1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thế giới nghệ thuật thơ hàn mặc tử

201 87 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 201
Dung lượng 1,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận án dung “Hàn Mặc Tử” với lí do : đây là bút danh mà các bạn văn thân cận của ông như Chế Lan Viên, Quách Tân, Hoàng Diệp… khẳng định và Nguyễn Bá Tin, em trai của nhà thơ, cũng dung

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

CHU VĂN SƠN

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT THƠ HÀN MẶC TỬ

Chuyên ngành : Văn học Việt Nam

Mã số : 5.04.33

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học Giáo sư NGUYỄN ĐĂNG MẠNH

Hà Nội 2001

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

CHU VĂN SƠN

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT THƠ HÀN MẶC TỬ

Chuyên ngành : Văn học Việt Nam

Mã số : 5.04.33

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học Giáo sư NGUYỄN ĐĂNG MẠNH

Hà Nội 2001

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu

trong luận án là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận án

CHU VĂN SƠN

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỪ MỘT QUAN NIỆM THƠ LẠ LÙNG… 27

1.1 Quan niệm nghệ thuật của một nhà văn 27

1.2 Quan niệm thơ của Hàn Mặc tử 29

1.2.2.1 Thơ Hoa trái của Đan Thương 32

1.2.2.2 Người thơ – Người khách lạ đi giữa nguồn trong trẻo 40

1.2.2.3 Việc làm thơ – Nàng đánh tôi đau quá, tôi bật ra tiếng khóc 46

CHƯƠNG 2: …ĐẾN MỘT THẾ GIỚI HÌNH TƯỢNG RÀNG RỊT… 53

2.1 TRỤC TƯ TƯỞNG XUYÊN SUỐT VÀ BAO TRÙM 54

2.1.1 Tư tưởng nghệ thuật của nhà văn 54

2.1.2 Tư tưởng xuyên suốt và bao trùm của Hàn Mạc Tử 57

2.2 Hình tượng cái tôi đau thương: Mãnh liệt mà tuyệt vọng 70

2.2.1 Hình tượng cái Tôi trong thơ trữ tình 70

2.2.2 Cái Tôi Đau thương: Mãnh liệt mà Tuyệt vọng 72

2.3 Hình tượng Nàng Thơ Xuân tình mà Trinh khiết 90

2.2.1 Hình tượng Nàng Thơ (hay Người tình của Hồn Thơ) trong thơ trữ tình 90

2.2.2 Nàng thơ Xuân Tình mà Trinh khiết 94

2.4 HÌNH TƯỢNG THẾ GIỚI THÂN QUEN MÀ KÌ DỊ 115

2.4.1 Hình tượng thế giới của một nhà thơ trữ tình 115

2.4.2 Hình tượng thế giới quen mà kì dị của Hàn Mặc Tử 116

Trang 5

3.1 Nguồn cảm xúc đặc thù của Thơ Điên: Đau Thương 148

3.2 Chủ thể của Thơ Điên: Một xác thân nhiều nhân cách 151

3.3 Kênh hình ảnh tân kì của Thơ Điên: Những vẻ kì dị 156

3.4 Mạch liên kết của Thơ Điên: Dòng tâm tư bất định 164

3.5 Lớp ngôn từ nổi bật của Thơ Điên : Lớp từ cực tả 173

KẾT LUẬN 178

CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 182

TÀI LIỆU THAM KHẢO 183

Trang 6

MỘT VÀI QUI ƯỚC

1 Về cái tên tác giả Hàn Mặc Tử, Hiện vẫn còn có sự bất đồng trong việc dung bút danh “Hàn Mặc Tử” hay “Hàn Mạc Tử” Luận án dung “Hàn Mặc Tử” với lí do : đây là bút danh mà các bạn văn thân cận của ông như Chế Lan Viên, Quách Tân, Hoàng Diệp… khẳng định và Nguyễn Bá Tin, em trai của nhà thơ, cũng dung gọi anh mình một cách chính thức

trong các công trình: “Thơ Hàn Mặc Tử”, “Đôi nét về Hàn Mặc Tử”, “Hàn Mặc Tử”,

“Hàn Mặc Tử, anh tôi” và “Hàn Mặc Tử trong riêng tư”

2 Về việc chọn văn bản thở khảo sát Luận án chọn văn bản trong cuốn “Hàn Mặc Tử phê bình và tưởng niệm” (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1993) của nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ, với

lí do đây là văn bản đầy đủ hơn cả, khắc phục được cả một số thiếu sót của những văn bản công bố trước đó Ngoài những phần trích khác có chú dẫn kèm theo, thì toàn bộ thơ Hàn Mặc Tử được dung khảo sát ở luận áo đền trong văn bản kể trên

3 Về việc trình bày trích dẫn Do đối tượng khảo sát là thơ, nếu toàn dẫn theo lối ngắt hàng thông thường, thì số trang sẽ dôi lên quá nhiều Cho nên ngoại một vài lần rất hạn chế trích theo lối ngắt dòng, người viết dẫn theo lối liền dòng, phân biệt các câu thơ bằng dấu

gạch (/) Ví dụ : Sao anh không về chơi thôn Vĩ?/ Nhìn nằng hàng cau nắng mới lên…

Trang 7

MỞ ĐẦU

I MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA VÀ PHẠM VI CỦA ĐỀ TÀI :

1.1 Hàn Mặc tử (1912 – 1910) là một hiện tượng có sức ám ảnh vào bậc nhất của thơ

ca Việt Nam hiện đại Từ những người say mê đến cả những người không thể mê, ai đã từng một lần đọc, một lần biết về Hàn Mặc Tử, thì hầu như không thể quên nổi Ám ảnh Hàn Mặc

Tử là một phức hợp gồm nhiều mặt : một thân phận thơ đầy bất hạnh, một hồn thơ hết sức dị

biệt và một nghiệp thơ vừa trong trẻo bí ẩn, vừa huyền diệu, ma quái … Bởi thế, trong phong

trào Thơ Mới (1932 – 1945), nếu Xuân Diệu được xem là “mới nhất”, Nguyễn Bính là “quen nhất” ( “quê nhất” ? ), thì ngôi vị của Hàn Mặc Tử hẳn phải là “lạ nhất” và “phức tạp nhất”

Hàn Mặc Tử từng được ví như một vì sao chổi lạ xoẹt ngang bầu trời thơ ca Việt

Nam, từng được mệnh danh là người “cai trị trường thơ Loạn” của các nhà thơ Bình Định,

một thi phái lẫy lừng của phong trào Thơ Mới, từng được tiên tri như một nhà cách tân duy

nhất còn lại với thơ ca mai hậu – “Tôi xin hứa hẹn với các người rằng, những cái tầm thường mực thước sẽ biến tan đi, và còn ở lại cái thời kỳ này chút gì đáng kể đó là Hàn Mặc Tử”

(Chế Lan Viên – Báo “Người mới”/23.11.1940 ) Không còn nghi ngờ gì mà Hàn Mặc Tử chính là một hiện tượng văn học sử có sức sống mãnh liệt, đang và sẽ luôn đòi hỏi được khám phá, chiếm lĩnh, nghiên cứu

1.2 Việc người đời quan tâm đến thơ Hàn Mặc Tử cũng đáng xem là “lạ nhất” Trước hết, là một sức thu hút ghê gớm Hiếm có nhà Thơ Mới nào lại khiến giới nghiên cứu tiêu tốn

tâm sức và giấy mực nhiều đến thế Tính riêng những chuyên luận, chuyên khảo bề thế, ở cả trong lẫn ngoài nước, bằng cả tiếng Việt lẫn tiếng nước ngoài, đã có tới gần hai chục công trình Còn ở

Trang 8

những qui mô nhỏ hơn, như các tiểu luận trên sách báo và tạp chí, những ch giảng và bình giảng, chỉ tính số lượng trang in đã ngót nghìn trang Thậm chí đã có cả một người tự nguyện hiến trọn cuộc đời mình cho mỗi một việc tìm kiếm, sưu khảo những tư liệu xung quanh cuộc đời và thi nghiệp của Hàn Mặc Tử [ 158 ] (Phải nhận rằng, đến nay, ngay cả Xuân Diệu –

mới nhất trong các nhà Thơ Mới – cũng chưa có được may mắn này ! ) Vụ kiện “Tùng lai

chưa từng có” đẩy một nhà thơ tên tuổi và một cây bút phê bình tiếng tăm phải tới điều trần trước cửa quan, cũng chỉ xoay quanh việc trích thơ của Hàn Mặc Tử Thứ đến, một sự phân hóa trái ngược đã tới độ kỳ quái trong việc đánh giá Người khen thì đề cao là thơ siêu Việt (

kể ra biết bao kiệt tác, tuyệt tác, tuyệt bút ) và tán phong Hàn Mặc Tử là thiên tài vô tiền

khoáng hậu, kẻ chê lại mạt sát đến mức coi đó không phải là thơ, mà chỉ là những lời nhảm

nhí, điên khùng của một kẻ lạc vào thế giới đồng bóng Nhưng “lạ nhất” vẫn là : đến nay công cuộc nghiên cứu Hàn Mặc Tử đã ngót nửa thế kỷ rồi (chỉ tính mốc từ công trình “Hàn Mặc Tử - thân thế và thi văn”, 1942, của Trần Thanh Mại) vậy mà người trong cuộc vẫn chưa

dám tự tin rằng đã hiểu thật sự Dường như ai cũng có cảm giác bị đối tượng chối từ Chính xác hơn là : chưa bước qua lời mời mọc đã gặp sự cự tuyệt Đối tượng cứ bướng bỉnh chuồi

ra ngoài tầm tay Đến nỗi, Chế Lan Viên, một bạn thân của Hàn Mặc Tử, một nhà thơ, một cây bút nghiên cứu bình luận về văn chương cự phách, đương thời đã quả quyết tiên tri về sự trường tồn với thời gian của Hàn Mặc Tử, thế mà đến cuối đời vẫn không thôi ngơ ngác, phân vân với câu hỏi nổi tiếng : “Hàn Mặc Tử, anh là ai?” Và nhà nghiên cứu Nguyễn Hoành Khung, người đã có nhiều dịp đề cập đến Hàn Mặc Tử, cho đến tận năm 1994, khi viết lời

giới thiệu “Một mùa thơ nở rộ” cho Hợp tuyển thơ Việt Nam (1930 – 1915), bằng cách nối

mềm mại những vần thơ khẳng định :”Thơ Hàn Mặc Tử hình như cho đến nay vẫn còn là một

ẩn số” [12, 11]

Trang 9

Với một tình hình nghiên cứu như thế, thơ Hàn Mặc Tử chúng ta phải tiếp tục khám phá để ngày càng làm sáng tỏ hiện tượng rất đỗi phức tạp này Việc đi sâu khám phá chẳng những góp phần tháo gỡ, khai thông những khúc mắc còn tồn đọng trên con đường tiếp cận đối tượng, mà còn giúp vào việc làm chủ một di sản thi ca quý giá, cũng như góp phần khẳng định vị trí văn học sử xứng đáng của thi sỹ này

