1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thế giới nghệ thuật thơ hữu thỉnh

105 24 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thế giới nghệ thuật thơ hữu thỉnh
Tác giả Hồ Thị Hồng Nhung
Người hướng dẫn TS. Lê Thị Hường
Trường học Đại Học Đà Nẵng
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hữu Thỉnh với những bản tình ca thơ của mình đã cất lên một tiếng nói riêng hòa nhập trong tiếng nói chung của thơ ca chống Mỹ, thể hiện bản sắc độc đáo, góp phần quan trọng thúc đẩy sự

Trang 1

Đà Nẵng - Năm 2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Thị Hường

Đà Nẵng - Năm 2012

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

HỒ THỊ HỒNG NHUNG

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

4 Phương pháp nghiên cứu 7

5 Đóng góp của luận văn 7

6 Cấu trúc luận văn 8

Chương 1 : HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA HỮU THỈNH 9

1.1 Thơ Hữu Thỉnh trong mạch nguồn thơ ca hiện đại Việt Nam 9

1.1.1 Thơ Hữu Thỉnh - hành trình hòa nhập (giai đoạn 1965 - 1975) 9

1.1.2 Thơ Hữu Thỉnh - quá trình tự khẳng định (giai đoạn sau 1975) 15

1.2 Quan điểm nghệ thuật của Hữu Thỉnh 22

1.2.1 Quan niệm về thơ 22

1.2.2 Quan niệm về nhà thơ 24

Chương 2 : HÌNH TƯỢNG CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ HỮU THỈNH 28

2.1 Giới thuyết khái niệm 28

2.1.1 Cái tôi trữ tình 28

2.1.2 Bản chất của cái tôi trữ tình trong thơ 29

2.2 Sắc thái đa dạng của cái tôi trữ tình trong thơ Hữu Thỉnh 32

2.2.1 Cái tôi gắn bó với đất nước, quê hương 32

2.2.2 Cái tôi suy tư về cuộc sống 39

2.2.3 Cái tôi trong thế giới riêng tư của tình yêu 45

2.3 Sự vận động của cái tôi trữ tình trong thơ Hữu Thỉnh 50

2.3.1 Cái tôi đại diện cho thế hệ 51

2.3.2 Cái tôi tự biểu hiện 56

Trang 5

Chương 3 : PHƯƠNG THỨC TRỮ TÌNH TRONG THƠ HỮU THỈNH 62

3.1 Thể thơ 62

3.1.1 Thơ lục bát 62

3.1.2 Thơ tự do 65

3.1.3 Các thể thơ khác 67

3.2 Không gian nghệ thuật và những biểu tượng 70

3.2.1 Các hình tượng không gian đặc trưng 70

3.2.2 Biểu tượng 73

3.3 Ngôn ngữ 77

3.3.1 Ngôn ngữ đời thường giản dị 77

3.3.2 Ngôn ngữ giàu giá trị biểu cảm 82

3.4 Giọng điệu 86

3.4.1 Giọng tâm tình, thiết tha 86

3.4.2 Giọng suy tư, triết lý 90

KẾT LUẬN 94

TÀI LIÊ ̣U THAM KHẢO 97

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong các thể loại văn học, thơ là một trong những thể loại mang những đặc trưng và ưu thế riêng biệt Từ sau 1986, thơ có sự vận động phát triển và tập hợp được nhiều cá tính sáng tạo độc đáo Trong số các nhà thơ sớm đổi mới tư duy nghệ thuật, có đóng góp không nhỏ cho thành tựu của thơ đương đại, phải kể đến Hữu Thỉnh

Hữu Thỉnh là một nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống

Mỹ cứu nước Giữa dàn đồng ca chung của những nhà thơ cùng thời, Hữu Thỉnh đã góp vào một giọng thơ trong sáng, sâu lắng, giàu suy tưởng và ấm

áp tình người Sau 1975, thơ Hữu Thỉnh đã phác họa một diện mạo mới mẻ và đặc sắc cho thơ Việt Nam hiện đại với một giọng thơ trăn trở, suy tư và đầy triết lý Bằng nhiều bài thơ tài hoa và tinh tế, Hữu Thỉnh đã khẳng định được

vị trí của mình trong nền thơ ca Việt Nam thời kì kháng chiến chống Mỹ nói riêng và nền thơ hiện đại Việt Nam nói chung

Hữu Thỉnh là nhà thơ có một phong cách nghệ thuật riêng Thế giới nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh phong phú đa dạng và mang dấu ấn rõ nét Với một hồn thơ mang cảm xúc tinh tế đôn hậu, Hữu Thỉnh đã đưa thơ về với những điều trong cuộc sống đời thường, xoáy sâu vào lòng người những âu lo và đặt

ra những câu hỏi về lẽ sống Có thể nói, Hữu Thỉnh đã có những đóng góp to lớn trong nền thơ Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ và là một trong những nhà thơ đã thể hiện bản lĩnh sáng tạo của mình qua hai chặng đường lớn: thơ ca những năm chống Mỹ cứu nước và thơ ca đương đại Việt Nam Những sáng tác của Hữu Thỉnh khá thành công, nhiều bài được đưa vào giảng dạy trong nhà trường và được các nhạc sỹ phổ nhạc

Việc tìm hiểu Thế giới nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh giúp chúng tôi có

cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về thơ ông, có thể tìm hiểu những phương

Trang 7

diện làm nên giá trị nội dung và hình thức thơ Hữu Thỉnh Đồng thời, chúng tôi hy vọng góp phần nhỏ vào việc khẳng định một phong cách thơ, một cái tôi trữ tình với nhiều sắc điệu riêng trong nền thơ hiện đại Việt Nam

2 Lịch sử vấn đề

Hữu Thỉnh là một cây bút bền bỉ, có con đường thơ không dễ dàng từ buổi đầu Mặc dù vậy, qua những năm tháng kiên nhẫn và tự tin, Hữu Thỉnh

đã tìm được cho thơ mình một hướng đi và bản sắc riêng, thu hút được sự chú

ý của bạn đọc cũng như giới phê bình

Cho đến nay, đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu có giá trị đề cập đến nhiều khía cạnh về cuộc đời và sự nghiệp của nhà thơ Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về thế giới nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh không nhiều Ở đây, chúng tôi chỉ lựa chọn và xin điểm qua một số công trình, bài viết có liên quan đến đề tài

Lưu Khánh Thơ trong bài viết Hữu Thỉnh một phong cách thơ sáng tạo đăng trên Tạp chí văn học số 2/1988 đã nhận thấy “hướng đi riêng” trong

phong cách thơ Hữu Thỉnh với những nét nổi bật cũng như điểm hạn chế Khi

nói về tập thơ Âm vang chiến hào của Hữu Thỉnh, tác giả đưa ra nhận định:

“Nhưng ngay ở phần thơ còn mỏng nhẹ này ta đã có thể nhận ra một giọng điệu riêng của Hữu Thỉnh” [54, tr 75] Cùng với nét riêng về giọng điệu, tác giả chỉ ra nét đặc sắc, nổi bật trong phong cách thơ Hữu Thỉnh đó chính là sự vận dụng một cách nhuần nhuyễn những câu tục ngữ dân gian Tác giả cho rằng: “Vốn kiến thức phong phú này đã làm cho Hữu Thỉnh thêm giàu có, tạo thuận lợi cho những tìm tòi, sáng tạo của thơ anh Hữu Thỉnh tiếp thu truyền thống dân tộc không những chỉ là ở cách nói, cách ví von, so sánh, mà còn ở cách tư duy, cách liên tưởng độc đáo, ở một âm hưởng xa xôi khó nhận biết Phải chăng sự ảnh hưởng đó là nguyên nhân khiến cho Hữu Thỉnh có được những câu thơ ý nghĩa, có tính hàm ẩn cao, mới lạ trong cách diễn đạt, bất ngờ

Trang 8

trong cảm xúc” [54, tr 76-77] Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra những điểm còn hạn chế về thơ Hữu Thỉnh: “Trong các sáng tác của Hữu Thỉnh thường sử dụng thể thơ tự do Thể thơ này dường như thích hợp với giọng điệu của anh hơn cả Nhưng có những khi không làm chủ được ngòi bút của mình, thơ anh

bị rơi vào tình trạng lan man không cần thiết” [54, tr 81-82]

Trần Mạnh Hảo trong bài viết Thư mùa đông của Hữu Thỉnh in trên

Tạp chí Văn nghệ Quân đội tháng 4/1996 cũng nhận thấy nét độc đáo và mặt

hạn chế của Hữu Thỉnh qua tập thơ Thư mùa đông, đó là: “Sự thành công của

Hữu Thỉnh là nói ít, cảm nhiều, theo truyền thống thi pháp phương Đông:

“Thi tại ngôn ngoại” [20, tr 102] Theo tác giả thì trong tập Thư mùa đông ở

một số bài thơ Hữu Thỉnh vẫn “chưa thoát được cái hơi trường ca” nên “khi đi

ra khỏi rơm rạ, bọt bèo, buồn đau, thao thiết, cô đơn, nghĩa là đi ra khỏi sở trường năm phần trăm ruộng cá thể của mình, thế nào không ít thì nhiều, Hữu Thỉnh cũng sa vào cõi không tìm thấy mình, cũng đôi lúc uốn éo, lan man, dễ dãi” [20, tr 106]

Lý Hoài Thu trong bài viết Thơ Hữu Thỉnh - Một hướng tìm tòi và sáng

tạo từ dân tộc, đến hiện đại đăng trên Tạp chí Văn học số 12/1999 là một sự

đóng góp thêm trong cách đánh giá về phong cách nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh

Lý Hoài Thu đã chỉ ra nét đặc trưng nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh chính là sự hòa quyện giữa truyền thống và hiện đại: “Thơ anh có sự kết hợp giữa phẩm chất dân tộc và tính hiện đại, giữa chiều sâu triết lý và độ xúc cảm tràn trào, giữa

sự hiền hòa lắng đọng và mãnh liệt sục sôi, giữa khả năng viết những tác phẩm trường ca dài và thơ trữ tình ngắn ” [56, tr 56]

Trường Lưu trong bài viết Mấy ghi nhận về thơ người lính của Hữu

Thỉnh in trên Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, số 6/2001 đã nhận thấy ở thơ Hữu

Thỉnh một sự tinh túy có sức lôi cuốn tuyệt vời: “Với Hữu Thỉnh, điều đập vào mắt ta trước tiên sau khi xuyên suốt các tập thơ và trường ca của anh, là

