1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

chứng khoán và pháp luật về phát hành chứng khoán trên thị trường chứng khoán việt nam

95 248 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 904,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phạm vi nghiên cứu Trong phạm vi luận văn này, sau khi phân tích tổng quát thị trường chứng khoán và quy định chung của pháp luật Việt Nam về các loại chứng khoán, người viết đã tập tru

Trang 1

Đề tài:

CHỨNG KHOÁN VÀ PHÁP LUẬT VỀ PHÁT HÀNH CHỨNG KHOÁN TRÊN THỊ TRƯỜNG

CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

TS LÊ THỊ NGUYỆT CHÂU PHAN KHÁNH DƯƠNG

MSSV: 5115791 LỚP: LUẬT THƯƠNG MẠI 1-K37

Cần Thơ, tháng 12 năm 2014

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Gần bốn năm học đã trôi qua, cánh cửa đại học đang từ từ khép lại lưu giữ biết bao kỷ niệm và hành trang mà mỗi sinh viên mang theo khi rời ghế giảng đường là những tri thức mà Thầy Cô đã truyền đạt

Lời cảm ơn sâu sắc nhất em xin gửi đến cha mẹ - người đã sinh thành và dưỡng dục để em có được một tương lai tươi sáng như ngày hôm nay Lời cảm ơn thứ hai xin được gửi đến quý Thầy Cô của Khoa Luật, Trường Đại học Cần Thơ đã tận tâm truyền đạt nguồn kiến thức quý báu cho em trong suốt thời gian theo học tại trường

Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Cô Lê Thị Nguyệt Châu

đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Cuối cùng, bằng tất cả tấm lòng mình, em xin chúc quý Thầy Cô luôn có nhiều sức khỏe và thành công trong công tác giảng dạy

Cần Thơ, ngày 09 tháng 12 năm 2014

Người viết

Phan Khánh Dương

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

Trang 4

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Phạm vi nghiên cứu 2

3 Mục đích nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Bố cục 3

CHƯƠNG 1 4

LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ PHÁT HÀNH CHỨNG KHOÁN 4

1.1 Khái quát chung về thị trường chứng khoán 4

1.1.1 Lịch sử hình thành thị trường chứng khoán 4

1.1.1.1 Thị trường chứng khoán thế giới 4

1.1.1.2 Thị trường chứng khoán Việt Nam 6

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thị trường chứng khoán 7

1.1.2.1 Khái niệm thị trường chứng khoán 7

1.1.2.2 Đặc điểm của thị trường chứng khoán 8

1.1.2.3 Vai trò của thị trường chứng khoán 8

1.1.3 Phân loại thị trường chứng khoán 10

1.1.3.1 Căn cư ́ vào hình thức tổ chức 10

1.1.3.2 Căn cư ́ vào quá trình luân chuyển 10

1.1.3.3 Căn cư ́ vào phương thức giao di ̣ch 11

1.1.3.4 Căn cư ́ vào đặc điểm hàng hóa 12

1.1.4 Nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán 12

1.1.4.1 Nguyên tắc cạnh tranh 12

1.1.4.2 Nguyên tắc công bằng 13

1.1.4.3 Nguyên tắc công khai 13

1.1.4.4 Nguyên tắc trung gian 13

1.1.4.5 Nguyên tắc tập trung 14

1.1.5 Các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán 14

1.1.5.1 Nhà phát hành 14

1.1.5.2 Nhà đầu tư 14

1.1.5.3 Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán 15

1.1.5.4 Các tổ chức khác có liên quan đến thị trường chứng khoán 16

1.2 Các loại chứng khoán trên thị trường chứng khoán 17

1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của chứng khoán 17

1.2.1.1 Khái niệm chứng khoán 17

1.2.1.2 Đặc điểm của chứng khoán 17

1.2.2 Phân loại chứng khoán 19

1.2.2.1 Phân loại theo tính chất của chứng khoán 19

1.2.2.2 Phân loại theo khả năng chuyển nhượng 19

1.2.2.3 Phân loại theo khả năng thu nhập 20

1.2.3 Sơ lược về các loại chứng khoán chủ yếu được lưu thông trên thị trường chứng khoán Việt Nam 20

1.2.3.1 Cổ phiếu 20

1.2.3.2 Trái phiếu 23

1.2.3.3 Chứng chỉ quỹ 26

Trang 6

1.2.3.4 Chứng khoán phái sinh 27

1.2.3.5 Hợp đồng góp vốn đầu tư 30

1.3 Tổng quan về hoạt động phát hành chứng khoán 30

1.3.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của phát hành chứng khoán 30

1.3.1.1 Khái niệm phát hành chứng khoán 30

1.3.1.2 Đặc điểm của việc phát hành chứng khoán 31

1.3.1.3 Vai trò của việc phát hành chứng khoán 31

1.3.2 Các phương thức phát hành 32

1.3.2.1 Phát hành riêng lẻ 32

1.3.2.2 Phát hành chứng khoán ra công chúng 32

1.3.2.3 Ý nghĩa của việc phân biệt giữa phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng 33

1.3.2.4 Các phương pháp phát hành chứng khoán 33

CHƯƠNG 2 38

PHÁP LUẬT VỀ PHÁT HÀNH CHỨNG KHOÁN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 38

2.1 Chủ thể và mục đích phát hành chứng khoán 38

2.1.1 Chính phủ và Chính quyền địa phương 38

2.1.2 Các doanh nghiệp 40

2.1.3 Các quỹ đầu tư chứng khoán 43

2.2 Phát hành chứng khoán riêng lẻ 43

2.2.1 Điều kiện về phát hành chứng khoán riêng lẻ 43

2.2.1.1 Điều kiện chung 43

2.2.1.2 Điều kiện phát hành cổ phiếu riêng lẻ 44

2.2.1.3 Điều kiện phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ 45

2.2.2 Trình tự, thủ tục phát hành chứng khoán riêng lẻ 46

2.2.2.1 Trình tự, thủ tục phát hành cổ phiếu riêng lẻ 46

2.2.2.2 Trình tự, thủ tục phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ 48

2.3 Phát hành chứng khoán ra công chúng 49

2.3.1 Điều kiện phát hành chứng khoán ra công chúng 49

2.3.1.1 Điều kiện phát hành cổ phiếu ra công chúng 50

2.3.1.2 Điều kiện phát hành trái phiếu ra công chúng 52

2.3.1.3 Điều kiện phát hành chứng chỉ quỹ ra công chúng 54

2.3.2 Quy trình phát hành chứng khoán ra công chúng 55

2.3.2.1 Đăng ký phát hành chứng khoán ra công chúng 55

2.3.2.2 Công bố thông tin trước khi phát hành chứng khoán 58

2.3.2.3 Phân phối chứng khoán 59

2.4 Quy định riêng về phát hành trái phiếu Chính phủ và trái phiếu Chính quyền địa phương 60

2.4.1 Phát hành trái phiếu Chính phủ 61

2.4.2 Phát hành trái phiếu Chính quyền địa phương 62

2.5 Tình hình phát hành và những thuận lợi, khó khăn hiện nay 63

2.5.1 Tình hình các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động phát hành chứng khoán 63

2.5.2 Tình hình phát hành một số loại chứng khoán trong những năm qua 65

2.5.2.1 Phát hành cổ phiếu 66

2.5.2.2 Phát hành trái phiếu 67

2.5.2.3 Phát hành chứng chỉ quỹ 68

Trang 7

2.5.3 Những thuận lợi và khó khăn của việc phát hành chứng khoán 69

2.5.3.1 Thuận lợi 69 2.5.3.2 Khó khăn 70

2.6 Định hướng và giải pháp để hoàn thiện pháp luật về phát hành chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam 71

2.6.1 Định hướng để hoàn thiện pháp luật về phát hành chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam 71 2.6.2 Một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về phát hành trên thị

trường chứng khoán Việt Nam 72

2.6.2.1 Đẩy nhanh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 73 2.6.2.2 Tăng cường phát triển trái phiếu Chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp 76 2.6.2.3 Tăng cường và cải thiện chất lượng nguồn cung hàng hóa là các chứng khoán phái sinh, chứng chỉ quỹ cho thị trường chứng khoán 78 2.6.2.4 Chuẩn hóa các quy định về chào bán chứng khoán, đặc biệt là chào bán chứng khoán ra công chúng 79 2.6.2.5 Xây dựng khung pháp lý hoàn thiện và đồng bộ về chứng khoán và thị trường chứng khoán 80

KẾT LUẬN 83 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong nền kinh tế thị trường, khi sự phát triển kinh tế đạt đến một mức độ nhất định thì thị trường chứng khoán sẽ hình thành và phát triển như một điều tất yếu Tuy nhiên, trình độ phát triển của thị trường chứng khoán ở mỗi quốc gia phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó pháp luật giữ vai trò đặc biệt quan trọng Tính hoàn thiện

và hiệu quả của hệ thống pháp luật sẽ là một trong những nhân tố quyết định cho việc vận hành tốt thị trường chứng khoán

Ở nước ta, từ khi chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường đã đặt ra yêu cầu phải có những bước tiến thích hợp để dần dần hình thành, phát triển ổn định thị trường chứng khoán nhằm đáp ứng nhu cầu vốn trung

và dài hạn Theo đó, pháp luật về chứng khoán của Việt Nam được ban hành để tạo khung pháp lý cho việc ra đời thị trường chứng khoán Trên cơ sở này, thị trường chứng khoán nước ta bắt đầu được hình thành mang những đặc điểm chung của thị trường chứng khoán thế giới nhưng cũng chứa đựng những nét riêng do ảnh hưởng của các điều kiện kinh tế - xã hội đặc thù ở trong nước Mặt khác, do mới hình thành sau này và còn tương đối non trẻ nên thị trường chứng khoán nước ta chưa hoàn thiện Từ đó, một vấn đề đặt ra là phải chú trọng việc nghiên cứu làm sáng tỏ bản chất, cơ cấu của thị trường chứng khoán Việt Nam, đặc biệt là các loại chứng khoán và quá trình phát hành ra chúng để dựa trên cơ sở đó tìm ra những thiếu sót, những điểm chưa hợp lý và đề xuất hướng khắc phục Khi ấy, các quy phạm pháp luật mới bao quát hơn sẽ ra đời nhằm giúp cho thị trường chứng khoán ngày càng đồng bộ và hoàn thiện, đảm bảo cho một thị trường chứng khoán phát triển công khai, công bằng, minh bạch, hiệu quả cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư

Thật vậy, việc phát hành là một trong những yếu tố quyết định sự thành bại của thị trường chứng khoán bởi hoạt động này sẽ tạo ra hàng hóa là các chứng khoán cung cấp cho thị trường Một thị trường chỉ thật sự phát triển và ổn định khi

có hàng hóa phong phú, đa dạng và thị trường chứng khoán cũng vậy Trải qua hơn mười lăm năm phát triển với nhiều thăng trầm, thị trường chứng khoán Việt Nam cũng đã có những thành tựu nhất định và ít nhiều hội nhập được với thị trường chứng khoán thế giới Hiện nay, các loại chứng khoán trên thị trường cũng đã tương đối phong phú và đa dạng nhưng vẫn còn chưa đầy đủ, điều này làm cản trở sự phát

Trang 9

triển của thị trường lên một tầm cao mới Đồng thời, các quy định của pháp luật về chứng khoán và phát hành chứng khoán vẫn còn thiếu, chưa có sự thống nhất, gây khó khăn cho việc tìm hiểu, vận dụng Do vậy, đã đến lúc phải có sự đồng bộ các quy định về chứng khoán và phát hành chứng khoán sao cho phù hợp hơn với tình hình mới

Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, cùng với các kiến thức đã

học, người viết chọn đề tài: “Chứng khoán và pháp luật về phát hành chứng

khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam” để nghiên cứu và hoàn thành luận

văn tốt nghiệp

2 Phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi luận văn này, sau khi phân tích tổng quát thị trường chứng khoán và quy định chung của pháp luật Việt Nam về các loại chứng khoán, người viết đã tập trung đi sâu nghiên cứu các quy định điều chỉnh về hoạt động phát hành chứng khoán (chào bán lần đầu) Và để cho việc nghiên cứu được thuận tiện, tránh lặp từ, người viết sẽ sử dụng song song từ “phát hành” và từ “chào bán” để chỉ hoạt động phát hành chứng khoán Cụ thể, người viết tìm hiểu những quy định của pháp luật về điều kiện, trình tự, thủ tục, phương pháp chào bán đối với các loại chứng khoán Từ đó, liên hệ đến thực tiễn nước ta và đưa ra những giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật để giúp cho hoạt động phát hành các chứng khoán ngày càng hoàn thiện, ổn định và phát triển

3 Mục đích nghiên cứu

Trước hết, nghiên cứu này nhằm tìm hiểu các quy định của pháp luật điều chỉnh về các loại chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam và hoạt động phát hành chúng với việc làm rõ các điều kiện, trình tự và thủ tục Từ đó, người viết phân tích, nhận xét và ghi nhận những điểm cần hoàn thiện, bổ sung cho phù hợp với xu thế phát triển của thị trường chứng khoán hiện nay Mục đích cuối cùng và lớn nhất của việc nghiên cứu này là đóng góp một phần nhỏ trong việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý hiệu quả, đồng bộ và đầy đủ hơn trong việc phát triển các loại chứng khoán làm hàng hóa cho thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn mới Đồng thời, người viết mong muốn giúp cho người đọc có được một cái nhìn bao quát về thị trường chứng khoán, các loại chứng khoán trên thị trường và việc phát hành các chứng khoán này trên thị trường sơ cấp

Trang 10

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện luận văn, người viết sử dụng các phương pháp sau đây: phương pháp phân tích luật viết, phương pháp liệt kê, phương pháp so sánh, tổng hợp, phương pháp thu thập và xử lý thông tin cùng với việc tìm hiểu nhiều tài liệu để thực hiện việc nghiên cứu đề tài

Cụ thể, người viết tiến hành phân tích làm rõ các kiến thức chuyên ngành, tìm hiểu các tài liệu, từ đó xây dựng cơ sở lý luận cho vấn đề mình đang nghiên cứu Sau đó, tiến hành trình bày các quy định của pháp luật, chỉ rõ những điểm còn chưa hợp lý và kiến nghị bổ sung đối với những quy định này Bên cạnh đó, người viết thu thập những sự kiện và thống kê những số liệu cần thiết để chứng minh cho một

số vấn đề chính đã phân tích Cuối cùng, người viết tổng hợp các nội dung theo một luận đề thống nhất, giúp cho người đọc có được cái nhìn tổng quát và nhìn nhận được vấn đề nghiên cứu của mình

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, với sự nỗ lực của bản thân nhưng do hạn chế về thời gian, tài liệu, kiến thức cũng như lần đầu tiên người viết nghiên cứu một

đề tài khoa học nên không thể tránh khỏi những thiếu sót Người viết rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý Thầy Cô và các bạn để cho luận văn được hoàn thiện hơn

Trang 11

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ

PHÁT HÀNH CHỨNG KHOÁN

Ở Chương này, người viết sẽ trình bày tổng quát những vấn đề lý luận chung

về thị trường chứng khoán, các loại chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam và hoạt động phát hành chứng khoán Thông qua việc tìm hiểu những nội dung này sẽ tạo tiền đề cho việc nghiên cứu các quy định của pháp luật nước ta về việc phát hành chứng khoán với các điều kiện, trình tự và thủ tục cụ thể ở Chương tiếp theo

1.1 Khái quát chung về thị trường chứng khoán

1.1.1 Lịch sử hình thành thị trường chứng khoán

1.1.1.1 Thị trường chứng khoán thế giới

Với sự cần thiết tất yếu, thị trường chứng khoán buổi ban đầu phát triển một cách tự phát và rất sơ khai Vào giữa thế kỷ XV, tại những thành phố trung tâm buôn bán ở phương Tây, các thương gia thường tụ tập tại các quán cà phê để mua bán, trao đổi các vật phẩm hàng hoá Lúc đầu chỉ một nhóm người nhỏ, sau đó tăng dần và hình thành một khu chợ riêng Cuối thế kỷ XV, để thuận tiện hơn cho việc làm ăn, khu chợ trở thành “thị trường” với việc họ thống nhất các quy ước và dần dần sửa đổi để hoàn chỉnh chúng thành những quy tắc có giá trị bắt buộc chung cho mọi thành viên tham gia

Phiên chợ riêng đầu tiên được diễn ra vào năm 1453 tại một quán trọ của gia đình Vanber ở Bruges của Bỉ Tại đó có một bảng hiệu hình ba túi da đề tên tiếng Pháp là “Bourse” tức là “Mậu dịch thị trường” hay còn gọi là “Nơi buôn bán chứng khoán”.1 Trong đó, ba túi da tượng trưng cho ba nội dung của thị trường lúc đó là hàng hóa, ngoại tệ và chứng khoán Vào năm 1547, thành phố Bruges mất đi sự phồn thịnh do eo biển Even bị cát bồi lấp nên tàu bè không thể qua lại, vì thế mậu dịch thị trường được chuyển qua thị trấn Auvers và ở đây thị trường phát triển rất nhanh Giữa thế kỷ XVI, một quan chức đại thần của Anh quốc đã đến đây quan sát

và về thiết lập một mậu dịch thị trường tại Luân Đôn Các mậu dịch thị trường khác cũng lần lượt được thành lập tại Pháp, Đức và Bắc Âu Thị trường ngày càng phát

1

Xem PGS TS Bùi Kim Yến, Thị trường chứng khoán, NXB Lao động - Xã hội, 2011, trang 28 - 29

Trang 12

triển cả về lượng và chất với số thành viên tham gia đông đảo cùng nhiều nội dung khác nhau Theo tính chất tự nhiên nó lại được phân ra thành nhiều mảng khác nhau như: thị trường giao dịch hàng hoá, thị trường hối đoái, thị trường giao dịch các hợp đồng tương lai và thị trường chứng khoán, v.v., với đặc tính riêng của từng mảng thị trường thuận lợi cho việc giao dịch của người tham gia Quá trình giao dịch chứng khoán cũng diễn ra và hình thành một cách tương tự ở các nước Tây Âu và Bắc Mỹ Các phương thức giao dịch ban đầu diễn ra sơ khai ngay cả khi ở ngoài trời với những ký hiệu giao dịch bằng tay và có thư ký nhận lệnh của khách hàng Ở Mỹ vào năm 1921, các khu chợ riêng biệt này được chuyển từ ngoài trời vào trong nhà

và Sở giao dịch chứng khoán chính thức được thành lập Cho đến nay, phần lớn các nước trên thế giới đã có các Sở giao dịch chứng khoán Ngày nay, theo sự phát triển

của công nghệ, các phương thức giao dịch ở các Sở giao dịch chứng khoán cũng

được cải tiến để đảm bảo theo tốc độ và khối lượng yêu cầu nhằm đem lại hiệu quả

và chất lượng cho giao dịch Các Sở giao dịch đã sử dụng máy vi tính để truyền các lệnh đặt hàng và chuyển dần từ giao dịch thủ công kết hợp với máy vi tính sang sử dụng hoàn toàn bằng hệ thống giao dịch điện tử thay cho thủ công trước kia

Nhìn chung, lịch sử phát triển các thị trường chứng khoán trên thế giới trải qua một sự phát triển thăng trầm lúc lên, lúc xuống Những năm 1875 - 1913, thị trường chứng khoán thế giới phát triển huy hoàng cùng với sự tăng trưởng mạnh của nền kinh tế thế giới lúc đó Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng mất lòng tin cuối tháng 10 năm 1929 đã làm cho thị trường chứng khoán thế giới khủng hoảng nghiêm trọng Cho mãi tới chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, các thị trường chứng khoán mới hồi phục dần, đi vào ổn định phát triển Tuy nhiên, đến ngày 19/10/1987 tức sự kiện

“ngày thứ hai đen tối”, một lần nữa thị trường chứng khoán thế giới lại điên đảo do

hệ thống thanh toán kém cỏi không đảm đương được yêu cầu của giao dịch Hậu quả của nó là việc sụt giá chứng khoán ghê gớm, mất lòng tin và một loạt phản ứng dây chuyền khác mà hậu quả của nó còn nặng hơn cuộc khủng hoảng cuối năm

1929.2 Mặc dù vậy, theo quy luật tự nhiên, sau gần hai năm mất lòng tin, thị trường chứng khoán thế giới lại đi vào giai đoạn ổn định và phát triển đến ngày nay Cứ mỗi lần khủng hoảng như vậy, giá chứng khoán của tất cả các thị trường chứng khoán trên thế giới sụt giảm nghiêm trọng, tuy ở mỗi khu vực và mỗi nước có

2 Xem Trang thông tin điện tử Tin nhanh & Dữ liệu Chứng khoán Tài chính Việt Nam: Thị trường chứng

khoán: Sơ lược lịch sử ra đời và phát triển,

http://vietstock.vn/2002/08/thi-truong-chung-khoan-so-luoc-lich-su-ra-doi-va-phat-trien-33-1217.htm, [truy cập ngày 29-06-2014]

Trang 13

những mức độ khác nhau nhưng đều gây ra sự ngừng trệ cho thị trường chứng khoán toàn cầu và cũng ảnh hưởng trực tiếp tới nền kinh tế mỗi nước

Một cách tổng quát, thời gian đầu, thị trường chứng khoán hình thành một cách tự phát, đối tượng tham gia chủ yếu là các nhà đầu cơ, dần dần về sau mới có

sự tham gia đông đảo của công chúng Khi thị trường bắt đầu xuất hiện sự trục trặc

và bất ổn, các Chính phủ buộc phải can thiệp bằng cách thành lập các cơ quan quản

lý nhằm bảo vệ quyền lợi của công chúng đầu tư Sau đó, hệ thống pháp lý cũng dần dần bắt đầu được ban hành Kinh nghiệm đối với những thị trường mới hình thành sau này cho thấy thị trường sau khi thiết lập chỉ có thể hoạt động hiệu quả, nhanh chóng đi vào ổn định nếu có sự chuẩn bị chu đáo mọi mặt về hàng hoá, luật pháp, con người, bộ máy quản lý và đặc biệt là sự giám sát, quản lý nghiêm ngặt của Nhà nước Đây cũng là kinh nghiệm đã được Việt Nam vận dụng trong quá trình xây dựng thị trường chứng khoán Có thể nói, thị trường chứng khoán là một định chế tài chính không thể thiếu được trong đời sống kinh tế của những nước theo cơ chế thị trường, đặc biệt là những nước đang phát triển cần thu hút nguồn vốn lớn trung

và dài hạn cho nền kinh tế quốc dân

Nhìn chung, cơ sở hình thành của thị trường chứng khoán xuất phát từ ba yếu tố: thứ nhất, do nhu cầu vay vốn và nhu cầu cho vay vốn; thứ hai, để tối đa hoá lợi nhuận, giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh Đây là những quy luật tự nhiên của quá trình phát triển kinh tế và thương mại Chính vì vậy, ở phương Tây, khi nền kinh tế

đã phát triển đến “độ chín” thì thị trường chứng khoán của các nước này cũng hình thành trên hai cơ sở này để đáp ứng nhu cầu về vốn cho phát triển sản xuất Yếu tố thứ ba là do cơ cấu nền kinh tế, khi Nhà nước nhận thấy cần có thị trường chứng khoán để cung cấp vốn trung và dài hạn cho sự phát triển Và đây cũng là cơ sở hình thành thị trường chứng khoán Việt Nam cũng như những nước có nền kinh tế chưa phát triển

1.1.1.2 Thị trường chứng khoán Việt Nam

Ở Việt Nam, thực hiện chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, từ đầu những năm 90 của thế kỷ trước, Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước nghiên cứu đề án xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán Trên cơ sở đề án của các Bộ, Ngành, ngày

Trang 14

28/11/1996, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước được Chính phủ thành lập và giao cho đơn vị này chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc ra đời thị trường chứng khoán.3