1.3 Đúng là thế giới thơ của Hàn Mặc Tử dựng lên, bày ra trước người ta như một

“Cánh rừng nguyên sinh” (Chữ dùng của nhà nghiên cứu Nguyễn Thăng Long) vừa hết sức hấp dẫn, vừa sẵn sàng làm nản lòng người đến Người ta đã tiến hành công cuộc chinh phục, khai phá từ nhiều phía, nhiều mảng, nhiều lối Từ tổng thể vĩ mô là cả sự nghiệp thơ đến bộ phận, tiểu tiết vi mô với đơn vị bài, đơn vị câu, thậm chí đơn vị chữ [152] Đối tượng mà luận

án này tự giới hạn cho mình là : Thế giới nghệ thuật thơ Hàn Mặc Tử

Thế giới nghệ thuật là một cụm từ càng gần đây càng được sử dụng nhiều, cả trong

đời sống cả trong học thuật Nó được dùng khi con người có nhu cầu diễn đạt ý niệm về một cái chỉnh thể bên trong của sáng tác nghệ thuật (một tác phẩm, một loại hình tác phẩm, toàn

bộ sáng tác của một tác giả, sáng tác trên một vệt thể loại xuyên suốt của một tác giả, một

trào lưu ) Có nhiều cách quan niệm về Thế giới nghệ thuật là một thế giới được tạo ra trong nghệ thuật “Nó hoàn toàn khác thế giới thực tại vật chất hay thế giới tâm lí của con người dù

nó phản ánh thế giới ấy” Nói cách khác, “một thế giới nghệ thuật như một mô hình nghệ thuật trong việc phản ánh thế giới, ứng với một cách quan niệm về thế giới, một cách cắt nghĩa về thế giới” [99, 251] Một thế giới nghệ thuật như thế bao gồm một Quan niệm nghệ

thuật về con người, một Không gian nghệ thuật riêng, một Thời gian nghệ thuật riêng, và một

Trang 10

Hình thức ngôn ngữ tương ứng Có người quan niệm thế giới nghệ thuật là một chỉnh thể bao gồm một quan niệm

Trang 11

ngôi sao chổi kì lạ Ngôi sao đã yên nghỉ, nhưng ánh sáng bí ẩn của nó không tắt, trái lại càng ngày càng rực chói hơn Nghiệp thơ ấy, ánh sáng ấy khiến người đời không thể yên Bởi thế, Hàn Mặc Tử luôn luôn là một câu đó, một mật mã, vừa cuốn hút vừa thách thức giới nghiên cứu phê bình suốt mấy chục năm qua là một điều dễ hiểu Nhưng, cái diện mạo bề bộn của việc nghiên cứu Hàn Mặc Tử lại không dễ hiểu chút nào Bản thân đối tượng đã hết sức chông gai Công việc tiếp cận đối tượng không phải lúc nào cũng thuận chèo mát mái

Mãi đến năm 1987, khi Nhà xuất bản Văn học ấn hành “Tuyển tập Hàn Mặc Tử”, nhà thơ Chế Lan Viên mới viết lời giới thiệu có cái nhan đề nổi tiếng “Hàn Mặc Tử, anh là ai?”

Tuy nhiên, có thể thấy rằng đó chính là câu hỏi then chốt nhất, bao trùm nhất, lúc nào cũng day dứt, cũng làm trăn trở giới nghiên cứu Hàn Mặc Tử suốt mấy chục năm qua

ba giai đoạn lớn với những mốc thời gian tương đối xác định : Một là, trước 1945, hai là từ

1945 – 1987, ba là từ 1987 đến nay

Trang 12

2.1.1 Trước 1945 Sáng tác Hàn Mặc Tử được quan tâm nhiều, đặc biệt rộ lên khi Hàn Mặc Tử qua đời (1940) Ý kiến đây đó có phân hóa, nhưng đánh giá của giới nghiên cứu

có phần nghiêng về khẳng định Ngoài những bài báo in lẻ tẻ, có thể thấy các công trình phê

bình nghiên cứu bề thế nhất đã đề cao Hàn Mặc Tử với các mức độ khác nhau, như “Thi nhân Việt Nam” của Hoài Thanh – Hoài Châu, “Nhà văn hiện đại” của Vũ Ngọc Phan, nhất là công trình “Hàn Mặc Tử, nhân thế và thi văn” của Trần Thanh Mại (Đương thời chưa có một thi sĩ

nào của Phong trào Thơ Mới được viết riêng thành một chuyên khảo lớn đến thế !) Báo

“Người mới” cũng đã dành hẳn một số đặc biệt cho Hàn Mặc Tử với những lời đánh giá đầy

tâm huyết và ngưỡng mộ của bạn bè Hàn, mà phần đông đều là những thi sĩ lẫy lừng tên tuổi như Chế Lan Viên, Quách Tấn, Bích Khê, Hoàng Diệp, Yến Lan, Trọng Miên, Trần Thanh Dịch…

2.1.2 Từ 1945 đến 1987 Việc nghiên cứu Hàn Mặc Tử hình thành hai khu vực Phía Bắc, do hoàn cảnh chiến tranh và quan điểm còn đương ở giai đoạn trước đổi mới, nên đội ngũ có phần vắng vẻ, việc đánh giá còn chật hẹp và khẳng định còn dè dặt Những chuyên khảo lớn vắng bóng Hàn Mặc Tử chỉ được nói đến như nhiều nhà Thơ Mới khác Nếu có điều gì đặc biệt hơn thì đó là Hàn Mặc Tử là trường hợp khá tiêu biểu cho bước đường sa sút suy đổi của Thơ Mới ở giai đoạn cuối Có thể kể ra đây một số công trình thuộc khuynh

hướng này : “Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại”, “Phỏng vấn Thơ Mới 1932 – 1945”, “Từ điển văn học”, “Giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam” v.v Trong khi đó, ở

phía Nam lại có phần rầm rộ đề cao Hàn Mặc Tử đã đến mức tột đỉnh Hàn Mặc Tử được nhắc đến trong hàng loạt những công trình nghiên cứu quan trọng nhất của giới học thuật bấy giờ Ở đâu, cái tên Hàn Mặc Tử cũng được choàng một vòng nguyệt quế Thuộc vào số này là công trình nghiên cứu, biên khảo của Võ Long Tê, Thái

Trang 13

Văn Kiểm, Huỳnh Phan Anh, Nguyễn Mộng Giác, Quáng Tấn, Đặng Tiến, Thanh Lãng, Nguyễn Tấn Long, Nguyễn Hữu Trọng, Nguyễn Văn Trung v.v đặc biệt là Hoàng

Diệp, một bạn thơ, thành viên của Trường thơ Loạn ngày nào, với công trình phê bình “Hàn Mặc Tử” (1971) được giải thưởng hội văn bút Việt Nam Hai tờ tạp chí nghiên cứu văn chương phát hành ở Sài Gòn cũng dàng hai số đặc biệt kỷ niệm Hàn Mặc Tử là “Tạp chí Văn học” (20.12.1964) và “Tạp chí Văn” (7.1.1967) Ở những công trình này, các vấn đề về cuộc

đời, thân thế, thi pháp, hành trình sáng tạo của Hàn Mặc Tử đã được đặt ra, và nghiên cứu khá công phu, đã có không ít những khám phá quan trọng Có thể nói, nhờ những công trình

ấy mà câu hỏi “Hàn Mặc Tử, anh là ai?” đã được làm sáng tỏ khá nhiều điều

2.1.3 Từ 1987 đến nay Năm 1987 đối với Hàn Mặc Tử và giới nghiên cứu Hàn Mặc

Tử thật sự là một cái mốc quan trọng Không khí đổi mới đã giải phóng tư duy ở mức đáng

kể Thái độ đánh giá di sản cũ, nhất là Thơ văn lãng mạn đã cởi mở hơn rất nhiều Nhiều nhà

Thơ Mới đã được nhìn nhận theo một tinh thần mới Lần đầu tiên “Tuyển tập Hàn Mặc Tử”

được ấn hành trên toàn quốc Nhà thơ Chế Lan Viên còn kịp viết một trong những lời giới thiệu cuối cùng và tâm huyết nhất cho người bạn thơ xấu số (Trong thư gửi toàn Ban thư kí

Hội nhà văn, ngày 17.7.1988, Chế Lan Viên khẳng định rằng: “Tựa Hàn Mặc Tử cũng là đổi mới đầu tiên về vấn đề đánh giá siêu thực, về vai trò của đau thương”) Từ đây, việc nghiên

cứu Hàn Mặc Tử lại trở nên hưng thịnh hơn bao giờ Hàn Mặc Tử được đưa vào giảng dạy ở nhà trường phổ thông như một trong những gương mặt sáng giá nhất của Phong trào Thơ Mới được đưa vào giảng dạy ở đại học như một tác gia của Văn học Việt Nam hiện đại Thơ văn Hàn Mặc Tử được tái bản nhiều lần, với nhiều dạng thật phong phú Những công trình sưu tầm, hồi ký, chuyên khảo, chuyên luận, bình giảng đua nhau ra đời Chưa bao giờ Hàn Mặc Tử được đề cao đến như bây giờ

Trang 14

Cùng với những lời ngợi ca, sùng bái là những cố gắng nhận diện Hàn Mặc Tử ở

những chiều sâu mới Hồi ký có “Hàn Mặc Tử, anh tôi” và “Hàn Mặc Tử trong riêng tư” của

Nguyễn Bá Tin người em trai của thi sĩ Rồi những mẩu hồi ức của Trần Thanh Dịch, Nguyễn Minh Vĩ, Phạm Hổ, Võ Đình Cường những bạn cũ của nhà thơ, hoặc nhân thân của những

người từng “liên quan” đến Hàn thi sĩ Sưu tầm có “Hàn Mặc Tử, Hương thơm và Mật đắng” của Trần Thị Huyền Trang, “Đi tìm chân dung Hàn Mặc Tử” của Phạm Xuân Tuyển, “Hàn Mặc Tử, thơ văn và giai thoại” của Hà Vinh – Mã Giang Lân Truyện luận – phê bình có các

công trình của Vương Trí Nhân, Lại Nguyên Ân, Hoàng Nguyễnọc Hiến, Phan Cự Đệ, Đỗ Lai húy, Nguyễn Quân, Nguyễn Tri Nguyên, Phạm Xuân Nguyê, Phan Quỳnh Nga, Hồ Thế

Hà v.v Giảng bình tác phẩm có hàng loạt công trình của Nguyễn Đăng Mạnh, Lê Trí Viên, Hoàng Trinh, Văn Tâm, Vũ Quần Phương, Phạm Hổ, Cao Xuân Thử, Văn Giá, Ngô Văn Phú, Trinh Đường, La Khắc Hòa, Lê Bá Hán, Mã Giang Lan, Trần Đẵnguuyền, Mai Văn Hoan, Nguyễn Nhật Huy, Lê Quang Hưng, Lê Bảo, Tuệ Quang v.v

là đã thâu tóm được tất cả

Trang 15

2.2.1 Kiểu tiếp cận ấn tượng chủ quan Không phải thuyết minh, cũng có thể thấy đó

là lối tiếp cận của Hoài Thanh và Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam (1932 – 1941) Dựa vào ấn tượng chủ quan của cá nhân mình, “Lấy hồn tôi để hiểu hồn người”, các tác giả này

