỨNG NGHỆ THUẬT TRONG THƠ HỮU THỈNH

1.1.C ảm hứng nghệ thuật:

Cảm hứng nghệ thuật là trạng thái tâm lí, tình cảm bao trùm lên toàn bộ quá trình sáng tác của nhà văn nói riêng và người nghệ sĩ nói chung Đó là sự kết tinh, sự tập trung cao độ của trí tuệ, cảm xúc dồi dào và trạng thái hưng phấn để tạo thành sự kích thích, thôi thúc nhà văn không ngừng sáng tạo

Trong mỹ học và nghiên cứu văn học, khái niệm cảm hứng chủ đạo được hình

thành “v ới tư cách là một nhân tố tư tưởng nồng nhiệt trong sáng tạo nghệ thuật” Trong

hệ thống mỹ học, Hegel cho rằng cảm hứng chủ đạo là “trung tâm điểm”, là “vương

và chủ thể tiếp nhận nghệ thuật Hegel “xem nghệ thuật như sự miêu tả cảm tính các tư

tưởng, một hình thức chân lí tuyệt đối” Ông cũng cho rằng cảm hứng chủ đạo là biểu

hiện của tâm hồn người nghệ sĩ nhiệt thành xâm nhập vào bản chất của đối tượng, trở thành tương ứng với nó, gần như là xuyên suốt với nó Theo ông, cảm hứng chủ đạo cần

được xác tín là: “sản phẩm của tinh thần phong phú và hoàn thiện, một cá tính mà trong

đó tất cả những lực lượng bản thể phổ quát đều được thực hiện” [53, 208] “Cảm hứng

là s ức mạnh của tâm hồn được thể hiện trong chính nó, là nội dung chủ yếu của lí tính và

ý chí t ự do” [53, 208]

E G Ruđneva trong Dẫn luận nghiên cứu văn học quan niệm rằng: “Sự lí giải,

đánh giá sâu sắc và chân thực – lịch sử đối với các tính cách được miêu tả vốn nảy sinh

nhà văn và tác phẩm của nhà văn” [110, 141]

Bielinxki quan niệm về cảm hứng chủ đạo một cách cụ thể hơn: “Trong những tác

phẩm thơ ca đích thực, tư tưởng không phải là một khái niệm trừu tượng, được diễn tả

Bielinxki còn đề cao vai trò của việc nghiên cứu cảm hứng chủ đạo của nhà văn trong tác phẩm để tìm hiểu đặc điểm sáng tác của họ

Trang 28

Ở nước ta, vai trò của cảm hứng nghệ thuật trong sáng tạo thơ văn nói chung cũng

đã được chú ý từ rất lâu Khi bàn luận về làm thơ, Lê Quý Đôn xem khái niệm cảm hứng

như một trạng thái đong đầy của cảm xúc: “Trong lòng có cảm xúc thực sự, rung cảm

nên l ời” [39, 93]

Nguyễn Quýnh đề cao vai trò của “cái hứng” trong thơ: “Người như sông biển,

chữ như nước, hứng thì như gió, gió thổi từ sông biển cho nên nước lay động làm thành

nín được mà sinh ra ở trong lòng, ngâm vịnh ở ngoài miệng, viết nên ở bút nghiên, giấy

cái tuy ở phương Đông, Tây, Nam, Bắc mà buộc ra rất nhanh Người làm thơ không thể không có gió vậy” [39, 103]

Trong lí luận văn học và mỹ học hiện đại, thuật ngữ cảm hứng, cảm hứng chủ đạo được nhấn mạnh trong mối quan hệ biện chứng giữa văn học và hiện thực, giữa nhà văn

và người đọc Trong Từ điển thuật ngữ văn học, các tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử,

Nguyễn Khắc Phi cho rằng: “cảm hứng chủ đạo là trạng thái tình cảm mãnh liệt, say

đắm xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật gắn liền với một tư tưởng xác định, một sự đánh giá

nhất với đề tài, tư tưởng tác phẩm sẽ đem đến cho tác phẩm “một không khí xúc cảm tinh

trong tác ph ẩm [43, 39]

