Mà họ có thể cung cấp sai lệch thông tin, nhưng phần lớn không do những nguyên nhân ñó thì lời khai của họ là khách quan vì khi họ tham gia phiên tòa họ cũng ñược nghe người tiến hành tố
Trang 1TRƯỜNG ðẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
CỬ NHÂN LUẬT KHÓA 2006 – 2010
Trang 2PHẦN MỞ đẦU 1
LỜI MỞ đẦU 1
1.Tắnh cấp thiết của ựề tài: 1
2 Mục tiêu nghiên cứu: 2
3 Phạm vi nghiên cứu: 3
4 Phương pháp nghiên cứu: 3
5 Cơ cấu ựề tài 4
CHƯƠNG I: CÁC VẤN đỀ CHUNG VỀ CHỨNG CỨ TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ 5
1.1 Khái niệm về chứng cứ trong vụ án hình sự 5
1.2 Quy ựịnh pháp luật về chứng cứ trong vụ án hình sựẦẦẦ 8
1.2.1 Nguyên nhân và ựiều kiện: 8
1.2.2 đặc ựiểm: 12
1.2.3 Bản chất: 13
1.3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu chứng cứ trong vụ án hình sựẦ .13
CHƯƠNG II: QUÁ TRÌNH THU THẬP, KIỂM TRA VÀ đÁNH GIÁ CHỨNG CỨ TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰẦẦẦ 15
2.1 Thu thập chứng cứ trong vụ án hình sựẦẦẦ ẦẦẦ 17
2.1.1 định nghĩa: 17
2.1.2 Phương pháp 20
2.2 Kiểm tra chứng cứ trong vụ án hình sựẦẦ .35
2.3 đánh giá chứng cứ trong vụ án hình sự 38
2.4 Sử dụng chứng cứ 48
2.5 Xử lý chứng cứ trong vụ án hình sự Ầ 56
2.6 Các phương pháp thu thập, ựiều tra, xử lý chứng cứ 74
CHƯƠNG III: THỰC TIỄN VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN CÁC CHỨNG CỨ TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰẦẦẦ 82
3.1 Thực trạng chứng cứ trong vụ án hình sự ở Việt Nam 85
3.2 Hướng hoàn thiệnẦẦ.ẦẦẦ 82
KẾT LUẬN 93
Trang 3Luận văn tốt nghiệp Chứng cứ trong vụ án hình sự
LỜI NÓI ðẦU
Khi có vụ án hình sự xảy ra Cơ quan tiến hành tố tụng hình sự, Người tiến hành
tố tụng hình sự phải áp dụng mọi biện pháp ñể tìm ra sự thật của vụ án như xác ñịnh tội phạm, người phạm tội làm cở sở cho việc giải quyết ñúng ñắng vụ án hình sự Muốn làm ñược ñiều rõ những vấn ñề cần phải chứng minh thì Cơ quan tiến hành tố tụng hình sự phải xác ñịnh ñược những chứng cứ cần thiết theo ñúng quy ñịnh của pháp luật Những chứng cứ giúp Cơ quan ñiều tra, Viện kiểm sát, Tòa án nhận thức ñược khách quan, toàn diện vụ án hình sự Từ ñó có thể ra quyết ñịnh, bản án nhằm giải quyết ñúng ñắn vụ án hình sự Nếu không có chứng cứ thì Cơ quan tiến hành tố tụng hình sự, Người tiến hành tố tụng hình sự không thể quyết ñịnh hay ñưa ra ñược kết luận nào về sự kiện phạm tội và không thể chỉ nói miệng nếu muốn bắt giữ một người hay một vật nào ñó Mà phải ñưa ra những thông tin cũng như tài liệu ñể họ phải “khâm phục khẩu phục” Vì lẽ ñó, chứng cứ ra ñời là một ñiều tất yếu, hiển nhiên trong lịch sử tố tụng của hầu hết các nước Chứng cứ ñóng vai trò quan trọng trong việc ñấu tranh với tội phạm và nó cũng ñồng thời tránh ñược việc bắt oan người vô tội Chứng cứ góp phần không nhỏ vào việc giải quyết vụ án nhưng cũng gặp nhiều khó khăn với những quy ñịnh liên quan ñến chứng cứ như trình tự thu thập, kiểm tra, ñánh giá, sử dụng chứng cứ dẫn ñến nhiều sai lầm khi ra quyết ñịnh hay bản án Chúng ta hãy cùng nghiên cứu, phân tích ñể hiểu rõ hơn về chứng
cứ và ñồng thời cũng ñưa ra những giải pháp, phương hướng ñể hoàn thiện hơn những quy ñịnh về chứng cứ
Phương pháp nghiên cứu:
Cơ cấu ñề tài:
Chương 1: Những vấn ñề chung về chứng cứ trong vụ án hình sự
Chương 2: Quá trình thu thập, kiểm tra và ñánh giá chứng cứ trong vụ án hình sự
Chương 3: Thực tiễn và phương hướng hoàn thiện về chứng cứ trong vụ án hình sự
GVHD: Nguyễn Chí Hiếu 1 SVTH: Trần Thị Mỹ Á
Trang 4Luận văn tốt nghiệp Chứng cứ trong vụ án hình sự
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ðỀ CHUNG VỀ CHỨNG CỨ TRONG VỤ ÁN
HÌNH SỰ
Chứng cứ có ý nghĩa rất quan trọng trong các hoạt ñộng tố tụng ðặc biệt là
tố tụng hình sự Vì vậy, ở chương này chúng ta cùng tìm hiểu những khái niệm như thế nào là chứng cứ, các thuộc tính chứng cứ, cũng như cách phân loại chứng cứ và các nguồn của chứng cứ ðể hiểu rõ hơn những quy ñịnh của luật ñồng thời ñề ra phương hướng hoàn thiện cho hệ thống pháp luật về chứng cứ
1.1 KHÁI NIỆM, LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHỮNG QUY ðỊNH PHÁP LUẬT VỀ CHỨNG CỨ
1.1.1 Khái niệm chung về chứng cứ
Trong lịch sử phát triển của nhân loại gắn liền với mỗi phương thức sản xuất khác nhau là mỗi kiểu nhà nước và pháp luật khác nhau Tương ứng với mỗi kiểu pháp luật thì có một kiểu tố tụng hình sự ñặc thù nhưng chúng ñều có mục ñích cuối cùng trong các giai ñoạn tố tụng hình sự là tìm ra chứng cứ ñể chứng minh một người hay một hành vi ñó có phải là tội phạm hay không Hay nói cách khác chứng
cứ là phương tiện duy nhất ñể giải quyết ñúng ñắn vụ án hình sự Vậy chứng cứ là gì? Theo khoản 1 ðiều 64 Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy ñịnh:
“Chứng cứ là những gì có thật, ñược thu thập theo trình tự do Bộ Luật tố tụng hình sự quy ñịnh mà Cơ quan ñiều tra, Viện kiểm sát và Toà án dùng làm căn
cứ ñể xác ñịnh có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết ñúng ñắn vụ án” Trước tiên Chứng cứ phải là những gì có thật và ñược thu thập theo một trình tự do pháp luật quy ñịnh nhằm làm sáng tỏ những tình tiết của vụ án mới gọi là chứng cứ, thì cũng có nghĩa là những gì không phản ánh ñúng sự thật của vụ án hình sự thì không ñược xem là chứng cứ
Tuy có những thông tin, tài liệu có tồn tại thật nhưng chúng không phản ánh ñúng bản chất của vụ án thì nó cũng không ñược xem là chứng cứ ví dụ như: Một chữ ký có trong hồ sơ của một vụ án nhận hối lộ do A là giám ñốc nhưng khi giám ñịnh chữ ký giả mạo của A Mặt khác, Chứng cứ là những thông tin ñược chứa ñựng trong các nguồn khác nhau Vì vậy khi giải quyết những vấn ñề về chứng cứ cần phân biệt ñâu là chứng cứ, ñâu là nguồn của chứng cứ Chứng cứ là các thông tin ñược chứa ñựng trong nguồn của chứng cứ, do vậy nguồn chứng cứ không phải là
Trang 5Luận văn tốt nghiệp Chứng cứ trong vụ án hình sự chứng cứ nhưng bất kỳ chứng cứ nào cũng ñược lưu giữ trong một nguồn nhất ñịnh Thực tiễn, có khi thu thập ngay chính chứng cứ cungx có thể thu thập nguồn chứng cứ Ví dụ vỏ chai bia dính máu tại hiện trường sau một vụ ấu ñả là nguồn chứng cứ, còn vết máu ở tại hiện trường sau khi qua khám nghiệm là chứng cứ
Trong lí luận thì có thể dễ phân biệt nguồn chứng cứ và chứng cứ nhưng trong thực tiễn rất khó ñể phân biệt ñâu là nguồn và ñâu là Chứng cứ cụ thể như vụ công ty PCI ñưa hối lộ quan chức Việt Nam thì tài liệu do phía Nhật cung cấp là chứng cứ hay nguồn chứng cứ (nếu tài liệu ñó ñược thu thập theo trình tự của pháp luật Nhật)1
Việc ñưa ra chính xác khái niệm Chứng cứ có ý nghĩa quan trọng trong lí luận vì nó là cơ sở ñể giải quyết một loạt vấn ñề liên quan như các thuộc tính của Chứng cứ, các thủ tục thu thập, kiểm tra, ñánh giá chứng cứ… cũng như có ý nghĩa trong thực tiễn ñiều tra, truy tố, xét xử ñể ñưa ra các quyết ñịnh giải quyết ñúng ñắn, khách quan từng vụ án và việc ñưa ra khái niệm Chứng cứ chính xác còn có ảnh hưởng ñến việc xác ñịnh ñịa vị pháp lý của công dân như: là người bị phạm tội hay một công dân bình thường Việc nhận ñịnh ñúng ñắn khái niệm chứng cứ ñã xác ñịnh một cách khách quan, toàn diện, chính xác trong thực tiễn ñiều tra, truy tố, xét
xử, làm tiền ñề quan trọng cho việc thực hiện nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo ñảm xử lý ñúng người ñúng tội, không kết tội oan người và không ñể lọt tội phạm Chứng cứ là cơ sở pháp lý ñể thực hiện các giai ñoạn tố tụng khác như khởi
tố, ñiều tra và những biện pháp ngăn chặn, các quyết ñịnh truy tố, xét xử Vì vậy, khi ñưa ra khái niệm Chứng cứ phải bao hàm ñược tất cả các ñặc ñiểm về bản chất của Chứng cứ cũng hình thức tố tụng của Chứng cứ mới có ý nghĩa về mặt pháp lý cũng như trong thực tiễn
1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của chứng cứ
Chứng cứ ñóng một vai trò và vị trí quan trọng trong việc giải quyết ñúng ñắn các vụ án hình sự Không có chứng cứ thì các chủ thể tiến hành tố tụng không thể cũng như không có cách nào giải quyết vụ án Chứng cứ còn ñóng vai trò xác ñịnh sự thật khách quan ðiều này cũng có nghĩa chứng cứ là phương tiện khẳng ñịnh các sự kiện, hiện tượng có xảy ra trong thực tế ðồng thời cũng loại trừ, phủ ñịnh những sự kiện, hiện tượng ñã không xảy ra trong thực tế Vì vậy, ngay từ khi xây dựng nhà nước thì khái niệm chứng cứ cũng manh nha ñược hình thành ðầu tiên là trong các Luật cổ, cụ thể như sau:
1 Bùi Tín, Việt Nam tự do: Vụ PCI chưa yên, lại vụ RBA, http://vntd.org/?p=3548 , [17/12/2009]
GVHD: Nguyễn Chí Hiếu 3 SVTH: Trần Thị Mỹ Á
Trang 6Luận văn tốt nghiệp
1.1.2.1 Pháp luật thời phong kiến
Chứng cứ trong vụ án hình sự
Quốc triều hình luật (Bộ luật Hồng ðức)
Trong lịch sử lập pháp tố tụng hình sự của nước ta, Quốc triều hình luật (Bộ luật Hồng ðức) ra ñời (1442 - 1497) là Bộ Luật của triều ñình nhà Lê, ñã ñề cập ñến vấn ñề về chứng cứ bao gồm: lời khai của người làm chứng, bị can, bị cáo và các phương pháp thu thập chứng cứ như lấy lời khai của bị can, bị cáo, người làm chứng, hỏi cung bị can…tại các ðiều 664, 665, 666, 667, 668, 669, 670 Tuy Bộ luật này chưa ñưa ra ñịnh nghĩa pháp lý về khái niệm chứng cứ nhưng cũng ñã chỉ
ra ñược nguồn của chứng cứ cụ thể ở ðiều 667 Quốc triều hình luật quy ñịnh chứng
cứ từ lời khai của người tù: “Khi lấy lời khai của tù, quan xét án phải suy xét kỹ, tìm tòi dấu vết sự thật ñể kẻ phạm tội phải nhận tội Không ñược hỏi ngầm dân ngoài, tìm chứng cứ không ñúng Nếu trái ñiều này thì xử phạt Chỉ việc tranh chấp ruộng ñưa ñến việc ñánh lộn cần nhiều người làm chứng thì tâu lên ñể ñòi họ ra tra hỏi Nếu tự ý cũng bị xử phạt” và ðiều 668 về phương pháp thu thập chứng cứ “Các hình quan tra hỏi tù phạm, trước phải theo sự tình mà thẩm xét lời lẽ của tù khai; nếu xét ñi xét lại, còn chưa quyết ñịnh ñược tội, cần phải tra nữa, lập hội ñồng quan
án, rồi mới tra khảo, trái luật này thì xử phạt 60 trượng Nếu tang chứng ñã rõ ràng, tình lý không còn ñáng trở ngại nữa, thì dù kẻ phạm tội không nhận tội, cũng chiếu tình trạng mà ñịnh ấn” Tuy nhiên dưới các Triều ñại thời phong kiến có những phương pháp thu thập chứng cứ và hình phạt rất tàn bạo, dã man như lấy lời khai bằng nhục hình như ñánh bằng roi, lăng trì Một người có thể không thực hiện tội phạm nhưng bị tra khảo ñau ñớn thì thường họ sẽ nhận tội
Hoàng Việt luật lệ (Luật Gia Long)
ðến thời Nguyễn có Hoàng Việt luật lệ (Luật Gia Long) Luật ñược xây dựng dưới thời Vua Gia Long (Nguyễn Ánh) Bộ Luật mặc dù chịu ảnh hưởng của Luật nhà Thanh Trung Quốc khá nặng nề, nhưng nhiều ñiều luật quy ñịnh về chứng cứ và thu thập chứng cứ vẫn tiếp thu, kế thừa các luật cổ nước nhà So với Bộ luật Hồng ðức Luật Gia Long có những quy ñịnh tiến bộ hơn như khám nghiệm tử thi ở ðiều 377: “Phàm quan ti giữ việc xét nghiệm thây chết ñược giấy mời ñi mà thối thác, dây dưa không ñi xét nghiệm ngay ñể ñến nỗi thây biến dạng Và có ñến nghiệm nhưng không ñích thân ñến ngay chỗ thây chết ñể xét xem, lại ủy cho lại tốt làm
….thì bị xử phạt”
1.1.2.2 Pháp luật từ thế kỉ 19 ñến nay
Từ năm 1858 ñến trước Cách mạng tháng Tám thành công, Thực dân Pháp xâm lược nước ta cho nên hệ thống pháp luật nói chung, tố tụng hình sự nói riêng chịu ảnh hưởng của hệ thống pháp luật Châu Âu lục ñịa Bộ Luật tố tụng hình sự
Trang 7Luận văn tốt nghiệp Chứng cứ trong vụ án hình sự Bắc kỳ, không ựưa ra ựịnh nghĩa pháp lý khái niệm chứng cứ nhưng ựã quy ựịnh chứng cứ ựược xác ựịnh bằng: Thư chứng, vật chứng, người bị hại, bị can, bị cáo
Cụ thể quy ựịnh tại điều 39 về thư chứng như sau: ỘNgười khống tố hoặc người tố giác, nếu có giấy má gì làm tang chứng thì phải ựem bản chánh ựồng thời cùng với ựơn khống tố trình nộp lên quan thẩm phán Những giấy má nộp về sau, thì quan thẩm phán có thể bác khước mà không nhậnỢ Có nghĩa người nào muốn kiện tụng một ai ựó thì phải có giấy tờ chứng minh sự kiện phạm tội ựó, nếu không có giấy tờ chứng minh ựược thì có thể không thể kiện tụng ựược, ựại loại những giấy tờ ựó như về tranh chấp ựất ựai, hợp ựồng, giấy vay nợ hoặc các giấy tờ chứng minh sự thiệt hại của người bị hại, bị ựơn dân sự trong Luật hiện hành
Sau cách mạng tháng Tám chứng cứ tiếp tục hình thành và phát triển Chứng
cứ ựược ghi nhận nhiều văn bản quy phạm pháp luật tố tụng hình sự, nhưng mới chỉ ựược xem xét ở một khắa cạnh nhất ựịnh, chưa có quy ựịnh về khái niệm chứng cứ
mà chỉ ựề cập việc thu thập chứng cứ như: ỘMỗi khi xảy ra việc gì phương hại ựến nền ựộc lập của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa thì bất cứ ai cũng phải báo ngay cho Ty Liêm hoặc nhà chức trách ựịa phương biết.Ty liêm phóng khi mở ựiều tra, thu thập tài liệu chứng cứ, hỏi các người làm chứng Ông giám ựốc Liêm phóng có thể ký lệnh tạm giam bị cáo Tất cả mọi hành ựộng cứ phải vào biên bản, lập hồ sơ giử lên công cáo ủy viên.Ợ(điều 9 Nghị ựịnh số 82/Nđ ngày 25-02-1946 của Bộ Tư pháp ấn ựịnh chi tiết áp dụng Sắc lệnh số 21/SL ngày 14-02-1946 về tổ chức các Tòa án quân sự về việc thu thập chứng cứ).2