Ngày 11/07/1998, thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức được khai sinh.4 Cùng ngày, Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh được thành lập.5 Hai năm sau, vào ngày 28/07/2000, phiên giao dịch đầu tiên vớ i 2 mã cổ phiếu niêm yết đã chính thức được tổ chức tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (hiện nay là Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh), đánh dấu một bước ngoặt lịch sử của thị trường chứng khoán Việt Nam Thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời đã đáp ứng nhu cầu về vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế Qua giai đoạn hình thành và phát triển, thị trường chứng khoán Việt Nam cũng trải qua nhiều thăng trầm Tuy nhiên, những thành tựu đạt được là rất to lớn, mặc dù vẫn còn những khó khăn Cho đến ngày hôm nay, thị trường chứng khoán Việt Nam đã có thể phần nào hoà nhập và theo được tiến độ phát triển của thị trường chứng khoán thế giới, đó là một thành công lớn Hy vọng trong thời gian tới, thị trường chứng khoán của nước ta sẽ ngày càng khởi sắc và phát triển mạnh hơn nữa

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thị trường chứng khoán

1.1.2.1 Khái niệm thị trường chứng khoán

Thị trường chứng khoán là một bộ phận cực kỳ quan trọng của thị trường vốn (thị trường vốn cùng với thị trường tiền tệ là hai bộ phận hợp thành của thị trường tài chính), thực hiện cơ chế chuyển vốn trực tiếp từ nhà đầu tư sang nhà phát hành, qua đó thực hiện chức năng của thị trường tài chính là cung ứng nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế.6 Do vậy, thị trường chứng khoán chính là một bộ phận cấu thành của thị trường tài chính và nó có tác động rất lớn đến môi trường đầu tư nói riêng và nền kinh tế nói chung.7

6 Xem PGS TS La Văn Tề, Để thành công trong chứng khoán, NXB Trẻ, 2011, trang 11 - 12

7

Xem PGS TS Bùi Kim Yến, Thị trường chứng khoán, NXB Lao động - Xã hội, 2011, trang 29 - 30

Trang 15

Thị trường chứng khoán là thuật ngữ dùng để chỉ cơ chế của hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán trung và dài hạn như các loại trái phiếu, cổ phiếu và các công cụ tài chính khác bao gồm chứng chỉ quỹ đầu tư, các công cụ phái sinh như quyền mua cổ phần, chứng quyền, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn Một cách tổng quát, thị trường chứng khoán là nơi diễn ra hoạt động giao dịch, mua bán các loại chứng khoán được tiến hành bởi những đối tượng khác nhau theo quy định của pháp luật

1.1.2.2 Đặc điểm của thị trường chứng khoán

Nhìn chung, thị trường chứng khoán có ba đặc điểm cơ bản, đó là:

Thứ nhất, thị trường chứng khoán là môi trường đầu tư cho công chúng gi úp

chuyển vốn nhàn rỗi thành vốn đầu tư

Thứ hai, thị trường chứng khoán là kênh dẫn vốn trực tiếp để tài trợ các dự án

phát triển kinh tế quốc gia

Thứ ba, thị trường chứng khoán là nơi cung cấp thông tin hỗ trợ quản lý kinh

tế vĩ mô

1.1.2.3 Vai trò của thị trường chứng khoán

Với các đặc điểm như trên, thị trường chứng khoán có vai trò đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế, đó là:

Thứ nhất, huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế

Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các doanh nghiệp phát hành, số tiền nhàn rỗi của họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần

mở rộng sản xuất Thông qua thị trường chứng khoán, Chính phủ và Chính quyền ở các địa phương cũng huy động được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng của mình cũng như đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung của xã hội Việc huy động vốn không chỉ dừng lại ở trong nước vì nếu Chính phủ và các doanh nghiệp phát hành các chứng khoán ra thị trường vốn quốc tế thì sẽ thu hút thêm ngoại tệ Việc thu hút nguồn vốn nước ngoài thông qua kênh chứng khoán là an toàn và hiệu quả vì các chủ thể phát hành được toàn quyền sử dụng vốn huy động cho mục đích của mình, mà không bị ràng buộc bởi bất kỳ điều kiện nào của các nhà đầu tư nước ngoài.8

8

Xem PGS TS Bùi Kim Yến, Thị trường chứng khoán, NXB Lao động - Xã hội, 2011, trang 43

Trang 16

Thứ hai, cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng

Thị trường chứng khoán cung cấp cho công chúng môi trường đầu tư lành mạnh với những cơ hội lựa chọn phong phú Bởi các loại chứng khoán trên thị trường rất khác nhau về tính chất, thời hạn và độ rủi ro, do đó, cho phép các nhà đầu

tư có thể lựa chọn loại hàng hoá phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình

Thị trường chứng khoán cũng hỗ trợ chương trình cổ phần hóa và việc thành lập, phát triển của công ty cổ phần thông qua việc quảng bá thông tin, định giá doanh nghiệp, bảo lãnh phát hành, phân phối chứng khoán một cách nhanh chóng, tạo tính thanh khoản cho chúng Từ đó thu hút các nhà đầu tư đến góp vốn vào công

ty cổ phần Đồng thời, sự phát triển của các công ty cổ phần sẽ làm phong phú, đa dạng các loại hàng hóa, giúp cho thị trường chứng khoán thêm sôi động Có thể nói, công ty cổ phần và thị trường chứng khoán là hai định chế song hành hỗ trợ nhau cùng phát triển Vấn đề này sẽ được làm rõ ở Chương sau

Thứ ba, tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán

Nhờ có thị trường chứng khoán các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán họ sở hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn Khả năng thanh khoản là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán đối với người đầu tư Đây là yếu tố cho thấy tính linh hoạt, an toàn của vốn đầu tư Thị trường chứng khoán hoạt động càng năng động và có hiệu quả thì tính thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trường càng cao

Thứ tư, đánh giá hoạt động của doanh nghiệp

Thông qua thị trường chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp được phản ánh một cách tổng hợp và chính xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động của doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện Từ đó tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm

Thứ năm, tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ

Các chỉ báo của thị trường chứng khoán phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén và chính xác Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang mở rộng, nền kinh tế tăng trưởng; ngược lại, giá chứng khoán giảm sẽ cho

Trang 17

thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế Vì thế, thị trường chứng khoán là một công cụ quan trọng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô Thông qua thị trường chứng khoán, Chính phủ có thể mua và bán trái phiếu Chính phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát Ngoài ra, Chính phủ cũng có thể sử dụng một số chính sách, biện pháp tác động vào thị trường chứng khoán nhằm định hướng đầu tư, đảm bảo cho sự phát triển cân đối của nền kinh tế

1.1.3 Phân loại thị trường chứng khoán

1.1.3.1 Căn cư ́ vào hình thức tổ chức

Căn cứ vào hình thức tổ chức thị trường chứng khoán được chia thành:9

Thị trường chứng khoán tập trung (còn gọi là Sở giao dịch chứng khoán) là

nơi mua bán các loại chứng khoán được niêm yết có địa điểm và thời gian mua bán

rõ rệt, giá cả được xác định theo theo các hình thức được quy định như: đấu giá hoặc đấu lệnh

Thị trường chứng khoán phi chính thức (còn gọi là thị trường OTC) là nơi

mua bán chứng khoán bên ngoài Sở giao dịch, không có quy định thời gian, thủ tục hay giá cả mà do thoả thuận giữa người mua và người bán

Thị trường chứng khoán chính thức có giá trị như “bộ mặt” của thị trường chứng khoán quốc gia, các bộ phận thị trường khác thể hiện sự đa dạng của các giao dịch có thể lựa chọn Hàng hoá của thị trường chính thức cũng là những hàng hoá

có thể đánh giá có chất lượng hơn so với hàng hoá của thị trường khác, do tính có tổ chức của nó; điều này cũng có nghĩa sự an toàn hay rủi ro, cơ hội kiếm lời là khác nhau trong các giao dịch trên thị trường

1.1.3.2 Căn cư ́ vào quá trình luân chuyển

Căn cứ vào quá trình luân chuyển thị trường chứng khoán được chia thành:10

Thị trường phát hành (còn gọi là thị trường sơ cấp) là nơi các chứng khoán

được phát hành (chào bán lần đầu) bởi các nhà phát hành và được bán cho các nhà đầu tư Thị trường sơ cấp là nơi sản sinh ra hàng hoá cho thị trường chứng khoán

Trang 18

Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành trên

thị trường sơ cấp Bộ phận thị trường này không làm tăng nguồn vốn mới cho nền kinh tế, nhưng có thể hoạt động liên tục, tạo ra khả năng thanh khoản cho chứng khoán đã phát hành Thị trường thứ cấp phục vụ cho hai mục đích chính: thúc đẩy

sự tạo vốn cho các doanh nghiệp, Chính phủ và tạo ra các công cụ đầu tư có khả năng sinh lời cho các nhà đầu tư Đây cũng là điểm khác biệt dễ nhận thấy nhất giữa thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp

Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp là hai bộ phận hợp thành của thị trường chứng khoán Tuy có những điểm khác nhau cơ bản về nội dung và mục đích hoạt động, nhưng giữa hai thị trường này lại có mối quan hệ vô cùng khăng khít, trong đó thị trường sơ cấp là cơ sở, tiền đề và thị trường thứ cấp là động lực Nếu không có thị trường sơ cấp, chứng khoán không được phát hành thì không thể

ra đời thị trường thứ cấp Ngược lại, nếu không có thị trường thứ cấp thì chứng khoán không thể dễ dàng được mua đi bán lại, hay nói cách khác là nếu không có tính thanh khoản của chứng khoán thì thị trường sơ cấp không thể phát triển được Chính vì thế, nếu không có thị trường thứ cấp hoặc nếu thị trường thứ cấp không phát triển thì sẽ hạn chế đến việc phát hành của thị trường sơ cấp

Sự phân biệt về mặt lý thuyết giữa hai loại hình thị trường này có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác quản lý thị trường chứng khoán Bởi trong quá trình quản

lý, vai trò của thị trường sơ cấp luôn được coi trọng, vì đây là hoạt động nhằm tạo

ra hàng hoá có chất lượng cho thị trường thứ cấp Đồng thời, cần giám sát chặt chẽ hoạt động của thị trường thứ cấp nhằm hạn chế tác hại của hoạt động đầu cơ, lũng đoạn thị trường Trên thực tế, hoạt động của thị trường chứng khoán song song tồn tại giao dịch của hai thị trường sơ cấp và thứ cấp

1.1.3.3 Căn cư ́ vào phương thức giao di ̣ch

Căn cứ vào phương thức giao dịch thị trường chứng khoán được chia thành:

Thị trường giao ngay là thị trường mua bán chứng khoán theo giá của ngày

giao dịch nhưng việc thanh toán và chuyển giao chứng khoán sẽ diễn ra tiếp theo sau đó vài ngày theo quy định

Thị trường tương lai là thị trường mua bán chứng khoán theo một loạt hợp

đồng định sẵn, giá cả được thoả thuận trong ngày giao dịch nhưng việc thanh toán

Trang 19

và chuyển giao chứng khoán sẽ diễn ra trong một ngày kỳ hạn nhất định trong tương lai

1.1.3.4 Căn cư ́ vào đặc điểm hàng hóa

Căn cứ vào đặc điểm hàng hoá thị trường chứng khoán được chia thành:

Thị trường cổ phiếu là nơi giao dịch và mua bán các loại cổ phiếu, bao gồm cổ

phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi

Thị trường trái phiếu là nơi giao dịch và mua bán các trái phiếu đã được phát

hành, các trái phiếu này bao gồm các trái phiếu Chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp

Thị trường phái sinh là nơi phát hành và mua đi bán lại các chứng từ tài chính

như: quyền mua cổ phiếu, chứng quyền, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn, v.v