Thuật ngữ cảm hứng theo cách hiểu của Phùng Quý Nhâm là: “nhiệt hứng, niềm

say mê, là s ự trào dâng của tư tưởng – tình cảm cao độ của nghệ sĩ khi họ chiếm lĩnh bản

nghệ thuật là một ý kiến khó có thể nghi ngờ về tính thuyết phục, nhưng rõ ràng nó chưa làm lắng xuống cảm giác đợi chờ vào một xác minh cụ thể hơn về bản chất của vấn đề Ở một chỗ khác, Phùng Quý Nhâm đã lưu ý khá kĩ điều này: “Ở đây ta xem cảm hứng là

một thành tố quan trọng trong tác phẩm Cảm hứng trong tác phẩm văn học không chỉ là

Trang 29

n ội dung tình cảm mà đúng hơn là nội dung tư tưởng – tình cảm được thể hiện và biểu

Huỳnh Như Phương và Nguyễn Văn Hạnh trong Lí luận văn học- vấn đề và suy

nghĩ, cũng đã nhấn mạnh vai trò quyết định của cảm hứng chủ đạo đối với sự thành công

của tác phẩm: “Bộc lộ khuynh hướng tư tưởng của tác phẩm, cảm hứng chủ đạo thấm

nhuần vào toàn bộ cấu trúc của tác phẩm, vào thế giới hình tượng, bao gồm không gian,

th ời gian, tính cách nhân vật, vào xung đột và cốt truyện, vào ngôn từ và giọng điệu của

m ột bài thơ, một truyện ngắn, một thiên tùy bút hay một cuốn tiểu thuyết” [51, 210]

1.2 C ảm hứng nghệ thuật trong thơ Hữu Thỉnh:

1.2.1.C ảm hứng thế sự:

Bàn về văn học sau chiến tranh, Vũ Văn Sỹ cho rằng:

độ thẩm mĩ của người cầm bút đối với những giá trị tinh thần của

c ộng đồng, đối với các quan hệ thế sự là đặc biệt là đối với các giá trị

đặt lên hàng đầu thế giới nội cảm, sự trải nghiệm cuộc đời để khơi

[126, 100]

Vũ Tuấn Anh cũng nhìn nhận: “Nhìn chung, cái tôi hiện thực – thế sự biểu hiện

thái độ tích cực – xã hội của nhà thơ: sự phẫn nộ trước những cái phi lí, nỗi lo âu về sự

đau thế sự.” [2, 131]

Trong công trình “Cái tôi tr ữ tình trong thơ” [108], Lê Lưu Oanh đã chỉ ra một số

biểu hiện cụ thể đặc trưng nhất của khía cạnh cái tôi thế sự - đời tư Thứ nhất: “tôn trọng

Trang 30

đức nghệ sĩ được đặt ra âm thầm nhưng khá quyết liệt” [108, 80] Thứ ba: “Xuất hiện

[108, 81] Thứ tư: “Cảm nhận về trạng thái xã hội hiện tại với những khiếm khuyết, băng

con người” [108, 83]

Hữu Thỉnh là một trong những nhà thơ nằm trong xu hướng chung đó Thế nên không có gì quá ngạc nhiên khi chúng ta bắt gặp sự hiện hữu của cảm hứng này trong thơ ông Điều này vừa mang tính quy luật vừa dung chứa cảm quan của người nghệ sĩ trước cuộc sống

Theo sự quan sát của chúng tôi, cảm hứng thế sự trong thơ Hữu Thỉnh chủ yếu thể hiện ở hai khía cạnh: thân phận con người và những vấn đề thuộc về đạo đức xã hội

Nếu chúng ta đồng thuận với quan điểm trên của Lê Lưu Oanh và xem nó như hệ trục tọa độ để trình diễn những đường biến thiên của cảm hứng thế sự trong thơ Hữu Thỉnh, thì chúng ta, một cách khá dễ dàng, nhận ra rằng: cảm hứng thế sự chủ yếu nhất trong thơ Hữu Thỉnh nằm gọn trong đặc điểm thứ tư Điều này có nghĩa là những đặc điểm còn lại không có tiếng nói trong thơ ông Nói khác đi, nó nằm ngoài giềng mối quan tâm của nhà thơ