Trang 9

một con người luôn tìm đến cái cốt lõi cuả hiện thực bao quanh để chắt chiu từng câu thơ nhằm đạt đến cái tinh túy của hồn thơ, cái xung lực của vần điệu Anh thoát ra ngoài mọi khuôn sáo, mọi câu chữ đã mòn, mọi cách cảm nghĩ đơn điệu, mà gợi mở vào lòng người những hình ảnh tân kỳ có nhiều sức lôi cuốn” [27, tr 42]

Nguyễn Đăng Điệp với bài viết Hữu Thỉnh và quá trình tự đổi mới thơ trong Tạp chí Văn học số 9/2003 đã nhận ra ở Hữu Thỉnh “niềm mê đắm thi

ca và khát khao đổi mới” Với những khám phá rất riêng, đầy ý nghĩa về thơ Hữu Thỉnh, Nguyễn Đăng Điệp cho rằng: “ Chiều sâu và nét riêng trong cái

nhìn nghệ thuật của Hữu Thỉnh chính là những suy tư không ngừng về nhân

thế bằng chất giọng trầm lắng Trước đây, anh suy tư về dân tộc, về những lẽ

sống lớn Nay, Hữu Thỉnh suy tư về lẽ đời, về sự tồn tại của các số phận cá nhân, về sự suy thoái của các giá trị nhân sinh Đó không phải là những suy tư trừu tượng, những triết lý đại ngôn mà là những suy tư xuất phát từ những cảm nhận rất riêng của một trái tim đa cảm” [13, tr 30]

Nguyễn Nguyên Tản trong chuyên luận Thi pháp thơ Hữu Thỉnh, do

Nhà xuất bản Hội nhà văn Hà Nội ấn hành năm 2005, đã tiếp cận thơ Hữu Thỉnh một cách có hệ thống nhìn từ góc độ thi pháp Các vấn đề thuộc thi pháp như quan niệm nghệ thuật về con người, không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật, phương thức thể hiện đã được tác giả quan tâm và lý giải cụ thể [41]

Trần Đăng qua bài viết Nghe Hữu Thỉnh thương lượng với thơ in trên

Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số ra ngày 24/04/2006 đã nhận ra là có một dòng

chảy xuyên suốt tập thơ, đó chính là “sự tiếc nuối thời gian đã mất, hay đúng hơn là sự tự ý thức về cái hữu hạn của chính mình” Tác giả cho rằng: “Trong thế hệ thơ chống Mỹ, Hữu Thỉnh là nhà thơ tạo được một giọng riêng Cho đến tập thơ này, dù có riết róng hơn hay quặn thắt hơn, ông vẫn giữ được cái

Trang 10

giọng riêng ấy” [11]

Nguyễn Văn Long (chủ biên) trong cuốn Giáo trình văn học Việt Nam

hiện đại tập 2 (do Nhà xuất bản Đại học Sư phạm in năm 2007) qua phân tích

đặc điểm nghệ thuật của thơ trẻ thời kỳ chống Mỹ đã khẳng định: “Nguyễn Đức Mậu, Hoàng Cầm, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh đều có ý thức đưa văn xuôi vào thơ, tạo nên những câu thơ văn xuôi Những câu thơ mấp mé văn xuôi nhưng vẫn ở bên này ranh giới, vẫn còn giữ được đặc trưng của ngôn ngữ thơ ca” [26, tr 115]

Trần Thanh Phương, Phan Thu Hương trong cuốn Chân dung và bút

tích nhà văn Việt Nam tập 2 (do Nhà xuất bản Giáo dục in năm 2008) đã giới

thiệu về tác giả Hữu Thỉnh trên các phương diện như vài nét về tiểu sử văn học, những tác phẩm chính đã xuất bản và lời nhận xét của các tác giả đồng nghiệp [37]

Anh Chi với bài viết Đường đời, đường thơ Hữu Thỉnh đăng trên

website http:// honvietquochoc.com.vn, ngày 21/07/2010 đã trình bày một

cách khái quát những đánh giá của mình về đường đời, đường thơ Hữu Thỉnh

Riêng về hai tập thơ Thư mùa đông và Thương lượng với thời gian, tác giả đã

bày tỏ cách nghĩ, cách cảm rất riêng của mình về phong cách thơ Hữu Thỉnh Theo Anh Chi thì có một phẩm chất đáng chú ý trong thơ Hữu Thỉnh đó là mơ mộng gắn liền với nhận thức [7]

Đoàn Trọng Huy ở bài viết Hữu Thỉnh - Hoa trái nghệ thuật dọc đường

thơ đăng trên website http:// vannghequandoi.com.vn, đăng ngày 27/09/2011

đã đưa ra những nhận định khá tinh tế về thế giới nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh:

“Thế giới nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh phong phú đa dạng và mang dấu ấn rõ

nét Đó là thành quả của một tư tưởng nghệ thuật chính xác, cao đẹp, một tư

duy nghệ thuật mạnh mẽ, hiệu quả Và cũng là của một bản lĩnh nghệ thuật

kiên định, vững vàng, một thi pháp năng động, biến hóa, một phong cách đa

Trang 11

dạng, sáng tạo” [22]

Nhìn chung, các bài viết về thơ Hữu Thỉnh đã nghiên cứu một số nét nổi bật trong phong cách nghệ thuật Các tác giả trên trong từng bài viết cụ thể của mình đều bàn đến thơ Hữu Thỉnh ở những khía cạnh về nội dung và nghệ thuật Các bài viết, công trình nghiên cứu nói trên là những tài liệu rất quan trọng và có ý nghĩa, giúp chúng tôi phần nào hiểu thế giới nghệ thuật của nhà thơ Hữu Thỉnh

Tuy nhiên, vẫn chưa có một công trình nào đi sâu, nghiên cứu một cách

có hệ thống về thế giới nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh qua hai chặng đường sáng tác của nhà thơ Kế thừa và phát triển thành tựu nghiên cứu của những người

đi trước, chúng tôi mong rằng sẽ tiếp tục tìm hiểu sâu hơn vào thế giới nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh để khẳng định phong cách nghệ thuật và sự đóng góp của ông trong nền thơ Việt Nam hiện đại

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thơ Hữu Thỉnh; cụ thể là những tập thơ sau:

+ Âm vang chiến hào (in chung với Lâm Huy Nhuận)

+ Tiếng hát trong rừng

+ Thư mùa đông

+ Thương lượng với thời gian

Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi có liên hệ, đối sánh và dẫn chứng một số bài thơ lẻ được in chung với trường ca của Hữu Thỉnh và cả những bài thơ trong một số tuyển tập khác Những tác phẩm trường ca, tiểu luận phê bình của Hữu Thỉnh được xem là tài tiệu tham khảo khi vận dụng vào nghiên cứu quá trình sáng tác để rút ra những vấn đề về lý luận và thực tiễn

Trang 12

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi mà chúng tôi nghiên cứu là thế giới nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh trên các bình diện: hình tượng cái tôi trữ tình và phương thức biểu hiện

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:

* Phương pháp cấu trúc - hệ thống: Tìm hiểu về thế giới nghệ thuật trong thơ Hữu Thỉnh, chúng tôi đặt thế giới nghệ thuật ấy trong một cấu trúc toàn vẹn với mối quan hệ nội tại chặt chẽ Luận văn chú trọng việc tìm ra những thành tố và quy luật cấu trúc nên nó Mọi vấn đề khảo sát chúng tôi đặt trong tương quan hệ thống, trong quy luật cấu trúc này

* Phương pháp so sánh: Dùng phương pháp này nhằm đối chiếu với các tác giả khác để tìm ra những nét riêng làm nên phong cách thơ Hữu Thỉnh so với một số nhà thơ cùng thế hệ

* Phương pháp thống kê: Từ việc thống kê những yếu tố làm nên Thế

giới nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh, chúng tôi tiến hành phân loại theo từng tiêu

chí riêng Phương pháp này nhằm chỉ ra những tần suất nghệ thuật về ngôn ngữ, hình ảnh, biểu tượng trong thơ Hữu Thỉnh

Ngoài ra, chúng tôi có sử dụng các thao tác cần thiết trong nghiên cứu văn học như phân tích, tổng hợp để làm rõ ý nghĩa và giá trị nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh

5 Đóng góp của luận văn

- Tập trung nghiên cứu thơ Hữu Thỉnh ở hai chặng đường, luận văn nhằm xác định và giới thiệu những đặc điểm nổi bật trong thế giới nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh, qua đó khẳng định phong cách nhà thơ

- Khẳng định những đóng góp nhất định và vị trí của Hữu Thỉnh trong nền thơ Việt Nam hiện đại

Trang 13

- Từ việc tìm hiểu và phân tích thế giới nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh, luận văn góp một phần nhỏ vào việc nghiên cứu và học tập về thơ Việt Nam hiện đại

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung của luận văn được cấu trúc thành 3 chương:

Chương 1: Hành trình sáng tác của Hữu Thỉnh

Chương 2: Hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ Hữu Thỉnh

Chương 3: Phương thức trữ tình trong thơ Hữu Thỉnh

Trang 14

Chương 1 HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA HỮU THỈNH

1.1 Thơ Hữu Thỉnh trong mạch nguồn thơ ca hiện đại Việt

Nam

1.1.1 Thơ Hữu Thỉnh - hành trình hòa nhập (giai đoạn 1965 - 1975)

1.1.1.1.Thơ chống Mỹ và thế hệ nhà thơ chiến sĩ

Văn học Việt Nam thời kỳ chống Mỹ đã phát triển mạnh mẽ trên nhiều thể loại, trở thành tấm gương phản ánh trung thành cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc Trong sự phát triển ấy, thơ đã trở thành vũ khí tinh thần, một sức mạnh tham gia vào cuộc chiến đấu và gắn bó với vận mệnh của đất nước, nhân dân Thơ bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ nhanh chóng, thực hiện

sứ mệnh cao cả trên mặt trận văn nghệ, nối liền tình cảm của mỗi người thành

tiếng nói chung, thành nhịp điệu chung của trái tim dân tộc

Cuộc kháng chiến chống Mỹ đã trở thành nguồn mạch dồi dào cho cảm hứng thơ ca Cuộc kháng chiến ấy được mùa trong chiến công và thơ cũng được mùa lớn Đề tài và cảm hứng trong thơ là đời sống chiến đấu của cả dân tộc ở hai miền Nam Bắc Tuy nhiên, sự thống nhất trong cảm hứng và đề tài không làm cho nền thơ rơi vào tình trạng đơn điệu

