Nghiên cứu, tìm hiểu về chế định “chứng minh và chứng cứ” theo Luật Tố tụng Hành chính, tác giả nhận thấy sự tiến bộ và những điểm mới trong quy định của pháp luật về chứng cứ so với Phá
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH -*** -
ĐẬU THỊ TUYẾT MSSV: 3250208
CHỨNG CỨ TRONG VỤ ÁN
Trang 2TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2011
MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
5 Cơ cấu của đề tài
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ CHỨNG CỨ TRONG VỤ ÁN HÀNH CHÍNH
01
1.1 Khái niệm chứng cứ trong vụ án hành chính 01
1.1.1 Vụ án hành chính 01
1.1.2 Định nghĩa và đặc điểm chứng cứ trong vụ án hành chính 14
1.2 Các thuộc tính của chứng cứ trong vụ án hành chính 17
1.3 Nguồn chứng cứ và vấn đề xác định chứng cứ 20
1.4 Nghĩa vụ cung cấp, giao nộp, xác minh, thu thập, bảo quản, đánh giá, công bố, sử dụng, bảo vệ chứng cứ 22
1.5 Những điểm khác giữa Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (đã sửa đổi, bổ sung năm 1998 2006) và Luật Tố tụng Hành chính quy định về chứng cứ 26
1.6 Sự khác biệt giữa chứng cứ trong vụ án Hành chính và chứng cứ trong vụ án Dân sự, Hình sự 30
Trang 3CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CUNG CẤP, THU THẬP, XÁC MINH, ĐÁNH GIÁ, BẢO QUẢN, SỬ DỤNG,CÔNG BỐ, BẢO VỆ CHỨNG CỨ VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN 32 2.1 Quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện việc cung cấp, thu thập, xác minh,
đánh giá, bảo quản, sử dụng, công bố, bảo vệ, áp dụng chứng cứ trong việc giải quyết vụ án hành chính 32 2.1.1 Cung cấp và giao nộp chứng cứ 32 2.1.2 Xác minh, thu thập, bảo quản, đánh giá, công bố, sử dụng và bảo vệ chứng cứ 45
2.2 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện các quy định của pháp
luật Tố tụng Hành chính điều chỉnh về chứng cứ 60
PHẦN KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Đến trước ngày 01/7/2011, các khiếu kiện Hành chính ở nước ta đều được giải quyết theo Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính Pháp lệnh này được Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa IX thông qua ngày 21/5/1996, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/1996; được sửa đổi, bổ sung lần thứ nhất ngày 25/12/1998và sửa đổi bổ sung lần thứ hai ngày 05/4/2006 Việc ban hành Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính và các pháp lệnh sửa đổi, bổ sung đã tạo điều kiện cho việc giải quyết các khiếu kiện Hành chính, góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lơiï ích hợp pháp của công dân; tăng cường pháp chế Xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, qua thực tiễn giải quyết các vụ án hành chính trong những năm qua cho thấy các quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính đã bộc lộ những hạn chế và bất cập, có những quy định chưa phù hợp hay không còn phù hợp, chưa đầy đủ và còn
“vênh” so với các quy định của các văn bản quy phạm pháp luật khác dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau; làm giảm hiệu quả giải quyết các vụ án Hành chính của Tòa án, gây trở ngại cho người dân khởi kiện vụ án Hành chính để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình
Trong điều kiện hội nhập Quốc tế hiện nay, theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách Tư pháp đến 2020, nhằm “mở rộng thẩm quyền xét xử của Tòa án đối với các khiếu kiện Hành chính, đổi mới mạnh mẽ thủ tục giải quyết các khiếu kiện Hành chính tại Tòa án, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia tố tụng, bảo đảm sự bình đẳng giữa công dân và cơ quan công quyền trước Tòa án…”; Luật
Trang 6Tố tụng Hành chính đã được soạn thảo, thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2011
Luật Tố tụng Hành chính được ban hành thay thế Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính là mốc son đánh dấu sự phát triển về tư duy pháp lý cũng như kỹ thuật lập pháp của các nhà làm luật nước ta Đồng thời, Luật Tố tụng Hành chính mới còn là bước ngoặt lớn khẳng định sự tiến bộ trong các quy định của pháp luật về Tố tụng Hành chính nói riêng và sự thống nhất trong thủ tục tố tụng nói chung
Quan hệ pháp luật Hành chính là quan hệ pháp luật tương đối phức tạp, rắc rối, liên quan đến việc ban hành các quyết định hành chính, thực hiện các hành vi hành chính của cơ quan có thẩm quyền và tiềm ẩn nhiều nguy cơ khác nhau Thông qua Tòa án, các khiếu kiện hành chính được xem xét tính hợp pháp trên cơ sở pháp lý cũng như những tài liệu, chứng cứ mà các bên đương sự cung cấp cho Tòa án hay Tòa án xác minh, thu thập được Theo đó, chứng cứ đóng vai trò “chiếc chìa khóa” làm sáng tỏ nội dung vụ án, các hoạt động liên quan đến chứng cứ như: cung cấp chứng cứ, giao nộp chứng cứ, xác minh, thu thập chứng cứ, đánh giá chứng cứ, bảo quản chứng cứ… là những bộ phận không thể thiếu trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án Hành chính
Nghiên cứu, tìm hiểu về chế định “chứng minh và chứng cứ” theo Luật Tố tụng Hành chính, tác giả nhận thấy sự tiến bộ và những điểm mới trong quy định của pháp luật về chứng cứ so với Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính, khắc phục được một số hạn chế, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho Tòa án giải quyết vụ án cũng như cho đương sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Tuy nhiên, từ các hoạt động xoay quanh chứng cứ cũng phát sinh nhiều vấn đề với nhiều cách hiểu khác nhau, điển hình như: vai trò
Trang 7của đương sự trong cung cấp, thu thập chứng cứ, hoạt động đánh giá chứng cứ của Tòa án, nguồn chứng cứ hay vai trò án của Tòa án trong việc xác minh, thu thập chứng cứ… Luật Tố tụng Hành chính có hiệu lực thi hành từ ngày
01/7/2011, tác giả tìm hiểu các vấn đề liên quan đến “CHỨNG CỨ TRONG
VỤ ÁN HÀNH CHÍNH” như cung cấp chứng cứ, giao nộp chứng cứ, xác minh,
thu thập chứng cứ, đánh giá chứng cứ, bảo quản chứng cứ… mong muốn góp phần hoàn thiện các vấn đề lý luận pháp lý, tạo nền tảng để các quy định của pháp luật về chứng cứ phát huy hiệu quả trong thực tiễn thực hiện trước yêu
cầu cải cách Tư pháp trong giai đoạn hiện nay
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu đề tài “Chứng cứ trong vụ án hành chính”, tác giả hướng đến các quy định của pháp luật điều chỉnh chế định “chứng cứ” như hoạt động cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự: hoạt động thu thập, xác minh, đánh giá, bảo quản, sử dụng chứng cứ của Tòa án và một số hoạt động khác liên quan Trên cơ sở đó, tìm hiểu, đánh giá chứng cứ về mặt lý luận và thực tiễn, tố tụng cũng như nội dung, chỉ thực trạng, xác định nguyên nhân những tồn tại, hạn chế Đồng thời, định hướng hướng hoàn thiện chế định “chứng minh và chứng cứ”, góp phần khắc phục những điểm thiếu sót, bất cập của Luật Tố tụng Hành chính mới, đề xuất một số biện pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả cuả các hoạt động liên quan đến chứng cứ trên thực tế
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu: Tìm hiểu và nghiên cứu đề tài này, đối tượng mà
tác giả hướng đến là các vấn đề xoay quanh chế định chứng cứ trong vụ án hành chính theo Luật Tố tụng Hành chính từ khâu khởi kiện, thụ lý cho đến khi Tòa án giải quyết xong vụ án hành chính như: cung cấp chứng cứ, giao nộp
Trang 8chứng cứ, xác minh, thu thập chứng cứ, đánh giá chứng cứ, bảo quản chứng cứ…
So sánh chứng cứ quy định trong Luật Tố tụng Hành chính mới với các quy định điều chỉnh chứng cứ theo Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính và trong các nghành luật khác để tìm ra những điểm mới, những điểm khác biệt mang đặc trưng của chứng cứ trong vụ án hành chính
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu toàn diện các vấn đề lý luận
liên quan đến quy định của Luật Tố tụng Hành chính điều chỉnh về “chứng cứ” trong vụ án hành chính ở cấp sơ thẩm, phúc thẩm cũng như Giám đốc thẩm, Tái thẩm Trên nền tảng đó, tác giả phân tích, đánh giá, chỉ ra thực trạng, xác định nguyên nhân trên phương diện thực tiễn áp dụng
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Cơ sở lý luận: Đề tài được nghiên cứu dựa trên hệ thống quan điểm Chủ
nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật; chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước về hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật tố tụng hành chính nói riêng về chứng cứ
Phương pháp nghiên cứu: Để hoàn thành đề tài, tác giả nghiên cứu theo
phương pháp luận Duy vật biện chứng kết hợp với phương pháp luận Duy vật lịch sử là chủ yếu Đồng thời, đề tài cũng được nghiên cứu theo các phương pháp chung phổ biến như: phân tích, tổng hợp, so sánh…
5 Cơ cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần mục lục, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung khóa luận được trình bày thành 02 chương:
Chương 1: Khái quát về chứng cứ trong vụ án hành chính;
Trang 9Chương 2: Thực trạng cung cấp, thu thập, xác minh, đánh giá, bảo quản,
sử dụng, công bố, sử dụng, bảo vệ chứng cứ và phương hướng hoàn thiện
Chứng cứ trong vụ án hành chính theo Luật Tố tụng Hành chính là một chế định mới, phức tạp nhưng thực sự hấp dẫn với tác giả và còn chứa đựng rất nhiều khía cạnh để nghiên cứu xoay quanh các hoạt động cung cấp chứng cứ, giao nộp chứng cứ, xác minh, thu thập chứng cứ, đánh giá chứng cứ, bảo quản chứng cứ… Với khả năng, trình độ, kinh nghiệm thực tiễn của bản thân, chắc chắn khóa luận sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả hi vọng nhận được những đóng góp ý kiến của thầy cô, bè bạn để hoàn thiện đề tài hơn nữa
TÁC GIẢ TRÂN TRỌNG GIỚI THIỆU!