 Ta có, sơ đồ phân loa ̣i thi ̣ trường chứng khoán

1.1.4 Nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán

1.1.4.1 Nguyên tắc cạnh tranh

Theo nguyên tắc này, giá cả trên thị trường chứng khoán phản ánh mối quan

hệ cung cầu về chứng khoán và thể hiện tương quan cạnh tranh giữa các chủ thể phát hành Trên thị trường sơ cấp, các nhà phát hành cạnh tranh với nhau để bán

Hình thức tổ chức thị trường

Quá trình luân chuyển nguồn vốn

Phương thức giao dịch

Hàng hóa

Thị trường tập trung

Thị trường phi tập trung Thị trường sơ cấp Thị trường thứ cấp Thị trường giao ngay Thị trường tương lai Thị trường cổ phiếu Thị trường trái phiếu

Thị trường phái sinh

Trang 20

chứng khoán của mình cho các nhà đầu tư và các nhà đầu tư được tự do lựa chọn các chứng khoán theo các mục tiêu của mình Trên thị trường thứ cấp, các nhà đầu

tư cũng cạnh tranh tự do để tìm kiếm cho mình một lợi nhuận cao nhất, và giá cả được hình thành theo phương thức đấu giá

1.1.4.2 Nguyên tắc công bằng

Công bằng có nghĩa là mọi người tham gia thị trường đều phải tuân thủ những quy định chung, bình đẳng trong việc chia sẻ thông tin và trong việc gánh chịu các hình thức xử phạt nếu vi phạm vào những quy định đó Công bằng còn thể hiện ở việc tôn trọng quyền tự do mua, bán, kinh doanh và dịch vụ chứng khoán của tổ chức, cá nhân Theo đó, các tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế từ Nhà nước cho đến tư nhân hoặc các nhà đầu tư lớn hay nhỏ nếu đáp ứng đủ các điều kiện

do luật quy định đều có thể tham gia mua, bán, kinh doanh và thực hiện các dịch vụ chứng khoán Nhà nước sẽ đảm bảo môi trường kinh doanh thuận lợi và bình đẳng cho các chủ thể tham gia mà không phân biệt hình thức sở hữu

1.1.4.3 Nguyên tắc công khai

Chứng khoán là loại hàng hoá trừu tượng, giá trị của chứng khoán không chỉ được xác định ở thời điểm hiện tại mà còn bao hàm những lợi ích trong tương lai nên thị trường chứng khoán phải được xây dựng trên cơ sở hệ thống công bố thông tin tốt và phải bảo đảm công bằng, công khai, minh bạch Theo luật định, các tổ chức phát hành có nghĩa vụ phải cung cấp thông tin đầy đủ theo chế độ thường xuyên và đột xuất thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, Sở giao dịch, các công ty chứng khoán và các tổ chức có liên quan.11

1.1.4.4 Nguyên tắc trung gian

Nguyên tắc này có nghĩa là các giao dịch chứng khoán được thực hiện thông qua tổ chức trung gian là các công ty chứng khoán Trên thị trường sơ cấp, các nhà đầu tư không mua trực tiếp của nhà phát hành mà mua từ các nhà bảo lãnh phát hành Trên thị trường thứ cấp, thông qua các nghiệp vụ môi giới, kinh doanh, các công ty chứng khoán mua, bán chứng khoán giúp các khách hàng, hoặc kết nối các khách hàng với nhau qua việc thực hiện các giao dịch mua bán chứng khoán trên tài khoản của mình

11 Xem Thông tư 52/2012/TT-BTC ngày 05/04/2012 của Bộ tài chính Hướng dẫn về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán

Trang 21

1.1.4.5 Nguyên tắc tập trung

Nguyên tắc này thể hiện qua việc các giao dịch chứng khoán chỉ diễn ra trên

Sở giao dịch (thị trường chính thức) và trên thị trường OTC (thị trường không chính thức) dưới sự kiểm tra giám sát của cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức tự quản

1.1.5 Các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán

Các tổ chức và cá nhân tham gia thị trường chứng khoán có thể được chia thành các nhóm sau: nhà phát hành, nhà đầu tư, các tổ chức kinh doanh và các tổ chức khác có liên quan đến chứng khoán

1.1.5.1 Nhà phát hành

Nhà phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán Nhà phát hành là người cung cấp các chứng khoán - hàng hoá của thị trường chứng khoán, bao gồm:

Chính phủ và Chính quyền địa phương là nhà phát hành các trái phiếu Chính phủ và trái phiếu Chính quyền địa phương

Doanh nghiệp là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp, các loại chứng khoán phái sinh, v.v

Các tổ chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính như các trái phiếu, tín phiếu, v.v., phục vụ cho hoạt động của họ

1.1.5.2 Nhà đầu tư

Nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán là những cá nhân, tổ chức sử dụng nguồn vốn tự có hoặc sử dụng nguồn vốn vay để mua và bán chứng khoán đang lưu thông trên thị trường chứng khoán nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận.12 Nhà đầu tư

có thể được chia thành hai loại: nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư có tổ chức Họ có thể là tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán.13 Những nhà đầu tư này có thể trực tiếp hoặc thông qua các chủ thể khác thực hiện việc đầu tư

12 Xem TS Lê Thị Nguyệt Châu, Giáo trình Pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán, Trường

Đại học Cần Thơ, 2009, trang 12

13

Khoản 10, Điều 6, Luật Chứng khoán năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2010

Trang 22

Các nhà đầu tư cá nhân: Là những người có vốn nhàn rỗi tạm thời, tham gia

mua bán trên thị trường chứng khoán với mục đích tìm kiếm lợi nhuận Tùy thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế, họ sẽ chọn những kênh đầu tư sao cho có lợi nhuận nhiều nhất Các kênh đầu tư đó có thể là: bất động sản, ngoại tệ, vàng, cho vay hay chứng khoán, v.v

Các nhà đầu tư có tổ chức: Là các tổ chức thường xuyên mua bán chứng

khoán với số lượng lớn trên thị trường Các tổ chức này có thể là: ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, tổ chức kinh doanh bảo hiểm, tổ chức kinh doanh chứng khoán Theo Luật Chứng khoán Việt Nam thì đây cũng là những nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp.14

Nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp ngoài những yêu cầu cần phải có của một nhà đầu tư thì luôn phải đáp ứng những điều kiện bổ sung khắt khe về vốn pháp định và phạm vi đăng ký hoạt động kinh doanh Với sự chuyên nghiệp của mình thì điểm nổi bật là họ luôn có một bộ máy quản lý, phân tích việc đầu tư sao cho có hiệu quả nhất bởi khi trực tiếp đầu tư vào thị trường chứng khoán thì rủi ro là điều rất dễ xảy ra

1.1.5.3 Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán

Các công ty đầu tư: Công ty đầu tư là một định chế trung gian tài chính tập

trung những nguồn vốn nhỏ, lẻ của nhiều người để đầu tư vào thị trường chứng khoán Nguồn hình thành vốn của công ty đầu tư rất đa dạng, phong phú Các tổ chức, cá nhân có vốn nhàn rỗi nhiều hay ít đều có thể trở thành các chủ sở hữu của công ty đầu tư bằng việc mua cổ phiếu, chứng chỉ quỹ do công ty phát hành Các chuyên gia quản lý công ty đầu tư phải nghiên cứu và ra các quyết định đầu tư Do vậy, các công ty đầu tư vừa là tổ chức phát hành, vừa là tổ chức đầu tư chứng khoán Điển hình cho loại này là các công ty quản lý quỹ đầu tư.15

Các công ty tài chính: Các công ty, tập đoàn kinh doanh khi đã đủ lớn mạnh

thường thành lập cho chính mình một công ty tài chính Các công ty này ngoài nhiệm vụ huy động tài chính cho công ty mẹ, còn có thể sử dụng nguồn vốn của

14 Xem Khoản 11, Điều 6, Luật Chứng khoán năm 2006, sửa đổi bổ sung năm 2010

15 Xem TS Lê Thị Nguyệt Châu, Giáo trình Pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán, Trường

Đại học Cần Thơ, 2009, trang 13

Trang 23

mình để đầu tư vào chứng khoán nhằm tối đa hóa lợi nhuận Điển hình cho loại này

là các công ty bảo hiểm.16

Công ty chứng khoán: Công ty chứng khoán là tổ chức tài chính trung gian

thực hiện một hoặc một số nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán bao gồm: bảo lãnh phát hành chứng khoán cho các công ty (vấn đề này sẽ được trình bày ở các nội dung tiếp theo); làm trung gian môi giới mua bán chứng khoán (thực hiện mua, bán chứng khoán cho khách hàng); tự doanh chứng khoán; lưu ký chứng khoán Thông qua đó, ta thấy được vai trò của công ty chứng khoán rất quan trọng, có thể giúp hình thành giá cả chứng khoán, huy động vốn và thực hiện tư vấn đầu tư chứng khoán (cung cấp cho nhà đầu tư kết quả phân tích, công bố báo cáo phân tích cũng như các khuyến nghị liên quan đến chứng khoán).17

Ngân hàng thương mại: Ngân hàng thương mại có thể đầu tư kinh doanh

chứng khoán và thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành Vai trò của các ngân hàng thương mại cũng tương tự như các công ty chứng khoán

1.1.5.4 Các tổ chức khác có liên quan đến thị trường chứng khoán

Cơ quan quản lý Nhà nước: Uỷ ban chứng khoán Nhà nước thực hiện chức

năng quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán

Sở giao dịch chứng khoán: Sở giao dịch chứng khoán là cơ quan thực hiện vận

hành thị trường, ban hành những quyết định điều chỉnh các hoạt động giao dịch chứng khoán trên Sở và phải phù hợp với các quy định của pháp luật về chứng khoán

Các tổ chức khác bao gồm: Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán; Tổ

chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán; Công ty dịch vụ máy tính chứng khoán; Các tổ chức tài trợ chứng khoán: là tổ chức phụ trợ, phục vụ các giao dịch chứng khoán; Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm: là công ty chuyên cung cấp dịch vụ đánh giá năng lực thanh toán các khoản vốn gốc và lãi đúng thời hạn theo những điều khoản đã cam kết của công ty phát hành đối với một đợt phát hành cụ thể, v.v

16 Xem TS Lê Thị Nguyệt Châu, Giáo trình Pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán, Trường

Đại học Cần Thơ, 2009, trang 13

17

Xem Khoản 11, Điều 6, Luật Chứng khoán năm 2006, sửa đổi bổ sung năm 2010

Trang 24

1.2 Các loại chứng khoán trên thị trường chứng khoán

1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của chứng khoán

Để có thể vận hành được một thị trường thì hàng hoá đóng vai trò vô cùng quan trọng và thị trường chứng khoán cũng vậy Hàng hoá sẽ là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của thị trường chứng khoán Tuy nhiên, không giống với thị trường hàng hoá thông thường, hàng hoá trên thị trường chứng khoán rất đặc biệt, chúng là các chứng khoán Một chứng khoán được coi là hàng hoá trên thị trường phải đáp ứng được điều kiện về lưu thông

1.2.1.1 Khái niệm chứng khoán

Có nhiều định nghĩa khác nhau về chứng khoán, nhưng tựu chung lại chứng khoán có thể được hiểu như sau: Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền sở hữu hay quyền chủ nợ hợp pháp có thể chuyển nhượng được của người sở hữu chứng khoán đối với vốn, tài sản và các lợi ích khác của tổ chức phát hành.18

Với sự phát triển ngày càng cao của công nghệ, ngày nay khái niệm về chứng khoán đã có sự thay đổi Nó không chỉ là là một chứng từ hiện vật dưới hình thức giấy tờ mà còn có thể được thể hiện trên hệ thống điện tử Như vậy, chứng khoán là loại hàng hoá đặc trưng, tách rời với giá trị thực của chúng là giá trị tài sản của tổ chức phát hành

Theo pháp luật Việt Nam, chứng khoán bao gồm: cổ phiếu; trái phiếu; chứng chỉ quỹ; các công cụ phái sinh như: quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai; hợp đồng góp vốn đầu tư.19

1.2.1.2 Đặc điểm của chứng khoán

Với định nghĩa như trên, chứng khoán có các đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, tính thanh khoản (tính lỏng)