Nền thơ chống Mỹ được hình thành từ nhiều thế hệ nhà thơ: Thế hệ nhà thơ từ trước cách mạng (Tố Hữu, Xuân Diệu, Chế Lan Viên…), thế hệ nhà thơ trưởng thành trong thời kỳ chống Pháp (Chính Hữu, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông…) và thế hệ nhà thơ xuất hiện trong thời kỳ chống Mỹ Mỗi thế hệ nhà thơ nói trên với những thế mạnh riêng của mình đã có những đóng góp cho nền thơ chống Mỹ Và mỗi nhà thơ, bằng một phong cách riêng

đã đem đến một cách nhìn, một cách nghĩ, một cách cảm nhận riêng về cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại của dân tộc

Trang 15

Thơ kháng chiến chống Mỹ là một giai đoạn mới trong tiến trình thơ Việt Nam hiện đại với đặc điểm riêng và những thành tựu đặc sắc Nền thơ này đã tập trung biểu hiện những tình cảm và tư tưởng lớn, bao trùm trong đời sống tinh thần của con người thời đại chống Mỹ cứu nước Có thể nói, chủ nghĩa yêu nước là nguồn cảm hứng lớn, thấm nhuần trong các tác phẩm thơ ca

và được biểu hiện hết sức phong phú đa dạng Những vần thơ về Tổ quốc trong thời kỳ này chứa đựng một tình cảm mãnh liệt, gắn bó, thiết tha:

Việt Nam ôi Tổ quốc thương yêu Trong khổ đau Người đẹp hơn nhiều Như bà mẹ sớm chiều gánh nặng Nhẫn nại nuôi con suốt đời im lặng

(Chào xuân 67 - Tố Hữu)

Ôi Tổ quốc! ta yêu như máu thịt Như mẹ cha ta, như vợ, như chồng

(Sao chiến thắng - Chế Lan Viên)

Tình yêu Tổ quốc là đỉnh núi, bờ sông Những lúc tột cùng là dòng huyết chảy

(Việt muôn đời - Xuân Diệu)

Thơ chống Mỹ, đặc biệt là thơ của các nhà thơ trẻ - nhà thơ chiến sĩ, nhanh chóng đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận Thơ trẻ thời kỳ chống

Mỹ là một hiện tượng đáng lưu tâm của văn học hiện đại Việt Nam, đánh dấu

sự trưởng thành của một thế hệ nhà thơ cũng như bước phát triển mới của nền thơ hiện đại

Thế hệ nhà thơ- chiến sĩ hết sức đông đảo trong thời kỳ chống Mỹ với những gương mặt thơ trẻ như Lê Anh Xuân, Xuân Quỳnh, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Đức Mậu, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Nguyễn Duy, Bằng Việt… Đó là những gương mặt tiêu biểu đã sớm được khẳng định

Trang 16

và đem lại vinh quang cho cả thế hệ thơ trẻ thời kỳ chống Mỹ và thơ sau

1975

Thế hệ thơ chống Mỹ phần lớn trưởng thành trong chiến đấu Lửa chiến trường đã tôi luyện ý chí, đẩy mạnh quá trình trưởng thành của những tâm hồn thi sĩ - chiến sĩ ấy Từ đó, họ nhận thức sâu sắc sứ mệnh lịch sử lớn lao và nhận thức một cách đúng đắn con đường đi của thế hệ mình Đó là khi Phạm Tiến Duật dõng dạc lên tiếng: “Ta đi hôm nay đã không là sớm/ Đất nước hành quân mấy chục năm rồi/ Ta đến hôm nay cũng chưa là muộn/ Đất nước

còn đánh giặc chưa thôi” (Chào những đội quân tuyên truyền - Chào những

đội quân nghệ thuật) Đó là khi Bằng Việt nhận thức về sứ mệnh lịch sử của

thế hệ mình: “Cả thế hệ dàn hàng gánh đất nước trên vai”

Lớp nhà thơ trẻ với bản lĩnh và sự tự tin của mình đã mang đến nét tươi

mới, sôi nổi cho cả một nền thơ Thơ của họ trẻ, hồn nhiên nhưng vẫn có

những suy nghĩ sâu sắc đầy trách nhiệm về Tổ quốc Sống với cả tâm hồn mình giữa thực tế vĩ đại của cách mạng, với những cái nhìn trẻ, những cảm xúc chân thật, hồn nhiên… đã tạo nên một nét mới trong phong cách sống và viết của các nhà thơ chống Mỹ Đó là Thanh Thảo với sự trải nghiệm của mình đã nhận ra: “Những tráng ca thưở trước/ Còn hát trong sách thôi/ Những thanh gươm yên ngựa/ Giờ đã cũ mèm rồi” và khẳng định: “Bài hát của chúng

tôi/ Là bài ca ống cóng” (Bài ca ống cóng) Đó là Hữu Thỉnh khi nhận ra:

“Muốn tự hát hãy là dòng suối/ Hát về rừng đừng bắt chước tiếng chim” (Đường tới thành phố) Đó là Nguyễn Duy khi ý thức sâu sắc về giọng điệu

riêng của thế hệ mình: “Mây bay bằng gió của trời/ Là ta ta hát những lời của

ta” (Khúc dân ca)… Và cứ như thế, các nhà thơ trẻ đã khẳng định được vị trí

của mình trong nền thơ chống Mỹ với những nét riêng không dễ lẫn

1.1.1.2 Thơ Hữu Thỉnh - Điểm riêng giữa dòng thơ chống Mỹ

Thơ trẻ thời kỳ chống Mỹ với sự đóng góp của thế hệ nhà thơ chiến sĩ

Trang 17

là một hiện tượng nổi bật trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại Tuy còn có những hạn chế nhưng lớp trẻ trong thơ chống Mỹ đã thật sự chiếm được cảm tình của người đọc và những đóng góp của họ đã được dư luận khẳng định Một trong những cây bút tiêu biểu, có một vị trí đáng ghi nhận trong thơ chống Mỹ chính là Hữu Thỉnh

Sinh ra trong một gia đình nông dân có truyền thống Nho học, lớn lên

và trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ, Hữu Thỉnh đã trở thành một tâm hồn thi sĩ đích thực Khi tìm hiểu về Hữu Thỉnh, chúng ta dễ dàng nhận thấy đường đời và đường thơ của ông có sự gắn bó mật thiết với nhau: đường đời là điểm tựa tạo nên chất men trong thơ và đường thơ góp phần làm phong phú thêm đường đời Hữu Thỉnh đã chọn cho mình một con đường thơ riêng

và con đường riêng ấy nhanh chóng nhập vào đường thơ lớn của dân tộc mà đặc biệt là trong nền thơ chống Mỹ

Cuộc đời Hữu Thỉnh không chỉ gắn với con đường sáng tác thơ ca mà ông còn tham gia nhiều vào công tác chính trị, xã hội Khi có người hỏi rằng Hữu Thỉnh đã đến với thơ như thế nào, ông bộc bạch:

Tôi bắt đầu làm thơ từ năm 1958 Mỗi ngày tôi viết mò mẫm và tin đấy là thơ Dạo ấy tôi thích nhất là thơ leo thang của bác Hoàng Trung Thông, sau đó đến thơ Nguyễn Bính Tôi học Tố Hữu nhiều bài học lớn về thơ ca Lớn thêm chút nữa tôi yêu Tế Hanh Tập Gửi Việt Bắc của ông tôi thuộc từ đầu đến cuối Năm 1962 tôi được in bài thơ đầu tiên ở báo Người Giáo viên Nhân dân [33, tr 370-371]

Dần dần, Hữu Thỉnh đã nhận được sự chú ý của đông đảo bạn đọc bởi

“duyên thơ” Ông đã nhận được nhiều giải thưởng do các tổ chức có uy tín

lớn trao tặng Trong các cuộc thi thơ của Báo Văn nghệ ở các năm 1973,

1975, 1976 Hữu Thỉnh đều nhận được giải thưởng với các sáng tác: Mùa xuân

đi đón (giải 3); Chuyến đò đêm giáp ranh và trường ca Sức bền của đất (giải

Trang 18

A) Tên tuổi của Hữu Thỉnh ngày càng được khẳng định khi tiếp tục nhận

được các giải thưởng của Hội Nhà Văn Việt Nam với trường ca Đường tới

thành phố (1980) và tập thơ Thư mùa đông (1995) Năm 1994, tập Trường ca biển của Hữu Thỉnh cũng nhận được giải thưởng xuất sắc của Bộ quốc phòng

Chiến tranh với bom rơi, lửa đạn nhưng thế hệ nhà thơ chống Mỹ vẫn vừa tay súng, vừa tay bút “trường chinh” với văn chương Hữu Thỉnh cũng là khuôn mặt thơ vào loại tiêu biểu của thế hệ này Từ khi trở thành người lính trực tiếp cầm súng chiến đấu, cùng chung một lý tưởng của “triệu người yêu dấu gian lao”, Hữu Thỉnh đã tìm thấy con đường thơ của mình: “Trải qua các trận chiến, với một tâm hồn đa cảm, ngày sống là lại thêm bao thương nhớ ngổn ngang, và, nó trở thành thơ anh” [7]

Trong dòng chung của thơ chống Mỹ, các nhà thơ trẻ lấy cảm hứng sử thi làm cảm hứng chủ đạo cho sáng tác của mình Là những người lính làm thơ, những vần thơ của họ đã hòa cùng dàn đồng ca thơ của dân tộc, cất lên tiếng thơ ca ngợi Tổ quốc, nhân dân, Đảng… Không chỉ cảm nhận về Tổ quốc, Hữu Thỉnh với tình ấm nồng của mình đã phát hiện về Tổ quốc bằng nhận thức sâu sắc Nếu hình tượng Tổ quốc trong thơ chống Mỹ được thể hiện

ở những phương diện như truyền thống văn hóa, lịch sử, đặc điểm địa lý… thì Hữu Thỉnh lại có cách thể hiện riêng cho mình về Tổ quốc Trong thơ Hữu Thỉnh, hình tượng Tổ quốc xuất hiện không nhiều và dường như không được

đề cập một cách trực tiếp Hình tượng này đã hóa thân vào hình tượng quê hương qua cái nhìn chủ quan của nhân vật trữ tình:

Mùa xuân hẳn bắt đầu

Trên quê mình lất phất

Mấp máy lúa chiêm lên

Cỏ đội bờ thả sức

Ở đây nghe rõ nhất

Bao lời quê nhắn nhe

(Mùa xuân đi đón)

Trang 19

Bên cạnh cảm hứng sử thi với sự ngưỡng mộ những đối tượng thiêng liêng, phong trào thơ trẻ còn vẽ lên bức chân dung tinh thần của thế hệ mình