Trang 10CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ CHỨNG CỨ TRONG VỤ ÁN HÀNH
CHÍNH
1.1 Khái niệm chứng cứ trong vụ án hành chính
1.1.1 Vụ án hành chính
Thực tiễn hoạtđđộng quản lý hành chính ở nước ta rấtđđa dạng về nội dung và được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Tiêu biểu trong số đđó là hoạt động ban hành các quyết định hành chính và thực hiện các hành vi hành chính của các chủ thể quản lý, tác động đến các đối tượng quản lý khác nhau (cá nhân, cơ quan, tổ chức) Và xuất phát từ nhiều nguyên nhân, khách quan lẫn chủ quan, không ít trường hợp các cơ quan quản lý Nhà nước, cán bộ, công chức trong các cơ quan đó có những sai sót, vi phạm Pháp luật khi ban hành các quyết đđịnh hành chính cũng như khi thi hành nhiệm vụ, công vụ, xâm phạm tới quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức đồng thời làm ảnh hưởng xấu đến hiệu lực quản lý Nhà nước Điều này tất yếu dẫn tới việc phát sinh ra những tranh chấp trong lĩnh vực quản lý Nhà nước Khi đối tượng quản lý cho rằng các quyếtđđịnh hành chính, hành vi hành chính của chủ thể quản lý xâm phạm tới các quyền và lợi ích hợp pháp của mình, họ có quyền khiếu kiện các quyếtđđịnh hành chính và hành vi hành chính đó
Trang 11Như vậy, có thể xem khiếu kiện hành chính là tiền đề cơ sở làm phát sinh vụ án hành chính Theo đó, tìm hiểu về vụ án hành chính trước hết phải có cái nhìn tổng quát nhất về khiếu kiện hành chính
Khiếu kiện hành chính:
Khiếu kiện hành chính vừa là “hành vi pháp lý”, vừa là “quyền của các chủ thể khiếu kiện”
Khiếu kiện hành chính là hành vi pháp lý được pháp luật quy định; thể
hiện dưới dạng hành động thông qua hành vi khiếu nại hay khởi kiện của các đối tượng quản lý; khi họ cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm bởi các quyết định hành chính, hành vi hành chính do các chủ thể quản lý ban hành hay thực hiện Thực hiện việc khiếu kiện hành chính, các chủ thể khiếu kiện phải tuân thủ đúng thẩm quyền và trình tự thủ tục luật định
Khiếu kiện hành chính là quyền của công dân nói chung mà cụ thể là
các chủ thể khiếu kiện (cá nhân, cơ quan, tổ chức) Quyền này được pháp luật quy định nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân trước các hoạt động quản lý của các chủ thể quản lý Mọi công dân bị xâm hại bởi hoạt động quản lý của chủ thể quản lý đều có quyền khiếu kiện hành chính
Cho đến nay, thuật ngữ “khiếu kiện hành chính” đã được đề cập đến trong một số tài liệu, sách tham khảo… Tuy nhiên, Luật lại chưa chính thức đưa khái niệm này vào quy định, dẫn đến nhiều trường hợp đánh đồng khái niệm khiếu kiện hành chính với khái niệm khởi kiện vụ án hành chính Trong khi đó, hai khái niệm này hoàn toàn khác nhau về bản chất
Khởi kiện vụ án hành chính là hành vi tố tụng của cá nhân, tổ chức yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi có căn cứ cho rằng
Trang 12quyền và lợi ích hợp pháp đó đang bị xâm phạm bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc [23 – tr.118].