Trong những biểu hiện thành hình của cảm hứng thế sự trong thơ Hữu Thỉnh, chúng tôi nhận thấy thân phận con người là nét cảm hứng nổi bật nhất của thơ ông Và trong cái vựa nhỏ tận tụy của tâm hồn này, có những nỗi ám ảnh then chốt thường xuyên bật lên như những lò xo Đó là nỗi cô đơn và nỗi ám ảnh về thời gian

Thực ra vấn đề trăn trở về thân phận con người không hề mang phẩm chất xa lạ với

thơ ca đương thời: “Trong nỗi buồn và cô đơn của cái tôi cá nhân đương đại, có thể

xem đó như sự nhạy cảm trước mọi nỗi đau nhân thế, trước sự không hoàn thiện của

hạnh phúc, sự đồng cảm và tình người…” [2, 135]

Và điều này gần như đã trở thành chủ đề quen thuộc của thơ ca giai đoạn sau 1975

Trang 31

Vũ Tuấn Anh cũng cho rằng: “Nỗi buồn và sự cô đơn trở thành những chủ đề thể

hi ện đậm nét nhất trong thơ” [2, 130]

Về khía cạnh nỗi buồn, cô đơn trong thơ giai đoạn 1975 – 2000, Lê Lưu Oanh cũng nhận xét:

và nỗi buồn, hai dấu hiệu của một triết học bi kịch về con người…Niềm cô đơn và nỗi buồn vừa gắn với sự tan vỡ của giấc mơ,

giá tr ị đời sống không gì ngăn cản nổi, vừa gắn với sự tự ý thức về cái khó chia sẻ, là dấu hiệu của sự tự cắt đứt mối dây liên hệ đời sống khi một mình đối diện với những nỗi đau, đặc biệt là nỗi đau tinh thần”

[108, 98]

Như vậy, về phương diện này, Hữu Thỉnh không hề vô can với dòng chảy chính của nền thi ca giai đoạn sau 1975 Hai khía cạnh nỗi buồn và cô đơn là thứ rượu mạnh được chưng cất một cách công phu từ những cây nho hay hạt gạo đầy nhân bản của tâm hồn nhà thơ

Trước hết là nỗi buồn, nỗi cô đơn

Nhận xét về tập Thư mùa đông của Hữu Thỉnh, Trần Mạnh Hảo cho rằng: “Khi

đụng tới nỗi buồn, nỗi đau, niềm hiu quạnh của kiếp người, Hữu Thỉnh thường có thơ hay” [52]

Đó là nỗi đau tột cùng khi nhà thơ đi viếng mộ anh trai mình: “Em đã qua những

cơn sốt anh qua/ Em đã gặp những trận mưa anh từng gặp/ Vẫn không ngờ có một trưa

Suy tư không ngớt về thân phận con người đã đem đến cho Hữu Thỉnh những dòng

thơ chứa đầy tâm trạng đau buồn: “Tôi ngồi buồn như lá sen rách…Tôi ngồi buồn đếm

người triết nhân cũng không có giải pháp sáng sủa nào hơn Sự phân chất nỗi buồn trong nhiều trường hợp chỉ đem lại sự phản hồi bằng những thông điệp “vô thanh” mang màu

Trang 32

sắc “oan nghiệt”: “Tôi ngồi nhặt sỏi đếm buồn/ Gió đi tìm khói chon von mấy đồi/ Mây

Kí tức tuổi thơ với những “cánh diều để chỏm”, những “quân bài tam cúc” trong tâm thức Hữu Thỉnh cũng không có gì lạc quan trong cái nhìn hồi ức của ông: “Bánh đa

người với người là tất yếu trong mọi xã hội Thế nhưng, chợ trong cái nhìn của nhà thơ chẳng qua là môi trường để trao đổi nỗi buồn của con người: “Mẹ ơi mây héo con xin mẹ/

mua được buồn hơn”