Đó là một thế hệ mang khát vọng cao đẹp muốn hiến dâng đời mình cho lý tưởng độc lập, tự do của dân tộc Phẩm chất anh hùng của thời đại, nhịp bước hành quân và tinh thần chiến đấu dũng cảm trong chiến tranh chính là một trong những nguồn cảm hứng lớn cho phong trào thơ trẻ, trong đó có Hữu

Thỉnh Tập thơ Tiếng hát trong rừng gồm phần lớn các bài thơ được sáng tác

trong thời kỳ chống Mỹ là tiếng hát về đồng đội, về những người đã chiến đấu trong bom đạn mà vẫn trẻ trung, lạc quan, yêu đời:

Quay nhìn nhau trẻ lại bất ngờ Vương trên mi hạt mưa tròn óng ánh Chẳng ai biết đã qua trăm trận đánh Chỉ thấy như úp cá ở đâu về

(Tắm mưa)

Giọng thơ ấy thật hồn nhiên, tươi mát Nó cũng là nét giọng phổ biến của thơ thời kỳ chống Mỹ Ở đây, ta nhận thấy điểm gặp gỡ giữa thơ Hữu Thỉnh và Phạm Tiến Duật:

Không có kính, ừ thì có bụi Bụi phun tóc trắng như người già Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha…

(Tiểu đội xe không kính)

Tính chính luận và chất triết lý, suy tưởng là đặc điểm nổi bật trong thơ chống Mỹ mà đặc biệt là thơ của các nhà thơ trẻ Trong nền thơ của thế hệ mình, Hữu Thỉnh đã có những đóng góp quan trọng trong việc gia tăng chất liệu đời sống, đưa vào thơ những chi tiết ngổn ngang, bề bộn và đa dạng của hiện thực chiến tranh Hữu Thỉnh đã đưa vào trong thơ những chi tiết chân

Trang 20

thực, sinh động về cuộc sống chiến trường, chiến đấu và sinh hoạt của người lính, tình đồng đội, tình yêu, niềm vui và cả nỗi đau của họ Trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, Hữu Thỉnh đã gắn bó hồn thơ mình với hiện thực chiến trường Hữu Thỉnh đã nói thật sâu sắc, thấm thía những hi sinh gian khổ, những tổn thất đau thương của đời sống chiến tranh nhưng không yếu đuối bi lụy Nói về những cuộc hành quân đầy gian khổ trong chiến tranh, Hữu Thỉnh viết:

Một tháng vã hành quân Hai chân phồng dộp cả Quấn băng vẫn còn đau Nhiều lúc “đi bằng đầu”

(Mùa xuân đi đón )

Nhìn chung, nền thơ chống Mỹ nhiều thành tựu với sự nở rộ và chín muồi của nhiều phong cách thơ độc đáo Thơ chống Mỹ đã ghi nhận sự trưởng thành khá rõ một đội ngũ người viết trẻ là những nhà thơ chiến sĩ, trong đó có Hữu Thỉnh Là nhà thơ áo lính, hồn thơ Hữu Thỉnh được trải nghiệm và trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ với những vần thơ

“ghi lấy cuộc đời mình” và đi vào chiều sâu của tâm hồn người đọc Hữu Thỉnh với những bản tình ca thơ của mình đã cất lên một tiếng nói riêng hòa nhập trong tiếng nói chung của thơ ca chống Mỹ, thể hiện bản sắc độc đáo, góp phần quan trọng thúc đẩy sự phát triển của thơ hiện đại Việt Nam

1.1.2 Thơ Hữu Thỉnh - quá trình tự khẳng định (giai đoạn sau 1975)

1.1.2.1 Khái lược diện mạo thơ Việt từ sau 1975

Mốc 1975 là một sự kiện trọng đại làm nên sự chuyển biến to lớn về nhiều mặt trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước ta Đại hội lần thứ VI của Đảng (1986) đã xác định đường lối đổi mới toàn diện và mở ra một thời kỳ mới của đất nước Văn học nghệ thuật nói chung và thơ nói riêng

Trang 21

cũng nằm trong sự ảnh hưởng này Thơ Việt sau đổi mới đã có sự vận động

và phát triển một cách mạnh mẽ theo hướng hiện đại

Có thể nhận thấy, thơ ở thời kỳ này có sự thay đổi trong quan niệm nghệ thuật, trong việc phản ánh hiện thực và khám phá đời sống nội tâm của con người, đặc biệt là đời sống tâm linh hay những vùng mờ của tiềm thức

Sự chuyển mình đó xuất phát từ những đổi mới về ý thức nghệ thuật của người cầm bút Từ đó, xuất hiện nhiều xu hướng thơ với nhiều biến đổi trong quan niệm thơ và ý thức cách tân thơ mạnh mẽ Sự đa dạng về nội dung và phương thức thể hiện là đặc điểm nổi bật thể hiện sự vận động và phát triển của thơ Việt sau đổi mới Đây cũng chính là một trong những thành công của thơ Việt giai đoạn này

Về nội dung, thơ Việt sau đổi mới thật sự phong phú và đa dạng về đề tài Có những đề tài trước đây chỉ thấy trong văn xuôi bởi dung lượng cuộc sống ngồn ngộn của nó thì bây giờ đã thấy ở trong thơ Trong sự đa dạng đó,

đề tài về tình yêu, về con người cá nhân, về nông thôn và thành thị được viết nhiều và khá thành công

Đề tài về tình yêu xuất hiện trong rất nhiều trong các tác phẩm và đạt tới sự phát triển nở rộ Nếu thơ tình trước đây gắn với cảm hứng ngợi ca, thần thánh hóa tình yêu thì thơ tình thời kỳ sau đổi mới lại gắn với cảm xúc tình yêu đời thường Các nhà thơ thời kỳ này đã mạnh dạn thể hiện những khía cạnh trần tục của tình yêu, kể cả tình dục Đặc biệt là những năm cuối thế kỷ

XX đầu thế kỷ XXI, những nhà thơ trẻ quan niệm khá phóng khoáng về vấn

đề này như trong thơ Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Nguyễn Vĩnh Tiến… Đọc những dòng thơ tình của Vi Thùy Linh sẽ thấy được cái mãnh liệt, cuồng nhiệt, riết róng trong tình yêu: “… Em nghe thấy nhịp cánh đêm ái ân/ Một làn gió thổi sương thao thác/ Đêm run run theo tiếng nấc/ Về đi anh!/ Cài then

tiếng khóc của em bằng đôi môi anh” (Người dệt tầm gai)

Trang 22

Thơ sau 1986 mang đậm yếu tố cái tôi cá nhân Nhà thơ đã thực sự trải lòng mình trên trang giấy, con người được khai thác ở những góc độ sâu kín của tâm hồn trong quan hệ gắn bó với cộng đồng Vấn đề con người cá nhân hay cái tôi trữ tình được nhận diện trong mối quan hệ với xã hội như trong thơ Nguyễn Quang Thiều, Trần Dần, Phùng Khắc Bắc… Nếu trong thơ 1945 -

1975 cái tôi kết hợp hài hòa với cái ta, là một phần của cái ta thì trong thơ sau đổi mới nói nhiều đến cái tôi cá nhân Đây chính là sự vận động, phát triển tự nhiên của thơ trong một hoàn cảnh lịch sử mới Các nhà thơ đương đại quan niệm thơ ca phải là tiếng nói gắn với cái tôi cá nhân, cho dù đó là niềm vui hay nỗi buồn, hạnh phúc hay đau khổ Cái tôi cá nhân trong thơ họ rất giản dị,

tự nhiên, trung thực: “Ký hiệu đời tôi là một chấm xanh xanh ngắt/ Ký hiệu thơ tôi là sự minh bạch trong rắc rối đến không cùng/ Thế mới là tôi/ Thế mới

là đời/ Thế mới là thơ/ Tất cả hòa nhập như ánh sáng trộn cùng bụi” (Một

chấm xanh - Phùng Khắc Bắc)

Bên cạnh đề tài tình yêu, con người cá nhân thì đề tài về thành thị và nông thôn xuất hiện khá đậm nét trong thơ Đó là cuộc sống với muôn mặt khác nhau của nó được cảm nhận bằng chính sự trải nghiệm của các nhà thơ

Vì vậy, thơ mang âm hưởng cuộc sống gần gũi với một thành thị của thời hiện đại và một nông thôn mang đậm bản sắc văn hóa Việt Điều này có thể thấy rõ trong thơ của các nhà thơ như Nguyễn Duy, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Vĩnh Tiến… Thành thị hiện ra với những xô bồ, gấp gáp trong thơ Lê Minh Quốc: “Lên xe Nổ máy Rồ ga/ Sao vượt qua được ta bà âm dương/ Bánh xe dằn vặt mặt đường/ Linh hồn thấp thỏm thất thường lo âu/ Rú ga Xe chạy Về đâu?/ Mặt đường toang hoác nát nhầu mặt tôi/ Vật vờ như cá đang trôi/ Ồ trên

đại lộ mày bơi hướng nào?” (Bây giờ biết đến bao giờ) Rời xa chốn thành thị

ồn ào, Nguyễn Quang Thiều đưa người đọc về nét trữ tình muôn thuở của nông thôn: “Người nông dân già chiều nay rút rơm khô thổi lửa/ Xa xít một

Trang 23

lưỡi cày mơ tên gọi vì sao” (Cánh đồng)

Về phương thức biểu hiện, thơ Việt sau 1986 với quan niệm mới về sự cách tân, hiện đại hóa được biểu đạt dưới rất nhiều hình thức Về mặt hình thức, nó vừa tiếp nối những truyền thống của thơ ca dân tộc vừa trăn trở đổi mới trong quan niệm hiện đại hóa Khởi xướng cho những cách tân này là một số nhà thơ thuộc các thế hệ trước 1975 Vào cuối những năm 80 và đầu những năm 90, xuất hiện một số tập thơ (trong đó có nhiều bài được viết

trước 1975) của Hoàng Cầm (Về Kinh Bắc, Mưa Thuận Thành), Lê Đạt (Bóng

chữ), Trần Dần (Cổng tỉnh, Mùa sạch, Jờ joạc), Dương Tường (36 bài tình

viết cùng với Lê Đạt), Đặng Đình Hưng (Bến lạ và Ô mai)… đã đem lại nhiều

cái mới trong quan niệm cũng như phương thức trữ tình

Bên cạnh các thể thơ truyền thống, nhiều thể loại mới xuất hiện như thơ

tự do, thơ văn xuôi, thơ được biểu hiện bằng các ký hiệu khác ngoài câu, chữ… Thơ tự do được sử dụng rất nhiều vì nó cho phép người viết được tự do trong cảm xúc, trong các cách thể hiện: “Nằm nghiêng ở trần thương kiếp nàng Bân/ ngón tay rỉ máu Nằm nghiêng/ khe cửa lùa ra một dòng ấm/ cô