Luật Tố tụng hành chính không đưa ra định nghĩa về khởi kiện vụ án hành chính cũng như khiếu kiện hành chính mà chỉ quy định về quyền khởi kiện
vụ án hành chính Theo đó, “cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện vụ án
hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc trong trường hợp không đồng ý với quyết định, hành vi đó hoặc đã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, nhưng hết thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật về khiếu nại mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết, nhưng không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại về quyết định, hành vi đó Cá nhân, tổ chức có quyền khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh trong trường hợp không đồng ý với quyết định đó Cá nhân có quyền khởi kiện vụ án hành chính về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử Hộị đồng nhân dân trong trường hợp đã khiếu nại với cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, nhưng hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật mà khiếu nại khôngđược giải quyết hoặc đã được giải quyết, nhưng không đồng ý với cách giải quyết khiếu nại” [3 - điều 103]
Với cách quy định như trên, rõ ràng khởi kiện vụ án hành chính là “hành động” để thực hiện quyền khiếu kiện hành chính Hay nói cách khác, khởi kiện vụ án hành chính là phương thức để đối tượng quản lý thực hiện quyền khiếu kiện hành chính; thông qua hành vi khởi kiện vụ án hành chính, quyền khiếu kiện hành chính được hiện thực hóa
Như vậy, khiếu kiện hành chính là quyền, là hành vi pháp lý và một khiếu kiện hành chính phát sinh khi có tranh chấp về các quan hệ quản lý Nhà nước giữa các chủ thể quản lý hành chính với cácđđối tượng quản lý
Trang 13Để hiểu rõ hơn về“khiếu kiện hành chính”, ta đi vào tìm hiểu lần lượt các yếu tố cấu thành khiếu kiện hành chính, bao gồm: chủ thể khiếu kiện, đối tượng khiếu kiện và thủ tục khởi kiện Cụ thể như sau:
Chủ thể khiếu kiện:
Chủ thể thực hiện hành vi khiếu kiện hành chính là cá nhân, cơ quan, tổ chức khi họ có căn cứ cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại bởi các quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong cơ quan ban hành quyết định hành chính và thực hiện hành vi hành chính đó
Xuất phát từ đặc thù của mối quan hệ hành chính giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, Luật Tố tụng Hành chính giới hạn quyền khởi kiện vụ án hành chính đối với một số chủ thể nhất định tại khoản 2 và khoản 3 điều 103 Khoản 2 điều 103 Luật Tố tụng Hành chính chỉ trao quyền khởi kiện cho cá nhân và tổ chức mà không quy định quyền khởi kiện cho cơ quan Trong khi đó, đối với loại việc tại khoản 3 điều 103 Luật Tố tụng Hành chính thì chỉ có cá nhân mới có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án có thẩm quyền Luật
Tố tụng hành chính quy định cụ thể như trên tạo điều kiện cho pháp luật dễ dàng được thực thi trên thực tế và các chủ thể khiếu kiện cũng dễ dàng thực hiện quyền khởi kiện của mình hơn
Song song với đó, Luật Tố tụng hành chính đã bỏ thẩm quyền “khởi tố” vụ án hành chính của Viện kiểm sát theo quy định tại Điều 18 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (đã sửa đổi, bổ sung 1998,2006) được cụ
Trang 14thể hóa tại mục 21 NQ04/2006/NQ-HĐTP Đồng thời để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đối tượng quản lý đặc trưng, Luật Tố tụng hành chính quy
định :“đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính liên quan đến quyền,
lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, nếu họ không có người khởi kiện thì Viện kiểm sát có quyền kiến nghị Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) nơi người đó cư trú cử người giám hộ đứng ra khởi kiện vụ án hành chính để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người đó” [3 - khoản 3 điều 23]
Theo quy định của Luật Tố tụng hành chính, Viện kiểm sát không còn quyền khởi tố vụ án hành chính mà chỉ còn quyền kiến nghị cơ quan có thẩm quyền đứng ra khởi kiện Quy định này không nhằm hạn chế quyền của Viện kiểm sát trong hoạt đôïng tư pháp mà xuất phát từ vị trí, vai trò của Viện kiểm sát trong các vụ án hành chính mà chuyên môn hóa chức năng của Viện kiểm sát, góp phần đảm bảo hiệu quả của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp
luật trong quá trình Tố tụng hành chính “Theo quy định của Luật tổ chức Viện
kiểm sát nhân dân và của dự thảo Luật thì Viện kiểm sát nhân dân là người tiến hành tố tụng tại phiên tòa, nếu quy định Viện kiểm sát nhân dân có quyền khởi tố với vai trò của người tham gia tố tụng là không phù hợp với chức năng của Viện kiểm sát; mặt khác, trường hợp Viện kiểm sát nhân dân khởi tố vụ án hành chính thì ai là nguyên đơn trong vụ kiện đó, việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn được thực hiện như thế nào Mặt khác, thực tiễn 14 năm qua Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính đã quy định thẩm quyền này cho Viện kiểm sát, nhưng Viện kiểm sát không khởi tố được vụ nào” [6 – tr 4]
Đặc điểm của chủ thể khiếu kiện:
Trang 15Thứ nhất, cũng như chủ thể khởi kiện trong các vụ án khác, chủ thể khiếu kiện trong vụ án hành chính phải có đủ năng lực chủ thể mà cụ thể là năng lực
Tố tụng hành chính Tức là các chủ thể trên cần thỏa mãn các điều kiện về năng lực pháp luật tố tụng hành chính và năng lực hành vi tố tụng hành chính theo quy định tại điều 48 Luật Tố tụng hành chính
Thứ hai, khoản 6 điều 3 Luật Tố tụng Hành chính không quy định rõ, nhưng xét tính hợp lý cũng như theo tinh thần của pháp luật tố tụng hành chính thì các chủ thể khiếu kiện phải chịu sự xâm phạm từ các quyết định hành chính và hành vi hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Đối tượng khiếu kiện:
Nếu như Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (đã sửa đổi, bổ sung 1998,2006) quy định về các khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án tại điều 11, và quy định các đối tượng khởi kiện tại điều 2 và điều
30 theo hướng liệt kê, thì khoản 1 điều 28 Luật Tố tụng hành chính quy định đối tượng khiếu kiện theo hướng loại trừ, phạm vi đối tượng khiếu kiện cũng được mở rộng ra
Theo quy định của Luật Tố tụng hành chính, đối tượng khiếu kiện bao gồm các quyết định hành chính, hành vi hành chính, trừ các quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo danh mục do Chính phủ quy định và các quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức; danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu đại biểu Hội đồng nhân dân; quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức giữ chức vụ từ
Trang 16Tổng cục trưởng và tương đương trở xuống; quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh
Chủ thể khiếu kiện có quyền khởi kiện các đối tượng khiếu kiện nói trên khi đáp ứng các điều kiện quy định cụ thể tại điều 103 và điều 104 Luật Tố tụng hành chính
Tuy nhiên, không phải tất cả các đối tượng khiếu kiện kể trên đều có thể khởi kiện để giải quyết theo thủ tục Tố tụng hành chính Cá nhân, cơ quan, tổ chức chỉ có thể khởi kiện khi quyết định hành chính, hành vi hành chính đó thỏa mãn các dấu hiệu nhất định Cụ thể là:
Đối với quyết định hành chính – văn bản do cơ quan hành chính nhà
nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan, tổ chức đó ban hành, quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt đôïng quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể [3 - khoản 1 điều 3]
Xét về mặt hình thức, quyết định phải được thể hiện bằng văn bản Thứ hai, về nội dung, quyết định hành chính là quyết định áp dụng pháp luật hay còn gọi là quyết định cá biệt, được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn đề cụ thể Thứ ba, quyết định hành chính bị khiếu kiện phải là quyết định lần đầu, tức là quyết định được cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước ban hành lần đầu khi xử lý vụ việc cụ thể Cuối cùng, quyết định hành chính bị khiếu kiện phải có nội dung thuộc phạm vi thẩm quyền xét xử hành chính của Tòa án nhân dân theo điều 28 Luật Tố tụng hành chính