đến Bộ Luật tố tụng hình sự năm 1988 cũng như Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2003 ựã ựưa ựịnh nghĩa pháp lý khái niệm chứng cứ tại khoản 1 ựiều 48 và khoản 1 điều 64 (đã ựược tìm hiểu ở phần 1.1.1) Việc ghi nhận chắnh thức khái niệm chứng cứ ựánh dấu sự phát triển của kỹ thuật lập pháp nước ta ựồng thời cũng thấy ựược tầm quan trong của chứng cứ trong việc giải quyết các vụ án hình sự nói riêng, trong quá trình tố tụng nói chung
1.2 NHỮNG QUY đỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CHỨNG CỨ
1.2.1 Các thuộc tắnh của chứng cứ
Từ ựịnh nghĩa về chứng cứ cũng thể hiện ựược ựầy ựủ những thuộc tắnh của chứng cứ mà bất kỳ chứng cứ nào cũng phải có đó là chứng cứ phải có tắnh khách quan, tắnh liên quan và tắnh hợp pháp Việc phân tắch các thuộc tắnh của Chứng cứ
có ý nghĩa quan trọng về mặt thực tiễn giúp cho Cơ quan ựiều tra, Viện kiểm sát và Tòa án thực hiện việc thu thập, kiểm tra, ựánh giá chứng cứ ựúng pháp luật và giải
2 Ts Trần Quang Tiệp: Chế ựịnh chứng cứ trong Luật tố tụng hình sự hình sự Việt Nam, Nxb Chắnh trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr.19
GVHD: Nguyễn Chắ Hiếu 5 SVTH: Trần Thị Mỹ Á
Trang 8Luận văn tốt nghiệp Chứng cứ trong vụ án hình sự quyết vụ án một cách nhanh chóng và chính xác hơn Cụ thể các thuộc tính như sau: 1.2.1.1 Tính khách quan:
Tính khách quan là một trong những thuộc tính quan trọng của Chứng cứ Khách quan là những gì tồn tại bên ngoài không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của con người Theo khái niệm thì Chứng cứ là những gì có thật, ñiều ñó có nghĩa rằng Chứng cứ là những thông tin, tư liệu khách quan, tồn tại ñộc lập với ý thức con người, kể cả người ñã tạo ra nó và các thông tin, tư liệu ñó phù hợp với các tình tiết của vụ án ñang ñược chứng minh Nếu chứng cứ phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người như lấy ý chí chủ quan của những người tiến hành tố tụng áp ñặt, suy diễn sẽ dẫn ñến giải quyết vụ án thiếu chính xác, không khách quan và không ñược xem là chứng cứ, nó không có giá trị chứng minh, nhưng nếu do người tiến hành tố tụng cố tình áp ñặt thì nhiều trường hợp ñã oan sai Ví dụ như một người giết người bằng dao thì vết tích ñể lại trên người là ñiều tất yếu, không thể giết người bằng dao
mà không có dấu vết
Tính khách quan của chứng cứ có trong vụ án hình sự cũng như trong dân sự, hành chính Có một số ý kiến cho rằng lời khai của người tham gia tố tụng thì khó mang tính khách quan dù ít nhiều ñều bị chi phối bởi yếu tố chủ quan của người khai báo Nhưng thực ra Chứng cứ trong lời khai của người tham gia tố tụng là những thông tin về tội phạm ñược phản ánh khách quan trong ý thức của người chứng kiến về sự việc phạm tội ñó Vì vậy về bản chất nó là khách quan Tuy nhiên
có thể do một số yếu tố khác nhau như khả năng tiếp nhận thông tin, mối quan hệ với người phạm tội, người bị hại, nguyên ñơn dân sự Mà họ có thể cung cấp sai lệch thông tin, nhưng phần lớn không do những nguyên nhân ñó thì lời khai của họ
là khách quan vì khi họ tham gia phiên tòa họ cũng ñược nghe người tiến hành tố tụng giải thích về quyền và nghĩa vụ như khai báo gian dối hay từ chối khai báo mà ảnh hưởng nghiêm trọng ñến việc giải quyết vụ án thì họ sẽ bị tội theo quy ñịnh ðiều 307, 308 của Bộ Luật hình sự năm 1999 (sửa ñổi, bổ sung năm 2009)
Việc ñánh giá ñâu là tính khách quan không hề ñơn giản ñòi hỏi những người tiến hành tố tụng không ngừng nâng cao trình ñộ, kinh nghiệm của bản thân cũng như tiếp thu những lời nhận xét khác ñể có những ñánh giá chính xác hơn nhằm nhanh chóng giải quyết ñúng ñắn vụ án hình sự Bên cạnh những ñánh giá của những người tiến hành tố tụng thì những người tham gia tố tụng cũng có những nhận xét về tính khách quan của những Chứng cứ, nếu họ cho rằng những chứng cứ
ñó không có tính khách quan thì có thể yêu cầu những người tiến hành tố tụng xem xét lại tính khách quan ñó Trong thực tiễn ñiều tra, truy tố, xét xử, việc xác ñịnh ñúng tính khách quan của chứng cứ rất quan trong trong việc chứng minh tội phạm
Trang 9Luận văn tốt nghiệp Chứng cứ trong vụ án hình sự
Từ những phân tắch trên ta có thể rút ra kết luận ỘTắnh khách quan của chứng cứ là những thông tin, tài liệu tồn tại khách quan không phụ thuộc vào ý chắ chủ quan của con người.Ợ Trong quá trình ựiều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự Cơ quan ựiều tra, Viện kiểm sát và Tòa án thu thập ựược rất nhiều những thông tin, tư liệu nhưng không phải tất cả những thông tin, tư liệu ựó ựều là chứng cứ chỉ những thông tin, tư liệu có liên quan ựến vụ án mới gọi Chứng cứ của vụ án.Vì vậy thuộc tắnh thứ hai của Chứng cứ là tắnh liên quan
1.2.1.2.Tắnh liên quan:
Có thể xác ựịnh ựược tắnh liên quan như thu thập chứng cứ sau ựó kiểm tra, ựánh giá mới biết nó không có liên quan gì ựến vụ án mặc dù nó có mặt tại hiện trường nơi xảy ra vụ án (vắ dụ có một khúc gỗ ở hiện trường nơi xảy ra vụ án chết người nhưng khi kiểm tra, ựánh giá thì nạn nhân chết do ựột quỵ) Tắnh liên quan có thể ảnh hưởng ựến việc giải quyết vụ án ở hai mức ựộ:
- Thứ nhất là ảnh hưởng trực tiếp xác ựịnh ựược ngay hành vi phạm tội, người phạm tội, lỗi của người phạm tội và các tình tiết khác giúp quyết ựịnh hình phạt hoặc các biện pháp tư pháp khác như Tội nhận hối lộ cơ quan tiến hành
tố tụng có thể kê biên tài sản ựể tránh việc tẩu tán tài sản
- Thứ hai là ảnh hưởng không trực tiếp xác ựịnh ựược những hành vi trên nhưng lại ựược dùng ựể xác ựịnh các tình tiết khác có ý nghĩa gián tiếp trong việc tìm ra vụ án Mặc dù gián tiếp nhưng trong nhiều trường hợp không thể thiếu tắnh liên quan gián tiếp như trường hợp này lời khai của một người làm chứng thấy ựêm xảy ra vụ án có thấy A qua nhà B Lời khai của A giúp chơ
Cơ quan ựiều tra khoan vùng ựối tượng, lập ra phương án ựiều tra hay bát bỏ những lời khai về tình trạng ngoại phạm của người bị tạm giam
Vì vậy ựánh giá tắnh liên quan Cơ quan tiến hành tố tụng phải xem xét toàn diện các mối quan hệ có liên quan ựến vụ án trong tổng thể các mối quan hệ ựó phải rút
ra ựược mối quan hệ nào là bản chất, chủ yếu gây nên một vụ án và cũng xem xét các tình tiết khác ựể giải quyết nhanh chóng vụ án.Trong thực tiễn ựiều tra, truy tố, xét
xử tắnh liên quan có ý nghĩa quan trọng tránh ựược sự thu thập Chứng cứ một cách tràn lan ảnh hưởng ựến ựời sống của người dân như có một lời khai chiếc xe A
ựã gây tai nạn rồi bỏ trốn nhưng do lời khai trên là giả dối nên chiếc xe ựó ựã bị thu giữ chiếc xe ựó là phương tiện kiếm sống duy nhất của nhà B
Có thể rút ra kết luận tắnh liên quan của Chứng cứ như sau: ỘLà những thông tin,
tư liệu có liên quan ựến vụ án nhằm làm sáng tỏ vụ án và tránh ựược việc thu thâp chứng cứ một cách tràn lan.Ợ Ngoài ra Chứng cứ còn phải ựược thu thập theo một trình tự, thủ tục do Bộ Luật tố tụng hình sự quy ựịnh đó là tắnh hợp pháp
GVHD: Nguyễn Chắ Hiếu 7 SVTH: Trần Thị Mỹ Á
Trang 10Luận văn tốt nghiệp Chứng cứ trong vụ án hình sự
1.2.1.3 Tính hợp pháp:
Chứng cứ ñược thu thập theo một trình tự do Luật quy ñịnh Tùy theo từng ñặc ñiểm, tính chất của Chứng cứ mà Bộ Luật quy ñịnh trình tự thu thập khác nhau như Cơ quan tiến hành tố tụng thu thập Chứng cứ bằng cách lấy lời khai, trưng cầu giám ñịnh, tiến hành khám xét, khám nghiệm và các hoạt ñộng ñiều tra khác theo quy ñịnh của pháp luật ở (ðiều 65 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2003) Lời khai của người làm chứng, lời khai của người bị hại, lời khai của nguyên ñơn dân sự, bị ñơn dân sự, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ñến vụ án chỉ ñược dùng lời khai của họ làm chứng cứ nếu họ nói rõ vì sao họ biết ñược tình tiết ñó Vật chứng phải ñược mô tả ñúng thực trạng ghi vào biên bản và ñưa vào hồ sơ vụ án (ðiều 75 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2003), các tình tiết khác thì không ñược xem
là Chứng cứ; Khám người (ðiều 142 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2003), khám tử thi (ðiều 151 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2003), xem xét dấu vết trên thân thể (ðiều 75 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2003) phải có người chứng kiến nếu không
có người chứng kiến thì những thông tin, tư liệu ñó không là Chứng cứ
Mặt khác Chứng cứ còn phải ñược xác ñịnh bằng nguồn nhất ñịnh theo quy ñịnh của pháp luật như ở khoản 2 ðiều 64 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2003 là: “ Vật chứng, lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên ñơn dân sự, bị ñơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ñến vụ án, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; Kết luận giám ñịnh; Biên bản về hoạt ñộng ñiều tra, xét xử và các tài liệu, ñồ vật khác” Nếu không xác ñịnh bằng những nguồn do luật quy ñịnh thì không ñược xem là Chứng cứ và ñồng thời mỗi loại Chứng cứ còn ñược lưu giữ bằng một nguồn tương ứng như lời khai của người tham gia tố tụng ñược thể hiện trong bản tự khai, biên bản lấy lời khai hoặc biên bản hỏi cung… lời khai ñược thu thập bằng cách ghi âm, ghi hình ñộc lập thì không ñược xem là Chứng cứ
Về nguyên tắc Chứng cứ phải có ñầy ñủ ba thuộc tính và ba thuộc tính này
có mối quan biện chứng tạo thành một thể thống nhất, trong ñó tính khách quan, tính liên quan là mặt nội dung của Chứng cứ, tính hợp pháp là mặt hình thức của Chứng cứ Trong thực tiễn ñiều tra, truy tố, xét xử có không ít trường hợp Cơ quan tiến hành tố tụng, tiến hành thu giữ những vật, tài liệu không ñúng thủ tục rồi sau ñó mới tiến hành hợp thức hóa ñể ñưa vào hồ sơ vụ án hay hợp thức hóa các tài liệu của các trinh sát ñể làm chứng cứ Trong trường hợp này thì sẽ thiếu tính hợp pháp Nhưng những tài liệu của các trinh sát cung cấp cũng có thể chỉ là nguồn của chứng
cứ ñể Cơ quan tiến hành tố tụng ñưa ra phương hướng ñiều tra
Những tài liệu do các trinh sát cung cấp cũng có những ưu ñiểm Thứ nhất
Trang 11Luận văn tốt nghiệp Chứng cứ trong vụ án hình sự tạo ra sự bất ngờ cho ựối tượng vì các trinh sát hoạt ựộng bắ mật tìm ra sự việc một cách khách qua khi ựối tượng ựang thực hiện hành vi tự nhiên như các trinh sát mặc thường phục theo dõi tìm ra các ựối tượng bị tình nghi hay ựối tượng bị truy nã hoặc vào các vũ trường tìm các chứng cứ về việc sử dụng thuốc lắc như vụ cướp hai viên kim cương xảy ra 2 cửa hàng vàng bạc Bảo Tắn Minh Châu (số 29 phố Trần Nhân Tông) và Rubi Plaza (44 Lê Ngọc Hân, quận Hai Bà Trưng) ở Thủ đô Hà Nội nhưng hai ựối tượng sống tận Thành phố Hồ Chắ Minh, các trinh sát đội 6, Phòng CSđT tội phạm về TTXH - CATP Hà Nội phải lên ựường truy tìm tung tắch ựối tượng 3 Thứ hai những tài liệu ựó ựược những người có kiến thức pháp lý, có kỹ thuật nghiệp vụ chuyên môn nên tránh ựược tình trạng thu thập một cách tùy tiện, vi phạm pháp luật như những người không có kiến thức pháp lý khác Ngoài ra hiện nay còn có các tài liệu do các phóng viên, nhà báo và thám tử tư tìm ra các tài liệu ựưa lên báo chắ, phóng sự, tìm nhân chứng cho các vụ án hình sựẦ Như vụ bạo hành trẻ em do bà Quảng Thị Kim Hoa ở đồng Nai thực hiện, các phóng viên ựã ựặt camera ở nhà lân cận quay trộm ựưa lên báo, ựài, mạng làm cơ sở cho cơ quan ựiều tra hay vụ hay những việc về về sinh an toàn thực phẩm, Những tài liệu ựó ựã phần nào giúp ắch cho Cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết nhanh chóng giải quyết
vụ án hình sự cũng như dân sự, hành chắnh Ngày nay khi xã hội phát triển ựến một gian ựoạn nhất ựịnh thì không nên ựặt quá nặng thuộc tắnh thứ ba là tắnh hợp pháp lên cao mà trong khi xét xử phải xem xét trong một chừng mực nào ựó, có nghĩa là không phải bỏ hoàn toàn thuộc tắnh hợp pháp mà ựòi hỏi Cơ quan tiến hành tố tụng phải xem xét một cách khách quan, kỹ càng Một số chứng cứ mặt dù không ựáp ứng ựủ tắnh hợp pháp nhưng xem xét các cách thu thập có trở ngại nhất ựịnh buộc phải thu thập theo cách ựó thì Cơ quan tiến hành tố tụng cân nhắc có thể chấp nhận những chứng cứ ựó ựược
1.2.2 Các nguồn của chứng cứ
Việc nghiên cứu chứng cứ nói chung, nguồn chứng cứ nói riêng trong vụ án hình sự có một ý nghĩa lớn không chỉ về mặt pháp lý, mà còn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn ỘNguồn của chứng cứ là nơi chứa ựựng chứng cứ có nghĩa là chứa ựựng các thông tin, tư liệu tồn tại trong thực tế khách quan, liên quan ựến vụ án và ựược thu thập theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy ựịnhỢ
Trong lịch sử tố tụng hình sự của Việt nam, nguồn của chứng cứ lần ựầu tiên
An ninh thủ ựô: Hành trình truy tìm thủ phạm
3
,http://www.anninhthudo.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=37517&ChannelID=80, [truy cập, 28/11/2008 ]
GVHD: Nguyễn Chắ Hiếu 9 SVTH: Trần Thị Mỹ Á
Trang 12Luận văn tốt nghiệp Chứng cứ trong vụ án hình sự ựược quy ựịnh trong bản hướng dẫn về trình tự tố tụng tố tụng sơ thẩm về hình sự ựược ban hành kèm theo thông tư số 16/Tòa Án Tối cao ngày 27 tháng 9 năm 1974 của Tòa án nhân tối cao: ỘNguồn của chứng cứ bao gồm: dấu vết, tài liệu, ựồ vật có thể chứng minh việc phạm pháp; lời khai của bị cáo, người bị hại, nguyên ựơn dân