đã sắp xếp các tập thơ của Hàn Mặc Tử theo trật tự thời gian và ghi lại ấn tượng của mình

trước từng tập kế tiếp ấy “Bây giờ đã ra khỏi cái thế giới kỳ dị ấy và đã trở về với cuộc đời tầm thường mà ý nhị, tôi thử sắp xếp lại những cảm tưởng hỗn độn của tôi” Vì lấy thước đo

bằng kinh nghiệm cá nhân để đối chiếu với kinh nghiệm của thi sĩ, rồi lại qui tụ ấn tượng vào những câu đặc sắc nhất, nên lối tiếp cận này đã giúp hai nhà phê bình lấy ra được những câu

thơ hay “đọc lên như rưới vào hồn những nguồn sáng láng”, bởi ở đó chứa đựng “những cảm giác mà ta có thể có” Còn thì “Ta rùng mình, ngơ ngác” Như vậy, thế giới nghệ thuật Hàn Mặc Tử, trong quan niệm của tác giả “Thi nhân Việt Nam” chỉ là một tập hợp những cảnh sắc

được xếp kế tiếp bởi các tập thơ mà chưa hình dung về mọi liên hệ nội tại cũng như cấu trúc toàn vẹn của nó Nói cho đúng, khi tìm kiếm những ảnh hưởng của các trường phái thơ ca Phương Tây vào Thơ Mới, Hoài Thanh và Hoài Chân có đề cập đến hành trình qua các tập

thơ của Hàn Mặc Tử về phương diện xu hướng :”( ) Chế Lan Viên đã đi từ Bandeclaire, Edgar Poe đến Thơ Đường và đi thêm một đoạn nữa cho gặp Thánh Kinh của đạo Thiên chúa” Đó cũng là một sự biến chuyển trong hành trình thơ ca Hàn Mặc Tử nhìn tổng thể Dù

sao đó cũng chưa hẳn là vận động nội tại của thế giới nghệ thuật

Cố gắng khách quan hơn, có đưa ra những tiêu chí mang tính khoa học hơn, nhưng về

căn bản lối tiếp cận của Vũ Ngọc Phan trong phần viết về Hàn Mặc Tử ở cuốn “Nhà văn hiện đại” cũng là trực cảm, cũng là những ấn tượng chủ quan Tác giả ghi lại những cảm nhận của

mình về “những thi hứng”, “Lời

Trang 16

thơ ông, ý thơ ông”, “những cảnh chết chóc rùng rợn”, “những nhạc điệu”, v.v Nghĩa là

thế giới nghệ thuật Hàn Mặc Tử được nhìn nhận theo lối phân lập ra từng yếu tố riêng lẻ, cục

bộ, chứ không được nhìn nhận như một chỉnh thể chặt chẽ Bởi thế, nhà nghiên cứu có được

những đánh giá rất đáng chú ý như “Hàn Mặc Tử có những thi hứng rất dồi dào, nhưng thơ ông phần nhiều khúc mắc, nhạc điệu trong thơ ông hình như không phải là phần quan hệ, lời thơ ông nhiều khi rất thô” hay “bên cạnh những bài tầm thường, người ta thấy dưới ngòi bút

ông những bài tuyệt tác” [ 115, 209 ] Tuy nhiên, đó cũng là những đánh giá về các thành tố

rời, những bình diện lẻ, chứ không phải là sự tiếp cận vào thế giới nghệ thuật như một kiến trúc toàn vẹn Về phương diện chỉnh thể, tuy “Nhà văn hiện đại” được viết sau, nhưng lại

chưa có được một ý niệm về thế giới thơ, dù chỉ lờ mờ tự phát như trong “Thi nhân Việt Nam”

2.2.2 Tiếp cận theo phương pháp tiểu sử và phân tâm học Nghiên cứu văn học từ góc

độ Phân tâm học không còn là một hướng đi mới mẻ Hướng tiếp cận này xem hoạt động sáng tạo như sự thăng hoa của những xung lực tâm lí có tính khởi thủy và của những ham muốn bị dồn nén bởi không được thỏa mãn trong thực tại, phải tìm cách giải thoát và thỏa mãn ở lĩnh vực huyễn tưởng Nhiều khi sáng tạo được xem như là biểu hiện những xung đột

bi kịch của những ham muốn vô thức với những thế lực cấm đoán về mặt xã hội hoặc đạo đức [8, 257] Xem xét những biểu tượng trở đi trở lại với mật độ dày trong sáng tác Hàn Mặc

Tử như là những “phóng chiểu” nhưng “giải thoát” của một số ẩn ức bên trong của thi sĩ, coi thơ Hàn là “sự chế ngự tài tình nhưng dồn ép để rồi phát tiết ra những bài thơ cao đẹp”, đó là

lối tiếp cận và những thao tác phổ biến trong các công trình của Nguyễn Mộng Giác (Hàn Mặc Tử và sự sáng tạo cuồng nộ) Đào Trường Phúc (Hàn Mặc Tử, trăng và thơ), Bùi Xuân

Trang 17

Bảo (Thi ảnh khẩu cảm trong thơ Hàn Mặc Tử), Nguyễn Kim Chương ( Hàn Mặc Tử đau thương và sáng tạo) Lê Huy Oanh ( Đọc lại “Chơi

Trang 18

giữa mùa trăng” của Hàn Mặc Tử ) Thậm chí cả Nguyễn Bá Tín khi viết hồi kí, lúc nhận diện thơ của anh trai mình cũng tiếp cận theo lối này (Hàn Mặc Tử, anh tôi và Hàn Mặc Tử trong riêng tư) v.v Song, người đầu tiên vận dụng lối tiếp cận này phải kể đến là Trần Thanh Mại Trong công trình “Hàn Mặc Tử, thân thể và thi văn”, nhà nghiên cứu đã tái dựng tiểu sử Hàn

Mặc Tử với những chặng đời chính, rồi sắp đặt các tập thơ tương ứng với những quãng đời

ấy Mặc nhiên coi các thi phẩm kia là sản phẩm trực tiếp của mỗi bước đường đời thi sĩ và các biểu tượng thi ca cũng ra đời từ những ẩn ức sâu kín của hồn thơ này, bởi tác động khủng khiếp của bệnh phong Nhờ đó mà có lẽ Trần Thanh Mại là người đầu tiên phát hiện ra ảnh

hưởng của chiêm bao trong thơ Hàn Mặc Tử: “Một phần nửa trong thi ca Hàn Mặc Tử là chịu đựng ảnh hưởng của chiêm bao” [81, 61], có lẽ cũng là người đầu tiên khám phá ra

Trăng Hồn như là những biểu tượng có sức ám ảnh lớn đối với thi ca Hàn Mặc Tử Hoàn

toàn có thể khẳng định rằng : trước 1945, “Hàn Mặc Tử, Thân thế và thi văn” là công trình có

tầm cỡ nhất trong công cuộc nghiên cứu di sản Hàn Mặc Tử, không phải là công phu hay khối lượng trang in, mà ở những cơ chế bên trong của sáng tạo thơ ca Hàn Mặc Tử Ở hai tác giả trên kia, việc tiếp cận nghiêng về chia cắt, tách rời Các tập thơ được nhìn nhận khá biệt lập với nhau Thì Trần Thanh Mại có chú ý ít nhiều đến mối liên hệ bên trong giữa các tập

thơ, khi nhìn nhận cái cây sẽ mọc ở các tập sau đã thấy gieo mầm dây đó ở tập trước “Cái mùi hương ở ĐAU THƯƠNG và XUÂN NHƯ Ý đã phảng phất ở đấy rồi Và đọc một bài như

“Bẽn lẽn” của GÁI QUÊ rồi, thì về sau ta cũng không lạ gì mà có được viên ngọc vô ngần quý giá như ở “Đà Lạt trăng mờ”, “Huyền ảo” hay “Đây thôn Vỹ Dạ” [84, 44]/ Tiếc rằng,

Nhà nghiên cứu đã không xem mối liên hệ bên trong một cách toàn diện và không quán triệt điều này như một yếu tố then chốt tạo nên tính chỉnh thể cho một hành

Trang 19

trình nghệ thuật Bởi vậy, thế giới nghệ thuật về căn bản vẫn chưa thực sự hiện diện trong quan niệm của nhà nghiên cứu này Thừa hưởng khá nhiều thành quả của những người đi trước, nhất là của Trần Thanh Mại, Huỳnh Phan Anh một người gắn kết thơ hết sức chặt chẽ với tiểu sử ở bình diện thời gian, còn một người gắn thơ với kinh nghiệm tồn vong, cũng là

một thứ tiểu sử trên bình diện tâm thức chung nhất, Nguyễn Tân Long, trong “Việt Nam thi nhân tiền chiến” (quyển hạ), về thực chất là phối hợp hai thiên hướng tiếp cận đó Ông khẳng định :”Cuộc đời của thi nhân có liên hệ đến cuộc đời của thi phẩm như hình với bóng, không thể tách rồi hoặc cắt ra từng khúc được” Và “Thi phẩm cũng chỉ là một cuộc đời của tình cảm núp sau cuộc sống hiện hữu” Từ đó, tác giả đi đến một quan niệm đáng lưu ý, nhìn từ

phía luận án này : ông cho rằng cuộc đời thơ của Hàn Mặc Tử là “cuộc đời tình cảm”, nó như một chỉnh thể Và ông chia cái chỉnh thể ấy thành ba thời kì liên hệ móc xích vừa hữu cơ vừa

phân liệt:”Chúng tôi chia cuộc đời tình cảm của thi nhân làm ba thời kì : Thời kì bình thản, Thời kì dao động và thời kì xoa dịu” [81, 313] Cái nhìn chỉnh thể của Nguyễn Tấn Long, về

thực chất là đồng dạng với Hoài Thanh và Hoài Chân và Trần Thanh Mại Nghĩa là chỉnh thể

chủ yếu trên bình diện thời gian Nếu các tác giả “Thi nhân Việt Nam” có phần nghiêng về hành trình của loại hình thi ca, tác giả “Hàn Mặc Tử, thân thế và thi văn” nghiêng về hành trình thân phận, thì người viết quyển hạ, bộ “Việt Nam thi nhân tiền chiến” lại nghiêng về

hành trình tình cảm Vận động trong thời gian một bình diện không thể không tính đến của một thế giới nghệ thuật hoàn chỉnh Người viết luận án chẳng những cần xem đây là một bước khám phá nội dung cần kế thừa mà còn coi đó là một tham khảo gần gũi về phương pháp Nhưng dầu sao lịch đại cũng chỉ là một bình diện phương pháp, nó còn được bổ sung bằng những bình diện khác nữa

Trang 20

2.2.3 Kiểu tiếp cận xã hội học Mác xít Có thể xem đây là lối tiếp cận chủ đạo của các công trình nghiên cứu phía Bắc khoảng từ 1945 đến 1987 Tiêu biểu là các Giáo trình lịch

sử văn học Việt Nam hiện đại, các từ điển văn học và các Công trình nghiên cứu về thơ Hiện đại và Thơ Mới Đáng kể nhất là những chuyên luận của tác giả Phan Cự Đệ Trong cuốn