Trang 17Đối với hành vi hành chính – hành vi của cơ quan hành chính nhà nước,
cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật [3 - khoản 2 điều 3]
Trước hết, về hình thức biểu hiện,hành vi hành chính bị khiếu kiện có thể được thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động Thứ hai, xét về nội dung, phạm vi hành vi hành chính có thể bị khiếu kiện trước Tòa hẹp hơn
so với phạm vi nội dung của quyết định hành chính Về mặt chủ thể của hành
vi hành chính thì tượng tự như quyết định hành chính
Đối với quyết định kỷ luật buộc thôi việc – văn bản thể hiện dưới hình
thức quyết định của người đứng đầu cơ quan, tổ chức để áp dụng hình thức kỷ luật buộc thôi việc đối với công chức thuộc quyền quản lý của mình [3 - khoản
3 điều 3]
Thực chất, quyết định kỷ luật buộc thôi việc là một loại quyết định hành chính, nhưng là quyết định hành chính đặc thù [21 – tr 84] Như vậy, bên cạnh những dấu hiệu của một quyết định hành chính nói trên, quyết định kỷ luật buộc thôi việc chỉ áp dụng đối với công chức giữ chức vụ từ Tổng Cục trưởng và tương đương trở xuống Đây là điểm mới của Luật Tố tụng hành chính so với Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (đã sửa đổi, bổ sung năm
19998, 2006) Thứ hai, về hình thức kỷ luật, công chức chỉ có thể khởi kiện trong trường hợp bị kỷ luật với hình thức buộc thôi việc – hình thức kỷ luật nặng nhất
Đối với quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh
Trang 18Quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch Hội đồng cạnh tranh là đối tượng khiếu kiện theo quy định tại Khoản Điều 103 Luật Tố tụng Hành chính (hành vi hạn chế cạnh tranh)
Quyết định giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng Bộ Công thương là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính theo quy định tại Khoản 2 Điều 103 Luật Tố tụng Hành chính (hành vi cạnh tranh không lành mạnh)
Đối với danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội và danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân
Cá nhân, tổ chức có quyền khởi kiện vụ án hành chính về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân trong trường hợp đã khiếu nại với cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, nhưng hết thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết nhưng không đồng ý với cách giải quyết khiếu nại đó [3 - Khoản 3 Điều 103]
Thủ tục khởi kiện:
Về thủ tục khởi kiện, Luật Tố tụng Hành chính có một sự đổi mới hết
sức tích cực Và được đánh giá là: “bước đổi mới căn bản về điều kiện, cơ chế
giải quyết kiếu kiện hành chính ở nước ta theo tinh thần Nghị quyết số NQ/TW của Bộ Chính trị” [6 – tr 6] Theo đó, “cá nhân, tổ chức khi không
49-đồng ý với quyết định hành chính, hành vi hành chính thì có quyền lựa chọn
khiếu nại tại cơ quan hành chính hoặc khởi kiện ngay vụ án hành chính tại Tòa án Nếu tổ chức, cá nhân lựa chọn việc khiếu nại tại cơ quan hành chính thì khi hết thời hạn giải quyết theo quy định mà khiếu nại không được giải quyết hoặc
Trang 19được giải quyết nhưng họ không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu (hoặc giải quyết lần hai) thì họ vẫn có quyền khởi kiện vụ án tại Tòa án Quy định như vậy sẽ đáp ứng được yêu cầu mở rộng quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án, tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân được tự do lựa chọn cách thức khiếu nại, khiếu kiện, mở rộng dân chủ trong xã hội, giảm bớt áp lực cho các cơ quan hành chính nhà nước” [7 – tr 4]
Nhưng, như vậy không có nghĩa là mặc nhiên chủ thể khởi kiện đều có quyền khởi kiện đối với mọi đối tượng khởi kiện trong mọi trường hợp Đối với quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh và danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân thì trước khi tiến hành khởi kiện, chủ thể khởi kiện buộc phải trải qua thủ tục khiếu nại đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền Các chủ thể khởi kiện cũng không được khởi kiện các quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo danh mục do Chính phủ quy định và các quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức
Như đã nói ở trên, khiếu kiện hành chính là bước đi đầu tiên trong quá trình phát sinh và giải quyết vụ án hành chính Có phải chủ thể khiếu kiện tiến hành khởi kiện đối tượng khiếu kiện theo trình tự thủ tục luật định tại Tòa án có thẩm quyền đều tất yếu dẫn tới việc phát sinh vụ án hành chính? Tìm hiểu điều này, ta đi vào nghiên cứu những vấn đề xoay quanh vụ án hành chính
Vụ án hành chính:
Xuất phát từ đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh riêng có của mỗi nghành luật, các tranh chấp nảy sinh từ các nghành luật khác nhau
Trang 20cũng có những nét đặc trưng riêng Vụ án hành chính phát sinh từ các tranh chấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước, có nhiều điểm đặc thù, khác biệt với các vụ án khác Tìm hiểu về vụ án hành chính, tác giả lần lượt xác định: điều kiện phát sinh vụ án hành chính, khái niệm vụ án hành chính, đặc trưng của vụ án hành chính
Điều kiện phát sinh vụ án hành chính:
Khi các chủ thể khởi kiện tiến hành nộp đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân có thẩm quyền thì họ đang thực hiện quyền khởi kiện của mình nhưng không đồng nghĩa với việc làm phát sinh vụ án hành chính Vụ án hành chính chỉ phát sinh khi thỏa mãn đồng thời 2 điều kiện:
Thứ nhất, có hành vi khởi kiện của cá nhân, tổ chức khi họ cho rằng quyền và lợi ích của họ bị xâm phạm bởi các quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Đây là điều kiện “cần”, là tiền đề cơ sở của mọi vụ án hành chính
Thứ hai, đơn khởi kiện phải được Tòa án có thẩm quyền thụ lý Đây là điều kiện “đủ”, nếu nội dung đơn khởi kiện không thuộc thẩm quyền thụ lý và giải quyết của Tòa án thì vụ án hành chính cũng không thể phát sinh
Khái niệm vụ án hành chính:
Cũng như Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (đã sửa đổi, bổ sung năm 1998, 2006), Luật Tố tụng hành chính không đưa ra định nghĩa thế nào là “vụ án hành chính”, khái niệm vụ án hành chính chỉ được đề cập đến trong một số giáo trình, tài liệu liên quan
Trang 21“Vụ án hành chính là vụ việc tranh chấp hành chính phát sinh do cá
nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức khởi kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc hoặc do Viện kiểm sát khởi tố theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính” [21 – tr 153]
Từ điển giải thích thuật ngữ luật học cũng đưa ra định nghĩa tương tự như vậy:
“vụ án hành chính là vụ án phát sinh tại Tòa Hành chính do cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức khởi kiện ra trước Tòa án yêu cầu bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc Viện kiểm sát khởi tố trong trường hợp quyết định hành chính, hành vi hành chính liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần mà không có ai khởi kiện” [25 – tr 132]
Tuy nhiên, như đã nói ở trên, theo Luật Tố tung Hành chính Viện kiểm
sát đã không còn quyền khởi tố nữa Như vậy, “vụ án hành chính là vụ án pháp
sinh khi cá nhân, tổ chức khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước và được Tòa án thụ lý theo quy định của pháp luật” [23 – tr 12] cho ta cái nhìn tổng quan
nhất và dễ tiếp cận nhất với vụ án hành chính