sự, người có trách nhiệm bồi thường, người có tài sản, người có liên quan ựến việc phạm pháp, nhân chứng; lời kết luận của giám ựịnh viên, những tài liệu của cơ quan, ựoàn thể cung cấp về nhân thân của bị cáoỢ Trong Bộ Luật tố tụng hình sự năm 1988 cũng như Trong Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2003 của nước ta mặc dù chưa chắnh thức ghi nhận ựịnh nghĩa pháp lý của khái niệm nguồn chứng cứ nhưng cũng ựã phân biệt chứng cứ và nguồn của chứng cứ ựược xác ựịnh từ các nguồn bao gồm vật chứng, Lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên ựơn dân sự, bị ựơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ựến vụ án, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, Kết luận giám ựịnh, Biên bản về hoạt ựộng ựiều tra, xét xử
và các tài liệu, ựồ vật khác (khoản 2 điều 64 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2003)
Do khái niệm nguồn của chứng cứ chưa ựược làm rõ nên việc sử dụng cụm
từ Ộnguồn chứng cứỢ chưa thống nhất Trong một số sách báo pháp lý của nước ta
có tác giả gọi là Ộphương tiện chứng minhỢ Việc sử dụng cụm từ Ộphương tiện chứng minhỢ thay cho cụm từ Ộnguồn chứng cứỢ là thiếu chắnh xác vì nguồn của chứng cứ là nơi mà người tiến hành tố tụng có thể tìm ra chứng cứ thì phương tiện chứng minh ựược hiểu là chứng cứ ựược chủ thể sử dụng ựể chứng minh Như vậy chứng cứ mới ựược xem là phương tiện chứng minh, còn nguồn của chứng cứ không thể là phương tiện chứng minh Việc nhận thức ựúng ựắn khái niệm nguồn của chứng cứ có ý nghĩa hết sức quan trọng, bởi các Cơ quan tiến hành tố tụng không ựược tìm chứng cứ từ bất kỳ các nguồn nào khác từ các nguồn nói trên ựể làm căn cứ xác ựịnh có hay không có hành vi phạm tội cũng như các tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết ựúng ựắn vụ hình sự Các nguồn cụ thể như sau:
1.2.2.1 Vật chứng:
Vật chứng là một nguồn chứng cứ quan trọng ựầu tiên mà thông qua nó các
cơ quan tiến hành tố tụng có thể chứng minh ựược sự việc hoặc xác ựịnh hướng ựiều tra Trong công văn số 98 Ờ Nghiên cứu pháp luật ngày 02 tháng 3 năm 1974 của Tòa án nhân dân tối cao gửi cho các Tòa án ựịa phương đã lần ựầu tiên ựưa ra khái niệm về vật chứng: ỘVật chứng là những vật mà kẻ phạm tội ựã dùng ựể thực hiện tội phạm: như hung khắ dùng ựể giết người, búa kiềm dùng ựể phá cửa, cạy tủ, ựiện ựày truyền ựơn, con dấu giả hoặc những vật mà kẻ phạm tội lấy ựược do việc phạm tội, hoặc những vật của kẻ phạm tội ựánh rơi, bỏ quên tại hiện trường Những vật do Cơ quan ựiều tra ựã thu thập ựược và ựược bị cáo xác nhận là vật
Trang 13Luận văn tốt nghiệp Chứng cứ trong vụ án hình sự chứng trong vụ án Cần phân biệt vật chứng với những tài sản mà cơ quan ñiều tra
kê biên và giữ lại ñể bảo ñảm cho việc thi hành án vì những vật chứng mới là những tài liệu dùng làm căn cứ cho việc xét xử tội phạm của bị cáo”4 Trong khái niệm này vật chứng chủ yếu chỉ ñược liệt kê chưa ñảm bảo tính khái quát cao Trong ðiều 74
Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2003 “Vật chứng là vật ñược dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội; vật mang dấu vết tội phạm, vật là ñối tượng của tội phạm cũng như tiền bạc và vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội”
Cụ thể như sau:
- Vật chứng là vật ñược dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội ðây là những vật mà người phạm tội khi thực hiện hành vi phạm tội ñã sử dụng chúng ñể hỗ trợ quá trình thực hiện tội phạm ñể góp phần hoàn thành nhanh chóng và thuận lợi hơn Ví dụ: dùng dao, súng, rìu ñể giết người, dây thừng, dây dù ñể thắt cổ, thuốc ñộc ñể ñầu ñộc, phương tiện giao thông, thông tin liên lạc
Vật mang dấu vết tội phạm: Ở ñây, vật chứng thể hiện bằng những dấu vết
mà người phạm tội ñã ñể lại trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội (hiện trường) và dấu vết này ñược gọi là dấu vết hình sự như trộm cắp tài sản ñể lại dấu vết phá ổ khóa, cạy tủ hay quần áo, hung khí của người phạm tội có dính máu của nạn nhân, dấu vân tay của kẻ phạm tội, tội phạm ñã ñể lại hiện trường
Vật chứng là ñối tượng của tội phạm: như tài sản bị chiếm ñoạt (xe máy, dây chuyền, ), giấy tờ giả, tiền giả, hàng buôn lậu, mà thông qua nó người phạm tội ñã gây thiệt hại cho xã hội
Vật chứng là tiền bạc và những vật khác không thuộc các các loại trên nhưng
có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội: Tiền trong vụ nhận hối lộ, tội tham nhũng, ñồ vật mà người phạm tội ñã mua sắm ñược bằng tài sản do chiếm ñoạt của người khác; quần áo, giầy dép, mũ của người phạm tội tại hiện trường nơi xảy ra vụ án…
Ví dụ Trong một vụ giết người ñể cướp của hung thủ ñã nhanh chóng xóa
4 Ts Trần Quang Tiệp: Chế ñịnh chứng cứ trong Luật tố tụng hình sự hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2009, tr.49
GVHD: Nguyễn Chí Hiếu 11 SVTH: Trần Thị Mỹ Á
Trang 14Luận văn tốt nghiệp Chứng cứ trong vụ án hình sự trong quá trình giải quyết vụ án hình sự việc thu thập chứng cứ có thể do bị can, bị cáo, người làm chứng, người bị hại hoặc bất kỳ cá nhân, cơ quan, tổ chức nào cung cấp
Vật chứng là một trong những nguồn chứng cứ quan trọng, nó ghi nhận chính xác những sự kiện thực tế của vụ án nên giá trị chứng minh của nó trong vụ
án hình sự có thể là rất cao và trong nhiều trường hợp, không có gì có thể thay thế ñược chúng Với ñặc tính là vật duy nhất, vật chứng tồn tại một cách khách quan, nó lưu giữ các hình ảnh xảy ra trong hiện thực bởi vậy, nó không thể thay thế ñược bằng bất cứ vật thể nào khác Nói cách khác, vật chứng là chứng cứ mang tính vật chất, nó tồn tại ñộc lập, khách quan và không bị chi phối bởi ý thức chủ quan của con người
Vật chứng mang dấu vết tội phạm có vai trò giúp các cơ quan tiến hành tố tụng xác ñịnh ñược hướng ñiều tra ñể giải quyết nhanh chóng vụ án Tuy nhiên, trong một số trường hợp, sự tồn tại của vật chứng chỉ mang tính chất tương ñối, chỉ
ở một mức ñộ, một thời hạn nhất ñịnh Do ñó, trong quá trình thu thập, bảo quản vật chứng, các cơ quan có thẩm quyền phải ñảm bảo nguyên vẹn, không ñể mất mát, hư hỏng hay lẫn lộn vật chứng Biên bản thu thập vật chứng phải ghi nhận và mô tả tỉ
mỉ ñặc ñiểm của vật ñó như: màu sắc, khối lượng, trọng lượng hình dáng, những dấu vết tội phạm ñể lại ở vật chứng, nơi tìm thấy vật chứng hoặc người cung cấp ví
dụ thu giữ con dao ñể lại tại hiện trường: dao thái, màu vàng, kích thước rộng 2.5cm, dài 15 cm Vật chứng phải ñược cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu thập theo trình tự mà pháp luật tố tụng hình sự quy ñịnh, ñồng thời người có trách nhiệm bảo quản phải thực hiện nghiêm chỉnh theo ñúng quy ñịnh, nếu vi phạm tuỳ mức ñộ
sẽ bị xử lý
Từ những phân tích trên ta có thể rút ra kết luận vật chứng là vật tồn tại ở dạng vật chất, ñược con người nhận biết quan các giác quan, vật chứng mang tính khách quan rất cao nhưng thực tiễn bị tác ñộng của các ñiều kiện tự nhiên như mưa làm mất thay ñổi như dấu vân tay, vết máu, cũng dễ bị làm giả như dựng hiện trường giả
1.2.3.2 Lời khai
Lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, lời khai của bị can, bị cáo, lời khai của người làm chứng, lời khai của người bị hại, lời khai của nguyên ñơn dân sự, bị ñơn dân sự, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ñến vụ án là những nguồn chứng cứ quan trọng Cơ quan ñiều tra sử dụng hoạt ñộng nghiệp vụ của mình ñể có ñược những lời khai, còn Hội ñồng xét xử có vai trò thẩm ñịnh lại những lời khai ñó một lần nữa tại phiên tòa Trên cơ sở này, lời khai mang các ý
Trang 15Luận văn tốt nghiệp Chứng cứ trong vụ án hình sự nghĩa, giá trị khác nhau như: lời khai của bị can, bị cáo thể hiện thái ñộ thừa nhận hay phủ nhận hành vi phạm tội, lời khai của người làm chứng thể hiện sự hiểu biết của họ ñối với những tình tiết liên quan của vụ án…Chúng là những chứng cứ phi vật chất ñược lưu giữ trong ý thức của người tham gia tố tụng, những chứng cứ lưu giữ trong ý thức chủ quan của con người nên ít nhiều những chứng cứ ñó cũng bị chi phối bởi yếu tố chủ quan Lời khai của người làm chứng, lời khai của người bị hại, lời khai của nguyên ñơn dân sự, bị ñơn dân sự, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ñến vụ án chỉ ñược xem là chứng cứ nếu họ nói rõ vì sao họ biết ñược tình tiết ñó Cụ thể như sau:
Lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ:
ðược xem xét là nguồn của chứng cứ Bộ Luật tố tụng hình sự năm 1988 chỉ quy ñịnh lời khai của người bị tạm giữ tại ñiều 53: “Người bị tạm giữ trình bày những tình tiết liên quan ñến việc họ bị nghi thực hiện tội phạm” Trong Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2003 tại ðiều 71 bổ sung lời khai của người bị bắt cũng là nguồn của chứng cứ “Người bị bắt, tạm giữ trình bày những tình tiết liên quan ñến việc họ
bị nghi thực hiện tội phạm”, ñánh dấu sự phát triển về kỹ thuật lập pháp tố tụng hình sự nhằm bảo ñảm quyền lợi hợp pháp của người người bị bắt khi phạm tội quả tang hay bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, nói chung là tại thời ñiểm bị bắt
Người bị bắt ở ñây là người bị bắt khi phạm tội quả tang, tức ñang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hay ñuổi bắt và người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, tức người bị bắt khi qua xác minh ban ñầu
ñã có tài liệu khẳng ñịnh người ñó sang chuẩn bị phạm tội rất nghiêm trọng hoặc tội phạm ñặc biệt nghiêm trọng, bắt người ñể ngăn chặn họ trốn thoát hoặc tiêu hủy chứng cứ Chưa chính thức truy cứu trách nhiệm hình sự ñối với họ Sau khi tiếp nhận người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hay quả tang, Cơ quan ñiều tra khẩn trương lấy lời khai của người ñó về việc tình nghi thực hiện tội phạm hoặc về tội phạm do người ñó thực hiện vì trong thời hạn rất ngắn chỉ trong 24 giờ Cơ quan ñiều tra phải ra quyết ñịnh tạm giữ hay trả tự do cho người bị bắt
Lời khai của người bị bắt, người bị tạm giữ là lời trình bày bằng miệng ñược
Cơ quan ñiều tra ghi lại theo thủ tục tố tụng hình sự Người bị bắt, người bị tạm giam chỉ khai báo về các tình tiết liên quan ñến việc họ bị tình nghi phạm tội, họ có thể công nhận hoặc không công nhận những tình tiết liên quan ñến việc họ bị tình nghi thực hiện tội phạm Luật không quy ñịnh trách nhiệm hình sự ñối với người bị bắt, người bị tạm giam về hành vi khai báo gian dối hoặc từ chối khai báo vì việc họ
tự cung cấp lời khai là việc họ tự bào chữa cho mình ðối với họ khai báo là quyền chứ không phải là nghĩa vụ nhưng cần ñộng viên, khuyến khích người bị bắt, bị tạm GVHD: Nguyễn Chí Hiếu 13 SVTH: Trần Thị Mỹ Á
Trang 16Luận văn tốt nghiệp Chứng cứ trong vụ án hình sự giữ thành thật khai báo vì ñó là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Khi
có ñủ bằng chứng xác ñịnh người bị bắt, người bị tạm giữ ñã thực hiện tội phạm thì
Cơ quan ñiều tra ra quyết ñịnh khởi tố Trong trường hợp không có ñủ chứng cứ khởi tố thì thả tự do cho họ và họ cũng có thể ñược Cơ quan tiến hành tố triệu tập trở lại với tư cách là người làm chứng Từ những phân tích trên ñòi hỏi Cơ quan tiến hành tố tụng phải nhận xét kỹ càng lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ Lời khai của người bị bắt, người bị tạm giữ có ý nghĩa quan trọng trong việc xác ñịnh tội phạm cũng như hành vi phạm tội
Lời khai của bị can, bị cáo
Bị can là người ñã bị khởi tố về hình sự những tình tiết của vụ án nhưng chưa
có quyết ñịnh ñưa ra xét xử khác với bị can là bị cáo ñã có quyết ñịnh của Tòa án ñưa ra xét xử những tình tiết của vụ án Lời khai của bị can, bị cáo là nguồn chứng
cứ quan trọng giúp Cơ quan tiến hành tố tụng trong việc làm sáng tỏ vụ án vì bị can
bị cáo là người biết rõ hơn ai hết về việc phạm tội cũng như biết rõ ñộng cơ, mục ñích thực hiện phạm tội của mình và những tình tiết khác liên quan có ñến vụ án Khác với người bị bắt bị tạm giữ, bị can, bị cáo phải khai báo tất cả những tình tiết của vụ án Lời khai của bị can, bị cáo là nguồn chứng cứ quan trọng nên trong lịch
sử lập pháp tố tụng hình sự của nước ta ñã ñề cập ñến ở ñiều 667 Quốc triều hình luật (Bộ luật Hồng ðức): “ Khi lấy khẩu cung người phạm tội, quan tra án phải xem xét kỹ, tìm ra sự thực, cho kẻ phạm tội phải nhận tội thì cũng bị phạt” và nó tiếp tục ñược khi nhận trong bản hướng dẫn về trình tự tố tụng sơ thẩm về hình sự ñược ban hành kèm theo Thông tư số 16/Tòa án tối cao ngày 27 tháng 9 năm 1974 của Tòa án nhân dân tối cao, ñã ñưa ra ñịnh nghĩa pháp lý về bị cáo “Bị cáo là người bị truy cứu trách nhiệm hình sự trước Tòa án nhân dân ”5 tuy nhiên trong bản hướng dẫn này chưa ñưa ra khái niệm bị can cũng như ñịnh nghĩa pháp lý của khái niệm lời khai bị cáo, bị can Trong Bộ Luật tố tụng hình sự năm 1988 và Trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 cũng chưa ñưa ra khái niệm lời khai của bị can, bị cáo nhưng ñã ñề cập lời khai của bị can, bị cáo trong ðiều 72 Bộ Luật tố tụng hình