Như vậy, nỗi buồn trong thơ Hữu Thỉnh không đơn thuần là tâm trạng thoáng qua, không phải là kết quả vu vơ của như một “mốt” của tâm hồn; mà là những hệ lụy tất yếu của những hụt hẫng về tinh thần trước những trăn trở không nguôi về số phận và thân phận của con người Ta thấy ở đây sự thiếu vắng đến rợn ngợp đối tượng để nhà thơ có thể chia sẻ, giãi bày tâm trạng Và đó là nguyên cớ lí tưởng để đưa tâm trạng này đến gần hơn với bến bờ của nỗi cô đơn

Con người cô đơn phải đối mặt một cách thường xuyên trước những thay đổi của các giá trị cuộc sống Những từ ngữ chưa từng thấy trong thơ Hữu Thỉnh giai đoạn trước

đã xuất hiện như những nhân chứng tin cậy cho sự chuyển biến trong cách nhìn nhận thế

giới khách quan và con người Điều này mang phẩm chất của một sự giải thiêng, hay trần tục hóa những giá trị từng được ca ngợi trước kia Suồng sã hơn, bình dị hơn dẫu rằng có phần xót xa hơn: kỷ niệm bị đem bán, chợ đen, lừa đảo, hợp đồng hai chiều, gian dối, vùi

Ngay bài mở đầu tập Thư mùa đông, cảm giác cô đơn đã manh nha như một khúc

dạo đầu đầy tâm sự: “Tôi ấy mà những chiếc cốc vô danh…Tôi ấy mà cánh diều nhỏ cô

đơn…Tôi ấy mà một cuống rạ bơ vơ” (Lời thưa); “Cô đơn đầy đường không ai thèm

Nhà nghiên cứu Trịnh Thanh Sơn đã có nhận xét rất đáng lưu tâm về sự cô đơn trong tập Thư mùa đông của Hữu Thỉnh:

Trang 33

“Có th ể nói, cả 36 bài thơ trong Thư mùa đông là sự tiếp nối của một nỗi

cô đơn dằng dặc” [117, 25] “Thơ Hữu Thỉnh luôn tự dằn vặt và toàn những

“Đằng sau nỗi chán chường và ngờ vực ấy, ta nhận ra tấm lòng nhân hậu, đằm thắm yêu thương của người thi sĩ muốn níu kéo để được sẻ chia, đôi khi

m ất bình tĩnh đến thành hốt hoảng” [117, 26]

30]

“Tự mình là cả núi non

(Trước tượng Bayon)

Lúc bị “trượt chân” trên trường vào thành phố, Hữu Thỉnh đi cùng với “vết sẹo” của cuộc đời Khi “đi dưới cây”, phận người cũng không thoát khỏi sự thao túng đó:

“Cô đơn đầy đường không ai thèm nhặt Ngõ đứng trông người”

(Đi dưới cây)

Nguyễn Đăng Điệp đã rất có lí khi ông cho rằng:

suy tư về cõi thế phải được lắng/lọc lại trong cô đơn, cái giây phút một mình đối diện với nhịp thở của trang giấy, tiếng cựa mình của cây bút trên tay

[30]

Và một điều rất dễ hiểu, cảm giác cô đơn này được chuyển tải nằng nhiều màu sắc

và cung bậc khác nhau của tâm trạng Chính liều lượng và sự đậm đặc của cảm giác chia nhỏ ấy góp phần tham gia vào việc hình thành phản ứng tráng gương trong tâm tư của nhân vật trữ tình

Trang 34

Trong Thư mùa đông, nỗi cô đơn gần như là một biểu tượng thất truyền được giải

mã và phanh phui một cách thống thiết

Đó là cảm giác bơ vơ, lặng lẽ: cô đơn giữa trời, côi cút dưới bầu trời, lặng lẽ lo

âu, đám cưới đi qua có người đứng khóc, nắng nôi một mình, lặng lẽ bước dưới cây,…

Con người luôn luôn cảm thấy cảm giác bị nô dịch dưới sức mạnh của trạng thái bị động:

Bị đám gai của hoa hồng xua đuổi, bị lột trần trơ trẽn, ngã vì roi mơ mộng, bị rủa chết