Mỗi nghành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam điều chỉnh một quan hệ pháp luật khác nhau, tuy các mối quan hệ này có tính liên quan với nhau nhưng xét về nội dung, chúng vẫn độc lập với nhau Từ những đặc trưng của mối quan hệ điều chỉnh, vụ án hành chính có những nét đặc trưng riêng, khác biệt với các vụ án Dân sự, kinh tế, lao động… về đối tượng tranh chấp, các bên tranh chấp và trình tự, thủ tục khởi kiện
Đặc trưng của vụ án hành chính:
Trang 22 Trước hết, “đối tượng tranh chấp” trong vụ án hành chính là tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính Quyền tài sản hay quyền nhân thân không phải là đối tượng trực tiếp của tranh chấp hành chính Theo đó, Tòa án có thẩm quyền sẽ căn cứ trên những tài liệu, chứng cứ có được xem xét, đánh giá xem quyết định hành chính đó được ban hành, hành vi hành chính đó được thực hiện có đúng theo quy định của pháp luật về mặt nội dung, thẩm quyền và hình thức hay không Đối tượng khiếu kiện trong vụ án hành chính luôn mang tính quyền lực nhà nước, nên việc đánh giá “tính hợp pháp” của quyết định hành chính, hành vi hành chính là một vấn đề hết sức nhạy cảm và khó khăn
Thứ hai, người bị kiện trong vụ án hành chính luôn là cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước mà chủ yếu là cơ quan hành chính nhà nước, còn người khởi kiện luôn là cá nhân, tổ chức bị tác đôïng bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính Cũng từ đặc điểm này mà các bên trong vụ án hành chính được gọi là người khởi kiện, người bị kiện và người có quyền, nghĩa vụ liên quan chứ không gọi là nguyên đơn, bị đơn như các vụ án phi hình sự khác Bên khởi kiện và bên bị khởi kiện đã không có sự cân bằng về vị trí ngay từ đầu, mặc dù về nguyên tắc pháp lý họ hoàn toàn bình đẳng trước pháp luật Bên bị kiện luôn nắm trong tay quyền lực nhà nước, nhân danh nhà nước còn bên khởi kiện luôn là cá nhân, cơ quan, tổ chức
Thứ ba, trong một số trường hợp luật định (khoản 2 và khoản 3 điều 103 Luật Tố tụng Hành chính) thì vụ án hành chính chỉ phát
Trang 23sinh sau khi trải qua thủ tục khiếu nại hành chính tức là thủ tục
“tiền tố tụng” Đối với các trường hợp này, thủ tục khiếu nại là thủ tục bắt buộc còn các trường hợp quy định tại khoản 1 điều 103 Luật Tố tụng Hành chính các chủ thể khởi kiện có thể khởi kiện thẳng ra Tòa án mà không cần khiếu nại tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền Thủ tục khiếu nại tạo điều kiện cho bên khởi kiện và bên bị kiện có cơ hội ngồi lại với nhau thỏa thuận, xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính một lần nữa, tạo điều kiện cho bên bị kiện sửa sai (nếu có) Đồng thời giải quyết nhanh chóng sự việc, tránh việc hai bên đưa nhau ra Tòa, đảm bảo quyết định hành chính, hành vi hành chính được thực thi nhanh chóng và hiệu quả trên thực tế
Vụ án hành chính phát sinh, quá trình tố tụng hành chính cũng theo đó diễn ra Vấn đề tìm ra sự thật khách quan để giải quyết đúng đắn vụ án hành chính, đảm bảo quyền và lợi ích của các bên chủ thể là vấn đề cốt lõi, quan trọng số một nhưng lại thường gặp phải rất nhiều khó khăn Để làm sáng tỏ vụ
án hành chính, Tòa án nhất thiết phải căn cứ vào những chứng cứ xác thực
được rút ra từ những nguồn hợp pháp nhất định Như chiếc chìa khóa tháo gỡ mọi vướng mắc của vụ án hành chính, chứng cứ đóng một vai trò và có ý nghĩa vô cùng quan trọng
1.1.2 Định nghĩa và đặc điểm chứng cứ trong vụ án hành chính
Lý luận nhận thức của chủ nghĩa Duy vật biện chứng đã chỉ ra rằng con người có khả năng nhận thức được thế giới khách quan Những gì con người tác động vào thế giới khách quan sẽ được phản ánh thông qua các dấu hiệu, đặc
Trang 24điểm, dấu vết… nhất định Và, trên cơ sở những đặc điểm, dấu hiệu, dấu vết đó, con người nhận thức ngày càng sâu sắc hơn về thế giới khách quan
Trong khoa học pháp lý, “chứng cứ” là một trong những tiền đề, phương tiện quan trọng, thông qua đó con người nhận thức về thế giới khách quan, về những sự vật, hiện tượng đã xảy ra một cách đầy đủ và chính xác
Định nghĩa chứng cứ trong vụ án hành chính:
Nhìn từ góc độ ngôn ngữ học, “chứng cứ là cái được dẫn ra để làm cơ sở để xác định, chứng minh điều gì đó là có thật” [26 – tr 174] Với cách hiểu phổ thông như trên, phạm vi khái niệm chứng cứ là rất rộng, mọi cái có thể xác định sự tồn tại của một hiện tượng, một vấn đề gì đó đều có thể là chứng cứ
Nhìn từ góc độ pháp lý, từ điển Luật học chỉ giải thích khái niệm chứng cứ trong vụ án hình sự mà chưa đưa ra khái niệm chứng cứ nói chung và cũng không giải thích khái niệm chứng cứ trong vụ án hành chính nói riêng Tiếp cận khái niệm chứng cứ trong vụ án hành chính từ phương diện pháp luật Tố
tụng Hành chính, điều 74 Luật Tố tụng Hành chính quy định: “ Chứng cứ trong
vụ án hành chính là những gì có thật được đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức khác giao nộp cho Tòa án hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Luật này quy định mà Tòa án dùng làm căn cứ để xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp hay không cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án hành chính” Như vậy, rõ
ràng chứng cứ trong vụ án hành chính là những gì gắn liền với việc xác định sự thật khách quan, là cơ sở để chứng minh những vấn đề cần chứng minh nhằm giải quyết đúng đắn vụ án hành chính
Chứng cứ trong vụ án hành chính có thể tồn tại dưới nhiều dạng thức khác nhau, có thể là trực tiếp hay gián tiếp, là chứng cứ theo người hay theo
Trang 25vật … song chúng đều phải chứa đựng những đặc điểm nhất định mang tính đặc trưng của chứng cứ
Đặc điểm của chứng cứ trong vụ án hành chính:
Thứ nhất, chứng cứ phải là những gì “có thật” Tính có thật của chứng cứ biểu hiện ở chỗ chứng cứ là những gì đã diễn ra trong thực tại khách quan, nằm ngoài ý muốn chủ quan của con người Con người chỉ có thể tiếp cận chứng cứ, nhận thức về chứng cứ mà không thể sửa đổi hoặc làm nó khác đi Dù muốn, dù không chứng cứ vẫn tồn tại khách quan và độc lập với ý thức của con người Tính “có thật” của chứng cứ càng cao thì khả năng giải quyết đúng đắn vụ án hành chính càng lớn
Thứ hai, chứng cứ phải “có giá trị chứng minh” các tình tiết, sự kiện của vụ án hành chính Tất cả những gì có thật, có liên quan tới vụ án hành chính đều “có thể” là chứng cứ nhưng chúng phải có giá trị chứng minh nhất định Giá trị chứng minh của chứng cứ là định hướng giải quyết đúng đắn vụ án hành chính, nếu không có giá trị chứng minh, chứng cứ sẽ không còn đóng vai trò là chứng cứ
Thứ ba, chứng cứ trong vụ án hành chính được “thu thập, xác minh, đánh giá theo trình tự, thủ tục” do Luật Tố tụng Hành chính quy định Đặc điểm này xác định tính hợp pháp của chứng cứ Pháp luật Tố tụng Việt Nam nói chung và pháp luật Tố tụng Hành chính Việt Nam nói riêng đều quy định việc giải quyết các vụ án dựa trên cơ sở “án tại hồ sơ” nên việc thu thập, xác minh, đánh giá chứng cứ cũng phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định
Thứ tư, chứng cứ được Tòa án dùng làm “căn cứ để xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp hay không, nhằm giải quyết đúng đắn vụ án hành chính” Đặc điểm này có liên hệ mật thiết với đặc
Trang 26điểm thứ hai của chứng cứ trong vụ án hành chính vừa nêu trên Chứng cứ chỉ phát sinh giá trị khi được Tòa án sử dụng một cách hợp lý để tìm ra sự thật khách quan và giải quyết vụ án Thông qua chứng cứ, Tòa án giải quyết đúng đắn vụ án hành chính, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể
Những đặc điểm nêu trên cho ta cái nhìn tổng quan về chứng cứ trong vụ án hành chính, làm cơ sở để xem xét, nhận biết chứng cứ với những tài liệu khác được thu thập nhưng không phải là chứng cứ Bên cạnh những đặc điểm này, chứng cứ trong vụ án hành chính còn có những thuộc tính nhất định
1.2 Các thuộc tính của chứng cứ trong vụ án hành chính