sự năm 2003 như sau: “Bị can, bị cáo trình bày về những tình tiết của vụ án”
Việc chính thức ghi nhận về mặt pháp lý lời khai của bị can, bị cáo Trong Bộ Luật tố tụng hình sự năm 1988 và trong Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2003 ñánh dấu
sự hoàn thiện hơn về kỹ thuật lập pháp tố tụng hình sự nước ta Trong Luật tố tụng hình sự nước ta, lời nhận tội của bị can, bị cáo khi phù hợp với các chứng cứ khác trong vụ án mới ñược coi là chứng cứ và lời buộc tội không ñược coi là chứng cứ
5 Ts TRần Quang Tiệp: Chế ñịnh về chứng cứ trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2009, tr 58
Trang 17Luận văn tốt nghiệp Chứng cứ trong vụ án hình sự duy nhất ñể buộc tội bị can, bị cáo ðiều 72 ñã quy ñịnh rõ “Lời nhận tội của bị can,
bị cáo chỉ có thể ñược coi là chứng cứ, nếu phù hợp với các chứng cứ khác của vụ
án Không ñược dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất ñể kết tội” Việc quy ñịnh nói trên nhằm bảo ñảm cho việc xử lý vụ án ñược chính xác vì trên thực tế xảy ra nhiều trường hợp người tiến hành tố tụng muốn kết thúc nhanh
vụ án ñã ñe dọa, cưỡng ép hoặc hứa hẹn làm cho bị can, bị cáo khai không ñúng sự thật ðồng thời qua ñó ngăn ngừa những người tiến hành tố tụng nghĩ với những lời nhận tội của bị can, bị cáo là ñủ mà không chú ý thu thập những chứng cứ khác, mở rộng ñiều tra Luật quy ñịnh như thế cũng ñể nhằm ngăn chặn tình trạng nhận tội thay những giữa những người thân, người quen biết với nhau trong những vụ án
Bị can, bị cáo không nhận tội ðiều Luật quy ñịnh bị can, bị cáo khai về những tình tiết của vụ án nhưng về nguyên tắc, trách nhiệm chứng minh vụ án thuộc
về cơ quan tiến hành tố tụng (ðiều 10 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2003) Các cơ quan này phải có nghĩa vụ chứng minh bị can, bị cáo có tội hay không có tội Vì vậy, bị can, bị cáo không có nghĩa vụ chứng minh, họ có thể nhận tội song cũng có thể không nhận tội hoặc chỉ nhận một tội trong số nhiều tội mà họ ñã phạm
Bị can, bị cáo là người có quyền lợi trực tiếp bị ñe dọa Họ có quyền bào chữa ñể bảo vệ quyền lợi của mình ñồng thời họ cũng có quyền tước bỏ quyền bào chữa, không chứng minh là mình vô tội Bị can, bị cáo có quyền trả lời là không biết gì về vụ án hoặc không nhận tội mà không phải ñưa ra bất kỳ chứng cứ nào Khi họ không chứng minh ñược là mình vô tội thì không ñồng nghĩa là họ có tội
Tuy nhiên, cần phải khẳng ñịnh rằng lời khai của bị can, bị cáo không những
là nguồn chứng cứ ñối với những hành vi mà họ bị truy cứu trách nhiệm hình sự mà còn là nguồn chứng cứ làm sáng tỏ tất cả những tình tiết của vụ án Loại nguồn chứng cứ này có ý nghĩa quan trọng vì mọi hoạt ñộng của các cơ quan tiến hành tố tụng Lời khai của bị can, bị cáo là lời trình bày bằng miệng trước Cơ quan tiến hành tố tụng và ñược ghi lại vào văn bản theo quy ñịnh của pháp luật tố tụng hình
sự Khi lấy lời khai của bị can, bị cáo cần ñộng viên họ thành thật khai báo và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và cần xem xét thái ñộ ăn năn hối cải của họ, tránh sử dụng những biện pháp trái pháp luật như bức cung, nhục hình ñể họ nhận tội sẽ dẫn ñến oan sai Thông thừơng bị can, bị cáo chỉ khai những lời gỡ tội chứ không khai những lời buộc tội
Trong thực tế một số vụ án bị can, bị cáo lại thông ñồng với nhau khai ra những thông tin không chính xác ñể ñánh lừa hướng ñiều tra của Cơ quan tiến hành
tố tụng Trong trường hợp như vậy mặc dù những lời nhận tội của bị can, bị cáo phù hợp với những thông tin do các bị can, bị cáo khác ñưa ra nhưng nó vẫn không ñược GVHD: Nguyễn Chí Hiếu 15 SVTH: Trần Thị Mỹ Á
Trang 18Luận văn tốt nghiệp Chứng cứ trong vụ án hình sự xem là chứng cứ ðây là nguồn chứng cứ quan trọng vì họ có thể nhận tội, khai ra những người ñồng phạm khác, hoặc ñưa ra những chứng cứ chứng minh họ không phạm tội… Từ ñó phải kết hợp các nguồn chứng cứ khác với nhau ñể làm sáng tỏ
vụ án
Lời khai của người bị bắt, bị tam giữ, bị can, bị cáo có những ñặc ñiểm chung họ chỉ cung cấp những chứng cứ gỡ tội và không cung cấp những chứng cứ buộc tội ðồng thời pháp luật cũng không truy cứu trách nhiệm hình sự ñối với họ
về hành vi khai bao gian dối hay từ chối khai báo và không dùng lời khai của họ làm bằng chứng duy nhất
Lời khai của người làm chứng
Người làm chứng là người biết ñược những tình tiết liên quan ñến vụ án hình sự và ñược cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập ñến với tư cách người làm chứng ñể lấy lời khai theo ñúng quy ñịnh của pháp luật tố tụng hình sự Lời khai của người làm chứng là lời trình bày của một người không bị người phạm tội xâm hại nhưng ñã biết ñược những tình tiết liên quan ñến vụ án Lời khai của người làm chứng là nguồn chứng cứ lâu ñời và phổ biến nhất Luật tố tụng hình sự của nhiều nước trên thế giới ñều quy ñịnh về nguồn này, bởi vì người làm chứng nắm ñược diễn biến của vụ án hình sự (nếu họ trực tiếp chứng kiến vụ án ðây là nguồn chứng
cứ rất quan trọng góp phần làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án hình sự Nên trong ðiều 714 Quốc triều hình luật (Bộ luật Hồng ðức) ñã lần ñầu tiên ñã ñề cập
về người làm chứng: “ Những người làm chứng trong việc kiện tụng là người thâm tình hay có thù oán thì không ñược làm chứng…”
Trong Bản hướng dẫn về trình tự tố tụng sơ thẩm về hình sự ñược ban hành kèm theo Thông tư số 16/TATC ngày 27 tháng 9 năm 1974 của Tòa án nhân dân tối cao, cũng ñưa ra ñịnh nghĩa pháp lý về lời khai của người làm chứng mà chỉ ñề cập ñến việc triệu tập những ai làm người làm chứng; “Tòa án không nhất thiết phải triệu tập mọi người ñã ñược hỏi với tư cách là nhân chứng , mà chỉ triệu tập những người cần thiết cho việc xét hỏi tại phiên tòa” Trong Bộ Luật tố tụng hình sự năm
1988 cũng như Trong Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2003 cũng chưa ñưa ra khái niệm lời khai của người làm chứng nhưng ñã ñề cập lời khai của bị can, bị cáo trong ðiều 67 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2003 như sau: “Người làm chứng trình bày những gì mà họ biết về vụ án, nhân thân của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo, người bị hại, quan hệ giữa họ với người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, người làm chứng khác và trả lời những câu hỏi ñặt ra”
Không ñược dùng làm chứng cứ những tình tiết do người làm chứng trình
Trang 19Luận văn tốt nghiệp Chứng cứ trong vụ án hình sự bày, nếu họ không thể nói rõ vì sao biết ñược tình tiết ñó
ðể ñảm bảo lời khai của người làm chứng là khách quan Bộ Luật tố tụng hình sự quy ñịnh người làm chứng phải khai báo mối quan hệ giữa họ với người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, người làm chứng khác.Thông thường mối quan hệ này có ảnh hưởng rất lớn tính khách quan của lời khai nhưng vì
nó là bằng chứng quan trong việc giải quyết vụ án nên luật không quy ñịnh mối quan hệ như thế nào thì không ñược làm chứng như vợ không ñược làm chứng cho chồng, ông bà không ñược làm chứng cho con cái, Như Bộ Luật Hồng ðức thì có quy ñịnh người có thâm tình hoặc thù oán thì không trở thành người làm chứng Như vậy sẽ mất ñi một nguồn chứng cứ quan trọng ðối với luật hiện hành không quy ñịnh việc trên vì trong các giai ñoạn xét xử không ít lần Người tiến hành tố tụng
ñã giải thích về nghĩa vụ của người làm chứng nếu khai báo gian dối hoặc từ chối khai báo sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ Luật hình sự ðiều 307, 308
Thực tiễn thì vẫn có trường hợp xảy ra như vợ chồng cùng phạm tội nhưng chỉ một người nhận tội còn người kia làm chứng khai báo gian dối ñể cho một người ở lại nuôi con… Khi người làm chứng khai cần chú ý ñến trạng thái tâm, sinh
lý của họ, họ có khả năng khai báo chính xác hay không, hoặc tìm hiểumối quan hệ của họ với những người tham gia tố tụng khác Và luật quy ñịnh những người dưới
16 tuổi phải có người ñại diện hợp pháp như cha hoặc mẹ, người giám hộ; người mắc những nhược ñiểm về tâm thần không có khả năng nhận thức thì không ñược là người làm chứng, có nghi ngờ về khả năng nhận thức thì có thể trưng cầu giám ñịnh; Người làm chứng trực tiếp chứng kiến vụ án hay nghe người khác kể lại ñể có những biện pháp thu thập thêm chứng cứ như triệu tập người ñã chứng kiến trực tiếp
Trong một vụ án có thể có nhiều người cùng chứng kiến ñể bảo ñảm tính khách quan thì có thể tách riêng những người làm chứng ñể lấy lời khai và ñối chiếu lại với nhau Thực tế, tâm lý người làm chứng thường có ý nghĩ không dám khai báo hoặc không dám khai báo tất cả những gì họ biết về hành vi phạm tội Lý do ña
số mọi người không thích làm chứng, bởi họ sợ mất thời gian, họ sợ bị liên lụy, bị trả thù nếu mình trình báo, tố giác người phạm tội nên tạo ra một tâm lý nặng nề, thiếu nhiệt tình cũng như sự yên tâm, tin tưởng của người làm chứng khi tham gia thực hiện nghĩa vụ của một công dân Thực tế ñã có nhiều trường hợp các gia ñình của những người phạm tội ñe dọa, trả thù thậm chí còn xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người làm chứng và người thân của họ Hơn nữa, người làm chứng tham gia tố tụng chỉ có nghĩa vụ mà chẳng hề có quyền lợi gì Nếu người làm chứng không ñến theo giấy triệu tập thì có thể bị dẫn giải, ngoài ra nếu từ GVHD: Nguyễn Chí Hiếu 17 SVTH: Trần Thị Mỹ Á
Trang 20Luận văn tốt nghiệp Chứng cứ trong vụ án hình sự chối hay trốn tránh việc khai báo thì họ phải chịu trách nhiệm hình sự theo ðiều 307
và ðiều 308 Bộ Luật hình sự năm 1999 Chính vì vậy, Bộ luật tố tụng hình sự năm
2003 ñã bổ sung thêm các quyền mà người làm chứng ñược hưởng ñể bảo ñảm hài hòa tối ñã giữa quyền và nghĩa vụ của họ Theo khoản 3 ðiều 55, người làm chứng
có một số quyền như:
a) Yêu cầu cơ quan triệu tập họ bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình khi tham gia tố tụng;
Khiếu nại quyết ñịnh, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và;
ðược cơ quan triệu tập thanh toán chi phí ñi lại và những chi phí khác theo quy ñịnh của pháp luật
Tuy nhiên, do ñây là nguồn chứng cứ có ý nghĩa rất lớn trong việc kết thúc
b)
c)
nhanh chóng quá trình ñiều tra nên khi tiến hành lấy lời khai, ñiều tra viên phải thông báo, giải thích rõ trách nhiệm khai báo sự thật của họ Cụ thể, nếu người làm chứng biết ñược ñến ñâu thì khai ñến ñó, không ñược suy diễn, chỉ trình bày chính xác những ñiều mình biết và nếu khai báo gian dối hoặc từ chối khai báo sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự
Lời khai của người bị hại
Lời khai của người bị hại là nguồn chứng cứ quan ñộc lập, diễn tả lại trực tiếp hành vi phạm tội và nói lên thiệt hại mà họ phải gánh chịu, giúp Cơ quan ñiều tra làm sáng tỏ vụ án Trong Bản hướng dẫn về trình tự tố tụng tố tụng sơ thẩm về hình sự ñược ban hành kèm theo thông tư số 16/TATC ngày 27 tháng 9 năm1974 của Tòa án nhân tối cao chưa ñưa ra ñịnh nghĩa pháp lý của khái niệm lời khai của người bị hại mà chỉ ñưa ra khái niệm về người bị hại : “Người bị hại là công dân ñã
bị kẻ phạm pháp trực tiếp xâm hại ñến thể chất, tài sản, hoặc xâm hại về tinh thần (như bị lăng nhục, ñánh giết , trộm cắp, lừa ñảo Người ñã can thiệp ñể ngăn chặn
bị cáo ñánh, giết người khác nhưng bản thân cũng bị kẻ phạm pháp gây thương tích, hoặc có nhà cửa bị cháy vì bị bị cáo ñốt nhà của người khác nhưng ñám cháy lan sang nhà cửa của họ cũng là người bị xâm hại trực tiếp ñến thể chất, tài sản”6 Người bị hại ñược Luật tố tụng hình sự năm 2003 quy ñịnh tại khoản 1 ðiều 51
“Người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra” Thiệt hại về thể chất như tính mạng, sức khỏe; Tinh thần như danh dự, nhân phẩm; Về tài sản như tài sản bị mất, bị chiếm ñoạt Những thiệt hại này phải do
6 Ts Trần Quang Tiệp: Chế ñịnh chứng cứ trong Luật tố tụng hình sự hình sự Việt Nam,Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 2009 tr 65
Trang 21Luận văn tốt nghiệp Chứng cứ trong vụ án hình sự chính hành vi phạm tội gây ra hoăc ñe dọa gây ra và người bị thiệt hại chỉ có thể là
cá nhân Nếu những người bị thiệt hại là người có nhược ñiểm về tâm thần, thể chất hoặc người chưa thành niên thì do những người ñại diện hợp pháp họ thực hiện quyền này Bộ Luật tố tụng hình sự năm 1988 cũng như Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2003 của nước ta ñã ñề cập ñến Lời khai của người bị hại nhưng chưa có khái niệm cụ thể lời khai của người bị hại ðiều 68 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2003 quy ñịnh: “Người bị hại trình bày về những tình tiết của vụ án, quan hệ giữa họ với người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và trả lời những câu hỏi ñặt ra, không ñược dùng làm chứng cứ những tình tiết do người bị hại trình bày, nếu họ không thể nói rõ vì sao biết ñược tình tiết ñó”
Lời khai của họ ñược trình bày bằng miệng về những tình tiết có ý nghĩa ñối với vụ án trước Cơ quan tiến hành tố tụng và ñược ghi lại trong biên bản.Thực tế, ñôi khi lời khai của người bị hại có thể không chính xác vì họ bị người khác dùng