“Phong trào Thơ Mới 1932 – 1945” Tác giả này không nghiên cứu riêng Hàn Mặc Tử mà

xem xét Hàn Mặc Tử trong trào lưu Thơ Mới nói chung Tuy nhiên những đánh giá về Hàn Mặc Tử lại là phần hết sức nổi trội và tiêu biểu cho lối tiếp cận này Kiểu tiếp cận xã hội học Mác xít quan niệm một hiện tượng văn học trước hết là một hiện tượng thuộc ý thức xã hội phát ngôn văn học được xem như một phát ngôn gián tiếp và trực tiếp của ý thức xã hội chính trị của người viết Bởi thế, xem xét Hàn Mặc Tử, nhà nghiên cứu cũng muốn tìm kiếm một trục tư tưởng xuyên suốt sự nghiệp thơ ca của thi sỹ Tiếc rằng những quan niệm nghệ thuật trường bị đánh đồng với quan điểm xã hội chính trị nên Hàn Mặc Tử bị xem như một hiện

tượng suy đồi tiêu biểu của Thơ Mới “Cuối thời kì thứ nhất đã thấy những dấu hiệu suy đồi của thời kỳ thứ hai: “Đau thương” (Hàn Mặc Tử) Xác thu (Hoàng Diệp); 1939 Tinh huyết (Bích Khê) Xuân như ý của Hàn Mặc Tử”, “Hàn Mặc Tử là dấu nối giữa thời kỳ thứ nhất và

thời kỳ suy đồi – CVS) thứ hai [34, 51]/

Điều đáng là bước sang thời kỳ đổi mới, tác già này cũng đã có một thay đổi hoàn

toàn và kịp thời trong cách đánh giá về hiện tượng Hàn Mặc Tử Trong công trình “Thơ văn Hàn Mặc Tử ( phê bình và tưởng niệm)” được biên soạn công phu, nghiêm túc, với nhiều tư

liệu quí hiếm mà nhiều công trình khác cũng chưa sưu tầm được Giáo sư Phan Cự Đệ cũng

có một bài tiểu luận dày dặn riêng về Hàn Mặc Tử, với nhan đề “Hàn Mặc Tử sống mãi với thời gian” Vẫn trung thành với lối tiếp cận xã hội học Mác xít, nhưng với các nhìn cởi mở

hơn rất nhiều, với tấm lòng rộng rãi hào phóng, có thể nói công

Trang 21

trình này là một sự đính chính, một cuộc đời mới vượt bậc trong tư duy tác giả của nó Trung thành với cách trước sau, ông vẫn xem quan niệm nghệ thuật của Hàn Mặc Tử là “nghệ thuật

vị nghệ thuật” – nhưng giờ đây ông nhận diện để cảm thông ghi nhận chứ không phai lên án

phủ nhận gay gắt như trước: “Do quan niệm nghệ thuật vị nghệ thuật – Ông viết – nên Hàn Mặc Tử đã đi đến kết luận rằng những “yếu tố của thơ ca” (elements de la poésie) chỉ là

“trăng, hoa, nhạc, hương” Và cũng dễ cảm khi thi sĩ mặc bệnh hiểm nghèo, sống cô đơn, xa

lánh mọi người trong những xóm vắng ven bờ biển thì nguồn cảm hứng của nhà thơ bất hạnh

chỉ còn là “Say trăng, say người thục nữ, say kinh cầu nguyện, say trời tương tư” [35, 14] Do

đó, nêu ở cuốn “Phong trào Thơ Mới 1932 – 1945” là có phần nghiêng về phủ nhận, thì ở đây

là một sự khẳng định nhiệt thành “Điều đáng nói là chúng ta cám ơn thi nhân đã dồn hết bao nhiêu nguồn máu lệ, đã từng uống mật đắng cay trong khi miệng vẫn tươi cười sốt sắng” gửi đến cho chúng ta những bài “thơ sáng láng phương phi như một mùa Xuân như ý” ( ) và

chúng ta tin rằng hôm naycũng như mai sau :”Thơ anh sẽ như trầm hương ngào ngạt tỏa lên cao lồng lộng giữa trời xanh” [35, 79] Bài tiểu luận ấy có hay phần, thì phần đầu có một tiêu

đề đáng chú ý “Thế giới nghệ thuật độc đáo của Hàn Mặc Tử” Ở đây, học giả đã quan tâm đến khái niệm “Thế giới nghệ thuật” Bằng những phân tích và nhận diện về thơ ca Hàn Mặc

Tử trên những bình diện như quan niệm thơ, khuynh hướng thơ và một số đề tài thơ, Học giả

đã có những nhận định đáng chú ý mà luận án có thể tham khảo trực tiếp Ví dụ “Vũ trụ thì coi Trời thơ của Hàn Mặc Tử là sự hòa hợp giữa bốn yếu tố “Trăng, hoa, nhạc, hương” [35, 17] Hoặc nhận định về sự chuyển dịch trên bình diện khuynh hướng thơ :”Tập Đau thương, nhìn chung đã thấm đẫm màu sắc thơ Tượng trưng ( ) Với Xuân Như ý, Thượng Thanh khí,

Cẩm châu duyên, Duyên ngỏ, Quân Tiên hội, Hàn Mặc Tử đã từ tượng trưng chuyển dần sang siêu

Trang 22

thực” hay “Hàn Mặc Tử đã đi một đường dài từ thơ Đường cổ điển chuyển nhanh sang lãng mạn, tượng trưng và đã chớm đến bờ siêu thực” [35, 15-21] Trong phần sau, có tên là “Chất Đạo và Chất Đời trong thơ Hàn Mặc Tử”, tác giả đã tiếp tục đặt ra và đề xuất những kiến giải

xung quanh một trong những vấn đề phức tạp vào bậc nhất của thơ Hàn Mặc Tử là yếu tố Tôn giáo Đây cũng là một cố gắng nghiên cứu sâu về một yếu tố góp thêm một phía nhìn vào giới nghệ thuật của thi sĩ Tuy vậy, Thế giới nghệ thuật ở đây vẫn chưa phải là khái niệm bao hàm một chỉnh thể, một cấu trúc, trong đó tư tưởng nghệ thuật của nhà văn là một trục xuyên suốt của một hệ thống biểu tượng sống động, châu tuần xung quanh là ba hình tượng bao trùm – hình tượng Cái Tôi, hình thượng Nàng Thơ và hình tượng Thế giới Có nghĩa là : Tuy có cùng một tên gọi, nhưng thế giới nghệ thuật ở đấy không phải là đối tượng theo quan niệm của luận án này

2.2.4 Lối tiếp cận triết học Các công trình của Đặng Tiến, Võ Long Tê đều ít nhiều

có những thao tác của lối tiếp cận này Nhưng điển hình nhất vẫn là Nguyễn Xuân Hoàng với

tiểu luận “Nỗi khắc khoải siêu hình trong thơ Hàn Mặc Tử” và Huỳnh Anh Phan với công trình “Văn chương và kinh nghiệm Hư vô” Cả hai công trình này đều là những nỗ lực vận

dụng triết học hiện đại, nhất là những tư tưởng của Heideger (1889 -1976) về nguồn gốc của nghệ thuật và lý thuyết tiếp nhận để nghiên cứu Hàn Mặc Tử Coi kinh nghiệm Hư Vô là kinh nghiệm bào trùm và xuyên suốt của con người khi đối mặt với Hư Vô, và tồn sinh nghĩa là

đang Hư Vô hóa, Huỳnh Phan Anh đã đi đến những kết luận theo hướng của mình :”Thi sĩ sống cõi chết của mình Hư Vô chính là kinh nghiệm thi sĩ” [2 128] Và tác đã đã vận dụng quan điểm đó vào trường hợp Hàn Mặc Tử “Thơ Hàn Mặc Tử đã được chú giải bằng nhiều cách, nhìn ngắm từ nhiều khía cạnh, ( ) tại sao không nhìn nó như một kinh nghiệm

Trang 23

trước hết của một con người, một thực tại con người ngay trong thân phận, trong sử tính đích

thực của nó?” [2, 123] Từ đó, Huỳnh Phan Anh nhìn sâu vào một biểu tượng khá nổi bật của thơ Hàn Mặc Tử là Trăng, và nhận định : “Thi sĩ nói nhiều tới Trăng, nhắc nhiều tới trăng Trăng lấp đầy thi hứng Trăng biểu hiện niềm cô đơn tuyệt đối” [2, 125] Để cuối cùng đã

nâng một đặc điểm từng được những người đi trước ( mà đầu tiên là ý kiến của Nguyễn Mộng Giác [44]) đề cập ít nhiều lên thành một luận điểm hạt nhân, rồi đi đến một nhận định

bao trùm về thơ Hàn Mặc Tử : “Thơ và đau thương Thơ là kinh nghiệm đau thương đó” Có

lẽ không phải tình cờ tập thơ xuất sắc nhất của thi sĩ nhan đề “Đau thương” Nếu cần người ta

chỉ có thể thâu tóm thơ Hàn Mặc Tử về một ý niệm tương tự, một ý niệm nền tảng Thơ vẽ nên chân dung hư hoại của kiếp người Thơ đào sâu kinh nghiệm thiếu sót, tình cảm bại vong trong hành trình bát ngát của thân phận người” [2, 126] Vậy là Lối tiếp cận triết học được vận dụng bởi một nhãn quang cụ thể của Huỳnh Phan Anh chỉ đưa tác giả này đến những nhận định tổng quát về thế giới nghệ thuaajtcuar Hàn Mặc Tử như một minh chứng cho lý thuyết về văn chương, hơn là việc tiếp cận thế giới thơ Hàn một cách kỹ lưỡng toàn diện Và

bở thế nhận định của Huỳnh Phan Anh cũng mang màu sắc ấn tượng chủ quan khá đậm

Tiếp tục hướng này, một vài tác giả khác đã cụ thể hóa hơn Chẳng hạn, Đặng Tiến

:”Ở đây, ta bắt gặp ba hình tượng Trăng, Hồn, Máu dồn dập lại trong tương quan rất chặt chẽ : nhà thơ khạc hồn ra khỏi miệng, hay điêu cuồng mửa máu ra, hay ngậm cả miệng là trăng là trăng, cả ba hình ảnh đều rõ và từ thân xác Đau thương” Nghĩa là xét đến cùng,

Đặng Tiến cũng coi các biểu tượng kia là hiện thân của kinh nghiệm đau thương (có điều Tác giả này chỉ thấy Đau thương của thân xác) Một tác giả khác là Nguyễn Kim Chương đã lặp

lại Nguyễn Mộng Giác và cụ thể hóa Huỳnh Phan Anh rằng tất cả là Đau thương :”Hương thơm là đau thương của

Trang 24

khứu giác, Mật đắng là đau thương của Vị giác, máu cuồng là đau thương của một thân thể

rỉ ra để thành những dòng chữ” [21, 14] Vẫn chỉ là cái đau thuộc phạm trù thân thể Tham

vọng của Lối tiếp cận triết học ở đây là muốn xem Hàn Mặc Tử như một minh chứng, một dữ kiện của lý thuyết văn học nhìn từ triết học duy tâm về sáng tạo Bởi vậy thế giới nghệ thuật của Hàn Mặc Tử chưa được xem là đối tượng thực sự mà chỉ là một điểm tựa triết học còn nhiều phiến diện

2.2.5 Lối tiếp cận Ngôn ngữ - Văn hóa học Những đại diện của lối đi này phải kể đến Đặng Tiến, Võ Long Tê, Nguyễn Quân – Đỗ Lai Thúy, Lại Nguyên Ân Những người đi theo lối này, một mặt bám sát các sự kiện ngôn ngữ mang tính tự tại, mặt khác cũng nhìn nhận những mã (code) trong thơ Hàn Mặc Tử trong mọi liên hệ với Tôn giáo, Cho nên thế giới thơ Hàn Mặc Tử được xem như là hiện thân của tôn giáo trong thơ Đặng Tiến tìm kiếm Đức tin trong thơ Hàn Mặc Tử một cách kỳ công để rồi khẳng định dứt khoát : Các tập thơ

của Hàn Mặc Tử là sự tương ứng chặt chẽ với thế giới Kitô giáo trong Thánh kinh : “Nếu gái quê là thế giới chờ đợi Điềm lạ, đợi chờ chúa ra đời thì Đau thương là một tâm hồn mong mỏi ngày Chúa trở lại và Xuân như ý là thế giới Khải Huyền.” Mà cách nhìn nhận và tiếp cận tổng quát của Đặng Tiến là :”Tôi cố chứng mình là kiến trúc toàn bộ của thơ Hàn Mặc