đơn Nằm nghiêng/ cùng sương triền đê đôi bờ/ ỡm ờ nước lũ” (Nằm nghiêng

- Phan Huyền Thư) Ở thơ văn xuôi cũng vậy, chất văn xuôi có ở trong thơ

giúp tác giả bộc lộ, diễn đạt những tâm sự tình cảm của mình: “Đôi cánh tay phóng khoáng, chúng mình cùng bay lên, từ trên không nhìn thế giới, làm công dân thế giới/ Chúng mình sẽ trồng lại vườn vườn đào típ tắp, thảo thảo

nguyên ngút cỏ, rừng nối rừng miên man xứ sở” (Tan biến - Vi Thùy Linh)

Sau 1986, thơ ca có một cuộc chuyển động mạnh mẽ trong sáng tạo ngôn ngữ Trường từ ngữ trong thơ đã được mở rộng dường như đến không ngờ Từ ngữ có khi được nhà thơ đặt trong những kết hợp mang đậm chất biểu cảm và theo quan niệm “làm thơ là làm chữ” Một số nhà thơ như Lê

Đạt, Trần Dần, Dương Tường đã hướng sự cách tân chủ yếu vào hình thức

Trang 24

ngôn từ thơ: “Chia xa rồi anh mới thấy em/ Như một thời thơ thiếu nhỏ/ Em

về trắng đầy cong khung nhớ/ Mưa mấy mùa/ mây mấy độ thu…” (Bóng chữ

- Lê Đạt)

Từ những đổi mới về nội dung và hình thức, thơ Việt sau 1975 mang phong vị mới lạ hơn trong sự vận động và phát triển của mình Thơ đã có sự vận động và biến đổi hòa nhập với những chuyển biến của đời sống xã hội và công cuộc đổi mới nền văn học nói chung và thơ nói riêng Những đổi mới thơ theo hướng hiện đại đã tạo nên những biến đổi quan trọng trong tư duy nghệ thuật, trong quan niệm thơ và ngôn ngữ thơ Đáng chú ý là trong sự đổi mới thơ sau 1975, có sự đóng góp không nhỏ của thế hệ nhà thơ mặc áo lính giai đoạn trước, trong đó có Hữu Thỉnh

1.1.2.2 Thơ Hữu Thỉnh trong thành tựu thơ sau 1975

Thơ sau 1975 rất phong phú, có nhiều cách tân mạnh mẽ, làm nên một giai đoạn mới trong tiến trình thơ hiện đại Việt Nam Trong thơ từ sau 1975

có sự tiếp nối của nhiều thế hệ nhà thơ, với những đóng góp cũng như những giới hạn của mỗi thế hệ Trong cuộc sống thời bình, các nhà thơ có dịp lắng lại lòng mình để chiêm nghiệm về cuộc đời cũng như chính bản thân mình Hữu Thỉnh và hành trình thơ của mình, đặc biệt từ sau 1975 là một trường hợp như thế Với những bài thơ và các trường ca khá nổi tiếng, Hữu Thỉnh đã

có những đóng góp to lớn cho thành tựu thơ sau 1975 Trên con đường thơ của mình, Hữu Thỉnh đã gặt hái được một số thành tựu được thể hiện qua nhiều giải thưởng và đã sớm khẳng định cho mình một phong cách riêng đặc sắc Những đóng góp của Hữu Thỉnh trong thành tựu thơ sau 1975 được thể hiện chủ yếu ở một số phương diện như cảm hứng đời tư thế sự, con người cá nhân, những tìm tòi đổi mới cho thi ca Việt Nam sau chiến tranh, thơ tình

yêu qua hai tập thơ là Thư mùa đông và Thương lượng với thời gian

Từ sau 1975, thơ đã khẳng định được vị trí của nó trong đời sống tinh

Trang 25

thần của xã hội và đã có được những gương mặt thơ cũng như những bài thơ lưu lại được trong lòng độc giả Một số nhà thơ kiên trì với định hướng đã chọn, đưa thơ về với cuộc đời giữa những cái xô bồ mà vẫn không đánh mất mình Trong xu hướng chung đó, tiếng thơ Hữu Thỉnh đã gây được sự chú ý

Ta bắt gặp trong thơ Hữu Thỉnh những nỗi niềm trăn trở suy tư về cuộc đời, con người, bản thân Đó là những suy ngẫm về cuộc sống, về thế cuộc mang

dư vị đau đớn, xót xa nhiều hơn là ngợi ca Là một hồn thơ nhạy cảm, Hữu Thỉnh luôn “trăn trở vui buồn cùng số phận con người” Chính vì thế, cảm hứng đời tư thế sự đã trở thành cảm hứng chủ đạo trong sáng tác thơ ông Thơ Hữu Thỉnh thường quan tâm đến các vấn đề triết lý, đạo đức, nhân sinh và đặc biệt là những suy tư về thân phận con người Có thể nói, thơ Hữu Thỉnh giai đoạn này có sự chuyển biến trong cảm hứng Đó là quá trình tiếp nối cảm hứng sử thi truyền thống đã có từ thời chống Mỹ, sau đó chất sử thi nhạt dần

và thay vào đó là chất đời tư - thế sự Càng về sau, thơ Hữu Thỉnh càng đi sâu vào cảm hứng thế sự với nét trầm tư, sâu lắng rất riêng Cảm hứng sử thi -

cảm hứng chủ đạo trong thơ thời chống Mỹ được tiếp nối trong Sức bền của

đất, Đường tới thành phố và Trường ca biển đã gần như vắng bóng trong Thư mùa đông và Thương lượng với thời gian Cảm hứng thế sự hầu như chưa có

ở những sáng tác trước đây đã trở thành cảm hứng chủ đạo ở Thư mùa đông

và Thương lượng với thời gian Đây chính là nét riêng biệt của thơ Hữu Thỉnh

sau 1975 với những sáng tác trước của Hữu Thỉnh và cũng là nét tương đồng trong cảm hứng thơ sau 1975, đó là sự mờ dần của chất sử thi và sự tăng lên của chất thế sự

Thơ Việt Nam từ sau 1975 đã có sự vận động hòa nhập với sự chuyển biến của xã hội và công cuộc đổi mới văn học Thơ giai đoạn này thể hiện rất

rõ nhu cầu đổi mới nghệ thuật với những thể nghiệm, cách tân mạnh mẽ Trong xu thế chung đó, tiếng thơ Hữu Thỉnh đã góp phần vào những phát

Trang 26

hiện, tìm tòi, đổi mới cho thi ca Việt Nam sau chiến tranh Ở mảng thơ viết về cuộc sống thời bình, Hữu Thỉnh đã thành công trong việc làm mới thơ mình Ông đã sử dụng chất liệu truyền thống bằng cái nhìn hiện đại để tạo nên nét mới mẻ về thi pháp thể loại Hữu Thỉnh đã tự đổi mới chính mình mà trước tiên là đổi mới tư duy và cách nhìn nhận những đề tài quen thuộc Nét đổi mới nổi trội trong thơ Hữu Thỉnh chính là màu sắc triết lý trong thơ khi viết về thiên nhiên, cuộc sống, con người… để bồi đắp cho vẻ đẹp chân - thiện - mỹ

mà thi ca ngàn đời vẫn hướng tới:

Bất chợt được sưởi ấm

từ những ai không quen biết qua đường

Bất chợt đọc tiểu sử của dòng sông

trên đất lấm cuốc cày chưa kịp rửa

Bất chợt những cánh chim vụt hiện

vẽ đường đi vô định của con người

(Bất chợt)

Về phương diện thơ tình, Hữu Thỉnh cũng có những đóng góp quan trọng Với thơ tình yêu, Hữu Thỉnh không có nhiều những say đắm, mạnh mẽ của tuổi trẻ nhưng lại có một giọng điệu riêng trong tâm tình Hữu Thỉnh dường như biết nói khác những điều trong tình yêu dường như đã cũ Chính vì

vậy, người ta nhớ Thơ viết ở biển của Hữu Thỉnh, nhớ những si mê: “Anh muốn bế cả chiều/ Hôn lên ngày gặp mặt” (Bình yên)

Tóm lại, thơ Hữu Thỉnh mang một vẻ đẹp đa dạng Hành trình thơ Hữu Thỉnh cũng là hành trình nhịp bước cùng với xu thế chung của thơ ca Việt Nam từ sau 1975 đến nay Với mảng thơ viết về chiến tranh và mảng thơ viết

Trang 27

về cuộc sống thời bình, ta nhận thấy một Hữu Thỉnh với những tìm tòi, sáng tạo không ngừng đang song hành trong hành trình đổi mới thơ Việt để tự khẳng định mình Qua đó, chúng ta có điều kiện nhận diện thơ Hữu Thỉnh một cách đầy đủ và toàn diện hơn

Là nhà thơ được xem là tiêu biểu của thơ ca Việt Nam giai đoạn chống

Mỹ và thời kỳ đổi mới nhưng con đường thơ của Hữu Thỉnh cũng lắm những chông gai Nhưng với tâm niệm “Sống mỗi ngày càng nguyên chất cho thơ”, Hữu Thỉnh đã mang đến cho đời những bài thơ tài hoa, tinh tế, ghi lại dấu ấn của nhà thơ trong tiến trình thơ Việt Nam hiện đại

1.2 Quan điểm nghệ thuật của Hữu Thỉnh

1.2.1 Quan niệm về thơ

Có lẽ, chưa từng có một giai đoạn lịch sử nào mà dân tộc ta lại có được nhiều nhà thơ gần gũi về quan niệm sáng tác như thời chống Mỹ Cả một đội ngũ nhà thơ hừng hực khí phách, độc đáo về bút pháp và phong cách Chỉ cần nói đến tên người, ta đã hình dung ra diện mạo của họ trong nền thơ Giai đoạn này xuất hiện rất nhiều gương mặt sáng giá, mỗi người có một con mắt nhìn và chiêm cảm khác nhau Hữu Thỉnh là người tạo ra cho thơ một gam màu riêng với một quan niệm riêng

Cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc ta thật khốc liệt mà cũng thật oanh liệt Là một nhà thơ, lại là một người lính trực tiếp cầm súng chiến đấu nên Hữu Thỉnh có điều kiện thấm thía hơn ai hết sự ác liệt của chiến tranh, giá trị của dân tộc và con người trong thời chiến Hữu Thỉnh đã nhận ra nguồn sức mạnh tinh thần nuôi dưỡng tâm hồn người lính chính là thơ ca Với thơ, Hữu Thỉnh quan niệm “Chúng tôi làm thơ ghi lấy cuộc đời mình” và bày tỏ:

Chúng tôi sưởi trên những câu thơ ấy

Cứ thế qua đi nhiều mùa mưa

(Đường tới thành phố)

Trang 28

Với Hữu Thỉnh, thơ là lửa, những đốm lửa nhỏ nhoi nhưng thổi bùng lên sức sống trong những năm tháng khốc liệt của chiến tranh Chiến tranh với bom đạn, chết chóc và gian khổ nhưng thơ lại nâng đỡ tâm hồn người lính, nối liền tình cảm của mỗi người thành tiếng nói cảm thông chung:

Thơ hãy đến góp một vài que củi Cho em nhận ra anh, đồng đội nhận ra mình

(Đường tới thành phố)

Với Hữu Thỉnh, thơ ca là niềm khao khát, là nỗi đam mê, là lẽ sống Trong giai đoạn chống Mỹ, thơ đa phần mang tính hướng ngoại Sau 1975, viết về một thời gian khổ, cái nhìn nghệ thuật của Hữu Thỉnh mang tính hướng nội rất sâu, tạo cho thơ ông một phong cách riêng Hữu Thỉnh đã chạm tới sự tinh túy của thứ thơ đích thực, thơ hữu ích cho cuộc kháng chiến Hữu Thỉnh quan niệm:

Thơ không phải những dây bìm trang trí kéo nhòe đi những rễ cây tứa nhựa bão động rừng sao thơ chỉ rung rinh?

muốn tươi mát hãy tự là dòng suối hát về rừng đừng bắt chước tiếng chim

(Đường tới thành phố)

Quan niệm về mối quan hệ giữa thơ và đời sống được Hữu Thỉnh thể hiện một cách tự nhiên:

Chúng tôi vừa đi vừa nhẩm dọc đường

Thơ cứ đến và mưa chiều mau ngớt

(Đường tới thành phố)

Trong quan niệm của Hữu Thỉnh, điều tạo nên sức nặng cho thơ chính

là sự sống, sự từng trải và sự dấn thân Suy nghĩ về thơ, Hữu Thỉnh quan niệm thấm thía: “Tôi rất tin: thơ là kinh nghiệm sống” Hữu Thỉnh không ồn ào

Trang 29

tuyên ngôn về thơ nhưng ta nhận thấy những ý thơ rất sâu của người biết tìm trong sự sống một chiều sâu nhân thế Đọc thơ Hữu Thỉnh, ta thấy đó là tiếng thơ của tình cảm chân thành nhiều nghĩ ngợi suy tư về dân tộc, về lẽ đời và về con người Ở đây, người đọc bắt gặp một Hữu Thỉnh đau đáu nỗi buồn:

Câu thơ đứng giữa trời

Vó nhện cất sương rơi

(Tạp cảm)

Hành trình thơ Hữu Thỉnh đã trải qua nhiều biến động của lịch sử xã hội Theo Lý Hoài Thu đó là hành trình đi tìm “mẫu số chung của sự đồng cảm” Ý thức sáng tạo, khát khao đổi mới và cảm xúc nồng nàn xuất phát từ một trái tim đa cảm khiến thơ Hữu Thỉnh thật sự neo đậu trong cảm thức người đọc Thơ Hữu Thỉnh thể hiện một cái nhìn riêng trong quan điểm nghệ thuật của nhà thơ Trong suốt quá trình sáng tạo thơ ca, Hữu Thỉnh sáng tác theo quan niệm thơ của mình một cách rất tự nhiên, chân thật Và những gì là

tự nhiên, chân thật thì tất yếu sẽ tìm được sự đồng cảm

1.2.2 Quan niệm về nhà thơ

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận” và anh chị em văn nghệ sĩ cũng là “chiến sĩ trên mặt trận đó” Nhà văn chân chính phải luôn ý thức sâu sắc được “sứ mệnh” của thơ văn trong mọi hoàn cảnh của đời sống Sống và chiến đấu giữa cuộc kháng chiến, Hữu Thỉnh và đội ngũ nhà thơ áo lính đã tìm thấy lý tưởng nghệ thuật cho thơ ca

Đi vào thế giới nghệ thuật thơ ca, họ hiểu rõ sứ mệnh “người thư ký của thời đại” và coi đó là ý nghĩa cao quý, thiêng liêng của đời mình Trên thi đàn Việt Nam nói chung và thơ ca chống Mỹ nói riêng ta từng bắt gặp những câu thơ

về sứ mệnh của người cầm bút, nhưng Hữu Thỉnh là nhà thơ đã có được những ý thơ lạ với một thái độ dứt khoát trong quan niệm về người nghệ sĩ:

Trang 30

Trời ơi nếu kẻ thù chiếm được chỉ một gốc sim thôi dù chỉ gốc sim cằn

Tổ quốc sẽ ra sao? Tổ quốc?

thơ ơi thơ hãy ghi lấy gốc sim

(Đường tới thành phố)

Là một nhà thơ mặc áo lính và là người lính làm thơ, Hữu Thỉnh mang trong mình khí chất bừng bừng chiến đấu với những vần thơ hừng hực khí thế Hữu Thỉnh quan niệm trong một người lính có một thi nhân Xuyên suốt các tập thơ của Hữu Thỉnh là một con người luôn tìm đến cái cốt lõi của hiện thực để gạn lọc nên những câu thơ có hồn vía tinh túy Hữu Thỉnh đã tìm thấy

sự hòa điệu, cảm thông và chia sẻ trong tiếng nói tri âm với thân phận người lính Nói theo cách của tác giả Trường Lưu thì đây là “Sự hòa quyện giữa cái tôi, cái ta và đồng đội, giữa khung cảnh chiến trường, thao trường và lý tưởng chiến đấu, giữa những tình cảm đời thường và chất cao cả của người lính cụ Hồ sao mà thân yêu, gần gũi và hấp dẫn, tưởng chừng như không có ranh giới giữa nhà thơ và người chiến sĩ trong thơ” [27, tr 42]

Sau 1975, trong cuộc sống hàng ngày, dẫu bận rộn với khá nhiều công việc nhưng Hữu Thỉnh vẫn dành một góc riêng cho thơ Thơ luôn song hành trong mỗi suy nghĩ nơi con người thực thể của nhà thơ Là một người yêu thơ

và có ý thức cao trong sáng tác nghệ thuật, Hữu Thỉnh luôn cố gắng tìm ra cho mình một con đường nghệ thuật đích thực Theo Hữu Thỉnh điều tạo nên sức nặng cho thơ chính là sự sống của con người Mọi cung bậc như yêu thương, đau khổ, hạnh phúc… thì từng trải nhiều sẽ tạo ra kinh nghiệm sống Bởi vậy trong quan niệm về vị trí của một nhà thơ, Hữu Thỉnh nhấn mạnh đến

sự từng trải Ông bộc lộ: “Vì sao tôi nhấn mạnh đến sự từng trải như vậy? Bởi thơ ca là đi tìm tri kỷ, tìm sự cảm thông giữa con người với con người Giá trị nhân văn của văn học chính là sự cảm thông nâng đỡ con người Nhà văn lớn

Trang 31

hay không lớn cũng là ở chỗ đó” [33, tr 370] Mặt khác, Hữu Thỉnh cũng cho rằng phẩm chất quan trọng của nhà thơ chính là nhập cuộc, dấn thân và hành động Hành trình thơ Hữu Thỉnh là cả một quá trình suy tư, trải nghiệm bền bỉ không mệt mỏi Nhà thơ tâm sự:

Tôi và bạn bè trong lớp các nhà thơ chống Mỹ chịu ảnh hưởng trực tiếp từ những nhà thơ cách mạng lớp đầu và các nhà thơ kháng chiến chống Pháp Như là sự sắp đặt của lịch sử, về sau này, hành trình thơ của chúng tôi cũng giống các anh Bối cảnh thì khác, quy

mô và tính chất ác liệt cũng khác, nhưng tinh thần dấn thân và hành động vẫn là một Một cuộc dấn thân để tìm thấy sự kết hợp hài hòa giữa chủ thể sáng tạo và khách thể thẩm mỹ Nói gọn, trong một anh bộ đội có một thi nhân Không có cuộc sống ấy, không có thứ thơ ấy Cũng không nên xem nhập cuộc và hành động như là việc đi vào vườn hái quả Sự thật, đây là sự đào luyện của nhà thơ trong cuộc sống Vừa là tiếp nhận của đời sống, vừa là sự lớn lên, chứa dần trong tâm hồn của người thơ” [52, tr 7-8]

Nhìn vào đường đời, đường thơ Hữu Thỉnh, ta thấy điều dễ dàng nhận

ra ở ông là sự lao động sáng tạo không ngừng Đó là kết quả của quá trình nhập cuộc, dấn thân và hành động Đây chính là minh chứng, Hữu Thỉnh là thi sĩ của thơ, cho thơ và vì thơ Theo Nguyễn Đăng Điệp: “Với ý thức tận hiến cho thơ, Hữu Thỉnh là người luôn giữ được niềm mê đắm thi ca và khát khao đổi mới” [13] Trong suốt hành trình sáng tạo thi ca của mình, Hữu Thỉnh luôn mải mê với những tìm tòi về nội dung và hình thức Với ngôn ngữ, hình ảnh gần gũi và bình dị, thơ Hữu Thỉnh dễ đi vào lòng người

Với Hữu Thỉnh, con đường thơ ca cần đi mới chỉ là điểm xuất phát trên hành trình nghệ thuật Nhà thơ cần phải vượt qua nhiều đoạn đường quanh co trong cuộc sống mới có thể đạt tới “độ chín” của thơ ca Cuộc sống hiện thực

Trang 32

vô cùng sinh động và cũng đầy biến động Người nghệ sĩ cũng phải chịu sự tác động của cuộc sống Suy nghĩ về mối quan hệ của nhà thơ với cuộc sống cũng như vị thế của nhà thơ trong cuộc sống, Hữu Thỉnh bày tỏ một cách chân tình:

Chưa viết giấy đã cũ Chưa viết sông đã đầy Đám cưới đi qua có người đứng khóc

Chưa viết chợ đã đông Chưa viết đồng đã bạc Người than thở vì mất mùa nhân nghĩa

(Tạp cảm)

Hay:

Giữa hai vùng tối sáng Thi nhân bước lên cầu Gió với bao đáng tiếc Sấp ngửa dạt về đâu

(Thi nhân)