vũ lực tấn công bất ngờ làm bất tỉnh, người bị hại sẽ khó mô tả lại ñược sự việc chính xác
Trong trường hợp khởi kiện theo yêu cầu người bị hại thì lời khai của họ là yếu tố ñể cơ quan ñiều tra khởi tố vụ án, khởi tố bị can Nếu lời khai của người bị hại là những người có nhược ñiểm về tâm thần thì liệu những lời khai này có ñược xem là nguồn của chứng cứ không? Pháp luật chưa có quy ñịnh cụ thể về những trường hợp này nhưng thực tiễn xét xử lời khai của họ chỉ ñược coi là chứng cứ nếu những người có nhược ñiểm về tâm thần và những người ñại diện hợp pháp của họ chứng minh ñược những thiệt hại về bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra, còn không chứng minh ñược thì những lời khai ñó không là cơ sở ñể làm chứng cứ Khi lấy lời khai của bị hại cần chú ý những ñiểm sau:
- ðặc ñiểm tâm sinh lý, khả năng nhận thức, khả năng tiếp nhận thông tin của người bị hại vì khi bị tội phạm gây thiệt hại nên nhiều trường hợp họ bị khủng hoảng tin thần, mất bình tĩnh khả năng tiếp nhận thông tin có thể bị ảnh hưởng ñến lời khai;
Không ñược dùng lời khai của họ làm bằng chứng cứ nếu họ không nói rõ vì sao họ biết ñược tình tiết ñó;
Và cần xem xét rõ mối quan hệ với những người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vì mối quan hệ này có thể ảnh hưởng rất nhiều ñến lời khai như người bị hại có mối thù oán với những người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo sẽ khai báo theo hướng buộc tội nặng hơn cho chủ thể trên
Vì vậy khi lấy lời khai của người bị hại cần làm như thế nào ñể khuyến khích
-
-
họ khai báo tất cả các tình tiết của vụ án kể cả chứng buộc tội và chứng cứ gỡ tội và GVHD: Nguyễn Chí Hiếu 19 SVTH: Trần Thị Mỹ Á
Trang 22Luận văn tốt nghiệp Chứng cứ trong vụ án hình sự giải thích cho người bị hại biết hành vi khai báo gian dối sẽ cấu thành tội phạm theo ðiều 308 của Bộ Luật hình sự Là nhân chứng sống nên lời khai của người bị hại là
cơ sở quan trọng để các cơ quan chuyên trách bảo vệ pháp luật truy lần những đầu mối của vụ án Do đĩ, giá trị chứng minh của nguồn chứng cứ này cao hơn so với lời khai của những người khác Cho nên để đảm bảo tính khách quan, điều tra viên khi lấy lời khai của người bị hại cũng phải tuân thủ theo những quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự 2003 từ ðiều 133 đến ðiều 137
Lời khai của nguyên đơn dân sự
Lời khai của nguyên đơn dân sự là những người khơng tham gia trực tiếp đến việc phạm tội nhưng cĩ quyền và lợi ích hợp pháp liên quan đến vụ án nên họ chỉ khai báo những tình tiết liên quan đến việc bồi thường thiệt hại về dân sự Nên đây cũng là nguồn chứng cứ quan trọng giúp Cơ quan tiến hành tố tụng làm sáng tỏ hậu quả của tội phạm Trong lịch sử lập pháp nước ta Bản hướng dẫn về trình tự tố tụng
tố tụng sơ thẩm về hình sự được ban hành kèm theo thơng tư số 16/TATC ngày 27 tháng 9 năm 1974 của Tịa án nhân tối cao đã đưa ra định nghĩa pháp lý của khái niệm nguyên đơn dân sự: “Nguyên đơn dân sự là:
Cơ quan, xí nghiệp, hợp tác, hoặc các đồn thể xã hội, đã bị kẻ phạm pháp xâm hại đến tài sản (tham gia trộm cắp, tham ơ, lừa đảo…)
Cơng dân khơng bị kẻ phạm pháp trực tiếp xâm phạm đến thể chất, tài sản, nhưng đã bị thiệt hại về vật chất do tội phạm gây ra
Ví dụ:
- Người đã can thiệp để ngăn cản bị cáo đánh, giết người, nhưng bản thân bị rách quần áo, mất đồng hồ…
Người mà người bị hại khi cịn sống cĩ trách nhiệm nuơi dưỡng
Người mà bị cáo đã bán cho tài sản đã trộm cắp, lừa đảo được, nhưng tài sản
đĩ đã trả cho chủ sở hữu, do đĩ, người đã mua địi bị cáo phải bồi thường thiệt hại”.7
Trong bản hướng dẫn trên đã liệt kê những trường hợp là nguyên đơn dân sự
-
-
chưa cĩ khái niệm khái quát và cũng chưa cĩ khái niệm về lời khai của nguyên đơn dân sự Nhưng đến Bộ Luật tố tụng hình sự năm 1988 cũng như Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2003 của nước ta đã đề cập đến nguyên đơn dân sư: “Nguyên đơn dân
sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do tội phạm gây ra và cĩ đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại (khoản 1 ðiều 52 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2003) và Bộ Luật tố
7 Ts Trần Quang Tiệp: Chế định chứng cứ trong Luật tố tụng hình sự hình sự Việt Nam,Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 2009 tr 68
Trang 23Luận văn tốt nghiệp Chứng cứ trong vụ án hình sự tụng hình sự năm 2003 lần ñầu tiên ñã ñề cập lời khai của nguyên ñơn dân sự nhưng chưa có ñịnh nghĩa pháp lý của khái niệm lời khai của nguyên ñơn dân sự ñiều 69
Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2003 quy ñịnh:
1 “Nguyên ñơn dân sự,…, sự trình bày về những tình tiết liên quan ñến việc bồi thường thiệt hại do tội phạm gây ra
2 Không ñược dùng làm chứng cứ những tình tiết do nguyên ñơn dân sự,…sự trình bày, nếu họ không thể nói rõ vì sao biết ñược tình tiết ñó.”
Việc Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2003 bổ sung lời khai của nguyên ñơn dân
sự là một trong những nguồn của chứng cứ ñánh dấu sự phát triển về kỹ thuật lập pháp tố tụng hình sự của nước ta, thể hiện sự tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên ñơn dân sự trong vụ án hình sự
Nguyên ñơn chỉ là người bị thiệt hại về tài sản Nguyên ñơn có thể là là cá nhân hay tổ chức Nếu nguyên ñơn là cơ quan, tổ chức thì cần xem xét lời khai do người ñại diện hợp pháp hoặc người ñược ủy quyền Còn nguyên ñơn là cá nhân và người có nhược ñiểm về tinh thần thì người ñại diện hợp pháp thực hiện Lời khai của nguyên ñơn có thể trình bày bằng miệng và bằng việc cung cấp tài liệu chứng minh mình bị thiệt hại Khi lấy lời khai cần chú ý: Nguyên ñơn chỉ trình bày phần thiệt hại của mình liên quan ñến việc bồi thường thiệt hại về tài sản nếu họ khai báo
có liên quan ñến các tình tiết khác của vụ án có thể yêu cầu họ với tư cách là người làm chứng Ví dụ Tại một quán Bar có nhóm thanh niên vui chơi có mâu thuẫn với nhóm thanh niên khác nên ñã ñánh nhau làm hư hỏng một số vật dụng của quán, và một người chết Trường hợp này chủ quán là nguyên ñơn ñồng thời là người làm chứng ðây là nguồn chứng cứ quan trọng giúp giải quyết hậu quả của việc phạm tội ñã gây ra cho người khác về mặt vật chất
Lời khai của bị ñơn dân sự
Khác với nguyên ñơn dân sự, bị ñơn dân sự là người có trách nhiệm bồi thường ðây cũng là nguồn chứng cứ quan trọng giúp các cơ quan tiến hành tố tụng làm sáng tỏ hậu quả của tội phạm Trong Bản hướng dẫn về trình tự tố tụng tố tụng
sơ thẩm về hình sự ñược ban hành kèm theo thông tư số 16/TATC ngày 27 tháng 9 năm1974 của Tòa án nhân tối cao ñã dụng cụm từ: “Người có trách nhiệm bồi thường” hiện nay thay là bị ñơn dân sự Bản hướng dẫn này ñã ñưa ra ñịnh nghĩa pháp lý của khái niệm người có trách nhiệm bồi thường như sau: “Người có trách nhiệm bồi thường là:
- Cha mẹ hoặc người giám hộ ñối với những việc phạm pháp ñã gây thiệt hại
về vật chất, mà bị cáo là vị thành niên
- Cơ quan, xí nghiệp hoặc tổ chức mà luật pháp quy ñịnh phải có trách nhiệm GVHD: Nguyễn Chí Hiếu 21 SVTH: Trần Thị Mỹ Á
Trang 24Luận văn tốt nghiệp Chứng cứ trong vụ án hình sự bồi thường với những việc phạm pháp mà bị cáo là công nhân, viên chức hoặc thành viên của tổ chức ñã gây ra trong khi thi hành nhiệm vụ (xí nghiệp vận tải ñối với người ñã ñiều khiển phương tiện giao thông gây tai nạn; xí nghiệp ñối với trường hợp công nhân thiếu tinh thần trách nhiệm gây tai nạn chết người…)
- Tuy trong một vụ cộng phạm có người phạm pháp ñã ñược miễn tố trong giai ñoạn ñiều tra nhưng người ñó vẫn có trách nhiệm bồi thường thì tòa án vẫn phải gọi người ñó ra phiên tòa hình sự với tư cách là người có trách nhiệm bồi thường”8 Bản hướng dẫn này chưa ñề cập ñến lời khai của người
có trách nhiệm bồi thường
Trong Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2003 có quy ñịnh người có trách nhiệm bồi thường là bị ñơn dân sự ở ðiều 53: “Bị ñơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức
mà pháp luật quy ñịnh phải có trách nhiệm bồi thường ñối với những thiệt hại do tội phạm gây ra” Bị ñơn dân sự là người không trực tiếp gây ra hành vi phạm tội, là người mà họ có trách nhiêm nuôi dưỡng, giáo dục như cha mẹ ñối với con cái vị thành niên, người ñược giám hộ nếu bị ñơn là cá nhân Là tổ chức, cơ quan có cá nhân làm việc trong ñó gây ra Tuy Bị ñơn dân sự là những người không trực tiếp liên quan ñến việc phạm tội nhưng có quyền và lợi ích liên quan ñến việc phạm tội nên lời khai của họ chỉ khai báo những tình tiết liên quan ñến việc bồi thường mà thôi nên trong ðiều 69 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2003 quy ñịnh:
1 “… Bị ñơn dân sự, là sự trình bày về những tình tiết liên quan ñến việc bồi thường thiệt hại do tội phạm gây ra
2 Không ñược dùng làm chứng cứ những tình tiết do , bị ñơn dân sự trình bày, nếu họ không thể nói rõ vì sao biết ñược tình tiết ñó.”
Bị ñơn dân sự là người phải có trách nhiệm bồi thường cho những người ñã
bị thiệt hại cho nguyên ñơn dân sự, người bị hại…và Bị ñơn dân sự có thể trình bày mối quan hệ như thế nào với bị can, bị cáo của cá nhân hoặc giữa người ñại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức mà pháp luật quy ñịnh có trách nhiệm vật chất ñối với thiệt hại do tội phạm gây ra
Thực tiễn lời khai của bị ñơn dân sự có thể không chính xác vì họ không trực tiếp thực hiện nên khi thu thập chứng cứ cần triệu tập người ñã trực tiếp thực hiện tội phạm như Trong lần ñi sinh nhật, A ñã ñánh nhau với B khiến B bị thương nặng, qua giám ñịnh B bị thương tật vĩnh viễn 31%, cha mẹ A không biết sự việc cụ thể
8 Ts Trần Quang Tiệp: Chế ñịnh chứng cứ trong Luật tố tụng hình sự hình sự Việt Nam,Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 2009 tr 70
Trang 25Luận văn tốt nghiệp
như thế nào, do ñó phải triệu tập A
Chứng cứ trong vụ án hình sự
Bị ñơn dân sự có thể xem xét tình trạng thiệt hại về vật chất của người bị thiệt hại như thế nào, có thể thỏa thuận bồi thường cho người ñã bị thiệt hại Nếu không thỏa thuận với người bị thiệt hại thì có thể yêu cầu Tòa án xem xét và giám ñịnh ñể có mức bồi thường hợp lý Khác với nguyên ñơn dân sự, bị ñơn dân sự sẽ trình bày những chứng cứ gỡ tội cho mình mà không cung cấp chứng cứ buộc tội
Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ñến vụ án
Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ñến vụ án chỉ ñề cập những tình tiết về việc tài sản, quyền lời của họ có liên quan ñến tội phạm, cho nên ñây cũng là chứng cứ quan trọng giúp cơ quan tiến hành tố tụng làm sáng tỏ những tình tiết cần thiết cho việc giải quyết ñúng ñắn vụ án hình sự Trong Bản hướng dẫn
về trình tự tố tụng tố tụng sơ thẩm về hình sự ñược ban hành kèm theo thông tư số 16/TATC ngày 27 tháng 9 năm 1974 của Tòa án nhân tối cao, cụm từ “Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ñến vụ án” ñang ñược sử dụng hiện nay, ñã ñược sử dụng bằng cụm từ “Người có tài sản, quyền lợi có liên quan ñến việc phạm pháp”, văn bản chưa ñưa ra ñịnh nghĩa pháp lý của khái niệm lời khai người có tài sản, quyền lợi có liên quan ñến việc phạm pháp mà chỉ ñưa ra một số ví dụ về người có tài sản, quyền lợi có liên quan ñến việc phạm pháp: “
- Người cho kẻ phạm pháp mượn xe ñạp, nhưng kẻ phạm phạm ñã dung xe ñạp ñó ñể chuyên chở hang buôn lậu Tùy từng trường hợp, xe ñạp ñó có thể
bị tịch thu hoặc trả lại cho chủ sở hữu
Người có vải giao cho hiệu may quần áo, nhưng chủ hiệu may ñã phạm tội ñầu cơ, do ñó vải của người ñó bị kê biên; Tòa án nhân dân cần xem xét có ñúng là vải họ ñã ñem ñến ñể may quần áo hay là hàng quá mà người chủ hiệu ñã ñầu cơ
Người ñã ñược kẻ phạm pháp cho một số tài sản mà y ñã chiếm ñoạt hoặc bản thân ñã tham gia trong chừng mực nhất ñịnh vào việc phạm pháp, ñã ñược hưởng một số thu nhập bất hợp pháp nhưng ñã ñược miễn tố Những thu nhập bất hợp pháp ñó phải bị tịch thu”.9
Từ sự liệt kê trên cũng có thể hiểu người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
-
-
ñến vụ án là những người không tham gia trực tiếp vào việc thực hiện phạm tội hoặc có tham gia vào việc thực hiện phạm tội nhưng chưa tới mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ñến tội phạm Bộ Luật
tố tụng hình sự năm 2003 chưa ñưa ra khái niệm cụ thể về Người có quyền lợi,
9 Ts Trần Quang Tiệp: Chế ñịnh chứng cứ trong Luật tố tụng hình sự hình sự Việt Nam,Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 2009 tr 72
GVHD: Nguyễn Chí Hiếu 23 SVTH: Trần Thị Mỹ Á
Trang 26Luận văn tốt nghiệp Chứng cứ trong vụ án hình sự nghĩa vụ liên quan ñến vụ án nhưng ñã ñề cập ñến lời khai Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ñến vụ án ở ðiều 70 cụ thể như sau: “
1 Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ñến vụ án trình bày về những tình tiết trực tiếp liên quan ñến quyền lợi, nghĩa vụ của họ
2 Không ñược dùng làm chứng cứ những tình tiết do người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ñến vụ án trình bày, nếu họ không thể nói rõ vì sao biết ñược tình tiết ñó.”