Tử đến vang dội lời truyền giảng của Phúc Âm” [145, 4-5] Còn Võ Long Tê thì chứng minh hành trình nghệ thuật của Hàn Mặc Tử chính là “Vận động biện chứng khiến Hàn Mặc Tử, tín hữu công giáo làm thơ trở thành Hàn Mặc Tử, nhà thơ công giáo” Đỗ Lai Thúy cũng tan

thành âm hưởng tôn giáo nhưng dựa thêm vào ý kiến của Chế Lan Viên mà nói rằng Tôn giáo trong thơ Hàn Mặc Tử không hẳng là một tôn giáo cụ thể nào mà Hàn Mặc Tử hướng tới một

“Tôn giáo vũ trụ” và cho rằng tư duy thơ của Tử là “Tư

Trang 25

duy tôn giáo” với những chứng minh bằng các thao tác của Văn hóa học Những điều vừa kể

đây có những khía cạnh khả thủ và nhiều khía cạnh bất cập, sẽ được nói đến cụ thể trong phần nội dung luận án

2.2.6 Lối tiếp cận nghiêng về thi pháp học Đó là các công trình của Phan Kim Thịnh,

Lê Huy Oang, Bùi Xuân Vảo, Đào Trường Phúc, Phạm Bình, Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Mộng Giác, Trần Đình Sử Vận dụng triệt để các thao tác cơ bản của thi pháp như phân tích những hình thức mang tính quan niệm với tần số lặp lại cao, các tác giả này đã có những phát hiện về các chuỗi hình ảnh, hình tượng nằm rải rác trong thơ Hàn Mặc Tử chẳng hạn như Trăng, như Thi ảnh khẩu cảm, như Đau thương, như hiện tượng tan loãng trong Hàn Mặc Tử Đó đều là những khía cạnh thực sự đặc sắc của thế giới thơ Hàn Còn Hoàn Ngọc Hiến

qua việc phân tích một bài thơ cụ thể là “Trăng tự tử”, đã đi đến một nhận định bao quát về

thế giới thơ Hàn Mặc Tử chính là sản phẩm của một hình thái tư duy đặc thù: nó không phải

là siêu thoát, siêu thực mà là siêu thức [52, 7] Và Nguyễn Mộng Giác thì cho rằng đó là sản

phẩm của hình thái sáng tạo cuồng nộ [24, 9] Tuy nhiên, các tác giả đi theo hướng này hoặc chỉ quan tâm đến những bình diện riêng biệt, hoặc chỉ nhận diện một cách khai lược Bởi vậy, thế giới nghệ thuật của Hàn Mặc Tử vẫn chưa được nhìn nhận như một chỉnh thể với những mối dây liên hệ ràng rịt mà nhất quá của nó

2.2.7 Lối tiếp cận so sánh văn học Điển hình cho lối đi này là các công trình nghiên cứu của Vương Trí Nhàn Thực ra trong các`hướng tiếp cận được trình bày ở trên, so sánh là một thao tác chúng ta thường gặp Nhưng ở đó việc so sánh chỉ là một thủ pháp nhỏ, chỉ là thao tác nhằm chứng minh cho một vài ý tưởng cụ thể nào đó Còn với Vương Trí Nhàn, so

sánh đã thực sự thành phương pháp tư duy để giúp tác giả viết nên hai công trình “Vẻ đẹp kỳ

dị hay Hàn Mặc Tử trong những liên hệ với nghệ thuật hiện đại” và “ Hồn thơ siêu

Trang 26

thoát” (Hàn Mặc Tử trong sự so sánh với cá thi sĩ đương thời – Xuân Diệu, Huy Cận, Chế

Lan Viên và Nguyễn Bính) So sánh là xem xét sự vật này trong quan hệ đối sánh với một sự vật khác, là dùng ánh sáng tỏa ra từ sự vật khác để soi chiếu vào sự vật cần xem xét Nhờ đó người ta có thể khu biệt được những nét đặc thù của sự vật mình dâng cần chiếm lĩnh Vương Trí Nhàn đã thực hiện thao tác này ở những bước sơ bộ khi đặt Hàn Mặc Tử so với Hội họa

hiện đại mà đại diện là Salvador Dali để nhận ra sự tương đồng (không hẹn trước) với trào

lưu nghệ thuật hiện đại này Từ đó nhà nghiên cứu đã xếp thờ Hàn Mặc Tử vào hàng ngũ

những nghệ sĩ tiên phong của nghệ thuật hiện đại Căn cứ chủ yếu là Vẻ đẹp kì dị vẫn gặp

trong thơi Hàn Mặc Tử rất gần gũi với vẻ đẹp kì dị trong tranh của các họa sĩ phương Tây này Ở một phía khác, Vương Trí Nhàn lại đặt ngôi sao Hàn Mặc Tử vào giữa chòm sao rực

rỡ nhất của Thơ Mới là Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên và Nguyễn Bính đã tìm ra nét

tương phản, dị biệt Tất nhiên những so sánh của tác giả này chưa toàn diện, phần nhiều

mang tính ngẫu hứng và nghiêng về cảm tính Lối tiếp cận này sẽ có triển vọng hơn nếu người nghiên cứu xem xét thế giới nghệ thuật Hàn Mặc Tử một cách toàn diện như một cấu trúc, một chỉnh thể để đối sánh với các chỉnh thể nghệ thuật của các tác giả kia Có như vậy gương mặt nghệ thuật của Hàn Mặc Tử mới hiện lên thật rõ nét Dẫu sao, những kết quả so sánh bước đầu tiên những bình diện lẻ tẻ vẫn cho thấy đó là một hướng đi, một lối tiếp cận khả thi Luận án này cũng sẽ xem đây là một thao tác hữu ích để tiến hành khảo sát đối tượng của mình

2.2.8 Lối tiếp cận siêu hình thần bí Đây là hướng tiếp cận mang màu sắc thần học Xuất phát điểm của nó là thừa nhận những hiện tượng thần bí, thế giới thần bí là hiện hữu, thậm chí là một hiện thực, mà không phải cá nhân nào cũng có may mắn thị kiến, trải nghiệm Nó không thể mình định bằng thực chính khách quan, mà chủ yếu dựa vào những khinh nghiệm dị biệt, dị đoan và đức tín đơn thuần Không phải ngẫu nhiên mà phần đông những người

Trang 27

đọc Thơ Hàn Mặc Tử theo lối này đều là những con chiêu ngoan đạo Tiêu biểu cho hướng đi hiếm hoi nhưng cũng không hoàn toàn lẻ loi này là công trình nghiên cứu của Dũng Lạc Trần

Cao Tường: “Hàn Mặc Tử, nhà thơ thần bí” Trong phần “Thấy được những huyền bí bên kia cõi chết qua hiện tượng Hàn Mặc Tử”, dựa vào những mô tả và kết luận mang tính siêu

nghiệm in đậm nhãn quan Thiên chúa giáo về những hiện tượng huyền bí diễn ra khi con người cận kề cái chết và những gì một người chết lâm sàng từng thấy và kể lại khi đã khỏi

trạng thái “chết lâm sàng” ấy trong hai cuốn sách “Đời sau” (1975) của bác sĩ Raymoond Moody và “Được ánh sáng biến đổi” (1992) của bác sĩ Melvin Morse, tác giả Dũng Lạc

Trần Cao Tường đã khẳng định những hiện tượng “hồn lìa khỏi xác”, hồn bay vùn vụt rồi bị cuốn vào một “ống tối dài” hun hút thăm thẳm, bất chợt được bay, được “tắm trong một nguồn sáng đầy yêu thương và an bình” và được “ánh sáng biến đổi”…trong thơ Hàn Mặc Tử đều là hiện tượng có thực Hàn Mặc tử đã thường xuyên trải nghiệm và chỉ ghi lại hiện thực

kì bí đấy một cách trung thành Thế giới hình ảnh về một cõi trời huyền ảo là những thị kiến tâm linh hiện hữu chứ không phải là những sản phẩm của một trí tưởng tượng thi sĩ Có thể nói Hàn Mặc Tử là người đã chớm bước qua một cõi khác rồi lại trở về cõi này để tiết lộ cho

chúng ta những bí mật của cái cõi huyền bí đó “Hàn Mặc Tử đã làm những đức tin bằng thơ văn về những huyền bí đã thấy bằng thực chứng qua những lần chết đi sống lại” [127, 8-9]

Lối tiếp cận này cuối cùng đi đến một khẳng định gần gũi với những gì mà tác giả Đặng Tiến

thể hiện trong các công trình của mình, đó là: “Đọc thơ Hàn Mặc Tử thì một người ngoài công giáo cũng nhận ra có linh hồn, có thung lũng “ngục tổ tông” bóng tối sự chết, có phần xét, có thiên đàng, có hỏa ngục, có buồn có vui, mọi sự sẽ “qui tụ thân về một mối”, và nhất

là có Chúa là nguồn Ánh Sáng Tình Yêu” [127, 9] Lối tiếp cận này muốn có được sức thuyết

phục thật sự cần có những thực chứng xác thực Thiếu căn cứ thực chúng, có chỉ là những ức thuyết Vả chăng, giá trị

Trang 28

nghệ thuật của một thế giới hình tượng thi ca không hề phụ thuộc và điều đo Những gì được tạo ra trong thơ ca có xuất phát từ những gì đã “mục sở thị” hay không, không mấy quan trọng Điều quyết định trước sau vẫn là tính nghệ thuật và những giá trị nhân văn mà nó chứa đựng Cho nên, xét đến cùng, đây là một hướng nghiên cứu của khoa “ Thần bí học” lấy thơ Hàn Mặc Tử làm tài liệu khảo chứng mong tìm những bằng chứng thần bí trong thơ ca, hơn

là một hướng tiếp cận của “Nghệ thuật học” đi tìm những giá trị chân chính của nghệ thuật thi ca Dầu sao kết quả của lối tiếp cận này cũng có một tác dụng không ngờ đó là thêm một

căn cứ nữa để khẳng định cho một ý tưởng Thơ Hàn Mặc Tử hướng về một thức Siêu nghiệm

mà Luận án sẽ trình bày trong phần nội dung

Trên đây người viết vừa điểm qua tám lối tiếp cận cơ bản mà giới “Hàn học” đã vận

dụng để tích cực trả lời câu hỏi “Hàn Mặc Tử, anh là ai?” Có thể còn những lối tiếp cận

khác, luận án chưa kịp bao quát, hoặc có thể các hướng tiệp cận đôi khi liên đới, hay được phối hợp vận dụng đồng thời ngay trong một tác giả, trong cùng một công trình Người viết

đã cố gắng trình bày theo lối tách biệt để dễ hình dung Khi mạo muội làm việc này, người viết cũng ý thức rằng thực tế bao giờ cũng phong phú và sống động hơn bất cứ sự khái quát nào Đó là một qui luật bất khả kháng

Trang 29

Có thể thấy rằng, thế giới nghệ thuật của Hàn Mặc Tử, ngay từ đầu và cho đến tận bậy giờ còn tiếp tục đặt ra những vấn đề lớn luôn đòi hỏi được phải quyết như sau:

- Một là, TÌNH (hay cảm xúc thơ) Ở đây có mấy khía cạnh Về nguồn gốc: Tình, cảm xúc trong thơ Hàn Mặc Tử bắt nguồn trong Tình Cảm hay Dục tình? Hay là sự đồng thời xáo

trộn cả hai Về tính chất: Dục tình nên được quan niệm thế nào? Là lành mạnh hay thấp hèn, vẩn đục? Về sắc thái: Tình trong thơ Hàn Mặc Tử nghiêng về lòng lòng yêu nước hay tình bạn, tình yêu? Phương diện nào nắm vai trò chủ đạo?