Như chứng cứ trong các vụ án dân sự, hình sự, kinh tế, lao động, chứng cứ trong vụ án hành chính cũng có những thuộc tính vốn có, nhờ đó mà chứng cứ trong vụ án hành chính tồn tại và qua đó con người nhận thức được về chứng cứ, phân biệt được chứng cứ với những gì “gần giống” với chứng cứ Mà phổ biến nhất là tránh được sự lầm lẫn giữa chứng cứ với nguồn chứng cứ Chứng cứ trong vụ án hành chính có ba thuộc tính: tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp Cụ thể như sau:
Chứng cứ trong vụ án hành chính luôn mang tính khách quan Tính
khách quan được thể hiện qua sự tồn tại độc lập với ý thức con người của chứng cứ Thuộc tính này có mối liên hệ mật thiết với đặc điểm “có thật” của chứng cứ Bởi chứng cứ đã hoặc đang tồn tại trên thực tế nên con người không thể
nhào nặn ra chứng cứ một lần nữa “Điểm quan trọng của những chứng cứ là
toàn bộ những tài liệu thu được phải thực sự khách quan chứ không hề là ý nghĩ chủ quan của người tiến hành tố tụng khi được giao giải quyết vụ án hành chính” [12 – tr 81] Thuộc tính này đóng vai trò là cơ sở nhận thức vụ án hành
chính, để giải quyết vụ án hành chính đúng đắn và nhanh chóng
Trang 27Thuộc tính thứ hai của chứng cứ trong vụ án hành chính là tính liên
quan Thuộc tính này bao gồm hai dạng: liên quan trực tiếp và liên quan gián
tiếp Đối với tính liên quan trực tiếp, Tòa án có thể chỉ căn cứ vào đó mà chứng minh được những vấn đề cần chứng minh của vụ án hành chính hay đó là những vấn đề đã quá rõ ràng, không cần phải chứng minh Còn liên quan gián tiếp, xét trong mối liên hệ với các chứng cứ khác, nó là một bộ phận quan trọng làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án Tính liên quan ở đây được xét
ở cả hai góc độ là tính liên quan giữa chứng cứ với vụ án hành chính và tính liên quan giữa các chứng cứ trong vụ án hành chính với nhau Điều này tạo nên tính logich khi đánh giá chứng cứ và giải quyết tổng thể vụ án hành chính
“Thế nhưng tính liên quan không phải chỉ chứng minh được những vấn đề cần
phải chứng minh trong vụ án hành chính mà những chứng cứ này chỉ cần làm sáng tỏ được những vấn đề cần được làm sáng tỏ trong vụ án cũng coi như là nó có liên quan đến vụ án hành chính” [12- tr 82] Thuộc tính liên quan của chứng
cứ là cơ sở để Tòa án dựa vào đó mà giải quyết đúng đắn vụ án hành chính
Thuộc tính thứ ba của chứng cứ là tính hợp pháp Quá trình giải quyết
vụ án hành chính không thể tách rời quá trình thu thập, xác định, đánh giá, sử dụng chứng cứ mà xoay quanh chứng cứ có nhiều vấn đề phức tạp, tiêu cực có thể nảy sinh nên bản thân chứng cứ phải hợp pháp Tính hợp pháp của chứng cứ trong vụ án hành chính được hiểu là những tài liệu, chứng cứ thu thập được phải được phản ánh trong các nguồn chứng cứ hợp pháp theo quy định của Luật Tố tụng Hành chính Những nguồn này được quy định cụ thể tại điều 75 Luật Tố tụng Hành chính Đồng thời, những chứng cứ đó phải được thu thập, xác minh, đánh giá, sử dụng theo đúng trình tự, thủ tục mà Luật Tố tụng Hành chính quy định (cụ thể từ điều 76 tới điều 91) Vấn đề cốt lõi trong vụ án hành
Trang 28chính xoay quanh việc xem xét tính hợp pháp của các quyết định hành chính, hành vi hành chính để giải quyết đúng đắn vụ án hành chính nên chứng cứ trong vụ án hành chính lại càng phải mang tính hợp pháp cao Những chứng cứ này là cơ sở để cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành ra các quyết định hành chính, thực hiện các hành vi hành chính; là cơ sở để cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện; và cũng là cơ sở để Tòa án xác định tính hợp pháp của đối tượng khởi kiện
Ba thuộc tính trên của chứng cứ trong vụ án hành chính vừa độc lập, vừa thống nhất và có mối liên hệ mật thiết với nhau Mỗi thuộc tính giữ một vai trò quan trọng nhất định, thiếu một thuộc tính thì những tài liệu thu thập được không thể xem là chứng cứ Tính khách quan là cơ sở; tính liên quan là căn cứ, phương tiện; tính hợp pháp là điều kiện để cơ quan tiến hành tố tụng sử dụng chứng cứ để giải quyết vụ án hành chính
Để có cái nhìn sâu hơn về chứng cứ trong vụ án hành chính, trước tiên ta tìm hiểu nguồn chứng cứ và vấn đề xác định chứng cứ
1.3 Nguồn chứng cứ và vấn đề xác định chứng cứ
Nguồn chứng cứ:
Dưới góc độ ngôn ngữ học, nguồn là nơi “bắt đầu, nơi phát sinh ra hoặc
nơi có thể cung cấp” [26 – tr 628] Như vậy, nguồn chứng cứ là nơi chứa đựng
chứng cứ, nơi rút ra chứng cứ để cơ quan tiến hành tố tụng củng cố, sử dụng làm cơ sở giải quyết vụ án hành chính
Trang 29Nguồn chứng cứ trong vụ án hành chính có hai loại chủ yếu là người, vật và tài liệu Điều 75 Luật Tố tụng Hành chính quy định về nguồn chứng cứ như
sau: Chứng cứ được thu thập từ các nguồn sau đây:
Các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được;
Vật chứng;
Lời khai của đương sự;
Lời khai của người làm chứng;
Kết luận giám định;
Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ;
Kết quả định giá, thẩm định giá tài sản;
Các nguồn khác mà pháp luật có quy định
Xác định chứng cứ
Từ các nguồn trên, chứng cứ được rút ra phục vụ cho quá trình giải quyết vụ án hành chính Với mỗi loại nguồn, chứng cứ được rút ra với nhiều dạng thức khác nhau và việc xác định chứng cứ phải tuân thủ đúng những điều kiện quy định tại điều 76 Luật Tố tụng Hành chính, cụ thể là:
Các tài liệu đọc được được coi là chứng cứ nếu là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan có thẩm quyền cung cấp, xác nhận
Các tài liệu nghe được, nhìn được được coi là chứng cứ nếu được xuất trình kèm theo văn bản xác nhận xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó
Vật chứng là chứng cứ phải là hiện vật gốc liên quan đến vụ việc
Lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng được coi là chứng cứ nếu được ghi bằng văn bản, băng ghi âm, đĩa ghi âm,
Trang 30băng ghi hình, đĩa ghi hình theo quy định tại khoản 2 điều này hoặc khai bằng lời tại phiên Tòa
Kết luận giám định được coi là chứng cứ nếu việc giám định đó được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định
Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc thẩm định được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định và có chữ kí của các thành viên tham gia thẩm định
Kết quả định giá, thẩm định giá tài sản được coi là chứng cứ nếu việc định giá, thẩm định giá được tiến hành theo thủ tục do pháp luật quy định
Xác định đúng nguồn chứng cứ và cách thức xác định chứng cứ sẽ là khởi đầu thuận lợi cho quá trình cung cấp, giao nộp, xác minh, thu thập, bảo quản, đánh giá, công bố, sử dụng và bảo vệ chứng cứ
1.4 Nghĩa vụ cung cấp, giao nộp, xác minh, thu thập, bảo quản, đánh giá, công
bố, sử dụng, bảo vệ chứng cứ
Điều 8 Luật Tố tụng Hành chính quy định về vấn đề cung cấp chứng cứ:
“đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa án Tòa án tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp do Luật này quy định” Đồng thời, về trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, điều 9 Luật Tố tụng hành chính quy định: “cá nhân, cơ quan, tổ chức trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn cho đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát tài liệu, chứng cứ mà mình đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu của đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát; trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo
Trang 31bằng văn bản cho đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát biết và nêu rõ lý do của việc không cung cấp được tài liệu, chứng cứ
Nghĩa vụ cung cấp chứng cứ:
Theo quy định tại điều 72 Luật Tố tụng Hành chính, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ trong tố tụng hành chính thuộc về các bên đương sự Người khởi kiện có nghĩa vụ cung cấp bản sao quyết định hành chính hoặc quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, bản sao quyết định giải quyết khiếu nại (nếu có), cung cấp các chứng cứ khác để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình; Trường hợp không cung cấp được thì phải nêu rõ lý do Người bị kiện có nghĩa vụ cung cấp cho Tòa án hồ sơ giải quyết khiếu nại (nếu có) và bản sao các văn bản, tài liệu mà căn cứ vào đó để ra quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh hoặc có hành vi hành chính Người có quyền, nghĩa vụ liên quan có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình
Việc cung cấp chứng cứ của đương sự có thể được thực hiện trong suốt quá trình giải quyết vụ án ngay từ khi vụ án hành chính phát sinh Trước khi mở phiên Tòa hoặc tại phiên Tòa phúc thẩm, người kháng cáo, người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo cũng có quyền bổ sung chứng cứ mới (điều
189 Luật Tố tụng Hành chính)
Giao nộp chứng cứ:
Vấn đề giao nộp chứng cứ được quy định tại điều 77 Luật Tố tụng Hành chính Theo đó, trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án hành chính, đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp chứng cứ cho Tòa án; nếu đương sự không nộp
Trang 32hoặc nộp không đầy đủ thì phải chịu hậu quả của việc không nộp hoặc nộp không đầy đủ đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Việc đương sự giao nộp chứng cứ cho Tòa án phải lập thành biên bản về việc giao nhận chứng cứ Trong biên bản phải ghi rõ tên gọi, hình thức, nội dung, đặc điểm của chứng cứ; số bản, số trang của chứng cứ và thời gian nhận; chữ kí hoặc điểm chỉ của người giao nộp, chữ kí của người nhận và dấu của Tòa án Biên bản phải lập thành hai bản, một bản lưu vào hồ sơ vụ án hành chính và một bản giao cho đương sự nộp chứng cứ giữ Đương sự giao nộp cho Tòa án chứng cứ bằng tiếng dân tộc thiểu số, tiếng nước ngoài phải kèm theo bản dịch sang tiếng Việt được công chứng, chứng thực hợp pháp
Xác minh, thu thập chứng cứ:
Liên quan tới vấn đề xác minh, thu thập chứng cứ, Luật Tố tụng Hành chính quy định như sau: “Trường hợp xét thấy chứng cứ có trong hồ sơ vị án hành chính chưa đủ cơ sở để giải quyết thì Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ Trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ và có yêu cầu hoặc xét thấy cần thiết, Tòa án có thể tự mình hoặc ủy thác tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ để làm rõ các tình tiết của vụ án Viện kiểm sát có quyền yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án Trường hợp kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án, Viện kiểm sát có thể tự mình thu thập hồ sơ, tài liệu, vật chứng trong quá trình giải quyết vụ án” (điều 78) Các biện pháp xác minh, thu thập chứng cứ được quy định tại khoản 4 điều 78 và được cụ thể hóa từ điều 79 tới điều 87 Luật Tố tụng Hành chính, bao gồm:
Lấy lời khai của đương sự; (Điều 79)
Trang 33 Lấy lời khai của người làm chứng; (Điều 80)
Đối chất; (Điều 81)
Xem xét, thẩm định tại chỗ; (Điều 82)
Trưng cầu giám định; (Điều 83, 84)
Quyết định định giá tài sản, thẩm định giá tài sản; (Điều 85)
Ủy thác thu thập chứng cứ; (Điều 86)
Yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ (Điều 87)
Bảo quản chứng cứ:
Để bảo vệ giá trị chứng minh của chứng cứ, sau khi chứng cứ đã được giao nộp hay thu thập sẽ phát sinh trách nhiệm bảo quản chứng cứ Tùy vào từng loại chứng cứ và từng trường hợp cụ thể mà trách nhiệm bảo quản chứng cứ được trao cho các chủ thể khác nhau Điều 88 Luật Tố tụng Hành chính quy định: “chứng cứ đã được giao nộp tại Tòa án thì việc bảo quản chứng cứ đó do Tòa án chịu trách nhiệm Chứng cứ không thể giao nộp được tại Tòa án thì người đang lưu giữ chứng cứ đó có trách nhiệm bảo quản Trong trường hợp cần giao chứng cứ cho người thứ ba thì Thẩm phán ra quyết định và lập biên bản giao cho người đó bảo quản Người nhận bảo quản phải kí tên vào biên bản, được hưởng thù lao và phải chịu trách nhiệm về việc bảo quản chứng cứ”
Đánh giá chứng cứ:
Là một hoạt động hết sức quan trọng, nguyên tắc và phương thức đánh giá chứng cứ được Luật Tố tụng Hành chính quy định như sau: “Việc đánh giá chứng cứ phải khách quan, toàn diện, đầy đủ và chính xác Tòa án phải đánh giá từng chứng cứ, sự liên quan giữa các chứng cứ và khẳng định giá trị pháp lý của từng chứng cứ” (điều 89)
Trang 34 Công bố và sử dụng chứng cứ:
Điều 90 Luật Tố tụng Hành chính quy định việc công bố và sử dụng chứng cứ Mọi chứng cứ được công bố và sử dụng công khai như nhau Tòa án không công bố công khai chứng cứ có liên quan đến bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc, bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật đời tư của cá nhân theo yêu cầu chính đáng của đương sự Người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng phải giữ bí mật theo quy định của pháp luật về những chứng cứ không công bố công khai
Bảo vệ chứng cứ:
Luật Tố tụng Hành chính cũng đặt ra vấn đề bảo vệ chứng cứ Vấn đề này được quy định tại điều 91 Trong trường hợp chứng cứ đang bị tiêu hủy, có nguy cơ bị tiêu hủy hoặc sau này khó có thể thu thập được thì đương sự có quyền làm đơn đề nghị Tòa án quyết định áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo toàn chứng cứ Tòa án có thể quyết định áp dụng một hoặc một số trong các biện pháp niêm phong, thu giữ, chụp ảnh, ghi âm, ghi hình, phục chế, khám nghiệm, lập biên bản và các biên pháp khác Trong trường hợp người làm chứng bị đe dọa, khống chế hoặc mua chuộc để không cung cấp chứng cứ hoặc cung cấp chứng cứ sai sự thật thì Tòa án có quyền quyết định buộc người có hành vi đe doạ, khống chế hoặc mua chuộc phải chấm dứt hành vi đe dọa, khống chế hoặc mua chuộc người làm chứng Trường hợp hành vi đe doạ, khống chế hoặc mua chuộc có dấu hiệu tội phạm thì Tòa án chuyển cho cơ quan điều tra có thẩm quyền xem xét về trách nhiệm hình sự
Trang 351.5 Những điểm khác giữa Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính
(đã sửa đổi, bổ sung năm 1998, 2006) và Luật Tố tụng Hành chính quy định về chứng cứ
Ngày 02/6/2005, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 49/NQ-TW về
“chiến lược cải cách Tư pháp đến năm 2020” trong đó có một số nhiệm vụ
được xác định là”… mở rộng thẩm quyền xét xử của Tòa án đối với các khiếu
kiện hành chính; đổi mới mạnh mẽ thủ tục giải quyết các khiếu kiện hành chính tại Tòa án; tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia tố tụng, bảo đảm sự bình đẳng giữa công dân và cơ quan công quyền trước Tòa án” Đồng thời,
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính cũng bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong thực tiễn áp dụng pháp luật thời gian qua Trên tinh thần đó, Luật Tố tụng Hành chính đã được Quốc hội thông qua ngày 24/11/2010, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2011 có một số quy định khác, mới, tiến bộ, rõ ràng hơn nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tố tụng hành chính trên thực tế Những quy định của Luật Tố tụng Hành chính điều chỉnh về chứng cứ trong vụ án hành chính cũng là một trong những bộ phận có sự thay đổi cơ bản về hình thức lẫn nội dung
Trước tiên, về kĩ thuật lập pháp, so với Pháp lệnh thủ tục giải quyết
các vụ án hành chính thì Luật Tố tụng Hành chính có một bước phát triển vượt bậc, đánh dấu sự hoàn thiện những quy định của pháp luật về chứng cứ Cụ thể như sau:
Luật Tố tụng Hành chính quy định về chứng cứ ở cả các điều khoản chung (mang tính khái quát) và các điều khoản riêng (cụ thể hóa) Ở phần quy định chung, Luật Tố tụng Hành chính quy định về việc cung cấp chứng cứ, chứng minh trong Tố tụng hành chính (điều 8) và trách
Trang 36nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền (điều 9) Còn ở phần riêng, chứng cứ được đề cập đến ở nhiều khía cạnh khác nhau như giao nộp chứng cứ, đánh giá chứng cứ, bảo quản chứng cứ…