Cũng chưa ñưa ra ñịnh nghĩa pháp lý về khái niệm lời khai Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ñến vụ án Tuy nhiên việc bổ sung lời khai Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ñến vụ án cũng là một bước tiến bộ của Bộ Luật tố tụng hình
sự năm 2003 mà Bộ Luật tố tụng hình sự năm 1988 chưa ñề cập Luật cần bổ sung khái niệm lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ñến vụ án ñể cho mọi người cùng hiểu rõ hơn
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ñến vụ án có thể là tổ chức hay cá nhân Họ có lỗi có thể do nhiều nguyên nhân khách nhau: họ không biết nhưng vô tình ñã giúp sức cho người phạm tội như cho bạn mượn xe máy về quê nhưng bạn
ñã dùng xe ñể cướp giật tài sản của người khác Hoặc họ biết mà vẫn trốn tránh trách nhiệm, ñổ lỗi cho bị can, bị cáo… Tài sản ñó có thể bị tịch nếu Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ñến vụ án biết vụ việc phạm tội ñó Hoặc tài sẽ ñó sẽ trả lại cho Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ñến vụ án nếu người ñó không biết vụ án ðể hiểu rõ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ñến vụ án biết hay không biết ñến việc phạm tội thì ñòi hỏi cơ quan tiến hành tố tụng cần phải kiểm tra, so sánh lời khai của họ với những chứng cứ khác xem có phù hợp hay không và
ñể bảo ñảm tính khách quan luật ñã quy ñịnh họ phải kể rõ mối quan hệ với người phạm tội và không dùng lời khai của họ nếu họ không nói rõ vì sao biết ñược tình tiết ñó
Từ những phân tích trên ta thấy lời khai của những người tham gia tố tụng có
ý nghĩa quan trọng giúp cho cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết nhanh chóng vụ
án Muốn tìm ra chứng cứ nhanh chóng ñòi hỏi chủ thể tiến hành tố tụng phải kết hợp những lời khai cũng như các chứng cứ khác với nhau ñể tìm ra chứng cứ ñược xác thực
1.2.2.3 Kết luận giám ñịnh
ðây cũng một nguồn chứng cứ quan trọng về tình tiết của vụ án mà việc xem xét nó dựa trên kiến thức khoa học chuyên môn,… làm căn cứ vạch ra sự thật khách quan của vụ án hình sự Bởi lẽ, kiến thức của những người tiến hành tố tụng là có giới hạn, do ñó những vấn ñề thuộc về chuyên môn, lĩnh vực chuyên ngành phải do
Trang 27Luận văn tốt nghiệp Chứng cứ trong vụ án hình sự
cơ quan giám ñịnh ñánh giá và cho ý kiến mới ñưa ra kết luận chính xác
Kết luận giám ñịnh là một phán quyết mang tính khoa học bởi nó chỉ dựa trên cơ sở khoa học và không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người nên khi tìm ra sự thật của vụ án, giá trị chứng minh của kết luận giám ñịnh bao giờ cũng mang tính khách quan hơn các nguồn chứng cứ khác ðây là nguồn chứng cứ quan trọng giúp ích cho cơ quan tiến hành nhanh chóng làm sáng tỏ vụ án Vì vậy trong lịch sử tố tụng hình sự Việt Nam Công văn số 98-NCPL ngày 02 tháng 3 năm 1974 của Tòa án nhân dân tối cao gửi các Tòa án ñịa phương, ñã lần ñầu tiên ñề cập kết luận giám ñịnh: “Nếu trong một vụ có vấn ñề liên quan ñến khoa học, kỹ thuật,liên quan ñến hoạt ñộng ngành chuyên môn mà Tòa án không nắm ñược, thì cần trưng cầu giám ñịnh nhằm bảo ñảm việc xét xử ñược chính xác và có căn cứ
Kết luận của giám ñịnh viên rất quan trọng, vì nó giúp cho Tòa án xem xét vật chứng dựa vào khoa học, kỹ thuật Kết hợp với các chứng cứ khác, Kết luận của giám ñịnh viên giúp Tòa án nhận ñịnh ñược chính xác nội dung của vụ việc Tuy nhiên, Tòa án không bắt buộc phải kết luận theo giám ñịnh viên, vì có thể có trường hợp Kết luận của giám ñịnh viên không chính xác hoặc không phù hợp với chứng
cứ khác Nếu cảm thấy cần giám ñịnh lại thì, Tòa án cần trưng cầu giám ñịnh viên khác ñể việc giám ñịnh ñược chắn chắn hơn”10 ðến Bộ Luật tố tụng hình sự năm
1988 cũng như Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2003 của nước ta, ñã ñề cập kết luận giám ñịnh, nhưng chưa ñưa ra khái niệm kết luận giám ñịnh ðiều 73 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2003 quy ñịnh ở khoản 1
- Người giám ñịnh kết luận về vấn ñề ñược yêu cầu giám ñịnh và phải chịu trách nhiệm cá nhân về kết luận ñó
Kết luận giám ñịnh phải ñược thể hiện bằng văn bản
Nếu việc giám ñịnh do một nhóm người giám ñịnh tiến hành thì tất cả các thành viên ñều ký vào bản kết luận chung Trong trường hợp có ý kiến khác nhau thì mỗi người ghi riêng ý kiến kết luận của mình vào bản kết luận chung
Trong trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng không ñồng ý với kết luận giám
10 Ts Trần Quang Tiệp: Chế ñịnh chứng cứ trong Luật tố tụng hình sự hình sự Việt Nam,Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 2009 tr 74
GVHD: Nguyễn Chí Hiếu 25 SVTH: Trần Thị Mỹ Á
Trang 28Luận văn tốt nghiệp Chứng cứ trong vụ án hình sự vấn ñề phát sinh trong vụ án là ñiều rất cần thiết Trong thực tiễn ñiều tra, truy tố, xét xử có nhiều trường hợp không có kết luận giám ñịnh thì không có cơ sở ñể truy cứu trách nhiệm hình sự như giám ñịnh tỷ lệ thương tật người bị hại, giám ñịnh pháp y tâm thần của người phạm tội, ví dụ như một người thương tích cho người khác, họ không hiểu vì sao họ lại làm việc ñó thì cần giám ñịnh ñể biết trong lúc gây thương tích trạng thái tinh thần của họ như thế nào Thực tiễn ñó là ñều cần thiết nên trong khoản 3 ðiều 155 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2003 quy ñịnh những trường hợp phải bắt buộc trưng cầu giám ñịnh khi cần xác ñịnh:
a) Nguyên nhân chết người, tính chất thương tích, mức ñộ tổn hại sức khoẻ hoặc khả năng lao ñộng;
Tình trạng tâm thần của bị can, bị cáo trong trường hợp có sự nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự của họ;
Tình trạng tâm thần của người làm chứng hoặc người bị hại trong trường hợp có sự nghi ngờ về khả năng nhận thức và khai báo ñúng ñắn ñối với những tình tiết của vụ án;
Tuổi của bị can, bị cáo, người bị hại, nếu việc ñó có ý nghĩa ñối với vụ án và không có tài liệu khẳng ñịnh tuổi của họ hoặc có sự nghi ngờ về tính xác thực của những tài liệu ñó;
Chất ñộc, chất ma tuý, chất phóng xạ, tiền giả
Giám ñịnh tư pháp thì có nhiều loại giám ñịnh pháp y, giám ñịnh pháp y tâm
Kết luận giám ñịnh có giá trị chứng minh rất cao nên khi ñánh giá cần chú ý những ñặc ñiểm sau: Phạm vi giám ñịnh và năng lực giám ñịnh viên
Trong trường hợp nội dung của kết luận giám ñịnh chưa rõ, chưa ñầy ñủ hoặc phát sinh những vấn ñề mới liên quan ñến những tình tiết của vụ án ñược kết luận trước ñó thì Cơ quan tiến hành tố tụng có thể triệu tập và hỏi thêm người giám ñịnh
về những tình tiết khác hoặc có thể quyết ñịnh giám ñịnh bổ sung Trường hợp có nghi ngờ về kết luận giám ñịnh hoặc có mâu thuẫn trong các kết luận của cùng một vấn ñề thì tiến hành giám ñịnh lại với người giám ñịnh khác (ðiều 159 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2003)
Giám ñịnh phải do cơ quan tiến hành tố tụng trưng cầu, người giám ñịnh phải chịu trách nhiệm về kết luận ñó nếu người giám ñịnh kết luận gian dối vì ñộng cơ cá nhân phải chịu trách nhiệm xử lý theo ðiều 308 Bộ luật hình sự năm 1999, kết luận phải lập thành văn bản thể hiện sự chặt chẽ về mặt hình thức và cũng thể hiện tính
Trang 29Luận văn tốt nghiệp Chứng cứ trong vụ án hình sự ñộc lập của những giám ñịnh viên khi có ý kiến khác Thực tiễn có những trường hợp một vụ án có thể nhiều kết luận giám ñịnh như vụ loạn luân ở Tiền Giang Vậy câu hỏi ñặt ra là trình ñộ giám ñịnh của nước ta về việc giám ñịnh như thế nào So với các nước phát triển thì Việt Nam còn nhiều hạn chế phương tiện, kỹ thuật, vật chất cũng như trình ñộ của các giám ñịnh viên nước ta chưa cao Các giám ñịnh viên cần không ngừng học tập ñể nâng cao trình ñộ của mình và ñồng thời cần có phương tiện kỹ thuật vật chất hiện ñại hơn ñể sớm khắc phục nhưng tình trạng như
vụ án ở Tiền Giang và tìm ra chân lý của vụ án
1.2.2.4 Biên bản về hoạt ñộng ñiều tra và xét xử
Biên bản về hoạt ñộng ñiều tra và xét xử: “Những tình tiết ñược ghi trong các biên bản bắt người, khám xét, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, ñối chất, nhận dạng, thực nghiệm ñiều tra, biên bản phiên toà và biên bản về các hoạt ñộng tố tụng khác tiến hành theo quy ñịnh của Bộ Luật tố tụng hình sự 2003 có thể ñược coi là chứng cứ.”(ðiều 77 Bộ Luật tố tụng hình sự 2003) Biên bản về hoạt ñộng ñiều tra và xét xử là một trong những biện pháp tố tụng ñược thực hiện trong quá trình chứng minh Mọi thông tin về nội dung và những tình tiết liên quan ñến
vụ án hình sự ñược ghi chép lại theo quy ñịnh của pháp luật tức là lập thành biên bản
Biên bản về hoạt ñộng ñiều tra, xét xử không những là một nguồn chứng cứ
có giá trị trong vụ án hình sự, mà còn là căn cứ kiểm tra các trình tự, thủ tục hoạt ñộng trong quá trình tiến hành tố tụng theo quy ñịnh của pháp luật có ñược bảo ñảm hay không nhằm góp phần bảo ñảm tính hợp pháp và tính khách quan của chứng cứ ðối với mỗi hoạt ñộng tố tụng cụ thể, pháp luật tố tụng hình sự ñều có quy ñịnh cụ thể phải lập thành văn bản: biên bản bắt người, giao, nhận người bị bắt; biên bản hỏi cung bị can, biên bản ghi lời khai người làm chứng, biên bản hỏi cung bị can, biên bản khám nghiệm hiện trường, khám xét, biên bản phiên tòa Pháp luật tố tụng hình sự cũng quy ñịnh những nội dung bắt buộc của một ghi nhận các hoạt ñộng tố tụng như ñịa ñiểm, ngày, giờ, tháng năm tiến hành tố tụng, thời gian bắt ñầu và thời gian kết thúc, nội dung các hoạt ñộng tố tụng, người tiến hành, tham gia hoặc có liên quan ñến hoạt ñộng tố tụng
Biên bản ghi nhận hoạt ñộng tố tụng phải có chữ ký của người mà pháp luật bắt buộc mới có giá trị pháp lý và ñược coi là nguồn của chứng cứ như biên bản hỏi cung bị can trong một vụ án phải theo trình tự và thủ tục sau: Trần văn A sinh ngày 02/02/1975 quê quán số 43 nguyễn cư trinh, phường An nghiệp, quận Ninh Kiều.Tp Cần thơ Tại ñội cảnh sát ñiều tra quận Ninh Kiều Thời gian bắt ñầu hỏi cung là
14 giờ ngày 20 tháng 01 năm 2010 ñến 16 giờ cùng ngày; hỏi cung về hành vi buôn GVHD: Nguyễn Chí Hiếu 27 SVTH: Trần Thị Mỹ Á
Trang 30Luận văn tốt nghiệp Chứng cứ trong vụ án hình sự bán ma túy; có ựiều tra viên X, Y; một kiểm sát viên M Sau khi hỏi cung xong những người có mặt cùng ký tên nếu biên bản nhiều trang thì ký từng trang vào biên bản Tóm lại khi lập biên bản về các hoạt ựộng tố tụng phải tuân thủ theo quy ựịnh của ựiều 95, 125, 132 của Bộ Luật tố tụng hình sự 2003 đây cũng là nguồn chứng cứ quan trọng giúp cơ quan ựiều tra làm sáng tỏ vụ án hình sự
1.2.2.5 Các tài liệu, ựồ vật khác trong vụ án
Các tài liệu, ựồ vật khác trong vụ án ựược quy ựịnh ở điều 78 Bộ Luật tố tụng hình sự 2003: Ộ
- Những tình tiết có liên quan ựến vụ án ựược ghi trong các tài liệu cũng như
ựồ vật do cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp có thể ựược coi là chứng cứ
- Trong trường hợp những tài liệu, ựồ vật này có những dấu hiệu quy ựịnh tại điều 74 của Bộ luật này thì ựược coi là vật chứng.Ợ
Các tài liệu, ựồ vật khác trong vụ án hình sự cũng ựược coi là nguồn chứng
cứ có giá trị trong quá trình chứng minh đó là các tài liệu, ựồ vật có liên quan ựến
vụ án, không phải do cơ quan tiến hành tố tụng thu thập mà do các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân cung cấp Các tài liệu ựó có thể là sổ sách, hóa ựơn, chứng từ hoặc các ựồ vật khác như các vật cùng loại với công cụ phương tiện phạm tội Những ựồ vật mà người phạm tội sử dụng trong công tác có liên quan ựến vụ án Thực tế cho thấy những tài liệu, ựồ vật ựược cung cấp từ những cơ quan, tổ chức, cá nhân hợp thức hóa là chứng cứ thì nó sẽ bảo ựảm tắnh hợp pháp vì nó không do cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thu thập Nhưng ựó chỉ là nguồn của chứng cứ
vì ựấu tranh phòng chống tội phạm là nhiệm vụ của toàn dân nên việc họ cung cấp tài liệu cũng là ựiều dễ hiểu
Những tình tiết có liên quan ựến vụ án ựược ghi nhận trong các tài liệu cũng như các ựồ vật có thể là chứng cứ nếu những ựồ vật tài liệu có tắnh liên quan này phải thỏa mãn ba thuộc tắnh khách quan, tắnh liên quan, tắnh hợp pháp của chứng
cứ
1.2.3 Phân loại chứng cứ
Trong vụ án hình sự, các chứng cứ có vị trắ không giống nhau do ựược thu thập từ nhiều nguồn khác nhau hoặc có ý nghĩa chứng minh khác nhau Việc phân loại chứng cứ có ý nghĩa quan trọng trong hoạt ựộng xây dựng các quy ựịnh của pháp luật tố tụng hình sự cũng như thực tiễn chứng minh vụ án hình sự, cụ thể như việc phân loại chứng cứ giúp cho các nhà làm luật quy ựịnh trình tự thu thập từng loại chứng cứ Từ ựó quy ựịnh phương pháp kiểm tra, ựánh giá cho phù hợp, ựảm bảo tắnh chắnh xác khách quan Cụ thể các loại chứng cứ:
Trên cơ sở tiêu chắ mối liên hệ giữa chứng cứ với ựối tượng chứng minh, tức
Trang 31Luận văn tốt nghiệp Chứng cứ trong vụ án hình sự
là có hay không hành vi phạm tội, người thực hiện phạm tội, chứng cứ ñược phân loại thành Chứng cứ trực tiếp và chứng cứ gián tiếp:
1.2.4.1 Chứng cứ trực tiếp:
Là chứng cứ xác ñịnh một cách trực tiếp ñược ñối tượng chứng minh trong
vụ án hình sự Thông qua chứng cứ trực tiếp có thể xác ñịnh ngay ñược những vấn
ñề cần phải chứng minh tại ñiều 63 Bộ Luật tố tụng hình sự 2003 như hành vi phạm tội, người thực hiện phạm tội, lỗi của người phạm tội, ñộng cơ, mục ñích phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố nhân thân và các tình tiết khác có ý nghĩa chứng minh ñối với việc giải quyết ñúng ñắn vụ án hình sự Ví
dụ như một người vào nhà người khác dẫn xe một chiếc xe máy thì có người phát hiện và bị ñổi bắt ñược Lời khai của người bắt ñược là chứng cứ trực tiếp vì chúng cho thấy ngay sự việc phạm tội ñược thực hiện như thế nào hoặc ai là người thực hiện tội phạm
Chứng cứ trực tiếp có thể ñược rút ra từ nhiều nguồn khác nhau như lời khai người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người làm chứng, người bị hại, vật chứng Việc công nhận một chứng cứ là chứng cứ trực tiếp không có nghĩa là không cần kiểm tra, ñánh giá chứng cứ ñó Như thấy một người cầm con dao ñâm trên cơ thể người bị giết không có nghĩa là chính người ñó ñã giết chết người kia mà có thể do
họ là người thân nên họ rút ra vô tình người khác ñi qua thấy ñược hành vi ñó 1.2.4.2 Chứng cứ gián tiếp
Khác với chứng cứ trực tiếp, chứng cứ gián tiếp không xác ñịnh ñược ngay ñối tượng chứng minh mà cần kết hợp với các sự kiện, chứng cứ khác mới có thể xác ñịnh ñược những tình tiết của ñối tượng chứng minh, tức không chỉ ra ngay hành vi phạm tội, người thực hiện tội phạm, lỗi của người phạm tội, ñộng cơ, mục ñích phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố nhân thân và các tình tiết khác có ý nghĩa chứng minh ñối với việc giải quyết ñúng ñắn
vụ án hình sự
Chứng cứ gián tiếp có thể ñược phản ánh trong phương tiện, công cụ phạm tội, dấu vết của người phạm tội như dấu vân tay trên con dao của một vụ ñâm chết người Chứng cứ gián tiếp không có giá trị chứng minh ñộc lập như chứng cứ trực tiếp vì nó có mối quan hệ các chứng khác Chứng cứ gián tiếp có thể rút ra từ các nguồn khác nhau như lời khai, báo cáo, tài liệu ví dụ như lời khai của người làm chứng ñêm xảy ra vụ án mạng có thấy A ñến nhà người bị giết nhưng do không trực tiếp thấy A giết người nên lời khai ñó không là chứng cứ trực tiếp mà cần kết hợp với các chứng cứ khác như dấu vân tay sau khi giám ñịnh là của A thì có thể ñưa ra kết luận
GVHD: Nguyễn Chí Hiếu 29 SVTH: Trần Thị Mỹ Á
Trang 32Luận văn tốt nghiệp Chứng cứ trong vụ án hình sự
Việc phân loại chứng cứ thành chứng cứ trực tiếp hay chứng cứ gián tiếp chỉ
có ý nghĩa tương ñối Trong thực tiễn hoạt ñộng ñiều tra, truy tố, xét xử chứng cứ gián tiếp thường dễ phát hiện, thu thập hơn so với chứng cứ trực tiếp việc tìm ra chứng cứ trực tiếp rất hạn chế (vì khi xã hội phát triển người phạm tội thực hiện rất tinh vi như cướp tài sản thì họ ñã theo dõi thời ñiểm nào mọi người không có chú ý ñến hoặc không có ở nhà thì sẽ thực hiện tội phạm ) Tuy chứng cứ gián tiếp không xác ñịnh ñối tượng chứng minh ngay nhưng nó có ý nghĩa quan trọng trong việc phát hiện, kiểm tra, ñánh giá chứng cứ trực tiếp, bổ sung cho chứng cứ trực tiếp và phải dùng các chứng cứ gián tiếp ñể giải quyết vụ án hoặc phải thông qua chứng cứ gián tiếp ñể lập ra phướng án ñiều tra như ví dụ trên nếu không có người làm chứng thì các cán bộ không thể khoan vùng ñối tượng
Mỗi loại chứng cứ có vai trò quan trọng khác nhau Vì vậy trong quá trình chứng minh cơ quan tiến hành tố tụng không ñược xem nhẹ chứng nào mà phải kết hợp các chứng cứ lại với nhau mới sớm tìm ra tội phạm cũng như người phạm tội Trên cơ sở tiêu chí mối quan hệ giữa chứng cứ với sự buộc tội, chứng cứ ñược phân thành chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội
1.2.3.3 Chứng cứ buộc tội
Là chứng cứ xác ñịnh tội phạm ñược thực hiện, xác ñịnh người phạm tội, lỗi của người phạm tội, các tình tiết ñịnh khung tăng nặng, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và các tình tiết khác bất lợi cho người phạm tội khi giải quyết vụ án
Ví dụ giết người với hành vi côn ñồ, tàn bạo, dã man
1.2.3.4 .Chứng cứ gỡ tội:
Khác với chứng cứ buộc tội Chứng cứ gỡ tội là những chứng cứ xác ñịnh không có hành vi phạm tội, xác ñịnh hành vi ñó không cấu thành tội phạm, xác ñịnh các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự, các tình tiết ñịnh khung giảm nhẹ, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và các tình tiết khác có lợi cho người phạm tội khi giải quyết vụ án như ñánh người gây thương tích nhưng ñã ñưa người bị thương
ñi chữa trị
Chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội có ý nghĩa pháp lý khác nhau và hoàn toàn ñộc lập với nhau Nhưng với chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội thì nhiều vụ
án chỉ chứng cứ buộc tội mà không có chứng cứ gỡ tội (như cố ý gây thương tích)
và có vụ án hình sự có cả chứng cứ buộc tội và cả chứng cứ gỡ tội (cố ý gây thương tích nhưng ñã ñưa người ñi chữa trị) Chứng cứ sử dụng nhằm làm sáng tỏ những người phạm tội nên khi giải quyết vụ án cần xem xét cả hai loại chứng cứ như vậy mới ñủ căn cứ ñể giải quyết vụ án ñược chính xác, khách quan, bảo ñảm ñúng người ñúng tội, ñúng pháp luật
Trang 33Luận văn tốt nghiệp Chứng cứ trong vụ án hình sự Trên cơ sở tiêu chí về ñặc ñiểm thu thập chứng cứ, chứng cứ ñược phân loại thành chứng cú gốc và chứng cứ sao chép, thuật lại
1.2.3.5 Chứng cứ gốc
Là chứng cứ thu thập ñược trực tiếp từ nguồn ñầu tiên, trực tiếp, không qua khâu trung gian nào Ví dụ Lời khai của bị can, bị cáo về tội phạm do mình thực hiện hay lời khai của người làm chứng tận mắt chứng hành vi phạm tội Nguồn chứng cứ phản ánh những tình tiết khách quan, ghi nhận trực tiếp
1.2.3.6 Chứng cứ sao chép, thuật lại
Là chứng cứ thu thập ñược không phải trực tiếp từ nguồn ñầu tiên mà qua một hay nhiều khâu trung gian ðây là những trường hợp thông tin về những tình tiết của vụ án ñược thu thập qua bản sao hay qua một người khác kể lại như A thấy
B chạy xe cán C kể cho người bạn là D nghe, D ñi khai báo cho công an Lời khai của D là chứng cứ sao chép, thuật lại Chứng cứ gốc hay chứng cứ sao chép, thuật lại ñều có giá trị chứng minh nhưng vì do thu thập thông qua các khâu trung gian nên có thể chứng cứ sao chép, thuật lại không chính xác bằng chứng cứ gốc Nhưng thực tế có những trường hợp chứng cứ sao chép, thuật lại có gia trị hơn chứng cứ gốc như chứng cứ gốc ñã bị thay ñổi ví dụ A chứng kiến vụ giết người về kể cho người người bạn B, C cùng nghe nhưng vì lý do như A bị mua chuộc chẳng hạn, A khai báo không ñúng sự thật Lời khai của B,C có giá trị hơn mặc dù lời khai của B,C là chứng cứ sao chép, thuật lại Trong quá trình giải quyết vụ án cơ quan tiến hành tố tụng phải so sánh, ñối chiếu các chứng cứ với nhau cũng như phải kết hợp các chứng cứ lại với nhau ñể nhanh chóng giải quyết vụ án
Trên cơ sở tiêu chí hình thức tồn tại chứng cứ ñược phân loại thành chứng cứ vật thể và chứng cứ phi vật thể
1.2.3.7 Chứng cứ vật thể: ñược biểu hiệu ở dạng vật chất cụ thể như con dao dính máu thu thập tại hiện trường
1.2.3.8 Chứng cứ phi vật thể: như ñược phản ảnh trong trí nhớ con người như lời khai hay các kết luận giám ñịnh, biên bản hoạt ñộng tố tụng
Chứng cứ phi vật thể có thể chuyển thành chứng cứ vật thể như lời khai của người làm chứng, bị can, bị cáo ñược ghi âm lại thì những băng, ñĩa ghi âm ñó trở thành chứng cứ vật thể và có thể ngược lại
Việc phân loại các chứng cứ chỉ mang tính tương ñối ðể giúp cơ quan tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ một cách dễ dàng
Như vậy, chứng cứ là một vấn ñề quan trọng vừa mang tính lý luận phức tạp, vừa mang tính thực tiễn cao Chứng cứ là phương tiện ñể Cơ quan ñiều tra, Viện kiểm sát và Tòa án xác ñịnh sự thật khách quan của vụ án, chứng cứ là phương tiện GVHD: Nguyễn Chí Hiếu 31 SVTH: Trần Thị Mỹ Á
Trang 34Luận văn tốt nghiệp Chứng cứ trong vụ án hình sự xác ñịnh chân lý, chứng cứ không tạo ra chân lí, không biến chân lý thành phi lí hay ngược lại, bởi vì chân lý hay phi lý là ở chỗ sự việc có phù hợp với thực tế khách quan hay không Quá trình giải quyết một vụ án hình sự phải trải qua nhiều giai ñoạn khác nhau Tuy nhiên, ở giai ñoạn nào thì các chủ thể cũng phải sử dụng những phương tiện tìm ra chứng cứ ñể làm sáng tỏ những vấn ñề cần phải chứng minh trong vụ án và ñược quy ñịnh tại ðiều 63 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 20003 như: “
1 Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, ñịa ñiểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội;
Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay
vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục ñích, ñộng cơ phạm tội;
Những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can,
bị cáo và những ñặc ñiểm về nhân thân của bị can, bị cáo;
Tính chất và mức ñộ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra Không có chứng
cứ thì các hoạt ñộng trên không thể mặc nhiên có ñược Vì vậy, Chứng cứ không chỉ ñóng vai trò xác ñịnh sự thật khách quan của vụ án, mà chứng cứ còn phản ánh quá trình hoạt ñộng tố tụng hình sự của Các cơ quan ñiều tra, Viện kiểm sát và Tòa án như thu thập, kiểm tra và ñánh giá chứng cứ có khách quan hay không
2
3
4
Trang 35Luận văn tốt nghiệp Chứng cứ trong vụ án hình sự
CHƯƠNG 2 QUÁ TRÌNH THU THẬP, KIỂM TRA VÀ ðÁNH GIÁ
CHỨNG CỨ TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ
Ở chương trước chúng ta ñã ñược tìm hiểu những quy ñịnh của luật về các khái niệm cụ thể chứng cứ cũng như lịch sử hình thành Chứng cứ phải ñược thu thập, kiểm tra và ñánh giá rất nghiêm ngặt trước khi ñưa vào làm sáng tỏ vụ Ở chương này chúng ta cùng tìm hiểu những quy ñịnh ñó
2.1 THU THẬP CHỨNG CỨ
2.1.1 Khái niệm thu thập chứng cứ
ðể khẳng ñịnh chứng cứ với tính chất làm căn cứ xác ñịnh có hay không hành vi phạm tội, ngườithực hiện hành vi phạm tội, cũng như những tình tiết khác cần thiết khác cho việc giải quyết ñúng ñắn vụ án hình sự, trước hết cần phải thu thập nó Vì vậy, có thể khẳng ñịnh thu thập chứng cứ là một bước quan trọng của quá trình chứng minh
Vậy Thu thập chứng cứ là “Khái niệm tổng hợp bao gồm các khâu phát hiện, ghi nhận, thu giữ và bảo quản chứng cứ” ðây là các khâu của một quá trình thống nhất, có mối quan hệ biện chứng với nhau, tác ñộng lẫn nhau, khâu này là tiền ñề ñể thực hiện khâu kia, thiếu một trong các khâu này thì việc thu thập chứng cứ khó ñược thực hiện có hiệu quả.Ví dụ trong một vụ án khi khám nghiệm hiện trường phát hiện thấy các vật chứng, các Cán bộ tiến hành ghi nhận, thu giữ và bảo quản chúng ñể phục vụ cho quá trình chứng minh Chúng ta cùng tìm hiểu các khâu tiếp theo
2.1.2 Quá trình thu thập chứng cứ
2.1.1.1 Phát hiện chứng cứ
ðể thu thập chứng cứ trước hết phải phát hiện chứng cứ Phát hiện chứng cứ
là quá trình tìm tòi những dấu vết, thông tin, ñồ vật, tài liệu có liên quan ñến Nói cách khác, phát hiện chứng cứ là tìm ra nguồn lưu giữ những thông tin về sự kiện phạm tội ñã xảy ra, như dấu vết ñể lại hiện trường nơi xảy ra phạm tội, nơi phát hiện tội phạm hay những người biết về các tình tiết liên quan ñến vụ án Do chứng
cứ ñược tồn tại dưới hai hình thức là môi trường vật chất (hiện trường, vật chứng )
và trong ý thức con người (lời khai) nên việc thu thập cũng rất phức tạp, ñòi hỏi các chủ thể khi tham gia cần phải áp dụng linh hoạt kiến thức pháp lý, khoa học cũng như các biện pháp nghiệp vụ Cụ thể phải am hiểu những lĩnh vực khoa học ñiều tra hình sự, nắm vững những ñặc ñiểm về việc hình thành, tồn tại và mất ñi của những GVHD: Nguyễn Chí Hiếu 33 SVTH: Trần Thị Mỹ Á
Trang 36Luận văn tốt nghiệp Chứng cứ trong vụ án hình sự dấu vết, công cụ, làm cơ sở cho phép xác ñịnh phạm vi ñồ vật, dấu vết tồn tại ở những khu vực nào, vị trí nào trong hiện trường vụ án.Ví dụ Trong một vụ án giết người do dùng dao Những người tiến hành tố tụng phải biết ñược ñặc ñiểm hình thành dấu vết, công cụ gây thương tích của dao sẽ khác với việc dùng các vật nhọn sắc khác Vận dụng biện pháp nghiệp vụ cũng như quy ñịnh của luật tố tụng hình sự