- Hai là, ĐIÊN Vấn đề này cũng có nhiều khía cạnh: a) Thơ Tử là điên thật hay vờ điên? b) Điên ở Tử là thuộc Lôgic nội tại của một cá tính thơ hay do ngoại nhập - ảnh hưởng

từ một trường phái thơ nước ngoài nào đó? c) Bản chất của trạng thái Điên này là gì? Là một trạng thái bệnh lí hay một trạng thái sáng tạo đặc biệt? Hay bao gồm cả hai? d) Điên có những biểu hiện thế nào? Nó là đối tượng sáng tạo hay là phương tiện của sáng tạo ấy?

- Ba là, ĐAU THƯƠNG Có thể thấy ở đây ít nhất hai khía cạnh của vấn đề a) Về

thực tế, Đau thương ở Hàn Mặc Tử đau đớn thân xác bởi bệnh tật dày vò hay là đau thương tinh thần bởi những tổn thương không thể đền bì khỏa lấp? b) Về bản chất, Đau thương là gì?

- Bốn là, TÔN GIÁO Yếu tố Tôn giáo trong thơ Hàn Mặc Tử là điều ai cũng nhận thấy Nhưng ảnh hưởng của nó thuộc những phương diện nào trong thế giới nghệ thuật Hàn

Mặc Tử? Thuộc phạm trù Tình cảm (Đức tín Tôn giáo?) hay tư duy nghệ thuật (tư duy tôn

giáo)? Và tôn giáo ở Hàn Mặc Tử chỉ thuần là Công giáo hay gồm cả Phật giáo? Là một tôn giáo xác định hay là một kiểu tôn giáo vũ trụ? hay thuộc về một quan niệm tôn giáo hoàn toàn khác?

Trang 30

- Năm là, KHUYNH HƯỚNG THƠ Thơ Hàn Mặc Tử diễn ra theo một hành trình phức tạp và cũng mang một diện mạo phức tạp Giai đoạn đầu dễ thống nhất Nhưng giai

đoạn sau – kể sau “Đau thương” trở đi – Thơ Tử là Tượng trưng hay Siêu thực? Là Siêu thực

là Siêu thức? Là Hiện đại chủ nghĩa hay Hậu hiện đại?

- Luận án không có tham vọng giải quyết tất cả những vấn đề này Nhưng luận án quan niệm rằng: các vấn đề đó tồn tại rằng rịt với nhau, tồn tại trong nhau, và chúng chỉ có thể được giải quyết, hoặc có hi vọng được giải quyết, khi chúng được đặt trong chỉnh thể của

giới nghệ thuật Hàn Mặc Tử Sự ràng rịt của các yếu tố ấy góp mình tạo nên cấu trúc phức

tạp của thế giới nghệ thuật Hàn Mặc Tử Đến lượt mình, thế giới nghệ thuật Hàn Mặc Tử, với tính chỉnh thể của nó, sẽ giúp cho việc tiếp cận riêng từng yếu tố ấy một cách đúng mức và chuẩn xác hơn Về điểm này, luận án chỉ xác định một mong muốn khiêm tốn là trên cơ sở tái tạo thế giới nghệ thuật Hàn Mặc Tử với những đường nét chính sẽ góp một phần nào tháo gỡ những vấn đề hết sức phức tạp ấy

2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Về thực chất, thế giới nghệ thuật của nhà văn là thuộc về một phạm trù xác định của văn học sử: phạm trù tác giả văn học Bởi thế, hệ thống phương pháp và thao tác được vận

dụng để giải quyết đề tài là thuộc phương pháp luận nghiên cứu tác giả văn học

Cụ thể, luận án sẽ phối hợp phối hợp các phương pháp cơ bản sau đây:

2.3.1 Từ quan niệm thế giới nghệ thuật của nhà văn là một thế giới thẩm mỹ sống động, nếu thiếu đi khâu cảm thụ thẩm mỹ như là một bước tiến quyết, tạo tiền đề cho tất cả, thì không thể thâm nhập được vào vẻ đẹp sống động của thể giới đó Bởi vậy, luận án sẽ vận

dụng thao tác phân tích thẩm mĩ

Trang 31

truyền thống và thao tác thống kê để phát hiện tìm kiếm hệ thống những hình tượng trở lại

như một ám ảnh trong thế giới thơ Hàn Mặc Tử

2.3.2 Từ quan niệm thế giới nghệ thuật bao giờ cũng là một chỉnh thể, một cấu trúc

toàn vẹn với một quan hệ nội tại ràng rịt, phức tạp, luận án sẽ vận dụng phương pháp Tiếp cận hệ thống phối hợp với Thi pháp học để: một mặt, tái tạo lại diện mạo của thế giới hình

tượng thơ Hàn Mặc Tử trên những nét lớn; mặt khác, hình dung về mối quan hệ của các hệ thống biểu tượng hình thành nên chỉnh thể ấy Nghĩa là xem xét thế giới nghệ thuật Hàn Mặc

Tử trong các bình diện cấu trúc của nó

2.3.3 Từ quan niệm thế giới nghệ thuật không tĩnh tại mà luôn vận động, luận án sẽ

vận dụng Phương pháp so sánh để: vừa xem xét các yếu tố cấu thành thế giới hình tượng

trong sự biến chuyển qua các chặng sáng tác cơ bản của Hàn Mặc Tử, từ đó hình dung về

diện mạo biến đổi của nó – nghĩa là tìm hiểu trên bình diện Lịch dại, vừa đối chiếu với một

số tác giả khác để góp phần khu biệt những đặc sắc của thế giới nghệ thuật riêng của Hàn

Mặc tử nghĩa là tìm hiểu trên bình diện Đồng đại

2.5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN

2.5.1 Lần đầu tiên Lịch sử vấn đề nghiên cứu Hàn Mặc Tử và Thế giới nghệ thuật Hàn Mặc Tử được xem xét một cách tổng quan tương đối đầy đủ và cố gắng thâu tóm những

vấn đề bao trùm suốt mấy chục năm nghiên cứu của giới nghiên cứu Hàn Mặc Tử

2.5.2 Lần đầu tiên Quan niệm thơ của Hàn Mặc Tử được xem xét một cách có hệ

thống trên những dạng biểu hiện phong phú nhất của nó Giúp cho người đọc Hàn Mặc Tử nắm được hạt nhân của quan niệm này và hệ thống biểu hiện sinh động đầy mâu thuẫn của

2.5.3 Lần đầu tiên Thế giới hình tượng nghệ thuật của Hàn Mặc Tử

Trang 32

được xem xét, mô tả và lý giải trên những bình diện chính và liên quan hữu cơ với nhau: a)

Tư tưởng nghệ thuật Hàn Mặc Tử; b) Hình tượng Cái Tôi Hàn Mặc Tử: c) Hình tượng nàng thơ của Hàn Mặc Tử; d) Hình tượng Thế giới trong thơ Hàn Mặc Tử

2.5.4 Lần đầu tiên Hình thức Thơ điên của Hàn Mặc Tử được mô tả và lý giải một

cách hệ thống và cụ thể không chỉ với các đặc trưng thẩm mĩ nổi bật của nó mà cả quy luật

hình thành của Thơ điên trong tiến trình Thơ Mới đương thời

2.6 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, trong phần Nội dung, luận án sẽ triển khai

thành các chương mục chính và với một cấu trúc như sau:

Phần nội dung: Một Thế giới nghệ thuật kì dị…

Chương 1: Từ một quan niệm Thơ lạ lùng…

1.1 Thơ – Hoa trái của Đau thương

1.2 Người thơ – Người khách lạ đi giữa nguồn trong trẻo

1.3 Việc làm thơ – Nàng đánh tôi đau quá, tôi bật ra tiếng khóc…

Chương 2:…đến một thế giới hình tượng ràng rịt…

2.1 Trục tư tưởng xuyên suốt và bao trùm

2.2 Hình tượng cái Tôi Đau thương: mãnh liệt mà tuyệt vọng

2.3 Hình tượng Nàng thơ Xuân tình mà Trinh khiết

2.4 Hình tượng Thế giới thân quen mà kì dị

Chương 3:…Và một loại hình thơ độc đáo

3.1 Nguồn cảm xúc đặc thù của Thơ Điên: Đau thương

3.2 Chủ thể Thơ Điên: Một xác thân nhiều nhân cách

3.3 Kênh hình ảnh tân kì của Thơ Điên: Những vẻ kì dị

3.4 Mạch liên kết của Thơ Điên: Dòng tâm tư bất định

3.5 Lớp ngôn từ nổi bật của Thơ Điên: Lớp từ cực tả

Trang 33

CHƯƠNG 1: TỪ MỘT QUAN NIỆM THƠ LẠ LÙNG…

1.1 Quan niệm nghệ thuật của một nhà văn

1.1.1 Trước tiên, để tránh lẫn lộn, có lẽ cần một chút giới thuyết về khái niệm này Vạch một ranh giới nào đó giữa “quan niệm” và “quan điểm” chính là bước khởi đầu từ góc

độ chiết tự, quan điểm có nghĩa là “cho đứng để xen xét nhìn nhận”; còn quan niệm lại chính

là “cách xem xét, nhìn nhận, cách thức, đánh giá” [110, 771-772] Từ gốc rễ ấy mà quan điểm

được xác định là “điểm xuất phát qui định phương hướng suy nghĩ, qui định cách xem xét,

qui định cách hiểu các hiện tượng, các vấn đề” [110, 771] Trong khi đó, quan niệm lại được

hiểu như là “việc hiểu, việc nhận thức như thế nào đó về một vấn đề” [110, 771] Như vậy,

xét trong tương quan: nếu coi quan niệm là nội dung Xem xét một quan điểm chưa hẳn đã thấy được quan niệm, nhưng xem xét một quan niệm thì có thể thấy nó được xuất phát quan điểm nào Nói như vậy có nghĩa: bản thân quan niệm đã phần nào bao hàm quan điểm Luận

án chọn khái niệm “quan niệm nghệ thuật” chứ không phải “quan điểm nghệ thuật” là bởi sự

Trang 34

tạo Nó là quan niệm về nghệ thuật Tức là cách hiểu, cách nhìn nhận, cách đánh giá của cá

nhân nghê sĩ về chính lĩnh vực nghệ thuật Phần nào như ý thức về nghệ thuật của một người hành nghề