Luật Tố tụng Hành chính quy định những vấn đề liên quan đến chứng cứ thành một chương độc lập là chương VI như một chế định riêng Điều này cho thấy đã có sự chuyển biến rõ rệt về tư duy pháp lý của các nhà lập pháp Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính quy định về chứng cứ rất ít và thường quy định kết hợp với các điều khoản khác có liên quan nhưng hết sức rời rạc, có phần mơ hồ Như điều 5 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính quy định về nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, về cả xác minh thu thập chứng cứ, lẫn trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền Việc quy định như trên gây khó khăn cho người nghiên cứu trong quá trình tìm kiếm các điều khoản liên quan Khắc phục điểm này của Pháp lệnh, Luật Tố tụng Hành chính tập hợp những nội dung của pháp luật quy định về chứng cứ thành một chương hoàn toàn mới Điều này giúp người tìm hiểu pháp luật tố tụng hành chính tiếp cận chứng cứ trong vụ án hành chính một cách dễ dàng, đơn giản hơn Đồng thời góp phần xác định vị trí, vai trò của chứng cứ trong vụ án hành chính, nâng giá trị của chứng cứ trong vụ án hành chính lên một nấc mới
Luật Tố tụng Hành chính quy định các vấn đề liên quan đến chứng cứ thành những điều khoản cụ thể riêng, độc lập Như đã nói ở trên, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính quy định về chứng cứ hết sức mơ hồ, không rõ ràng thì Luật Tố tụng Hành chính đã khắc phục
Trang 37được những sai sót trên Đi kèm với các điều khoản cụ thể là tên gọi các điều khoản đó, phản ánh chính xác nội dung mà pháp luật đề cập tới Nếu như cùng một điều khoản, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính quy định cùng lúc ba vấn đề thì Luật Tố tụng Hành chính tách từng vấn đề ra để quy định riêng Ví dụ như, khoản 1, 2, 3 điều 5 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính được quy định thành điều 72; khoản 5 điều 5 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính được quy định thành điều 9 Luật Tố tụng Hành chính
Bên cạnh đó, số lượng các điều khoản quy định về chứng cứ trong Luật Tố tụng hành chính cũng nhiều hơn rõ rệt (hơn 20 điều khoản) Điều này cho thấy quy mô mà pháp luật quy định về chứng cứ đã có sự biến chuyển theo hướng mở rộng hơn
Thứ hai, về nội dung pháp lý, những quy định điều chỉnh về chứng cứ
theo Luật Tố tụng Hành chính là một bước ngoặt lớn so với Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính Cụ thể là:
Trên cơ sở những nội dung cuả pháp lệnh, Luật Tố tụng Hành chính có
bổ sung thêm, quy định cụ thể hơn, chi tiết hơn về những vấn đề xoay
quanh chứng cứ Đơn cử như, về nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, Luật Tố tụng Hành chính có quy định về việc chủ thể khởi kiện phải nêu rõ lý do nếu không cung cấp được chứng cứ tại khoản 1 điều 72 Bên cạnh đó, Luật Tố tụng Hành chính còn cụ thể hóa các biện pháp xác minh, thu thập chứng cứ theo khoản 4 điều 78 tại các điều từ điều 79 đến điều 87 Những điều này Pháp lệnh có nhắc tới nhưng còn chung chung Việc quy định rõ như trên tạo cơ sở pháp lý cho cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng
Trang 38pháp luật hiệu quả, và các bên chủ thể bảo vệ triệt để quyền, lợi ích của mình
Đặc biệt, Luật Tố tụng Hành chính có thêm nhiều điều khoản với nhiều
nội dung mới khi quy định về chứng cứ Điển hình, Luật Tố tụng Hành
chính đã đưa ra được khái niệm khá hoàn chỉnh về chứng cứ tại điều 74, đưa ra các nguồn chứng cứ cũng như nói rõ về việc xác định chứng cứ theo điều 75… Đồng thời, Luật Tố tụng Hành chính cũng xác định thêm nhiều khía cạnh mới liên quan tới chứng cứ, như: giao nộp chứng cứ (điều 77), bảo quản chứng cứ (điều 88), đánh giá chứng cứ (điều 89), công bố và sử dụng chứng cứ (điều 90), bảo vệ chứng cứ (điều 91) Những nội dung trên được quy định khá chi tiết và đầy đủ, đây là những điều khoản hoàn toàn mới so với Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính
1.6 Sự khác biệt giữa chứng cứ trong vụ án Hành chính và chứng cứ trong vụ
án Dân sự, Hình sự
Chứng cứ với vai trò quan trọng của nó, dù là chứng cứ trong vụ án Hành chính, trong vụ án Dân sự hay trong vụ án Hình sự thì nó vẫn có những nét tương đồng Sự tương đồng nói trên thể hiện ở cơ sở lý luận của chứng cứ, ở những thuộc tính, đặc điểm của chứng cứ cũng như vị trí, vai trò của chứng cứ trong việc giải quyết vụ án
Tuy nhiên, tương ứng với mỗi mối quan hệ xã hội được luật điều chỉnh, theo đặc thù của các vụ án, mà chứng cứ trong các vụ án thuộc các lĩnh vực khác nhau có nhiều nét khác biệt Tiêu biểu là sự khác biệt về vai trò của chứng cứ, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và nguồn thu nhận chứng cứ trong từng vụ án Cụ thể như sau:
Trang 39Thứ nhất, trong Tố tụng Hình sự, chứng cứ là căn cứ để xác định tội phạm và người phạm tội, định tội danh và xác định hình phạt Trong Tố tụng Dân sự, chứng cứ là cơ sở để chứng minh cho các yêu cầu của đương sự, Viện kiểm sát Còn trong Tố tụng Hành chính, chứng cứ là căn cứ để Tòa án xác định tính hợp pháp của các quyết định hành chính, các hành vi hành chính bị khiếu kiện
Thứ hai, trong quá trình giải quyết các vụ án Hình sự, chứng cứ được cơ quan điều tra thu thập là chủ yếu; bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải đưa ra chứng cứ chứng minh mình vô tội Còn trong vụ án Hành chính, việc cung cấp chứng cứ là nghĩa vụ của đương sự, nếu không cung cấp được thì phải nêu rõ lý do; Tòa án chỉ tiến hành thu thập chứng cứ khi cần thiết
Thứ ba, nguồn thu nhận chứng cứ trong vụ án Hành chính và vụ án Dân sự là nguồn chứng cứ theo người và nguồn cứ theo vật Trong khi đó, nguồn thu nhận chứng cứ trong vụ án Hình sự lại được thu nhận theo đối tượng buộc tội tứùc là chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội
Kết luận:
Nghiên cứu chương 1 cho ta cái nhìn tổng quan về vụ án Hành chính cũng như cái nhìn pháp lý sâu sắc về chứng cứ trong vụ án Hành chính theo quy định của Luật Tố tụng Hành chính có hiệu lực ngày 01/7/2011 Đặc biệt là những đặc trưng, thuộc tính, những nét khác biệt của chứng cứ trong vụ án Hành chính với chứng cứ trong các vụ án Hình sự hay Dân sự, những điểm mới về chế định chứng cứ theo Luật mới so với Pháp lệnh cũ Từ đó làm tiền đề, cơ sở cho việc nghiên cứu thực trạng pháp luật cũng như thực tiễn thực hiện những quy định của pháp luật điều chỉnh “chứng cứ” trong vụ án hành chính
Trang 40CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CUNG CẤP, THU THẬP, XÁC MINH, ĐÁNH GIÁ, BẢO QUẢN, SỬ DỤNG,CÔNG BỐ, BẢO VỆ CHỨNG CỨ VÀ
PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN 2.1 Quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện việc cung cấp, thu thập, xác
minh, đánh giá, bảo quản, sử dụng, công bố, bảo vệ, áp dụng chứng cứ trong việc giải quyết vụ án hành chính
Pháp luật là bộ phận quan trọng hàng đầu, không thể thiếu trong hoạt
động quản lý Nhà nước Để phát huy hiệu quả quản lý của Luật Tố tụng Hành chính vào thực tiễn đời sống, trước hết những quy định của Luật phải phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh Chính trị, Kinh tế - xã hội của đất nước tại thời điểm ban hành và có tính dự trù Theo đó, các quy định điều chỉnh chứng cứ trong vụ án hành chính cũng phải phù hợp và có tính khả thi cao Tuy nhiên, bên cạnh những quy định phù hợp, Luật còn có một số quy định chưa được hợp lý khi điều chỉnh vấn đề chứng cứ Và, chính từ những quy định của Luật dẫn đến những hệ quả tất yếu trong việc áp dụng Luật trên thực tế khi các chủ thể tiến hành các hoạt động cung cấp, thu thập, xác minh, đánh giá, bảo quản, sử dụng, công bố, bảo vệ, áp dụng chứng cứ trong việc giải quyết vụ án hành chính
2.1.1 Cung cấp và giao nộp chứng cứ