đi, mong tàn tật, mong mồ côi,…Sự rợn ngợp, thảng thốt luôn bủa vây lấy con người như

những dây leo sống kí sinh một cách thực thụ: nhớn nhát đi tìm người, Cá quẫy lòng ao

cũng giật mình, Đá đang rợn ngợp trước tôi, Con người cô đơn thường xuyên tự ví von

mình với thiên nhiên như một cố gắng tuyệt vọng để an ủi số phận: hay héo như cây, hay

buồn như nước, cuống rạ bơ vơ, mảnh đời lấm láp, chiếc cốc vô danh, cánh diều nhỏ cô đơn, khúc ca buồn,… Sự xuất hiện của các từ gợi lên cảm giác đau đớn, day dứt, chông

chênh một mặt là những dấu hiệu chăm chỉ của sự tự bạch, tự nhận thức của chủ thể, mặt khác nó càng làm giàu có thêm bộ sưu tập của nỗi cô đơn: để quên, mưa ẩm cả hồn, ngồi

bu ồn, gạt cỏ bước lên, đi trên gai, chết, tan nát, nhẹ dạ, cả tin, nhọc nhằn, nghiêng ngả, trượt chân, gọi tàn cơn mưa, xót xa thầm, muối xót ở trong tôi, oan khuất, đắng cay, than

th ở,…

Cảm thức cô đơn đã không những xâm chiếm và làm chủ tâm trạng của nhân vật

trữ tình trong sự tự nhận thức bản thân mà còn chi phối cả việc nhận thức thế giới Đây

cũng là điều mà Nguyễn Nguyên Tản nhìn thấy được: “Quan niệm con người cô đơn đã

56] Và như những môi giới đáng tin cậy, chúng ta có thể dẫn ra những dấu hiệu của cảm giác này Đó có thể là những hình ảnh phát ngôn cho sự đổi thay: Trời đang chớp gió,

mây đen đi đóng cửa trời, ba bẩy tấm gươmg mờ/ Với bao nhiêu lối quặt, Tôi ngồi gọi tên

đầy đường không ai thèm nhặt, ruộng không mùa, cây mất lá, chùa lạc chuông,…Hay sự

không trọn vẹn, luôn bị thách thức bởi sự hủy hoại: bóng mát bị trả thù, tiếng chim tan

Trang 35

v ỡ, đá chen hết người, cánh đồng xác xơ vì mưa đá, mảnh trời chiều không bớt gắt, nắng

trong lá mơ hồ,…

Cảm thức cô đơn là kết quả âm tính của sự khác khao được giãi bày, chia sẻ tâm

tư, tình cảm với những tri âm, tri kỷ; hay nói đúng hơn là một phương trình vô nghiệm của con người đồng cảm trong thơ Hữu Thỉnh Đây cũng là điều mà Nguyễn Nguyên Tản

đã nhận thấy được khi khám phá khía cạnh này: “Con người cô đơn trong thơ Hữu Thỉnh

hơn Bởi như đã nêu ở trên, anh vốn là con người của khát vọng được đồng cảm, cháy bỏng da diết, bức xúc” [130, 53]

Đến “Thương lượng với thời gian”, cảm thức này vẫn tồn tại bên cạnh cảm thức

chủ đạo: cảm thức về thời gian Điều này dẫn đến một hệ quả tất yếu: không gian vũ trụ

đã trở nên nhòe đi để nhường lãnh địa cho sức mạnh của thời gian Trong đó, rõ rệt nhất

là hình tượng của thiên nhiên (đặc biệt là hình tượng cây) Không gian vũ trụ không còn

là dấu ấn nổi bật, mặc dù vẫn xuất hiện ở một số câu thơ (và những câu thơ này hầu hết nằm trong lãnh địa của các bài thơ tình): Có một mình so chỉ/ Khâu lành cho không gian

Nhân vật trữ tình có lúc đã thú nhận nguyên do của nỗi niềm:

người gần như rơi vào tình trạng tuyệt vọng: “Đi qua nhiều mũ áo/ Tìm kiếm một bàn

tay” (Bu ổi sáng thức dậy)