1.1.2 Trong thực tế, không phải không có những nghệ sĩ đã nhìn nhận con đường nghệ thuật của mình như là “ma đưa lối quỉ dẫn đường” Họ đâu định thế mà rồi thành ra thế Nghĩa là họ đến với nghệ thuật như một sự sắp đặt, chỉ dẫn, xui khiến vô hình nào đó thuộc siêu nhiên, họ bất khả tri Cứ y như họ là một công cụ mù quáng Tất cả những cái họ làm được là do Chúa mượn bàn tay của họ mà viết ra thôi Ý thức của họ không can thiệp gì vào

đó cả Cứ y nghư mình chỉ là con chim ngứa cổ hót chơi, thế thôi Những phát biểu như thế,

ngay cả trường hợp thành thật nhất cũng thật ngây thơ Bởi lẽ,khi người nghệ sĩ tự thấy mình

và chủ trường mình chỉ là con chim đến từ núi lạ ngứa cổ hót chơi, thì đó cũng đã là một

dạng ý thức, một dạng quan niệm về sáng tạo của mình rồi

Một thế giới nghệ thuật chân chính bao giờ cũng được tạo dựng dựa trên một hệ thống quan niệm riêng của người nghệ sĩ, dù nó có được phát biểu tự giác hay không Hệ thống quan niệm nghệ thuật của người nghệ sĩ chứa đựng cách hiểu, cách đánh giá, chứa đựng cả những dự định, những mong muốn, chủ trương, chủ đích, cả những chuẩn mực nghệ thuật được xem như một cương lĩnh, thậm chí, một kim chỉ nam đối với một đời văn, chi phối hành trình nghệ thuật của người nghệ sĩ

1.1.3 Quan niệm khi được ý thức tự giác và phát biểu (cả trực tiếp lẫn gián tiếp) thì

được xem là tuyên ngôn nghệ thuật của người nghệ sĩ Tuy nhiên, cần phải thấy rằng, một hệ

thống quan niệm về nghệ thuật không bao giờ có sẵn và đã hoàn toàn định hình từ trước, có ngay từ đầu một cách tiên nghiệm Mà nó được hình thành và hoàn chỉnh từng bước gần như song song

Trang 35

với quá trình sáng tác Có những điều tâm niệm trước đó, về sau lại được đính chính, điều chỉnh Có những khía cạnh trước ngỡ đã ổn, sau lại bị bác bỏ Thậm chí có những lí lẽ ngỡ đã thành một tín điều bất di bất dịch về sau đã lu mờ trước thực tiễn sáng tác Trong nghệ thuật, thực tiễn sáng tạo của cá nhân nghệ sĩ bao giờ cũng là sự thẩm định tin cậy nhất đối với ý thức lí thuyết của anh ta Tuyên ngôn nghệ thuật, bởi thế, còn là kết quả của quá trình trải nghiệm, chiêm nghiệm từ sự lăn lộn trong sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sĩ Được rút ra

từ lời văn tác giả, nó đã được đời văn ấy bảo hiểm Nên, sẽ là hoàn toàn hợp lí, khi coi quan

niệm nghệ thuật là một trong những chìa khóa cần thiết giúp ta mở vào văn nghiệp của chính

người ấy

Từ những điều đó, chúng ta thấy: Đúng là muốn hiểu văn, không nhất thiết phải biết quan niệm, quan điểm, tuyên ngôn của tác giả Nhưng muốn hiểu cho thấu đáo một sự nghiệp văn chương, một thế giới nghệ thuật của nhà văn, thì không thể tìm hiểu hệ thống quan niệm

nghệ thuật của anh ta Song, sẽ là ngây thơ, nếu xem xét quan niệm nghệ thuật của một nhà văn mà chỉ yên chí với một vài lời phát biểu nào đó, tách rời khỏi quá trình, cắt lìa khỏi hệ thống Bởi rất có thể đó là những mẩu vụn, những mảnh vỡ vương vãi mà tác giả của nó từ lâu đã phế bỏ rồi Thoát li khỏi hệ thống, nó chỉ còn những điều vu vơ thiếu sức sống Sự thực này khẳng định rằng: quan niệm nghệ thuật chỉ thực sự là chìa khóa tin cậy đối với người nghiên cứu khi và chỉ khi nó được nhìn nhận trong tính hệ thống mà thôi

1.2 Quan niệm thơ của Hàn Mặc Tử

1.2.1 Có viết văn, viết báo khi mới vừa dấn thân vào viết lách, nhưng cái di sản văn báo Hàn Mặc Tử để lại thật quá ít ỏi lèo tèo Ông chỉ có một sự nghiệp thật sự đáng kể Đó là thơ Thơ là mối day dứt nhất của đời ông Thơ là thân phận ông Cho nên, nói quan niệm nghệ thuật của Hàn Mặc Tử, thì thực chất là quan niệm của ông về thơ Khẳng định rõ điều này, không chỉ vì

Trang 36

đối tượng chúng ta đang quan tâm là thế giới nghệ thật thơ Hàn Mặc Tử, mà xét cho cùng, đó hầu như là mối băn khoăn lớn nhất, nếu không nói là duy nhất, trong những trăn trở về nghệ thuật của thi sĩ này

1.2.2 Không chỉ để lại một di sản thơ phong phú, Hàn Mặc Tử còn lạo để một hệ thống quan niệm của mình về thơ, về nghề thơ, về công việc làm thơ Và đây là một may mắn đối với người nghiên cứu Hàn Mặc Tử Giới “Hàn học” cũng đã có ít nhiều người quan tâm đến việc tìm hiểu quan niệm nghệ thuật của thi sĩ Tuy nhiên, đa phần việc xem xét mới chỉ dừng lại ở các phát ngôn trực tiếp, và chỉ bằng lòng với việc trích ra một số lời lẻ tẻ, tản mạn đây đó để xem như những tuyên ngôn đầy đủ Thực tế, quan niệm của Hàn Mặc Tử không đơn giản như thế Sự phức tạp của nó đã đạt đến độ kỉ lục Ông phát biểu rất nhiều và với một dạng thức đúng là của “người caii trị trưởng thơ loạn” – Nghĩa là rối bời và bấn loạn đến kì dị! Muốn tìm kiếm quan niệm thơ ca của Hàn Mặc Tử, không thể chỉ yên chí với một nguồn

là những lời phát biểu trực tiếp nằm trong lời đề tựa cho tập “Thơ điên” (1938) hay trong bài

“Quan niệm thơ” (1939) Bởi đó mới chỉ là một bộ phận nhỏ và dễ thấy Ít nhất, ta phải thu lượm, kiếm tìm từ các nguồn sau đây:

- Dạng chính luận trực tiếp: Gồm những lời tựa cho chính mình, lời tựa và lời bạt cho

những tập thơ bè bạn, và những thư từ trao đổi với đồng nghiệp bạn bè

- Dạng gián tiếp qua sáng tác: Với Hàn Mặc Tử, thơ không chỉ là phương tiện, mà còn là đối tượng suy cảm Nên thơ viết về thơ (không phải chính luận bắt thành vần như ở Chế Lan Viên sau này trong “Thơ bình phương và đời lập phương” Mà dưới dạng trữ tình

đích thực) thực sự là một mạch, một vệt đáng lưu ý, trong đó bộc lộ quan niệm thơ của thi sĩ Đồng thời, phải tính đến cả những vang bóng của nó trong các lời tuyên bố của các “thi

Trang 37

hữu” thân cận, nhất là Chế Lan Viên với bài tựa cho tập “Điêu tàn” vẫn được xem là tuyên

ngôn nghệ thuật chung của trường thơ loạn

Hàn Mặc Tử đến với thi đnà trước tiên chưa phải bằng “Thơ mới mà bằng thơ Cổ điển, thơ Đường Phần thơ này về sau được Quách Tấn hợp thành “Lệ Thanh thi tập” và cho

in sau khi Hàn Mặc Tử đã bộc lộ những suy nghĩ của mình về thơ (ví như trong bài Bút thần khai) Và trong bài thơ văn xuôi tiếng Pháp được viết bằng những tàn lực cuối cùng trước khi

tạ thế có tên là “Linh hồn thanh khiết”, ông vẫn dồn tinh huyết để làm sáng lên cái quan niệm

về thơ mà mình hằng tâm niệm của một đời người Thực tế ấy cho thấy, trên bất cứ chặng sáng tác nào, Hàn Mặc Tử cũng không nguôi trăn trở để hoàn thiện quan niệm về thơ của mình Tuy nhiên, tư tưởng sáng tạo của ông chín nhất là vào khoảng từ 1936 trở đi, đặc biệt

là năm 1939 Đây là thời ra đời những thi phẩm quan trọng như “Gái quê”(1936), “Thơ điên”(1939), “Xuân như ý”(1939), “Thượng thanh khí”(1939), “Cẩm châu duyên”(1940),

“Duyên kì ngộ”(1940), “Quần tiên hội”(1940),v.v…và những Bài tiểu luận “Không nên có luật thơ mới”(1938), Phê bình tập thơ “Điêu tàn” nhan đề “Chế Lan Viên, một thi sĩ điên”(1938), thư từ trao đổi với Trọng Miêu, Trần Thanh Dịch (1939), lời bạt cho “Một tấm lòng” (1939) của Quách Tân, để tựa cho “Tinh huyết” (1939) của Bạch Khê.v.v…Rõ ràng, xem xét quan niệm nghệ thuật của Hàn Mặc Tử, căn cứ quan trọng nhất phải là thời kì này

1.2.3 Trong các trang viết của Hàn Mặc Tử và các cây bút thuộc trường thơ loạn,

chúng ta thường gặp những chữ thơ cuồng, thơ loạn, thơ điên…thể hiện những quan niệm rất

gần nhau của họ Hàn Mặc Tử thì có cả một tập mang hẳn cái tên “Thơ điên” (Sau đổi

thành”Đau thương”) Và nhìn một cách toàn thể, Thơ điên dường như đã “ám” vào đời thơ

của thi sĩ “Điên” cũng chính là tinh thần của quan niệm thơ Hàn Mặc Tử Cố nhiên, cần phải hiểu

Trang 38

chữ “điên” theo quan niệm và thực tế sáng tạo của Hàn Mặc Tử, không thể đồng nhất với cách hieerur nghiêng về bệnh lí thông thường Mà thật là ăn nhập, quan niệm của Hàn Mặc

Tử cũng được phát biểu rất…“điên” – nghĩa là cực kì rối rắm, đầy nghịch lí và có vẻ mâu thuẫn nữa Lắm khi cứ như đanh đi trong hỏa mù, trong mê lộ Không chỉ có tư duy thơ trôi theo lối “tự động”, mà ngay cả tư duy lí thuyết của Hàn Mặc Tử cũng mặc sức mà…“tự hành” Lần theo mạch ý tưởng của ông, người nghiên cứu không khỏi có cảm giác mệt mỏi như đang lần theo chuyển động Braonơ Song, nhìn sâu vào, chúng ta vẫn thấy một sự nhất quán khá căn bản trên cả ba bình diện THƠ, NGƯỜI THƠ và VIỆC LÀM THƠ Thật thú vị, rất gần đây, tác giả Phan Quỳnh Nga, trong một bài viết của mình, cũng có những xem xét trên các bình diện thế này Tiếc rằng, chúng chỉ được nhìn chủ yếu theo hướng phân liệt riêng

rẽ và giản đơn mà chưa thấy tính thống nhất trong cái chiều sâu phức tạp và đầy mâu thuẫn của nó [89, 132] Ở đây, luận án vừa tiếp thu những điều khả thủ, vừa cố gắng khắc phục những bất cập ấy