Hữu Thỉnh được xem là một phong cách thơ sớm định hình và tiếp tục

phát triển Tuy đã đạt được những thành công nhất định trên con đường nghệ thuật nhưng Hữu Thỉnh vẫn tiếp tục sức mình trên con đường tiếp theo với những quan niệm của mình về nhà thơ cũng như công việc làm thơ

Trang 33

Chương 2 HÌNH TƯỢNG CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ

HỮU THỈNH 2.1 Giới thuyết khái niệm

2.1.1 Cái tôi trữ tình

Cái tôi trữ tình là nội dung, đối tượng cũng như bản chất của tác phẩm trữ tình Nó đóng vai trò sáng tạo và tổ chức các phương diện nghệ thuật Thế giới của nó là một thế giới vô cùng phong phú với sắc điệu của cái tôi đối với cuộc đời Khi tiếp cận cái tôi trữ tình đã có nhiều quan niệm khác nhau xung quanh vấn đề này

Hà Minh Đức đã trình bày khá rõ quan niệm về cái tôi trữ tình Tác giả quan niệm cái tôi trữ tình như là nội dung, đối tượng chính của thơ ca, là khái niệm mang tính bản chất của trữ tình với các biểu hiện qua các nhân vật trữ tình cụ thể Đồng thời, tác giả chỉ ra rằng mối quan hệ giữa cái tôi trữ tình và bản thân nhà thơ là thống nhất nhưng không đồng nhất [16]

Theo Lê Lưu Oanh, cái tôi trữ tình theo nghĩa hẹp là “hình tượng cái tôi

- cá nhân cụ thể, cái tôi - tác giả - tiểu sử với những nét rất riêng tư, là một loại nhân vật trữ tình đặc biệt khi tác giả miêu tả, kể chuyện, biểu hiện về chính mình” Và theo nghĩa rộng, cái tôi trữ tình là “nội dung, đối tượng, phẩm chất của trữ tình” [35, tr 21]

Vũ Tuấn Anh đưa ra một cách quan niệm mới về cái tôi trữ tình:

Đó là sự thể hiện một cách nhận thức và cảm xúc đối với thế giới và con người thông qua lăng kính cá nhân của chủ thể và thông qua việc tổ chức các phương tiện của thơ trữ tình, tạo ra một thế giới tinh thần riêng biệt, độc đáo, mang tính thẩm mỹ, nhằm truyền đạt năng lượng tinh thần ấy đến người đọc [2, tr 32]

Trang 34

Như vậy, có thể thấy rằng, khó mà nắm bắt một cách chính xác khái niệm này nhưng luôn ý thức được rằng cái tôi trữ tình mang bản chất sáng tạo

và tự ý thức Cái tôi trữ tình luôn tồn tại như một thuộc thể thẩm mỹ, đối

tượng mỹ học nghệ thuật chịu ảnh hưởng, chi phối bởi xã hội

2.1.2 Bản chất của cái tôi trữ tình trong thơ

Từ xưa đến nay, thơ ca vẫn được coi là tiếng nói của tình cảm, cảm xúc Quan niệm ấy phù hợp với bản chất trữ tình của thể loại và đã được nhiều nhà thơ từ xưa đến nay nói đến Lê Quý Đôn quan niệm: “Thơ khởi phát từ lòng người” Ngô Thì Nhậm lại nghĩ: “Hãy rung động hồn thơ cho ngọn bút có thần”, còn Tố Hữu quan niệm: “Thơ là chuyện đồng điệu, là một điệu hồn đi tìm những hồn đồng điệu….”

Có thể nói, thơ là một khái niệm rất khó định nghĩa Thực tế thì khi nêu định nghĩa về thơ mỗi nhà nghiên cứu có cách tiếp cận riêng của mình về đối tượng Bởi vậy, bản chất cũng như sự thể hiện của cái tôi trữ tình trong thơ là

đa dạng, phong phú và muôn màu muôn vẻ Có khá nhiều ý kiến bàn bạc về bản chất của cái tôi trữ tình trong thơ Ở đây, chúng tôi xin đưa một số quan niệm đã được thừa nhận

Tác giả Trần Nho Thìn đã minh giải về bản chất cái tôi trữ tình trong thơ như sau: “Cái tôi” là hình tượng tác giả trong tác phẩm, là sự diễn tả, giãi bày thế giới tư tưởng, tình cảm riêng tư thầm kín của tác giả Nhìn từ góc độ phản ánh luận thì “Cái tôi” là đối tượng phản ánh, suy ngẫm của bản thân nhà thơ, là kết quả của sự tự ý thức, tự đánh giá, tự miêu tả (có nhà nghiên cứu gọi

là tự họa) của nhà thơ” [44, tr 80]

Nghiên cứu về thơ hiện đại, Hà Minh Đức khẳng định cái tôi trữ tình bộc lộ trong thơ với nhiều dạng thức và chỉ ra những dạng thức sau:

Dạng trực tiếp của một tình cảm riêng tư hay một sự việc gắn với cuộc đời riêng của người viết Ở dạng thức này, nhà thơ bộc lộ một cách trực tiếp

Trang 35

qua chữ “tôi” hoặc chữ “ta” (chữ “ta” rộng hơn cái “tôi” của người viết )

Cảnh ngộ và sự việc trong thơ không phải là cảnh ngộ riêng của thế giới Nhà thơ nói lên cách nghĩ của mình về những sự việc mà mình đã trải qua hoặc chứng kiến như một kỷ niệm, một quan sát Cái tôi trữ tình ở đây là một nhân vật trữ tình chủ yếu của sáng tác

Những bài thơ trữ tình viết về một loại nhân vật nào đó Đó là nhân vật trữ tình của sáng tác tồn tại bên cạnh cái tôi trữ tình của nhà thơ (cái tôi trữ tình ít xây dựng cụ thể) [16]

Theo tác giả Vũ Tuấn Anh bản chất thứ nhất của cái tôi trữ tình là bản chất chủ quan - cá nhân bộc lộ qua những đặc điểm sau :

Cái tôi trữ tình trở thành hệ qui chiếu thẩm mỹ đặc biệt mang tính chủ

quan, chuyển đổi thực hiện thực khách thể thành hiện thực của chủ thể Đồng thời, cái tôi trữ tình mang đậm dấu ấn cá nhân như một hiện thực độc đáo,

duy nhất, không lặp lại

Cái tôi trữ tình tự biểu hiện, khai thác và phơi bày thế giới nội tâm của

cá nhân Đồng thời, cái tôi trữ tình xây dựng một hình ảnh mang tính quan

niệm về chủ thể

Do tiểu sử và kinh nghiệm sống riêng của nhà thơ là một bộ phận cấu thành nhân cách trữ tình Bởi vậy, cái tôi trữ tình trước hết là “tính cách của

bản thân người mang lời nói” (Pospelov)

Cái tôi trữ tình khác về chất lượng với cái tôi nhà thơ Ở đây, cái tôi trữ tình không chỉ là cái tôi nhà thơ mà nó còn là cái tôi thứ hai hoặc là cái tôi khách thể hóa trong nghệ thuật và bằng nghệ thuật Vì vậy nên cái tôi trữ tình

là cái tôi nhập vai hoặc nhiều vai

Bản chất thứ hai của cái tôi trữ tình là bản chất xã hội - nhân loại với những đặc điểm như:

Cái tôi trữ tình là sự kết ước của những suy tư, khắc khoải về con

Trang 36

người Những nỗi niềm như hạnh phúc, đau khổ, tình yêu… đã trở thành đề tài truyền thống và bền vững của thơ Cái tôi trữ tình luôn có khát vọng đến

tính nhân bản sâu sắc và tầm nhân loại phổ quát

Cái tôi trữ tình chứa đựng trong nó bản chất xã hội và gắn bó với

những mối quan hệ cộng đồng cũng như thời đại Cái tôi trữ tình có khả năng

là cái tôi trữ tình có vai trò “mã hóa” những cảm xúc về thế giới bằng ngôn ngữ thơ ca theo những quy tắc riêng biệt của thể loại [1, tr 46]

Nhìn chung, những quan niệm nêu trên của các tác giả đã phần nào làm

rõ bản chất của cái tôi trữ tình trong thơ Trên đây là những căn cứ có tính nền tảng, định hướng cho chúng tôi khi nghiên cứu, tìm hiểu về cái tôi trữ tình trong thơ Ở đây, chúng tôi đồng nhất với quan niệm của tác giả Vũ Tuấn Anh

về bản chất của cái tôi trữ tình trong thơ Đó là, xem bản chất của cái tôi trữ tình là một khái niệm tổng hòa nhiều yếu tố hội tụ theo quy luật nghệ thuật bao gồm cả ba phương tiện: Bản chất chủ quan cá nhân, đây là mối liên hệ giữa tác giả với cái tôi trữ tình được thể hiện trong tác phẩm; bản chất xã hội của cái tôi trữ tình là mối quan hệ của cái tôi trữ tình với cái ta cộng đồng; bản chất thẩm mỹ của cái tôi trữ tình là trung tâm sáng tạo và tổ chức văn bản

Với những gì đã trình bày có thể thấy trong thơ trữ tình nói chung bao giờ và cốt yếu nhất cũng chính là sự tồn tại của cái tôi trữ tình Vẻ đẹp của thơ chính là sự biểu hiện đa dạng của cái tôi trữ tình trong thơ Biểu hiện cái tôi trữ tình trong thơ không chỉ ở phương diện nội dung là tình cảm, cảm xúc,

Trang 37

tâm trạng mà gắn liền với nội dung là hình thức thể hiện Cách lựa chọn hình thức ngôn từ, hình ảnh nghệ thuật, cách gieo vần… cũng là một sự biểu hiện của cái tôi trữ tình trong thơ

Cái tôi trữ tình khác về chất so với cái tôi nhà thơ Đó là sự khác nhau giữa cuộc đời và nghệ thuật Tuy cái tôi trữ tình có quan hệ chặt chẽ với cái tôi nhà thơ nhưng từ cái tôi nhà thơ đến cái tôi trữ tình còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác Không thể đồng nhất cái tôi trữ tình trong thơ với cái tôi nhà thơ nhưng mối liên hệ giữa nhà thơ và đời thơ là có thực và hết sức phức tạp

Tóm lại, cái tôi trữ tình là chủ thể của hành trình sáng tạo thơ ca, bộc lộ cách cảm nhận về thế giới và con người Đồng thời, cái tôi trữ tình còn thể hiện cá tính sáng tạo của nhà thơ và là điểm nhìn nghệ thuật