Hữu Thỉnh khao khát sự bình yên cho tâm hồn, nhưng mong mỏi này dường như

cũng bị đánh chặn lại ngay từ những bước chân đầu tiên của nó “Nhà thơ viết về sự bình

Trang 36

yên b ằng cái không bình yên, lúc nào cũng thảng thốt, đi tìm một cái gì đại loại như dĩ vãng, đại loại như tương lai, đại loại như chính mình” [52] Nỗi cô đơn trong Thương lượng với thời gian đôi khi được diễn đạt bằng nhiều trạng thái im lặng của nhân vật trữ

tình:“Nh ững chùm quả bình yên/ Rơi xuống triền núi vắng/ Trời muốn nói câu gì/ Ngó ta

Ngay trong cả tình yêu, nỗi cô đơn cũng hết sức bền bỉ

Trong 36 bài của tập Thư mùa đông có 10 bài thơ tình (Tám câu, Em, Thơ viết ở

em ơi, Tự thú) và “hầu hết các bài thơ tình của Hữu Thỉnh thời kì này mang sắc thái tình cảm đau đớn, mất mát, chông chênh, nhớ thương, li biệt, ít thấy sắc thái hòa hợp, đồng cảm, mặn nồng Âm hưởng chung là buồn lặng Sự xa cách là mô – típ phổ biến (hầu như bài nào cũng diễn đạt tình yêu trong xa cách), nhân vật trữ tình thường ở trạng thái cô đơn” [130, 58]

Trong Thư mùa đông: Xuân về chưa đủ lá/ Mưa ẩm cả hồn anh (Tám câu); Vắng

Sơn); Đã biết em cách trở/ Cớ gì còn đa mang (Chăn – đa em ơi),…

Trong Thương lượng với thời gian: Một đầu ghế bỏ không/ Quay về vùng cách

Tuy nhiên, có một điều khá rõ ràng, không phải Hữu Thỉnh là nhà thơ được biết đến như thi sĩ của nỗi cô đơn Đó là một phán đoán mang tính chắc chắn Trong nền văn học Việt Nam, có không ít các nhà thơ đã bày tỏ tâm trạng đó trong thơ của mình

Mỗi thời đại mang cho mình những quan điểm nghệ thuật và những tư duy thơ khác nhau Do đó, dù cùng phản ánh một vấn đề, mỗi giai đoạn có một cách biểu hiện riêng cho mình mà qua đó người ta, giống như những nhà khảo cổ học, có thể dựng lại cả đời sống tinh thần của một thời đại bằng những mảnh vỡ tin cậy

Nhận định về sự khác nhau cơ bản về chất giữa nỗi buồn, nỗi cô đơn trong thơ giai đoạn 1975 – 2000 so với thơ ca trung đại và Thơ mới, Lê Lưu Oanh cho rằng:

Trang 37

“Trước đây, cái buồn bao trùm thế giới, con người chỉ là một tế bào của thế

quay lưng với hiện thực mang tính khinh bạc, phỉ báng, chửi bới hoặc lạnh

l ẽo, hắt hiu Hiện nay, hai trạng thái đó không hoàn toàn bế tắc, xa rời hiện

tách ra để suy ngẫm nên cô đơn Con người hiểu vì sao tồn tại các bi kịch cá nhân, bi kịch xã hội cho nên buồn” [108, ]

Trong thơ Việt Nam sau 1975, cảm giác cô đơn đã được xác lập lại theo những cung bậc khác Đặc biệt sau thời kì đổi mới, tâm trạng này dường như thức dậy một cách mạnh mẽ hơn bao giờ hết Nó đã thoát khỏi tù ngục cấm kị trước đó để trở thành một tâm trạng mang tính phổ biến cao trong thơ ca giai đoạn đương thời