Tính lỏng của tài sản là khả năng chuyển đổi tài sản đó thành tiền mặt Khả năng này cao hay thấp phụ thuộc vào khoảng thời gian và chi phí cần thiết cho việc chuyển đổi cũng như rủi ro của việc giảm sút giá trị tài sản đó do chuyển đổi Chứng khoán có tính lỏng cao hơn so với các tài sản khác, thể hiện qua khả năng

Trang 25

chuyển nhượng cao trên thị trường Nhìn chung, các chứng khoán khác nhau có khả năng chuyển nhượng khác nhau

cơ sở đó đề ra các quyết định trong việc lựa chọn, nắm giữ hay bán các chứng khoán Điều này phản ánh mối quan hệ giữa lợi tức và rủi ro hay sự cân bằng về lợi tức cũng như việc nhà đầu tư sẽ không chịu rủi ro tăng thêm trừ khi họ kỳ vọng được bù đắp bằng lợi tức tăng thêm

Thứ ba, tính sinh lợi

Chứng khoán là một tài sản tài mà khi sở hữu nó, nhà đầu tư mong muốn nhận được một thu nhập lớn hơn trong tương lai Thu nhập này được bảo đảm bằng lợi tức được phân chia hàng năm và việc tăng giá chứng khoán trên thị trường Khả năng sinh lợi bao giờ cũng quan hệ chặt chẽ với rủi ro của tài sản, thể hiện qua việc nếu chấp nhận rủi ro càng cao thì lợi nhuận kỳ vọng đạt được sẽ càng lớn

Thứ tư, về hình thức của chứng khoán

Hình thức của các loại chứng khoán có thu nhập (cố định hoặc biến đổi) thường bao gồm phần bìa và phần bên trong Ngoài bìa ghi rõ quyền đòi nợ hoặc quyền tham gia góp vốn Số tiền ghi trên chứng khoán được gọi là mệnh giá của chứng khoán

Đối với giấy tờ có giá với lãi suất cố định bên trong có phiếu ghi lợi tức cũng như ghi rõ lãi suất hoặc lợi tức sẽ được hưởng Đối với giấy tờ có giá mang lại cổ tức (cổ phiếu) bên trong chỉ ghi phần thu nhập nhưng không ghi xác định số tiền được hưởng, nó chỉ đảm bảo cho người sở hữu quyền yêu cầu về thu nhập do kết quả kinh doanh của doanh nghiệp và được phân phối theo Nghị quyết của Đại hội

cổ đông Ngoài phiếu ghi lợi tức còn kèm theo phiếu ghi phần thu nhập bổ sung (xác nhận phần đóng góp luỹ kế)

Trang 26

1.2.2 Phân loại chứng khoán

Tuỳ theo cách chọn tiêu chí, người ta có thể chia chứng khoán thành nhiều loại khác nhau Tuy nhiên, thông thường chứng khoán thường được phân loại theo 3 tiêu chí chủ yếu, đó là: theo tính chất của chứng khoán, theo khả năng chuyển nhượng

và thu nhập.20 Cách phân chia này tạo điều kiện cho người đầu tư nhận biết dễ dàng các loại chứng khoán đang lưu thông và giúp họ lựa chọn cách đầu tư phù hợp

1.2.2.1 Phân loại theo tính chất của chứng khoán

Căn cứ vào tính chất (nội dung) của chứng khoán chia thành: chứng khoán vốn, chứng khoán nợ và các chứng khoán phái sinh

Chứng khoán vốn: là chứng thư xác nhận sự góp vốn, quyền sở hữu phần vốn

góp và các quyền hợp pháp khác đối với tổ chức phát hành Đại diện cho chứng khoán vốn là cổ phiếu và chứng chỉ quỹ đầu tư

Chứng khoán nợ: là chứng nhận do Nhà nước hoặc các doanh nghiệp phát

hành khi cần huy động vốn cho các mục đích trung, dài hạn Điển hình là các loại trái phiếu

Chứng khoán phái sinh: là các công cụ tài chính phái sinh có nguồn gốc từ

chứng khoán, có mối quan hệ chặt chẽ với chứng khoán gốc và rất đa năng Chúng được sử dụng một cách linh hoạt để giúp các doanh nghiệp, các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán xử lý rủi ro về giá cả chứng khoán và tìm kiếm lợi nhuận

1.2.2.2 Phân loại theo khả năng chuyển nhượng

Căn cứ vào khả năng chuyển nhượng (hình thức) của chứng khoán chia thành: chứng khoán vô danh và chứng khoán ký danh

Chứng khoán vô danh: trên các chứng nhận nợ hay góp vốn không có ghi tên

người sở hữu Loại chứng khoán này có thể dễ dàng mua bán, chuyển đổi trên thị trường chứng khoán

Chứng khoán ký danh: là loại chứng khoán mà tên người sở hữu được lưu giữ

trong hồ sơ của chủ thể phát hành cũng như trên tờ giấy chứng khoán Việc chuyển quyền sở hữu chứng khoán này có phần khó khăn hơn loại chứng khoán vô danh ngay cả khi được sự đồng ý của cơ quan phát hành ra nó

20

PGS TS Bùi Kim Yến, Thị trường chứng khoán, NXB Lao động - Xã hội, 2011, trang 97 - 98

Trang 27

1.2.2.3 Phân loại theo khả năng thu nhập

Căn cứ vào khả năng thu thập (lợi tức của chứng khoán) chia thành: chứng khoán có lợi tức ổn định và chứng khoán không có lợi tức ổn định

Chứng khoán có lợi tức ổn định: người cầm giữ loại chứng khoán này được

hưởng lợi tức ổn định theo tỷ lệ lãi suất tính trên mệnh giá chứng khoán Điển hình

là các loại cổ phiếu ưu đãi và trái phiếu

Chứng khoán có lợi tức không ổn định: có một số chứng khoán mà nhà đầu tư

yêu cầu lợi tức cao hơn nhiều so với mức lãi suất ổn định Các loại chứng khoán này thường mang tính chất rủi ro cao và không ổn định Điển hình cho loại này là

cổ phiếu thường của của các công ty cổ phần

1.2.3 Sơ lược về các loại chứng khoán chủ yếu được lưu thông trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Như đã phân tích ở trên, hàng hoá trên thị trường chứng khoán gồm 4 nhóm chính là: cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư và các công cụ phái sinh Riêng pháp luật Việt Nam còn quy định thêm một nhóm nữa là Hợp đồng góp vốn đầu tư nhưng chưa được hướng dẫn, giải thích nhiều.21 Sau đây, chúng ta sẽ tìm hiểu sơ lược các loại chứng khoán chủ yếu này làm tiền đề cho quá trình làm rõ việc phát hành các chứng khoán ở chương sau

1.2.3.1 Cổ phiếu

 Khái niệm cổ phiếu

Cổ phiếu là loại hàng hoá thông dụng nhất trên thị trường sơ cấp Chúng là một chứng từ do công ty cổ phần phát hành, xác nhận quyền sở hữu hợp pháp của người nắm giữ cổ phiếu đối với tài sản của tổ chức phát hành tương ứng với phần vốn góp (cổ phần) Điều này có nghĩa: cổ phiếu chính là hình thức thể hiện của cổ phần Đồng thời, nó quy định những điều kiện về thu nhập trong một khoảng thời gian nào đó và có khả năng chuyển nhượng Người sở hữu ít nhất một cổ phần đã phát hành của công ty cổ phần gọi là cổ đông

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ

21

Quy định tại Điểm c, Khoản 1, Điều 6, Luật Chứng khoán năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2010

Trang 28

chức phát hành.22 Cổ phiếu ở Việt Nam chủ yếu được điều chỉnh bởi pháp luật về Doanh nghiệp, Chứng khoán và ta có thể hiểu đó là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó.23

Trong quá trình đầu tư, do nhu cầu của các nhà đầu tư vô cùng đa dạng, có những nhà đầu tư ưa mạo hiểm muốn thu lợi nhuận cao cho dù có phải gánh chịu rủi ro lớn, có những nhà đầu tư lại muốn có thu nhập ổn định, rủi ro thấp nên cổ phiếu phát hành cũng chia ra nhiều loại khác nhau nhằm đáp ứng được các yêu cầu

đó Cổ phiếu gồm: cổ phiếu thường (cổ phiếu phổ thông) và cổ phiếu ưu đãi

 Phân loại và đặc điểm cổ phiếu

- Cổ phiếu thường (cổ phiếu phổ thông)

Cổ phiếu thường là cổ phiếu có mệnh giá (giá trị ghi trên bề mặt của chứng từ), không có thời gian đáo hạn, không có thu nhập ổn định mà thu nhập của nó phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh hay chính sách chi trả cổ tức của công ty Cổ phiếu thường có khả năng chuyển nhượng dễ dàng Người nắm giữ cổ phiếu thường

có quyền bỏ phiếu cho các chức vụ quản lý trong công ty, có quyền tham gia các Đại hội cổ đông và bỏ phiếu quyết định các vấn đề quan trọng của công ty nhưng không được ưu tiên trong phân chia lợi nhuận cũng như thanh lý tài sản khi công ty phá sản Ngoài ra, cổ phiếu thường còn đem lại quyền đặt mua cổ phiếu mới cho các cổ đông để cho phép cổ đông hiện hữu duy trì tỷ lệ sở hữu của mình trong công

ty

Cổ phiếu thường được Luật Doanh nghiệp Việt Nam quy định cũng có những đặc trưng tương tự Mệnh giá cổ phiếu phát hành lần đầu ra công chúng là mười nghìn (10.000) đồng Việt Nam.24 Những cổ phiếu đã được phát hành bởi công ty cổ phần và được mua lại bởi chính tổ chức phát hành đó được gọi là cổ phiếu quỹ, việc này nhằm đối phó với tình trạng thâu tóm công ty hoặc phục vụ cho các kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp.25

22 Khoản 2, Điều 6, Luật Chứng khoán 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2010

23

Xem Khoản 1, Điều 85, Luật Doanh nghiệp năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2013

24 Khoản 2, Điều 10, Luật Chứng khoán 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2010

25 Xem Khoản 1, Điều 2, Nghị định 58/2012/NĐ-CP ngày 20 tháng 07 năm 2012 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật chứng khoán

Trang 29

- Cổ phiếu ưu đãi

Cổ phiếu ưu đãi là loại cổ phiếu có sự ưu tiên hơn cổ phiếu thường trong việc

bỏ phiếu biểu quyết, phân chia lợi nhuận cũng như chi trả cổ tức và thanh lý tài sản khi công ty phá sản Tuy nhiên, cổ đông nắm giữ các cổ phiếu ưu đãi sẽ bị hạn chế một số quyền so với cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường Cổ phiếu ưu đãi cũng giống như cổ phiếu thường là nó không có thời gian đáo hạn Nó tồn tại ở sự tồn tại của công ty Nó cũng có thể được chuyển nhượng nhưng phải có một số điều kiện nhất định Cổ tức của cổ phiếu ưu đãi lẫn cổ phiếu thường đều không phải là nợ của công

ty do đó không có thu nhập ổn định trong điều kiện bình thường và nó có thể được mua lại bởi nhà phát hành

Theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam, các công ty cổ phần có thể phát hành ba loại cổ phần ưu đãi: cổ phần ưu đãi biểu quyết; cổ phần ưu đãi cổ tức; cổ phần ưu đãi hoàn lại Tương ứng có ba loại cổ phiếu ưu đãi là hình thức thể hiện của ba loại

cổ phần ưu đãi này

+ Cổ phiếu ưu đãi biểu quyết: là loại cổ phiếu có số phiếu biểu quyết nhiều

hơn so với cổ phiếu phổ thông và số phiếu biểu quyết của mỗi cổ phiếu ưu đãi biểu quyết do Điều lệ công ty quy định Chỉ có các tổ chức được Chính phủ ủy quyền và

cổ đông sáng lập mới được nắm giữ cổ phiếu ưu đãi này Tuy nhiên, cổ đông sáng lập chỉ được nắm giữ cổ phiếu ưu đãi biểu quyết trong ba năm đầu thành lập công ty (kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh), sau thời hạn