2.2 Sắc thái đa dạng của cái tôi trữ tình trong thơ Hữu Thỉnh

Gorky từng nói rằng: “Nghệ sỹ là tiếng nói thời đại” Trước 1975, thơ Hữu Thỉnh nằm trong dòng chảy thơ ca cứu nước, mang âm hưởng thời đại và góp phần làm nên diện mạo của thơ ca chống Mỹ Sau 1975, trong hành trình đổi mới, thơ Hữu Thỉnh vẫn bám sát đời sống, thể hiện những vấn đề của đất nước, của chiến tranh, của cuộc sống ở nhiều chiều Qua khảo sát thơ Hữu Thỉnh, ta dễ dàng nhận thấy một cái tôi trữ tình sinh động với những biểu hiện hết sức đa dạng

2.2.1 Cái tôi gắn bó với đất nước, quê hương

Hình tượng đất nước, quê hương dường như đã trở thành một đề tài lớn trong thơ ca Mỗi nhà thơ có một cách thể hiện riêng trong cảm hứng về đất nước, quê hương Với Hữu Thỉnh, hình tượng về đất nước, quê hương được khám phá ở nhiều cung bậc khác nhau và gắn với những giai đoạn sáng tác của tác giả

Có thể nói, thơ Hữu Thỉnh đã đem đến một cách thể hiện riêng về hình

Trang 38

tượng đất nước - quê hương trong chiến tranh Trong thơ Hữu Thỉnh, hình tượng đất nước xuất hiện trực tiếp không nhiều Điểm riêng của thơ Hữu Thỉnh là luôn gắn kết mẹ - quê hương - đất nước khi cảm nhận về Tổ quốc Đất nước - quê hương trong thơ ca chống Mỹ nói chung thể hiện chủ yếu ở các phương diện như văn hóa, lịch sử, địa lý… Chẳng hạn, Chế Lan Viên thể hiện đất nước từ truyền thống đánh giặc và văn hoá: “Khi Nguyễn Trãi làm

thơ và đánh giặc/ Nguyễn Du viết Kiều đất nước hóa thành văn” (Tổ quốc bao

giờ đẹp thế này chăng?) Trong thơ Hữu Thỉnh đất nước, quê hương lại được

khúc xạ chủ yếu qua hình tượng người mẹ Trong khói lửa chiến tranh, hình tượng mẹ - quê hương - đất nước gắn liền với đau thương:

Nghìn tấn bom một ngày Không chừa đâu vườn mẹ Tọa độ chín ô kẻ

Vườn ổi lọt vào trong

(Hương Vườn)

Hình tượng quê hương thời chiến tranh trong thơ Hữu Thỉnh được khắc họa qua cách nghĩ của người lính về người mẹ Quê hương ấy gắn liền với cuộc sống của bà mẹ ở hậu phương Đó là quê hương của làng quê nông nghiệp với những vất vả, nhọc nhằn nhưng cũng vô cùng thiêng liêng

Qua cái nhìn của cái tôi trữ tình là người lính, hình tượng người mẹ hiện lên như là hiện thân của quê hương thân thuộc và khắc họa qua lăng kính mối quan hệ cá nhân Chính tình cảm thiết tha, sâu nặng dành cho mẹ đã để lại trong thơ Hữu Thỉnh những dòng thơ cảm động về hình tượng người mẹ Phải chăng đây chính là thành công của Hữu Thỉnh khi ông viết về đề tài khá quen thuộc này:

Xúc động quá, quê ơi!

nỗi căm giận không cứ chờ phải máu

mẹ ta ốm, húp bát canh rau dệu

(Đêm chuẩn bị)

Trang 39

Khi nhập vai là một người con, cái tôi trữ tình trong thơ Hữu Thỉnh đã thể hiện những cảm xúc hết sức chân thành, thống thiết về hình tượng một người mẹ mang tính biểu trưng cho quê hương với tất cả những vất vả, tảo tần Đó là người mẹ của những “bát canh rau dệu”, của “hương cốm”, của

“vườn ổi”… hay là người mẹ trong sự đợi chờ “nhận mặt đứa con dâu”:

ngày mai chúng ta về (…) cho chị lấy chồng xa về giỗ tết cho mẹ già nhận mặt đứa con dâu

(Đêm chuẩn bị)

Trong chiến tranh với những tháng ngày hành quân đầy rẫy những hiểm nguy, người lính vẫn dành cho mẹ những tình cảm thương yêu đặc biệt Đó chính là niềm trân trọng thiêng liêng cao quý về những món quà mà mẹ đã tặng trước khi ra trận:

Hạt cốm xanh mặc áo lá sen xanh

Mẹ dành cho con làm quà ra trận Cam quýt vào đông; chớm hè: mơ, mận Tháng ba về hôi hổi bắp ngô non

(Hương cốm)

Ngoài đặc điểm nổi bật trên, cái tôi trữ tình gắn bó với đất nước, quê hương

trong chiến tranh còn được thể hiện ở hình ảnh đất Đất ở nơi chiến trường ác liệt

với những nét gần gũi gợi nhớ về hình ảnh quê hương Cái tôi trữ tình chợt thấy

“mùi tro bếp” và “màu bánh gai” nơi làng quê nghèo ở chốn hậu phương:

Tôi vốc nắm đất lên Bắt gặp mùi tro bếp Đất rất gần màu thép Cũng gần màu bánh gai

(Đất )

Trang 40

Bên cạnh cái tôi trữ tình gắn bó với đất nước trong chiến tranh, thơ Hữu Thỉnh còn có một cái tôi trữ tình gắn bó với đất nước trong thời bình Khi viết

về đất nước, quê hương sau chiến tranh, cảm xúc cái tôi trữ tình thật phong phú Thơ Hữu Thỉnh vừa góp phần thể hiện hình ảnh đất nước, quê hương qua hình ảnh làng quê đồng bằng Bắc Bộ với một tình yêu mến thiết tha, vừa bộc

lộ tâm hồn tinh tế, dạt dào cảm xúc của tác giả Ta có thể bắt gặp trong thơ Hữu Thỉnh nhiều câu thơ về quê hương chạm đến đáy sâu tâm hồn con người

và khơi gợi những tình cảm thiêng liêng:

Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se Gió chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về

(Sang thu)

Xuyên thấm trong thơ Hữu Thỉnh là một niềm tự hào về quê hương, đất nước Có những hình ảnh rất đỗi quen thuộc của làng quê được “lạ hóa” qua cảm thức tự hào:

Vạc mảnh bờ con cua mất quê Rau đay làm lẽ buổi tôi về

Ổi đào lên tỉnh xem son phấn

Ngày đăng: 22/05/2021, 10:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Vũ Tuấn Anh (1996), “Sư ̣ vâ ̣n đô ̣ng của cái tôi trữ tình và tiến trình thơ ca”, Ta ̣p chí Văn học (1), tr. 37-38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sư ̣ vâ ̣n đô ̣ng của cái tôi trữ tình và tiến trình thơ ca
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Ta ̣p chí Văn học
Năm: 1996
[2] Vũ Tuấn Anh (1997), Nửa thế kỷ thơ Việt Nam 1945 - 1995, NXB Khoa học xã hội, Hà Nô ̣i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nửa thế kỷ thơ Việt Nam 1945 - 1995
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1997
[3] Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia
Năm: 1999
[4] Phùng Khắc Bắc (1991), Một chấm xanh, NXB Quân đội nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một chấm xanh
Tác giả: Phùng Khắc Bắc
Nhà XB: NXB Quân đội nhân dân
Năm: 1991
[5] Nguyễn Phan Cảnh (2000), Ngôn ngữ thơ, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2000
[6] Hoa ̀ng Cầm (2003), Ta ́ c phẩm thơ Hoàng Cầm , NXB Hô ̣i nhà văn, Hà Nô ̣i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm thơ Hoàng Cầm
Tác giả: Hoàng Cầm
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 2003
[7] Anh Chi (2010), “Đường đời - đường thơ Hữu Thỉnh”, http:// honvietquochoc.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đường đời - đường thơ Hữu Thỉnh”, "http://
Tác giả: Anh Chi
Năm: 2010
[8] Xuân Diệu (1984), Công việc làm thơ, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công việc làm thơ
Tác giả: Xuân Diệu
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1984
[9] Hữu Đạt (1996), Ngôn ngữ thơ Việt Nam, NXB Giáo dục, Ha ̀ Nô ̣i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ Việt Nam
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996
[10] Lê Đa ̣t (1994), Bo ́ ng chữ (tâ ̣p thơ), NXB Hô ̣i nhà văn, Hà Nô ̣i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bó ng chữ
Tác giả: Lê Đa ̣t
Nhà XB: NXB Hô ̣i nhà văn
Năm: 1994
[11] Trần Đăng (2006) “Nghe Hữu Thỉnh thương lượng với thơ”, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghe Hữu Thỉnh thương lượng với thơ
Tác giả: Trần Đăng
Nhà XB: Tạp chí Văn hóa nghệ thuật
Năm: 2006
[12] Nguyễn Đăng Điệp (2002), Giọng điệu trong thơ trữ tình, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu trong thơ trữ tình
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2002
[13] Nguyễn Đăng Điệp (2003) “Hữu Thỉnh và quá trình tự đổi mới thơ”, Tạp chí Nghiên cứu văn học (9), tr. 28-35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hữu Thỉnh và quá trình tự đổi mới thơ
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu văn học
Năm: 2003
[14] Hà Minh Đức, Bùi Văn Nguyên (1968), Thơ ca Việt Nam - hình thức và thể loại, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ ca Việt Nam - hình thức và thể loại
Tác giả: Hà Minh Đức, Bùi Văn Nguyên
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1968
[15] Hà Minh Đức (1984), Thơ ca chống Mỹ cứu nước, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ ca chống Mỹ cứu nước
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1984
[16] Hà Minh Đức (1997), Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
[17] Hồ Thế Hà (2004), Thế giới nghệ thuật thơ Chế Lan Viên, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới nghệ thuật thơ Chế Lan Viên
Tác giả: Hồ Thế Hà
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2004
[18] Hồ Thế Ha ̀, Triều Nguyên (2005), Thao thư ́ c thơ , NXB Thuâ ̣n Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thao thứ c thơ
Tác giả: Hồ Thế Ha ̀, Triều Nguyên
Nhà XB: NXB Thuận Hóa
Năm: 2005
[19] Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (Đồ ng chu ̉ biên, 2007), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
[20] Trần Mạnh Hảo (1996), “Thư mùa đông của Hữu Thỉnh”, Tạp chí Văn nghệ Quân đội (4), tr. 101-106 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thư mùa đông của Hữu Thỉnh”, "Tạp chí Văn nghệ Quân đội
Tác giả: Trần Mạnh Hảo
Năm: 1996

TỪ KHÓA LIÊN QUAN