Đọc thơ giai đoạn 1975 – 2000, chúng ta không lạ gì những cảnh huống nhân vật trữ tình đối diện với chính mình trong nỗi cô đơn Tập Một chấm xanh của Phùng Khắc Bắc là một minh chứng sáng sủa cho điều này

văn minh”, tưởng trái đất vừa có triệu trái bom H nổ” Lạc giữa đống xác đồng đội và kẻ thù, với “những cây súng ngỗn ngang đang nằm hối hận”

rơi vào nắp quan tài lục bục làm ta bừng tỉnh giữa đời”) [45, 498]

Cũng khắc họa nỗi buồn, nỗi cô đơn, nhưng khía cạnh này trong Một chấm xanh

là “n ỗi buồn, nỗi cô đơn của con người lịch sử trong buổi đầu non nớt, tách khỏi sự bao cấp của cộng đồng” [45, 498] Trong khi đó, dường như đây không phải là nguyên cớ

Trang 38

sâu xa giải thích sự có mặt của cảm giác này trong thơ Hữu Thỉnh Nỗi buồn, nỗi cô đơn trong thơ Hữu Thỉnh không xuất thân từ những biến đổi về mặt tinh thần trên giác độ lịch

sử mà thoát thai từ độ lệch của cảm quan về tinh thần xã hội

Như vậy, xét về nguồn gốc, nỗi cô đơn trong thơ Hữu Thỉnh không khác xa mấy cảm giác ấy trong thơ ca giai đoạn từ sau 1975 đến nay Nó vẫn có hành trạng từ những mặc cảm không được đáp ứng, thỏa mãn trong các khía cạnh: tình yêu, tình đời, tình người…Nhưng có điều đáng ghi nhớ nhất ở Hữu Thỉnh là gần như, cảm giác này thường trực trong thơ ông một cách tận tụy Nó đã vượt khỏi khuôn khổ của những nỗi niềm mang phong cách thoáng qua hay đơn giản chỉ là một khía cạnh sơ đẳng của tâm lí con người nói chung để chạm đến bến bờ của tâm trạng mang tính chất ám ảnh

Đặc điểm thứ hai trong cảm hứng thế sự trong thơ Hữu Thỉnh là sự trăn trở, suy tư trước những thăng trầm của cuộc đời, của lòng người; của đạo đức xã hội… Nói một cách ngắn gọn đó là những biểu hiện của thể tài đạo đức thế sự Những biến đổi khôn lường của cuộc sống đã khắc sâu vào tâm trí của nhà thơ những dấu chỉ sâu đậm đến nỗi

nó đã sản sinh trong ông nhu cầu bộc bạch khó lòng cưỡng lại

Thơ ca giai đoạn từ 1975 – 2000 đã đánh dấu bước chuyển mình đáng lưu ý của thể loại thơ này Đó cũng là điều mà Phạm Quốc Ca thấy được:

“Khi cu ộc sống trở lại bình thường thơ trữ tình thế sự lại có mặt Nhìn chung th ể tài này chỉ phát triển trong nền văn học phi sử thi hóa, không còn

V ới thể tài thế sự, trong thơ sau 1975 đã hình thành một dòng thơ hiện thực

n ền văn học, nghệ thuật đổi mới” [15, 51]

Lê Lưu Oanh cũng chỉ ra những đặc điểm cơ bản của cảm hứng này trong thơ giai đoạn 1975 – 2000:

băng hoại về môi trường và nhân cách…Trạng thái xã hội ấy được trình bày qua những nỗi bất hạnh của con người mà sức mạnh và chiều sâu trữ tình đạt được nhờ bộc lộ những sự thật tàn nhẫn: thua thiệt, khổ sở, nghèo đói,

Trang 39

mòn m ỏi, bất công, chạy trốn quá khứ, xa lánh cội nguồn, suy thoái đạo đức,

mơ ước lụi tàn, tài năng rơi rụng…” [108, 62]

Như vậy, sự trăn trở về những vấn đề: đạo đức xã hội, tình người, tình đời trong thơ Hữu Thỉnh là sự tiếp nối dễ hiểu của thơ ca truyền thống và là một giọng điệu trong rất nhiều giọng điệu của thơ ca hiện đại Việt Nam giai đoạn từ sau 1975