đó số cổ phiếu ưu đãi này chuyển thành cổ phiếu phổ thông Cổ phiếu ưu đãi không được phép chuyển nhượng, được hưởng các quyền khác như đối với cổ phiếu phổ thông.26

+ Cổ phiếu ưu đãi cổ tức: có hai loại cổ phiếu ưu đãi cổ tức là cổ phiếu được

trả cổ tức cao hơn so với mức cổ tức của cổ phần phổ thông hoặc mức ổn định hàng năm Cổ tức được chia hàng năm gồm cổ tức cố định và cổ tức thưởng Cổ tức cố định không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty Cổ đông sở hữu cổ phần

ưu đãi cổ tức được ưu đãi về mức cổ tức, được nhận lại một phần tài sản (nhận trước cổ đông phổ thông) còn lại tương ứng với số cổ phần góp vốn vào công ty sau khi công ty đã thanh toán hết các khoản nợ, cổ phần ưu đãi hoàn lại nếu công ty giải thể hoặc phá sản Đồng thời, họ có các quyền khác như cổ đông phổ thông nhưng

26

Xem Điều 78 và 81, Luật Doanh nghiệp năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2013

Trang 30

không được quyền biểu quyết, dự họp Đại hội đồng cổ đông, đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát.27

+ Cổ phiếu ưu đãi hoàn lại là loại cổ phiếu được công ty hoàn lại vốn góp bất

cứ khi nào theo yêu cầu của người sở hữu hoặc theo các điều kiện được ghi tại tờ cổ phiếu đó Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi hoàn lại được hưởng các quyền lợi như cổ đông phổ thông nhưng không được quyền biểu quyết, dự họp Đại hội đồng cổ đông,

đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát.28

1.2.3.2 Trái phiếu

 Khái niệm trái phiếu

Trái phiếu là giấy tờ có giá xác định số vốn đầu tư và xác nhận quyền đòi nợ bao gồm những điều kiện và thu nhập trong một khoảng thời gian nào đó và có khả năng chuyển nhượng Hay nói cách khác, trái phiếu là một loại chứng khoán được phát hành dưới hình thức chứng chỉ vật chất hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận nghĩa vụ trả nợ (bao gồm cả gốc và lãi) của tổ chức phát hành trái phiếu đối với người sở hữu chúng Theo quy định của pháp luật Việt Nam, trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành.29

Từ khái niệm trên ta thấy trái phiếu có đặc trưng là có thu nhập ổn định, có khả năng chuyển nhượng, có thời gian đáo hạn Đồng thời, người nắm giữ trái phiếu, còn gọi là trái chủ không có quyền tham gia bỏ phiếu Nhưng trái phiếu đem lại cho trái chủ quyền được ưu tiên trong phân chia lợi nhuận cũng như thanh lý tài sản khi công ty phá sản

 Đặc điểm trái phiếu

Trái phiếu có các đặc điểm:

Mệnh giá: là giá trị ghi trên trái phiếu mà nhà phát hành cam kết trả cho người

sở hữu trái phiếu vào ngày đáo hạn

Ngày đáo hạn: là ngày mà nhà phát hành thanh toán số tiền theo mệnh giá cho

chủ sở hữu trái phiếu

27 Xem Điều 78 và 82, Luật Doanh nghiệp năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2013

28 Xem Điều 78 và 83, Luật Doanh nghiệp năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2013

29

Khoản 3, Điều 6, Luật Chứng khoán năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2010

Trang 31

Lãi suất: mỗi trái phiếu có ghi cam kết của nhà phát hành cam kết sẽ thanh

toán cho chủ sở hữu trái phiếu một số tiền nhất định vào một ngày xác định Lãi suất thường được công bố theo tỉ lệ phần trăm (%) so với mệnh giá của trái phiếu Mặc dù lãi suất được quy định cho hàng năm, nhưng việc trả lãi có thể được thực hiện theo những cách thức khác nhau như: trả lãi trước, trả lãi sau, trả lãi định kỳ

Giá mua: Là khoản tiền thực tế mà người mua bỏ ra để có được quyền sở hữu

trái phiếu Giá mua có thể ngang giá (bằng mệnh giá), có thể là giá tăng (cao hơn mệnh giá) hoặc giá chiết khấu (thấp hơn mệnh giá) Tuy nhiên, dù giá mua là giá nào thì tiền lãi luôn được xác định theo mệnh giá trái phiếu Và đến ngày đáo hạn, người nắm giữ trái phiếu sẽ được thanh toán theo mệnh giá trái phiếu

 Phân loại trái phiếu

- Trái phiếu của Chính phủ

Trái phiếu Chính phủ là loại trái phiếu do Chính phủ phát hành nhằm mục đích cân bằng ngân sách, thực hiện các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng hoặc làm công

cụ điều tiết tiền tệ và được đảm bảo thanh toán bằng ngân sách quốc gia

Trái phiếu Chính phủ là loại trái phiếu an toàn nhất, hầu như không có rủi ro

vì Chính phủ có được nguồn đảm bảo khả năng thanh toán lớn nhất là thuế và quyền lực phát hành Do đặc điểm an toàn và tính thanh khoản cao, lãi suất của trái phiếu Chính phủ thường được xem là lãi suất chuẩn để làm căn cứ ấn định lãi suất của các công cụ nợ khác có cùng kỳ hạn

Trái phiếu Chính phủ thường do Bộ Tài chính hoặc Kho bạc nhà nước được Chính phủ uỷ quyền phát hành Ở Việt Nam còn có thêm có trái phiếu Chính quyền địa phương do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phát hành nhằm huy động vốn cho công trình, dự án đầu tư của địa phương.30 Trái phiếu Chính phủ có loại ngắn, trung và dài hạn Các trái phiếu trung và dài hạn được giao dịch trên thị trường chứng khoán Trái phiếu Chính phủ được chia thành: Tín phiếu kho bạc có kỳ hạn là 13 tuần, 26 tuần và 52 tuần; Trái phiếu kho bạc và Công trái xây dựng Tổ quốc có kỳ hạn là 2 năm, 3 năm, 5 năm, 10 năm, 15 năm và 30 năm Mệnh giá trái phiếu là một trăm

30 Xem Điều 2, Khoản 3, Nghị định 01/2011/NĐ-CP ngày 05 tháng 01 năm 2011 của Chính phủ về Phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu Chính quyền địa phương

Trang 32

nghìn (100.000) đồng, các mệnh giá khác là bội số của một trăm nghìn (100.000) đồng.31

- Trái phiếu của doanh nghiệp

Trái phiếu doanh nghiệp là trái phiếu được phát hành bởi các doanh nghiệp nhằm huy động vốn cho đầu tư phát triển Trái phiếu doanh nghiệp là một khoản vay trong đó tổ chức phát hành là người đi vay, còn người mua trái phiếu là chủ nợ Các doanh nghiệp phát hành trái phiếu khi có nhu cầu cần huy động vốn lớn để tài trợ cho việc mở rộng, phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh mà không đủ điều kiện hoặc không muốn phát hành cổ phiếu, đi vay ngân hàng hoặc do chiến lược quản lý vốn của công ty Trái phiếu doanh nghiệp có nhiều loại và rất đa dạng Ở nước ta, nhìn chung có hai nhóm là trái phiếu không chuyển đổi và trái phiếu chuyển đổi (loại trái phiếu của công ty cổ phần cho phép trái chủ được chuyển đổi trái phiếu sang cổ phiếu thường của tổ chức phát hành theo những điều kiện được xác định khi phát hành trái phiếu) hoặc trái phiếu kèm chứng quyền.32 Mệnh giá của trái phiếu doanh nghiệp cũng giống như mệnh giá của trái phiếu Chính phủ

Trái phiếu doanh nghiệp có thể là trái phiếu ngắn hạn, trung hạn và dài hạn Nhưng thông thường, khi có nhu cầu vốn ngắn hạn với khối lượng không lớn, doanh nghiệp áp dụng các hình thức vay vốn thông qua ngân hàng thương mại, hơn

là phát hành kỳ phiếu (trái phiếu ngắn hạn) Do vậy, trái phiếu do các doanh nghiệp phát hành thường để vay vốn dài hạn Nhìn chung, trái phiếu doanh nghiệp có kỳ hạn từ

1 năm trở lên.33 Đặc điểm chung của trái phiếu doanh nghiệp là:

Thứ nhất, người nắm giữ trái phiếu được trải lãi định kỳ và trả gốc khi đáo

hạn, song không được tham dự vào các quyết định của công ty

Thứ hai, khi doanh nghiệp giải thể hoặc phá sản, trái phiếu được thanh toán

trước các cổ phiếu

Thứ ba, trái phiếu thường có các điều kiện cụ thể kèm theo hoặc nhiều hình

thức đảm bảo cho khoản vay

Trang 33

 Ta có bảng phân biệt cổ phiếu và trái phiếu như sau:

- Ưu tiên thanh toán kém

- Chủ sở hữu được bầu cử, ứng cử

- Chịu thuế thu nhập doanh nghiệp

- Ưu tiên thanh toán cao

- Chủ sở hữu không được bầu cử, ứng cử

- Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp

1.2.3.3 Chứng chỉ quỹ

 Khái niệm

Chứng chỉ quỹ đầu tư là loại chứng khoán do quỹ đầu tư phát hành Chứng chỉ

này là chứng khoán xác nhận quyền sở hữu của nhà đầu tư đối với một phần vốn góp của quỹ Nó có đặc điểm tương tự cổ phiếu thường như quyền được hưởng lợi tức từ số vốn góp, quyền được kiểm tra sổ sách của quỹ, v.v., nhưng khác với cổ phiếu thường ở chỗ là không có quyền bỏ phiếu Mệnh giá của chứng chỉ quỹ phát hành lần đầu tương tự như mệnh giá của cổ phiếu

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, chứng chỉ quỹ là loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu của nhà đầu tư đối với một phần vốn góp của quỹ đại chúng.34

Trong đó, quỹ đại chúng là quỹ đầu tư chứng khoán thực hiện chào bán chứng chỉ quỹ ra công chúng

 Quyền của nhà đầu tư tham gia quỹ: hưởng lợi từ hoạt động của quỹ hoặc

từ tài sản được chia tương ứng với tỷ lệ góp vốn Yêu cầu công ty quản lý quỹ hoặc ngân hàng giám sát mua lại chứng chỉ quỹ mở Tham dự quyết định tại Đại hội nhà đầu tư và chuyển nhượng chứng chỉ quỹ Người nắm giữ chứng chỉ quỹ đầu tư theo

mô hình tín thác được gọi là người thụ hưởng và vì thế, chứng chỉ quỹ đầu tư còn được gọi là chứng chỉ thụ hưởng

 Đặc điểm: Tuỳ theo từng loại quỹ đầu tư khác nhau mà chứng chỉ quỹ đầu

tư có những đặc điểm riêng:

34

Khoản 4, Điều 6, Luật Chứng khoán năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2010

Trang 34

- Đối với quỹ mở (Quỹ đại chúng mà chứng chỉ quỹ đã chào bán ra công

chúng phải được mua lại theo yêu cầu của nhà đầu tư): người tham gia góp vốn đầu

tư được phép bán lại chứng chỉ quỹ đầu tư cho chính quỹ đầu tư để thu hồi vốn Do vậy, chứng chỉ quỹ đầu tư có tính thanh khoản cao

- Đối với quỹ đóng (Quỹ đại chúng mà chứng chỉ quỹ đã chào bán ra công

chúng không được mua lại theo yêu cầu của nhà đầu tư): người tham gia góp vốn đầu tư không được phép bán hoặc rút vốn bằng cách bán lại chứng chỉ cho quỹ mà

có thể bán lại trên Sở giao dịch (thị trường chính thức) hoặc thị trường OTC (thị trường phi chính thức) Do vậy những chứng chỉ quỹ đầu tư loại này thường có tính thanh khoản không cao Chính vì vậy, giá chứng chỉ quỹ đóng thường thấp hơn giá trị thực của nó