Từ trong cốt tủy, Quan niệm Thơ Điên là biểu hiện của một thứ Mĩ học còn tản mạn,

còn mơ hồ của Hàn Mặc Tử: Mĩ học của cái Tột cùng Chúng ta sẽ từng bước làm sáng tỏ

điều này

1.2.2.1 Thơ Hoa trái của Đan Thương

Có thể thấy, trong quan niệm của Hàn Mặc Tử, Thơ là một niềm tuyệt vọng cao đẹp Hay một cách nói khác, Thơ là tiếng kêu của một linh hồn đã sống đến gần đứt cả sự sống

Cả hai cách đều dạng thức Tột cùng Tinh thần ấy toát ra trong cả một hệ thống, và đòi hỏi

phải được cắt nghĩa theo những “mã” riêng của nó Theo cái nhìn phân tách, quan niệm kia được thể hiện chủ yếu trong hai cặp nghịch lí sau:

Trang 39

- Thứ nhất, Thơ là nguồn khoái lạc đê mê mà thơm tho tinh sạch Trong bức thư trao

đổi với Trọng Miên (sau được Quách Tân đem in vào cuốn “Chơi giữa mùa trăng” với cái nhan đề “ Quan niệm Thơ”) viết tại Qui Nhơn vào năm 1939, Hàn Mặc Tử hình dung thơ là

“những nguồn khoái lạc đê mê, nhưng rất thơm tho, rất tinh sạch” [164, 35] mà kẻ làm thi sĩ

cần phải trút vào linh hồn con người trên trần gian Ở một đoạn khác, ông thâu tóm: “M ơi,

như thế là M đã hiểu thế nào là quan niệm của Trí (tức là Hàn Mặc Tử - C.V.S) về thơ Thơ

là sự ham muốn vô biên những nguồn khoái lạc trong trắng của một cõi trời cách biệt.” [164,

38-39] Phát biểu nhiều lần, từ nhiều góc độ, với nhiều dạng thức khác nhau, nhưng coi thơ là một NGUỒN KHOÁI LẠC, đó là điểm hết sức nhất quán của Hàn Mặc Tử Đề tựa cho Bích

Khê, ông coi cái đẹp thơ là những gì “có tính chất gây nên đê mê, khoái lạc”, việc kiếm tìm nguồn thơ của tác giả “Tinh huyết” cũng được ông hình dung là “tìm kiếm những nguồn hoạn lạc vô biên” [68, 15] Với Hàn Mặc Tử, nguồn khoái lạc vừa là đối tượng của cảm hứng thơ, vừa chính là dạng thức đích thực của thơ Tác giả Bùi Xuân Bảo trong bài tiểu luận Thi ảnh khẩu cảm trong thơ Hàn Mặc Tử cho rằng quan niệm này gần giống quan niệm thi hứng của

nhà thơ công giáo nổi tiếng Paul Claudel (1868-1955) Nhưng tại sao lại là nguồn khoái lạc? Bản chất của cái được gọi là nguồn khoái lạc kia là gì? Không làm rõ điều này, rất dễ đánh đồng quan niệm thơ của thi sĩ này với những gì tầm thường dung tục nhất

Mặc dù dùng đến những chữ khoái lạc, đê mê, ham muốn, hoạn lạc…vốn gắn nhiều

với thể xác, nhục cảm, dục tình, nhưng trong quan niệm của mình, Hàn Mặc Tử vẫn dứt khoát cho rằng nguồn gốc của thơ là tình cảm chịu ảnh hưởng rất nặng Chales Baudelaire (1821-1867), nhưng Hàn Mặc Tử vẫn không hoàn toàn “tâm phục”, thậm chí, đa phê phán thẳng thừng quan niệm lấy passion làm cảm hứng cho thơ của nhà thơ Pháp này Trong bức

thư gửi cho Trọng Miên đã nói ở trên kia, ông viết: “Đối với Trí (tức Hàn Mặc Tử

Trang 40

- C.V.S.), quan niệm rất khác thường, không giống Baudelaire lắm Theo Baudelaire, thi và lấy passion làm hứng vị cho thơ (…) Chứ đối với Baudelaire, va đã nói :“la passion est chose naturelle…” nghĩa là va đã hiểu lầm chữ passion rồi vậy Tình cảm – hay cảm hứng

(enthousiasme) – với dục tình (passion) khác nhau nhiều Tình cảm là sự thanh bạch hồn nhiên, không có một chút gì bợn nhớ, tội lỗi, còn dục tình là cả một sự ham muốn phi thường ngoài điều răn của Đức Chúa Trời.” Dường như Hàn Mặc Tử cố phân biệt rành mạch về mặt

lí thuyết, nhưng những lời kia chưa làm cho cái chủ ý bật nổi lên Việc dùng chữ ham muốn ở

đây là một là một duyên dó khiến cho bề mặt nội dung có phần bị mờ đục đi, khó thấy được cái lõi cốt của ý Đối với thi sĩ này, bản thân ham muốn không đồng nghĩa với sự phàm tục, trái lại, cả tình cảm và tình dục đều là những dạng thức ham muốn khác nhau Nếu tình cảm

là những ham muốn thanh sạch, hồn nhiên, không chút bợn nhơ, vẩn đục, tội lỗi (nghĩa là phù hợp với điều răn của Thiên chúa, phù hợp với luân lí, đạo đức), thì dục tình là những ham muốn tội lỗi, vượt ra ngoài điều răn của Đức Chúa Trời (nghĩa là trái với luân lí đạo đức) Chính ở chỗ này có một khía cạnh rất đáng lưu ý: Hàn Mặc Tử không dùng cách phân biệt thông thường rằng tình cảm là thuần túy tinh thần còn dục tình là thuần túy thể xác, hay dùng cách đối lập tình cảm với dục tình là thuần túy thể xác, hay dùng cách đối lập tình cảm với dục tình bằng đối lập khát khao với ham muốn Rõ ràng tình cảm trong quan niệm của Hàn Mặc Tử có phạm vi rộng lớn hơn, còn dục tình lại có phạm vi hẹp hơn so với quan niệm thông thường Tình cảm không chỉ gồm những khao khát tinh thần mà gồm cả những ham muốn thanh sạch hồn nhiên nữa Nói khác đi: Hàn Mặc Tử đã san một phần tình dục (theo quan niệm thông thường) sang phía tình cảm cái phần ông gọi bằng ham muốn trong sạch Bởi vậy, theo đúng quan niệm của thi sĩ này, nguồn gốc của thơ trước sau vẫn phải là, vẫn phải là, vẫn cứ là tình cảm Trước sau, với nhà thơ rất mát Mới tinh khôi và thanh sạch bằng hương” Trước sau, với Hàn Mặc Tử, thơ

Ngày đăng: 24/06/2020, 23:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Huỳnh Phan Anh( 1967), “ Hàn Mặc Tử hay là hiện hữu của thơ” Tạp chí Văn ( số 7 - tháng 1 ) ,45- 53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Hàn Mặc Tử hay là hiện hữu của thơ”
2. Huỳnh Phan Anh ( 1968), Hàn Mặc Sách Văn văn chương và kinh nghiệm hư vô - Hoàng Đông Phương xuất bản - Sài gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàn Mặc Sách Văn văn chương và kinh nghiệm hư vô
3. Vũ Tuấn Anh ( 1998), Nửa thế kỷ thơ Việt Nam 1945 -1995 NXB Khoa học Xã hội, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nửa thế kỷ thơ Việt Nam 1945 -1995
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
4. Aristôte (1999), Nghệ thuật thơ ca và Lưu Hiệp - Văn tâm điệu lòng ( nhiều người dịch) NXB Văn Học, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thơ ca và Lưu Hiệp - Văn tâm điệu lòng
Tác giả: Aristôte
Nhà XB: NXB Văn Học
Năm: 1999
5. Lại Nguyên Ân (1991), “ Khi chất người miền Trung và nhà thơ Hàn Mặc Tử”, Tạp chí văn học ( số 1) , 25- 31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Khi chất người miền Trung và nhà thơ Hàn Mặc Tử”
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 1991
6. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ Văn học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ Văn
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 1999
7. Lại Nguyên Ân ( 1993), “ Cuộc cải cách của phong trào Thơ mới và tiến trình thơ ca tiếng Việt”, Tạp chí Văn học ( số 1) 18 -28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Cuộc cải cách của phong trào Thơ mới và tiến trình thơ ca tiếng Việt”
8. Phạm Đình Ân (1980), “ Tâm hỗn, một thực thể thẩm mỹ của thơ ca trữ tình”, Tạp chí Văn học ( số 1), 10-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Tâm hỗn, một thực thể thẩm mỹ của thơ ca trữ tình”
Tác giả: Phạm Đình Ân
Năm: 1980
9. Annaudôp (1978), Tâm lý học sáng tạo Văn học, NXB Văn hóa, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học sáng tạo Văn học
Tác giả: Annaudôp
Nhà XB: NXB Văn hóa
Năm: 1978
10. Bakhtin (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Phạm Vinh Cư dịch Trường Viết văn Nguyễn Du, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: Bakhtin
Năm: 1992
11. Bakhtin (1993), Những vấn đề thi pháp Dotxtôiepxki, Trần Đỉnh Sử dịch, NXB Giáo dục, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp Dotxtôiepxki
Tác giả: Bakhtin
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1993
12. Bùi Xuân Bào (1974), “ Thi ảnh khẩu cảm trong thơ Hàn Mặc Tử” - tập san Khoa học nhân văn của Hội đồng quốc gia Khoa học Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Thi ảnh khẩu cảm trong thơ Hàn Mặc Tử”
Tác giả: Bùi Xuân Bào
Năm: 1974
13. Baudelaire (1999), Les fleurs du Mal - Những bông hoa của nỗi đau, NXB Edition Thế giới, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Les fleurs du Mal - Những bông hoa của nỗi đau
Tác giả: Baudelaire
Nhà XB: NXB Edition Thế giới
Năm: 1999
14. Phạm Đán Bình ( 1971), “ Tan loãng trong thơ Hàn Mặc Tử”, Văn ( số 1/6), Sai gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Tan loãng trong thơ Hàn Mặc Tử”
15. Nguyễn Bính ( 1995), Lỡ bước sang ngang, NxB hội nhà văn ( tái bản), Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lỡ bước sang ngang
16. Nguyễn Bính (1985), Tuyển tập, Nxb Văn Học, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Tác giả: Nguyễn Bính
Nhà XB: Nxb Văn Học
Năm: 1985
17. Trần Mai Châu ( 1996), Thơ Pháp Thể kỷ XIX, NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Pháp Thể kỷ XIX
Nhà XB: NXB Trẻ
18. Hoàng Cầm (1994), Về Kình Bắc, Nxb Văn hóa , Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về Kình Bắc
Tác giả: Hoàng Cầm
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 1994
19. Nguyễn Phan Cảnh (1987), Ngôn ngữ thơ - NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp
Năm: 1987
20. Nguyễn Đình Chú (1994), “ Trở lại với Đây thôn Vĩ Dạ” - Văn học và tuổi trẻ, Hà nội ( tập 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Trở lại với Đây thôn Vĩ Dạ”
Tác giả: Nguyễn Đình Chú
Năm: 1994

TỪ KHÓA LIÊN QUAN