ñể thu thập chứng cứ ðồng thời vận dụng cả kiến thức luật hình sự ñể xác ñịnh có phải là dấu hiệu của tội phạm không
Chọn những biện pháp, phương tiện phù hợp với từng ñặc ñiểm hình thành của từng loại chứng cứ, ñể phát hiện, thu thập chứng cứ ñược chính xác, nhanh chóng hơn ðây là khâu ñầu tiên và hết sức quan trọng của quá trình thu thập chứng
cứ, làm tiền ñề cho các khâu tiếp theo vì chỉ có thể thu thập chứng cứ khi ñã phát hiện ra chứng cứ Nếu có những sai sót ở khâu này sẽ kéo theo những sai sót ở các khâu tiếp theo Cụ thể nếu phát hiện sai chứng cứ dẫn ñến ghi nhận, thu giữ và bảo quản chứng cứ không có giá trị chứng minh, kéo theo việc không giải quyết ñược
vụ án Hoặc thu thập chậm trễ sẽ làm mất ñi những chứng cứ Cho nên phải phát hiện chứng cứ nhanh chóng, kịp thời Tránh tình trạng làm mất ñi chứng cứ phục vụ cho việc giải quyết vụ án
ðối tượng phản ánh có thể là người hay vật Nếu ñối tượng phản ánh về vụ
án là vật thì mô tả ñặc ñiểm, dấu hiệu, dấu vết có liên quan ñến diễn biến của vụ án Nếu ñối tượng phản ánh là người thì yêu cầu họ trình bày những tình tiết của vụ án
mà họ biết ñược ðối tượng mô tả, sao chép còn là biện pháp, phương tiện thu nhận những thông tin có ý nghĩa làm chứng cứ Các biện pháp ñó có thể các loại bột, chất dẻo ñể sao in dấu vết Muốn ghi nhận ñược chứng cứ chúng ta cần có các cách ghi nhận chứng cứ, cụ thể như sau:
Các cách thức ghi nhận chứng cứ
Lập biên bản
Là hình thức phổ biến cũng như thông dụng nhất ñược các nước trên thế giới
Trang 37Luận văn tốt nghiệp Chứng cứ trong vụ án hình sự
áp dụng và hình thức này cũng ñược quy ñịnh trong Bộ Luật tố tụng hình sự năm
2003 tại ðiều 95 “Khi tiến hành các hoạt ñộng tố tụng, bắt buộc phải lập biên bản theo mẫu quy ñịnh thống nhất” Cách ghi nhận này, các chủ thể ghi nhận ñược nhiều thông tin từ dấu vết, vật chứng, lời khai ðây là ngôn ngữ viết nên ñòi hỏi phải ñảm bảo tính chính xác một cách tuyệt ñối như lỗi chính tả, cách dùng câu, dùng từ Một cách dùng từ sai có thể dẫn ñến sai lệch cả những tình tiết mà người khai ñã khai Nếu trong trường hợp lấy lời khai, người ñó có sử dụng từ ñịa phương, tiếng lóng thì phải có chú thích ra từ toàn dân hoặc cán bộ ghi từ toàn dân thì phải chú thích lại Ví dụ anh A khai tôi trộm 10 chai thì ghi 10 chai rồi chú thích ra 10 triệu, nếu ghi 10 triệu mà không chú thích 10 chai có thể họ không hiểu sẽ phản cung ðồng thời biên bản thu thập chứng cứ phải ghi rõ biện pháp ñã tiến hành thu thập chứng
cứ cũng như thời gian, ñịa ñiểm thu thập và ý kiến, chữ ý của người tham gia thu thập, người chứng kiến Việc thu thập càng cụ thể, rõ ràng, chính xác thì biên bản càng có giá trị pháp lý cao Tránh việc ghi nhận chứng cứ một cách sơ sài, cẩu thả
sẽ dẫn ñến trường hợp không ñủ chứng cứ hoặc bỏ lọt chứng cứ, không giải quyết ñược vụ án
Ghi âm
Là biện pháp ghi nhận những thông tin từ lời khai, hình thức này có ưu ñiểm
là thể hiện cả giọng nói của con người mà hình thức lập biên bản không thể hiện ñược Tuy nhiên, chứng cũng có những nhược ñiểm có thể ghi lại những thông tin không cần thiết cho việc giải quyết vụ án như trong qua trình ghi âm người tham gia
tố tụng nói những câu như cho “em xin chút nước” Ghi âm trở thành nguồn của chứng cứ khi ñược thực hiện ñúng trình tự của luật tố tụng hình sự Trước khi ghi
âm cán bộ phải nói rõ cho người khai biết rằng lời khai của mình ñược ghi âm, giải thích quyền và nghĩa vụ của họ và cuối cùng cho họ xác ñịnh lại giọng nói trong ñoạn ghi âm cũng như trong biên bản kèm theo
Ghi âm có thể ñược áp dụng cho các chủ thể tham gia tố tụng như bị can, bị cáo, người làm chứng Không ñược ghi âm một phần hoặc không ñược ñọc lại lời khai trước ñể ghi âm lại, hoặc cắt xén lời ghi âm Nếu áp dụng ghi âm một cách ñộc lập thì giá trị pháp lý của băng ghi âm không có tính thuyết phục Có lẽ, do nó dễ bị cắn xén, bị làm giả, bị giả giọng nó, bị ñưa bản trả lời trước hoặc một lý do gì nó nên nó không có tính thuyết phục cao Nên nó thường ñược kết hợp với hình thức lập biên bản: “ Nếu việc hỏi cung ñược ghi âm thì sau khi hỏi cung, phải phát lại
ñể bị can và ðiều tra viên cùng nghe Biên bản phải ghi lại nội dung việc hỏi cung,
bị can và ðiều tra viên cùng ký xác nhận ”
ðồ họa
GVHD: Nguyễn Chí Hiếu 35 SVTH: Trần Thị Mỹ Á
Trang 38Luận văn tốt nghiệp Chứng cứ trong vụ án hình sự
Là biện pháp mô tả, sao chép chứng cứ ñược thực hiện bằng các kẻ sơ ñồ, biểu
ñồ, bản ñồ Hình thức này ñược sử dụng trong hoạt ñộng khám nghiệm hiện trường, khám xét Hình thức này ñược coi là một tài liệu quan trọng trong nhiều vụ án hình
sự như sơ ñồ về tai nạn giao thông gây hậu quả nghiêm trọng, các vụ án giết người Sơ ñồ hiện trường thể hiện ñược một cách xác thực những thông tin về vụ
án Nếu trong trường hợp tìm tung tích nạn nhân, truy nã bị can mà không có ảnh thì những bức chân dung phác họa do các nhà chuyên môn dựa trên những thông tin thu thập ñược ñống vai trò quan trọng và giúp ích cho việc truy tìm tung tích nạn nhân, truy nã bị can có hiệu quả
Khi vẽ sơ ñồ, biểu ñồ hoặc phác họa dấu vết trên sơ ñồ Cần phải làm rõ những
vị trí của dấu vết, của vật chứng và sự tương quan giữa chúng với nhau, phải làm rõ kích thước, hình dạng và những ñặc ñiểm ñặc trưng của dấu vết,vật chứng ñó ðồng thời, có thể chú thích thêm trên bức vẽ Hình thức ghi nhận này cũng phải kết hợp với hình thức lập biên bản hoạt ñộng ñiều tra
Ghi hình
Ghi hình bao gồm chụp ảnh, quay phim là hình thức ghi nhận chứng cứ một cách trực quan bằng hình ảnh Hình thức này có ưu ñiểm là tái hiện lại ñầy ñủ, chi tiết về những ñặc ñiểm của dấu vết, vật chứng Tuy nhiên, luật tố tụng hình sự nước
ta chưa quy ñịnh biện pháp quay phim, quay video là biện pháp ghi nhận chứng cứ
mà chỉ quy ñịnh biện pháp ghi nhận chứng cứ là chụp ảnh Khi sử dụng biện pháp này phải ñáp ứng những yêu cầu pháp lý phải chụp ảnh kèm theo tỉ lệ, có lời giải trình Trong khi ñó, ở một số nước trên thế giới ñã quy ñịnh biện pháp ghi nhận chứng cứ bằng quay phim, quay video Biện pháp chụp hình Luật nước ta quy ñịnh phải ñi kèm với biên bản ðây là biện pháp ghi nhận chứng cứ rất chính xác, cụ thể
vì nó thể hiện ñược những hình ảnh rất thực tế Vì vậy, Luật nước ta nên có những tiếp thu ñể hoàn chỉnh cho hệ thống luật nước nhà
Như vậy, có rất nhiều hình thức ghi nhận chứng cứ nhưng hình thức lập biên bản là phổ biến nhất, vì nó dễ thực hiện, ít tốn kém Song hình thức nào cũng có nhược ñiểm như lập biên bản thì không thể hiện ñược tính trực quan, ghi âm thì có khi ghi lại những tình tiết không cần thiết Vì vậy, ñể thu thập chứng cứ ñược chính xác, khách quan các chủ thể tiến hành tố tụng cần phải phối hợp những biện pháp ghi nhận chứng cứ với nhau ñể nhằm phát huy ưu ñiểm và khắc phục những hạn chế của mỗi biện pháp Tạo ñiều kiện vững chắc những thông tin thu thập góp phần giải quyết nhanh chóng vụ án
Trang 39Luận văn tốt nghiệp
2.1.2.3 Thu giữ chứng cứ
Chứng cứ trong vụ án hình sự
Là hoạt ñộng của quá trình thu thập chứng cứ Khi tiến hành các hoạt ñộng ñiều tra các chủ thể ñược quyền tạm giữ những vật chứng và những tài liệu liên quan ñến vụ án Vì vậy, thu giữ chứng cứ là việc tách ñối tượng là vật chất mang thông tin ra khỏi môi trường hiện tại và bảo quản chúng Thu giữ chứng cứ khi ñối tượng phản ánh là vật Bản thân nó không là quá trình sao chép thông tin hoặc không có sự lựa chọn thông tin ñể mô tả như quá trình ghi nhận chứng cứ.Tuy nhiên, chỉ có thể thu giữ khi có các ñiều kiện sau:
- Cần phải thu giữ thì mới ñảm bảo tính nguyên vẹn, ñảm bảo quá trình nghiên cứu, ñánh giá, sử dụng tiếp theo ñược thuận lợi
- Có thể tách các dấu vết, ñồ vật ra khỏi môi trường xung quanh mà không làm mất ñi tính khách quan của nó
Cách hình thức thu giữ chứng cứ
Thu giữ vật chứng:
Là những vật mang dấu vết phạm tội, phải thu giữ ñể bảo ñảm tính nguyên vẹn, không bị mất mát, hư hỏng Tuy nhiên, việc thu giữ này chỉ thực hiện với các dấu vết, vật chứng có kích thước nhỏ, dễ vận chuyển, việc bảo quản không phức tạp như tiền, vàng hoặc các chứng cứ gây án như dao, súng ðiều tra viên chỉ cần thu giữ chính những vật này ðối với những vật cồng kềnh khó vận chuyển và bảo quản thì có thể tách ra nhưng phải bảo ñảm tính nguyên vẹn, không bị hư hỏng và ñảm bảo ñược giá trị chứng minh hoặc có thể chụp hình ñể lưu vào hồ sơ vụ án
Việc thu giữ chứng cứ phải ñi kèm theo biên bản, Biên bản phải mô tả ñúng, chính xác từng ñặc ñiểm của vật chứng Nếu vật chứng do cá nhân, cơ quan, tổ chức mang ñến nộp cho cơ quan tiến hành tố tụng thì cơ quan ñó tiếp nhận và phải lập biên bản thu giữ và lấy lời khai người mang nộp như phát hiện vật chứng ở ñâu, thời gian nào
Sao in dấu vết:
Thường ñược áp dụng ñể thu giữ loại dấu vết in tồn tại trên bề mặt các ñồ vật Sao in dấu vết là quá trình làm chuyển dịch những thông tin từ vật mang dấu vết sang ñối tượng khác dùng làm phương tiện sao in Kết quả sao in thường phản ánh khá tương ñối chính xác và ñầy ñủ những hình dạng kích thước, ñặc ñiểm, thuộc tính của dấu vết Sao in phụ thuộc rất nhiều vào bề mặt của vật, phương tiện
và phương pháp sao in Chẳng hạn, sao in dấu vân tay trên bề mặt của bàn khi khám nghiệm hiện trường Việc sao in có ñầy ñủ, chính xác phụ thuộc rất nhiều vào bề mặt của mặt bàn Biện pháp này áp dụng cho những ñối tượng có thể không thu giữ ñược hoặc không nhất thiết phải thu giữ như dấu vân trên chân trên bề mặt sàn nhà GVHD: Nguyễn Chí Hiếu 37 SVTH: Trần Thị Mỹ Á
Trang 40Luận văn tốt nghiệp Chứng cứ trong vụ án hình sự Sao in phải ựúng trình tự, thủ tục pháp luật và ựúng khoa học
đúc khuôn dấu vết:
Thường ựược sử dụng ựể thu giữ dấu vết có hình khối nhằm dựng lại dấu vết trên cơ sở hình thành dấu vết nguyên bản cũ Cũng như biện pháp sao in, kết quả ựổ khuôn dấu vết cũng thường ựem lại kết quả khá chắnh xác và ựầy ựủ để bảo ựảm giá trị chứng minh của dấu vết thì việc ựổ khuôn phải ựược bảo ựảm về mặt kỹ thuật chuyên môn và tuân thủ trình tự, thủ tục tố tụng
2.1.2.4 Bảo quản chứng cứ sau khi thu thập
Quá trình phát hiện, ghi nhận và thu giữ chứng cứ phải gắn liền với việc bảo quản chứng cứ Bảo quản chứng cứ là giữ gìn các chứng cứ ựã phát hiện, ghi nhận
và thu giữ ựược bằng các phương pháp khoa học và theo quy ựịnh của pháp luật như bảo quản ựể nó không bị mất mát, biến dạng, bảo ựảm có thể sử dụng nó vào bất kỳ thời ựiểm nào khi cần chứng minh Hay nói cách khác, Bảo quản chứng cứ là giữ ựược tắnh nguyên vẹn khi của tài liệu, dấu vết, ựồ vật như khi mới thu thập, không làm mất mát hư hỏng
Thực chất của bảo quản chứng cứ là bảo vệ các nguồn của chứng cứ ựã ựược thể hiện trong hồ sơ vụ án, bảo vệ vật chứng Việc thu thập chứng cứ thì việc bảo quản ựược ựặt ra là một ựiều tấtt yếu, vì không thể giải quyết vụ án khi không còn chứng cứ hay vật bị hư hỏng Bảo quản chứng cứ ngoài mục ựắch bảo vệ giá trị chứng minh còn bảo vệ giá trị về vật chất và giá trị về kinh tế, văn hóa vì các giá trị này có mối quan hệ biện chứng với nhau, tác ựộng qua lại lẫn nhau, nếu giá trị về vật chất và giá trị về kinh tế, văn hóa không ựược bảo vệ thì giá trị chứng minh của chứng cứ một phần sẽ không có ý nghĩa như một tài sản dễ hư hỏng do trộm mà có, nếu không ựược bảo quản tốt thì không ựịnh giá trị ựược tài sản ựó thì không xác ựịnh hành vi ựó có cấu thành tội phạm hay không
Trách nhiệm bảo quản chứng cứ thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng hình sự ựược giao trực tiếp giải quyết vụ án: đối với vật chứng ựưa về cơ quan tiến hành tố tụng bảo quản thì cơ quan công an có trách nhiệm bảo quản vật chứng trong giai ựoạn ựiều tra, truy tố; Cơ quan thi hành có trách nhiệm bảo quản vật chứng trong giai ựoạn xét xử và thi hành ánỢ(ựoạn cuối khoản 2 điều 75 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2003) Trường hợp, ựược bảo quản ở các chủ thể khác như chủ thể ựược giao
ựể nghiên cứu, thẩm tra, chủ thể quản lý hợp pháp ựồ vật ựó thì chủ thể ựó có trách nhiệm quản lý
Phương pháp bảo quản chứng cứ
Tùy theo từng loại chứng cứ mà có cách bảo quản khác nhau:
đối với các vật chứng là những thông tin trong lời khai của người tham gia tố