1.2.3.4 Chứng khoán phái sinh

 Khái niệm

Chứng khoán phái sinh là những công cụ được phát hành trên cơ sở những chứng khoán đã có như cổ phiếu, trái phiếu nhằm nhiều mục tiêu khác nhau như phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo lợi nhuận Chúng sẽ là đòn bẩy, làm tăng nhiều lần giá trị các các đối tượng đầu tư như cổ phiếu, trái phiếu.35 Thị trường các

chứng khoán phái sinh là thị trường phát hành và mua đi bán lại các chứng từ tài chính như quyền mua cổ phiếu, chứng quyền, hợp đồng quyền chọn, v.v

 Đặc điểm chứng khoán phái sinh

Chứng khoán phái sinh là các công cụ tài chính có nguồn gốc từ chứng khoán

và quan hệ chặt chẽ với các chứng khoán gốc Các chứng khoán phái sinh được hình thành do nhu cầu của người mua, người bán chứng khoán, đồng thời sự phát triển của chứng khoán phái sinh phụ thuộc vào sự phát triển của thị trường chứng khoán

Các chứng khoán phái sinh là các công cụ tài chính đa năng và đòi hỏi phải có

sự vận dụng phù hợp bởi nó yêu cầu các nhà đầu tư phải phân tích, dự đoán thật tốt tình hình biến động của chứng khoán cơ sở trong tương lai Sau đó vận dụng chứng khoán phái sinh linh hoạt để kiếm tiền Do đó, phải là những nhà đầu tư chuyên nghiệp, những chuyên gia mới có đủ tri thức và thông tin để sử dụng tốt công cụ

35 Ở Việt Nam, chứng khoán phái sinh đã được quy định tại Luật Chứng khoán 2006, sửa đổi, bổ sung năm

2010 Tuy nhiên, các văn bản hướng dẫn chưa nhiều, chủ yếu là đưa ra các định nghĩa Đồng thời, việc áp dụng các chứng khoán phái sinh vào giao dịch trên thị trường cũng còn hạn chế

Trang 35

này Và chỉ ở thị trường chứng khoán phát triển, chứng khoán phái sinh mới được

áp dụng Các chứng khoán phái sinh chỉ mới xuất hiện trên thị trường chứng khoán

từ thập kỷ 70 của thế kỷ XX, nhưng đến nay thị trường chứng khoán phái sinh phát triển rất sôi động và đạt được nhiều thành công Tin rằng trong tương lai không xa thị trường chứng khoán phái sinh sẽ còn phát triển vượt trội hơn nữa Đặc biệt ở Việt Nam, khi thị trường chứng khoán đã tương đối phát triển thì việc áp dụng chứng khoán phái sinh vào thị trường theo tuần tự từng bước là điều cần thiết và cũng là quy luật tất yếu Tin rằng với sự phát triển của chứng khoán phái sinh, chứng khoán Việt Nam sẽ có những bước tiến đáng kể hơn nữa

 Phân loại: các công cụ phái sinh bao gồm:

- Thứ nhất, quyền mua cổ phần

Quyền mua cổ phần còn gọi là quyền tiên mãi, là loại chứng khoán ghi nhận quyền dành cho các cổ đông hiện hữu của công ty cổ phần được mua trước một số lượng cổ phần trong đợt phát hành cổ phiếu phổ thông mới tương ứng với tỷ lệ cổ phần hiện có của họ trong công ty Mỗi cổ đông hiện hữu sẽ nhận được một phiếu tiên mãi cho mỗi cổ phiếu mà họ làm chủ nhằm: bảo vệ quyền kiểm soát (quyền sở hữu) của họ; bảo vệ cổ đông đó, tránh sự mất giá cổ phần do cổ phần mới giá rẻ hơn

cổ phần cũ, gây thiệt thòi cho họ nhưng đem lại lợi ích cho người mua cổ phần mới Quyền mua cổ phần có các đặc điểm như: được phát hành kèm theo một đợt phát hành cổ phiếu thường, dành cho cổ đông hiện hữu và lượng quyền mua tương ứng với tỷ lệ cổ phiếu nắm giữ; là một công cụ ngắn hạn, trong khoảng 4 - 6 tuần (30 - 45 ngày); do công ty phát hành các chứng khoán phát hành ra để đảm bảo quyền lợi của nhà đầu tư Mức giá đăng ký trong quyền mua cổ phần thấp hơn mức giá hiện hành của cổ phiếu trên thị trường, nhằm hai mục tiêu cho công ty phát hành: thứ nhất, rủi ro có thể xảy ra khi giá thị trường giảm trong thời hạn phát hành quyền và dẫn đến đợt phát hành không thành công; hai là, mức chênh lệch đáng kể này làm gia tăng tính hấp dẫn của đợt phát hành cổ phiếu mới

Quyền mua cổ phần đảm bảo quyền lợi cho những cổ đông thường hiện hữu của công ty phát hành khi công ty đó phát hành thêm cổ phiếu thường mới Điều đó xuất phát từ vấn đề nảy sinh là khi phát hành thêm cổ phiếu thường mới sẽ làm pha loãng quyền sở hữu của cổ đông hiện hữu và đồng thời chứng khoán này trên thị trường cũng thường bị giảm giá Do đó, quyền mua cổ phần giúp cho công ty đạt

Trang 36

mục tiêu huy động vốn mặc dù quyền sở hữu của người có quyền mua cổ phần có thể giảm xuống (do người nắm quyền tiên mãi không mua)

- Thứ hai, chứng quyền

Chứng quyền là loại chứng khoán được phát hành kèm theo trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi, cho phép người nắm giữ chứng khoán đó được quyền mua một khối lượng cổ phiếu phổ thông nhất định theo mức giá đã được xác định trước trong thời

kỳ nhất định Quyền này được phát hành khi tổ chức lại các công ty hoặc khi công

ty hướng đến mục tiêu khuyến khích các nhà đầu tư tiềm năng mua các trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi có những điều kiện kém thuận lợi Và do vậy, chứng quyền đảm bảo lợi ích của nhà đầu tư mua cổ phiếu ưu đãi hay mua trái phiếu có độ rủi ro cao

Tóm lại, quyền mua cổ phần và chứng quyền là các chứng chỉ chứng nhận

quyền mua cổ phần của các công ty Khi các công ty cổ phần này đang làm ăn có hiệu quả và có nhu cầu tăng vốn thì họ có thể phát hành cổ phiếu thường, trái phiếu hay cổ phiếu ưu đãi để huy động vốn Nhưng để đợt phát hành được nhanh chóng

và hấp dẫn hơn thường đi kèm là các chứng chỉ xác nhận quyền tiên mại (quyền mua trước) Và một mục tiêu quan trọng hơn đó là để hạn chế sự pha loãng quyền kiểm soát công ty, một khi công ty có thêm cổ đông mới

- Thứ ba, hợp đồng kỳ hạn

Hợp đồng kỳ hạn là một thỏa thuận trong đó người mua và người bán chấp thuận thực hiện một giao dịch hàng hóa với khối lượng xác định tại một thời điểm xác định trong tương lai với mức giá giao dịch được ấn định vào ngày thỏa thuận

- Thứ tư, hợp đồng tương lai

Hợp đồng tương lai là một cam kết bằng văn bản về việc chuyển giao một tài sản cụ thể hay chứng khoán, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán vào một ngày nào đó trong tương lai với mức giá đã thỏa thuận ở thời điểm hiện tại

- Thứ năm, hợp đồng quyền chọn

Hợp đồng quyền chọn là một hợp đồng cho phép người nắm giữ nó được mua

(nếu là quyền chọn mua) hoặc được bán (nếu là quyền chọn bán) một khối lượng hàng hóa cơ sở nhất định với một mức giá xác định và trong một thời gian nhất định

Trang 37

1.2.3.5 Hợp đồng góp vốn đầu tư

Theo định nghĩa của Luật Chứng khoán thì Hợp đồng góp vốn đầu tư là hợp

đồng góp vốn bằng tiền hoặc tài sản giữa các nhà đầu tư với tổ chức phát hành hợp đồng nhằm mục đích lợi nhuận và được phép chuyển đổi thành chứng khoán khác.36

Như vậy, theo định nghĩa mà Luật Chứng khoán hiện hành đưa ra thì có thể hiểu hợp đồng góp vốn đầu tư là việc doanh nghiệp có thể đi vay nhà đầu tư một khoản tiền, khi đến hạn trả nợ thì thay vì trả tiền cho nhà đầu tư thì doanh nghiệp có thể hoán chuyển khoản tiền đó thành số cổ phần tương ứng, hay nói cách khác đây chính là việc hoán chuyển nợ thành vốn cổ phần Có thể nói hợp đồng góp vốn đầu

tư là một sự kết hợp giữa phát hành riêng lẻ và trái phiếu chuyển đổi Với hình thức phát hành riêng lẻ hay trái phiếu chuyển đổi thì doanh nghiệp phải đáp ứng những tiêu chí, điều kiện cụ thể và phải trải qua một quy trình, thủ tục nghiêm ngặt dưới sự giám sát của các cơ quan quản lý mới được phép phát hành để huy động vốn Trong khi đó, với hợp đồng góp vốn đầu tư, theo ý kiến của người viết thì đây là sự thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ của hai bên nên sẽ không có sự ràng buộc nhiều về các điều kiện Mặc dù vậy, người viết nghĩ rằng muốn huy động vốn dưới hình thức này, tổ chức phát hành cũng sẽ phải trải qua quy trình, thủ tục bắt buộc Hiện nay chưa có văn bản pháp quy huớng dẫn về hợp đồng góp vốn đầu tư cũng như quy định về các vấn đề cụ thể khi huy động vốn bằng hình thức này mà chỉ mới có định nghĩa Tuy nhiên, vì hợp đồng góp vốn đầu tư cơ bản là sự thỏa thuận giữa hai bên nên sẽ có những ưu điểm nhất định và trong tương lai sẽ là một hình thức huy động đầy hứa hẹn giúp cho các doanh nghiệp có thêm một cánh cửa để tiếp cận nguồn vốn một cách dễ dàng.37

1.3 Tổng quan về hoạt động phát hành chứng khoán

1.3.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của phát hành chứng khoán

1.3.1.1 Khái niệm phát hành chứng khoán

Việc chào bán lần đầu tiên chứng khoán mới gọi là phát hành chứng khoán Như vậy, phát hành chính là chào bán lần đầu các chứng khoán trên thị trường sơ cấp Do đó, kể từ phần này trở về sau người viết sẽ sử dụng từ chào bán song song

36 Khoản 8a, Điều 6, Luật Chứng khoán năm 2006, sửa đổi bổ sung năm 2010

37 Xem Trang thông tin điện tử CafeF: Hợp đồng góp vốn đầu tư - Hình thức huy động vốn mới,

http://cafef.vn/thi-truong-chung-khoan/hop-dong-gop-von-dau-tu-hinh-thuc-huy-dong -von-moi-201 10208 09461704ca31.chn, [truy cập ngày 10-10-2014]

Trang 38

với từ phát hành và xem đó là hai từ đồng nghĩa Nếu đợt phát hành dẫn đến việc đưa một loại chứng khoán của một tổ chức lần đầu tiên ra công chúng thì gọi là phát hành lần đầu ra công chúng Nếu việc phát hành đó là việc phát hành bổ sung bởi tổ chức đã có chứng khoán cùng loại lưu thông trên thị trường thì gọi là đợt phát hành chứng khoán bổ sung Tuy nhiên, không phải mọi đối tượng đều được phát hành chứng khoán mà chỉ những chủ thể phát hành mới có được quyền này.38

1.3.1.2 Đặc điểm của việc phát hành chứng khoán

Phát hành chứng khoán là việc đưa thêm chủng loại chứng khoán mới vào thị trường, bao gồm tất cả các hoạt động như xin phép, mời chào, phân phối chứng khoán, v.v với mục đích cuối cùng là đưa chứng khoán ra thị trường, tạo tính thanh khoản cho chứng khoán Hoạt động này chỉ diễn ra trên thị trường sơ cấp - nơi chứng khoán lần đầu tiên được phát hành Có thể coi việc phát hành là cầu nối giữa thị trường sơ cấp với thị trường thứ cấp và nó có một vai trò vô cùng quan trọng trong việc tạo ra hàng hóa (các chứng khoán) để làm động lực cho thị trường