Tiếp xúc với thơ Hữu Thỉnh, chúng tôi cho rằng: trong cảm quan về trạng thái tinh thần xã hội, Hữu Thỉnh đặc biệt chú tâm đến vấn đề băng hoại về nhân cách, đạo đức của

con người Nói chính xác hơn “mô – típ chủ đề nổi bật trong thơ trữ tình thế sự là quan

nổi bật trong cảm hứng thế sự của thơ Hữu Thỉnh

Thói thường của cuộc đời, sự vô tâm, vô cảm của con người đã để lại trong tiềm thức nhà thơ những dấu hỏi lớn Nó như những vực sâu địa ngục của trái tim, những cái giếng sâu nhất mà bàn tay con người đã từng đào trong địa ngục tình cảm Hữu Thỉnh cũng như bao nhà thơ khác bằng lòng với việc phản ánh những vết xước đó bằng ống kính trần tục Và trong chuỗi phản ứng nhiệt thành này, những thứ chất lỏng màu xám của tinh thần đã kết tủa lại trong một dạng thù hình duy nhất, như là bằng chứng sinh động của sự đổi thay của các giá trị tinh thần Đó là sự thắc mắc khôn nguôi và khắc khoải về tình người hay nói đúng hơn là mối quan hệ giữa người với người:

“Tôi h ỏi người:

(H ỏi)

Hay đạo đức của xã hội:

(T ạp cảm)

Sự xuống cấp của đạo đức xã hội trước sức mạnh ru vỗ của cuộc sống kim tiền đã làm tê liệt lòng trắc ẩn của con người Những gì là chuẩn mực của truyền thống đều có mùi cửa sổ, những cái mới trổi lên như một sự ngạo nghễ khó chịu mà chúng ta phải chấp nhận Con người phải trải qua những cơn chóng mặt dịu dàng của sự sụp đổ tinh thần và

Trang 40

không ngớt cảm thấy “bất hạnh” ngay trong hạnh phúc nhỏ nhoi của mình Nhân nghĩa

mất mùa, luật nhân quả thì an phận trong cái nôi ngoài mong đợi của nó:

ng ủ gật trên b ậc cửa”

(Bất hạnh)

Không những thế, “đường nhân quả” trong niềm tin của Hữu Thỉnh nhiều lúc đã

sa sầm vào bến bờ nhiêu khê, trắc trở Không dễ để “người yêu người sống để yêu nhau” bao giờ Người ta hoàn toàn có thể trông đợi vào những chuyển biến tích cực nào đó, nơi

mà tình người sống trở lại với vị thế hàng đầu, chứ không thể, một cách dễ dàng, nhìn thấy sự viên mãn của đạo đức xã hội ngay trong ý chí chủ quan của mình Trong bài

“Đường nhân nghĩa chừng nào còn lắm bụi Anh hi ểu vì sao tôi ít lời”

Sự nhạt nhẽo đến mức vô tâm, lạnh lùng của tình người đôi lúc khiến Hữu Thỉnh đau xót Thay vì nâng đỡ nhau lên từ những vấp ngã, những thất bại trên đường đời, con người lại cảm thấy vô cùng hạnh phúc và thảnh thơi khi nhìn vào thất bại của tha nhân Với họ, đau khổ của người khác là hạnh phúc sâu sắc nhất của mình Sự lạnh nhạt này là ranh giới vô hình cầm tù mọi mối liên hệ mang tính nhân văn mà con người vẫn thường

hay khát khao vươn tới: “Gập ghềnh đường tôi đi/ Không một ai ngó tới/ Bỗng nhiên họ

vào thành ph ố)

Trong cảm quan của Hữu Thỉnh, những biểu hiện trên không hoàn toàn là những

hiện tượng bất chợt mang tính lẻ loi mà gần như, một cách tuyệt đối và chắc chắn, đã trở thành một quy luật phổ biến của xã hội Lấy suy nghĩ của loài cây vô tri giác, Hữu Thỉnh

đã nói lên sự khắc nghiệt của tình đời:

“Bão tr ời ta coi khinh Bão người không chịu nổi”

(Một thoáng làm người)

Ngày đăng: 19/02/2014, 10:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w