1.3.1.3 Vai trò của việc phát hành chứng khoán

Hoạt động phát hành chứng khoán có vai trò quan trọng không chỉ đối với

chủ thể phát hành mà còn đối với cả nền kinh tế nói chung:

+ Đối với chủ thể phát hành là Chính phủ thì việc phát hành chứng khoán có khả năng giúp Chính phủ thu hút được nguồn vốn lớn từ khắp nơi trên toàn quốc Như vậy, ngay cả khi ngân sách nhà nước thâm hụt, Chính phủ vẫn có thể huy động vốn để thỏa mãn nhu cầu chi tiêu của mình, đặc biệt là để thực hiện các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng mà không phải dùng đến những biện pháp tạo tiền có nguy cơ dẫn đến lạm phát

+ Đối với các doanh nghiệp, phát hành chứng khoán là kênh huy động vốn quan trọng, giúp các doanh nghiệp giải quyết khó khăn về vốn và không bị lệ thuộc thái quá vào vốn tín dụng ngân hàng mà vẫn có thể thỏa mãn nhu cầu về vốn trong kinh doanh Hơn nữa, phát hành chứng khoán có khả năng đem lại cho doanh nghiệp các nguồn vốn dài hạn và ổn định hơn so với nguồn vốn doanh nghiệp vay

từ ngân hàng

38 Th.s Nguyễn Văn Nông - Th.s Nguyễn Thị Hồng Liên: Giáo trình thị trường chứng khoán, Trường Đại

học Tôn Đức Thắng, 2007, trang 116 - 117

Trang 39

+ Đối với nền kinh tế xã hội, phát hành chứng khoán sẽ đem lại nguồn vốn cần thiết để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Bởi thông qua hoạt động này, Chính phủ, Chính quyền địa phương hay các doanh nghiệp sẽ huy động được nguồn vốn phục vụ cho mục đích đầu tư của mình, góp phần vào sự phát triển chung của nền

tư cách nhà phân phối để hưởng phí phát hành Đa số các đợt phát hành trái phiếu đều thực hiện dưới hình thức phát hành riêng lẻ, việc phát hành cổ phiếu thường -

cổ phiếu phổ thông ít khi được thực hiện dưới hình thức này.39 Ở Việt Nam, chào bán chứng khoán riêng lẻ là việc tổ chức chào bán chứng khoán cho dưới một trăm nhà đầu tư, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và không sử dụng phương tiện thông tin đại chúng hoặc internet.40

1.3.2.2 Phát hành chứng khoán ra công chúng

Phát hành chứng khoán ra công chúng là việc phát hành trong đó chứng khoán

có thể chuyển nhượng được bán rộng rãi ra công chúng cho một số lượng lớn người đầu tư nhất định (trong đó phải dành một tỷ lệ cho các nhà đầu tư nhỏ) và khối lượng phát hành phải đạt một mức nhất định.41 Ở Việt Nam, chào bán chứng khoán

ra công chúng phải đáp ứng một trong các phương thức sau đây: việc chào bán đó thông qua phương tiện thông tin đại chúng, kể cả internet; hoặc đó là việc chào bán chứng khoán cho từ một trăm nhà đầu tư trở lên, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp; hoặc đó là việc chào bán cho một số lượng nhà đầu tư không xác định.42

39 Th.s Nguyễn Văn Nông - Th.s Nguyễn Thị Hồng Liên: Giáo trình thị trường chứng khoán, Trường Đại

học Tôn Đức Thắng, 2007, trang 117

40 Xem Khoản 12a, Điều 6, Luật Chứng khoán năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2010

41 Th.s Nguyễn Văn Nông - Th.s Nguyễn Thị Hồng Liên: Giáo trình thị trường chứng khoán, Trường Đại

học Tôn Đức Thắng, 2007, trang 117

42

Xem Khoản 12, Điều 6, Luật Chứng khoán năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2010

Trang 40

1.3.2.3 Ý nghĩa của việc phân biệt giữa phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng

Việc phân biệt phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng là để xác định chủ thể phát hành rộng rãi ra công chúng phải là những công ty có chất lượng cao, hoạt động sản xuất kinh doanh tốt, nhằm bảo vệ cho công chúng đầu tư nói chung, nhất là những nhà đầu tư nhỏ và thường đa số không có nhiều kinh nghiệm cũng như kiến thức Đồng thời, đây cũng là điều kiện để xây dựng một thị trường chứng khoán an toàn, công khai và có hiệu quả

Thông qua đó, xây dựng được quy định về công ty đại chúng - một trong những tiêu chí quy định điều kiện phát hành Cụ thể, công ty đại chúng là công ty

cổ phần thuộc một trong ba loại hình sau: thứ nhất, công ty đã thực hiện chào bán

cổ phiếu ra công chúng; thứ hai, công ty có cổ phiếu được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán; thứ ba, công ty có cổ phiếu được ít nhất được một trăm nhà đầu tư sở hữu, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp (bao gồm ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, tổ chức kinh doanh bảo hiểm, tổ chức kinh doanh chứng khoán) và có vốn điều lệ đã góp từ 10 tỷ đồng Việt Nam trở lên.43

1.3.2.4 Các phương pháp phát hành chứng khoán

Phương pháp phát hành chứng khoán là quá trình thể hiện mối quan hệ giữa tổ chức phát hành và nhà đầu tư trong suốt quá trình đưa chứng khoán từ nơi phát hành đến với nhà đầu tư Chứng khoán có thể được chào bán theo các phương thức: chào bán trực tiếp, chào bán thông qua đại lý phát hành, chào bán qua đấu thầu và chào bán qua tổ chức bảo lãnh phát hành.44

 Bán trực tiếp

Là phương thức tổ chức phát hành thực hiện chào bán chứng khoán trực tiếp cho nhà đầu tư không qua khâu trung gian Đây là phương thức cổ điển và chứng khoán được mua bán như hàng hoá thông thường Tổ chức phát hành thực hiện tất

cả các công đoạn của quá trình chào bán như chuẩn bị hồ sơ, thủ tục, đăng ký chào bán gửi Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và trực tiếp bán chứng khoán ra công chúng với các hoạt động như cung cấp thông tin, phân phối chứng khoán, v.v

43 Xem Khoản 11, Điều 6 và Điều 25, Luật Chứng khoán năm 2006, sửa đổi bổ sung năm 2010

44 Xem Nguyễn Minh, Tìm hiểu về Chứng khoán và Thị trường chứng khoán, NXB Lao động - Xã hội, 2006,

trang 32 - 34

Ngày đăng: 03/10/2015, 05:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PGS, TS. Bùi Kim Yến: Thị trường chứng khoán, Nxb. Lao động - Xã hội, Hà Nội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bùi Kim Yến: Thị trường chứng khoán
Tác giả: PGS, TS
Nhà XB: Nxb. Lao động - Xã hội
Năm: 2011
2. PGS, TS. La Văn Tề: Để thành công trong chứng khoán, Nxb. Trẻ, Hà Nội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: La Văn Tề: Để thành công trong chứng khoán
Tác giả: PGS, TS
Nhà XB: Nxb. Trẻ
Năm: 2011
3. TS. Lê Thị Nguyệt Châu: Giáo trình Pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán, Trường Đại học Cần Thơ, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán
4. TS. Lê Thị Nguyệt Châu - Th.s. Lê Huỳnh Phương Chinh: Giáo trình Luật Tài chính 1, Trường Đại học Cần Thơ, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Tài chính 1
5. Th.s. Lưu Tuấn Linh: Một số giải pháp phát triển thị trường trái phiếu Chính phủ Việt Nam, Tạp chí Thị trường - Tài chính - Tiền tệ số 16.08.2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp phát triển thị trường trái phiếu Chính phủ Việt Nam
Tác giả: Th.s. Lưu Tuấn Linh
Nhà XB: Tạp chí Thị trường - Tài chính - Tiền tệ
Năm: 2014
6. Nguyễn Minh: Tìm hiểu về Chứng khoán và Thị trường chứng khoán, Nxb. Lao động - Xã hội, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu về Chứng khoán và Thị trường chứng khoán
Tác giả: Nguyễn Minh
Nhà XB: Nxb. Lao động - Xã hội
Năm: 2006
7. PGS, TS. Nguyễn Thu Thủy, Kinh nghiệm phát triển quỹ đầu tư chứng khoán ở một số nước và bài học đối với Việt Nam, Trường Đại học Ngoại thương, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm phát triển quỹ đầu tư chứng khoán ở một số nước và bài học đối với Việt Nam
Tác giả: PGS, TS. Nguyễn Thu Thủy
Nhà XB: Trường Đại học Ngoại thương
Năm: 2012
8. Th.s. Nguyễn Văn Nông - Th.s. Nguyễn Thị Hồng Liên: Giáo trình thị trường chứng khoán, Trường Đại học Tôn Đức Thắng, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình thị trường chứng khoán
9. TS. Phan Trung Hiền: Để hoàn thành tốt luận văn ngành luật, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để hoàn thành tốt luận văn ngành luật
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
10. TS. Trần Văn Thắng, Sổ tay thuật ngữ pháp luật phổ thông, Nxb. Giáo dục, 2006; Trang thông tin điện tử Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay thuật ngữ pháp luật phổ thông
Tác giả: TS. Trần Văn Thắng
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2006
1. Trang thông tin điện tử CafeF: Hợp đồng góp vốn đầu tư - Hình thức huy động vốn mới, http://cafef.vn/thi-truong-chung-khoan/hop-dong-gop-von-dau-tu-hinh-thuc-huy-dong-von-moi-201 10208 09461704ca31.chn, [truy cập ngày 10-10- 2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp đồng góp vốn đầu tư - Hình thức huy động vốn mới
6. Trang Thông tin điện tử Tạp chí Tài chính: Thị trường chứng khoán Việt Nam qua những sự kiện, con số, http://www.tapchitaichinh.vn/Chung-khoan/Thi-truong-trai-phieu-chinh-phu-qua-nhung-su-kien-con-so/54408.tctc, [truy cập ngày 13-10-2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường chứng khoán Việt Nam qua những sự kiện, con số
7. Trang thông tin điện tử Tin nhanh & Dữ liệu Chứng khoán Tài chính Việt Nam: Thị trường chứng khoán: Sơ lược lịch sử ra đời và phát triển, http://vietstock.vn/2002/08/thi-truong-chung-khoan-so-luoc-lich-su-ra-doi-va-phat-trien-33-1217.htm, [truy cập ngày 29-06-2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường chứng khoán: Sơ lược lịch sử ra đời và phát triển
6. Nghị định 75/1998/NĐ-CP ngày 28 tháng 11 năm 1996 của Chính phủ về việc thành lập Ủy ban chứng khoán Nhà nước Khác
7. Nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày 11 năm 07 năm 1998 của Chính phủ quy định về Chứng khoán và Thị trường chứng khoán Khác
8. Nghị định 01/2011/NĐ-CP ngày 05 tháng 01 năm 2011 của Chính phủ về Phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu Chính quyền địa phương Khác
9. Nghị định 59/2011/NĐ-CP ngày 18 tháng 07 năm 2011 của Chính phủ về Chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần Khác
10. Nghị định 90/2011/NĐ-CP ngày 14 tháng 10 năm 2011 của Chính phủ quy định về Phát hành trái phiếu doanh nghiệp Khác
11. Nghị định 58/2012/NĐ-CP ngày 20 tháng 07 năm 2012 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật chứng khoán Khác
12. Thông tư 17/2012/TT-BTC ngày 08 tháng 02 năm 2012 của Bộ Tài chính về việc Hướng dẫn phát hành trái phiếu Chính phủ tại thị trường trong nước Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức tổ chức thị trường - chứng khoán và pháp luật về phát hành chứng khoán trên thị trường chứng khoán việt nam
Hình th ức tổ chức thị trường (Trang 19)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w